1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng

108 744 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm sát còn được hiểu “là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến hàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI VĂN TUÂN

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT

TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN

THỰC HIỆN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI VĂN TUÂN

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT

TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN

THỰC HIỆN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN PHƯƠNG THẢO

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Một chặng đường học tập và nghiên cứu tại Bộ môn luật dân sự – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội sắp qua Trong suốt quãng thời gian ấy, em không chỉ học được nhiều kiến thức và bài học bổ ích mà còn nhận được sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Phương Thảo, người

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình

em thực hiện luận văn của mình

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, cán bộ trong bộ

môn cùng các anh chị và các bạn đang học tập tại Bộ môn luật dân sự - Khoa

luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè cùng các đồng nghiệp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã luôn động viên, giúp đỡ và là nguồn động lực cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 26 tháng 09 năm 2015

Học viên

Bùi Văn Tuân

Trang 4

4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Phương Thảo – Giảng viên khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

Những thông tin, số liệu và trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chính xác

Tác giả luận văn

Bùi Văn Tuân

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự 7

1.1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự: 7

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự 14

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát 19

1.2 Cơ sở của việc xây dựng quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong giải quyết vụ án dân sự 20

1.2.1 Cơ sở lý luận 20

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 21

1.3 Sơ lược quá trình hình thành, phát triển các quy định của pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án dân sự 23

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 23

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1989 24

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến trước ngày 01/01/2005 25

1.3.4 Giai đoạn từ ngày 01/01/2005 đến nay 26

1.4 Tham khảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số nước về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát (Viện công tố) 31

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 35

2.1 Kiểm sát việc thụ lý 36

2.2 Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 40

Trang 6

2.3 Kiểm sát thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án

nhân dân 41

2.3.1 Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm 42

2.3.2 Hoạt động của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm 45

2.3.3 Kiểm sát một số quyết định của Tòa án nhân dân: 51

2.4 Kiểm sát các hoạt động tố tụng theo pháp luật tại tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 53

2.4.1 Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 54

2.4.2 Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 56

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 60

3.1.Thực tiễn thực hiện hoạt động kiểm sát các vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên 61

3.1.1 Những kết quả đã đạt được 61

3.2 Những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân 76

3.2.1 Một số tồn tại, vướng mắc trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với vụ án dân sự: 76

3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tồn tại, vướng mắc trên 81

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, quyền hạn kiểm sát trong tố tụng dân sự 82

3.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết các vụ án dân sự 82

3.3.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết các vụ án dân sự 86

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

2 LTCVKSND : Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

4 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

9 VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

10 VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê số lượng vụ án dân sự VKSND huyện

Thủy Nguyên thụ lý năm 2012, 2013, 2014 và 6 tháng đầu

năm 2015

60

Bảng 3.2 Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý của

VKSND huyện Thủy Nguyên trong các năm 2012, 2013,

2014, 06 tháng đầu năm 2015

60

Bảng 3.3 Thống kê số lượng bản án, quyết định giải

quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Thủy

Nguyên ban hành trong thời gian năm 2012, 2103, 2014

và 06 tháng đầu năm 2015

62

Bảng 3.4 Thống kê số lượng bản án, quyết định VKS đã

kiểm sát trong năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu

năm 2015

63

Bảng 3.5 Thống kê số lượng vụ án do Viện kiểm sát nhân

dân huyện Thủy Nguyên kháng nghị phúc thẩm trong năm

2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu năm 2015

65

Trang 9

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định mô hình nền kinh tế ở nước

ta trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) Sự lựa chọn đó là xuất phát từ những lợi ích của việc phát triển kinh tế - xã hội đem lại cho nước ta Sự phát triển theo mô hình này đã giúp làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động Trong cơ chế kinh tế cũ, vì coi thường quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu nên các cơ sở kinh tế cũng thiếu sức sống và động lực để phát triển sản xuất Sử dụng kinh tế thị trường là sử dụng quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu, buộc mỗi người sản xuất tự chịu trách nhiệm về hàng hóa do mình làm ra Chính vì thế mà nền kinh tế trở nên sống động Mỗi người sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa nhận và cũng từ đó họ mới có được thu nhập Không những vậy, kèm theo sự tác động của hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực ở nước ta đã thúc đẩy giao lưu buôn bán, thúc đẩy giao dịch giữa cả người dân trong nước với các đối tác nước ngoài Sự giao lưu kinh tế dân sự phát triền, các mối quan hệ dân sự ngày càng phổ biến và thể hiện trên nhiều khía cạnh Tuy nhiên các mối quan hệ đó ngoài những mặt tích cực đi kèm theo là những mâu thuẫn khó khăn, đời sống con người được nâng cao dẫn đến các quan hệ dân sự ngày càng phức tạp, phát sinh nhiều mâu thuẫn cần được điều chỉnh một cách khoa học và hợp lí hơn Việc giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong các mối quan hệ dân sự đó cần phải được giải quyết một cách đúng đắn, khách quan, đúng theo quy định của pháp luật

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cho thấy, mặc dù về cơ bản, các quy định của Bộ luật đã đi sâu vào đời sống xã hội nước ta, nhưng các quy định về

