Tại Điều 1 Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015 DTBLTTDS có quy định về VVDS như sau: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN CÔNG BÌNH
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Ngọc Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 6 1.1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự: 6
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự: 10
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 15
1.2 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 16
1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 16
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 19
1.3 Sơ lược về sự phát triển của các quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay 20
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959 20
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến 1989 22
1.3.3 Giai đoạn từ 1990 đến 2004 23
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 25
Chương 2:NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ 30
2.1 Các quy định về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 30
2.1.1 Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế 30
Trang 52.1.2 Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không
có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của các
cơ quan, tổ chức đó 32
2.1.3 Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện 34
2.1.4 Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án 40
2.1.5 Các đương sự đã tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết vụ án 41
2.1.6 Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng 42
2.1.7 Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó 43
2.1.8 Thời hiệu khởi kiện đã hết 45
2.1.9 Các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý 46
2.1.10 Các trường hợp đình chỉ khác mà pháp luật quy định 53
2.2 Các quy định về thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý của đình chỉ vụ việc dân sự 54
2.2.1 Thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 55
2.2.2 Thủ tục đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 58
2.2.3 Hậu quả pháp lý của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 59
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 69
Trang 63.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết
vụ việc dân sự 69
3.1.1 Những kết quả trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 69 3.1.2 Những vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 70 3.1.3 Những nguyên nhân của vướng mắc, hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 77
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 78
3.2.1 Kiến nghị về hoàn thiện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự 78 3.2.1 Kiến nghị về thực hiện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự: 83
KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
DTBLTTDS : Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên
họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015
LSĐBSBLTTDS : Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2004
NQ 05/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án
cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung
theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS
NQ 06/2012/NQ-HĐTP : Nghị quyết số 06/2012/NQ-HDTP hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ ba: “Thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ luật Tố tụng dân
sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự”
PLTTGQCVADS : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
năm 1996 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Trang 8VAKT : Vụ án kinh tế
NLHVTTDS : Năng lực hành vi tố tụng dân sự
Trang 91
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc Toà án giải quyết vụ việc dân sự (VVDS) là nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy vậy, trong nhiều trường hợp do thiếu thận trọng nên Tòa án đã thụ lý cả những vụ việc không đảm bảo các điều kiện thụ lý mà pháp luật quy định Ngoài ra, cũng có những trường hợp việc thụ lý vụ việc của Tòa án là đúng pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết
đã phát sinh một số sự kiện làm cho đối tượng của vụ việc cần phải giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại hoặc được suy đoán là không tồn tại Trong những trường hợp như vậy, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết
vụ việc để giải phóng cho các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn bị coi là một nghĩa vụ bắt buộc đối với họ Tuy nhiên, nếu việc đình chỉ giải quyết VVDS không đúng có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, người yêu cầu
sẽ không được Tòa án xem xét giải quyết và quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của họ sẽ bị mất nếu như các quy định về quyền khởi kiện, quyền yêu cầu lại không được pháp luật ghi nhận
Trong lịch sử lập pháp, vấn đề đình chỉ VVDS đã được quy định trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và sau này tiếp tục được quy định trong các pháp lệnh về thủ tục tố tụng như: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ)… Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và đáp ứng yêu cầu của xã hội, tại kỳ họp thứ 5 ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)
Trang 102
Việc ban hành BLTTDS đã đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khắc phục tình trạng tản mạn trong các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết VVDS trước đó Cụ thể là, trước đây vấn đề về đình chỉ VVDS đối với mỗi tranh chấp về dân sự, kinh tế, lao động được quy định ở các văn bản riêng biệt, thiếu tính hệ thống BLTTDS đã pháp điển hóa các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS trong một văn bản chung, đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng Qua một thời gian thực hiện, ngày 29 tháng 2 năm 2011, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của BLTTDS (LSĐBSBLTTDS) LSĐBSBLTTDS đã cơ bản khắc phục những được hạn chế, vướng mắc của BLTTDS nói chung và quy định về đình chỉ giải quyết VVDS nói riêng Đây là một sự đổi mới có ý nghĩa quan trọng của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam Tuy vậy qua một
số năm thực hiện cho thấy, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS vẫn chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài luận
văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi BLTTDS được ban hành cũng đã có một số tác giả nghiên
cứu và có bài viết về vấn đề này như: bài viết “Vì sao những bản án kinh tế bị
hủy, bị sửa phải xét xử lại vụ án, phải đình chỉ việc giải quyết vụ án”của tác
giả Nguyễn Bá Châu đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000 Sau khi BLTTDS được cũng đã có một số tác ban hành giả tiếp tục nghiên cứu và có
bài viết như:“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Triều Dương – Tạp chí Luật học số đặc san về BLTTDS; bài viết “Đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự” của tác giả Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Trang 113
lập pháp, số 7 (tháng 7/2005); bài “Quy định về đình chỉ trong BLTTDS”
đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 4 (41)/2007 của tác giả Tống Công
Cường; bài viết“Đình chỉ xét xử phúc thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự ở Tòa án cấp phúc thẩm”của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Tạp chí
Luật học số 7/2010; luận văn thạc sĩ “Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ
VDS theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004” của tác giả Phạm
Hải Tâm, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010 Tuy nhiên, mỗi bài viết nghiên cứu vấn đề ở một góc độ khác nhau hoặc chỉ giải quyết những khía cạnh riêng biệt về đình chỉ giải quyết VVDS LSĐBSBLTTDS được ban hành với một số điều khoản quy định về đình chỉ giải quyết VVDS cũng được sửa đổi, bổ sung đáng kể Từ khi Luật này có hiệu lực cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ những quy định về đình chỉ giải quyết VVDS
