Vấn đề nghiên cứu văn hoá tộc người Phù Lá ở Việt Nam đã có nhiều học giả, các nhà khoa học nghiên cứu nhưng về nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá thì chưa có công trì
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ ĐÀO
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ TRÊN TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI PHÙ LÁ Ở TÂY BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Chuyên ngành: Văn hoá dân gian
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “ Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi… Các số liệu
thống kê, kết quả nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
Hoàng Thị Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin trân trọng cám ơn Ban Lãnh đạo cùng toàn thể quý thầy cô - những nhà khoa học của Học viện Khoa học Xã hội, Ban giám hiệu Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - Viện Mỹ thuật cùng các bè bạn đồng nghiệp… đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận án
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cố PGS TS Trương Thị Minh Hằng và PGS TS Nguyễn Văn Dương là những thầy cô tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn luận án này
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án chắc không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, quý thầy cô chỉ dạy thêm để giúp tôi
mở rộng kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong công việc nghiên cứu
và công tác sau này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận án
Hoàng Thị Đào
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ĐH: Đại học GS: Giáo sƣ
HN: Hà Nội Nxb: Nhà xuất bản PGS: Phó giáo sƣ PL: Phụ lục TS: Tiến sĩ VH: Văn hóa VHDG: Văn hóa Dân gian VHDT: Văn hóa Dân tộc VHTT: Văn hóa Thông tin VHNT: Văn hóa Nghệ thuật
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cở sở lý luận
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận khoa học
1.3 Những vấn đề chung về tộc người Phù Lá
Tiểu kết
Chương 2: Người Phù Lá và quá trình chế tác trang phục
2.1 Vài nét về lịch sử tộc người
2.2 Một số thực hành văn hóa tiêu biểu
2.3 Quy trình tạo trang phục
2.4 Văn hóa trang phục của người Phù Lá
Tiểu kết
Chương 3: Đặc trưng mỹ thuật trên trang phục truyền thống của người Phù Lá ở Tây Bắc
3.1 Đặc trưng về tạo dáng trang phục của nguời Phù Lá
3.2 Đặc trưng về trang trí trên trang phục của người Phù Lá
3.3 Mối quan hệ đối sánh trong trang trí trang phục người Phù Lá
Tiểu kết
Chương 4: Một số vấn đề bàn luận
4.1 Bàn luận về ý nghĩa biểu tượng của trang phục
4.2 Bàn luận về ý nghĩa của màu sắc, bố cục hoa văn trong đời sống tộc người
1
7
7
7
19
30
35
36
36
45
52
61
67
69
69
80
100
107
110
110
116
Trang 74.3 Bàn luận về ý nghĩa của biểu tượng hoa văn
4.4 Bàn luận về những thay đổi trong trang trí trang phục của người Phù Lá
Tiểu kết
Kết luận
Chú thích
Danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
121
127
143
144
150
155
156
166
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có hơn 54 tộc người, trong đó Phù Lá là một dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các tỉnh vùng núi phía Tây Bắc Ở Tây Bắc, người Phù Lá có hai nhóm địa phương là Pu La và Xá Phó tập trung nhất là ở tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Lai Châu
Hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế, văn hóa… toàn cầu, vấn đề nghiên cứu bản sắc văn hoá, nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Phù Lá, việc xác định văn hoá của tộc người trong cộng đồng dân tộc anh em và trong quá trình hội nhập biến đổi là việc làm cần thiết
Trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Việt Nam có những sắc thái văn hoá riêng biệt Ở người Phù Lá cũng vậy, nghệ thuật trang trí trên trang phục có nhiều hình thức biểu đạt độc đáo Căn cứ vào trang phục những cư dân đồng tộc, khác tộc có thể nhận diện; Trang phục và những biểu hiện trang trí trên đó còn là thông điệp giúp nhận định địa bàn sinh trú của các nhóm trong cùng tộc người
Nghiên cứu trang phục, nghệ thuật trang trí trang phục của các tộc người thiểu số nói riêng là việc làm cần thiết để góp phần vào tìm hiểu sắc thái văn hoá tộc người Căn cứ vào nghệ thuật trang trí trên trang phục, chúng ta có thể tìm về những vấn đề liên quan đến phong tục tập quán, môi trường sống, tư duy thẩm mỹ, tâm thức… của người Phù Lá
Vấn đề nghiên cứu văn hoá tộc người Phù Lá ở Việt Nam đã có nhiều học giả, các nhà khoa học nghiên cứu nhưng về nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và chuyên sâu
Trang 9Trong bối cảnh hiện nay, văn hoá dân gian các tộc người đang là những giá trị góp phần giữ gìn bản sắc của họ, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống tinh thần của người dân mà nổi bật là phát triển kinh tế trong văn hoá và văn hoá trong kinh tế tộc người, du lịch cộng đồng, du lịch sinh
thái… Đó là những lý do cấp thiết để chúng tôi lựa chọn “Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tổng hợp tư liệu một cách có hệ thống về nghệ thuật trang trí trang phục các nhóm Phù Lá để phác dựng nên những nét đặc trưng trong trang trí trang phục của người ở Tây Bắc Việt Nam
- Nghiên cứu các mẫu hoạ tiết, đồ án trang trí, mô típ hoa văn, cách thức dệt vải, may vá cũng như tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng trong trang trí trên trang phục của người Phù Lá
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Góp phần bảo tồn văn hoá tộc người, khai thác những giá trị mỹ thuật, văn hoá, giá trị kinh tế trong văn hoá và văn hoá trong kinh tế của tộc người Trên cơ sở nghệ thuật trang trí trên trang phục xác định giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa, cảm quan thẩm mỹ trong đời sống và tâm thức của tộc người Phù Lá
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của các nhóm trong tộc người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10Nhóm Pu La và nhóm Xá Phó
Về không gian: Vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên Trong đó chủ yếu tập trung ở Lào Cai; cụ thể có một số huyện như: Cam Đường, Văn Bàn, Bảo Thắng, Sa Pa, Bắc Hà, Mường Khương…
Về thời gian: Trang phục được người dân sử dụng và lưu giữ từ khoảng những năm 70 của thế kỷ XX đến 2015
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Để thực hiện luận án này chúng tôi sử dụng phương pháp luận khoa học chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp luận khoa học chuyên ngành về văn hoá, nghệ thuật, dân tộc…, để nghiên cứu những nét cá biệt, đặc trưng trong nghệ thuật trang trí trên trang phục, văn hoá trang phục của tộc người Phù Lá, để xử lý linh hoạt các nguồn thông tin khác nhau tạo sự logic khoa học trong suốt quá trình luận giải các vấn đề luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã dân tộc học là phương pháp được áp dụng chủ
yếu trong luận án Chúng tôi tiến hành khảo sát điền dã để nhìn nhận đánh giá
về địa bàn cư trú, đời sống văn hoá trực tiếp quan sát, ghi chép các đặc điểm trên trang phục được người dân mặc trong đời sống thường ngày, trong điều kiện thiên nhiên và môi trường cư trú Quan sát, tham dự vào một số thực hành văn hóa như: Lễ hội, nghi lễ của đồng bào Tìm hiểu trang phục, vị trí, vai trò của trang trí trên trang phục, công năng sử dụng, ý nghĩa của trang phục trong đời sống, trong tâm thức của tộc người Tìm hiểu ý nghĩa của các biểu tượng, mô típ hoa văn, màu sắc trong quan niệm của mỗi nhóm và trong
sử dụng trang trí trên trang phục của người Phù Lá
Trang 11Kết hợp các thao tác đo vẽ, chụp ảnh các dạng mẫu hoa văn hình dáng
trang phục lúc động (khi đang mặc), lúc tĩnh (trải chụp cắt lớp các mảng trang trí, mô típ hoa văn…) giúp cho việc phân loại trang phục theo nhóm và phân tích những đặc điểm nghệ thuật của luận án
Tổng hợp, thu thập tư liệu: Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện luận
án, nghiên cứu sinh thu thập các tư liệu văn bản, tư liệu lưu trữ bằng hiện vật