Trang 10

2

việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Mặc dù pháp luật vẫn quy định VKSND có đầy đủ các quyền kiến nghị, kháng nghị nhưng thiếu cơ chế, phương thức, cơ sở pháp

lý để thực hiện quyền của mình Sau 5 năm thực hiện BLTTDS năm 2004 thấy rằng, chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự của VKSND vẫn còn nhiều hạn chế Việc phát hiện vi phạm để kiến nghị, kháng nghị còn ít, chất lượng chưa đảm bảo, trong khi đó vi phạm trong việc giải quyết án dân sự vẫn chiếm tỷ lệ cao, tình trạng khiếu kiện của người dân về việc giải quyết án dân sự ngày càng có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Án dân sự ở cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm cải sửa, huỷ án còn nhiều, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân không được đảm bảo Nguyên nhân nêu trên là do hệ thống pháp luật về dân

sự và tố tụng dân sự hiện hành còn chưa đầy đủ, đồng bộ và hoàn thiện, chất lượng giải quyết án dân sự của Tòa án còn hạn chế, nhưng một phần quan trọng cũng là do các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn còn nhiều bất cập Mặt khác, nền kinh tế thị trường vốn dĩ luôn vận động và không ngừng phát triển, sự tham gia vào quá trình liên kết, hợp tác khu vực và quốc

tế như: tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ… đã đặt

ra những yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam Đó là yêu cầu sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật trong nước, để bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế Đứng trước những thử thách và yêu cầu mới của thế kỷ XXI, vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để có quy định phù hợp với tình hình mới, bối cảnh mới Trước thực trạng nêu trên, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XII, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Trang 11

tố tụng dân sự Việc hạn chế sự tham gia của VKSND tại phiên toà sơ thẩm dẫn đến các thẩm quyền tố tụng liên quan cũng bị loại bỏ hoặc hạn chế nên VKSND không có đủ các quyền hạn tố tụng cần thiết khi thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Tại Nghị quyết số 49/NQ- TƯ ngày 2/6/2005

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và kết luận số 79/KL - TƯ ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về đề án đổi mới tổ chức hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra đã xác định VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Do vậy, vấn đề chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí, vai trò và mô hình hoạt động của VKSND trong

tố tụng dân sự vẫn phải cần được làm rõ và tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho VKSND thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Đảng, Quốc hội và nhân dân giao phó, đáp ứng với yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp, góp phần vào việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật chung

Với những lí do trên, tôi xin mạnh dạn trình bày đề tài: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình Với đề tài này có thể thấy rõ hơn được chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án dân sự của VKSND, một số mặt tích cực, hạn chê, từ đó nhận biết lên phát huy mặt nào, khắc phục ở những điểm nào Đồng thời qua quá trình nghiên cứu, cá nhân tôi

Trang 12

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nêu ra những lí luận về vai trò của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở Việt Nam trong giải quyết vụ án dân sự hiện nay Vai trò của VKSND trong giải quyết vụ án dân sự được quy định trong pháp luật

- Làm rõ thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND trong trong tố tụng dân sự qua thực tiễn kiểm sát giải quyết vụ án dân sự của VKSND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

- Đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của VKS trong kiểm sát vụ án dân trong thời gian tới, bảo đảm cho việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài:

- Đề tài đưa ra các cơ sở lí luận về vai trò của VKSND khi tham gia giải quyết vụ án dân sự, phân tích, đánh giá các cơ sở lí luận đó

- Đưa ra thực tiễn tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự của VKSND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng hiện nay, từ đó đánh giá được thực trạng, nhìn ra những điểm hạn chế trong

Trang 13

- Luận văn giúp cho mọi người có góc nhìn sâu sắc về cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, từ đó nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đúng đắn hơn Giúp người đọc nắm bắt, so sánh giữa lí luận và thực trạng để nhìn ra được những mặt tích cực cũng như thiếu sót, có thể làm cơ sở để cải cách tư pháp một cách hoàn thiện và hiệu quả hơn trong pháp luật tố tụng dân sự hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

5 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong giải quyết vụ án dân sự được quy định trong bộ luật tố tụng 2004 (Sửa đổi bổ sung 2011), thực tiễn thực hiện của VKSND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải

Trang 14

6

Phòng Từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá và các giải pháp giúp hoàn thiện hơn các quy định trong pháp luật sao cho phù hợp

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; các khoa học chuyên ngành khác đặc biệt là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn

5.3 Địa điểm nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Thủy Nguyên, Thành phố hải Phòng

6 Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khái, luận văn được kết cấu thành ba chương bao gồm:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giải quyết vụ án dân sự

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành

về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 3 Thực tiễn thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua nghiên cứu tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát các

vụ án dân sự

Trang 15

xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Trong các quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của công dân có ý nghĩa rất quan trọng và được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ Bộ luật dân sự 2005 cũng ghi nhận quyền này và cho phép các chủ thể được chủ động thực hiện biện pháp pháp lý để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh các biện pháp mà nhà nước cho phép thực hiện như tự thỏa thuận, hòa giải, yêu cầu trọng tài giải quyết thì biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân được coi là một biện pháp tương đối hữu hiệu Thực hiện biện pháp này,

cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyền, lợi ích dân sự của mình bị xâm phạm, tranh chấp, họ có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi trái pháp luật, phải bồi thường thiệt hại… Tại Điều 161 chương VII BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã khẳng định quyền khởi kiện của

cá nhân, cơ quan, tổ chức như sau: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đâu gọi

Trang 16

nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện về vụ án hôn nhân và gia đình trong trường hợp do luật Hôn nhân và gia đình quy định Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn được nhà nước phân công có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

Như vậy, khi có yêu cầu khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện, tòa

án với tư cách là một cơ quan nhà nước, được nhà nước phân công nhiệm vụ giải quyết các yêu cầu trong các vụ việc dân sự sẽ có trách nhiệm xem xét, giải quyết Sau khi nhận đơn, nếu nhận thấy đơn đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mình thì tòa án thụ lý giải quyết và khi đó sẽ phát sinh vụ án dân sự tại tòa án nhân dân Việc phát sinh các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân là một hiện tượng tất yếu bởi cho dù quyền, nghĩa vụ của các chủ thể đã được quy định trong luật nội dung nhưng do mỗi chủ thể có trình độ, có ý thức pháp luật khác nhau nên khi thực hiện quyền, nghĩa vụ vẫn xảy ra hiện tượng thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp về quyền, lợi ích giữa các chủ thể Nếu các bên lựa chọn tòa

án giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn và tòa án chấp nhận giải quyết tranh

Trang 17

có thể nhận thấy vụ án dân sự phát sinh từ việc các bên mâu thuẫn, tranh chấp với nhau về quyền, lợi ích dân sự, một trong các bên có đơn yêu cầu tòa án giải quyết và tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu đó Quyền, lợi ích dân sự

mà các bên có mâu thuân, tranh chấp với nhau được quy định trong BLTTDS theo nghĩa rộng, bao gồm các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là tranh chấp dân sự) Khi các mâu thuẫn, tranh chấp trở thành vụ án dân sự thì vụ án dân sự là đối tượng của thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa

án nhân dân

Trong tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung hay các vụ án dân sự nói riêng Với tư cách là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, Tòa án được nhà nước giao thẩm quyền đặc biệt là thẩm quyền xét xử, được sử dụng quyền lực nhà nước để giải quyết các vụ việc dân sự dân sự Do có thẩm quyền đặc biệt,

Trang 18

10

được quyền sử dụng quyền lực nhà nước nên khả năng tòa án có thể lạm dụng việc sử dụng quyền lực nhà nước rất có thể sẽ xảy ra Mặt khác, do các tranh chấp dân sự ngày càng đa dạng, phức tạp nên khả năng việc giải quyết vụ án dân sự có thể sai lầm nên trong luật tố tụng dân sự của bất cứ một quốc gia nào cũng cần thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý đối với hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án nhân dân BLTTDS của Việt Nam cũng không là một ngoại lệ Nhận thức được sự cần thiết của cơ chế kiểm tra, giám sát, BLTTDS hiện hành cũng đã có nhiều quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân

Theo giải thích trong Đại từ điển Tiếng Việt: “Kiểm sát là việc kiểm tra

và giám sát, là công tác điều tra tố tụng các vụ án theo pháp luật”[46] Tại từ điển Tiếng Việt cũng có cách giải thích tương tự: “Kiểm sát là kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”[47] Kiểm sát còn được hiểu

“là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chính và thống nhất.”[48] Như vậy, hiểu theo cách chung nhất kiểm sát là một hoạt động thiết yếu của Nhà nước, là chức năng tất yếu của một cơ quan được nhà nước phân công kiểm sát hoạt động giải quyết các vụ án dân sự do tòa án tiến hành

Cơ quan được nhà nước phân công này chính là Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Có thể nhận thấy khái niệm “kiểm sát” được nghiên cứu trong đề tài này gắn liền mật

Trang 19

11

thiết với chức năng thứ hai của VKSND các cấp và là một trong hai chức năng đặc thù của VKSND

Ở Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc

bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực Nhà nước là thống nhất, tập trung vào Quốc hội, có sự phân công, phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án

và Viện kiểm sát, để mỗi cơ quan thi hành có riêng chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước Tòa án nhân dân và VKSND trong bộ máy nhà nước Việt Nam là cơ quan tư pháp, trong đó Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét

xử, VKSND thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư xét xử Từ thời Pháp thuộc, VKSND đã được thành lập Mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến VKSND nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Kiểm sát viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, từ năm 1958, VKSND được tách ra khỏi Toà án nhưng trực thuộc Chính phủ và hình thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập với Toà án từ Trung ương tới địa phương Hoạt động chủ yếu của VKSND vẫn là hoạt động công tố trước Toà án Sau này, do yêu cầu của công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, nên theo quy định của Hiến pháp năm 1959 một loại hình

cơ quan Nhà nước mới trong bộ máy Nhà nước được hình thành Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự ra đời của ngành Kiểm sát nhân dân Việt Nam Hệ thống VKSND ra đời có vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND là một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức thành một hệ thống từ trung ương

Trang 20

12

đến địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện), có chức năng thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trước yêu cầu thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý cho hoạt động của VKSND, tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc của thực tiễn, ngày 24 tháng 11 năm 2014, tại Kỳ họp lần thứ 8 - Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Luật tổ chức VKSND sửa đổi năm

2014 và Nghị quyết thi hành Luật tổ chức VKSND sửa đổi 2014 có hiệu lực vào ngày 01/06/2015, đây là bước phát triển quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa ở nước ta Khoản 1 Điều 2 - Luật Tổ chức VKSND đã ghi nhận chức năng của Viện kiểm sát: "Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, VKSND là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002), Hiến pháp năm 2013 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, nhưng chức năng công tố vẫn giao cho VKS đảm nhiệm Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể VKSND “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” Tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ : "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp" Khoản 3 Điều 107 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

Trang 21

13

02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” Như vậy, ở Việt Nam chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp đến nay vẫn luôn được giao cho VKSND thực hiện Xuất phát từ chức năng chung của ngành, VKSND tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng, bảo đảm tính pháp chế trong các phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự được quy định trong các quy phạm pháp luật luôn chứa đựng những nội dung đảm bảo cho

cơ chế hoạt động của ngành kiểm sát và xác định vị trí quan trọng của một cơ quan công quyền trong hệ thống bộ máy Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nội dung sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự được hiểu là quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án

Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong vụ án dân sự như sau: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giải quyết vụ án dân sự là hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện thẩm quyền do nhà nước giao là kiểm tra, giám sát các hoạt động tuân theo pháp luật của Tòa án, đương sự và các chủ thể tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân nhằm bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của tập thể hay của nhà nước, qua đó

Trang 22

14

đảm bảo các hoạt động tố tụng của các chủ thế trong tố tụng dân sự được đúng đắn theo quy định của pháp luật”

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giải quyết vụ án dân sự

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự có

những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân

sự là hoạt động tố tụng dân sự được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự xuất phát từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước, xuất phát từ nhu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, của nhà nước