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VVDS; pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết VVDS và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết VVDS ở các Toà án Việt Nam
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu làm
rõ một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VVDS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đình chỉ giải quyết VVDS; những quy định của BLTTDS, LSĐBSBLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về đình chỉ giải quyết VVDS Những vấn đề khác liên quan đến đề tài này sẽ được tiếp tục nghiên cứu khi có điều kiện
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VVDS; nội dung các quy định đình chỉ giải quyết VVDS và việc thực
Trang 12- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS;
- Khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS tại các Toà án, phát hiện những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng;
- Tìm được các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập, vướng mắc
về đình chỉ giải quyết VVDS
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp Từ đó, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các kiến nghị
6 Những điểm mới và đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến đình chỉ giải quyết VVDS, có những điểm mới và đóng góp cho khoa học chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự ở những điểm sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm, làm rõ đặc điểm và ý nghĩa của việc đình chỉ giải quyết VVDS; cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về đình chỉ
Trang 13- Phát hiện được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết VVDS và thực tiễn thực hiện đồng thời đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện chúng có hiệu quả trên thực tế
Luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện và thực hiện các quy định của BLTTDS về đình chỉ giải quyết VVDS Kết quả nghiên cứu của luận văn còn cung cấp thêm một nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu bởi 3 phần: Phần mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự và kiến nghị
Trang 146
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ
VIỆC DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Trước khi có BLTTDS, 03 (ba) pháp lệnh về thủ tục tố tụng (PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ) chỉ đề cập tới thuật ngữ vụ án dân sự (VADS), vụ án kinh tế (VAKT) và vụ án lao động (VALĐ) Theo đó, VADS bao gồm cả những việc tranh chấp và những việc không có tranh chấp VAKT bao gồm các tranh chấp về kinh tế VALĐ bao gồm các tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể Theo tác giả
Hoàng Ngọc Thỉnh: “Trong hầu hết các vụ án dân sự đều có các tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự mà họ không thể thương lượng
tự giải quyết được, do đó họ phải yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết Ngoài những vụ án nói trên, cũng còn một số vụ án mà giữa các bên đương sự không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ” [4, tr 7-8] Tinh thần này được
tác giả tiếp tục khẳng định: “Có thể chia vụ án dân sự ra làm hai loại: Loại
thứ nhất là việc kiện dân sự Loại thứ hai là việc dân sự” [5, tr 8]
BLTTDS và LSĐBSBLTTDS đã quy định hai loại trình tự, thủ tục riêng là trình tự, thủ tục giải quyết VADS và trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự Dựa trên cơ sở quy định tại Điều 1 và các điều từ Điều 25 đến Điều
32, Điều 311 BLTTDS, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về
VVDS Theo Tiến sĩ Nguyễn Công Bình “Các vụ việc phát sinh từ quan hệ
pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động
do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự Trong đó, đối với những việc
có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được gọi là vụ án dân sự;
Trang 15và việc không tranh chấp, trong khi đó VAKT và VALĐ chỉ bao gồm các việc
có tranh chấp Theo quy định của BLTTDS, VVDS là một khái niệm rộng bao hàm các việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động gọi
là VADS và các việc về dân sự, hôn nhân gia và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động không có tranh chấp gọi là việc dân sự (VDS) Đối tượng cần phải giải quyết trong VADS hoặc VDS chính là các quan hệ pháp luật nội dung được xác định trên cơ sở các yêu cầu của đương sự trong VADS hoặc VDS
Tại Điều 1 Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên họp thứ
40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015 (DTBLTTDS) có quy định về VVDS như sau: “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án ”
Như vậy, trên cơ sở kế thừa những quy định trước đó và tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu trong DTBLTTDS sửa đổi đã quy định khá chi
Trang 168
tiết, cụ thể khái niệm VVDS, theo đó VVDS bao gồm VADS và VDS được giải quyết tại Tòa án
Theo Từ điển tiếng Việt, “đình chỉ là ngừng lại hoặc làm cho phải
ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn”[35, tr 324] Theo định nghĩa
này, đình chỉ giải quyết VVDS là trường hợp việc giải quyết VVDS bị ngừng
lại vĩnh viễn Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, “đình chỉ vụ án là
việc các cơ quan tố tụng quyết định kết thúc vụ án khi có những căn cứ do luật định” [18, tr 134] Trong tố tụng dân sự, thuật ngữ đình chỉ vụ án được
dùng với nghĩa là đình chỉ giải quyết vụ án Cách định nghĩa này đi từ khái niệm về đình chỉ vụ án nói chung tới đình chỉ giải quyết VADS trong tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng Từ đó ta có thể hiểu rộng ra đình chỉ giải quyết VADS là một trong những cách thức để cơ quan tố tụng kết thúc vụ án khi có những căn cứ luật định Tuy vậy, xoay quanh khái niệm đình chỉ giải quyết VADS cũng có nhiều quan điểm, giải thích khác nhau:
Theo tác giả Tống Công Cường: “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt
tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải” [1, tr 290] Quan điểm này cũng đã chỉ ra được hậu quả pháp lý của
đình chỉ giải quyết VADS là làm chấm dứt mọi hoạt động tố tụng Tuy nhiên, định nghĩa này chưa nêu lên được căn cứ đình chỉ phải do pháp luật quy định cũng như thẩm quyền đình chỉ thuộc về cơ quan nào Mặt khác, quan điểm này cho rằng đình chỉ giải quyết VADS là chấm dứt tố tụng không qua xét xử hay hòa giải cũng chưa chính xác Bởi theo quy định tại Điều 265 BLTTDS sửa đổi thì Tòa án vẫn có thể có quyền đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên tòa Điều đó
có nghĩa việc đình chỉ giải quyết vụ án vẫn có thể được thực hiện khi vụ án đã được hòa giải không thành và đưa ra xét xử tại phiên tòa
Theo Tiến sỹ Nguyễn Công Bình, đình chỉ giải quyết VADS là việc
“Tòa án ngừng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý Việc đình chỉ giải
Trang 17Cũng theo tác giả này, “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án chấm
dứt hoàn toàn các hoạt động tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án
[11.tr 354] Có thể nói đó là những quan điểm khá đầy đủ về đình chỉ giải quyết VADS, đã phản ánh được nội dung, bản chất và hậu quả pháp lý của nó Tác giả đã thể hiện được cách nhìn của mình về đình chỉ dưới góc độ là một quyết định kết thúc việc giải quyết VADS
Như vậy, các tác giả nói trên đã đưa ra khái niệm về đình chỉ giải quyết VADS ở nhiều góc độ khác nhau nhưng chưa đưa ra một khái niệm về đình chỉ giải quyết VVDS nói chung Xét về thực tế, VADS và VDS tuy là những khái niệm khác nhau nhưng chúng đều thuộc nội hàm của khái niệm rộng hơn
là VVDS Vấn đề đặt ra là đình chỉ giải quyết VADS và đình chỉ giải quyết VVDS có cùng bản chất và căn cứ pháp lý hay không?
