Với vai trò quan trọng của công bố thông tin trên TTCK và trước yêu cầu của hoạt động tái cấu trúc nội tại song song với hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, phâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ THÙY TRANG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THỊ THÙY TRANG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Quỳnh Chi
Hà Nội - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Hoàng Thị Quỳnh Chi là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho
tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 4
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5
1.1 Khái niệm về TTCK và Tổ chức phát hành trên TTCK 5
1.1.1 Khái niệm về TTCK 5
1.1.2 Khái niệm về tổ chức phát hành trên TTCK 6
1.2 Khái niệm thông tin trên TTCK và hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK 7
1.2.1 Khái niệm thông tin trên TTCK 7
1.2.2 Khái niệm về hoạt động công bố thông tin của Tổ chức phát hành trên TTCK 9
1.3 Phân loại hoạt động công bố thông tin của Tổ chức phát hành trên TTCK 11
1.4 Các nguyên tắc công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK 13
1.4.1 Thông tin được cung cấp phải đầy đủ, chính xác 14
Trang 61.4.2 Việc công bố thông tin phải kịp thời và liên tục 14
1.4.3 Việc cung cấp thông tin phải đảm bảo sự công bằng trong việc tiếp cận thông tin của các nhà đầu tư 15
1.4.4 Thông tin cung cấp phải được kiểm chứng 15
1.4.5 Bảo đảm trách nhiệm của chủ thể công bố thông tin 15
1.5 Cách thức công bố thông tin của tổ chức phát hành 16
1.6 Vai trò và đặc điểm của pháp luật về công bố thông tin trên TTCK 16
1.7 Kinh nghiệm của một số nước về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 17
1.7.1 Kinh nghiệm về hệ thống thông tin TTCK của Nhật Bản 17
1.7.2 Kinh nghiệm về hệ thống thông tin TTCK của Thái Lan 18
1.7.3 Quy tắc mẫu của OECD về hoạt động công bố thông tin trong quản trị công ty 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH 31
2.1 Quy định của pháp luật về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK Việt Nam 31
2.1.1 Nguồn pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên TTCK nói chung và của tổ chức phát hành nói riêng 31
2.1.2 Quy định về yêu cầu và nguyên tắc công bố thông tin 34
2.1.3 Quy định về các trường hợp công bố thông tin [8] 36
2.1.4 Quy định về nội dung thông tin được công bố 40
2.1.5 Quy định về cách thức, phương tiện công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK 44 2.1.6 Quy định về quản lý và xử lý vi phạm pháp luật về công bố thông tin 45
Trang 72.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về công bố thông tin của tổ chức phát hành
trên TTCK Việt Nam 50
2.2.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK Việt Nam 50
2.2.2 Những tồn tại trong hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK Việt Nam 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 56
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên TTCK Việt Nam 56
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật để khắc phục những vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành 56
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động của TTCK Việt Nam 57
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 58
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK 58
3.3 Giải pháp, kiến nghị 59
3.2.1 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK 59
3.2.2 Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật của các chủ thể 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
2 IOSCO Tổ chức Quốc tế các Ủy ban chứng khoán
3 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
4 SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
5 TTCK Thị trường chứng khoán
6 UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động công bố thông tin trên TTCK nói chung và của TCPHCK nói riêng là phương thức để thực hiện 02 trong số 05 nguyên tắc cơ bản của hoạt động
chứng khoán và thị trường chứng khoán, đó là: (i) Công bằng, công khai, minh bạch; và (ii) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Đối với các tổ chức phát hành chứng khoán là các công ty đại chúng với đặc thù về số lượng cổ đông rất lớn và đặc thù về sự tách biệt giữa quyền sở hữu của cổ đông với hoạt động quản trị công ty Do đó, hệ thống công bố thông tin tốt với tính minh bạch cao là yếu tố then chốt của việc giám sát công ty dựa vào thị trường, đóng vai trò chủ yếu giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình một cách hiệu quả
Sau hơn 17 năm chính thức đi vào hoạt động, TTCK Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu
tư nước ngoài và từng bước xã hội hóa hoạt động đầu tư của công chúng Tuy nhiên, là một thị trường mới hình thành, lại chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toán cầu từ năm 2008 và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, TTCK Việt Nam đã và đang bộ lộ nhiều khiếm khuyết Ngày 06/12/2012 Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1826/2012/QĐ-TTG phê duyệt Đề án tái cấu trúc TTCK và doanh nghiệp bảo hiểm - một đề án được đánh giá là có tính hệ thống, toàn diện và đưa ra lộ trình tương đối hoàn chỉnh nhằm xử lý triệt để những tồn đọng của TTCK và góp phần giải quyết những khó khăn nội tại của kinh tế
Bên cạnh hoạt động tái cấu trúc nội tại, TTCK Việt Nam cũng đã có một bước tiến quan trọng trên chặng đường hội nhập quốc tế, đó là ngày 18/9/2013, Phó Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước Nguyễn Đoan Hùng đã thay mặt
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ký kết Phụ lục A: Cam kết hỗ trợ, trao đổi
Trang 102
thông tin phục vụ điều tra, giám sát tuân thủ và cưỡng chế thực thi, Biên bản
ghi nhớ đa phương (MMoU) của Tổ chức Quốc tế các Ủy ban chứng khoán (IOSCO) Đây là một bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của thị trường vốn Việt Nam, thu hút đầu tư Việt Nam, qua đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng mặt khác, cũng đặt ra cho TTCK Việt Nam nhiều thách thức về việc hoàn thiện những khiếm khuyết hiện tại nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế
