- Từ các những hạn chế, yếu kém đó, luận văn đề xuất các giải pháp để tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới như: Phát triển quy mô các siêu thị bán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “ Phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An ” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học nghiêm túc của bản thân
Các số liệu trong luận văn được thu thập thực tế có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, trung thực và khách quan
Khánh Hòa, tháng 4 năm 2016
Học viên
Thái Huy Dũng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HÀNG HÓA 6
1.1 Hoạt động thương mại và hệ thống phân phối 6
1.1.1 Hoạt động thương mại 6
1.1.2 Hệ thống phân phối 7
1.2 Bán lẻ và hệ thống bán lẻ 9
1.2.1 Khái niệm bán lẻ 9
1.2.2 Các loại hình bán lẻ 10
1.2.3 So sánh các loại hình bán lẻ 15
1.2.4 Chức năng của bán lẻ 16
1.2.5 Vai trò của việc phát triển hệ thống bán lẻ 18
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bán lẻ 20
1.3 Nội dung phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa 24
1.3.1 Về các chợ truyền thống 24
1.3.2 Về các trung tâm thương mại, các siêu thị và các chuỗi cửa hàng hiện đại 26
1.3.3 Về các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong 27
1.4 Kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ của một số quốc gia trên thế giới áp dụng vào Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ HÀNG HÓA
TẠI TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2010-2014 33
2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 33
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35
2.1.3 Chỉ số năng lực cạnh tranh và vị thế phát triển của tỉnh 42
2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh hàng hóa của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014 45
2.2.1 Quy mô sản xuất và cung ứng hàng hóa 45
2.2.2 Tổng mức hàng hóa bán lẻ hàng hóa xã hội 50
2.3 Thực trạng công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014 55
2.3.1 Về các chợ truyền thống 55
2.3.2 Mạng lưới siêu thị 62
2.3.3 Mạng lưới trung tâm thương mại 66
2.3.4 Mạng lưới các cửa hàng bán lẻ các hàng hóa chuyên doanh khác 67
2.3.5 Các dạng kinh doanh bán lẻ khác 76
2.4 Điều tra khảo sát đánh giá của người tiêu dùng về công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An 78
2.4.1 Mục đích cuộc điều tra 78
2.4.2 Đối tượng và thời gian điều tra 78
2.4.3 Phương pháp điều tra 78
2.4.4 Giới thiệu mẫu nghiên cứu 79
2.4.5 Kết quả đánh giá của người tiêu dùng về công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An 83
2.5 Đánh giá chung về công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An 91
2.5.1 Những kết quả đạt được 91
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 94
Trang 7CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ
HÀNG HÓA TẠI TỈNH NGHỆ AN 95
3.1 Những xu hướng phát triển ảnh hưởng tới hoạt động bán buôn – bán lẻ của Việt Nam đến năm 2020 95
3.2 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An đến năm 2020, có tính đến năm 2030 96
3.2.1 Quan điểm phát triển 96
3.2.2 Phương hướng phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020 98
3.2.3 Mục tiêu phát triển 100
3.3 Các giải pháp đề xuất nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An 100
3.3.1 Nhóm giải pháp phát triển về quy mô 100
3.3.2 Giải pháp phát triển về chất lượng 108
3.4 Một số kiến nghị đề xuất đối vởi UBND các cấp 117
3.4.1 Công tác tạo điều kiện cho hệ thống bán lẻ phát triển 117
3.4.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 118
3.4.3 Tổ chức quản lý kênh phân phối 119
3.4.4 Phát triển hài hòa lợi ích của các yếu tố trong hệ thống bán lẻ hàng hóa 120
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC
Trang 86 HĐND Hội đồng nhân dân
8 TTTM Trung tâm thương mại
10 WTO Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả xếp hạng chỉ số PCI của Nghệ An từ 2007 đến 2014 42
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 46
Bảng 2.3 Giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Nghệ An 2010-2014 47
Bảng 2.4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ của tỉnh Nghệ An 51
Bảng 2.5 Số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 57
Bảng 2.6 Một số siêu thị tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2014 63
Bảng 2.7 Hiện trạng hệ thống TTTM trên địa bàn tỉnh Nghệ An Năm 2014 66
Bảng 2.8 Hiện trạng và hệ thống phân phối vật tư nông nghiệp 69
Bảng 2.9 Thực trạng phát triển cửa hàng vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An 71
Bảng 2.10 Thực trạng hệ thống cửa hàng lương thực của tỉnh Nghệ An 73
Bảng 2.11 Thực trạng hệ thống cửa hàng thuốc chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Nghệ An 74
Bảng 2.12 Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể ngành thương mại, dịch vụ 77
Bảng 2.13 Ý nghĩa giá trị trung bình 79
Bảng 2.14 Nghề nghiệp của mẫu nghiên cứu 82
Bảng 2.15 Phân bố mẫu theo thu nhập bình quân 82
Bảng 2.16 Phân bố mẫu theo mức độ đi mua sắm 83
Bảng 2.17 Đánh giá số lượng, quy mô, kiến trúc chợ truyền thống 83
Bảng 2.18 Đánh giá về hàng hóa kinh doanh tại chợ truyền thống 85
Bảng 2.19 Tỷ lệ hài lòng về thái độ bán hàng và an ninh trật tự tại chợ 87
Bảng 2.20 Đánh giá số lượng, quy mô, kiến trúc chợ truyền thống 88
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng 8
Sơ đồ 1.2 Trung gian tăng thêm làm giảm số lượng các tiếp xúc 19
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Nghệ An 33
Biểu đồ 2.1 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ qua các năm 51
Biểu đồ 2.2 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ phân theo thành phần kinh tế năm 2014 52
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ phân loại chợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 55
Biểu đồ 2.4 Số lượng chợ trên địa bàn tỉnh Nghệ An phân bổ theo địa lý 56
Biểu đồ 2.5 Tình trạng xây dựng các chợ truyền thống 58
Biểu đồ 2.6 Giới tính của mẫu nghiên cứu 80
Biểu đồ 2.7 Tình trạng hôn nhân của mẫu nghiên cứu 80
Biểu đồ 2.8 Độ tuổi của mẫu nghiên cứu 81
Biểu đồ 2.9 Trình độ của mẫu nghiên cứu 81
Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ hài lòng của khách hàng về chủng loại hàng hóa 86
Biểu đồ 2.11 Tỷ lệ hài lòng của khách hàng về chất lượng hàng hóa 86
Biểu đồ 2.12 Tỷ lệ hài lòng của khách hàng về giá cả hàng hóa 87
Biểu đồ 2.13 Tỷ lệ hài lòng của khách hàng về giá cả hàng hóa 88
Biểu đồ 2.14 Đánh giá của khách hàng về hàng hóa tại siêu thị 90
Hình 3.1 Mô hình cơ cấu kinh doanh theo chuỗi cửa hàng 113
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Giới thiệu chủ đề và mục tiêu của nghiên cứu
1.1 Chủ đề của nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích thực trạng hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014, trong đó tập trung phân tích thực trạng kênh bán lẻ hàng hóa truyền thống, hiện đại và đánh giá của người tiêu dùng
1.2 Muc tiêu của nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa
- Phân tích thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An từ năm 2010-2014 và rút ra những bài học kinh nghiệm
- Khảo sát ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An trong thời gian qua
- Đề xuất các mục tiêu, giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
2 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu
Để làm rõ thực trạng của hệ thống bán lẻ tỉnh Nghệ An, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp bằng phần mềm SPSS 18.0
Để đưa ra các giải pháp và kiến nghị, tác giả không chỉ dựa trên cơ sở lý thuyết,
cơ sở thực tiễn thông qua khảo sát, mà còn dựa vào ý kiến chuyên gia và kinh nghiệm trong quá trình công tác của chính tác giả
3 Kết quả nghiên cứu của luận văn
- Luận văn làm rõ bức tranh tổng hợp về công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2010 – 2014 thông qua các thông tin thứ cấp mà tác giả thu thập, tổng hợp thông qua các sở, ban ngành chức năng của tỉnh Nghệ An Bên cạnh đó, luận văn cũng đã thu thập dữ liệu sơ cấp là khảo sát 248 người tiêu dùng tại tỉnh Nghệ An để thu thập ý kiến đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa Từ đó, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế yếu kém cũng như nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trong công tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua
Trang 12- Từ các những hạn chế, yếu kém đó, luận văn đề xuất các giải pháp để tác phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới như: Phát triển quy
mô các siêu thị bán lẻ hàng hóa; quy hoạch lại các chợ truyền thống trong đó tăng cường quản lý bằng hình thức xã hội hóa; phát triển các siêu thị bán lẻ hiện đại bằng cách thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, doanh nghiệp trong nước; tăng cường công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường; tăng cường công tác giáo dục về kỹ năng, thái độ cho đội ngũ bán hàng…