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lý luận đã phân tích ở trên, trước khi có BLTTDS không có sự phân biệt giữa VADS và VDS mà VADS bao gồm cả những việc tranh chấp và những việc không có tranh chấp Do vậy, việc đình chỉ giải quyết VADS được hiểu là đình chỉ giải quyết những việc kiện có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự hoặc đình chỉ giải quyết những việc không có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các đương
sự mà Tòa án đã thụ lý Ngoài ra, trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp luật cần giải quyết (bao gồm cả quan hệ pháp luật có tranh chấp và quan hệ pháp luật mà các bên có sự thỏa thuận hoặc chỉ yêu cầu Tòa án xác định một
sự kiện pháp lý) thì đình chỉ giải quyết vụ án ở đây lại được hiểu theo nghĩa rộng Có nghĩa là chấm dứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ
Trang 1810
pháp luật cần phải giải quyết trong vụ án (bao gồm cả quan hệ pháp luật có tranh chấp và quan hệ pháp luật không có tranh chấp) Từ khi có BLTTDS thì mới phân biệt VADS là việc có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các đương
sự và VDS là việc không có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa các đương sự Như vậy, có thể suy luận rằng đình chỉ giải quyết VADS và đình chỉ giải quyết VVDS đều cùng dựa trên những căn cứ nhất định
Xét về thực tế, sau khi Tòa án thụ lý vụ việc, trong quá trình giải quyết VADS hoặc VDS có thể phát hiện các tình tiết, sự kiện làm cho việc giải quyết VADS hoặc VDS không thể tiếp tục được mà căn nguyên là do Tòa án
đã thụ lý vụ việc khi VADS hoặc VDS không thỏa mãn các điều kiện của việc thụ lý theo quy định của pháp luật Do vậy, để khắc phục những sai lầm này, Tòa án cần phải chấm dứt ngay việc giải quyết vụ việc mà mình đã thụ lý Ngoài ra cũng có những trường hợp việc thụ lý vụ việc của Tòa án là đúng pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết đã phát sinh một số sự kiện làm cho đối tượng của VVDS cần phải giải quyết không còn nữa, khi đó Tòa án cũng cần phải chấm dứt việc giải quyết VVDS Tùy theo trường hợp, việc chấm dứt giải quyết VVDS có thể được tiến hành ở cấp tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Từ những phân tích trên và kế thừa các kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu trước đây, có thể rút ra kết luận về đình chỉ giải quyết VVDS như
sau: “Đình chỉ giải quyết VVDS là việc Tòa án quyết định ngừng hẳn việc giải
quyết VADS hoặc VDS đã thụ lý khi có những căn cứ do pháp luật quy định
và sau khi quyết định đình chỉ giải quyết VVDS có hiệu lực pháp luật thì đương sự không có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc đó nữa, trừ những trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định khác.”
1.1.2 Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Việc đình chỉ giải quyết VVDS có những đặc điểm sau đây:
Trang 1911
Thứ nhất, đình chỉ giải quyết VVDS là một quyết định kết thúc việc
giải quyết một VADS hoặc VDS
Đây là điểm khác biệt cơ bản của đình chỉ giải quyết VVDS với tạm đình chỉ giải quyết VVDS Tạm đình chỉ giải quyết VVDS được hiểu là việc Tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết VADS hoặc VDS đã thụ lý trong một thời hạn nhất định khi có những căn cứ do pháp luật quy định; khi
lý do của việc tạm đình chỉ không còn thì Tòa án lại tiếp tục giải quyết VADS hoặc VDS đó Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VVDS chỉ có ý nghĩa về mặt thủ tục chứ không có ý nghĩa về việc giải quyết nội dung vụ việc Trong khi đó, đình chỉ giải quyết VVDS có ý nghĩa kết thúc cả về mặt thủ tục lẫn giải quyết nội dung vụ án Khi VVDS bị đình chỉ giải quyết, các hoạt động tố tụng giải quyết VVDS sẽ ngừng hẳn, Tòa án sẽ xóa sổ thụ lý đối với VVDS, việc giải quyết VVDS không được khôi phục lại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Trong trường hợp pháp luật có quy định thì việc giải quyết vụ việc mới được tiến hành lại sau khi đương sự khởi kiện lại hay yêu cầu lại và đương sự phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về án phí, lệ phí cho lần khởi kiện, lần yêu cầu mới này Như vậy, điểm khác biệt cơ bản nhất giữa tạm đình chỉ
giải quyết VVDS và đình chỉ giải quyết VVDS đó là tạm đình chỉ là “tạm
ngừng”, còn đình chỉ là “ngừng hẳn” mọi hoạt động tố tụng đối với VADS
hay VDS đó Hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ là Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết VADS và VDS khi lý do tạm đình chỉ không còn đối với đình chỉ giải quyết VVDS là chấm dứt hoàn toàn và đương sự không có quyền khởi kiện hay yêu cầu Tòa án giải quyết VVDS đó, trừ một số trường hợp đặc biệt
Ngoài ra, từ đặc điểm này của đình chỉ giải quyết VVDS cũng giúp chúng ta có thể phân biệt với đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự trong VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm Như đã nêu ở trên, đối tượng mà Tòa án phải giải quyết trong VVDS được xác định trên cơ sở yêu cầu của bên đương sự
Trang 2012
Trong một VADS đương sự có thể đưa ra nhiều yêu cầu khác nhau về giải quyết một quan hệ pháp luật hoặc các quan hệ pháp luật có liên quan đến nhau như yêu cầu trả nhà cho thuê và bồi thường thiệt hại do sử dụng nhà gây ra v.v Hoặc trong VADS có nhiều đương sự cùng đưa ra yêu cầu như nhiều người được thừa
kế yêu cầu chia thừa kế, nhiều người bị thiệt hại do nhà máy thải chất thải gây ô nhiễm môi trường kiện đòi bồi thường thiệt hại v.v Trong trường hợp, nếu các đương sự đều rút yêu cầu của mình hoặc tự hòa giải được thì đối tượng của VVDS không còn và Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS hoặc VDS đã thụ lý Tuy vậy, đối với những trường hợp trong VADS đương
sự đưa ra nhiều yêu cầu nhưng không rút hết yêu cầu hoặc trong vụ án có nhiều đương sự đưa ra yêu cầu mà có đương sự rút yêu cầu nhưng đương sự khác vẫn giữ yêu cầu của mình thì Tòa án không ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS mà chỉ quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự đã rút, những yêu cầu còn lại Tòa án vẫn phải xem xét, giải quyết Thực chất đây
là trường hợp trong VADS có nhiều quan hệ pháp luật phải giải quyết và Tòa
án chỉ đình chỉ giải quyết một phần của VADS
Thứ hai, đình chỉ giải quyết VVDS phải dựa trên những căn cứ mà
pháp luật đã quy định trước chứ không được tiến hành tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tòa án
Để đảm bảo việc giải quyết VVDS một cách khách quan, đúng đắn và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật quy định cụ thể các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS Theo đó, các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS ở các Tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm không giống nhau Trong quá trình giải quyết VVDS, căn cứ vào các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS do pháp luật quy định, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc theo đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy
Trang 2113
định Tòa án không được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc một cách tùy tiện khi không có những căn cứ do pháp luật quy định
Thứ ba, việc đình chỉ giải quyết VVDS trước phiên tòa do Thẩm phán
được phân công giải quyết vụ việc quyết định; việc quyết định có đình chỉ giải quyết VADS tại phiên tòa hay không do Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết VDS hoặc Thẩm phán phụ trách giải quyết VDS quyết định
Việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm hay ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Việc đình chỉ giải quyết VADS ở Tòa án cấp sở thẩm, phúc thẩm có thể thực hiện trước hoặc trong phiên tòa Quá trình giải quyết VVDS trước phiên tòa chủ yếu do Thẩm phán tiến hành, do đó trước phiên tòa mà phát hiện có căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS thì Thẩm phán có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết VVDS Việc giải quyết VADS tại phiên tòa do Hội đồng xét xử thực hiện, vì vậy tại phiên tòa mà phát hiện có căn cứ đình chỉ giải quyết VADS thì Hội đồng xét xử có thẩm quyền quyết định Việc giải quyết VDS ở phiên họp giải quyết VDS có thể do Thẩm phán hoặc Hội đồng giải quyết VDS thực hiện, do vậy nếu việc giải quyết VDS trước phiên họp do Thẩm phán thực hiện thì Thẩm phán quyết định còn nếu việc giải quyết VDS ở phiên họp do Hội đồng giải quyết VDS thực hiện thì Hội đồng giải quyết VDS quyết định
Thứ tư, hậu quả của đình chỉ giải quyết VVDS là mọi hoạt động tố tụng
giải quyết VVDS đều phải chấm dứt
Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS hoặc VDS, Tòa án không tiến hành thêm bất cứ hoạt động nào để giải quyết VVDS đó nữa Tòa án sẽ xóa sổ thụ lý và đương sự không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại VVDS, trừ trường hợp pháp luật có quy định
Trang 2214
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt đình chỉ giải quyết VVDS với tạm đình chỉ giải quyết VVDS Tạm đình chỉ giải quyết VVDS không có hậu quả pháp lý làm ngừng hẳn các hoạt động tố tụng giải quyết VVDS mà chỉ làm tạm ngừng việc giải quyết VVDS, khi lý do của tạm đình chỉ giải quyết VVDS không còn nữa, Tòa án lại tiếp tục giải quyết VVDS Ngoài ra, đặc điểm này cũng giúp chúng ta phân biệt đình chỉ giải quyết VVDS tại Tòa án cấp phúc thẩm với và đình chỉ xét xử phúc thẩm Đình chỉ xét xử phúc thẩm không làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của đương sự về mặt nội dung mà chỉ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm Nói cách khác, đình chỉ xét xử phúc thẩm làm chấm dứt hoạt động xét xử phúc thẩm đối với vụ án có kháng cáo, kháng nghị nhưng cũng đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm, theo đó những quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định sơ thẩm của các đương sự phải được tôn trọng và thi hành Thời điểm đình chỉ xét xử phúc thẩm có thể trước phiên tòa, phiên họp phúc thẩm hoặc tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm Hình thức văn bản được áp dụng chung là quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm Nếu đình chỉ xét xử phúc thẩm trước phiên tòa, phiên họp thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết VVDS quyết định, còn tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm do Hội đồng xét xử phúc thẩm VADS, Hội đồng giải quyết phúc thẩm VDS quyết định Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay
Như vậy, đình chỉ giải quyết phúc thẩm VVDS khác với đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo, kháng nghị Việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được thực hiện ở Tòa án cấp phúc thẩm khi có những căn cứ mà pháp luật quy định nhưng bản chất của nó là làm chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết vụ việc đã được thụ lý từ cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và ngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng, vụ việc được xóa sổ và coi
Trang 2315
như không còn tồn tại Trong khi đó, đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ áp dụng đối với trường hợp có việc rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm không dẫn tới hậu quả Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm và xóa sổ thụ lý vụ án mà trái lại bản án, quyết định sơ thẩm vẫn có thể có hiệu lực pháp luật
1.1.3 Ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Như đã phân tích ở trên, trong nhiều trường hợp sau khi đã thụ lý vụ việc, Tòa án mới phát hiện được VVDS đã được thụ lý mà không thỏa mãn các điều kiện của việc thụ lý theo quy định pháp luật Do vậy, trong những trường hợp này, việc Tòa án đình chỉ giải quyết VVDS chấm dứt việc giải quyết vụ việc mà mình đã thụ lý sẽ khắc phục được những sai lầm do việc thụ
lý VVDS không đúng, đảm bảo được giải quyết VVDS một cách khách quan, chính xác và đúng pháp luật
Đối với những trường hợp việc thụ lý VVDS của Tòa án là đúng pháp luật nhưng trong quá trình giải quyết VVDS đã phát sinh một số sự kiện làm cho đối tượng của VVDS cần phải giải quyết tại Tòa án không còn nữa Trong những trường hợp này, việc quyết định đình chỉ giải quyết VVDS có ý nghĩa giúp cho Tòa án nhanh chóng quyết định về vụ việc khi đối tượng cần giải quyết trong vụ việc không còn hoặc quyền lợi của đương sự đã chấm dứt mà không có sự kế thừa giải phóng cho các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn bị coi
là một nghĩa vụ bắt buộc đối với họ
Đình chỉ giải quyết VVDS cũng có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự Trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền tự định đoạt nên sau khi đưa ra yêu cầu khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết VDS mà nguyên đơn, người yêu cầu rút tất cả các yêu cầu của họ thì đối tượng giải quyết VVDS không còn nên Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết VVDS Việc Tòa án đình chỉ giải quyết VVDS trong những trường hợp này vừa bảo
Trang 24án không phải kéo dài thời giải giải quyết vụ việc, thậm chí không phải mở phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc Nhờ đó gánh nặng về số VVDS cần phải giải quyết được giảm tải, Tòa án có điều kiện tập trung giải quyết các
vụ việc cần thiết khác để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết
vụ việc dân sự
Việc Tòa án chấm dứt giải quyết VVDS mà mình đã thụ lý là nhằm khắc phục những sai lầm do việc thụ lý vụ việc không đúng đem lại hoặc giải phóng cho các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn bị coi là một nghĩa vụ bắt buộc đối với họ Tuy nhiên, việc xác định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ việc không hợp
lý có thể dẫn tới quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, người yêu cầu sẽ không được Tòa án xem xét giải quyết và quyền tiếp cận công lý của công dân không được đảm bảo nếu như trong trường hợp đó việc khởi kiện, yêu cầu lại của đương sự không được pháp luật ghi nhận Theo kết quả nghiên cứu thì việc đình chỉ giải quyết VVDS có thể được dựa trên một số sự kiện như sự sai lầm trong việc thụ lý vụ việc; đối tượng của việc giải quyết không còn do đương sự chết, sự việc đã được giải quyết, các bên đã tự hòa giải hoặc từ bỏ việc khởi kiện, yêu cầu hoặc được suy đoán là đã từ bỏ quyền khởi kiện, quyền yêu cầu Cụ thể như sau:
