Mặt khác, vì là xã ven biển nên đất trồng lúa làđất cát pha thành phần chủ yếu là cát, khả năng giữ nước kém mà ở đây mùamưa thì đất ngập nước của phá Tam Giang, mùa khô thì nước tưới kh
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Gần một nửa dân số trên thế giới tồn tại dựa vào lúa gạo Lúa gạo khôngchỉ dùng để ăn, để phục vụ chăn nuôi mà nó còn có rất nhiều những công dụngkhác không kém phần quan trọng so với một số nguyên liệu khác như: làmphân bón, chất đốt, lợp nhà, làm nấm, chế tạo sơn, mỹ phẩm nếu tận dụng hếtcác sản phẩm phụ của cây lúa gạo
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số làm nghềnông Muốn phát triển đất nước tất yếu phải làm cho nông thôn phát triển, chonông dân giàu mạnh Nếu “tam nông” không được cải thiện đồng bộ thì việcphát triển đất nước coi như thất bại một nửa
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọilĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội Thế nhưng vẫn có sự chênh lệch giữa thànhthị và nông thôn, giữa các khu công nghiệp với những cánh đồng, những mảnhruộng của người nông dân Ta đang hướng tới sự phát triển của toàn bộ chứkhông phải chỉ một bộ phận của nền kinh tế, của xã hội Vì thế, cần phải tiếnhành quá trình ấy ở cả khu vực nông thôn và làm giàu cho người nông dân
Nhưng người nông dân rất khó thoát khỏi nông nghiệp để làm giàu Họgắn với ruộng đất như một định mệnh, đặc biệt là đối với nông dân Việt Nam
Do đó, để phát triển khu vực nông thôn thì biện pháp khả thi nhất là giúp họlàm giàu trên chính những mảnh đất đã gắn bó với họ bấy lâu
Điền Hải là một xã thuần nông của Huyện Phong Điền, Tỉnh ThừaThiên Huế Người dân sống dựa vào nông nghiệp, hoạt động chính là trồng trọt
và chăn nuôi nhỏ Nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa, hàng ngày bán rau ở chợ,
bán những sản phẩm chăn nuôi (chủ yếu là vịt, gà và trứng), một ít từ các công
việc làm thuê trong vùng Cả xã có 12 đội thì có tới 10 đội sản xuất nông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 291,44% diện tích gieo trồng hàng năm); rau các loại, cây có củ và cây ớt chỉ
chiếm 8,66%
Tuy thế, năng suất lúa của xã không cao, trung bình khoảng 2-2,2 tạ/sàonếu thời tiết thuận lợi, được mùa Khi thời tiết xấu, sâu bệnh, mất mùa thì gầnnhư mất trắng Những năm gần đây, xã đã có một số chủ trương chuyển dầndiện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản nhưng việc này rất khó thực hiệnnên đến giờ vẫn chưa làm được Mặt khác, vì là xã ven biển nên đất trồng lúa làđất cát pha (thành phần chủ yếu là cát), khả năng giữ nước kém mà ở đây mùamưa thì đất ngập nước của phá Tam Giang, mùa khô thì nước tưới không đủnên khó có thể tìm được loại cây trồng phù hợp hơn cây lúa trên loại đất này.Với mong muốn cho người dân ở đây có được cuộc sống đầy đủ, bớt khó khănhơn, tôi đã xem xét thực trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của xã vàtìm tòi những giải pháp giúp họ nâng cao năng suất Chính vì vậy tôi chọn đề
tài “Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân ở xã Điền Hải,
Huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu cho khóa
luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu:
Hệ thống và làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về hiệu quả kinh tế, thâmcanh
Đánh giá thực trạng đầu tư sản xuất lúa tại địa bàn xã trong thời gianqua, xác định nhân tố ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả sản xuất
Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúatrên địa bàn xã
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33 Phương pháp nghiên cứu
Để xem xét hiệu quả sản xuất lúa của xã và xem xét các nhân tố ảnhhưởng trong đề tài này sử dụng một số phương pháp cụ thể sau:
3.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Điều tra thu thập số liệu