4 Kết luận và kiến nghị, đề xuất
Cùng với sự phát triển chung của hệ thống phân phối của cả nước, hệ thống bán
lẻ hàng hóa có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ
An nói riêng và cả nước nói chung, là động lực cho nền kinh tế tăng trưởng, bảo đảm lưu thông hàng hóa ổn định, lành mạnh
Để hệ thống bán lẻ hàng hóa phát triển nhanh chóng, ổn định trong thời gian tới, luận văn đưa ra một số đề xuất với UBND tỉnh, các sở ban ngành của tỉnh Nghệ An, doanh nghiệp phân phối bán lẻ và người tiêu dùng nhằm đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các bên Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng
5 Từ khóa
Phát triển; Phân phối bán lẻ; Hệ thống bán lẻ; Bán lẻ hàng hóa; Tỉnh Nghệ An
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Mạng lưới bán lẻ hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là mạng lưới liên kết các cơ sở bán hàng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối hoặc các đại lý bán hàng để cung ứng hàng hóa đến người tiêu dùng Mạng lưới bán lẻ hàng hóa, hay còn gọi là cầu nối giữa nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển thương mại hiện đại, mạng lưới bán lẻ hàng hóa đang phát triển đan xen giữa các hình thức cũ và mới Quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường đã thay đổi một cách cơ bản từ chỗ thiếu hụt hàng hóa sang trạng thái đủ và dư thừa, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phát triển mạng lưới bán lẻ đến các địa bàn khác nhau nhằm thu hút khách hàng Thị trường được thống nhất và đã hình thành được mạng lưới bán lẻ hàng hóa với các cấp độ khác nhau: Thực hiện tự do hóa thương mại, tự do lưu thông hàng hóa, phát triển dịch vụ theo hướng hiện đại đã làm cho phân phối hàng hóa giữa các vùng, miền, các địa phương được thuận lợi
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và mở cửa đối với ngành bán lẻ theo lộ trình cam kết Theo lộ trình, từ ngày 1/1/2009, Việt Nam chính thức mở cửa thị trường bán lẻ cho các công ty nước ngoài; từ ngày 11/01/2010 đến ngày 11/01/2015, cho phép thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ liên quan đến sản xuất, trong đó, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu đến 50% vốn điều lệ của liên doanh; sau ngày 11/01/2015, sẽ cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Với lộ trình cam kết mở cửa thị trường bán lẻ này, trong một thời gian ngắn, nhiều tập đoàn bán lẻ hàng đầu nước ngoài có những ưu thế về tài chính, trình độ quản trị doanh nghiệp, chủng loại hàng hoá đa dạng, giá cả hợp, phương thức thanh toán hiện đại, thuận tiện, cách thức phục vụ chuyên nghiệp
như Metro, BigC, Parkson, đã từng bước thâm nhập và có “chỗ đứng” vững chắc
trong lòng người tiêu dùng Việt Nam [6]
Tổ chức tư vấn AT Kearney (Mỹ), năm 2014 doanh số bán lẻ tại Việt Nam tăng 23%/năm Điều này cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội, nhất là khi người tiêu dùng đang có khuynh hướng chuyển sang mua sắm tại các siêu thị lớn
và cửa hàng hiện đại [6]
Trang 14Là một tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước thuộc vùng Bắc Trung Bộ, trong những năm qua, thị trường bán lẻ ở Nghệ An không ngừng phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần bán lẻ, đặc biệt là những Siêu thị có quy mô lớn như Big C, Metro, đã góp phần làm tăng tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ ngành thương mại của tỉnh [13] Sự phong phú và đa dạng của các loai hàng hóa đã phần nào đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của người dân Tuy nhiên, với thu nhập cũng như thói quen, đa số người dân ở Nghệ An vẫn chưa thích ứng với mô hình mua sắm hiện đại này Mặt khác, do đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và hội nhập kinh tế quốc tế nên mạng lưới hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế, thiếu sự quản lý chặt chẽ và kinh nghiệm thực tiễn điều hành của cơ quan quản lý trong việc kiểm tra chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm,…Các loại hình bán lẻ trên địa bàn tỉnh tuy đã hình thành nhưng chưa đồng bộ, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động bán lẻ cũng bộc lộ nhiều tồn tại cần khắc phục
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Phát triển hệ thống bán
lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An” với mong muốn được nghiên cứu và phân tích các thực
trạng để đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp nhằm phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xuất phát từ thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An trong thời gian qua, mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá hiệu quả của công tác phát triển
hệ thống bán lẻ hàng hóa và đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát triển hệ thống bán
lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020 có tính đến năm 2025
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề về phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa
- Phân tích thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa của tỉnh Nghệ An từ năm 2010-2014 và rút ra những bài học kinh nghiệm
- Khảo sát ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An trong thời gian qua
- Đề xuất các mục tiêu, giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
Trang 153 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích thực trạng hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014, trong đó tập trung phân tích thực trạng kênh bán lẻ hàng hóa truyền thống, hiện đại và đánh giá của người tiêu dùng
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Tác giả thu thập dữ liệu thông qua việc điều tra khảo sát 300 người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Nghệ An về hệ thống bán lẻ của tỉnh trong thời gian vừa qua
- Dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập dữ liệu tại sở Công thương, UBND tỉnh Nghệ An, Cục thống kê tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2010-2014, từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và các tài liệu trên báo, tạp chí, Internet,…
Để đưa ra các giải pháp và kiến nghị, tác giả không chỉ dựa trên cơ sở lý thuyết,
cơ sở thực tiễn thông qua khảo sát, mà còn dựa vào ý kiến chuyên gia và kinh nghiệm trong quá trình công tác của chính tác giả
5 Đóng góp khoa học của nghiên cứu
Những vấn đề được nghiên cứu trong đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận và thực tiễn để phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An, góp phần đưa Nghệ An sớm trở thành trung tâm kinh tế vùng Bắc Trung Bộ
6 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về phát triển hệ thống bán lẻ đã được đề cập khá nhiều từ các nghiên cứu công trình nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, cụ thể một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn như sau:
- Năm 2005, tác giả Nguyễn Duy Tùng [14]; đã nêu ra bối cảnh về sự hình thành siêu thị của Việt Nam và sự hình thành siêu thị ở Cần Thơ Ngoài ra tác giả so sánh và
Trang 16đánh giá hoạt động của các siêu thị đang hoạt động ở Cần Thơ thông qua cơ cấu mặt hàng, lượng khách, doanh thu bán, kết quả kinh doanh, để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển siêu thị đến năm 2010
- Năm 2005, tác giả Trần Thị Diễm Hương - Trường Đại học Thương mại [8]; đã nghiên cứu sâu về thực trạng tổ chức hoạt động marketing bán lẻ hàng tiêu dùng của các công ty thương mại trên thị trường đô thị lớn ở nước ta và đề xuất một số giải pháp
tổ chức hoạt động marketing bán lẻ hàng tiêu dùng tại các đô thị lớn ở Việt Nam
- Năm 2010, tác giả Trần Mỹ Oanh [10]; đã nghiên cứu thực trạng hệ thống thương mại bán lẻ và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của hệ thống bán lẻ truyền thống và siêu thị trên địa bàn thành phố Cần Thơ Để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống phát triển hệ thống thương mại bán lẻ trên địa bàn thành phố Cần Thơ
- Đến năm 2013, tác giả Lương Thiện Khang Uyên [18]; đã phân tích thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006 – 2011, từ đó rút ra điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân của những hạn chế trong hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Đồng thời luận văn đã đề xuất 6 nhóm giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang bao gồm: (1) Phát triển nguồn nhân lực; (2) Chính sách thu hút vốn đầu tư cho hệ thống bán lẻ; (3) Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về hệ thống bán lẻ; (4) Phát triển các thành phần kinh tế tham gia vào hệ thống bán lẻ; (5) Tạo nguồn hàng cung ứng, chất lượng ổn định cho hệ thống bán lẻ và (6) Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt khi phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại
- Năm 2011, tác giả Nguyễn Văn Lịch [19]; đã xác định rõ quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến 2030
- Năm 2012, tác giả Đinh Sơn Hùng [6]; đã nghiên cứu đánh giá thực trạng kênh