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã được sửa đổi bổ sung năm 2011 và các điều 2, 4, 6, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đều khẳng định VKSND là

cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tố tụng dân sự Cụ thể tại khoản 3 Điều 1, Điều 21 BLTTDS khẳng định "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự”

là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, theo đó "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật” Sở dĩ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng dân sự bởi hoạt động kiểm sát này gắn liền với quy trình giải quyết vụ án dân sự của tòa án nhân dân Hoạt động kiểm sát này cũng giống như hoạt động giải quyết

vụ án dân sự của tòa án là cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền, lợi ích dân sự hợp pháp của đương sự hoặc của nhà nước Hoạt động kiểm sát này cũng được thực hiện dựa trên việc sử dụng quyền lực nhà nước để nhằm làm

Trang 23

15

cho hoạt động giải quyết vụ án của tòa án được đúng pháp luật Để giám sát, VKSND theo sát từng bước của quá trình giải quyết vụ án từ khi bắt đầu là thủ tục nhận đơn thụ lý vụ án đến khi tuyên bố xong bản án, quyết định nhằm kịp thời phát hiện ra sai lầm, vi phạm pháp luật

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng dân sự và hoạt động này được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Việc quy định hoạt động này trong pháp luật tố tụng dân sự nhằm tạo cơ sở pháp lý hợp pháp cho việc thực hiện các hoạt động kiểm sát trong thực tiễn tố tụng dân sự Không chỉ đến khi Việt Nam có BLTTDS mới quy định về hoạt động kiểm sát này mà ngay từ khi chúng ta xây dựng những văn bản pháp luật tố tụng dân sự đầu tiên chúng ta đã có những quy định ban đầu về hoạt động kiểm sát của VKSND trong tố tụng dân sự Để thực hiện được hoạt động kiểm sát, pháp luật tố tụng dân sự đã ghi nhận quyền tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của VKS, VKSND tham gia phiên tòa đối với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương

sự có khiếu nại; tham gia các phiên họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự

mà VKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời tham gia các phiên toà giám đốc thẩm và tái thẩm do Toà án kháng nghị theo thẩm quyền

Để tạo điều kiện cho VKSND thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tồ chức VKSND, trên cơ sở điều kiện thực tế về biên chế và đội ngũ kiểm sát viên của ngành Kiểm sát và căn cứ vào tính chất, đối tượng của các vụ việc dân sự, Điều 21 BLTTDS hiện hành còn được sửa đổi theo hướng quy định: VKSND tham gia các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền

Trang 24

16

sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về thể chất, tâm thần VKSND tham gia tất cả các phiên họp

sơ thẩm đối với các việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung đã giao nhiệm vụ cho VKSND tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể thi hành điều luật này

Như vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân

sự tại tòa án nhân dân được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự xuất phát

từ vị trí, vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự Ngoài việc quy định cho VKSND có các quyền năng giám sát thì thực chất là việc VKSND kiểm sát thực hiện quyền năng đó thông qua việc VKSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của VKSND và chính việc VKSND kiểm sát hoạt động tố tụng của cơ quan tòa án từ giai đoạn thông báo thụ lý vụ án đến việc VKSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự đó đã tạo điều kiện tốt nhất để các quyền của đương sự trong đó có quyền tự định đoạt được bảo đảm thực hiện

Thứ hai, kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động thể hiện quyền

lực nhà nước, là thẩm quyền đặc biệt của Viện kiểm sát được pháp luật Việt Nam quy định thống nhất từ trước đến nay

Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Với chức năng và nhiệm vụ của mình, VKSND sử dụng quyền lực nhà nước, trực tiếp tham gia kiểm sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm trật tự xã hội

Trang 25

và Điều 27 Luật tổ chức VKSND 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 21 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011

Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ án dân sự của Tòa án, VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát thông báo, quyết định và các văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; Kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa án có đúng quy định của BLTTDS hay không…Tất cả những hoạt động kiểm sát này được VKSND thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Thứ ba, nội dung của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong việc giải quyết các vụ án dân sự tại tòa án nhân dân là kiểm sát quy trình các các hoạt động giải quyết vụ án dân sự

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự là thẩm quyền đặc biệt của Viện kiểm sát, được thực hiện bằng các biện pháp và hình thức nhất định nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Các biện pháp, các hình thức kiểm sát này tạo nên nội dung của hoạt động kiểm sát Thực hiện song song với quy trình

tố tụng dân sự tại tòa, hoạt động kiểm sát bao gồm các nội dung cụ thể sau đây:

Trang 26

- Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật;

- Thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo vệ quan điểm kháng nghị của mình tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm;

- Tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật;

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên, cá nhân và tổ chức liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án, kháng nghị các quyết định về thi hành án của cơ quan thi hành án;

- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại của Tòa án và những người có thẩm quyền trong việc giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự; giải quyêt các khiếu nại thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát

Thứ tư, mục đích của kiểm sát là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

đương sự, bảo vệ trật tự công cộng trong hoạt động tố tụng của cơ quan nhà nước

Trang 27

19

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự giúp phát hiện ra các vi phạm, sai lầm trong tố tụng, các phán quyết của Tòa án từ đó kiến nghị, kháng nghị để giúp Tòa án nhận ra các sai lầm mắc phải và khắc phục các sai lầm đó Kiểm sát giúp Tòa án phải có ý thức thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Thực tiễn tố tụng dân sự cho thấy, khi tham gia tố tụng có nhiều đương sự ít am hiểu pháp luật, tin tuyệt đối vào các phán quyết của Tòa án mà không thể nhận ra được các sai lầm, vi phạm trong các bản án, quyết định đó của Tòa án Vì vậy VKSND với chức năng của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các thủ tục, phán quyết đó giúp bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các đương

sự, giúp việc thực thi pháp luật được chính xác, bảo vệ trật tự công cộng trong hoạt động của cơ quan nhà nước