ở các bảo tàng, tư liệu hình ảnh, DVD, tư liệu từ các học giả đã nghiên cứu về người Phù Lá để có cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu Từ đó lên kế hoạch chi tiết cho các chuyến điền dã như: Thời gian thực địa, lựa chọn đối tượng phỏng vấn, lập hệ thống câu hỏi phỏng vấn…
- Phương pháp phân tích, chứng minh và so sánh, trong đó phương pháp
phân tích nghệ thuật học và chứng minh được áp dụng chủ yếu ở chương 3 để làm rõ những đặc trưng mỹ thuật trên trang phục - sắc thái riêng của người Phù Lá Cụ thể là phân tích hình dáng của trang phục (tạo dáng), đường nét, màu sắc, bố cục, hoa văn; chứng minh giá trị đặc thù của văn hóa tộc người qua trang trí trang phục
- Phương pháp so sánh thống kê được áp dụng để đối sánh sự tương
đồng, khác biệt giữa các đồ án trong trang trí, giữa các hoa văn, bố cục, giữa các nhóm trong tộc người Ngoài ra, so sánh khảo tả được áp dụng để định hình các phương thức tạo tác trang phục của các nhóm Do đặc điểm trang phục của mỗi nhóm có những yếu tố nghệ thuật đặc thù, vừa có điểm tương đồng, vừa có nét khác biệt Để tránh lặp lại sự lẫn lộn về trang phục của hai nhóm như đã có ở một số tư liệu cũ, khi trình bày chúng tôi phân trang phục theo hai nhóm Pu La và Xá Phó Kết hợp đối chiếu với những biến đổi của trang phục trong giai đoạn hiện nay: So sánh cùng lịch đại các mẫu nghiên cứu giữa các vùng thực địa Đối chiếu giữa các tài liệu đã xuất bản với tài liệu ghi chép từ thực tế quan sát, qua mô tả, kể lại của người dân từ đó thống kê
Trang 12các vấn đề liên quan, giải quyết các câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ luận án
đề ra
Đây là những phương pháp đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện luận án, bởi chỉ từ các tư liệu thực tế và cụ thể mới giải quyết tốt được nội dung mà luận án đề ra
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật trang trí trên trang phục của cả hai nhóm địa phương Phù Lá
- Xây dựng những khái niệm, giới thuyết khoa học về nghệ thuật trang trí trên trang phục
- Trên cơ sở những đặc trưng nghệ thuật trang trí của trang phục để tìm hiểu phong tục tập quán và những thực hành văn hóa xã hội trong tộc người
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Tổng hợp có hệ thống tư liệu về nghệ thuật trang trí trên trang phục của
người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam
- Xác định những giá trị nghệ thuật trang trí trên trang phục của người
Phù Lá Giải mã các biểu tượng dùng trang trí trên trang phục để tìm hiểu bản
sắc, văn hóa tộc người
6.2 Về mặt thực tiễn
- Nghiên cứu của luận án góp phần bảo tồn, gìn giữ những yếu tố văn
hoá truyền thống, những giá trị thẩm mỹ của người Pu La và Xá Phó
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm nguồn tư liệu tham khảo cho các nhà quản lý văn hoá, du lịch trong vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc truyền
thống, phát triển kinh tế trong văn hoá đặc thù của dân tộc…
Trang 137 Cơ cấu của luận án
Toàn bộ luận án (195 trang), gồm 4 chương, phần mở đầu (6 trang), kết luận (6 trang); phần chú thích, tài liệu tham khảo và phụ lục (46 trang)
Nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận
(29 trang) Chuơng 2: Người Phù Lá và quá trình chế tác trang phục (33 trang) Chuơng 3: Đặc trưng mỹ thuật trên trang phục truyền thống của người
Phù Lá ở Tây Bắc (41 trang) Chương 4: Một số vấn đề bàn luận (34trang)
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về tộc người và thành phần dân tộc
Ở nước ta, việc tiếp, cận nghiên cứu từ nhiều hướng về dân tộc Phù Lá cho đến thời điểm này vẫn còn nhiều hạn chế Từ năm 1945 trở về trước, ở trong nước chưa có một công trình nào Trong công trình nghiên cứu tác giả
Đỗ Đức Lợi có dẫn: Sách Kiến văn tiểu lục từ thế kỷ XVIII của Lê Quý Đôn
đã nhắc đến một tộc người có tên gọi “Phổ” [39, tr.37] - một trong những tên
gọi của người Phù Lá Mãi đến năm 1924, trong trang 185 của cuốn Les races du Haul - Tonkin de Phong Thổ à Lạng Sơn được tác giả người Pháp
M.Abadie có nhắc đến tên “Lao Pạ” - là tên tự gọi trong nhóm địa phương của người Phù Lá
Thực tế, trước năm 1954, chúng ta chưa thể xác minh được có bao nhiêu dân tộc ở Việt Nam Trước tình hình đó, năm 1960, Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ (Uỷ ban Dân tộc và miền núi) đã công bố bản danh mục các thành phần dân tộc ở nước ta gồm 60 dân tộc Tại thời điểm ấy, miền Nam còn thuộc chế độ nguỵ quyền và các phương pháp điều tra, khảo sát, tiêu chí… chưa thực sự phù hợp, còn nhiều bất cập, hạn chế
Những năm 70 của thế kỷ XX, khi xác định lại các thành phần dân tộc việc nghiên cứu về người Phù Lá được thực sự quan tâm hơn Đó là việc dựa trên quan niệm chính của các nhóm địa phương Phù Lá và các dân tộc láng giềng về sự đồng nhất giữa các nhóm, các nhà khoa học nhiều lĩnh vực đã cùng tiến hành điều tra nghiên cứu
Năm 1973, tác giả Phạm Đức Dương khi nghiên cứu: Một vài cứ liệu ngôn ngữ về sự thân thuộc giữa các tộc người thuộc nhóm Tạng - Miến ở Bắc
Trang 15Việt Nam [tr.64-67] đã phân loại tiếng nói của một số nhóm ở các địa phương
để tìm sự giống và khác nhau như tiếng nói của nhóm Xá Phó ở Bảo Thắng giống với nhóm Phù Lá ở Bát Xát Cũng trong năm 1973, tác giả Nguyễn
Văn Huy với Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ tộc người giữa hai nhóm Phù
Lá, Xá Phó [tr.69-71] đã nêu, phân tích tên gọi và cấu tạo tên gọi của hai
nhóm Trong bài viết có đưa tên bà Hoàng Thị Thá - đại biểu Quốc hội người
có đủ các nhóm người để so sánh (trừ các nhóm không ở Việt Nam) mà các tỉnh khác không có” Hiện nay thành phần nhóm của dân tộc này đã có sự thay đổi Tuy nhiên, Lào Cai vẫn là một tỉnh có đông đảo các nhóm Phù Lá và
có dân số Phù Lá cao nhất nhưng theo chúng tôi khảo sát nhóm Phù Lá Hán
và Phù Lá Đen đã sát nhập làm một Do đó, trên thực tế chỉ còn hai nhóm Xá Phó và Pu La Phần nhận xét cuối, tác giả Lục Bình Thuỷ và Nông Trung cho rằng người Xá Phó và Phù Lá có mối quan hệ nhất định với nhau… và là một dân tộc nên để tộc danh là Phù Lá là hợp lý
Trang 16Năm 1978, trong ấn phẩm Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học, các nhà khoa học cũng nhận định rõ đây là
một cộng đồng người (một dân tộc) gồm nhiều nhóm địa phương Mỗi nhóm vẫn tồn tại một hay nhiều tên gọi hoặc tên tự gọi khác nhau nhưng các tên gọi
ấy chưa thể đại diện cho cả tộc người Vì thế tên gọi Phù Lá là tên gọi chung bao quát cho tất cả các nhóm
Năm 1979, trong bản thông kê Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam đã công nhận dân tộc Phù Lá có bốn nhóm địa phương chính là Xá Phó
(Phù Lá Lão), Phù Lá Đen, Phù Lá Hán và Phù Lá Hoa - họ là một trong 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên lãnh thổ của Việt Nam Dân tộc Phù Lá và các dân tộc Hà Nhì, Lô Lô, La Hủ, Si La, Cống được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng
1.1.2 Nghiên cứu về trang phục, văn hoá tộc người
Sau chiến tranh biên giới việc nghiên cứu về người Phù Lá dường như bị gián đoạn Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, nhóm Phù Lá Hoa đã chuyển dịch sang Trung Quốc; Nhóm Phù Lá Đen có hiện tượng sát nhập vào nhóm Phù Lá Hán Về cơ bản, nước ta chỉ còn hai nhóm địa phương Xá Phó (Phù Lá Lão) và Pu La (Phù Lá Hán) Do sự di chuyển xáo trộn của các nhóm địa phương nên các ấn phẩm được xuất bản về người Phù Lá ở giai đoạn này không nhiều Tác giả Thái Bá Đồng (1981) với “Đôi nét về quan hệ xã hội, dòng họ và hôn nhân gia đình của người Xá Phó ở Bảo Thắng (Hoàng Liên
Sơn)”, Sưu tập Dân tộc học, tr.54-57 Năm 1982, Doãn Thanh đã sưu tầm và biên soạn về Truyện cổ của người Phù Lá, Nxb Văn Hoá, Hà Nội Vì dân tộc
Phù Lá không có chữ viết và những câu chuyện được ghi chép lại qua những lời kể của người già Có thể coi ấn phẩm là tác phẩm văn học dân gian của người Phù Lá
Trang 17Đến những năm 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về người
Phù Lá đã xuất hiện nhiều hơn Năm 1994, Giữ gìn phát huy tái bản Văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc có bài viết “Văn hoá Xá Phó trong nền văn hoá các dân