Số liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu ngẫu nhiênkhông lặp, số mẫu điều tra là 64 hộ ở 2 đội trên địa bàn xã
Số liệu thứ cấp: Thu thập từ các tài liệu liên quan của UBND xã, niêngiám thống kê của huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, các thông tin từ
3.2 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Ngoài việc điều tra hộ, tôi còn tham khảo ý kiến của những người cókinh nghiệm, của giáo viên hướng dẫn và một số cán bộ khuyến nông để thuthập số liệu một cách chính xác và làm rõ những vấn đề có tính chất kinh tế kỹthuật
3.3 Phương pháp toán kinh tế
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xác định các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ Hạch toán chi phí và kết quả
sản xuất để tính toán các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả như: Giá trị sản xuất(GO),chi phí trung gian (IC)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 43.4 Phương pháp duy vật biện chứng
Dùng để xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tác động qualại lẫn nhau
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đầu tư và các nhân tố chủ yếu ảnhhưởng đến kết quả, hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ trên địa bàn xã ĐiềnHải, Huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Các nông hộ trên địa bàn xã Điền Hải, Huyện PhongĐiền, Tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó tập trung chủ yếu vào 2 đội (đội 2 và đội9)
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu tình hình đầu tư sản xuất và nhân tố ảnhhưởng đến kết quả, hiệu quả sản xuất lúa vụ Đông Xuân và Hè Thu năm 2009
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ năm 2000 – 2009
Số liệu sơ cấp: Điều tra, thu thập thông tin của vụ Đông Xuân và HèThu năm 2009
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA
1.1 CƠ SỞ VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT LÚA
1.1.1 Lý luận về hiệu quả kinh tế
Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được xem là một chuẩn để đánh giá hoạt động của một
hệ thống hoặc một phần của hệ thống kinh tế
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực có hạn để đạt được kết quả cao nhấtvới chi phí thấp nhất”
Trong đó kết quả sản xuất là toàn bộ sản phẩm hoặc giá trị bằng tiền củatoàn bộ sản phẩm mà hộ sản xuất thu được trong một khoảng thời gian hay một
kỳ sản xuất nhất định Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí bỏ ra để tổchức và tiến hành quá trình sản xuất Trong nông nghiệp, các chi phí đó là: chiphí dịch vụ làm đất, giống, phân bón, bảo vệ thực vật, công lao động và một sốchi phí khác
Theo quan điểm này thì quá trình sản xuất đạt hiệu quả khi hộ nông dânthu được kết quả cao nhất với lượng yếu tố đầu vào kể trên là thấp nhất
Quan điểm thứ hai thể hiện qua công trình nghiên cứu của Fasral(1957):
“Hiệu quả sản xuất là một phạm trù trong đó sản xuất phải đạt được hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân phối”
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một chi phíđầu vào hay nguồn lực sử dụng để sản xuất trong điều kiện cụ thể về côngnghệ, kỹ thuật áp dụng Hiệu quả kỹ thuật chủ yếu xem xét về mặt vật chất của
quá trình sản xuất, nó phụ thuộc vào kỹ năng của nhà sản xuất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6Hiệu quả phân phối là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm
và giá các yếu tố đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêmtrên một đồng chi phí đầu tư hay nguồn lực
Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh tế thì phải đạt được cả hiệu quả kỹthuật và hiệu quả phân phối Nó vừa thể hiện tính lý luận khoa học vừa là yêu