Với vai trò quan trọng của công bố thông tin trên TTCK và trước yêu cầu của hoạt động tái cấu trúc nội tại song song với hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, phân tích thực trạng và đưa ra hướng hoàn thiện đối với các quy định của pháp luật về hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK là cần thiết, cấp bách và phù hợp với nhu cầu thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài về hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam và các nội dung liên quan đến thông tin trên TTCK cũng đã được rất nhiều người quan tâm Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá, bình luận của những người có chức trách trong các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của các chuyên gia tài chính hoặc được đặt trong một góc nhìn rộng về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư hoặc thông tin trên TTCK nói chung mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về hoạt động này của chủ thể là TCPH, cụ thể một số công trình nghiên cứu như: GS.TSKH Nguyễn Duy Gia đề cập đến việc minh bạch và công khai đối với TTCK trong cuốn “Một số vấn đề cần biết về TTCK Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003; Chương 8 “Hệ thống thông tin trên TTCK”, Giáo trình TTCK, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Nxb Tài chính Hà Nội, 2002; Chương 8 “Hệ thống thông tin thị trường”, Giáo trình TTCK, Học viện Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội 2002; TS Nguyễn Minh Phong (2007) “Nhận diện những rủi ro trong đầu tư chứng khoán”, Tạp chí Tài
Trang 113
chính số tháng 5, tr 43-45; PGS.TS Lê Hoàng Nga (2007) “Cách thức đầu tư và phòng chống rủi ro chứng khoán đối với nhà đầu tư cá nhân tham gia TTCK”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, số 103, tháng 5/2007, tr 8-11, Viên Thế Giang (2007) “Thông tin trên TTCK những vấn đề cần lưu ý”, Tạp chí Công nghệ Ngân hang số 12/2007; Viên Thế Giang (2008) “Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 1+2/2008; Viên Thế Giang (2008), “Vai trò của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng số 13 tháng 7/2008; TS Hoàng Thị Quỳnh Chi (2008), “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học, Đại học Quốc gia
Hà Nội 2008
Có thể thấy, chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu và cụ thể về hoạt động công bố thông tin của TCPH, một chủ thể rất quan trọng trên TTCK Chính vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động công bố thông tin của TCPH trên TTCK Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học luật là một đề tài có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn:
- Nghiên cứu khái niệm, nguyên tắc, nội dung, phương tiện, hình thức công bố thông tin đối với tổ chức phát hành chứng khoán, bản chất pháp lý, ưu
và nhược điểm, sự khác biệt về cách thức phân loại hoạt động công bố thông tin;
- Kinh nghiệm xây dựng các quy định về công bố thông tin trên TTCK của 1 số nước nhằm rút ra cơ sở lý luận và bài học cho việc quy định vấn đề này tại Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định công bố thông tin đối với tổ chức phát hành chứng khoán tại Việt Nam hiện nay và
Trang 12bố thông tin của tổ chức phát hành trong thời gian tới
4 Những đóng góp mới của đề tài
Đề tài không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về công
bố thông tin và pháp luật về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK mà còn cập nhật bối cảnh thực tế của TTCK Việt Nam hiện nay, từ đó, tập trung phân tích các vấn đề mang tính thực tiễn, so sánh với các quy định quốc tế nhằm tìm ra và để xuất các giải pháp có tính ứng dụng cao
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn trong khuôn khổ nghiên cứu các quy định về công bố thông tin đối với tổ chức phát hành chứng khoán là các công ty đại chứng trên TTCK tập trung, kinh nghiệm quốc tế về hệ thống công bố thông tin của tổ chức phát hành chứng khoán ở Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, thống kê để giải quyết các vấn đề mà đề tài luận văn đặt ra
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về về hoạt động công bố thông tin của
tổ chức phát hành chứng khoán ở Việt Nam và thực tiễn thi hành
- Chương 3: Giải pháp kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động công
bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK Việt Nam
Trang 135
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm về TTCK và Tổ chức phát hành trên TTCK
1.1.1 Khái niệm về TTCK
Xét dưới góc độ kinh tế học, thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán để trao đổi, mua bán các sản phẩm hàng hóa Có nhiều loại thị trường khác nhau với đối tượng mua bán là các loại hàng hóa không giống nhau
TTCK ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế thị trường, do
đó, còn được gọi là thị trường vốn Đây là thị trường cấp cao, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; đối tượng của giao dịch mua bán rất đặc biệt, đó là các loại chứng khoán [14, Tr 11]
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về TTCK Theo tiếng La tinh, TTCK là BURSA, tức là cái ví đựng tiền; tiếng Pháp gọi là Bourse, tức là mậu dịch trường hay còn gọi là sở giao dịch Theo từ điển tiếng Anh Longman Dictionary
of Business English 1995, TTCK được định nghĩa là “một thị trường có tổ chức
là nơi các chứng khoán được mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định.” [35] Từ định nghĩa này, ta có thể thấy được 2 đặc điểm quan trọng của TTCK, thể hiện sự khác biệt với các thị trường hàng hóa thông thường, đó là có
tổ chức và hoạt động mua bán tuân theo những quy tắc đã được ấn định
Ở Việt Nam, Luật Chứng khoán năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có định nghĩa về TTCK Tuy nhiên, hiểu một các chung nhất thì TTCK là nơi phát hành và mua bán các loại chứng khoán
- hàng hóa của thị trường Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ
Trang 146
hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán ; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật [23]
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta có thể chia TTCK thành nhiều loại khác nhau Phương thức phân loại phổ biến nhất là dựa vào các thức
tổ chức của TTCK mà chia ra thành TTCK tập trung (hay còn gọi là TTCK chính thức - The Stock Exchange), TTCK phi tập trung (Over the counter - OTC) và TTCK tự do Trong đó, TTCK tập trung được coi là thị trường truyền thống, điển hình và cơ bản nhất Trên TTCK tập trung, chứng khoán được mua bán là hàng hóa chất lượng cao, phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn niêm yết Khi tham gia vào TTCK tập trung, các chủ thể bao gồm nhà đầu tư, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán…phải tuân thủ các quy định về tổ chức và hoạt động của thị trường Pháp luật có những quy định chặt chẽ về hoạt động trên TTCK tập trung như quy định về công bố thông tin để bảo đảm tính công khai, minh bạch, quy định về các điều kiện đối với hàng hóa được niêm yết, giao dịch trên thị trường Khi nói đến TTCK của bất kỳ quốc gia nào là nói đến TTCK tập trung của quốc gia đó, tức là nói đến SGDCK Tuy SGDCK không đồng nghĩa với TTCK nhưng nó có vị trí đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của TTCK [14, Tr 14]
Với phạm vi nghiên cứu và mục đích của luận văn, thuật ngữ TTCK tập trung được đề cập đến trong luận văn này được hiểu là SGDCK Hà Nội và SGDCK TP Hồ Chí Minh
1.1.2 Khái niệm về tổ chức phát hành trên TTCK
Tham gia vào TTCK có các nhóm chủ thể chính là người phát hành, niêm yết chứng khoán; các nhà đầu tư chứng khoán; người kinh doanh, môi giới chứng khoán; người tổ chức thị trường và cơ quan quản lý thị trường
Trang 157