tộc Yên Bái” của tác giả Phạm Tuất Năm 1995, Xuân Mai, “Múa dân gian
của dân tộc Xá Phó”, Tạp chí Văn hoá dân gian, (4), tr.29-34 Tác giả viết về
các khuôn múa của người Xá Phó Tác giả mô tả các động tác chân, tay và đội hình di chuyển của từng điệu múa… Từ các điệu múa tác giả đã giới thiệu sơ lược về trang phục của đồng bào Tác giả Mai Thanh Sơn (1995) với chuyên
khảo “Một vài tư liệu lịch sử người Phù Lá (qua việc tìm hiểu tộc danh)”, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr.58-64 đã đề cập đến “sự xuất hiện của người Phù Lá ở
Việt Nam với tư cách là một dân tộc học có đặc trưng văn hoá riêng” Trong nghiên cứu, khi tìm hiểu, phân tích tộc danh của hai nhóm Xá Phó (Phù Lá Lão) và Phù Lá (Phù Lá Hán), tác giả cho rằng họ có quan hệ với hai nhóm
“Lục Mễ”, “Phác Thích” là tên gọi trong 20 tên gọi thuộc thổ ngữ (20 nhóm) khác nhau của dân tộc Di ở Trung Quốc
Từ những cứ liệu về ngôn ngữ và nhất là về tộc danh, chúng tôi cho rằng các nhóm Phù Lá ở Bắc Việt Nam có thể được tách ra từ hai nhóm địa phương của dân tộc Di hiện đang phân bố chủ yếu ở nam Trung Quốc [tr.60]
Phần trang phục được đề cập:
… căn cứ vào đặc điểm trên trang phục phụ nữ - mặc áo có thả một dải vải có trang trí hoa văn ở phía sau - mà gọi là “Nhìu Vây Pa Phù Lá” tức “Phù Lá Đuôi Trâu” [tr 58] và … Hoa Phù Lá chỉ là một cách gọi khác đối với người Phù Lá Lão căn cứ theo đặc điểm trang phục của họ mà thôi [tr.59]
Tác giả có nhận xét:
Tuy nhiên, sự khác biệt trong các đặc trưng văn hoá của hai nhóm cũng là một thực tế không thể phủ nhận được Đó là kết quả của một quá trình phân hoá lâu dài dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội khác nhau Quá trình đó (đương nhiên là hiện nay chưa kết thúc) hoàn toàn không khởi đầu mới đây trên phạm vi lãnh thổ nước ta [tr.60]
Trang 18Năm 1997, Võ Mai Phương, Vi Văn An với “Trang phục truyền thống
của người Xá Phó ở Lào Cai”, Tạp chí Văn hoá dân gian, (1), tr.37- 44 Bài
viết có khảo tả về trang phục, nêu một số hoa văn trang trí y phục, sau đó tác giả đã đưa ra cách nhìn nhận của mình về trang phục truyền thống và nguyên nhân của một số biến đổi trên trang phục Ở bài viết khác, tác giả Võ Mai Phương (1997), “Một vài nhận xét về phong cách trang trí trên trang phục Xá
Phó ở Lào Cai”, Tạp chí Dân tộc học, (1), tr.61-67 Có thể nhận thấy đây là
bài viết đầu tiên chuyên về trang phục của người Xá Phó ở Lào Cai Tác giả
đã giới thiệu bằng hình thức mô tả một số hoa văn, màu sắc được sử dụng trang phục Tác giả cũng khẳng định:
Việc trang trí các thể loại hoa văn không chỉ dừng lại ở một giới hạn, góc độ nhận thức nào đó mà nghiên cứu nó, chúng ta hiểu thêm được nền “phong hoá” của dân tộc họ và mối quan hệ qua lại của trang phục Xá Phó với các dân tộc cộng cư [tr.67]
Năm 1997, Sách Hoa văn trên vải các dân tộc Đông Bắc Bắc Bộ Việt Nam do Diệp Trung Bình chủ biên, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Đây là
cuốn sách viết chuyên khảo, các tác giả đã dành cả chương IV để giới thiệu về trang phục và hoa văn trang trí của hai tộc người là Lô Lô và Phù Lá thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến nhưng ở vùng Đông Bắc, Việt Nam Mục II, hoa văn trên vải dân tộc Phù Lá [tr.162-178], đã giới thiệu về hoa văn trên y phục của nhóm Phù Lá là Phù Lá Xá Phó và Phù Lá Hoa với nhiều mẫu nghiên cứu điển hình cho phương thức trang trí hoa văn của người Phù Lá Các mô típ hoa văn được tác giả mô tả theo một cách chung chung như hình răng cưa, sóng nước, hình tam giác, đường thẳng khắc vạch:
+ Hoa văn hình sóng nước: màu vàng trên nền đỏ, 2 phía trên dưới là các đường viền chạy song song các mảng đồ án chính”
+ Hoa văn hình chữ thập có hình thoi ở điểm chót đứng cạch nhau”…[tr.163]
Trang 19Cuốn sách có giới thiệu trang phục hai nhóm địa phương của dân tộc Phù Lá; khi khảo tả các mẫu áo, yếm, váy của mỗi nhóm, tác giả đều để ảnh minh hoạ giúp người đọc có cái nhìn cụ thể về hình mẫu hoa văn trang trí trên trang phục của mỗi nhóm trong tộc người
Năm 1998, Thành Thái, Xuân Mai, “Lễ hội của người Xá Phó”, Tạp chí Dân tộc học (1), tr 46-50 Hai tác giả giới thiệu về vai trò của ông thầy cúng
(apơ) và một số lễ hội và một số điệu múa của người Xá Phó Nổi bật nhất là nghi lễ quét làng “A lềnh gì pờ” (đuổi ma) được tổ chức hàng năm, “mục đích
để mọi người được bình yên, hoa màu tốt tươi, súc vật nuôi không bị ốm, bị chết” Thứ hai là lễ cơm mới “giày xí mà” để “cúng ông bà tổ tiên tạ ơn họ đã dạy bảo cách làm ăn” Thứ ba là lễ đuổi ma hay cúng giải hạn “a thú chin đơ” Khi trong nhà có người ốm nặng người Xá Phó tìm đến thầy cúng để cúng
ma Tác giả mô tả các cách thức xem loại ma của thầy cúng, lễ vật, lời cúng theo các loại ma Có lẽ những nghi lễ này gắn bó với tập tục và không thể thiếu trong vòng đời của người Xá Phó Ở mục 3, tác giả giới thiệu về những khuôn múa của dân tộc thông qua nhịp, động tác tạo ra các đội hình và điệu múa khác nhau Múa vào những ngày lễ hội được mùa, hội xuân trước khi cấm bản… là một hình thức diễn xướng trong lễ hội của người Xá Phó
Năm 2000, tác giả Ngô Đức Thịnh với Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Tác giả đã khái quát về trang phục
của các dân tộc ở nước ta trên phương diện khoa học xã hội Ở chương tám: Phần Trang phục các dân tộc Tạng - Miến, (từ trang 158 - 170) tác giả có những nhận xét chung và cụ thể về trang phục của từng dân tộc trong nhóm (Hà Nhì, Lô Lô, Phù Lá, La Hủ, Cống, Si La) Phần về các nhóm dân tộc Phù
Lá tác giả có viết:
Hiện tại trong thành phần dân tộc Phù Lá có một nhóm người gọi là Xá Phó,
mà trước kia người ta coi đó là một tộc người riêng biệt nhưng nay với những
Trang 20kết qủa nghiên cứu, trong đó có so sánh về trang phục đã gộp người Phù Lá và
Xá Phó trong một dân tộc chung [tr.165]
Khi giới thiệu chung về trang phục tác giả có nhận định: “Ở một vài địa phương vẫn thấy sắc thái nữ phục riêng, do sống xen cài với các dân tộc và chịu ảnh hưởng của các dân tộc láng giềng” Cụ thể “ ở A Lù (Lào Cai) còn
có nhóm Phù Lá ăn mặc khác hẳn”… Trên thực tế, nhóm này đã di cư sang Trung Quốc khoảng từ năm 1978 - 1979
Năm 2002, Mai Thanh Sơn chủ biên, Văn hoá vật chất Người Phù Lá ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Đây là cuốn sách được tác giả dày
công nghiên cứu nhiều năm nên tư liệu điền dã khai thác về môi trường cư trú, công cụ mưu sinh, phương diện vận chuyển, văn hoá ăn uống, hình thái
cư trú và y phục, trang sức của người Phù Lá rất phong phú Trong ấn phẩm
có phân tích và nhận định rõ về hai nhóm hiện tại của dân tộc Phù Lá là Pu La
và Lao Va Xơ (Xá Phó) Trong đó, phần trang phục được tiếp cận về chức năng sử dụng và một số hệ thống hoa văn của hai nhóm Từ phần nghiên cứu
y phục và trang sức tác giả đưa ra nhận xét: “Có thể nói, y phục và trang sức của người Phù Lá đã thể hiện chức năng khu biệt tộc và mỗi nhóm địa phương”…[tr.351] Với phần kết luận, tác giả viết: “không thể phủ nhận được một thực tế rằng, giữa hai nhóm Phù Lá đã và đang có sự khác biệt rất lớn trong văn hoá” Ông cho rằng có thể những sự khác biệt đó “sẽ là một trong những cơ sở cho việc xác minh lại thành phần dân tộc khi có điều kiện”
Năm 2003 Với Văn hoá và nếp sống Hà Nhì Lô Lô, Nxb Văn hoá, Hà
Nội Tác giả Nguyễn Văn Huy đã nghiên cứu về nếp sống văn hoá vật chất, tinh thần và một số phong tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng, văn nghệ dân gian của một số tộc người nhóm Tạng - Miến, trong đó có người Phù Lá Dưới dạng văn hoá vật chất, trang phục được đề cập tới ở mức giới thiệu như: “Tóc tết vấn quanh đầu”[tr.83], nhóm Phù Lá ở Bảo Thắng, Bắc Hà “đội khăn đen
Trang 21tuyền” và nhóm ở Bát Xát “khăn vuông đen, chàm, bốn góc và giữa khăn có tua hạt cườm đính múi bông đỏ, cạnh viền vải màu”[tr.84], “áo năm thân, cài nách phải, cổ cao - tròn; vạt trong dài, may thành túi Thân áo vừa phải; áo cài bằng cúc vải” ”[tr.88],… Nhìn chung, tác giả không đi sâu vào phân tích, đánh giá về trang phục cũng như nghệ thuật trang trí, văn hoá trang phục - thẩm mỹ tộc người… Nhưng trong phần lý giải về tập tục, văn nghệ dân gian