cầu của sản xuất trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa Bản chất của nó là sự sosánh kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi đánh giá hiệu quả phải tính toánđầy đủ các lợi ích và chi phí để đánh giá đầy đủ hiệu quả của vấn đề cần đánhgiá
Cách xác định HQKT
Phương pháp 1: Hiệu quả toàn phầnHQKT được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra
H = Q/CTrong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được của quá trình sản xuấtC: Toàn bộ chi phí bỏ ra để thu được QPhương pháp 2: Hiệu qủa cận biên
HQKT được xác định bằng tỷ số giữa kết quả tăng thêm và chi phí tăngthêm
H = Q/CTrong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả tăng thêm khi tăng thêm chi phí đầu tư
C: Chi phí đầu tư tăng thêm
Ý nghĩa của việc đánh giá HQKT
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Biết được mức độ hiệu của việc sử dụng các yếu tố nguồn lực trong quátrình sản xuất, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến hiệu quả kinh tế
để đưa ra các biện pháp tác động thích hợp, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng
Làm căn cứ để xác định phương hướng hoạt động đạt tăng trưởng caotrong sản xuất nông nghiệp
Làm căn cứ để đánh giá, so sánh, lựa chọn các hoạt động đầu tư hiệuquả đồng thời loại bỏ hoạt động không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp
1.1.2 Quá trình thâm canh trong nông nghiệp
Khái niệm, bản chất của thâm canh
Thâm canh là con đường sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu dựa trên
cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đặc trưng của thâm canh
là không mở rộng phạm vi hoạt động mà tăng cường đầu tư và sử dụng các yếu
tố đầu vào có hiệu quả hơn Trong nông nghiệp, thâm canh không phải là hiện
tượng có tính chất bộ phận, nhất thời mà đó là xu hướng chung tất yếu Việt
Nam là nước có dân số đông, tốc độ tăng dân số còn cao nhưng diện tích đấtđai lại có hạn Mặt khác, năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp Do
đó, đẩy mạnh thâm canh trong nông nghiệp là cần thiết và mang tính chiến
lược lâu dài Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm và
bản chất của thâm canh
Theo quan điểm thứ nhất thì thâm canh là phải tăng khối lượng sảnphẩm trên một đơn vị diện tích Thâm canh là một quá trình mà hướng đích của
nó là số lượng sản phẩm thu được trên một diện tích hay vật nuôi mà không
tính đến hao phí trong quá trình đầu tư thâm canh Hạn chế lớn nhất của quanđiểm này là lấy kết quả cuối cùng để giải thích cho một quá trình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Quan điểm thứ hai cho rằng: Thâm canh là qúa trình tăng đầu tư chi phítrên diện tích đất sẳn có Tăng chi phí đầu tư là yếu tố quan trọng quyết địnhtrình độ thâm canh.
Tuy nhiên, trên thực tế có thể với cùng một lượng chi phí đầu tư haycùng một nguồn lực nhưng nếu cách bố trí, sử dụng khác nhau lại cho kết quả
khác nhau Chi phí ít hơn nhưng kết quả thu được lại cao hơn Vì vậy, thâmcanh chính là cách sản xuất nhằm tăng khối lượng sản phẩm trên một đơn vịdiện tích với sự kết hợp các đầu vào khác là tối ưu nhất (chi phí đầu tư thấpnhất trên một đơn vị sản phẩm đạt yêu cầu)
Trong nông nghiệp, để đánh giá trình độ thâm canh người ta sử dụngnhiều chỉ tiêu khác nhau Đối với ngành trồng trọt ta thường sử dụng các chỉtiêu cơ bản sau:
Chi phí sản xuất cho 1 ha đất nông nghiệpHao phí lao động trên 1 ha đất nông nghiệpGiá trị tài sản cố định dùng vào sản xuất nông nghiệp tính trên 1 haGiá trị (số lượng) từng loại phân bón trên 1 ha đất nông nghiệp
Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp được tưới tiêu chủ động; được canhtác bằng máy
Mối quan hệ giữa trình độ thâm canh và hiệu quả kinh tế