Người phát hành chứng khoán, khi có nhu cầu huy động vốn, sẽ thực hiện phát hành và bán các loại chứng khoán ra thị trường Nhóm chủ thể này trên TTCK bao gồm các tổ chức phát hành là công ty niêm yết, chính phủ hoặc chính quyền địa phương Các công ty muốn huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thường phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty Trong khi đó, Chính phủ phát hành các loại trái phiếu nhằm huy động tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách hoặc thực hiện những công trình quốc gia Chính quyền địa phương phát hành trái phiếu địa phương để huy động vốn đầu tư cho các chương trình kinh tế - xã hội ở địa phương [14, Tr 19]
Như vậy, hiểu một cách đơn giản, đây là những người cung cấp hàng hóa
ra thị trường Tổ chức phát hành, theo định nghĩa tại Khoản 13 Điều 6 Luật Chứng khoán, là tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán ra thị trường, bao gồm chứng khoán vốn và chứng khoán nợ Tổ chức phát hành được chia làm hai nhóm là các công ty đại chúng thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng
và tổ chức phát hành chứng khoán riêng lẻ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ để cập đến tổ chức phát hành thuộc nhóm thứ nhất, là các công
ty đại chúng thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng
1.2 Khái niệm thông tin trên TTCK và hoạt động công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK
1.2.1 Khái niệm thông tin trên TTCK
TTCK là một thể chế tài chính cao cấp của nền kinh tế thị trường Khi tham gia vào TTCK đòi hỏi các định chế, tổ chức hoặc cá nhân nhà đầu tư đều phải dựa trên nguyên tắc và cơ sở là lòng tin Điều này là do hoạt động của TTCK chủ yếu dựa vào những đánh giá, nhận định về sự phát triển, triển vọng của các chứng khoán trong tương lai Nói cách khác, thông tin là cơ sở cho hoạt động và sự phát triển của TTCK, là yếu tố để nhà đầu tư dựa vào và định giá chứng khoán khi thực hiện hoạt động đầu tư trên thị trường này
Trang 168
Trong khi đó, thông tin trên TTCK rất đa dạng và phong phú Các thông tin phản ánh tình hình thị trường, tình hình tổ chức niêm yết dưới nhiều góc độ khác nhau Không những thế, thông tin được công bố trên thị trường có thể đến
từ rất nhiều nguồn Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả, chính xác của thông tin cũng như đảm bảo sự công bằng trong cung cấp thông tin giữa những đối tượng đầu tư tham gia thị trường, hoạt động thông tin trên bất cứ TTCK nào cũng cần được tổ chức tốt, khoa học theo nguyên tắc công khai thông tin
Dưới góc độ kinh tế, thông tin trên TTCK được hiểu là toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của tổ chức phát hành, của thị trường trong từng giai đoạn phát triển nhất định Tình hình tài chính của doanh nghiệp được phản ánh thông qua các báo cáo tài chính, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển của tổ chức phát hành Như vậy, khi nhìn vào những tài liệu này, chúng ta có thể thấy được độ lành mạnh của tình hình tài chính doanh nghiệp, cũng như tiềm năng, khả năng sinh lời của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai Thông tin trên TTCK là hệ thống các dữ liệu do
tổ chức phát hành và các chủ thể khác trên thị trường công bố theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK phản ánh mức độ tuân thủ quy định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh hàng loạt các quan hệ pháp luật đa dạng trong nội bộ tổ chức phát hành và quan
hệ giữa tổ chức phát hành với các chủ thể khác trên TTCK Như vậy, thông qua các thông tin mà Tổ chức phát hành công bố ra thị trường, cơ quan quản lý nhà nước có thể thực hiện quản lý, giám sát và có những điều chỉnh kịp thời đối với thị trường chứng khoán nói chung và các “nhà sản xuất hàng hóa” trên TTCK nói riêng Trong khi đó, các thông tin này sẽ giúp các nhà đầu tư đánh giá được mức độ tin cậy của hàng hóa mà mình sẽ mua, từ đó, đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp [16, Tr 5]
Trang 179
Điểm cơ bản nhất để phân biệt SGDCK với các Sở giao dịch hàng hóa khác chính là ở đối tượng giao dịch của nó, đó là các loại chứng khoán Chứng khoán - hàng hóa của TTCK là một loại tài sản rất đặc biệt, không biểu hiện giá trị nội tại Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua chứng khoán là mua về một loại hàng hóa không có giá trị tiêu dùng nhưng lại có thể được mua đi, bán lại trên thị trường thứ cấp với nhiều mức giá khác nhau Để xác định được giá trị của loại hàng hóa chứng khoán, người mua nó không thể xem xét, đánh giá bằng các giác quan thông thường như đối với các loại hàng hóa khác mà phải dựa trên cơ sở đánh giá các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành chứng khoán và tình hình thị trường Do vậy, để chứng khoán có thể giao dịch được trên thị trường, đòi hỏi phải liên tục cung cấp những thông tin có liên quan đến loại chứng khoán đó [14, Tr 14]
Nói tóm lại, thông tin đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của TTCK và công khai thông tin chính là nghĩa vụ của các chủ thể tham gia thị trường đóng góp vào sự phát triển đó của thị trường và để phân biệt, thông thường người ta sử dụng khái niệm công bố thông tin của tổ chức phát hành để chỉ nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và khái niệm thông tin thị trường để chỉ các thông tin liên quan đến tình hình thị trường do Sở giao dịch chứng khoán chịu trách nhiệm công bố Ngoài ra, các thành phần tham gia vào thị trường như công ty chứng khoán, Ủy ban chứng khoán Nhà nước, phương tiện truyền thông của cực
Trang 1810
trường thì cả tổ chức phát hành và chứng khoán của mình phải thỏa mãn những điều kiện nhất định Xa hơn nữa, để có thể chào bán và thu hút nhà đầu tư đến mua hàng thì chất lượng hàng hóa phải tốt Đối với loại hàng hóa đặc biệt này, không gì thuyết phục hơn ngoài việc tổ chức phát hành phải cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin liên quan đến chứng khoán được chào bán, giao dịch
So với các chủ thể khác trên thị trường thì TCPH ở thế chủ động hơn trong các giao dịch phát hành, mua bán chứng khoán Nếu như nhà đầu tư là những chủ thể dễ bị tổn thương nhất trên TTCK, đặt lòng tin của mình vào các TCPH, vào các thông tin được cung cấp để đưa ra quyết định đầu tư; các công ty chứng khoán là những chủ thể trung gian; thì TCPH là chủ thể cung cấp và biết
rõ nhất về chất lượng hàng hóa, dùng các thông tin cung cấp ra để chiếm lòng tin của nhà đầu tư, thuyết phục nhà đầu tư đầu tư tiền vào hoạt động kinh doanh của mình Mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước đã có những biện pháp cả về quy định pháp luật và các chính sách kinh tế để giám sát, kiểm tra hoạt động công bố thông tin nhưng việc công bố thông tin đúng, đầy đủ, chất lượng vẫn luôn phụ thuộc ít nhiều vào sự tự giác và lương tâm của những “người bán hàng” Với vị trí đặc thù như vậy, hoạt động công bố thông tin của TCPH cần phải được giám sát, quản lý đặc biệt sát sao hơn so với các chủ thể khác trên thị trường