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động kiểm sát

Các tranh chấp dân sự đang có xu hướng ngày càng gia tăng, tính chất cũng như các mối quan hệ ngày càng phức tạp hơn Các tranh hiện nay không chỉ đơn thuần là một hai đương sự nữa mà có những tranh chấp xảy ra giữa rất nhiều đương sự (Như quan hệ phường họ, cho vay tài sản giữa nhiều chủ thể ) Việc Tòa án xét xử, giải quyết các vụ án dân sự ít nhiều còn mắc những sai lầm trong cả tố tụng lẫn nội dung làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của các đương sự Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của Tòa án như một số cán bộ còn yếu kém trong công tác nghiệp vụ, một số thẩm phán mới được bổ nhiệm khi còn rất trẻ chưa có kinh nghiệm dày dặn trong xử lý các tình huống phức tạp Do Tòa án là cơ quan xét xử độc lập, một số cá nhân trong ngành Tòa án có tư tưởng lạm quyền, chưa thực sự làm đúng trách nhiệm của mình dẫn đến vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Phần lớn các đương sự đều không nắm bắt, hiểu biết nhiều về các

Trang 28

20

quy định của pháp luật đối với tranh chấp cả mình dẫn đến đều tin một cách cảm tính vào các phán quyết của Tòa án, khi các phán quyết có sai phạm cũng không phát hiện được ra để làm thủ tục kháng cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Từ những bất cập đó, VKSND với hoạt động kiểm sát của mình giúp Nhà nước kiểm sát các hoạt động tư pháp diễn ra đúng theo quy định của pháp luật Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nghiên cứu phát hiện các vi phạm trong các hoạt động tố tụng của Tòa án, những sai lầm trong những phán quyết, tổng hợp và kiến nghị, kháng nghị đối với những phán quyết sai lầm đó bằng văn bản yêu cầu Tòa án xem xét lại nhằm khắc phục một cách sớm nhất đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các đương

sự trong vụ án dân sự, hạn chế tối đa việc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo vệ việc thực hiện và áp dụng đúng pháp luật, tránh những sai phạm đáng tiếc xảy ra

1.2 Cơ sở của việc xây dựng quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong giải quyết vụ án dân sự

1.2.1 Cơ sở lý luận

Ở nước ta, sự ra đời của hệ thống VKSND theo tờ trình Quốc hội về Luật Tổ chức VKSND năm 1960 có nêu:" phải tổ chức ra VKSND để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Việc giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND hoàn toàn phù hợp với lý luận về vai trò giám sát và chống lạm quyền từ chính chủ thể nắm giữ quyền lực tư pháp là Tòa án nhằm bảo đảm thực thi các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng dân sự Xét về lý luận thì cần có sự phối hợp và kìm chế, đối trọng giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước để bảo đảm sự minh bạch, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân Theo V.I.Leenin trong tác phẩm "Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế" đã khẳng định: " pháp chế chỉ có

Trang 29

21

một, để thiết lập pháp chế thống nhất chống lại một cách hiệu quả bệnh cục

bộ, địa phương chủ nghĩa cần thành lập cơ quan Viện kiểm sát" Viện kiểm sát "chỉ làm một công việc mà thôi, tức là làm thế nào cho pháp chế được hiểu biết và tuân thủ thống nhất trong toàn nước cộng hòa" [9]

Xét dưới góc độ tổ chức quyền lực được ghi nhận trong Hiến pháp, có thể nhận thấy Điều 105 Hiến pháp năm 1959 đã từng được ghi nhận: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân Các VKSND địa phương và VKS quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi luật định" Sau này, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 tuy có bổ sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của VKSND nhưng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho VKSND Theo kết luận số 79 - KL/TƯ ngày 28/07/2010 của Bộ Chính trị thì "VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hiện nay"

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một trong những yêu cầu cấp thiết đó là bảo đảm sự kiểm sát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp Vì vậy tiếp tục duy trì VKSND với tư cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là biện pháp quan trọng góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, xây dựng được nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Tại Việt Nam, VKSND có những vai trò khác nhau qua các thời kỳ Trước năm 2004, vai trò VKSND trong lĩnh vực dân sự được mở rộng Theo

Trang 30

22

đó Kiểm sát viên phải tham gia tất cả các hoạt động tố tụng giúp quá trình kiểm sát các vụ án dân sự Đến năm 2004, vai trò tham gia tố tụng của VKSND bị hạn chế hơn, quyền khởi tố dân sự của VKSND đã không còn tồn tại Trước yêu cầu của thực tiễn, từ các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng

và có tính chất phức tạp trong khi việc xét xử của Toà án còn nhiều sai sót, cần có cơ chế giám sát nên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS

2004 đã quy định theo hướng tăng cường vai trò của Viện kiểm sát Theo đó, VKSND có nhiệm vụ và quyền hạn tham gia phiên toà sơ thẩm trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, đối với các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì VKSND tham gia toàn bộ

Căn cứ vào quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, VKSND các cấp đã chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án được đảm bảo Qua thực hiện kiểm tra việc giải quyết các vụ án, VKSND các cấp đã tổng hợp tình hình vi phạm trong quá trình giải quyết và đã ban hành nhiều văn bản kiến nghị với Toà án các cấp nhằm khắc phục những thông báo về việc gửi thông báo thụ lý, bản án, quyết định cho VKSND không đảm bảo thời hạn luật định; kéo dài việc giải quyết

vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng pháp luật; chậm chuyển các quyết định, bản án, hồ sơ vụ án làm ảnh hưởng đến thời gian xem xét việc kháng nghị của VKSND đối với những bản án, quyết định của Toà án có vi phạm…

Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Việc tham gia tố tụng dân sự của VKSND không

vi phạm đến quyền tự định đoạt của đương sự mà ngược lại là nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự của Toà án được chính xác, khách quan, góp