có những căn nguyên để người đọc liên hệ tới biểu trưng của một số tộc người
và biểu tượng trang trí trang phục của một vài nhóm địa phương
Dương Tuấn Nghĩa (2004), “Lễ đuổi ma làng “à nè gì vơ” truyền thống
của người Xá Phó ở tỉnh Lào Cai”, Nguồn sáng Dân gian (1), tr.81-83 Cũng
giống như hai tác giả Thành Thái và Xuân Mai Tác giả mô tả về quét làng đuổi ma: Từ các thao tác chuẩn bị của dân bản, cách thức xua đuổi ma của đoàn đuổi ma đến lần lượt từng gia đình cùng những kiêng kị trong và sau ba ngày lễ của cộng đồng Xá Phó Các tác giả đều nêu cách làm dấu cấm người
lạ vào bản trước và sau ngày đuổi ma Đây là nghi lễ mang tính chất cộng chỉ thực hiện ở nhóm Xá Phó - một nhóm địa phương của người Phù Lá
Đỗ Đức Lợi chủ biên (2005), Văn hoá dân tộc Phù Lá ở Việt Nam, Bảo
tàng các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên Tác giả nghiên cứu trên phương diện Bảo tàng học và văn hoá dân gian về đặc điểm sinh thái nhân văn, dân
cư, văn hoá vật chất, văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần của người Phù Lá trong đó có nhóm địa phương là Xá Phó và Pu La Phần trang phục tuy được tác giả khai thác ở dạng văn hoá vật chất nhưng tác giả cũng nhận định:
Trang phục vừa là sự biểu hiện của văn hoá vật chất vừa biểu hiện văn hoá tinh thần, là sản phẩm của văn hoá dân gian Những giá trị của văn hoá trang phục được gửi gắm vào đường cắt may, màu sắc, nhất là các loại hoa văn trang trí [tr.119 - 136]
Trang 22Tác giả có đưa ra nhiều nét khác biệt trong đời sống văn hoá vật chất, tinh thần… đồng thời cũng có kiến nghị về xác định lại thành phần dân tộc Phần kết luận tác giả viết:
Dân tộc Phù Lá có hai nhóm địa phương, tên tự gọi của nhóm Phù Lá Hán là
Pu La hay Pu La Po, còn tên tự gọi của nhóm Phù Lá Lão là Lão Va Tơ hay
Bồ Khô Pạ Hai nhóm này tuy có chung nguồn gốc từ xa xưa ở bên kia biên giới, nhưng khi họ di cư vào Việt Nam sớm nhất là 200 năm và muộn nhất là
100 năm đã có nhiều diện mạo văn hoá khác biệt nhau Cả hai nhóm đều không
có chữ viết riêng Người Phù Lá Hán nói tiếng Quan Hoả, Người Phù Lá Lão nói tiếng Tạng - Miến Họ ít có mối quan hệ với nhau, trong giao tiếp họ không hiểu được tiếng nói của nhau Hai nhóm đều không tự nhận là một dân tộc [tr.328-329].
Trong chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, năm 2005, tác giả Hoàng Sơn và tập thể Viện Văn hoá - Thông tin đã thực hiện nghiên cứu về
người Phù Lá ở Văn Yên Đến năm 2007, đã ra mắt ấn phẩm Người Phù Lá ở Châu Quế Thượng huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái do Hoàng Sơn chủ biên, Nxb
Văn hoá dân tộc, Hà Nội Với tiêu chí tuyên truyền, giới thiệu ở mức độ phổ thống nhất về các giá trị văn hoá của cư dân Xá Phó tại xã Châu Quế Thượng Sách mang nhiều tính thuật kể về đặc điểm tự nhiên, xã hội, kinh tế và các tập tục, tín ngưỡng gắn với vòng đời con người trong đó ở một số nghi lễ có sự xuất hiện của trang phục Đây là một tư liệu điền dã quý về trang phục mặc dù nhóm tác giả không phân tích nghệ thuật trang trí trang phục nhưng lại cho biết giá trị tín ngưỡng của trang phục nữ trong một số thực hành nghi lễ của người Phù Lá (nhóm Xá Phó): “Trên vách sát mâm cúng được treo bộ quần áo mới của phụ nữ…[tr.118]” hay “Nếu người phụ nữ chết sau chồng thì phải mặc váy ngược”[tr.145] Tại thời điểm này nhóm tác giả cũng đã phục dựng
và ghi hình (DVD) về lễ cúng cơm mới của nguời Phù Lá ở Châu Quế Thượng, Yên Bái
Trang 23Năm 2011, Với mục đích giới thiệu chủ yếu bằng ảnh về các hoạt động thường ngày và sinh hoạt nghi lễ của người Phù Lá với khách nước ngoài và
khách du lịch trong nước, cuốn Người Phù Lá ở Việt Nam do Vũ Khánh chủ
biên, Nxb Thông tấn, Hà Nội đã được in ấn bằng hai ngôn ngữ Việt - Anh Phần giới thiệu về người Phù Lá (do Má Thị Hà là người dân tộc Phù Lá viết) tuy ít nhưng kết hợp với chuỗi ảnh minh hoạ, sách đã độc giả và các nhà nghiên cứu hiểu bao quát được cả dân tộc đặc biệt là trang phục của các nhóm địa phương
Má Thị Hà (2004) với Tín ngưỡng và phong tục của người Xá Phó ở Nậm Sài, Sa Pa, là luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên cứu văn hoá,
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội đã viết rất kỹ về tín ngưỡng và
phong tục của người Xá Phó vì bản thân là người Xá Phó ở Nậm Sài, Sa Pa
nên tác giả luận văn thấm hiểu văn hoá tập tục với sự tự hào về chính quê
hương mình Năm 2009 với “Hát trong đám cưới người Xá Phó Lào Cai”, Di sản văn hoá các dân tộc, (6), tr.7-9 Tác giả đã kể về ngày vui trang trọng
nhất của cả một đời người Xá Phó qua cách tiếp cận theo hình thức tự sự Bài viết mô tả về các nghi lễ gắn liền với tục lệ dưới dạng hát kể như: Hát đối đáp của ông mối từ khi đến nhà gái xin được ăn hỏi đến kết thúc lễ cưới và những
ca từ của bố mẹ cô gái hát kể về công nuôi dưỡng, dặn dò con trước khi về làm dâu nhà người…
Năm 2013, cuốn Trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam, Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội của hai tác giả Đặng Trường - Hoài Thu phát hành Sách giới thiệu về trang phục của 46 tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có trang phục của người Phù Lá (từ trang 261 đến 270) Ấn phẩm đề cập đến nghề dệt vải, trồng bông, trồng lanh và trang phục của nam, nữ Đây là sách giới thiệu về trang phục nhưng chỉ khảo tả sơ lược
Trang 24mục đích để người đọc biết và nhận diện sơ lược về trang phục của một số tộc người trong đó có người Phù Lá
*Từ tổng thuật tư liệu trên đây, chúng tôi rút ra một số nhận định như sau:
- Từ trước năm 1954 đến năm 1979 là giai đoạn ít nghiên cứu về tộc người Phù Lá Các xuất bản chủ yếu nhằm xác định về ngôn ngữ, nhóm ngành; việc nghiên cứu về nghệ thuật trang trí trên trang phục người Phù Lá chưa có tác giả nào nghiên cứu chuyên biệt Một số chuyên khảo có đề cập tới trang phục nhưng là một phần nhỏ trong các phần phân chia nhóm ngành địa phương Chứng tỏ trong giai đoạn này sự phân định các đặc điểm của các nhóm, trang phục đã được dùng làm một trong những căn cứ Có thể coi đó là những cứ liệu rất hiếm quý viết về trang phục trong giai đoạn này Đảng, nhà nước quan tâm, chỉ đạo đường lối chính sách về các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học đã triển khai nghiên cứu về tên gọi, nhóm ngành, ngôn ngữ, phong tục, tập quán cư trú… để tập trung xác định thành phần dân
tộc vào hai đợt đó là 1960 và 1979 Bản Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam năm 1979 được chính thức ban hành và sử dụng đến hiện nay
- Năm 1979, đã xảy ra chiến tranh biên giới Việt - Trung, một số bộ phận người Phù Lá ở hai bên biên giới đã chuyển dịch qua lại Do đó thành phần dân số của dân tộc Phù Lá sau 1979 có một số thay đổi Bốn nhóm địa phương thuộc dân tộc Phù Lá được các nhà nghiên cứu trước đó và được công
nhận trong kê Danh mục thành phần các dân tộc ở Việt Nam đã thay đổi Địa
danh cư trú, số nhóm địa phương của tộc người thay đổi theo biến động của
xã hội Vì vậy, chúng ta sẽ thấy trong các ấn phẩm nghiên cứu thời kỳ trước
và sau này có sự chênh lệch tất yếu
- Những năm 80 đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trang phục của tộc người Phù Lá chưa thực sự được đặt riêng thành vấn đề nghiên cứu
Trang 25- Từ năm 1991 đến nay, đã có thay đổi đáng kể tác động đến dân tộc Phù
Lá đó là: Ngày 12/8/1991, Tỉnh Hoàng Liên Sơn (nơi cư trú đông nhất của nhiều nhóm ngành người Phù Lá) được quyết định tách làm hai tỉnh Lào Cai
và Yên Bái Ngày 26/11/2003 Tỉnh Lai Châu được tách làm hai tỉnh Lai Châu
và Điện Biên Bên cạnh đó, người Phù Lá còn nhiều đợt thay đổi nơi cư trú theo chính sách hạ sơn, định cư của Đảng và nhà nước… Và việc nghiên cứu
về người Phù Lá đã thực sự được quan tâm hơn Nhiều học giả, các nhà nghiên cứu đã có nhiều ấn phẩm chuyên sâu về tộc Phù Lá trong đó có đề cập trang phục của từng nhóm địa phương Khác với trước đây, giai đoạn này có