Trên thị trường sơ cấp, khi nhà đầu tư bỏ tiền ra mua chứng khoán của tổ chức phát hành, hiểu một cách cơ bản nhất thì đây là hoạt động nhà đầu tư đưa tiền của mình cho tổ chức phát hành để họ thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh với kỳ vọng việc đầu tư này sẽ mang lại lợi nhuận Do đó, nhà đầu tư cần phải biết được các thông tin về tình hình tài chính, tổ chức hoạt động, phương hướng phát triển kinh doanh của tổ chức phát hành, để có thể đánh giá chất lượng chứng khoán của tổ chức phát hành, từ đó đưa ra quyết định về việc đầu
tư của mình Trên thị trường này, thông tin mà TCPH công bố mang tính chất giới thiệu về “hàng hóa” mà TCPH sắp chào bán, trong đó, bao gồm cả những
Trang 19sở hữu và quyền quản lý điều hành công ty bởi các cổ đông không tham gia trực tiếp điều hành các hoạt động thường nhật của công ty [15, Tr 241] Lúc này, việc công bố thông tin của tổ chức phát hành là để bảo đảm cho quyền lời của nhà đầu tư với vai trò là cổ đông và/hoặc chủ nợ Trên thị trường thứ cấp, khi
“hàng hóa” đang được lưu hành trên thị trường thì các thông tin mà TCPH công
bố mang tính chất cập nhật, thể hiện sức khỏe của TCPH, chất lượng của hàng hóa Các thông tin này sẽ gây ảnh hưởng đến giá giao dịch của cổ phiếu trên thị trường, tác động đến quyết định mua vào hoặc bán ra của các nhà đầu tư trên thị trường
Tóm lại, việc công bố thông tin của tổ chức phát hành trên thị trường sơ cấp và thứ cấp là nhằm những mục đích khác nhau nhưng luôn luôn đóng vai trò quan trọng và là một yếu tốt bắt buộc đối với hoạt động của TTCK
1.3 Phân loại hoạt động công bố thông tin của Tổ chức phát hành trên TTCK
Đối với các thông tin do Tổ chức phát hành công bố trên TTCK, dựa vào những tiêu chí khác nhau mà ta có thể phân loại thành những nhóm thông tin khác nhau Tiêu biểu, có các cách phân loại sau:
Dựa vào thời điểm mà thông tin được công bố trên tiến trình hoạt động của Tổ chức phát hành, ta có thể phân loại thành thông tin về đợt phát hành lần đầu ra công chúng và thông tin về hoạt động thường xuyên của Tổ chức phát hành
Trang 2012
- Hiểu một cách đơn giản, đợt phát hành lần đầu ra công chúng chính là việc Tổ chức phát hành lần đầu tiên chính thức ra mắt thị trường và giới thiệu, chào bán hàng hóa của mình tới các nhà đầu tư trên thị trường Thông thường, trong đợt phát hành lần đầu ra công chúng để tiến hành niêm yết cổ phiếu, Tổ chức phát hành phải thông báo đến nhà đầu tư mọi thông tin về tổ chức mình cũng như những thông tin cần thiết về đợt phát hành Những thông tin này thường được thể hiện trong hồ sơ đăng ký phát hành và bản cáo bạch của công ty
- Sau khi được niêm yết và giao dịch trên TTCK, ngoài các thông tin thường niên, định kỳ, Tổ chức phát hành phải thực hiện công bố ra công chúng các sự kiện quan trọng có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán của tổ chức niêm yết ngay sau khi các sự kiện đó xảy ra như: thay đổi thành viên hội đồng quản trị,thành viên ban giám đốc, thâu tóm, sát nhập công ty, thay đổi cổ đông nắm quyền kiểm soát… Đây là những thông tin thể hiện tình trạng hoạt động, sản xuất kinh doanh của Tổ chức phát hành, từ đó, giúp các nhà đầu tư đưa ra được những nhận định và đánh giá của mình về chất lượng của hàng hóa là chứng khoán đang lưu hành Vì vậy, việc công bố các thông tin này nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư đang tham gia giao dịch trên TTCK
Căn cứ vào thời điểm công bố thông tin của Tổ chức phát hành, có thể chia ra thành công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường và công
bố thông tin theo yêu cầu
- Công bố thông tin định kỳ: sau khi cổ phiếu của Tổ chức phát hành được niêm yết trên các Sàn giao dịch, tổ chức đó phải công bố các thông tin trên cơ sở thời gian định kỳ như tháng, quý, năm Thông thường, đó là các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty định kỳ quý, bán niên, thường niên được công
bố trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định sau khi kết thúc niên độ
kế toán
Trang 2113
- Công bố thông tin tức thời: ngay sau khi xảy ra một sự kiện có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình hoạt động của tổ chức phát hành, tổ chức đó phải tiến hành công bố thông tin tức thời đến cổ đông và nhà đầu tư
- Công bố thông tin theo yêu cầu: ngoài việc công bố các thông tin như trên, Tổ chức phát hành còn phải tiến hành công bố thông tin theo yêu cầu của
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoặc các Sở giao dịch chứng khoán Đó là khi các cơ quan quản lý này nhận thấy có sự không minh bạch trong các thông tin
mà tổ chức niêm yết công bố hoặc khi tình hình giao dịch cổ phiếu của tổ chức phát hành có những dấu hiệu bất thường
1.4 Các nguyên tắc công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK
Cho dù các chủ thể nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc công bố thông tin nhưng họ không thể thực hiện việc công bố thông tin một cách tùy tiện về hình thức, thời gian hay địa điểm mà hoạt động công bố thông tin đã trở thành nghĩa vụ và tập quán trong kinh doanh và cần phải tuân thủ theo một
số nguyên tắc và tiêu chí nhất định
Việc cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời là điều hết sức quan trọng đối với nhà đầu tư Ngoài ra, thông tin phải được công bố trên cơ sở thời gian một cách liên tục bao gồm các tin tức định kỳ và tức thời, dưới những hình thức thích hợp theo các tiêu chuẩn kế toán, các quy chế, quy định khi niêm yết hoặc theo pháp luật chứng khoán và phải được trình bày một cách rõ ràng Việc
đề ra các nguyên tắc và tiêu chí mang tính chuẩn tắc trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK, kể cả đối với những thông tin của tổ chức phát hành lẫn thông thi thị trường là nhằm đảm bảo duy trì lòng tin của người đầu tư khi tham gia vào TTCK
Mục tiêu cao nhất của việc công bố thông tin là bảo đảm có một TTCK minh bạch, trong đó, các nhà đầu tư và tất cả các đối tượng tiếp nhận thông tin
Trang 2214
khác của thị trường đề có quyền tiếp cận các thông tin đầy đủ, chính xác Theo thông lệ chung đã được áp dụng ở nhiều nước có TTCK phát triển thì hoạt động công bố thông tin trên TTCK nói chung và của tổ chức phát hành nói riêng phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau đây:
1.4.1 Thông tin được cung cấp phải đầy đủ, chính xác
Thông tin đầy đủ, chính xác về hoạt động chứng khoán và TTCK là yêu cầu đầu tiên của việc công bố thông tin Các thông tin được công bố, đặc biệt là các thông tin của tổ chức phát hành là căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư đưa
ra quyết định mua, bán chứng khoán trên thị trường, đây cũng là yếu tố cơ bản