phân phối hàng hóa tiêu dùng hiện nay trên địa bàn đồng thời định hướng phát triển và
đề xuất những chính sách, giải pháp củng cố, phát triển và hiện dại hóa kênh phân phối hàng hóa tiêu dùng trên địa bàn
- Đề án “Quy hoạch tổng thể mạng lưới phân phối hàng hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020, có tính đến năm 2025” do UBND tỉnh giao Sở cho Công thương Nghệ An thực hiện [15]
Trang 17Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến việc phát triển hệ thống bán lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Đề tài nghiên cứu chưa có sự trùng lắp về nội dung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa
Chương 2: Thực trạng phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2014
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa tại tỉnh Nghệ An đến năm 2020
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
BÁN LẺ HÀNG HÓA 1.1 Hoạt động thương mại và hệ thống phân phối
1.1.1 Hoạt động thương mại
Có nhiều khái niệm khác nhau về thương mại Lúc đầu “thương mại” được hiểu
là “hoạt động mua bán hàng hóa nhắm mục đích kiếm lời” [4] Về sau cùng với sự
phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội khái niệm thương mại đã được mở rộng hơn, không phải hoạt động mua bán hàng hóa nhưng hoạt động cung ứng dịch vụ (cung cấp tour du lịch, tư vấn pháp lý, quảng cáo sản phẩm) của các công ty du lịch, công ty tư vấn luật, công ty quảng cáo… điều là nghề nghiệp chính của công ty đó, họ làm những dịch vụ này cũng nhằm mục đích lợi nhuận Như vậy, hoạt động thương mại không chỉ
là mua bán hàng hóa mà còn bao gồm các hoạt động ung ứng dịch vụ Thương mại có thể hiểu vừa là hiện tượng hoặc hình thái hoạt động kinh tế của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường, vừa được hiểu là”ngành thương mại, ngành bán buôn và bán lẻ” trên cơ sở tổng hợp các tổ chức thương mại trong từng địa phương, từng vùng, từng Quốc gia [4]
Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường [4]
Theo Điều 3 Luật thương mại nước cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban
hành ngày 01/10/2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời,
bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” [4]
Thương mại bán lẻ phản ánh mối quan hệ buôn bán hàng hóa và các dịch vụ giữa những nhà sản xuất, nhà cung ứng dịch vụ hoặc các thương gia với bên kia là những người tiêu dùng cuối cùng Khi hoàn thành các hoạt động mua, bán lẻ hàng hóa
sẽ kết thúc quá trình lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của xã hội Hoạt động phân phối bán lẻ diễn ra trên thị trường thông qua các chợ, cửa hàng chuyên doanh, bách hoá, tổng hợp, các siêu thị, hội chợ, [4]
Hiện nay, còn có khái niệm về thương mại điện tử, đó là việc trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là qua máy tính và mạng internet mà không phải in ra giấy tờ trong bất cứ công đoạn nào
Trang 19trong quá trình giao dịch Thương mại điện tử giúp khách hàng ở mọi nơi, với mọi thời gian để tham gia vào quá trình tìm kiếm, mua bán hàng hóa
1.1.2 Hệ thống phân phối
1.1.2.1 Khái niệm hệ thống phân phối
Hoạt động phân phối có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Đối với người sản xuất, phân phối là cách thức và tổ chức giúp họ đạt tới các khách hàng cuối cùng Đối với người tiêu dùng, hoạt động phân phối được thể hiện chủ yếu tại các cửa hàng bán lẻ - mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận chuyển, dự trữ và đưa hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng Còn đối với bản thân các nhà phân phối, hoạt động phân phối là lĩnh vực kinh tế riêng biệt, có chức năng làm cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Tuy nhiên, có thể định nghĩa hoạt động phân phối như sau:
Phân phối là quá trình lưu thông hàng hóa từ nhà SX hay nhập khẩu tới người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian phân phối [2]
Các trung gian phân phối bao gồm các thể nhân và pháp nhân kinh tế hợp thức đứng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, thực hiện chức năng phân phối hàng hóa
để tìm kiếm lợi nhuận Theo chức năng, các trung gian phân phối được chia thành hai loại là trung gian bán buôn và trung gian bán lẻ Trong thực tế, có trung gian thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ; việc xác định trung gian bán buôn hay trung gian bán lẻ
là tùy thuộc vào tỷ trọng của bán buôn và bán lẻ [2]
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực phân phối là sự kết nối sống còn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hoạt động của lĩnh vực này ảnh hưởng mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng Hiệu quả và tính cạnh tranh tăng trong hệ thống phân phối có thể dẫn đến việc giảm giá, đặc biệt, khi chiết khấu phân phối chiếm phần đáng
kể trong giá bán của các sản phẩm cuối cùng Hơn nữa, việc cung cấp sản phẩm cũng ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng
Phân phối không chỉ đơn thuần là người giao hàng mà còn cung cấp cho người tiêu dùng một loạt các dịch vụ bổ sung khác như địa điểm thuận tiện, đảm bảo về giao hàng, các thông tin về môi trường kinh doanh giúp cho người tiêu dùng lựa chọn chính xác hơn và mua hàng thuận tiện hơn Bên cạnh đó, qua quá trình phân phối, người sản xuất sẽ có nhiều thông tin hơn về nhu cầu của người tiêu dùng để kịp thời điều chỉnh quyết định sản xuất đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng [2]
Trang 201.1.2.2 Các kênh trong hệ thống phân phối
Hệ thống phân phối sản phẩm hay dịch vụ từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng
có thể thực hiện qua các kênh phân phối dài hay ngắn như sau:
Sơ đồ 1.1 Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng cuối
cùng [2]
Kênh trực tiếp (còn gọi là kênh cực ngắn): Trong kênh này, nhà sản xuất trực tiếp
đưa sản phẩm của mình đến người tiêu dùng, không qua trung gian Bán hàng tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp hay bán hàng qua điện thoại, qua catalogue… chính là các kênh phân phối trực tiếp
Kênh ngắn: Là kênh phân phối mà ở đó nhà sản xuất đưa hàng hóa đến các nhà
bán lẻ và từ đó, người bán lẻ đưa hàng hóa đến với người tiêu dùng Trong kênh này, nhà bán lẻ có vai trò trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng
Kênh trung bình: Là kênh mà hàng hóa phải qua hai cấp độ trung gian là người
bán buôn, người bán lẻ mới đến được người tiêu dùng
Kênh dài: Là kênh phân phối khiến cho hàng hóa đi từ nhà sản xuất đến các đại
lý hoặc môi giới rồi mới đến người bán buôn và người bán lẻ để đến được người tiêu dùng cuối cùng
Trong sơ đồ 1.1 cũng chỉ rõ vị trí và vai trò của các thành phần tham gia các kênh trong hệ thống phân phối sản phẩm, cụ thể:
Người sản xuất được coi là người khởi nguồn của các kênh phân phối họ cung
cấp cho thị trường những sản phẩm và dịch vụ nhưng họ thiếu cả kinh nghiệm lẫn quy
mô hiệu quả để thực hiện tất cả các công việc phân phối cần thiết cho sản phẩm của họ bởi vì các kinh nghiệm trong sản xuất đã không tự động chuyển thành kinh nghiệm
Trang 21trong phân phối Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất thường chia sẻ những công việc phân phối cho những người trung gian [2]
Người trung gian bao gồm các doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh thương
mại độc lập trợ giúp người sản xuất, người tiêu dùng cuối cùng thực hiện các công việc phân phối cùng thực hiện các công việc phân phối sản phẩm và dịch vụ Họ được chia thành hai loại bán buôn và bán lẻ:
Các trung gian bán buôn: Bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân mua hàng hoá
để bán lại cho các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác (các nhà bán lẻ, các nhà bán buôn khác, các doanh nghiệp sản xuất, các tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước) Theo cơ quan thống kê của Liên Hợp quốc (UNSTATS) bán buôn là việc các nhà phân phối bán lại hàng hóa không qua chế biến cho các nhà bán lẻ, các nhà công nghiệp, thương mại, các đối tượng sử dụng chuyên nghiệp, hay các tổ chức, hay các nhà buôn khác như các đại lý và môi giới mua Bán buôn thường thực hiện với số lượng lớn và giá cả thấp hơn giá bán lẻ Người bán buôn không phải là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Người bán buôn chỉ đóng vai trò trung gian trong việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người bán lẻ
Các trung gian bán lẻ: Bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân bán hàng hoá trực
tiếp cho người tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình Vai trò của người bán lẻ trong kênh marketing là phát hiện nhu cầu của khách hàng, tìm kiếm và bán những hàng hoá mà các khách hàng, này mong muốn, ở thời gian địa điểm và theo cách thức nhất định [2]
1.2 Bán lẻ và hệ thống bán lẻ
1.2.1 Khái niệm bán lẻ
Theo từ điển American Heritage, “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng,