sự tham gia ngày càng nhiều của các phương tiện truyền thông như truyền hình, internet… Tuy nhiên, phần trang phục tộc người thường được giới thiệu bằng hình thức mô tả nhưng bị lẫn giữa các nhóm với nhau
Nhìn chung, nghiên cứu về nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá ở Việt Nam được các nhà nghiên cứu đề cập muộn và ít hơn: Ở dạng bài chuyên khảo, tiểu mục Hầu hết, nghiên cứu trang phục Phù Lá có được nhắc đến lồng ghép trong văn hoá vật chất, văn hoá vật thể chưa có phân tích, đánh giá Về đời sống văn hóa tinh thần của tộc người được nhiều công trình nghiên cứu, đề cập, có phân tích cụ thể Tuy nhiên nghiên cứu trang phục như
là một thực thể có tác động, có vai trò tới văn hoá tinh thần của mỗi nhóm chưa được khai thác Trong lĩnh vực này trang phục mới được giới thiệu khơi gợi ở góc độ tâm linh Hầu như trang phục chưa được đặt ra là một đối tượng nghiên cứu cụ thể, chuyên biệt, đặc biệt là nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá… Từ những kết qủa nghiên cứu trong lịch sử đã cho chúng
ta thấy trang phục tuy chưa có sự quan tâm thấu đáo, nhưng những nghiên cứu đã hé lộ tâm huyết của một số nhà nghiên cứu dành cho trang phục của dân tộc Phù Lá Họ đã chỉ ra trang phục của từng nhóm Phù Lá ở nhiều khía cạnh tiếp cận khác nhau Đây là những trang tư liệu quý hiếm đã gợi mở, làm
Trang 26sáng tỏ phần nào về lịch sử, văn hoá, xã hội của tộc người mà đề tài đặt ra trong nghiên cứu Tuy nhiên, giá trị nghệ thuật của trang phục hay ý nghĩa của các biểu tượng hoa văn sử dụng trang trí trang phục gắn với đời sống tộc người vẫn chưa được các tác giả đặt ra thành đối tượng nghiên cứu riêng Tại sao nghệ thuật trang trí và các hoa văn trên trang phục của tộc người lại mang tính đặc trưng? Vì sao trang phục được coi là bản sắc văn hoá của tộc người, được cộng đồng tộc người gìn giữ, duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác… vẫn chưa được giải quyết
Luận án sử dụng nguồn tư liệu chính là điền dã và tiếp thu, kế thừa từ những thành quả nghiên cứu của các thế hệ đi trước; bên cạnh đó, luận án còn
là sự nghiên cứu tiếp nối từ kết quả mà nghiên cứu sinh đã đạt được trong
luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2011: “Đặc điểm mỹ thuật trên trang phục người
Xá Phó ở Tây Bắc Việt Nam” Ở luận văn, nghiên cứu tập trung vào những
đặc điểm mỹ thuật, văn hóa thẩm mỹ trên bộ trang phục truyền thống của một nhóm địa phương trong tộc người Phù Lá, đó là người Xá Phó - Trong luận
án, chủ thể nghiên cứu được mở rộng, cách tiếp cận nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá dựa trên cơ sở lý thuyết; chứng minh những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng trên trang phục của cả hai nhóm địa phương Phù Lá Giải mã các biểu tượng dùng trang trí trên trang phục để tìm hiểu những quan niệm, phong tục tập quán, những thực hành văn hóa xã hội và bản sắc văn hoá trong trang phục của tộc người
Đề tài: “Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam” là công trình nghiên cứu chuyên sâu về trang phục được tiếp
cận từ nghệ thuật đến văn hoá tộc người
1.2 Cơ sở lý luận khoa học
Luận án Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá ở Tây Bắc Việt Nam được tiếp cận trên quan điểm, chức năng của văn hóa: Đó là
Trang 27chức năng tâm lý - thích nghi, thích ứng; chức năng thẩm mỹ và chức năng ký
hiệu, biểu tượng
1.2.1 Chức năng tâm lý - thích nghi, thích ứng
Chức năng phản ánh sự thích nghi thích ứng của con người với môi trường sống - hệ sinh thái tại chỗ: Để phù hợp với hệ sinh thái tại chỗ thì trang phục phải thích nghi với địa văn hóa như thuần hoá các cây cho vật liệu
để dệt may, nhuộm màu Vì thế, chất liệu của trang phục, màu sắc… cũng là tín hiệu phản ánh đời sống của cư dân trong vùng cư trú
Trước điều kiện tự nhiên, môi trường, thời tiết, khí hậu… con người luôn nghĩ cách để thích nghi và đáp ứng các nhu cầu của may mặc Việc tạo ra trang phục có chức năng cơ bản là để bảo vệ thân thể; con người đã nghĩ ra cách lấy vỏ cây, da thú để quấn bọc lên mình Theo thời gian, nó được cải biến bằng cách cắt xén hay thêm nối thành hình dáng những bộ trang phục vừa độc đáo, vừa thuận tiện khi di chuyển, khi lao động, săn bắn… Những bước cải biến này đã tạo nên sự khác nhau của trang phục
Từ nhu cầu là che đậy, bảo vệ cơ thể, trang phục dần được phổ quát, thoả mãn tâm sinh lý và có thể thích ứng vào tất cả các mặt của đời sống cộng đồng người sử dụng chúng như trong lao động, trong các nghi lễ, tục cưới, tục tang Vì thế ngoài việc thích ứng trang phục đáp ứng nhu cầu tâm lý về tâm linh của tộc người
Dần dần, cùng với thói quen, phong tục và tâm lý tộc người mà mỗi nhóm đã phác hoạ cho mình những bộ trang phục mang một diện mạo riêng phù hợp Thời gian cùng sự chuyển dịch qua nhiều thế hệ, kết hợp với văn hoá và tri thức bản địa, môi trường cư trú, kỹ thuật cắt may đã góp phần tạo dựng nên dáng hình những bộ trang phục của từng nhóm mang lại những sắc thái đặc biệt cho cộng đồng người đã tạo ra và sử dụng chúng Do đó, ở một phương diện nào đó, trang phục được coi là sản phẩm văn hóa sớm nhất của
Trang 28xã hội loài người Với giá trị vật chất thực dụng nó là một sản phẩm, dưới góc
độ thẩm mỹ nó là một tác phẩm và là đối tượng của thị giác
Chức năng tâm lý - thích nghi, thích ứng được áp dụng trong quan sát điền dã, trong điều kiện tự nhiên, trong thực hành văn hoá và văn hoá trang phục của người Phù Lá Đây là vai trò của trang phục đời sống, văn hoá của tộc người
1.2.2 Chức năng thẩm mỹ
Thẩm mỹ là một trong những chức năng quan trọng của văn hóa bởi con người luôn luôn hướng tới cái đẹp trong cả nội dung và hình thức mà chức năng chủ yếu của thẩm mỹ là làm giàu cho đời sống tinh thần của con người… Chức năng là vai trò, lý do, thước đo thẩm mỹ trong đời sống tinh thần cũng giống như vai trò của những thước đo đạo đức trong đời sống xã hội của tộc người Phù Lá Người phụ nữ làm ra những bộ trang phục đẹp luôn được cộng đồng nể trọng Trong xã hội cổ truyền, quan niệm thẩm mỹ trên trang phục cũng góp phần vào tiêu chí khi chọn vợ của các chàng trai, là tác phẩm nghệ thuật thể hiện cảm quan văn hoá, tư duy sáng tạo, tâm tư nguyện
vọng của các cô gái…
Trang phục luôn gắn với thói quen thẩm mỹ, nó phản ánh cuộc sống, thể hiện qua nhu cầu hưởng thụ và hướng tới cái đẹp của con người Làm đẹp trên
bộ trang phục là đáp ứng nhu cầu của con người nhưng đối với mỗi dân tộc nhu cầu ấy được biểu đạt khác nhau, tạo thành dấu ấn, bản sắc, nét độc đáo của tộc người Cũng có thể trong một tộc người tồn tại một, hay nhiều nhóm mang y phục đồng nhất hoặc khác biệt Đó là dấu hiệu độc đáo, khu biệt giữa những người đồng tộc, khác tộc Tiếp cận từ nhu cầu, thị hiếu thẩm mỹ trên trang phục của mỗi nhóm sẽ giúp chúng ta nhận diện ra họ
Luận án dựa trên quan điểm coi thẩm mỹ là khách thể để con người tiếp nhận và tự thanh lọc, khắc phục… để hướng tới những chuẩn mực, theo
Trang 29phong tục, tâm lý của tộc người Để những bộ trang phục trở thành truyền thống luôn được cộng đồng tộc người thừa nhận, lưu truyền qua các thế hệ và trở thành bản sắc, văn hoá tộc người
Chức năng thẩm mỹ là đặc trưng của văn hoá nghệ thuật, vì vậy việc phân tích những đặc điểm mỹ thuật trên trang phục của tộc người là để chứng minh những giá trị văn hoá nghệ thuật độc đáo trong văn hoá thẩm mỹ của người Phù Lá Nghiên cứu trang phục trên thực địa từ sinh hoạt thường nhật đến sinh hoạt nghi lễ của các nhóm địa phương Phù Lá để tìm hiểu một cách trọn vẹn về trang phục qua những thực hành văn hóa và cách cộng đồng Phù
Lá hành xử với trang phục như thế nào Kết hợp sự diễn giải từ người dân, nghệ nhân, già làng và từ các nhà nghiên cứu để làm rõ những đặc trưng của nghệ thuật trang trí trong bản sắc văn hoá của tộc người
Những biểu đạt khác nhau trên trang phục của người Phù Lá đã tạo nên