Không phải lúc nào thâm canh cũng tỷ lệ thuận với hiệu quả kinh tế dùtrong bất cứ nghành nghề nào Có nhiều lúc tăng cường đầu tư thâm canhnhưng hiệu quả kinh tế lại giảm sút nghiêm trọng Do vậy việc điều khiển quátrình đầu tư thâm canh như thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất là vấn
đề hết sức quan trọng Thâm canh để nâng cao năng suất, sản lượng nhưngcũng phải tính toán để quá trình đầu tư đạt hiệu quả Thực tế có những trườnghợp nâng cao trình độ thâm canh tăng đầu tư các yếu tố đầu vào nhưng năngsuất không tăng thậm chí còn giảm dẫn đến lợi ích biên nhỏ hơn chi phí biên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Nên thực hiện thâm canh cần tính rõ ràng và chính xác các yếu tố đầu tư ảnhhưởng như thế nào đến năng suất, sản lượng cây trồng và cả lợi nhuận của việc
sản xuất loại cây trồng đó để làm cơ sở xác định cơ cấu đầu tư hợp lý Như vậymới có thể điều khiển một cách hiệu quả, chủ động quá trình thâm canh
1.1.3 Đặc điểm kỹ thuật của cây lúa có ảnh hưởng đến hiệu quả
1.1.3.1 Giống
Giống là yếu tố đầu tiên quyết định đến hiệu quả sản xuất Nó tác độngđến hiệu quả có thể thông qua việc cho năng suất cao hoặc cho chất lượng gạotốt, phù hợp với yêu cầu cao của người sử dụng hay cũng có thể là chi phí
chăm sóc ít mà không ảnh hưởng đến năng suất Thông thường, các loại giống
cũ trước đây cho năng suất thấp hơn các loại giống mới được lai tạo Tuy nhiêncũng có một số giống cũ cho ra gạo ngon như: Tám thơm, nàng hương Do đócần chú ý đến việc tạo ra các loại giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt,phù hợp với khả năng chăm sóc của nông dân và điều kiện thời tiết, khí hậu
1.1.3.2 Phân bón
Phân bón là chất dinh dưỡng cần thiết phải bổ sung cho cây trồng và cảithiện điều kiện của đất Nó ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng và pháttriển của cây lúa, tác động đến năng suất từ đó mà quyết định đến hiệu quả.Tuy nhiên cần xác định lượng bón và thời điểm bón cho đúng nếu không sẽ chotác động ngược với mong muốn bởi mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của câylúa có nhu cầu về dinh dưỡng khác nhau Ví dụ như ở giai đoạn đầu lúa cầnnhiều đạm hơn ở giai đoạn cuối Mặt khác, giá các yếu tố đầu vào cho sản xuấtlúa đang có xu hướng ngày một tăng cao nên cần có sự kết hợp đạt hiệu quảnhằm tránh tình trạng “một tiền gà, ba tiền thóc”
1.1.3.3 Khí hậu
Việc lựa chọn cơ cấu cây trồng phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10quyết định hoặc ảnh hưởng lớn đến năng suất cũng như hiệu quả sản xuất Nóbao gồm :
Nhiệt độ: Tác động đến tốc độ phát triển của lúa ở nhiều thời kỳ Nếunhiệt độ thấp (dưới 17oC) sẽ làm chậm quá trình sinh trưởng, khi quá thấp sẽ
làm chết lúa đặc biệt là thời kỳ lúa còn nhỏ, giống không thể nảy mầm, nhưngcũng không thể cao quá mức chịu đựng của cây lúa (trên 40oC) làm ảnh hưởngđến sinh trưởng , phát triển của cây Tổng tích ôn của một vụ, từ khi nảy mầm
đến thu hoạch là 2500 - 4000oC đối với giống ngắn ngày và 3000-4000oC đốivới các giống dài ngày
Ánh sáng: Các giống lúa khác nhau phản ứng với lượng ánh sáng trongngày khác nhau Có loại hợp với ánh sáng ngày ngắn nhưng cũng có loại hợpvới ánh sáng ngày dài Ánh sáng ảnh hưởng đến phát dục, ra hoa, lượng bức xạmặt trời giúp cây lúa quang hợp để phát triển (trung bình từ 2000-3000calo/cm2/ngày trở lên) và đặc biệt quan trọng khi lúa phơi màu Thời gian chiếusáng trong ngày dưới 13 giờ kích thích sự ra hoa của lúa
Nước: Thể hiện qua lượng mưa hàng năm, lượng nước tưới Nước giúpthau chua rửa mặn, và rất quan trọng trong thời kỳ trổ-chín sữa (75%-85%trọng lượng khô của hạt gạo phụ thuộc vào thời kỳ này) Những năm hạn hánthì không có nước tưới và khi lũ lụt thì thừa nước gây ngập úng, nếu tình trạngnày kéo dài quá lâu sẽ dẫn đến mất mùa Nhân dân ta mỗi mùa xuân mới đềumong một năm mưa thuận gió hòa để việc gieo trồng được thuận lợi