thường là với khối lượng nhỏ và không bán lại” [2]
Theo hệ thống phân loại công nghiệp Bắc Mỹ, lĩnh vực thương mại bán lẻ
(NAICS 44-45) bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hoá (thường là không có chế biến) và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá trình bán lẻ là bước cuối cùng trong phân phối hàng hoá, theo đó, các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng Lĩnh vực bán lẻ gồm hai loại nhà bán lẻ chính là
các nhà bán lẻ qua cửa hàng và các nhà bán lẻ không qua cửa hàng (Store and
non-store Retailers) [2]
Trang 22Danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 (W/120) của vòng đám phán Uruguay của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và danh mục sản
phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa “Bán lẻ là hoạt động
bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) cùng các dịch vụ phụ liên quan” [2]
Philip Kotler cho rằng, “Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến
việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh” [5] Mọi tổ chức làm công việc bán hàng
này, cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay người bán lẻ, đều là làm công việc bán
lẻ, bất kể là hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại hay máy tự động bán hàng) hay chúng được bán ở đâu (tại cửa hàng, ngoài phố hoặc tại nhà người tiêu dùng)
Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia lại cho rằng, “Bán lẻ bao gồm việc bán
hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”[5]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ nhưng tất cả đều thể hiện một quan điểm chung về bán lẻ hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu nhất định của họ, nhờ đó, hàng hoá ra khỏi quá trình lưu thông và đi vào quá trình tiêu dùng (tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng của cá nhân hay gia đình) Theo
đó, phân phối bán lẻ hàng hóa là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng, là sự cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng bằng cách mua, thu gom, cất giữ hàng hóa và vận chuyển đến một địa điểm thuận tiện nào đó, đồng thời, thực hiện một loạt các dịch vụ bổ sung để làm cho người tiêu dùng dễ dàng mua được hàng hóa đó và sử dụng tiện lợi hàng hóa đó Hoạt động phân phối bán lẻ không tạo ra sản phẩm mới nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc làm tăng thêm giá trị sản phẩm đã được sản xuất và quyết định đến việc thực hiện giá trị sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất Tham gia vào phân phối bán lẻ, có những cơ sở kinh doanh bán lẻ và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng
1.2.2 Các loại hình bán lẻ
Các tổ chức bán lẻ rất đa dạng và những hình thức mới vẫn tiếp tục xuất hiện Người ta đa đưa ra một số cách phân loại Ví dụ phân loại theo quy mô thì các loại
Trang 23hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, các thể hộ gia đình Nếu phân theo địa điểm quy tụ cửa hàng thì có khu kinh doanh trung tâm, trung tâm mua bán vùng, trung tâm mua bán địa phương Ngoài ra, tổng quát có thể phân theo hai loại hình cơ bản là kênh bán lẻ truyền thống và kênh bán lẻ hiện đại
1.2.2.1 Kênh bán lẻ truyền thống
Kênh bán lẻ truyền thống là tập hợp ngẫu nhiên của các tổ chức, cá nhân độc lập với nhau với diện tích không cần lớn lắm( khoảng 10m2 trở lên) [2] Các điểm bán này thường đặt ngay tại địa điểm của gia đình, nằm trong các khu dân cư, trên các đường phố, các ngõ hẻm hoặc tập hợp lại ở một địa điểm nào đó Một số loại hình bán lẻ truyền thống phổ biến tại Việt Nam như:
- Chợ:
Chợ là loại kết cấu hạ tầng phổ biến và lâu đời, đóng vai trò không thể thiếu trong các hoạt động thương mại truyền thống nói chung cũng như ở các thành phố trong xã hội hiện đại nói riêng Theo cách hiểu thông thường và được sử dụng trong từ
điển tiếng Việt: “Chợ là nơi nhiều người tụ họp để mua bán trong những ngày, buổi
nhất định” [4] Khái niệm này cũng gần với khái niệm thị trường trong Từ điển Kinh
tế học hiện đại: “Thị trường là bất kỳ khung cảnh nào đó diễn ra việc mua bán các
loại hàng hóa và dịch vụ” [1] Hai khái niệm này đều bao hàm “nơi” hay “khung cảnh
nào đó” và ở đó diễn ra việc “mua, bán” Chính vì sự tương đồng giữa hai khái niệm này, nên chợ và thị trường cũng được hiểu đồng nhất với nhau, ngay cả ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì “chợ” và “thị trường” đều được gọi chung là
“market” Như vậy, có thể nói rằng, chợ chính là thị trường, chợ nằm trong hệ thống thị trường và khái niệm chợ nằm trong phạm vi của khái niệm thị trường
Chợ là một loại hình trong hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại để thực hiện hoạt động mua bán có sự tham gia trực tiếp của hàng hóa Chợ là một trong những loại hình kết cấu hạ tầng thương mại truyền thống, được phát triển sớm nhất như là sự “khởi đầu” của quá trình phát triển các loại hình tổ chức mua bán hàng hóa trong xã hội Chợ
có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Theo phạm vi, quy mô và tính chất hoạt động kinh doanh của chợ, có chợ dân sinh, chợ đầu mối bán buôn nông sản, chợ bán buôn, bán lẻ tổng hợp ở các trung tâm kinh tế và thương mại của tỉnh, thành phố, chợ biên giới Các loại chợ này lại có thể tiếp tục được phân loại như: chợ dân sinh
Trang 24ở khu vực thành thị, chợ dân sinh ở khu vực nông thôn; chợ đầu mối theo các mặt hàng nông sản chủ yếu được bán buôn qua chợ, như chợ đầu mối nông sản chuyên ngành (rau quả, thủy sản, lúa gạo) và chợ nông sản tổng hợp; chợ bán buôn, bán lẻ tổng hợp hạng 1,
2, 3; chợ xã biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu…
Theo tiêu chí quy định tại Điều 3, Nghị định 02/2003/NĐ - CP ngày 14/01/2003 [2], chợ được chia làm 3 hạng: 1,2,3
+ Chợ hạng 1: Theo quy định chợ phải có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu
tư xây dựng kiên cố, hiện đại và đặt ở những vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh Ngoài ra chợ đầu mối ngành hàng cũng được xếp vào chợ hạng 1
+ Chợ hạng 2 : Theo quy định chợ phải có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu
tư xây dựng kiên cố và đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực
+ Chợ hạng 3: Là các chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Chủ yếu phục vụ nhu cầu mau bán hàng hóa của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận
+ Cửa hàng bán lẻ theo kiểu truyền thống, thuộc sở hữu của các hộ gia đình, là cửa hàng có quy mô nhỏ, bán hàng theo phương thức phục vụ tại quầy và hoạt động độc lập Phương thức phục vụ tại quầy (over - the - counter), còn gọi là phương thức bán hàng đối diện (person - to - person selling), là phương thức bán hàng truyền thống, trong đó người bán hàng trực tiếp phục vụ từng khách hàng tại quầy hàng hay cửa hàng, khách hàng bị hạn chế trong việc tiếp cận và không được tự do lựa chọn hàng hóa mà cần loại hàng gì thì nêu yêu cầu hoặc chỉ để người bán hàng lấy đưa cho, khách hàng thường trả tiền trực tiếp cho người bán hàng cũng tại nơi nhận hàng [2] + Cửa hàng tiện lợi (convenience store): giống như tên gọi, đây là loại hình cửa hàng cung cấp sự tiện lợi cho người tiêu dùng; quy mô cửa hàng nhỏ; hàng hóa, dịch
vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu nhất với cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của con người; thời gian kinh doanh dài Cửa hàng tiện lợi ở các nước
Trang 25khác nhau là không giống nhau, quy mô cửa hàng hay mối quan hệ với các loại hình tổ chức bán lẻ khác Chẳng hạn, cửa hàng tiện lợi ở Mỹ thường có quan hệ với siêu thị Ngược lại, ở Nhật Bản, cửa hàng tiện lợi được nói đến là có quan hệ mang tính cạnh tranh với siêu thị [2]
+ Cửa hàng chuyên doanh: Cửa hàng chuyên doanh bán một chủng loại hẹp sản phẩm, nhưng rất đa dạng Các cửa hàng chuyên doanh còn có thể được phân loại nhỏ hơn nữa theo mức độ chuyên hẹp của cửa hàng Hệ thống này hình thành tương đối lâu đời, tọa lạc ở khắp các trục phố chính, là những địa chỉ mua sắm khá quen thuộc cho
cư dân Hệ thống này rất linh hoạt, đặc biệt là yếu tố giá cả, hầu hết do các gia đình tự quản lý, chênh lệch giá mua và giá bán không cao, theo nghĩa “ lấy công làm lãi” Một
số nhà phân tích cho rằng trong tương lai những của hàng chuyên doanh hẹp sẽ phát triển nhanh nhất để lợi dụng những cơ hội ngày càng nhiều để phân khúc thị trường, xác định thị trường mục tiêu và chuyên môn hóa sản phẩm [1]
+ Xe đẩy lưu động: Xe đẩy lưu động chở những mặt hàng thiết yếu, thường là các loại rau,củ, quả, đến cửa ngõ của các khu dân cư [1] Đây là mô hình tự phát chiếm số lượng rất nhiều ở Việt Nam nên rất khó quản lý cũng như kiểm soát chất lượng sản phẩm của loại hình này
1.2.2.2 Kênh bán lẻ hiện đại
Kênh bán lẻ hiện đại Là loại hình thức kinh doanh chuyên môn hóa hoặc tổng hợp, có cơ cấu và chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú và đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ quản