- Phát hiện việc Tòa án thụ lý vụ việc không đúng
Trang 2517
Quyền khởi kiện, quyền yêu cầu là quyền quan trọng mà đương sự có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Tuy nhiên, để đảm bảo
sự ổn định của các quan hệ pháp luật, trong một số trường hợp, nhà lập pháp
đã giới hạn việc thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình trong một thời hiệu nhất định Theo đó, để tránh tình trạng một vụ việc lại có nhiều cách giải quyết khác nhau gây mất niềm tin của đương sự vào công lý, nhà lập pháp cũng quy định việc thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu chỉ được thực hiện nếu trước đó sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Pháp luật cũng đòi hỏi người thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu phải là chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu, có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, có đủ điều kiện để thực hiện việc khởi kiện ra Tòa án Ngoài ra, Tòa án cũng chỉ có thẩm quyền thụ lý
vụ việc nếu sự việc thuộc thẩm quyền về dân sự của Tòa án
Như vậy, quyền khởi kiện, quyền yêu cầu là quyền quan trọng mà đương sự có thể sử dụng để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình, tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, pháp luật đã quy định đương sự chỉ có thể thực hiện quyền này khi thỏa mãn các điều kiện nhất định Thế nhưng trên thực tế, nhiều trường hợp do thiếu thận trọng, Tòa án đã thụ lý cả những vụ việc không đảm bảo các điều kiện thụ lý mà pháp luật quy định Những sai sót này cần được khắc phục thông qua việc chấm dứt giải quyết vụ việc mà Tòa đã thụ lý Nếu Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ việc mặc dù biết những vụ việc này không đủ điều kiện thụ lý thì sai lầm của Tòa án càng trở nên nghiêm trọng và có thể gây tổn hại cho quyền lợi của bên bị đơn Hơn nữa, việc tiếp tục giải quyết vụ việc trong những trường hợp nêu trên đồng nghĩa với việc Tòa án đã đi ngược lại tinh thần và mục đích của các quy định mà các nhà lập pháp đã xây dựng Do đó, khi vụ việc đã được Tòa án thụ lý mặc dù không
Trang 26- Đối tượng của vụ việc cần phải giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại
Qua nghiên cứu cho thấy sự kiện làm cho đối tượng của vụ việc cần phải giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại có thể là các sự kiện sau đây:
+ Sự kiện đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế do tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án cần giải quyết như vụ việc phát sinh từ quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng;
+ Sự kiện người có nghĩa vụ chết nhưng không để lại di sản thừa kế; + Sự kiện đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, bị tuyên bố phá sản mà không có chủ thể thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng;
+ Sự kiện các chủ thể đã khởi kiện, yêu cầu rút đơn khởi kiện, rút đơn yêu cầu hoặc các đương sự tự hòa giải
Việc pháp luật quy định Tòa án đình chỉ giải quyết VVDS trong những trường hợp này là nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự
- Phát sinh sự kiện dẫn tới sự suy đoán là đối tượng của vụ việc cần
phải giải quyết tại Tòa án không còn tồn tại
Nguyên đơn, người yêu cầu là người đưa ra yêu cầu cho Tòa án giải quyết đã được Tòa án triệu tập hợp lệ thì phải tham gia tố tụng để trình bày yêu cầu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trường hợp nguyên đơn, người yêu cầu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng
Trang 27họ Vì vậy, để có cơ sở pháp lý cho việc đình chỉ giải quyết VVDS thì xét dưới góc độ lý luận, pháp luật phải quy định đình chỉ giải quyết VVDS
1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự
Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhưng cũng phản ánh thực tiễn của cuộc sống Giá trị thi hành của pháp luật không chỉ ở chỗ thể hiện ý chí của giai cấp thống trị mà còn phải phù hợp, phản ánh được đời sống xã hội và điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội Các quy định của pháp luật muốn được thi hành có hiệu quả trên thực tế phải xuất phát từ yêu cầu của đời sống xã hội, nếu xa rời đời sống xã hội sẽ không có tính khả thi
và vướng mắc trong thực hiện Theo đó, pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam không những phải thể hiện, cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng
và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách
tư pháp vào quá trình giải quyết các VVDS mà còn phù hợp, phản ánh thực tiễn giải quyết các VVDS của các Tòa án nước ta
Thực tiễn giải quyết các VVDS của Tòa án nước ta đã cho thấy có rất nhiều trường hợp Tòa án không thể tiếp tục giải quyết được mà phải ngừng hẳn việc giải quyết VVDS (hay đình chỉ giải quyết VVDS) như trường hợp Tòa án đang giải quyết VVDS mà nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; trường hợp Tòa án đang giải quyết VVDS cơ quan, tổ chức là đương sự đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá
Trang 2820
sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện, cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; trường hợp các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; trường hợp VVDS không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án v.v…
Ngoài ra, liên quan đến việc Tòa án phải đình chỉ việc giải quyết VVDS cũng có rất nhiều vấn đề khác nhau như thẩm quyền đình chỉ việc giải quyết VVDS, thủ tục việc giải quyết VVDS, hậu quả pháp lý của việc giải quyết VVDS, quyền khởi kiện, yêu cầu lại của đương sự v.v nên rất phức tạp Thực tế, đó đòi hỏi pháp luật phải quy định tất cả những vấn đề liên quan đến đình chỉ giải quyết VVDS
1.3 SƠ LƢỢC SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Cùng với sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS cũng không ngừng được phát triển Căn cứ vào các mốc quan trọng của quá trình phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, việc nghiên cứu sơ lược về sự phát triển các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết VVDS được thực hiện theo các giai đoạn sau:
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Sau Cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ Tại
Điều thứ 1 có quy định: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất
cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này ” Tiếp đó, ngày 24/01/1946 ban
Trang 2921
hành Sắc lệnh số 13 tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán, ngày
17 tháng 04 năm 1946 ban hành Sắc lệnh số 51 phân công thẩm quyền giữ