Trang 31

23

phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Thực tiễn xét xử cho thấy không loại trừ khả năng có những bản án, quyết định của Toà án có sai sót nhưng không bị phát hiện, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân chưa cao, đặc biệt là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần…Vì vậy sự tham gia giám sát của VKS trong tố tụng dân sự vẫn rất cần thiết

1.3 Sơ lƣợc quá trình hình thành, phát triển các quy định của

pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết

vụ án dân sự

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có rất nhiều văn bản quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công tố viên trong tố tụng dân sự

Công cuộc cải cách tư pháp đầu tiên: Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định về Tổ chức Toà án và các ngạch thẩm phán thì thẩm phán được chia làm hai ngạch sơ cấp và đệ nhị cấp (chia thành thẩm phán xét

xử và thẩm phán buộc tội) Công tố viện được ra đời từ Toà thượng thẩm, chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng bộ tư pháp, đứng đầu Công tố viện là chưởng

lý Cơ quan công tố không thành lâp ở Toà đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý Thẩm phán buộc tội đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của chưởng lý

Theo sắc lệnh số 51/SL ngày 17/04/1946 về ấn định thẩm quyền Toà án

và sự phân công giữ các thành viên trong Toà án, Công tố viện được tham gia

tố tụng đối với vụ án dân sự với tư cách là người thi hành quyền công tố (Điều 22 Sắc lệnh) và khởi tố vụ án dân sự Công tố viện có nhiệm vụ bảo vệ

Trang 32

Đến công cuộc cải cách tư pháp lần hai: Bắt đầu vào năm 1950, Công

tố viện đặt dưới sự điều khiển của Uỷ ban kháng chiến hành chính Trong giai đoạn này, Công tố viện nằm trong cơ cấu của cơ quan hành pháp, các đường lối vi phạm hoạt động, nhiệm vụ và quyền hạn của Công tố viện được mở rộng sang các vụ án dân sự

Sang đến công cuộc cải cách tư pháp lần thứ ba: Quyết định chuyển công tố viện thành VKSND (1958) Theo Công văn số 1147/HCTP ngày 5/6/1958 về tham gia tố tụng của công tố viện: “…Công tố viện có nhiệm vụ khởi tố và tham gia tố tụng đối với những vụ án quan trọng có liên quan đến lợi ích Nhà nước của nhân dân Còn đối với những vụ án dân sự thường thì Công tố viện không cần phải tham dự phiên toà”

Như vậy, sau ba lần cải cách tư pháp của giai đoạn này, vai trò và chức năng của VKS trong tố tụng dân sự đã được khẳng định, là cơ sở để kế thừa

và phát triển cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau này Tuy nhiên nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án dân sự còn chưa được quy định đầy đủ và

cụ thể

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1989

Hiến pháp năm 1959 ra đời, Công tố viện chính thức chuyển thành VKSND, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ương đến địa phương, không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính địa phương

Trang 33

25

Luật Tổ chức VKSND ra đời ngày 26/07/1960 đã quy định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự tại các Điều 17,18,19 Đó là quyền khởi tố và tham gia tố tụng trong các vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích Nhà nước và của nhân dân; quyền kháng nghị những bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật; quyền tham

dự phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán và Hội đồng thẩm phán

Luật Tổ chức VKSND 1981 đã quy định rõ hơn về nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự như tham gia tố tụng tại phiên toà; kháng nghị các bản án, quyết định của Toà án và khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích Nhà nước, của tập thể

và quyền lợi chính đáng của nhân dân Như vậy Luật Tổ chức VKSND 1981

đã mở rộng thẩm quyền của VKSND trong tố tụng dân sự hơn Luật Tổ chức VKSND 1960

Nhìn chung, từ năm 1989 trở về trước nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự chủ yếu được quy định trong Luật Tổ chức VKSND Trong giai đoạn này, Công tố viện trở thành VKSND theo đó chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng có sự thay đổi quan trọng

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến trước ngày 01/01/2005

Có thể nói đây là thời kỳ quan trọng khi cả đất nước chuyển mình tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền Luật Tổ chức VKSND 1989 ra đời, tiếp theo đó là Luật

Tổ chức VKSND 1992 và hàng loạt các văn bản khác như Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động… đã mở rộng nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự Cụ thể quy định tại Điều 17

Trang 34

26

Luật tổ chức VKSND 1992, theo đó VKS có thẩm quyền: khởi tố vụ kiện dân

sự vì lợi ích chung; tham gia tố tụng với các vụ án dân sự; kháng nghị những bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

Luật Tổ chức VKSND 2002 ra đời ngày 02/04/2002 khẳng định chức năng của VKSND “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” So với Luật Tổ chức VKSND 1992, Luật Tổ chức VKSND 2002 đã mở tộng nhiệm

vụ quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự, cụ thể là tại khoản 3 điều 21 Theo đó VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết đối với tất cả các vụ

án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ở tất cả các giai đoạn tố tụng, tham gia tất cả các phiên toà xét xử các vụ án này tại Toà án các cấp và phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án

1.3.4 Giai đoạn từ ngày 01/01/2005 đến nay

Dưới tác động của sự hội nhập quốc tế, pháp luật cũng cần thay đổi theo chiều hướng tích cực để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, quy định

về tố tụng dân sự cũng không ngoại lệ Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2005 đã ra đời Trong đó các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự cũng thay đổi và được quy định cụ thể

Điều 21 BLTTDS về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:

“1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy

Trang 35

- Thứ nhất, Bộ luật tố tụng dân sự ra đời đã giới hạn nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân đồng thời bỏ đi quyền khởi tố vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân:

Trước khi BLTTDS ra đời, quyền khởi kiện vụ án dân sự đã được ghi nhận đồng thời được kế thừa và phát huy trong các văn bản pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự Tuy nhiên BLTTDS đã xoá bỏ quyền này Quy định này vô hình chung đã xoá đi đặc quyền vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam bởi quyền khởi tố vụ án dân sự là quyền năng pháp lý mang bản chất công tố trong tố tụng dân sự, đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng, loại bỏ những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong lĩnh vực dân sự