để bảo đảm sự công bằng trong việc hình thành giá chứng khoán Các thông tin không xác thực hoặc không tin cậy sẽ có thể dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm của nhà đầu tư Do đó, các chủ thể thực hiện công bố thông tin phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin hoặc có những hành vi gây hiểu lầm về thông tin Để bảo đảm tính chính xác và đầy đủ, thông tin công bố phải tuân thủ theo đúng các chuẩn mực
về thông tin theo quy định của pháp luật (chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán), được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, tránh gây hiểu lầm hoặc đánh lừa người tiếp cận thông tin và không được cắt xén thông tin [14, Tr 63]
1.4.2 Việc công bố thông tin phải kịp thời và liên tục
Theo yêu cầu này, các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin trên TTCK phải thực hiện chế độ công bố thông tin định kỳ theo quy định của pháp luật Đồng thời, khi có bất kỳ một thông tin nào có thể ảnh hưởng tới giá chứng khoán, tổ chức phát hành chứng khoán đó phải có nghĩa vụ công bố ngay lập tức cho công chúng đầu tư
Việc công bố thông tin kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm cho nhà đầu tư nắm bắt ngay được thông tin có thể ảnh hưởng tới giá chứng khoán
để đưa ra quyết định đầu tư một cách nhanh chóng và chính xác nhất mặt khác, còn có tác dụng làm giảm bớt cơ hội thực hiện các giao dịch nội gián, gây thiệt
Trang 231.4.4 Thông tin cung cấp phải được kiểm chứng
Thông tin được đưa ra thị trường tới công chúng đầu tư phải đảm bảo độ tin cậy Muốn vậy, đòi hỏi thông tin phải được kiểm tra, chứng thực bởi các chủ thể có trách nhiệm được pháp luật quy định Thông thường, các thông tin về tổ chức phát hành được thể hiện thông qua báo cáo tài chính Việc kiểm tra, xác nhận các thông đó do các đơn vị kiểm toán được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK chấp thuận Sau khi đã có xác nhận của kiểm toán độc lập thì thông tin trên báo cáo tài chính được coi là có đủ độ tin cậy Nhà đầu tư
có thể căn cứ trên các thông tin đó để đưa ra quyết định đầu tư [14, Tr 64]
1.4.5 Bảo đảm trách nhiệm của chủ thể công bố thông tin
Việc công bố thông tin trong các trường hợp định kỳ, bất thường, theo yêu cầu; nội dung công bố thông tin… đều được quy định cụ thể trong các quy
Trang 2416
định của luật và chính sách, chỉ đạo đường lối của các cơ quan quản lý nhà nước Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu là bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch trên TTCK thì các quy định này là chưa đủ Việc công bố thông tin còn phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan, đạo đức của người thực hiện công bố Yếu tố thuộc về đạo đức, trách nhiệm luôn là một trong những yếu tố khó quản lý và ràng buộc nhất Do đó, ngoài các điều kiện mang tính định lượng như thời gian, nội dung, các trường hợp phải công bố thông tin thì còn cần phải có các quy định về xử phạt, xác định trách nhiệm của
tổ chức phát hành đối với hoạt động công bố thông tin do mình thực hiện
1.5 Cách thức công bố thông tin của tổ chức phát hành
Để bảo đảm cho các nhà đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận thông tin và bảo đảm sự tin cậy của các thông tin được công bố, thì cách thức mà các tổ chức phát hành thực hiện công bố thông tin phải bảo đảm nhanh chóng, hiệu quả
Thông thường, việc công bố thông tin của tổ chức phát hành được thực hiện qua các phương tiện công bố thông tinh như: báo cáo thường niên, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm của tổ chức phát hành, các phương tiện công
bố thông tin của UBCKNN và SGDCK (bản tin TTCK, trang thông tin điện tử, bảng hiện thị điện tử, các trạm đầu cuối tại SGDCK) và các phương tiện thông tin đại chúng khác Các tài liệu, báo cáo gửi cho UBCKNN, SGDCK phải được thể hiện dưới hình thức văn bản và dữ liệu điện tử theo quy định của UBCKNN
và SGDCK Tổ chức phát hành phải lập trang thông tin điện tử của mình và phải thường xuyên cập nhật việc công bố thông tin trên các trang điện tử đó Tổ chức phát hành phải thông báo với UBCKNN, SGDCK và công khai về địa chỉ trang thông tin điện tử và mọi thay đổi liên quan đến địa chỉ này [14, Tr 72]
1.6 Vai trò và đặc điểm của pháp luật về công bố thông tin trên TTCK
Việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác chính là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm tính công khai, minh bạch của TTCK, đây là yếu tố quan trọng
Trang 25đó, để thực hiện được vai trò này, đòi hỏi phải có một khung pháp lý vững chắc, khoa học, phù hợp với nội tại TTCK trong nước và theo kịp xu hướng chung quốc tế
Thứ nhất, pháp luật về công bố thông tin có mối liên hệ mật thiết với các quy định pháp luật khác, như pháp luật về kế toán, pháp luật về kiểm toán, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật về quản trị công ty;
Thứ hai, pháp luật về công bố thông tin trên TTCK là yếu tố quan trọng góp phần tạo lập TTCK minh bạch và phát triển bền vững;
Thứ ba, pháp luật về công bố thông tin trên TTCK có tác động rất lớn đến hệ thống thông tin nội bộ của tổ chức phát hành, nhất là các thông tin có liên quan đến bí mật, chiến lược kinh doanh;
Cuối cùng, pháp luật về công bố thông tin trên TTCK góp phần vào việc nâng cao kỹ năng quản trị của các tổ chức phát hành trên TTCK
1.7 Kinh nghiệm của một số nước về công bố thông tin của tổ chức phát hành trên TTCK và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.7.1 Kinh nghiệm về hệ thống thông tin TTCK của Nhật Bản
Tại Nhật Bản, nguồn cung cấp thông tin thị trường tại TTCK Nhật Bản là theo hệ thống thông tin thị trường (Market Information System - MAINS) so SDGCK Tokyo quản lý Hệ thống này cung cấp các thông tin có liên quan đến các loại cố phiếu, trái phiếu, hợp đồng tương lai… được giao dịch trên 8 SGDCK và trên thị trường JASDAQ tại Nhật Bản
Trang 2618
Thông tin dữ liệu đầu vào của MAINS được lấy từ hệ thống giao dịch cổ phiếu, hệ thống giao dịch trái phiếu, hệ thống giao dịch quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai, hệ thống chuyển và thực hiện lệnh tại sàn giao dịch, hệ thống giao dịch theo khối và các SGDCK Các thông tin được đưa vào hệ thống gồm các thông tin giao dịch tức thời (loại CK, số lượng lệnh, giá chào mua/chào bán, giá giao dịch chứng khoán, khối lượng giao dịch theo khối…) Trước khi các thông tin được nhập vào MAINS, thiết bị máy tính đầu, cuối của các SGDCK sẽ thực hiện việc nhập và cài cập nhật giá chứng khoán, trao đổi các thông tin phục vụ công tác phục vụ vận hành và kiểm soát; kiểm tra để tránh sai sót trong việc nhập dữ liệu thông qua các thiết bị đầu, cuối đặc biệt
Thông tin dữ liệu đầu ra của MAINS gồm: thông tin về từng chứng khoán
cụ thể (giá hiện tại, giá cao nhất, giá thấp nhất, giá đóng cửa, giá chào mua/giá chào bán tốt nhất, khối lượng và giá của năm giao dịch gần nhất, khối lượng và giá giao dịch toàn thị trường…), các chỉ số, các dữ liệu thống kê (tổng lượng giao dịch, các chứng khoán được giao dịch nhiều nhất, các chứng khoán có biến động nhất…)