lý, tổ chức kinh doanh, có phương thức phục vụ văn minh, nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng [2] Một số loại hình bán lẻ hiện đại phổ biến ở Việt Nam như:
- Siêu thị:
Siêu thị được hình thành và phát triển đầu tiên tại Mỹ sau đó phát triển ở các nước Châu Âu và ngày nay đã trở nên phổ biến trên phạm vi thế giới Hiện nay, khái niệm về siêu thị ở những nước, những châu lục khác nhau cũng có những điểm khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản, những đặc điểm chung gắn liền với siêu thị là: (1) Loại hình cửa hàng bán lẻ; (2) Tập hợp những người mua chủ yếu là người tiêu dùng, người bán là những nhà phân phối chuyên nghiệp hoặc người bán hàng chuyên nghiệp của các nhà sản xuất; (3) Lĩnh vực kinh doanh có thể tổng hợp hoặc chuyên doanh, nhưng
Trang 26thường tập trung chủ yếu vào hàng hóa tiêu dùng phổ biến cho cá nhân và hộ gia đình; (4) Hàng hóa bán qua siêu thị thường là những hàng hóa đã được tiêu chuẩn hóa (do nhà sản xuất hoặc nhà phân phối thực hiện) với số lượng tên hàng lớn; (5) Mua bán hàng hóa trong siêu thị chủ yếu theo phương thức tự phục vụ; (6) Quy mô diện tích kinh doanh có thể từ khoảng 500 m2 đến khoảng 5.000 m2; (7) Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh doanh được xây dựng kiên cố, kiểu dáng hiện đại và được trang bị các thiết bị tiên tiến không chỉ phục vụ cho hoạt động bán hàng, mà cả các hoạt động chuẩn bị bán hàng, sau bán hàng và dự trữ, bảo quản hàng để bán; (8) Phạm vi phục vụ người mua của siêu thị thường không tính theo bán kính phục vụ, mà tính theo quy mô dân số trong một khu vực dân cư nhất định
Theo Quy chế siêu thị, TTTM ban hành kèm theo Quyết định số 1371/2004/QĐ -
BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ Thương mại thì: “Siêu thị là loại cửa hàng
hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức phục
vụ văn minh thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”[2]
- Trung tâm thương mại:
Khái niệm về TTTM thường gắn liền với các đặc điểm chủ yếu như: (1) Là khu vực tập trung nhiều loại hình kinh doanh thương mại phục vụ cho nhu cầu giao dịch kinh doanh, nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, nhu cầu vui chơi, nghỉ ngơi của con người; Quy mô diện tích của các TTTM có thể từ một vài ha đến hàng chục ha; (2) Tại các TTTM có thể bao gồm một tập hợp nhiều loại hình cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho các loại hình kinh doanh thương mại như: chợ (kết hợp với lễ hội), siêu thị (từ một đến nhiều siêu thị), các cửa hàng tiện lợi, các công trình thể thao (bể bơi, nhà thi đấu…), các khu triển lãm, rạp chiếu phim, các câu lạc bộ…; (3) Bán kính phục
vụ của các TTTM, tùy theo quy mô, có thể từ vài chục đến vài trăm km
Theo Quy chế siêu thị, TTTM ban hành kèm theo Quyết định số 1371/2004/QĐ -
BTM ngày 24 tháng 9 năm 2004 của Bộ Thương mại thì: “Trung tâm thương mại là
một loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ, hội trường phòng họp, văn phòng cho thuê… được bố trí tập trung liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc
Trang 27liền kề, đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh, có các phương thức phục vụ văn minh thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh của tư nhân và thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ của khách hàng”[2]
1.2.3 So sánh các loại hình bán lẻ
Sự khác nhau căn bản giữa mô hình bán lẻ hiện đại và mô hình bán lẻ truyền thống là: Với mô hình bán lẻ hiện đại, người tiêu dùng luôn đóng vai trò trung tâm Quyền lợi của người tiêu dùng bước đầu được quan tâm, bảo vệ Yếu tố sản phẩm và dịch vụ của mô hình có tính chất nổi trội so với các loại hình kinh doanh bán lẻ truyền thống; Là kiểu kinh doanh quy mô lớn, hoạt động kinh doanh được tổ chức khoa học, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh được thiết kế bền vững và hiện đại, có khả năng trưng bày một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan và mua sắm của các đối tượng khách hàng Khách hàng hầu như hoàn toàn tự phục vụ, tự lựa chọn và thực hiện mua hàng Đặc trưng của yếu tố sản phẩm và dịch vụ bao gồm:
+ Kinh doanh bán lẻ hiện đại thể hiện: Kiểu kinh doanh tự chọn và tự phục vụ, hàng hóa trưng bày đẹp, thông tin hàng hóa và giá cả phổ cập tại nơi trưng bày
+ Hàng hóa kinh doanh đa dạng và phong phú
+ Dịch vụ cũng đa dạng, từ dịch vụ thông tin, dịch vụ chuyển hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng trước và sau khi mua
Đó chính là những đặc điểm nổi trội hơn của kênh bán lẻ hiện đại, nó đang ngày càng chinh phục người tiêu dùng và là nhân tố thúc đẩy quá trình hiện đại hóa mạng lưới thương mại bán lẻ ở nước ta
Tuy nhiên, không phải đối tượng người tiêu dùng nào cũng đánh giá cao kênh bán lẻ hiện đại Đối với người tiêu dùng bình dân, mức thu nhập thấp và phải trang trải nhiều thứ nên giá cả luôn là yếu tố quan trọng trong quyết định mua hàng Vì vậy chỉ có chợ và những của hàng tạp hóa nhỏ lẻ mới là nơi đáp ứng được nhu cầu của họ một cách thỏa đáng nhất Đối tượng khách hàng này đang chiếm một số lượng khá lớn trong dân số Việt Nam
Các chủ thể trong hệ thống phân phối là nhà sản xuất, người bán buôn, người bán
lẻ đều có thể tiến hành hoạt động bán lẻ song hầu hết hoạt động bán lẻ được tiến hành bởi các nhà bán lẻ Mặc dù hầu hết hoạt động bán lẻ diễn ra tại các cửa hàng bán lẻ (retail store) song trong những năm gần đây hình thức bán lẻ không qua cửa hàng
Trang 28(nonstore retailing) như bán hàng qua thư, catalogue, điện thoại, Internet, Tivi, máy bán hàng tự động ngày càng phát triển và trở nên phổ biến
1.2.4 Chức năng của bán lẻ
Bán lẻ là các hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp đến người sử dụng cuối cùng Các chủ thể trong hệ thống phân phối là nhà sản xuất, người bán buôn, người bán lẻ đều có thể tiến hành hoạt động bán lẻ song hầu hết hoạt động bán lẻ được tiến hành bởi các nhà bán lẻ Chính vì vậy, hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng Nhưng các chức năng chính của bán lẻ là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông tin thị trường
- Chức năng cơ bản nhất của hoạt động bán lẻ là chức năng mua và bán: Chức
năng mua tức là tìm kiếm, đánh giá, so sánh các loại hàng hóa dịch vụ Chức năng bán
là tiêu thụ, phân phối các loại sản phẩm này Lợi nhuận của các nhà bán lẻ chính là nhờ vào sự chênh lệch giữa giá hàng hóa bán ra và mua vào Do đó để tối đa hóa lợi nhuận các nhà bán lẻ cố gắng mua hàng với giá rẻ và bán ra với số lượng lớn và giá cao
- Chức năng cung cấp tài chính: Chức năng này thể hiện ở việc các nhà bán lẻ
cung cấp tài chính tín dụng cần thiết cho một hoạt động sản xuất hàng hóa nào đó Có thể nhà bán lẻ cung cấp tài chính trước một phần cho nhà sản xuất Việc thực hiện chức năng này tùy thuộc vào khả năng tài chính của nhà bán lẻ và mối quan hệ giữa nhà bán lẻ với nhà sản xuất
- Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của hoạt động bán lẻ được thể hiện ở
hai chiều Thông qua các hoạt động quảng bá, marketing của các nhà bán lẻ thì các thông tin về sản phẩm được giới thiệu tới người tiêu dùng Đồng thời, qua hoạt động bán lẻ các nhà bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng Họ là những người hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu, thu nhập của người tiêu dùng nhất Qua đó, nhà bán lẻ sẽ cung cấp những thông tin phản hồi tới nhà sản xuất để nhà sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất để đưa ra những sản phẩm tốt nhất, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng
- Chức năng vận tải: Dựa vào việc mua bán hàng hóa Người tiêu dùng có nhu
cầu, thu nhập rất đa dạng: người tiêu dùng ở nông thôn có thu nhập khác với người tiêu dùng ở thành thị, người trẻ có yêu cầu về mẫu mã chất lượng hàng hóa khác với người già Hoạt động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp xếp, phân loại số lượng hàng hóa gần nhất với nhu cầu của người tiêu dùng Tiêu chuẩn hóa là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất giữa các nhà sản xuất có thể thay thế cho nhau
Trang 29- Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm: Đối với mọi hàng hóa phải có thời
hạn sử dụng và điều kiện bảo quản nhất định Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hàng hóa lúc nào cũng có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến Người bán lẻ thông thường không thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại, họ thích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt Vì như thế khách hàng luôn luôn có nhiều sự lựa chọn hơn Hưởng lợi từ chức năng này của người bán lẻ, khách hàng không phải mua trữ nhiều sản phẩm trong nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kế hoạch dự trữ hàng Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng, khi nhu cầu phát sinh khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần [2]