- Thứ hai, về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân

Về quyền tham gia phiên toà của VKSND: Pháp lệnh thủ tục giải quyết

vụ án dân sự năm 1989 quy định VKSND có quyền tham gia bất kì giai đoạn nào nếu xét thấy cần thiết, Luật Tổ chức VKSND năm 2002 quy định VKS tham gia tất cả các phiên toà, BLTTDS đã hạn chế phạm vi thực hiện quyền tham gia phiên toà của VKS bằng quy định tại Khoản 2 Điều 21 Quy định này gây khó khăn về sự tham gia tố tụng của VKS trong tố tụng dân sự, làm

Trang 36

28

hạn chế rất nhiều sự thâm nhập vào vụ án dân sự để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án

Hoạt động kiểm sát còn được quy định tại các Điều 38 BLTTDS

“…quyết định thâm nhập hoặc tách vụ án dân sự phải được gửi ngay cho VKSND cùng cấp” [19]; Điều 85 BLTTDS “…trong trường hợp cần thiết, VKSND có quyền yêu cầu đương sự cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ

sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm” [19]; Điều 124 “…VKSND có quyền kiến nghị Chánh án Toà án giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời…”[19]

Sau nhiều năm thực hiện, thực tiễn thi hành của BLTTDS 2004 còn bộc

lộ nhiều hạn chế, bất cập Trong đó, những quy định về nhiệm vụ quyền hạn của VKSND chưa tạo điều kiện cho VKSND thực hiện hiệu quả chức năng của mình trong giải quyết vụ án dân sự Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã khắc phục một số nhược điểm đó: mở rộng phạm vi tham gia phiên toà của VKS “…tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”[20] Khoản 4 Điều 85 được bổ sung: “Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan,

tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm”[20]

Ngày 25/11/2014 Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua được xác định là sửa đổi căn bản, toàn diện

Trang 37

29

về tổ chức và hoạt động của VKSND nhằm thể chế Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu cải cách tư pháp Luật Tổ chức VKSND có hiệu lực từ ngày 01/06/2015 gồm 06 chương, 101 điều đã được chỉnh sửa và bổ sung rất chặt chẽ Nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, là cơ sở pháp lý cho hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân đồng thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động thực tiễn, Luật Tổ chức VKSND đã thể chế hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng Luật xác định rõ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của VKSND Điều 3 và Điều 4 quy định rõ các chức năng

cơ bản của VKSND là: chức năng thực hành quyền công tố của VKSND và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND

Để hiểu đúng và thống nhất các quy định của pháp luật, Luật Tổ chức VKSND xác định rõ phạm trù của “thực hành quyền công tố” và “kiểm sát hoạt động tư pháp” Theo đó “Kiểm sát hoạt động tư pháp” là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, việc giải quyết vụ án hành chính, vụ

án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Cụ thể hóa các nguyên tắc tư pháp tiến bộ được quy định trong Hiến pháp 2013 có liên quan trực tiếp đến hoạt động của VKSND Luật Tổ chức VKSND đã làm rõ nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong Ngành (Điều 7); xác định rõ vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND các cấp Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, VKSND do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên Viện trưởng các VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao VKS cấp trên có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật

Trang 38

30

của VKS cấp dưới Viện trưởng VKS cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ quyết định trái pháp luật của Viện trưởng VKS cấp dưới Luật Tổ chức VKSND cũng điều chỉnh quy định về vai trò của Ủy ban kiểm sát bảo đảm phù hợp với thẩm quyền và trách nhiệm tố tụng của Viện trưởng VKSND trong hoạt động tư pháp (Điều 43); Điều 10 của Luật quy định về chủ thể thực hiện quyền giám sát hoạt động của VKSND, theo đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận sẽ thực hiện quyền này

Về chức năng, nhiệm vụ, Luật đã quy định rõ đối tượng, nội dung, phạm vi, mục đích của từng chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, xác định rõ các mặt công tác và thẩm quyền cơ bản của VKSND trong từng lĩnh vực, đặt nền tảng cho việc hình thành cơ sở lý luận về chức năng của VKSND, bảo đảm thống nhất nhận thức và hoạt động

có hiệu quả trên thực tế; quy định về các công tác khác VKSND đang thực hiện mà chưa được Luật quy định, như: Hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp; thống kê tội phạm, thống kê hình sự; nghiên cứu khoa học; xây dựng pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; thông tin, tuyên truyền, pháp luật; quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKSND

Về tổ chức bộ máy và các chức danh tư pháp, VKSND được tổ chức trong một hệ thống thống nhất, bao gồm hệ thống VKSND và VKS quân sự, Điều 40 của Luật quy định hệ thống VKSND gồm 4 cấp như Kết luận 79-KL/TW, gồm: VKSND tối cao; VKSND cấp cao; VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là VKSND cấp tỉnh); VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố

Trang 39

31

thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là VKSND cấp huyện) và VKS quân sự các cấp

1.4 Tham khảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số nước

về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát (Viện công tố)