sự đa dạng trong nhóm địa phương và là dấu ấn riêng - bản sắc của tộc người Chức năng thẩm mỹ được áp dụng trong việc phân tích những giá trị nghệ thuật đặc trưng trên trang phục trong văn hoá tộc người ở chương 3 Ngoài ra chức năng thẩm mỹ còn thoả mãn văn hoá tinh thần trong tiểu mục 2.4.2 thuộc chương 2 của luận án
1.2.3 Chức năng ký hiệu, biểu tượng
Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá là một biểu hiện văn hoá được ký hiệu hoá thành những biểu tượng được cả cộng đồng chấp nhận xem đó như một hình mẫu - bản giá trị định hướng
Biểu tượng chính là “ngôn ngữ tượng trưng” chỉ có ở loại người và là “tế bào” của văn hoá Cho nên tìm hiểu biểu tượng cũng chính là tìm hiểu văn hoá… Quá trình tìm hiểu và nhận thức về biểu tượng là quá trình nắm bắt biểu đạt thông tin có trong biểu tượng Qua đó con người có thể nhân thức sâu sắc về đời sống của chính bản thân mình nhằm góp phần biến đổi một cách lớn lao trong sự phát triển một cách toàn diện về nhân cách của anh ta Vì thế biểu
Trang 30tượng có một chức năng quan trọng nhất, là sự điều tiết và định hướng trở lại đời sống xã hội Đó là tính văn hoá của biểu tượng [105]
Chúng ta có thể thấy, trang trí trên trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta có ngôn ngữ tạo hình mang tính biểu tượng rất cao Trang trí trang phục của mỗi tộc người đều có những yếu tố khu biệt Với người Phù
Lá, việc sáng tạo và sử dụng các mô típ hoa văn trang trí phải trải qua nhiều thế hệ, được cộng đồng cùng thừa nhận bảo lưu, duy trì mới được coi là biểu tượng, khuôn mẫu biểu trưng cho tộc người
Tìm hiểu ý nghĩa, biểu tượng thông qua biểu đạt của tạo dáng, màu sắc,
bố cục của các hoa văn trang trí trên trang phục với đời sống ứng dụng, đời sống tâm linh của người Phù Lá, chúng ta sẽ giải mã được bí ẩn, nguyên nhân sâu xa hay những thông điệp về văn hoá tập tục, tri thức dân gian… của các thế hệ cổ xưa truyền lại cho con cháu trong dòng tộc
Tiếp cận phương pháp phân tích các biểu tượng biểu trưng trên trang phục luận án dựa trên ba quan điểm: Một là, hình thức bên ngoài và các đặc tính có thể quan sát được; Hai là, theo quan niệm, giải nghĩa của những người làm ra và sử dụng trang phục; Ba là, những suy luận từ những ngữ cảnh đặc biệt của các nhà nghiên cứu
Dựa trên những quan điểm này, luận án đã tìm hiểu giải mã các biểu tượng trang trí trang phục của các nhóm địa phương của tộc người Phù Lá ở chương 4 Bởi trong nghiên cứu nghệ thuật trang trí trên trang phục, chức năng của biểu tượng là sự hiện diện của mối tương quan giữa hình thức và nội dung qua các quy ước của tộc người tạo nên ý nghĩa của những biểu tượng Ý nghĩa của các biểu tượng sử dụng trong trang trí trang phục không hoàn toàn biểu hiện nội dụng qua hình thức biểu đạt mà chỉ ám thị, liên tưởng tới nội dung Đối với người Phù Lá những kinh nghiệm trong may vá và trang trí của dòng họ, gia đình tuy là bí truyền nhưng vẫn chịu sự chi phối, thống nhất
Trang 31chung của tộc người Vì thế nó vẫn có tính chất khuôn mẫu riêng theo suốt chiều dài lịch sử tồn tại, phát triển của tộc người
Hệ thống biểu tượng cũng chính là hệ thống các khuôn mẫu văn hoá, nó quy định mọi hành vi ứng xử của con người và “kiểu hoạ” cho lối sống Quá trình
“giải mã” các biểu tượng cũng nhằm mục đích thấy được kiểu lựa chọn khác nhau về văn hoá giữa cộng đồng này với cộng đồng văn hoá khác Mô hình lựa chọn đó sẽ tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng - dân tộc[105]
Nghệ thuật trang phục xuất phát từ thực tiễn, nhu cầu của cuộc sống, kinh nghiệm và trí tuệ tác động trực tiếp tới cảm xúc, tưởng tượng, sáng tạo cái đẹp, khi được cả cộng đồng thừa nhận thì nó trở thành sắc thái chung - văn hoá tộc người
Ngược lại, khi chúng ta nghiên cứu tạo dáng trang phục và màu sắc của các mảng đồ án hoa văn trang trí trên trang phục có nghĩa là đi từ thông điệp, tín hiệu đến giải mã để phân tích, cũng như tìm hiểu về tính thẩm mỹ, tâm lý tộc người, về điều kiện vật chất và một phần giai tầng văn hoá xã hội đã lắng đọng, tích tụ trong đó Chính điều đó đã trở thành thói quen trong tâm thức mỗi con người và rộng hơn trong cả cộng đồng
Nghiên cứu này, lấy nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù
Lá làm chủ thể để tìm đến các chức năng của văn hoá tộc người đó là chức năng tâm lý - thích nghi, thích ứng, chức năng thẩm mỹ, chức năng ký hiệu, biểu tượng Bởi trang phục và những hệ thống mô típ hoa văn, màu sắc… trang trí, luôn gắn với ý nghĩa tộc người Nó đã trở thành truyền thống, biểu tượng được cộng đồng người sử dụng diễn giải ý nghĩa theo những cách vô thức như thể nó đã đi sâu vào tiềm thức, vào bản năng một cách tự nhiên như
nó vốn có Đó là tích tụ của sự yêu thích, cách thức sử dụng màu sắc, bố cục hoa văn, cách mô phỏng thiên nhiên, tư duy sáng tạo trong nghệ thuật tạo hình dân gian đã hình thành tiệm tiến trong quá trình thích nghi văn hoá và phát triển của lịch sử tộc người
Trang 32Nghệ thuật thể hiện nhu cầu, ước muốn của con người thông qua ký hiệu, biểu tượng Nghiên cứu tiếp cận, giải mã các biểu tượng trang trí trên trang phục của các nhóm địa phương và những biến đổi trang phục của người Phù Lá, để tìm hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa, xã hội… của tộc người
1.2.4 Một số khái niệm
1.2.4.1 Khái niệm về trang phục
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì trang phục bao hàm “quần áo, cách ăn
mặc” hay y phục là “quần áo, cách mặc nói chung” [102, tr.1683] Còn theo tác giả Đỗ Đức Lợi:
Trang phục gồm có y phục và trang sức Y phục là thuật ngữ dùng để chỉ các đồ được mặc, khoác, quấn lên người như: áo, quần, váy, khố, khăn, yếm, xà cạp… còn trang sức là đồ dùng trang trí cho con người như các đồ dùng trang trí trên tóc, trang trí trên da thịt (săm hình), trang trí trên răng (nhuộm răng đen, cà răng…) vật liệu bằng các chất liệu quý đeo vào người như: vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khuyên tai… và vác loại vật chất khác nhau trang trí trên y phục… [39,tr.120]
Luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hoá học Hoa văn trên trang phục cổ truyền của người Dao ở miễn núi phía Bắc Việt Nam (2012) của tác giả
Nguyễn Ngọc Ân có viết về trang phục:
Y phục và trang sức bao gồm những đồ để mặc như: quần áo, váy…, để đội như: khăn, mũ, nón… và để đi như: giày, dép, ủng… Ngoài ra trang phục còn
có thêm thắt lưng, găng tay và các bộ đồ trang sức đi cùng gồm các vật dụng dùng để trang trí ở cổ, ở tay, chân, ở tai v.v [ 2, tr.42]
Trong luận án, chúng tôi coi trang phục là cách gọi chung cho y phục và các phụ kiện trang sức trang trí đi kèm y phục để làm đẹp, để tôn, khẳng định giá trị của người sử dụng… Tuy đối với một số cá nhân thì đó là thời trang, phong cách, gu thẩm mỹ… tạo ấn tượng riêng biệt theo nhiều cách khác nhau
Trang 33nhưng với một cộng đồng người, một dân tộc cùng sử dụng nó thể hiện tính chất tộc người, giá trị văn hoá
Theo tác giả luận án, trang phục là quần, áo, váy… dùng để mặc được con người làm ra để phục vụ cho cuộc sống của mình Trang phục có tính sáng tạo, tính sử dụng, mang giá trị văn hoá, thẩm mỹ, lịch sử…
1.2.4.2 Khái niệm về nghệ thuật trang trí
Một số khái niệm được sử dụng trong nghệ thuật, nghệ thuật trang trí trang phục gồm: Bố cục, hoạ tiết, hoa văn, mô típ là những thuật ngữ luận án
sử dụng được giải thích như sau:
Thứ nhất, “nghệ thuật là phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt
tư tưởng tình cảm bằng hình tượng” [102, tr.1193]; “nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng tình cảm” [52, tr.871]
Với quan niện hiện đại, định nghĩa nghệ thuật thường phản ánh những tiêu chuẩn thẩm mỹ Trong mỹ thuật, nghệ thuật là sự sáng tạo của con người thông qua cảm xúc nghệ thuật, sự quan sát tinh tế và đôi bàn tay khéo léo Nghệ thuật phản ánh các tiêu chuẩn, đẹp, khéo và sáng tạo… [44, tr.110, 111] Nghệ thuật “trang trí là sắp đặt, bố trí, tạo nên sự cân đối hài hoà, đẹp mắt” [102, tr.1683]; cụ thể hơn “trang trí là bố trí các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra một sự hài hoà, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó”[52, tr.1308] Trang trí là “nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người Nhờ có các yếu tố trang trí, các vật dụng vừa có giá trị thẩm mỹ vừa nâng cao được giá trị sử dụng” … [44, tr.134]