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tùy thuộc vào mối quan hệ giữa
nhà bán lẻ và nhà sản xuất nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hóa của mình thì
sự chia sẻ rủi ro bằng không Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hóa của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hóa cho khách hàng Khi đó rủi ro đối với nhà sản xuất đã được chuyển tới nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó Trong trường hợp các nhà sản xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ cho nhà sản xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán, bảo hành xong sản phẩm
- Chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ: Các nhà sản xuất ra sản
phẩm đều muốn bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng, tuy nhiên điều này không
hề đơn giản vì các nhà sản xuất cần rất nhiều nhân lực và thời gian cho hoạt động bán
lẻ Do vậy các nhà sản xuất và các nhà bán buôn thường thích bán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyên nghiệp để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo quy cách phù hợp với thói quen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phương
- Khai thác một số nhóm mặt hàng và dịch vụ thích hợp: Cửa hàng bán lẻ cần
phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được sản xuất bởi nhiều công ty khác nhau Điều này là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu sắc, quy cách bao bì đóng gói và cả các mức giá khác nhau Do đó, các cửa hàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việc chọn lựa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực đó
Trang 30Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa hàng bán lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm này đến người tiêu dùng Cho dù các nhà sản xuất có thể tự tổ chức của hàng bán lẻ để phân phối sản phẩm của mình nhưng không thể thỏa mãn nhu cầu cho người tiêu dùng khi chọn lựa nhiều mặt hàng tại một địa điểm Đó là lý do vì sao cửa hàng bán lẻ trở thành một điểm mua sắm được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệu khác nhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có xu hướng thiên về một nhóm sản phẩm làm nòng cốt
- Trưng bày hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm: Người bán lẻ tạo ra mặt
bằng trưng bày hàng hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng nhiều hình thức, nhiều loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của
họ nhằm giúp cho khách hàng có được một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện
chức năng chế biến nhất là đối với thực phẩm Ngoài ra, các nhà bán lẻ còn thực hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác…
Như vậy, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng Nó được coi
là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng để đảm bảo cho quá trình này thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội
1.2.5 Vai trò của việc phát triển hệ thống bán lẻ
Việc phát triển hệ thống bản lẻ trong nền kinh tế thị trường hiện nay là một tất yếu khách quan, thể hiện qua các vai trò cơ bản của hệ thống bán lẻ hàng hóa như sau:
- Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng, phục vụ được nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế
- Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hóa Nó điều tiết hàng hóa từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng Nó điều tiết hàng hóa ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu Hoạt động bán lẻ phát triển
nó đảm bảo cung cấp hàng hóa công bằng cho mọi người dân trên khắp các vùng trên
cả nước Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực
Trang 31- Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ phát triển Khi đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết, ít chịu ảnh hưởng của nhà nước, của thị trường hơn Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là hàng hóa phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy định cạnh tranh lành mạnh thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được hàng hóa tốt nhất với giá cả hợp lý nhất
- Trong nền sản xuất hàng hóa kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa một nền sản xuất hàng hóa lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Sở dĩ có mâu thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu cầu, sở thích khác nhau Khi xã hội ngày càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu cầu ngày càng tăng Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản xuất để tối đa hóa lợi nhuận Và hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu thuẫn cơ bản đó
- Hệ thống bán lẻ hàng hóa là cầu nối trung gian có thể rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Việc sản xuất thường diễn ra tại một hay một số những địa điểm nhất định còn tiêu dùng lại diễn ra tại khắp mọi nơi, nơi nào có dân cư là có tiêu dùng Nhờ có hệ thống bán lẻ hàng hóa với các tầng trung gian khác nhau tạo ra các lần trao đổi và vận chuyển hàng hóa, vượt qua khoảng cách địa lý, giúp cho hiệu quả tiếp xúc được tăng lên Hiệu quả tiếp xúc của nhà sản xuất và nhà bán lẻ được tăng lên với sự góp mặt của trung gian bán buôn
Trang 32- Hệ thống bán lẻ hàng hóa định hướng tiêu dùng và kích thích thương mại phát triển, nó giúp người tiêu dùng lựa chọn hợp lý sản phẩm tiêu dùng Vì hoạt động trong
hệ thống bán lẻ hàng hóa là sự cạnh tranh, tổ chức kinh doanh đều nhằm tới lợi nhuận, các sản phẩm phù hợp với tiêu dùng sẽ tiếp tục được đẩy mạnh phân phối nhiều hơn Ngược lại, điều này cũng có nghĩa là hệ thống bán lẻ hàng hóa tác động tới tiêu dùng, đánh vào tâm lý của người tiêu dùng còn lại lựa chọn các sản phẩm chất lượng và kiểu dáng phù hợp với thị hiếu
- Bán lẻ hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng cách thiết lập hệ thống bán lẻ hàng hóa và sử dụng các dịch vụ bán lẻ nhằm tiêu thụ tốt các sản phẩm dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh
- Hệ thống bán lẻ hàng hóa có vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị: Chuỗi giá trị là hệ thống các hoạt động trao đổi được tổ chức chặt chẽ từ khâu thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp nhằm mục đích tạo ra giá trị cho người tiêu dùng Nếu hiêu đơn giản, chuỗi giá trị là phương tiện mà thông qua đó giá trị được chuyển giao và khách hàng trả tiền để nhận được hàng hóa hay dịch vụ[2]
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống bán lẻ
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển hệ thống phân phối bán lẻ nhưng chủ yếu nhất bao gồm năm nhóm sau:
1.2.6.1 Nhóm yếu tố xã hội
Khi tiến hành sản xuất kinh doanh ở bất kì đâu doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm tới yếu tố văn hoá xã hội của khu vực đó Quy mô dân số, văn hoá, phong tục truyền thống, trình độ dân trí, lứa tuổi, thị hiếu, tâm lý, tâm linh… sẽ quyết định tới hành vi của người tiêu dùng [1]
- Quy mô dân số và cơ cấu dân số theo nghề nghiệp có ảnh hưởng đến quy mô và
cơ cấu hàng hóa lưu thông qua hệ thống bán lẻ
- Địa điểm, phân bố dân cư có ảnh hưởng đến quy mô và số lượng của chợ, siêu thị trong một vùng, khu vực
- Trình độ dân trí, các thói quen phong tục, tập quán mua sắm của người tiêu dùng và các điều kiện sinh hoạt văn hóa, giải trí của các tầng lớp dân cư có ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của hệ thống bán lẻ
Trang 33- Quy mô lao động và giải quyết việc làm cho các tầng lớp dân cư có ảnh hưởng đến quy mô và cơ cấu, tính chất của lực lượng tham gia kinh doanh bán lẻ
1.2.6.2 Chính trị - xã hội và chính sách quản lý của Nhà nước
Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phát triển của hệ thống bán lẻ Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà nước là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đạc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại Các chính sách của nhà nước còn có vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nhóm đối tượng tham gia vào hệ thống bán lẻ Ngoài ra, các chính sách của Nhà cũng thể hiện mức độ can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh doanh thương mại [1]
Nhà nước thúc đẩy và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp và hệ thống bán lẻ thông qua các chính sách như:
+ Nhà nước đầu tư nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực; hỗ trợ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đầu tư cho cơ sở hạ tầng; tạo điều kiện về cơ sở vật chất và các yếu tố đầu vào
+ Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính phủ, Nhà nước cũng là người mua với nhu cầu đa dạng
+ Nhà nước quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện chuyên môn hóa cao từ đó tăng năng lực cạnh tranh Một quốc gia có nền chính trị ổn định sẽ giúp doanh nghiệp phát triển thuận lợi, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tin tưởng, yên tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh Chính trị ổn định, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả, ngược lại sẽ làm kìm hãm