Việc thực hiện công bố thông tin của MAINS được thực hiện bằng các phương tiện như hệ thống phát thanh truyền hình, báo chí, mạng internet, qua mạng lưới thông tin giá chứng khoán, qua các kênh trực tiếp [14, Tr 65]
1.7.2 Kinh nghiệm về hệ thống thông tin TTCK của Thái Lan
Tại Thái Lan, hệ thống thông tin thị trường cũng đặt dưới sự quản lý của SGDCK Thái Lan (Stock Exchange of Thailand - SET) và được gọi là hệ thống dịch vụ thông tin (SET Information Service - SETINFO) Thời kỳ đầu mới đi vào hoạt động, mạng lưới thông tin chứng khoán ở Thái Lan thực hiện theo phương pháp thủ công, đến năm 1991 được tổ chức lại với hệ thống tự động hóa Nhiệm vụ chính của SETINFO là quản lý và cung cấp thông tin về TTCK cho người đầu tư SETINFO tổ chức công bố thông tin trên hai hệ thống riêng
Trang 2719
biệt là hệ thống thông tin tức thời (gồm thông tin báo giá - Price Repoerting System - PRS và thông tin về tổ chức niêm yết - Electronic Listed Company Information Disclosure System - SIMS) Các phương tiện công cố thông tin của SETINFO gồm màn hình thiết bị đầu cuối, bảng hiển thị giá chứng khoán tại sàn
và phương tiện thông tin đại chúng
Như vậy, kinh nghiệm các nước cho thấy hệ thống thông tin của TTCK đều đặt dưới sự quản lý của SGDCK Sự phát triển của hệ thống thông tin gắn liền với sự phát triển của TTCK và sự phát triển của kỹ thuật tin học Có thể khẳng định rằng, yếu tố kỹ thuật tin học quyết định mức độ cạnh tranh về cung cấp thông tin trên TTCK [14, Tr 66]
1.7.3 Quy tắc mẫu của OECD về hoạt động công bố thông tin trong quản trị công ty
Quy định về hoạt động công bố thông tin trong quản trị công ty đại chúng nằm trong Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD được Hội đồng
Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu và năm 1999 (“Bộ Nguyên tắc”) Bộ
nguyên tắc này đã được rà soát lại kỹ càng để cập nhật những diễn biến và kinh nghiệm gần đây ở các quốc gia thành viên và không thành viên của OECD Các nhà hoạch định chính sách hiện nay nhận thức rõ hơn về sự đóng góp của quản trị công ty tốt đối với sự ổn định của thị trường tài chính, đầu tư và phát triển kinh tế Các công ty hiểu rõ hơn quản trị công ty tốt đóng góp cho lợi thế cạnh tranh của họ như thế nào Nhà đầu tư đặc biệt là các tổ chức đầu tư tập thể và quỹ hưu trí - nhận ra họ đóng một vai trò trong việc đảm bảo các thông
lệ kinh doanh tốt, qua đó củng cố giá trị các khoản đầu tư của họ Bộ nguyên tắc trở thành chuẩn mực quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu
tư, công ty và các bên có quyền lợi liên quan khác trên toàn thế giới
Theo Bộ Nguyên tắc, các yếu tố quan trọng làm nên một hệ thống công
bố thông tin tốt bao gồm (i) Nội dung thông tin được công bố; (ii) Chất lượng
Trang 2820
của các thông tin đó; (iii) Kiểm toán độc lập; (iv) Kênh phổ biến thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả; và (v) Các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích hay tư vấn do các tổ chức phân tích, môi giới trung gian cung cấp Cụ thể như sau [32]:
a Nội dung thông tin được công bố
Theo OECD, công bố thông tin của công ty đại chúng phải bao gồm nhưng không giới hạn 8 nhóm thông tin sau: Các thông tin về kết quả tài chính
và hoạt động của công ty; Mục tiêu của công ty; Sở hữu cổ phần đa số và quyền biểu quyết; Chính sách thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản
lý cấp cao, bao gồm trình độ, quy trình tuyển chọn, các vị trí đang nắm giữ tại công ty khác và liệu họ có được Hội đồng Quản trị coi là độc lập hay không; Giao dịch với các bên liên quan; Các yếu tố rủi ro có thể tiên liệu; Các vấn đề liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác; và cuối cùng là Cơ cấu và chính sách quản trị, cụ thể là nội dung của bất kỳ quy tắc hoặc chính sách quản trị nào và quá trình thực hiện nó [32]
Kết quả tài chính và hoạt động của công ty
Báo cáo tài chính đã được kiểm toán cho thấy hiệu quả kinh tế và tình hình tài chính của công ty (thường bao gồm bảng cân đối kế toán, bảng kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính) là nguồn thông tin về công ty được sử dụng rộng rãi nhất Hai mục tiêu cơ bản của báo cáo tài chính là giúp cổ đông giám sát công ty và làm cơ sở để đánh giá chứng khoán Báo cáo và phân tích hoạt động của Ban Giám đốc thường kèm trong báo cáo thường niên Báo cáo này hữu ích nhất khi xem cùng với báo cáo tài chính đi kèm Nhà đầu tư đặc biệt quan tâm tới thông tin giúp họ làm sáng tỏ hiệu quả kinh tế của công ty trong tương lai
Thực tế cho thấy thất bại trong quản trị thường gắn liền với việc không công bố “bức tranh toàn cảnh”, đặc biệt là khi tài khoản ngoại bảng được sử
Trang 2921
dụng để cung cấp bảo lãnh hay hay các cam kết tương tự giữa các công ty trong cùng tập đoàn Vì thế giao dịch liên quan tới toàn bộ một tập đoàn cần được công bố cùng với các tiêu chuẩn chất lượng cao được quốc tế công nhận, và bao gồm thông tin về các khoản nợ dự phòng, giao dịch tài khoản ngoại bảng, cũng như thông tin về các bộ phận công ty được thành lập cho mục đích đặc biệt [32]
Mục tiêu của Công ty
Ngoài mục tiêu thương mại, công ty được khuyến khích công bố các chính sách liên quan tới đạo đức kinh doanh, môi trường và các cam kết chính sách cộng đồng khác Những thông tin như vậy có thể quan trọng đối với nhà đầu tư và những người sử dụng thông tin khác, cho phép họ đánh giá tốt hơn mối quan hệ giữa công ty và cộng đồng nơi công ty hoạt động, cũng như các biện pháp công ty tiến hành để thực hiện mục tiêu của mình [32]
Sở hữu cổ phần đa số và quyền biểu quyết
Một trong các quyền cơ bản của nhà đầu tư là được thông tin về cơ cấu sở hữu của công ty và quyền của họ so với quyền của những người sở hữu khác
Họ cũng có quyền tiếp cận thông tin về cơ cấu của một tập đoàn và quan hệ giữa các công ty trong tập đoàn Việc công bố thông tin như vậy cần phải làm rõ mục tiêu, bản chất và cơ cấu của tập đoàn Các quốc gia thường yêu cầu công bố số liệu về sở hữu khi vượt qua một ngưỡng sở hữu nhất định Thông tin công bố có thể bao gồm số liệu về cổ đông đa số và các cổ đông khác trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc có thể kiểm soát công ty thông qua quyền biểu quyết đặc biệt, thỏa ước cổ đông, sở hữu cổ phần kiểm soát hay số lượng lớn cổ phần, các quan hệ sở hữu cổ phần chéo và đảm bảo chéo
Với mục đích tăng cường cưỡng chế thực thi và xác định các xung đột lợi ích tiềm tàng, giao dịch nội gián và giao dịch với các bên liên quan, thông tin về người sở hữu trên giấy tờ cần được bổ sung bởi thông tin về người thụ hưởng/sở hữu thực sự Trong trường hợp sở hữu cổ phần đa số thông qua cơ cấu hoặc thỏa
Trang 30Chính sách thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý cấp cao, bao gồm trình độ, quy trình tuyển chọn, các vị trí đang nắm giữ tại công ty khác và liệu họ có được Hội đồng Quản trị coi là độc lập hay không
Nhà đầu tư yêu cầu thông tin về từng thành viên Hội đồng Quản trị và cán