19/7/1946 về ấn định thể thức thi hành án, Sắc lệnh số 185-SL ngày 26/5/1948 về ấn định thẩm quyền của các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/01/1950 quy định đề ly hôn v.v Ngoài các văn bản này hầu như Nhà nước không có ban hành văn bản nào quy định về thủ tục tố tụng dân sự và do vậy, cũng không có những quy định riêng về vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS Có thể hiểu đây là giai đoạn trong tình hình khẩn trương của cuộc kháng chiến chống Pháp, các Tòa án chỉ tập trung xét xử các
vụ án về hình sự mà không giải quyết các tranh chấp về dân sự Tuy nhiên, vấn đề đình chỉ giải quyết các việc hộ và thương mại trong tình thế đặc biệt đã được đề cập trong Thông lệnh số 12 – NV-CT ngày 29/12/1946 của Bộ Tư
pháp về tổ chức tư pháp, theo đó: “ Nếu vì một lẽ gì, Tòa án thường không thể
tiếp tục công việc xử án được, việc xét xử những phạm pháp sẽ do quyết định của Ủy ban bảo vệ khu và giao cho Tòa án quân sự Còn xử các việc hộ hoặc thương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc thì sẽ do Hội thẩm chuyên môn Tòa án quân sự xét xử bằng mệnh lệnh ”
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam lúc đó là củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân, khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã cho xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật nhằm đáp ứng tình hình lúc đó Để chấm dứt việc áp dụng các luật
lệ cũ ban hành trước năm 1945 còn được tạm giữ theo Sắc lệnh 47 ngày 10/10/1945, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 và Thông tư số 2140-VHH/HS ngày 6/12/1955; Tòa án nhân dân Tối cao đã ra
Trang 3022
Chỉ thị số 772-NC ngày 10/7/1959 đình chỉ việc áp dụng luật pháp cũ của đế quốc, phong kiến Tuy nhiên, thời kỳ này có rất ít các văn bản quy định về thủ tục tố tụng dân sự và nếu có thì cũng chỉ là một số hướng dẫn thủ tục về giải quyết việc ly hôn, mà không có những quy định riêng về vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS
Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng luật lệ cũ được ban hành từ thời Pháp thuộc Tuy nhiên, có ban hành một số văn bản để quy định, giải thích những chỗ trống và vướng mắc
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Sau khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành thì Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân cũng được ban hành Trong thời kỳ này, các văn bản pháp luật tố tụng được coi là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án, chủ yếu dưới dạng các công văn, chỉ thị và đặc biệt là các thông tư do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành Ví dụ như Thông tư số 1080-TC ngày 25/9/1961 của TANDTC hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của Tòa án nhân dân thuộc tỉnh, thị
xã, huyện, khu phố; Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của TANDTC về việc thực hiện chế định Hội thẩm nhân dân Vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS
đã được quy định tại Thông tư số 39-NCPL ngày 21/1/1972 của TANDTC hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những vụ kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự (thời kỳ này vụ án dân sự bao hàm cả vụ kiện
về hôn nhân gia đình, tranh chấp về dân sự và những việc không có tranh chấp; xếp việc kiện được hiểu như đình chỉ giải quyết vụ kiện) Trong Thông
tư này quy định rất cụ thể những trường hợp phải xếp vụ kiện, thẩm quyền và thủ tục xếp vụ kiện Theo Mục A của Thông tư này thì Tòa án được xếp vụ kiện trong trường hợp đương sự đi kiện về một việc mà trước đó Tòa án đã giải quyết rồi, có một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vụ
Trang 31bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp Đây là những quy định mang tính tiền
đề cho việc xây dựng các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam sau này
Ở miền Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1972, chính quyền Sài Gòn ban hành Bộ luật Dân sự và Thương sự tố tụng Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật
Dân sự và Thương sự tố tụng năm 1972 của chính quyền Sài Gòn thì: “Nếu
nguyên đơn từ trần sau khi nạp đơn khởi tố, vụ kiện sẽ được bôi bỏ, ngoại trừ trường hợp có thừa kế của người quá cố tự ý dự sự để tiếp tục vụ kiện, hoặc
có bị đơn phản tố đòi họ ra dự sự ” Đây là trường hợp Tòa án chấm dứt
việc giải quyết vụ kiện do nguyên đơn chết mà không có người thừa kế tiếp tục tham gia tố tụng
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Trên tinh thần của Đại hội VI của Đảng về tăng cường sự quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ những lợi ích hợp pháp của công dân, khắc phục
sự tản mạn của các quy định pháp luật tố tụng trước đây, PLTTGQCVADS đã được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp về dân sự Pháp lệnh này đã kế thừa và phát triển những quy định về thủ tục tố tụng dân sự trước đó Vấn đề đình chỉ giải quyết VADS được quy định tại Điều 46 của Pháp lệnh này Ngoài ra, TANDTC cũng ban hành những văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của PLTTGQCVADS trong đó có quy định đình chỉ giải quyết VADS Cụ thể là Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày
Trang 3224
19/10/1990 của HĐTPTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS, Công văn số 124/NCPL ngày 13/12/1991 của TANDTC giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự, Công văn số 517/NCPL ngày 9/10/1993 của TANDTC về việc ly hôn với một bên đang ở nước ngoài
Điều 46 PLTTGQCVADS đã khái quát được các trường hợp mà Toà án
có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS Theo nghiên cứu thì các trường hợp này tương đối phù hợp với cơ sở khoa học của việc xây dựng các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS đã trình bày ở phần trên Theo đó, Toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết VVDS khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
- Các đương sự đã tự hoà giải, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rút đơn khởi tố vụ án trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn không yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án;
- Nguyên đơn đã được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có
lý do chính đáng
- Những trường hợp lẽ ra phải trả lại đơn khởi kiện nhưng do nhầm lẫn nên Toà án đã thụ lý như thời hiệu khởi kiện đã hết; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án; sự việc không thuộc thẩm quyền của Toà án
Hậu quả của việc đình chỉ được hướng dẫn tại Mục IX Nghị quyết số 03/NQ- HĐTP nêu trên Cụ thể: Nếu Toà án đã đình chỉ giải quyết VADS đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 46 của Pháp lệnh thì đương sự không có quyền khởi kiện lại nữa, nếu Toà án đã đình chỉ do đương
sự đã tự hoà giải được, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn không yêu cầu tiếp tục giải quyết vụ án; nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do chính đáng thì sau đó đương sự
Trang 33bổ sung thêm một căn cứ về đình chỉ giải quyết VAKT, VALĐ đó là “Đã có
quyết định của Toà án mở thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó là đương sự của vụ án.”