sự phát triển của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường cạnh tranh [1]
1.2.6.3 Môi trường kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế của một quốc gia phát triển sẽ thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ tăng thu nhập của người dân dẫn đến các nhu cầu mới
Trang 34phát sinh, đồng thời cầu có khả năng thanh toán cũng tăng lên Trong nền kinh tế thị trường, có cầu ắt có cung Các nhà đầu tư, các doanh nghiệp sẽ đầu tư phát triển hệ thống phân phối bán lẻ hang hóa đáp ứng nhu cầu khách hàng và thu lợi nhuận
Các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư Chính sách về thuế, về lãi suất … giúp cho doanh nghiệp có thể huy động tối đa được nguồn vốn cần thiết để phát triển hệ thống Nền kinh tế bao gồm rất nhiều ngành nghề, các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Muốn xây dựng được các trung tâm thương mại hiện đại thì ngành xây dựng phải phát triển đáp ứng được các yêu cầu về cơ sở hạ tầng, kĩ thuật hiện đại Hệ thống phân phối bán lẻ muốn phát triển thì cần có các sản phẩm chất lượng, điều đó được giải quyết bởi việc sản xuất trong nước và nhập khẩu
Như vậy môi trường kinh tế vĩ mô có tác động ảnh hưởng lớn tới việc phát triển
hệ thống phân phối bán lẻ hang hóa Nhà nước cần có những chính sách hợp lý để đảm bảo nền kinh tế vĩ mô phát triển nhanh và ổn định từ đó thúc đẩy hệ thống phân phối bán lẻ hàng hóa phát triển [1]
1.2.6.4 Các yếu tố sản xuất
- Cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất tác động quyết định đến cơ cấu nguồn hàng
và cơ cấu sản phẩm được cung ứng qua hệ thống bán lẻ và tạo mối liên kết giữa các vùng sản xuất với nhau
- Quy mô và tính chất sản xuất của các chủ thể kinh tế trong vùng có ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loại hình bán lẻ
- Tính chất thương phẩm và chất lượng của sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến khả năng, phạm vi phát luồng hàng hóa của chợ, siêu thị, trung tâm thương mại [1]
1.2.6.5 Cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị trường bán lẻ Cụ thể như:
- Quá trình hiện đại hóa mạng lưới giao thông vận tải: Sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không sẽ giúp cho việc vận chuyển hàng hóa diễn ra dễ dàng hơn, thông suốt và tiện lợi hơn, giúp hàng hóa đến tay người tiêu dùng nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng Đồng thời sẽ cắt giảm được chi phí vận chuyển, lưu kho bãi cho những người bán lẻ, từ đó giúp hàng hóa đến tay người tiêu dùng với mức giá phù hợp
Trang 35- Sự phát triển mạng lưới thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc phát triển sâu rộng sẽ giúp cho những người bán lẻ nắm bắt nhanh chóng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và người tiêu dùng cũng sẽ nắm bắt được những thông tin về hàng hóa,dịch vụ mà mình cần Hàng hóa lưu thông nhanh chóng, thúc đẩy hệ thống bán lẻ phát triển
- Chi phí xây mới, cho thuê, mua mặt bằng kinh doanh: Đây cũng là một trong những chi phí quan trọng, chiếm phần lớn doanh thu của người bán lẻ, và cũng là yếu
tố làm cho giá thành sản phẩm tăng lên Nếu việc xây mới, thuê,mua mặt bằng kinh doanh được thuận tiện, có sự hỡ trợ của nhà nước, sẽ là động lực thu hút nhiều nhà đầu
tư kinh doanh vào lĩnh vực bán lẻ, đồng thời giá thành sản phẩm cũng sẽ giảm, kích thích người dân mua sắm nhiều hơn, từ đó hệ thống bán lẻ sẽ diễn ra sôi nổi hơn
Các yếu tố khoa học kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trên thị trường, quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình thành phương thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu của người dân Một số yếu tố khoa học kỹ thuật có tác dộng tới hệ thống bán lẻ: (1) trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật, (2) mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng mới trong hệ thống bán lẻ [1]
1.2.6.6 Vấn đề nội lực của hệ thống bán lẻ
Đây là yếu tố quyết định tới sự phát triển của hệ thống bán lẻ Nhóm nhân tố này gồm các nguồn lực về con người, nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng và nguồn lực thông tin của dịch vụ bán buôn, bán lẻ Lĩnh vực bán lẻ của Việt Nam hiện nay vẫn
cơ bản dựa vào các nhà kinh doanh buôn bán nhỏ (chiếm trên 90% lực lượng thương nhân của cả nước), năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật nhìn chung còn yếu kém, kinh nghiệm thực tiễn trong bán lẻ hiện đại chưa nhiều; vốn ít, cơ
sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, khả năng liên kết và tổ chức kinh doanh thương mại trên thị trường yếu kém, thương mại bị chia cắt, trùng lắp các trung gian thương mại cạnh tranh không lành mạnh nên thông tin thị trường bị nhiễu loạn
Những hạn chế và yếu kém về nội lực đang đặt ra thách thức lớn cho phát triển
hệ thống bán lẻ của Việt Nam nhất là trong bối cảnh nước ta đang phải mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ theo cam kết WTO Bài toán xây dựng và tăng cường năng lực nhằm phát triển hệ thống bán lẻ Việt Nam cần được giải đáp ở mọi ngành, mọi cấp[1]
Trang 361.2.6.7 Thị trường và các đối thủ cạnh tranh
Khi nói tới thị trường và đối thủ cạnh tranh chúng ta chủ yếu đề cập tới các doanh nghiệp, các chủ thương bởi vì bản chất chợ được hình thành từ nhiều cửa hàng nhỏ và trong nội bộ chợ cũng có sự cạnh tranh lẫn nhau Thị trường là nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá, và mỗi doanh nghiệp có một thị trường mục tiêu riêng Đặc điểm thị trường sẽ ảnh hưởng tới các quyết định của doanh nghiệp Thị trường có quy
mô rộng lớn trong đó các khách hàng có thu nhập trung bình thì hệ thống phân phối sẽ cung cấp các sản phẩm chất lượng trung bình và có mức giá bình dân Ngược lại số lượng khách hàng có thu nhập cao chiếm tỉ lệ lớn sẽ gợi cho các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hàng hoá chất lượng cao và giá cả giúp thể hiện một phần cái “tôi” của khách hàng
Bên cạnh thị trường thị các đối thủ cạnh tranh cũng có tác động lớn tới việc phát triển hệ thống phân phối bán lẻ Các doanh nghiệp sẽ phải tính toán làm sao cho các hệ thống phát triển có hiệu quả để có thể cạnh tranh được với các đối thủ khác trên thị trường Ngày 1-1-2009 là thời hạn Việt Nam phải mở cửa thị trường bán lẻ theo cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Các doanh nghiệp trong nước
sẽ phải cạnh tranh với các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới như: Wall-mart, Lotte, Parkson… Các tập đoàn này có tiềm lực về vốn, có kinh nghiệm và trình độ quản lý cao Chắc chắn cạnh tranh trên thị trường phân phối bán lẻ sẽ trở nên hết sức khốc liệt Các doanh nghiệp cần có những chiến lựơc, hành động đúng đắn, kết hợp phát triển hệ thống phân phối bán lẻ theo cả chiều rộng và chiều sâu để có thể tồn tại và phát triển [1]
1.3 Nội dung phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa
Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ bao gồm hai nội dung quan trọng là: Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu [2]
Phát triển theo chiều rộng là sự gia tăng về quy mô và số lượng
Phát triển theo chiều sâu là sự gia tăng về mặt chất lượng trên cơ sở quy mô và
số lượng không đổi
1.3.1 Về các chợ truyền thống
1.3.1.1 Phát triển hệ thống chợ theo chiều rộng
Trước hết chúng ta cần mở rộng quy mô các chợ hiện có Chợ là nơi tập trung rất đông các chủ thương và khách mua hàng, các sản phẩm hàng hoá thường được bày bán ngay tại sạp Thực tế hiện nay số lượng quy cách chủng loại hàng hàng hoá là rất
Trang 37lớn cho nên các chủ thương luôn mong muốn mở rộng diện tích gian hàng của mình để
có thể bày bán được nhiều sản phẩm hàng hoá hơn Không gian cửa hàng được mở rộng không chỉ giúp cho khách hàng tiện lợi hơn trong việc lựa chọn và sử dụng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ, mà còn tạo điều kiện cho các chủ thương phục vụ khách hàng tốt hơn
Khi tiến hành mở rộng quy mô chợ chúng ta có thể mở rộng diện tích mặt bằng hoặc đầu tư xây dựng thêm các tầng của chợ Tuy nhiên việc quy hoạch và kinh phí xây dựng cũng là vấn đề lớn đặt ra Chợ là mô hình kinh doanh truyền thống, hầu hết các chợ đều được quy hoach xây dựng từ rất lâu Không gian xung quanh chợ gần như đã được lấp kín bởi nhà ở của các hộ dân cho nên việc mở rộng quy mô chợ là khá khó khăn
Bên cạnh việc mở rộng quy mô các chợ hiện có thì chúng ta có thể tăng số
lượng bằng cách xây dựng mới thêm các chợ Ở các trung tâm thành phố thì hệ thống
chợ phân phối hàng hóa khá phát triển nhưng ở khu vực ngoại thành, các vùng quê thì
hệ thống chợ chưa thực sự phát triển Chúng ta có thể đầu tư xây dựng thêm các chợ tuy nhiên chợ đặt ở đâu, kinh phí xây dựng chợ huy động từ nguồn nào thì cần phải đuợc cân nhắc kỹ lưỡng Bên cạnh đó cũng cần có những chính sách hợp lý đối với các chợ cóc, chợ tự phát gây mất trật tự, an toàn giao thông Có nên dẹp bỏ hay di chuyển đến một địa điểm thuận lợi cũng là một trong những câu hỏi khó chờ những câu trả lời