bộ quản lý cấp cao để đánh giá kinh nghiệm và trình độ của họ và đánh giá xung đột lợi ích tiềm tàng có thể ảnh hưởng tới sự suy xét, ra quyết định của họ Đối với thành viên Hội đồng Quản trị, thông tin phải bao gồm trình độ, sở hữu cổ phần trong công ty, có tham gia Hội đồng Quản trị của công ty khác không, và liệu họ có được Hội đồng Quản trị coi là thành viên độc lập hay không Việc công khai sự tham gia của họ vào Hội đồng Quản trị của các công ty khác là quan trọng không chỉ bởi vì nó là chỉ số cho thấy kinh nghiệm và áp lực thời gian có thể đối với thành viên Hội đồng Quản trị mà còn bởi nó có thể phát lộ các xung đột lợi ích tiềm tàng và làm rõ mức độ liên quan đến nhau của các hội đồng quản trị
Một số luật lệ và nguyên tắc quốc gia đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho thành viên Hội đồng Quản trị độc lập và trong một số trường hợp cụ thể quy định đa
số thành viên Hội đồng Quản trị phải độc lập Ở nhiều quốc gia, Hội đồng Quản trị có trách nhiệm giải thích lý do vì sao một thành viên Hội đồng Quản trị lại được coi là thành viên độc lập Lúc đó, tùy thuộc vào cổ đông và cuối cùng là thị trường sẽ quyết định liệu các lý do đưa ra có hợp lý không Một vài quốc gia yêu cầu công ty cần phải công bố thông tin về quy trình tuyển chọn và đặc biệt là liệu quy trình đó có mở rộng cho nhiều ứng cử viên hay không Thông tin như
Trang 31bố thông tin về chính sách thù lao cho thành viên Hội đồng Quản trị và cán bộ quản lý cấp cao để nhà đầu tư có thể đánh giá chi phí và lợi ích của kế hoạch thù lao và việc đóng góp của các chương trình khuyến khích như chương trình chia
cổ phiếu thưởng vào hiệu quả của công ty Công bố thông tin về từng thành viên (kể cả các điều khoản về chấm dứt hợp đồng và hưu trí) ngày càng được coi là thông lệ tốt và hiện được coi là bắt buộc ở một số quốc gia Trong trường hợp
đó, một số quốc gia yêu cầu công bố chính sách thù lao cho một số nhất định cán bộ quản lý được trả lương cao nhất, còn các nơi khác quy định việc này đối với một số vị trí xác định [32]
Giao dịch với các bên liên quan
Thị trường cần phải biết công ty có được điều hành vì lợi ích của tất cả các nhà đầu tư hay không Để đạt được mục đích này, công ty nhất thiết phải công bố đầy đủ các giao dịch với bên có liên quan quan trọng cho thị trường, bao gồm việc các giao dịch có được thực hiện theo pháp luật và dựa trên các nguyên tắc thị trường thông thường hay không Ở một số quốc gia việc này thực
tế là một quy định của pháp luật Các bên có liên quan bao gồm các tổ chức kiểm soát hoặc dưới sự kiểm soát chung cùng với công ty, các cổ đông lớn kể cả thành viên gia đình họ, và các cán bộ quản lý chủ chốt Giao dịch liên quan tới
cổ đông đa số (hoặc gia đình, họ hàng thân cận của họ…) gián tiếp hoặc trực tiếp thường là loại giao dịch khó kiểm soát nhất
Ở một số quốc gia, cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần trở lên phải báo cáo giao dịch Các yêu cầu về công bố thông tin bao gồm bản chất mối quan hệ
Trang 3224
trong đó quyền kiểm soát tồn tại, và bản chất và số lượng giao dịch với các bên
có liên quan Do tính không minh bạch cố hữu của nhiều giao dịch, người thụ hưởng có thể bắt buộc phải thông báo cho Hội đồng Quản trị về giao dịch, sau
đó phải công bố thông tin cho thị trường Việc này không miễn trừ trách nhiệm
tự giám sát của công ty, và đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng của Hội đồng Quản trị [32]
Các yếu tố rủi ro có thể tiên liệu
Người sử dụng thông tin tài chính và các bên tham gia thị trường cần được thông tin về các rủi ro quan trọng có thể tiên liệu một cách hợp lý bao gồm: rủi ro cụ thể đối với ngành kinh doanh hoặc khu vực địa lý nơi công ty hoạt động; sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu; rủi ro của thị trường tài chính bao gồm biến động lãi suất hoặc rủi ro tiền tệ; rủi ro liên quan đến chứng khoán phái sinh và giao dịch ngoại bảng tổng kết tài sản; và rủi ro liên quan đến các trách nhiệm về môi trường
Bộ Nguyên tắc này không yêu công bố thông tin chi tiết hơn mức cần thiết để giúp nhà đầu tư có đầy đủ thông tin về các rủi ro có thể tiên liệu của công ty Công bố rủi ro hiệu quả nhất khi nó được thực hiện phù hợp với bản chất của mỗi ngành kinh doanh cụ thể Công bố thông tin về hệ thống giám sát
và quản lý rủi ro ngày càng được coi là thông lệ tốt [32]
Các vấn đề liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác
Các công ty được khuyến khích, và ở một số quốc gia bị bắt buộc, cung cấp thông tin về những vấn đề then chốt liên quan đến người lao động và các bên có quyền lợi liên quan khác có ảnh hưởng quan trọng tới hiệu quả của công
ty Việc công bố bao gồm quan hệ giữa Ban Giám đốc và người lao động, và quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan khác như chủ nợ, nhà cung cấp và cộng đồng địa phương
Trang 3325
Một số quốc gia yêu cầu công bố nhiều thông tin về nguồn nhân lực Các chính sách về nguồn nhân lực, như chương trình phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động ổn định và chương trình sở hữu cổ phần của người lao động, có thể truyền đạt nhiều thông tin quan trọng về sức cạnh tranh của công ty tới các bên tham gia thị trường [32]
Cơ cấu và chính sách quản trị, cụ thể là nội dung của bất kỳ quy tắc hoặc chính sách quản trị nào và quá trình thực hiện nó
Công ty cần công bố các thông lệ quản trị công ty của họ và ở một số quốc gia việc công bố này được quy định là một phần của báo cáo định kỳ Ở một vài quốc gia, các công ty phải thực hiện bộ nguyên tắc quản trị công ty hoặc bị cơ quan có thẩm quyền niêm yết yêu cầu công bố bắt buộc trên cơ sở
“tuân thủ hoặc giải trình” Công bố thông tin về cơ cấu và chính sách quản trị công ty, đặc biệt là việc phân định quyền lực giữa cổ đông, Ban Giám đốc, và thành viên Hội đồng Quản trị là cần thiết để đánh giá chất lượng quản trị của công ty Để minh bạch, thủ tục họp cổ đông phải đảm bảo rằng biểu quyết phải được đếm và lưu giữ đúng thủ tục và kết quả phải được công bố kịp thời [32]
b Chất lượng thông tin được công bố
Thông tin phải được chuẩn bị và công bố phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao về công bố thông tin kế toán, tài chính và phi tài chính
Việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao đáng kể khả năng giám sát công ty của nhà đầu tư do làm tăng độ tin cậy và tính so sánh được của báo cáo cũng như giúp nhà đầu tư hiểu thấu được hiệu quả hoạt động của công ty Chất lượng thông tin phụ thuộc đáng kể vào tiêu chuẩn dựa trên đó thông tin được thu thập và công bố Bộ Nguyên tắc này ủng hộ việc phát triển các tiêu chuẩn chất lượng cao được quốc tế công nhận, có vai trò nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh của các báo cáo tài chính cũng như các thông tin tài chính khác giữa các quốc gia Những tiêu chuẩn như vậy cần được xây dựng
Trang 3426