Thứ hai, bố cục là “tổ chức, sắp xếp một cách hợp lý giữa các phần để tạo thành một tác phẩm hoàn chỉnh”[98, tr.185]
Trang 34Bố cục một tác phẩm trang trí trên trang phục là sự kết hợp của các lớp hoa văn, hoạ tiết, to - nhỏ, đơn giản - phức tạp, có nội dung, vị trí khác nhau làm nên vẻ đẹp của tổng thể
Trong nghệ thuật trang trí trang phục, bố cục thường có yếu tố chính, phụ được sắp xếp trong một khuôn hình nhất định mà ở đó các yếu tố phụ có vai trò liên kết, làm tôn phần chính để tạo thành một chỉnh thể chặt chẽ, hài hoà nhưng khi bóc tách các lớp hoa văn ở các phần chính hay phụ nó vẫn có thể đứng độc lập như là một tác phẩm
Khi nghiên cứu viết giáo trình giảng dạy cho chuyên ngành mỹ thuật, tác
giả Đặng Quý Khoa có khái quát về bố cục trong Giáo trình bố cục (1992)
như sau:
Bố cục là phương pháp làm việc mang tính chiến lược, trước khi đi vào diễn tả hoàn chỉnh, nhằm xác định hình thức biểu đạt hữu hiệu nhất cho việc xây dựng nên một hình tượng nghệ thuật - một nội dung Quá trình này không chỉ mang yếu tố kỹ năng, kỹ thuật mà là quá trình sáng tạo ra hình thức gắn chặt với nội dung nhất định nào đó Nó là sự suy tính, và hình dung trước các bước cho việc hoàn thành cuối cùng [36, tr.4]
Thứ ba, hoạ tiết, hoa văn là một yếu tố sử dụng trang trí nhưng hoa văn
có nghĩa rộng hơn hoạ tiết
Hoạ tiết là “hình vẽ đã được cách điệu hoá, dùng để trang trí” [52, tr.581] “Hoạ tiết trang trí phải có hình thể rõ (đường nét cụ thể, dứt khoát, có hình thể độc đáo) được sáng tạo theo lối vẽ đặc trưng của trang trí [44, tr.87] Hoa văn là “hình trang trí có tính chất đặc thù của tộc người thường vẽ, dệt, khắc, chạm trên đồ vật” [102, tr.814]… Trong nghiên cứu Lý thuyết về hoa văn, Natalia Kraevskaia có viết: Hoa văn là một thành phần cơ bản của
nghệ thuật trang trí [43, tr.11] Hoa văn được xác định là có từ thời kỳ đồ đá
cũ (chính xác là đầu thời kỳ đồ đá cũ, khoảng 15 nghìn - 10 nghìn năm trước Công nguyên)… Hoa văn tiếng la tinh là ornamentum - làm đẹp, trang trí
Trang 35Theo tác giả tổng kết từ đa số các bách khoa toàn thư và từ điển thì hoa văn được định nghĩa “là hoạ tiết gồm các yếu tố được sắp đặt theo một tiết tấu nhất định với công năng trang trí cho các đồ vật hoặc công trình kiến trúc” [43, tr.4]… Khi tìm hiểu chức năng của hoa văn tác giả còn nhận định “hoa văn là một trong những loại hình nghệ thuật truyền thống nhất, có quy ước chặt chẽ từ xa xưa và lại có ít sự thay đổi” [43, tr.6]
Thứ tư, mô típ là “yếu tố cơ bản trong việc tạo lập đề tài của tác phẩm nghệ thuật” [102, tr.1132] hay nói cách khác mô típ và hình tượng, hoạ tiết kết hợp thành hoa văn Các hình tượng, hoạ tiết - bộ phận giống của hoa văn khi được lặp lại tạo ra mô típ
Qua tổng hợp các khái niệm về nghệ thuật trang trí, theo tác giả luận án thì: Nghệ thuật trang trí trang phục của một dân tộc là dùng các hoạ tiết, hoa văn trong đời sống, cách điệu chúng thành những biểu tượng có giá trị văn hoá Khi phối hợp bố cục, hoa văn, màu sắc với nhau theo một cách thức riêng của tộc người tạo thành những mô típ có ý nghĩa… để trang phục có giá trị thẩm mỹ hơn
1.2.4.3 Khái niệm về biểu tượng
Khái niệm về biểu tượng ở trên thế giới và ở Việt Nam đến nay vẫn là một khái niệm đầy bí ẩn Trong tiếng Hán, “biểu tượng là một hình tượng nào
đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng” [105]
Theo Từ điển Tiếng Việt, biểu tượng có nhiều nghĩa, nghĩa thứ nhất là:
“hình ảnh tượng trưng”; nghĩa thứ hai là: “hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt”…[52, tr.99]
Có thể nói biểu tượng là hình ảnh, là cái gì đó đại diện cho một ý tưởng,
là thực thể vật chất hoặc một quá trình… được khái quát hoá, điển hình hoá,
Trang 36tượng trưng mang tính chất thông điệp, được sử dụng để nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó theo mối quan hệ ước lệ giữa sự vật bên trong với sự vật ngoài
Biểu tượng trong tạo hình có tính chất hiện diện bằng sự vật có hình ảnh hoặc đại diện cho một cái gì đó nhằm gợi lên những ý nghĩa theo sự liên tưởng, tưởng tượng
Trong nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Phù Lá, từ tạo dáng, màu sắc đến các mô típ hoa văn đều có ý nghĩa gắn với các nhóm của tộc người; trở thành tiêu chí, khuôn mẫu cho cộng đồng sử dụng thì nó được coi
là biểu tượng chung của tộc người ấy Biểu tượng không chỉ biểu thị cái đã hoàn thành trong quá khứ, hiện tại mà còn ở cái đang phát triển, nó chứa đựng nhiều ý nghĩa gắn với mỗi tộc người Biểu tượng có thể biểu thị cho khát vọng của con người muốn vươn tới sự vẹn toàn về trí tuệ, đạo đức, quyền sống.v.v
Biểu tượng hoa văn trang trí trên trang phục còn là hình ảnh tượng trưng mang tính chất thông điệp, được sử dụng nhằm chỉ một ý nghĩa nào đó theo mối quan hệ ước lệ giữa sự vật bên trong với sự vật bên ngoài Vì thế nó có tính ước lệ cao, có biểu hiện mang giá trị nhân văn, có tính thiêng và những điều kiêng kỵ
Biểu tượng dùng trang trí trang phục của các dân tộc ít người sinh sống
ở vùng núi nước ta dường như có sự kết hợp hài hoà giữa khái quát điển hình hoá từ tự nhiên được đúc kết thành những giá trị văn hoá Các hình thức và nội dung trang trí trên trang phục của một cộng đồng, một tộc người cùng thừa nhận và sử dụng chung thì nó trở thành biểu tượng trang trí của dân tộc
ấy Do đó, biểu tượng dùng trong trang trí trang phục có thể coi là hệ tiêu chí quan trọng để thể nghiệm, minh chứng cho mẫu hình thị hiếu thẩm mỹ và hình thức văn hoá, nghệ thuật đặc trưng của từng tộc người
Trang 371.3 Những vấn đề chung về tộc người Phù Lá
1.3.1 Thuật ngữ dân tộc và tộc người
Vấn đề xác định thành phần dân tộc, tộc người không đặt ra với các quốc gia một dân tộc Một số quốc gia đa dân tộc cũng không khuyến khích xác định thành phần dân tộc (Thái Lan, Indonexia…) Với Việt Nam, xác định thành phần dân tộc có ý nghĩa quan trọng để phục vụ cho xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc: Thứ nhất là, tôn trọng tên gọi và bản sắc văn hoá các dân tộc Thứ hai là, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng dân tộc Thứ ba là, đảm bảo đoàn kết dân tộc Thứ tư là, góp phần phục vụ các chính sách phát triển kinh tế xã hội ở các vùng dân tộc có trình độ khác nhau Thứ năm là, phục vụ công tác tổng điều tra dân số toàn quốc 10 năm một lần
Để xác minh thành phần các dân tộc, các nhóm địa phương trong cùng một dân tộc ở nước ta, là việc cần rất nhiều thời gian thảo luận giữa các giới nghiên cứu, các cơ quan liên ngành, đồng bào các dân tộc… mới có thể đi đến thống nhất Trong vấn đề về tộc người Phù Lá, luận án chỉ bàn về các thuật ngữ về tộc người đã được sử dụng trong các văn bản, ấn phẩm ở nước ta Trước hết, thuật ngữ tộc người được hiểu như thế nào? Trên thế giới thuật ngữ tộc người là một trong những khái niệm đã được các nhà nhân học, dân tộc học… sử dụng từ thế kỷ XX: Khoảng từ những năm 30, thuật
ngữ này được dùng trong giới nhân học Pháp với các nghiên cứu của Mallere,
Taboulet và phổ biến hơn vào những năm 60 ở Pháp, Liên Xô [69, tr.64] Tiếp đó, thuật ngữ này ngày càng được nhiều nước chấp nhận cho tới nay Tuy nhiên, tiêu chí để xác định cũng có những thay đổi tuỳ theo từng quốc gia Ban đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người (groupe ethnie), hay đơn vị tộc người (unité Ethnie) Trong Dân tộc học, khi đó Ethnie tương ứng như ethnos, ethikum, ethnea,…[103]
Trang 38Ở Việt Nam, vấn đề tộc người và phân loại tộc người là những vấn đề đã
có tác động thực tiễn đến công tác dân tộc, xác định thành phần dân tộc và nghiên cứu văn hóa các dân tộc Vậy, vấn đề dân tộc và tộc người được xác định như thế nào?
