1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động việt nam

15 277 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 384,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an toàn, vệ sinh đối

Trang 1

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… … 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ……… 5

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 5

3.1 Mục đích nghiên cứu ……… 5

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu ……… 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 6

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 7

6 Bố cục của luận văn ……… 7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 7

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ……… 7

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động … 10 1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 14

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 21

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ……… 21

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ……… 24

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……… 26

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……… 30

Trang 2

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao

2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để

2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ ………… 39 2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc

2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định

về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ……… 42 2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với

2.2.1 Thực trạng điều kiện làm việc của lao động nữ ở Việt Nam … 45 2.2.2 Tình hình thực hiện các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo

2.2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ

2.2.4 Tình hình thực hiện các quy định về thai sản đối với lao động nữ 65 2.2.5.Tình hình thanh tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp

không đảm bảo quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ 71 2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ 72

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 75

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO

ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP

DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1 Sự cần thiết khác quan của việc hoàn thiện pháp luật về về an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ 81

Trang 3

3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ 85 3.1.1 Về mặt chủ quan 88 3.1.2 Về mặt khách quan 89 3.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao

động nữ 90 3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh

lao động đối với lao động nữ 92 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam Đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng thể hiện trước hết ở sự quan tâm tới nhân

tố con người với chủ trương coi nguồn nhân lực luôn là trung tâm của quá trình sản xuất và là tài sản quí giá nhất của quốc gia Vì vậy, việc tạo ra một môi trường làm việc tốt cho người lao động là yêu cầu ngày càng cấp thiết của xã hội

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tính cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yêu cầu tất yếu

của sự phát triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hóa

Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian qua công tác ATVSLĐ ở

nước ta đã có những chuyển biến đáng kể về hệ thống văn bản pháp luật và bộ máy tổ chức

Thể chế hoá đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002 đã dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trên thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng lao động đã có những biện pháp, sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và môi trường sản xuất kinh doanh

Tuy vậy, công tác BHLĐ nói chung và công tác ATVSLĐ nói riêng ở nước ta còn quá nhiều khó khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp khu vực phi chính thức mới chỉ quan tâm đầu tư phát triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động Vì vậy, Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp

Nguyên nhân chính để xảy ra tai nạn lao động một mặt do chủ sử dụng lao động thiếu quan tâm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khác do ý thức tự giác chấp hành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động Hậu quả của thực tế trên không chỉ gây thiệt hại

về tính mạng và sức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước mà còn ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Ở nước ta, 50,86% dân số là nữ, tương ứng với hơn 50% lao động nữ đã, đang và ngày càng

có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do những đặc điểm về tâm sinh lý, giới

Trang 4

tính, lao động nữ thường gặp khó khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động Cùng với quan niệm sai lệch về Giới, những khó khăn này đã làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong quan hệ lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ đang chiếm số đông trong lực lượng lao động trong các doanh nghiệp các loại - nơi mà việc áp dụng pháp luật ATVSLĐ còn nhiều bất cập và tồn tại

Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ sự an toàn của lao động nữ trong bối cảnh

nền kinh tế thị trường, học viên chọn đề tài nghiên cứu “An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua thực tế tìm hiểu, học viên thấy đã xuất hiện một số bài báo, công trình nghiên cứu có đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động nói chung, với một số lượng hạn chế

Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp đi sâu vào tìm hiểu vấn đề an toàn,

vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đó có những kiến nghị xác đáng nhằm nâng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của đối tượng lao động này Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật liên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ Trên cơ

sở đó, luận văn đi sâu phân tích các quy định về an toàn, vệ sinh lao động và thực tế thực hiện đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc

tế của các nước trong lĩnh vực này

Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao

động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm hiểu các quy định

pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam (văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh

đó, trong chừng mực nhất định cũng có đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về an toàn, vệ

sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Lê Nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống

kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …

Trang 5

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam Chương II: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao

động nữ và thực tế thực hiện ở Việt Nam Chương III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp

dụng pháp luật an toàn, vệ sinh đối với lao động

nữ ở Việt Nam

Trang 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI

LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện

làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có thể được đề cập trong các văn bản pháp luật về

an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngoài ra, trong các văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động

Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động việc thực hiện các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp luật khác Cụ thể là:

- Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét

- Để đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao

- Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội rộng rãi

- Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động

An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc

Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động:

- Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

- Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động

- Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Có thể nói, tổ chức lao động quốc tế và các công ước khác của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xây dựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ

Trang 7

Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của lao động nữ Tính đặc thù của lao động nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bản sau đây:

- Về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ: Lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất, tinh

thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác

- Lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc biệt là ở những quốc

gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này Phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong

xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển

- Lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam: lao động nữ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao động

thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn

- Lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong công tước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW

- Tạo điều kiện cho phụ nữ thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới

- Vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc

- Góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động

- Góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói chung

và pháp luật lao động nói riêng

Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đề cập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bản như:

- Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên

- Nghị định 181/CP ban hành Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động

- Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992

- Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp khoá IX

- Ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

- Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm tăng cường chỉ đạo

và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới

- Ngày 27/12/2002, Nghị định số 110/2002/NĐ-CP được ban hành về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của

Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo khác Hệ thống pháp luật quy định về

an toàn, vệ sinh lao động nói chung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn

Trang 8

bản có hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm 2006 và năm 2007

Trang 9

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Các quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ bao gồm những vấn đề sau đây:

- Đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh đối

với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất

- Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi về an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động

- Quy định cụ thể về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ Doanh nghiệp phải có khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâm làm việc

Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

- Pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành cho đối tượng lao động này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có

- Pháp luật lao động xác định rõ các công việc, ngành nghề không được sử dụng hoặc hạn chế

sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao động nữ như găng tay cách điện, ủng cách điện, mặt nạ phòng độc, dây an toàn, phao an toàn, sào cách điện Người sử dụng lao động cùng người lao động kiểm tra để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng trước khi cấp phát, đồng thời định kỳ kiểm tra trong quá trình sử dụng và mã số theo dõi

Các quy định về trang bị phương tiện kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động nằm rải rác trong một

số văn bản cấp ngành hoặc cơ sở và mang tính chung chung, chưa có quy định cụ thể về hình thức, chất lượng… của phương tiện cung cấp, cũng như chưa đưa ra yêu cầu mức độ bắt buộc thực hiện

2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

Pháp luật lao động có những quy định riêng về thời giờ làm việc của lao động nữ trong các trường hợp đặc biệt nhằm giúp họ thực hiện đầy đủ chức năng của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội

i) Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa;

ii) Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy, được

chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương;

iii) Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong

thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương

Trang 10

Do thời gian làm việc kéo dài (bao gồm cả thời gian làm việc trong giờ tiêu chuẩn và làm thêm) có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng lao động, sức khoẻ và khả năng tái sản xuất sức lao động của lao động nữ nên pháp luật lao động có xu hướng hạn chế việc huy động lao động nữ làm thêm

2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ

Lao động nữ được ưu tiên dành thời gian nghỉ để đi khám thai, dưỡng sức, được nghỉ và hưởng chế độ khi bị sảy thai, khi sinh con và đặc biệt trong trường hợp nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, lao động nữ vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội

Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc

do sảy thai; nghỉ để chăm sóc con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, người lao động

nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc được người sử dụng lao động trả một khoản tiền bằng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội

Hết thời gian nghỉ thai sản theo chế độ và cả trong trường hợp được phép nghỉ thêm không hưởng lương, khi trở lại làm việc, người lao động nữ vẫn được bảo đảm chỗ làm việc

2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã xác lập nguyên tắc giải quyết quyền lợi cho lao động

nữ bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp

1) Người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản chi phí y tế và tiền lương từ khi sơ cứu,

cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật;

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

1 Bộ luật Lao động 1994

2 Bộ luật lao động năm 2006

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001

4 Nghị định 181/CP - Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động

5 Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao đ

6 Nghị định 23/CP của Chính phủ ngày 28/4/1996

7 Nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ

luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động

8 Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004

9 Pháp lệnh Bảo hộ lao động 1991

10 Quyết định 722/ LĐTBXH ngày 2/8/2000

11 Quyết định số 167/BYT – QĐ

Ngày đăng: 09/11/2016, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w