Các quốc gia trên thế giới, mặc dù đặt tên gọi khác nhau là Viện kiểm sát hay Viện Công tố nhưng trong bộ máy Nhà nước của nhiều quốc gia nào đều tồn tại cơ quan này có chức năng kiểm tra, giám sát này Trên thế giới có thể chia thành bốn nhóm: thứ nhất, các nước có Viện công tố nằm trong thành phần Bộ Tư pháp (như Mỹ, Pháp, Ba Lan, Nhật Bản…); thứ hai, các nước có Viện công tố nằm trong thành phần các Tòa án (như Tây Ban Nha, Italia, …); thứ ba, các nước không có chế định Viện công tố (ví dụ: như nước Anh ); thứ tư, các nước có hệ thống VKSND riêng biệt nằm dưới sự giám sát của nghị viện (các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu và các nước Cộng hòa Liên bang thuộc Liên Xô trước đây) Như vậy, riêng ở nước ta và một số nước như Liên bang Nga, VKSND không thuộc các cơ quan hành pháp hay

tư pháp mà là một cơ quan độc lập, do cơ quan quyền lực Nhà nước là Quốc hội thành lập ra, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội Mục đích chung duy nhất của VKSND trong tất cả quốc gia kể từ khi được thành lập đều mang trách nhiệm là bảo vệ pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên chức năng, thẩm quyền của VKSND của mỗi nước lại tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia Mô hình và tổ chức hoạt động VKSND của các quốc gia cũng rất đa dạng

và phong phú bởi lẽ mỗi quốc gia đều có những truyền thống văn hóa riêng biệt, hoàn cảnh lịch sử khác nhau cũng như các điều kiện kinh tế xã hội và đặc biệt hơn cả đó là tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước của của mỗi quốc gia là không giống nhau

* Viện công tố Pháp

Trang 40

32

Qua nghiên cứu BLTTDS của Cộng hoà Pháp, quy định về nhiệm vụ

và quyền hạn của Viện công tố Pháp trong giải quyết vụ án dân sự có những điểm khác biệt sau:

- Thứ nhất, về quyền khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự Theo pháp luật

tố tụng dân sự của Pháp, Viện công tố tham gia vào quá trình giải quyết vụ án dân sự với những vụ án do Viện công tố khởi kiện (khởi tố) nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, vì lợi ích của luật, nhằm bảo đảm vị trí tối thượng của luật đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Viện công tố có thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách là một bên chính tố (một bên đương sự) hoặc với tư cách là bên phụ tố Với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công cộng, Viện công tố có thể tự mình khởi kiện với tu cách là một bên đương sự Đối với các vụ án dân sự thì Viện công tố có đầy đủ các quyền như các bên đương sự Còn đối với việc dân sự, Viện công tố có quyền đưa ra yêu cầu giải quyết việc dân sự ra trước toà án, như: yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay đã chết (Điều 88, 122), đưa ra yêu cầu có liên quan đến lợi ích của người bị suy đoán mất tích (Điều 177), đưa ra yêu cầu Toà án giao đứa con cho người thứ ba chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 289,373,374), yêu cầu liên quan đến yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật (Điều 184, 191)…

- Thứ hai, về quyền kháng cáo phúc thẩm Viện công tố có thể tham gia với tư cách là một bên phụ tố, tức là khi Viện công tố phát biểu quan điểm về việc áp dụng pháp luật trong các vụ án dân sự mà Viện công tố được thông báo như các vụ án liên quan đến quan hệ cha mẹ và con, tổ chức giám hộ hoặc thay đổi việc giám hộ đối với người thành niên, phá sản doanh nghiệp, thuê khoán sản nghiệp thương mại … (Điều 425,426,427), Viện công tố có quyền kháng cáo phúc thẩm do không phải một bên trong vụ kiện Ngoài ra viện

Ngày đăng: 10/11/2016, 10:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. Ủy ban tư pháp Quốc tịch (2010), Báo cáo số 4232/BC-UBTP ngày 16/09/2010 về “Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS
Tác giả: Ủy ban tư pháp Quốc tịch
Năm: 2010
1. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định về Tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán Khác
2. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946 ấn định thẩm quyền của Tòa án và phân công giữa các nhân viên trong Tòa án Khác
3. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 85 ngày 22/05/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Bộ Chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Bộ Chính trị, Kết luận 79-KL/TW ngà 28/07/2010 về Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra, Hà Nội Khác
6. Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Khuất Văn Nga (Chủ biên) (2008), Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb tư pháp, Hà Nội Khác
8. Hoàng Phê (Chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Khác
9. Nxb thông tin lý luận (1985), V.I. Lenin – Về bộ máy của Đảng và Nhà nước Khác
10. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa, Hà Nội Khác
13. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
15. Quốc hội (1989), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
17. Quốc hội (1992), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
18. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
19. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Khác
20. Quốc hội (2011), Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung), Hà Nội Khác
22. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Khác
23. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
24. TS.Trần Văn Trung (2005), Về việc tham gia phiên tòa dân sự của Viện kiểm sát nhân dân, Tạp chí Luật học, Đặc san BLTTDS 08/2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Trang - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
ng Trang (Trang 8)
Bảng 3.1. Thống kê số lượng vụ án dân sự VKSND huyện Thủy Nguyên thụ - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.1. Thống kê số lượng vụ án dân sự VKSND huyện Thủy Nguyên thụ (Trang 70)
Bảng  3.2.  Thống  kê  kết  quả  công  tác  kiểm  sát  thụ  lý  của  VKSND  huyện Thủy Nguyên trong các năm 2012, 2013, 2014, 06 tháng đầu năm 2015 - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
ng 3.2. Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý của VKSND huyện Thủy Nguyên trong các năm 2012, 2013, 2014, 06 tháng đầu năm 2015 (Trang 70)
Bảng 3.3. Thống kê số lượng bản án, quyết định giải quyết vụ án dân - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.3. Thống kê số lượng bản án, quyết định giải quyết vụ án dân (Trang 72)
Bảng 3.4. Thống kê số lượng bản án, quyết định VKS đã kiểm sát trong  năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu năm 2015 - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.4. Thống kê số lượng bản án, quyết định VKS đã kiểm sát trong năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu năm 2015 (Trang 73)
Bảng 3.5. Thống kê số lượng vụ án do Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy  Nguyên kháng nghị phúc thẩm trong năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu  năm 2015 - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự qua thực tiễn thực hiện tại viện kiểm sát nhân dân huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.5. Thống kê số lượng vụ án do Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên kháng nghị phúc thẩm trong năm 2012, 2013, 2014 và 06 tháng đầu năm 2015 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w