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Năm 2004, nhằm góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, ngày 15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ
5 khoá XI đã thông qua BLTTDS Các quy định của BLTTDS về vấn đề đình chỉ giải quyết các VVDS được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát triển các quy định của ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó Vấn đề đình chỉ giải quyết VVDS được quy định tương đối cụ thể tại các điều từ Điều 192 đến Điều 194
và Điều 311 BLTTDS Ngoài ra, vấn đề đình chỉ giải quyết các VVDS cũng được hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC như:
- Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành
một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2004.”
Trang 3426
- Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của
HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ
tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS
- Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04/8/2006 của
HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ ba “ thủ tục
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của BLTTDS
Nhằm khắc phục những hạn chế trong quy định tại BLTTDS, tại Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/3/2011, Quốc hội khoá XII đã thông qua LSĐBSBLTTDS và Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 Những quy định về đình chỉ giải quyết VVDS cũng được sửa đổi một cách đáng kể LSĐBSBLTTDS đã sửa đổi căn cứ đình chỉ giải quyết VADS quy
định tại Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS: “Nguyên đơn đã được triệu tập
hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng.” Theo quy định của
BLTTDS, nếu Tòa án đã triệu tập hợp lệ và đã thực hiện việc triệu tập đến lần thứ hai mà nguyên đơn vẫn vắng mặt, thì cơ bản có thể hiểu rằng nguyên đơn
đã từ bỏ việc khởi kiện của mình Vì vậy, nếu Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết
vụ án thì việc giải quyết vụ án sẽ không có ý nghĩa
Hơn nữa, LSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi nhằm bảo đảm tính khả thi và tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật Cụ thể LSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với căn cứ tại Điều 168 Do căn cứ trả lại đơn khởi kiện theo Khoản 1 Điều 168 BLTTDS:
“Thời hiệu khởi kiện đã hết” đã bị bãi bỏ Tuy nhiên, nếu sau khi Tòa án thụ
lý vụ án mới xác định được căn cứ “đã hết thời hiệu khởi kiện” thì đây chính
là một trong những căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án Bởi vậy,
LSĐBSBLTTDS thêm căn cứ: “Thời hiệu khởi kiện đã hết” và “Các trường
hợp quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý” là
Trang 3527
các căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án Quy định này mang tính liệt
kê, chi tiết, cụ thể giúp cho Tòa án dễ áp dụng khi xác định chính xác căn cứ này trong việc giải quyết vụ án
Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân LSĐBSBLTTDS đã có những sửa đổi, bổ sung khi quy định về quyền khởi kiện lại khi Tòa án đã quyết định đình chỉ giải quyết VADS Điều 193 BLTTDS quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết VADS, theo đó thì sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đương sự không có quyền khởi kiện lại, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại các điểm c, e và g Khoản 1 Điều 192 BLTTDS Nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự, LSĐBSBLTTDS đã mở rộng các trường hợp đương
sự được quyền khởi kiện lại khi đã thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định Chẳng hạn như trường hợp Tòa án đình chỉ vụ án do chưa đủ điều kiện khởi kiện, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS)… Trong những trường hợp này, đương sự sẽ có quyền khởi kiện lại khi đã khắc phục được những lý do trên Và sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án thì việc đương sự khởi kiện lại tuy vẫn cùng nguyên đơn, bị đơn và quan hệ tranh chấp nhưng có tình tiết mới khác với lần khởi kiện ban đầu ở chỗ người khởi kiện hoặc đã có quyền khởi kiện hoặc đã có đủ NLHVTTDS hoặc đã nộp tiền tạm ứng án phí hoặc đã có đủ điều kiện khởi kiện Vì vậy, LSĐBSBLTTDS quy định về không có quyền khởi kiện lại, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g Khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Trang 3628
Bên cạnh đó, các quy định về việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương
sự đã nộp khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong LSĐBSBLTTDS thể hiện sự rõ ràng, khoa học hơn so với BLTTDS; tùy thuộc từng trường hợp khác nhau mà việc xử lý tiền tạm ứng án phí đó cũng khác nhau
Cùng với việc ban hành LSĐBSBLTTDS, HĐTPTANDTC đã kịp thời ban hành các nghị quyết hướng dẫn thực hiện đối với Luật này:
- Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ hai:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp sơ thẩmcủa Bộ luật
Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự” (Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP)
- Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định
trong phần thứ ba:“Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa cấp phúc thẩm của Bộ
luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự ” (Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP)
Mặc dù đã có những sửa đổi phù hợp hơn, qua quá trình áp dụng thực tiễn cho thấy LSĐBSBLTTDS vẫn còn một số hạn chế nhất định khiến việc thực thi pháp luật không đồng nhất và gặp nhiều khó khăn Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi BLTTDS trong thời gian gần nhất là điều cần thiết
Hiện nay, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành và có hiệu lực
đã đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTDS nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, khắc phục các hạn chế, tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ, công bằng, tạo thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình Do vậy, Nhà nước ta đã cho soạn thảo BLTTDS sửa đổi Trong Dự thảo
Trang 3729
BLTTDS sửa đổi các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS được quy định khá cụ thể và chi tiết tại các điều 214, 215 Về cơ bản, những quy định này đã khắc phục được những thiếu sót, hạn chế trong quy định về đình chỉ giải quyết VVDS so với những quy định hiện hành
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đình chỉ giải quyết VVDS là việc Tòa án ngừng hẳn việc giải quyết VVDS đã thụ lý khi có căn cứ do pháp luật quy định Đình chỉ giải quyết VVDS là một trong những vấn đề cơ bản của tố tụng dân sự có ý nghĩa giúp Tòa án khắc phục được những sai lầm do việc thụ lý VVDS không đúng, giải phóng cho các bên đương sự, bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của của đương sự và Nhà nước