thông qua các quy trình cởi mở, độc lập và công khai, có sự tham gia của cả khối tư nhân và các bên liên quan khác như hiệp hội nghề nghiệp và chuyên gia độc lập Các tiêu chuẩn trong nước chất lượng cao có thể được xây dựng bằng cách đồng bộ hóa với một trong những chuẩn mực kế toán được quốc tế công nhận Nhiều quốc gia quy định các công ty niêm yết phải sử dụng các tiêu chuẩn này [32]
c Kiểm toán độc lập
Kiểm toán hàng năm phải được tiến hành bởi một đơn vị kiểm toán độc lập, đủ năng lực và có chất lượng cao nhằm cung cấp ý kiến đánh giá độc lập và khách quan cho Hội đồng Quản trị và các cổ đông, đảm bảo rằng các báo cáo tài chính đã thể hiện một cách trung thực tình hình tài chính và hoạt động của công
ty về mọi mặt chủ chốt
Ngoài việc xác nhận báo cáo tài chính thể hiện trung thực tình hình tài chính của công ty, báo cáo kiểm toán cũng cần bao gồm ý kiến về cách thức báo cáo tài chính được chuẩn bị và trình bày Việc này sẽ giúp cải thiện công tác kiểm soát trong công ty
Trong thực tế, ngày càng phổ biến là công ty kiểm toán độc lập được giới thiệu bởi ủy ban kiểm toán độc lập của Hội đồng Quản trị hoặc một bộ phận tương đương và được bổ nhiệm bởi ủy ban/bộ phận đó hoặc trực tiếp bởi cổ đông Ngoài ra, bộ Nguyên tắc Kiểm toán Độc lập và Vai trò của Quản trị Công
ty trong Giám sát Tính độc lập của Kiểm toán của IOSCO ghi rõ “các tiêu chuẩn
về tính độc lập của công ty kiểm toán phải thiết lập một khuôn khổ các nguyên tắc, được hỗ trợ bởi một tập hợp các lệnh cấm, các hạn chế và các chính sách và thủ tục khác cùng với các quy định về công bố thông tin, nhằm xử lý ít nhất các mối đe dọa tính độc lập sau: tư lợi, tự đánh giá, vận động hành lang, quá thân mật và đe dọa” Ủy ban kiểm toán hoặc bộ phận tương đương thường được chỉ định giám sát các hoạt động kiểm toán nội bộ và cũng phải chịu trách nhiệm
Trang 3527
giám sát toàn bộ quan hệ với đơn vị kiểm toán độc lập bao gồm các dịch vụ không liên quan đến kiểm toán cung cấp bởi đơn vị này cho công ty Việc đơn vị kiểm toán độc lập cung cấp các dịch vụ không liên quan đến kiểm toán cho công
ty có thể làm suy yếu nghiêm trọng tính độc lập và có thể khiến họ phải kiểm toán công việc của chính mình Để đối phó với các động cơ không đúng đắn có thể nảy sinh, hiện nay một số quốc gia yêu cầu công bố thông tin về thù lao cho các dịch vụ không liên quan đến kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập Ví dụ
về các quy định khác để củng cố tính độc lập của kiểm toán bao gồm lệnh cấm hoàn toàn hoặc giới hạn khắt khe đối với bản chất của công việc không liên quan đến kiểm toán mà đơn vị kiểm toán thực hiện cho khách hàng kiểm toán của mình, luân chuyển bắt buộc kiểm toán viên, lệnh cấm tạm thời việc công ty được kiểm toán tuyển dụng người đã từng kiểm toán công ty mình, và cấm kiểm toán viên hoặc người có liên quan đến họ có một phần vốn hoặc giữ vai trò quản
lý trong công ty họ kiểm toán Một số quốc gia thực hiện biện pháp quản lý trực tiếp hơn và hạn chế tỷ lệ phần trăm thu nhập không liên quan đến kiểm toán mà công ty kiểm toán nhận được từ một khách hàng nào đó hoặc hạn chế tổng tỷ lệ phần trăm thu nhập của công ty kiểm toán thu được từ một khách hàng
Một vấn đề nảy sinh ở một số quốc gia liên quan tới nhu cầu cấp thiết phải đảm bảo năng lực kiểm toán Một số nơi thiết lập quy trình đăng ký để các kiểm toán viên khẳng định trình độ năng lực của mình Tuy nhiên việc này cần được hỗ trợ bởi việc đào tạo và giám sát liên tục kinh nghiệm làm việc để đảm bảo trình độ năng lực chuyên môn phù hợp [32]
d Kênh phổ biến thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả;
Các kênh phổ biến thông tin phải tạo điều kiện tiếp cận thông tin bình đẳng, kịp thời và hiệu quả cho người sử dụng
Các kênh phổ biến thông tin cũng quan trọng như nội dung thông tin Trong khi việc công bố thông tin thường do pháp luật quy định thì lưu trữ và
Trang 3628
tiếp cận thông tin lại phức tạp và tốn kém Lưu trữ báo cáo theo luật đã được nhiều quốc gia cải tiến bằng các hệ thống lưu trữ và lấy số liệu điện tử Một vài quốc gia hiện đang chuyển sang giai đoạn tiếp theo bằng cách tích hợp các nguồn thông tin khác nhau của công ty, bao gồm cả thông tin cổ đông Mạng Internet và các công nghệ thông tin khác cũng tạo điều kiện phổ biến thông tin
dễ dàng hơn
Một vài quốc gia đã ban hành các điều khoản công bố thông tin liên tục (thường do luật hoặc quy chế niêm yết quy định) bao gồm công bố thông tin định kỳ và công bố thông tin liên tục/bất thường khi xảy ra các trường hợp đặc biệt Đối với công bố thông tin liên tục/bất thường, quy định công bố “ngay lập tức” các diễn biến quan trọng là thông lệ tốt, dù điều này có nghĩa là “càng sớm càng tốt” hay được định nghĩa là trong vòng tối đa một vài ngày theo luật định [32]
e Các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích hay tư vấn do các tổ chức phân tích, môi giới trung gian cung cấp
Khuôn khổ quản trị công ty phải được bổ sung bằng các biện pháp thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ phân tích hay tư vấn do các tổ chức phân tích, môi giới chứng khoán, định mức tín nhiệm v v cung cấp Các phân tích, tư vấn
có liên quan tới quyết định của nhà đầu tư này phải không bị ảnh hưởng bởi những xung đột lợi ích quan trọng có thể tác động đến tính trung thực của ý kiến phân tích hoặc tư vấn của họ
Ngoài việc yêu cầu các tổ chức kiểm toán phải độc lập và có năng lực, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến thông tin kịp thời, một số quốc gia đã thi hành các biện pháp đảm bảo tính chính trực của các tổ chức và hoạt động nghề nghiệp có vai trò cung cấp phân tích và tư vấn cho thị trường Các tổ chức trung gian này, nếu hoạt động không có xung đột lợi ích và thống nhất với nhau,
có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động cơ tuân thủ thông lệ quản trị
Trang 3729
công ty tốt cho Hội đồng Quản trị Tuy nhiên, có một số quan ngại nảy sinh vì
có bằng chứng là các xung đột về lợi ích thường xảy ra và có thể ảnh hướng tới việc phân tích, đánh giá
Điều này có thể xảy ra khi tổ chức tư vấn cũng tìm cách cung cấp các dịch
vụ khác cho công ty hoặc khi họ có lợi ích quan trọng trực tiếp trong công ty hoặc đối thủ cạnh tranh của công ty Mối quan ngại này cho thấy quy trình công
bố thông tin và tính minh bạch hướng tới các chuẩn mực chuyên môn của các nhà phân tích thị trường chứng khoán, tổ chức định mức tín nhiệm, ngân hàng đầu tư v v cũng rất quan trọng
Kinh nghiệm cho thấy giải pháp thường được áp dụng là yêu cầu công
bố đầy đủ các xung đột lợi ích và biện pháp mà các tổ chức này thực hiện để giải quyết các xung đột đó Đặc biệt quan trọng là việc công bố thông tin về cách thức tổ chức tư vấn tạo động lực cho nhân viên như thế nào để loại trừ xung đột lợi ích tiềm ẩn Việc công bố như vậy giúp nhà đầu tư đánh giá những rủi ro có liên quan và thiên kiến có thể xảy ra trong tư vấn và thông tin [32]