Công tác xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam được đặt ra sau năm
1954 nhưng phải đến năm 1960 chúng ta mới có bản danh mục xác định thành phần dân tộc Từ đó đến nay đã có hai lần khảo sát nghiên cứu để đưa ra danh mục thành phần các dân tộc vào năm 1960 và 1979
Khi nghiên cứu, chúng ta đã xác định cách dùng thuật ngữ dân tộc và tộc người Cách gọi dân tộc Việt Nam (Etat Ethnic/Nation) bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, dân tộc Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, tộc người (Minority Ethnic groupe ) cùng sinh sống trên một lãnh thổ Vì là một quốc gia đa dân tộc nên cách gọi tộc người ở nước ta
là chỉ một trong 54 thành phần dân tộc anh em và cũng có thể gọi là dân tộc (Ethnic)
Dân tộc Việt Nam có phải là một cộng đồng tộc người thuộc loại hình dân tộc hay không, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đó là loại hình cộng đồng người thuộc Etat Ethnic/Nation Theo cách hiểu này, Dân tộc ngoài các yếu tố cấu thành ngôn ngữ, văn hoá, tự giác tộc người,… còn bao hàm cả các yếu tố chính trị, thể chế Dân tộc Việt Nam (Etat Ethnic/Nation) bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, Dân tộc Việt Nam là khối cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều dân tộc/tộc người (Minority Ethnic groupe ) hợp lại [103].
Tóm lại khái niệm về dân tộc được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa rộng, dân tộc - quốc gia là một cộng đồng người hình thành ổn định lâu dài trong lịch sử
và có năm đặc trưng: Chịu sự quản lý của một nhà nước; Có địa bàn sinh sống
và là nơi cộng đồng khẳng định lãnh thổ của mình (có lãnh thổ chung); Có phương thức sản xuất chung (vì họ sống một môi trường cơ bản giống nhau,
Trang 39chịu sự quản lý của một nhà nước…); Có ngôn ngữ giao tiếp chung; Có chung một nền văn hoá Nghĩa hẹp, dân tộc - tộc người là một cộng đồng hình thành lâu dài trong lịch sử (không ổn định) nên có ba đặc trưng: Có ngôn ngữ riêng của tộc người; Có một nền văn hoá riêng của tộc người; Có ý thức
tự giác về tộc người (ý thức về tên gọi, sự hình thành phát triển của tộc người)
Vì thế, trong các văn bản hành chính và ở các công trình nghiên cứu về các dân tộc nói chung ở Việt Nam chúng ta thường sử dụng cả hai cách viết tộc người hay dân tộc (Ethnic)
1.3.2 Một số vấn đề tộc về người Phù Lá trong vùng nghiên cứu
Hiện tượng không thống nhất cách viết tên, nhóm dân tộc trong các tài liệu nghiên cứu: Vào những thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay, trong các nghiên cứu đã xuất bản chúng tôi thấy cách viết tên của dân tộc Phù Lá bị rối loạn đặc biệt tên của các nhóm ngành Việt Nam chưa có những thống kê đầy
đủ về các nhóm địa phương của dân tộc Phù Lá phù hợp theo thời gian Do có giai đoạn, một số nhóm địa phương của tộc người đã dịch chuyển qua lại nơi biên giới góp phần tạo nên sự thay đổi trong nhóm Cụ thể nhóm Phù Lá ở Bát Sát và một bộ phận ở Mường Khương của tỉnh Lào Cai đã chuyển sang Trung Quốc Vì thế, trong các ấn phẩm lúc tộc người Phù lá có 6 nhóm là: Phù Lá Hoa, Đen Phù Lá, Phù Lá Hán, La Phú Phù Lá, Chù Lá Phù Lá, Phù
Lá Trắng; có thời điểm là bốn nhóm: Phù Lá Lão, Phù Lá Hoa, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán; hoặc ba nhóm Phù Lá Hoa, Phù Lá Đen và Phù Lá Hán
Do tộc người này có nhiều nhóm địa phương, nhiều tên gọi và tên tự gọi tuỳ theo từng vùng cư trú rất phức tạp đặc biệt là những nhóm cư trú ở những vùng biên cương hẻo lánh Bởi vậy đã nảy sinh tình trạng:
Trang 40Một dân tộc có nhiều tên tự gọi hoặc tên tự gọi chỉ còn thông dụng trong một bộ phận dân tộc đó và nó cũng không phải là tên gọi bao hàm toàn thể dân tộc nữa
Đó là trường hợp của người Cờ Lao, Phù Lá [97, tr.29]
Để có một tên gọi thống nhất, các nhà khoa học đã cùng nghiên cứu, thảo luận và đi đến đồng tình là: “Trước hết, phải tôn trọng tên tự gọi của dân tộc ” [97, tr.31] Nhưng người Phù Lá là một dân tộc có nhiều nhóm địa phương, nếu lấy tên tự gọi của bất cứ một nhóm nào cũng không thể đại diện được cho cả tộc người Vì vậy, tộc danh Phù Lá là tên gọi hành chính được sử dụng chung cho tất cả các nhóm địa phương ở Việt Nam từ năm 1979 đến nay
Bên cạnh đó còn có hiện tượng chuyển cư theo canh tác nên trên bản đồ phân bố dân cư đã có sự thay đổi Song song với chuyển cư là sự tự hòa nhập giữa các nhóm địa phương hay gọi là nhóm dân tộc học của tộc người Phù Lá
ở Việt Nam Vì thế, tại thời điểm nghiên cứu của luận án, người Phù Lá chỉ hai nhóm chính do nhóm Phù Lá Hoa và Phù Lá Lão đã sát nhập thành một với tên gọi là nhóm Xá Phó, nhóm Phù Lá Hán và Phù Lá Đen đã hợp nhất thành một với tên gọi nhóm Pu La Đây là những khác lệch trong nhiều tài liệu nghiên cứu về người Phù Lá ở nước ta
Hiện nay, trên thực tế dân tộc Phù Lá ở nước ta được xác định có hai nhóm chính là Pu La và Xá Phó nhưng có một thực trạng, các nhóm địa phương này gần đây không thừa nhận nhau Một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về sự khác biệt của hai nhóm Pu La và Xá Phó Xảy ra điều này
có nhiều học giả đưa ra các giả thiết rằng có thể họ thuộc hai dân tộc hoặc có
lẽ do những biến động của lịch sử diễn ra trong một thời gian dài Các dân tộc
ở miền núi phía Bắc của nước ta không còn địa vực cư trú riêng rẽ mà chuyển sang sinh sống xen kẽ với nhiều dân tộc Bởi vậy, một số nhóm địa phương của dân tộc nào đó, một mặt vì cư trú lâu ngày xa cách, một mặt trong quá