và hành động của các cơ quan chức năng [2]
1.3.1.2 Phát triển hệ thống chợ theo chiều sâu
Do việc mở rộng quy mô diện tích và tăng số lượng các chợ có thể gặp nhiều khó khăn đặt ra yêu cầu có định hướng phát triển chợ theo chiều sâu Thực chất đây chính là việc nâng cao chất lượng của các chợ hiện có Mỗi lần đi chợ mọi người luôn gặp khó khăn trong việc đi lại do các chủ thương lấn chiếm đường đi, không chỉ lối đi bên trong chợ mà còn gây ách tắc ở khu vực ngoài chợ; mọi người luôn băn khoăn về
chỗ gửi xe, khu vệ sinh,…Nội dung phát triển đầu tiên chính là quy hoạch lại không
gian chợ Quy hoạch lại các hàng quán, đường đi, khu để xe, khu vệ sinh…, cần có những nơi đổ rác để tránh tình trạng vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường Chúng ta cần tiến hành cải tạo và tận dụng thêm những khoảng không gian trước đây chưa sử dụng đến hoặc sử dụng chưa hiệu quả để tiết kiệm diện tích Thực hiện tốt nội dung này sẽ thay đổi được bộ mặt các chợ hiện nay, biến sự rối ren ách tắc, mất vệ sinh trước đây thành nơi gọn gàng, sạch sẽ [2]
Trang 38Nội dung phát triển thứ hai thể hiện ở việc nâng cao chất lượng hàng hoá dịch
vụ trong chợ Chất lượng hàng hoá trong chợ liệu có đảm bảo? Khách hàng lo lắng về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là có cơ sở và điều này sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển hệ thống chợ Việc nâng cao chất lượng hàng hoá sẽ tăng niềm tin nơi người tiêu dùng, giúp việc kinh doanh của các chủ thương tốt hơn từ đó tạo điều kiện phát triển hệ thống chợ [2]
Nội dung thứ ba là thành lập các ban quản lý chợ, các đội kiểm định chất lượng
thực phẩm Các đội, các ban này sẽ đôn đốc, kiểm tra việc kinh doanh của các chủ thương, buộc họ phải nghiêm chỉnh chấp hành những quy định đặt ra góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá, phát triển hệ thống chợ [2]
1.3.2 Về các trung tâm thương mại, các siêu thị và các chuỗi cửa hàng hiện đại
1.3.2.1 Phát triển theo chiều rộng
Trong những năm gần đây mức sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, các trung tâm, các đô thị được xây dựng mới làm phát sinh nhu cầu cần phát triển hệ thống phân
phối bán lẻ hiện đại Vấn đề đầu tiên đặt ra là mở rộng quy mô các siêu thị, các trung
tâm thương mại Siêu thị, trung tâm thương mại giống như tên gọi của nó đây là hình thức kinh doanh hiện đại với đa dạng chủng loại hàng hoá hoặc kinh doanh chuyên sâu một mặt hàng Để có thể tiến hành kinh doanh hiệu quả thì hệ thống phân phối bán lẻ này đòi hỏi phải có quy mô, diện tích mặt bằng tương đối rộng lớn Nhưng thực tế các siêu thị Việt Nam có diện tích khá nhỏ Đa số là các siêu thị loại 2 và loại 3 với quy
mô diện tích 500m2 - 2.000m2 khiến cho việc kinh doanh hết sức hạn chế, thiếu gian bày hàng, thiếu kho dự trữ hàng, thiếu chỗ để xe… Và đây cũng chính là tình trạng chung của hệ thống các chuỗi cửa hàng hiện đại Các chuỗi cửa hàng này đa số có diện tích dưới 500m2 và không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một hệ thống kinh doanh hiện đại Chính vì vậy nhà nước cũng như các doanh nghiệp cần có chiến lược mở rộng quy mô diện tích của hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại này
Nội dung thứ hai là việc tăng số lượng các trung tâm thương mại, các siêu thị
và chuỗi cửa hàng hiện đại Việc phát triển kinh tế - xã hội đặt ra yêu cầu xây dựng mới, tăng số lượng hệ thống phân phối bán lẻ hang hóa hiện đại nhằm thoả mãn nhu cầu nhân dân và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển [2]
1.3.2.2 Phát triển theo chiều sâu
Không chỉ mở rộng quy mô, gia tăng số lượng mà nội dung phát triển theo chiều
sâu cũng hết sức quan trọng Thứ nhất là quy hoạch phát triển, đầu tư cơ sở vật chất kĩ
thuật hiện đại Những năm gần đây, số lượng phương tiện giao thông ngày càng gia
Trang 39tăng, lượng xe ôtô tăng nhanh đặt ra yêu cầu phải tạo một khoảng không gian để xe Chúng ta có thể thiết kế bãi đỗ xe ở ngoài siêu thị hoặc thiết kế để xe dưới tầng hầm hoặc kết hợp cả hai cách tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể Bên cạnh đó cần đầu tư hiện đại hoá các gian hàng, các trang thiết bị tạo sự thuận lợi cho khách hàng vd: thang máy, máy thanh toán tiền,…
Thứ hai là nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá Hầu hết khách hàng tới các
trung tâm mua sắm có mức thu nhập trung bình khá trở lên Họ đến đây với mong muốn có được sự tiện ích và chất lượng hàng hoá tốt hơn bên ngoài Chính vì vậy nâng cao chất lượng hàng hoá kết hợp với chính sách giá hợp lý sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh phát triển
Trong các hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại thì nhân viên bán hàng hết sức
quan trọng Cần đào tạo cho các nhân viên trong hệ thống không chỉ kiến thức về sản
phẩm hàng hoá mà còn nâng cao khả năng giao tiếp Khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng
vì được phục vụ bởi đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, lịch sự và sẽ tiến tới mua hàng nhiều hơn từ đó thúc đẩy hệ thống phát triển [2]
1.3.3 Về các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong
Các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong là hệ thống phân phối bán lẻ có nhiều đặc điểm giống với chợ truyền thống Nội dung phát triển hệ thống này cũng có nhiều điểm tương đối giống với các nội dung phát triển chợ nhưng vẫn có những nét riêng biệt do tính chất nhỏ lẻ và phân tán
1.3.3.1 Phát triển theo chiều rộng
Trong nền kinh tế thị trường thu nhập người dân tăng lên nhưng thời gian đối với mọi người cũng trở nên quan trọng hơn Các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong đã hình thành từ rất lâu nhưng ngày nay vẫn tồn tại và phát triển do tính tiện lợi mà chúng mang lại Chủ của hệ thống phân phối bán lẻ này thường có số vốn kinh doanh rất hạn chế nên việc mở rộng quy mô cửa hàng là rất khó khăn Phát triển theo chiều rộng của
hệ thống này chủ yếu là việc các chủ thể kinh doanh đầu tư thêm mới các cửa hàng Như vậy số lượng các cửa hàng và quán bán rong sẽ tăng lên và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của nhân dân Hiện nay do một số quán bán rong lấn chiếm lòng lề đường gây mất trật an toàn giao thông, Chính phủ đã có chính sách hạn chế quán bán rong trong một số khu phố cho nên số lượng các quán bán rong có giảm, nhưng số lượng các cửa hàng cố định vẫn gia tăng [2]
Trang 401.3.3.2 Phát triển theo chiều sâu
Thứ nhất là cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kĩ thuật cho hệ thống phân
phối bán lẻ này Tuỳ từng điều kiện cụ thể của các chủ thương, của từng loại hình phân phối (cửa hàng cố định hay di động) mà có sự đầu tư khác nhau
Thứ hai là nâng cao chất lượng sản phẩm Thực tế cho thấy mặc dù giá của hàng
hoá rẻ một cách tương đối nhưng chất lượng sản phẩm không cao Vì vậy nếu nâng cao được chất lượng sản phẩm và với mức giá hợp lý các chủ thương sẽ vẫn phát triển được hoạt động kinh doanh
Cuối cùng là cung cách cư xử của người bán hàng Hầu hết những người bán
hàng đều rất niềm nở khi khách tới nhưng tỏ thái độ khó chịu khi khách không mua hàng Chúng ta cần nâng cao nhận thức của họ và từng bước nâng cao văn hoá úng xử trong quá trình mua bán Có như vậy không những phát triển hệ thống phân phối bán
lẻ này mà còn tạo nên môi trường kinh doanh văn minh, lịch sự [2]
1.4 Kinh nghiệm phát triển hệ thống bán lẻ của một số quốc gia trên thế giới áp dụng vào Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia, Indonesia [8]… về phát triển hệ thống bán lẻ hàng hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, luận văn rút ra 8 bài học có thể vận dụng cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất, lựa chọn đúng cách tiếp cận và định dạng tổng quát lĩnh vực phân phối
bán lẻ thành hai phân hệ lớn là hệ thống bán lẻ truyền thống và hệ thống bán lẻ hiện đại làm cơ sở khách quan cho nhận thức, xây dựng và điều chỉnh kịp thời chính sách thích ứng Bài học kinh nghiệm này thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu và bằng chứng lịch sử cụ thể sau:
- Định dạng tổng quát ngành DVPP thành hai phân ngành dịch vụ phân phối chính là: Bán buôn và bán lẻ Trên cơ sở đó, xây dựng khung khổ luật pháp riêng điều chỉnh hai lĩnh vực hoạt động dịch vụ phân phối cụ thể này Cả Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan đều theo hướng này (Nhật Bản có Luật bán buôn, và Luật Cửa hàng bán lẻ qui mô lớn, sau đó đổi thành Luật bán lẻ; Hoa Kỳ có Luật bán buôn, Luật bán lẻ; Thái Lan và Trung Quốc đang soạn thảo để ban hành Luật bán lẻ)
- Phân định phân phối bán lẻ theo phương thức bán lẻ để định dạng tổng quát thành hai phân hệ lớn là hệ thống bán lẻ truyền thống và hệ thống bán lẻ hiện đại Trên
cơ sở định dạng tổng quát đó, có chính sách thích ứng để điều chỉnh sự hình thành và