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của đình chỉ giải quyết VVDS, ngay từ các văn bản pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đầu tiên do Nhà nước ta ban hành đã có các quy định về đình chỉ giải quyết VVDS Tuy nhiên, chỉ đến khi PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ được ban hành thì pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam mới quy định tương đối cụ thể về đình chỉ giải quyết VVDS Đặc biệt, từ sau khi Nhà nước ban hành BLTTDS, LSĐBSBLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này thì các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đình chỉ giải quyết VVDS ngày càng được hoàn thiện thiện hơn Ngày nay, Nhà nước ta đang cho xây dựng Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi Trong Dự thảo Bộ luật này nhiều quy định về đình chỉ giải quyết VVDS trong BLTTDS cũng được sửa đổi, bổ sung nhằm làm cho các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn góp phần tích cực vào việc giải quyết nhanh chóng và đúng đắn VVDS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Trang 3830
Chương 2 NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ 2.1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ CĂN CỨ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ
Các quy định về căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS là cơ sở pháp lý để Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết VVDS đã thụ lý Trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS được quy định tại Điều 192 BLTTDS và được sửa đổi, bổ sung bởi LSĐBSBLTTDS Tuy nhiên, về cơ bản LSĐBSBLTTDS gần như giữ nguyên các căn cứ đình chỉ giải quyết VVDS của BLTTDS và chỉ sửa đổi, bổ sung quy định Điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS cho phù hợp với thực tiễn xét xử tại Tòa án
2.1.1 Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền và nghĩa
vụ của họ không được thừa kế (Điểm a Khoản 1 Điều 192 BLTTDS)
Nguyên đơn hoặc bị đơn chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không được thừa kế được hiểu là các quyền, nghĩa vụ này là quyền, nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của đương sự đã chết đó và không được phép chuyển giao cho người thừa kế Do tính chất nhân thân nên khi nguyên đơn hoặc bị đơn chết, quyền và nghĩa vụ của họ đương nhiên chấm dứt Do đó Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ việc vì đối tượng xét xử, giải quyết không còn nữa Ví dụ trường hợp nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu Tòa án buộc một bên phải chấm dứt hành vi vi phạm quyền nhân thân như quyền cá nhân đối với hình ảnh, danh dự, uy tín… mà một trong các bên đương sự chết thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Quy định này xuất phát từ cơ sở lý luận là xuất hiện sự kiện đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế do tính chất của quan hệ pháp luật mà Toà án cần giải quyết như vụ việc phát sinh từ quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 192 BLTTDS,
Trang 3931
trong quá trình Toà án đang tiến hành giải quyết vụ án, nếu nguyên đơn hoặc
bị đơn là cá nhân chết sẽ làm cho đối tượng xét xử, giải quyết vụ án của Toà
án không còn nên Toà án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
Về phương diện lý luận, quy định trên phù hợp với các vụ việc có một quan hệ nhân thân cần giải quyết (ly hôn) Tuy nhiên, đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật nhân thân cần giải quyết (nhiều nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải cải chính, xin lỗi do đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của họ ) thì việc một trong các nguyên đơn chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết VVDS Trong trường hợp này Toà án chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với nguyên đơn chết chứ không đình chỉ việc giải quyết vụ án
Đối với các tranh chấp về tài sản, khi đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng (Khoản 1 Điều 62 BLTTDS) Trong trường hợp một bên đương sự chết mà không có người thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người thừa kế không được hưởng quyền di sản, từ chối nhận di sản thừa kế thì
vụ án không bị đình chỉ mà Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật có tranh chấp đó Bởi theo quy định tại Điều 644 BLDS, di sản đó thuộc về Nhà nước Nếu bên có quyền chết mà không có người thừa kế thì Tòa án sẽ yêu cầu các cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng thay mặt đương sự để bảo vệ lợi ích Nhà nước theo Khoản 3 Điều 62 BLTTDS Nếu đương sự là bị đơn chết, đại diện cơ quan Nhà nước nhận tài sản của bị đơn sẽ phải tiếp tục tham gia tố tụng thay mặt đương sự để giải quyết tranh chấp với nguyên đơn Khi trả xong món nợ của nguyên đơn đối với bị đơn thì Nhà nước mới nhận được tài sản của bị đơn
Đó cũng là cách tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, Nhà nước
Quy định này đã rõ ràng và phù hợp nên tại tại Điểm a Khoản 1 Điều
217 Dự thảo BLTTDS sửa đổi vẫn giữ nguyên quy định này của BLTTDS
Trang 4032
2.1.2 Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan, tổ chức đó (Điểm b Khoản 1 Điều 192 BLTTDS)
Khác với trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Khoản 1 Điều 189 BLTTDS thường là các trường hợp chuyển đổi hình thức
tổ chức (sáp nhập, chia tách) Trong trường hợp này các cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn chấm dứt hoạt động trên thực tế (do bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản) Tuy nhiên, điểm khác
biệt cơ bản vẫn nằm ở hai thuật ngữ là chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng và không có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng Sự khác biệt ở căn cứ này quyết định việc Toà án sẽ tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết vụ án
Pháp luật quy định khi đã giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản, mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ
thể này đều chấm dứt theo Nếu không có cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng bị giải thể, bị tuyên bố phá sản thì Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết VVDS, không xem xét quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức này nữa
Hiện nay, theo Điểm a Khoản 2 Điều 62 BLTTDS: “Trường hợp tổ chức
phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng.” Vấn đề đặt ra là việc công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh “chấm dứt hoạt động” có đồng
nghĩa với việc các công ty này bị tuyên bố phá sản không? Nếu các công ty này
đã bị tuyên bố phá sản thì cá nhân, tổ chức là thành viên của các công ty đó hoặc đại diện của họ có tiếp tục tham gia tố tụng không?
- Đối với trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh bị tuyên
bố phá sản thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 110 Luật Phá sản năm