1.1.3.4 Đất đai
Cây lúa có thể gieo trồng được trên hầu hết các loại đất miễn sao ở đó cónước tưới Nhưng trên những loại đất khác nhau cần những mức đầu tư chi phíkhác nhau và cho năng suất không giống nhau, từ đó mà tác động đến hiệu quả.Tuy nhiên, nó phù hợp nhất với loại đất phù sa ngọt ven sông, đất pha cát giàudinh dưỡng Còn với các loại đất khác thì cho năng suất thấp hơn mà chi phíđầu tư lại cao hơn, kém hiệu quả hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 111.1.3.7 Thu hoạch
Từ gieo trồng đến thu hoạch là cả một quá trình, trong đó thu hoạch vàbảo quản sản phẩm là khâu cuối cùng Trồng cây đã đến ngày ăn quả nhưngquả đó vẫn còn ở trên cây, cần phải hái quả như thế nào để có thể ăn được mới
là điều quan trọng Trồng lúa cũng vậy, cần phải thu hoạch đúng lúc, kịp thời
và bảo quản hợp lí để tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra và đảm bảo chấtlượng lúa gạo, làm tăng giá trị của nó trong lưu thông Thông thường khi số hạtchín trên cây khoảng 85% - 90% là có thể thu hoạch được
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 121.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất lúa
Tác động của cầu thị trường
Cầu thị trường là những nhu cầu về sản phẩm có khả năng chi trả, nếulớn sẽ thúc đẩy sản xuất Lúa gạo là một loại lương thực, vì thế nhu cầu tiêudùng hàng ngày dẫu có tăng cũng không đáng kể nên cần chú trọng phát triểncác ngành công nghiệp có sử dụng sản phẩm của lúa gạo, góp phần làm tăngcầu sản phẩm này
Tác động của cung thị trường
Cung thị trường là lượng sản phẩm hàng hóa mà người sản xuất có khảnăng cung cấp cho thị trường ở mọi mức giá khác nhau Khi lượng cung lớnhơn cầu sẽ làm cho giá cả giảm xuống và giảm đến một mức độ nào đó sẽ làmgiảm động lực sản xuất của nông dân
Cung - cầu thị trường là nhân tố hình thành nên giá cả sản phẩm, do đócần có sự cân đối giữa hai yếu tố này tránh tình trạng “ được mùa mất giá, đượcgiá mất mùa” làm giảm lợi ích của người nông dân
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thủy lợi, điện, .) trợ giúpcho việc sản xuất được dễ dàng hơn, đảm bảo hoạt động thực hiện đạt kết quả,trong một số hoàn cảnh nó giúp giảm chi phí ở một số khâu trong sản xuất Cầnphát triển cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hệ thống
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13giao thông, thủy lợi nội đồng phục vụ nhu cầu tưới tiêu, đi lại và vận chuyểnsản phẩm.
Hệ thống dịch vụ
Dịch vụ đầu vào
Hệ thống này cung cấp các yếu tố đầu vào cho việc trồng lúa như:giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và cả các dịch vụ làm đất, dịch vụliên quan đến lao động Nó phát triển làm cho quá trình sản xuất diễn ra nhanh
chóng, kịp thời và thuận tiện hơn Ngược lại thì nó là cản trở việc sản xuất
Dịch vụ đầu ra
Nó giúp quá trình tiêu thụ sản phẩm được thực hiện dễ dàng hơn, làmcho nông dân yên tâm sản xuất, nhất là trong tình trạng như hiện nay, ngườidân luôn bị ép giá (là người chấp nhận giá), họ không thể định giá cho sảnphẩm mình tạo ra, nhưng không bán cũng không được Vì thế, cần phát triển cả
hai hệ thống này nếu muốn sản xuất lúa phát triển
Chính sách điều tiết của nhà nước
Đây là yếu tố rất quan trọng Thực tế đã chứng minh tầm quan trọng củacác chính sách điều tiết đúng đắn của nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp.Đặc biệt là những chính sách về lúa gạo: Tích trữ, xuất khẩu, các chính sách hỗ
trợ nông dân đảm bảo lợi ích của những người trồng lúa Trong bối cảnh kinh
tế hiện nay, yêu cầu về độ chính xác của những chính sách là rất cao
1.1.4.2 Nhân tố vi mô
Quy mô ruộng đất
Tình trạng manh mún ruộng đất trong nông nghiệp Việt Nam đã đượcphản ánh rất nhiều Quy mô ruộng đất nhỏ làm ảnh hưởng xấu đến việc thựchiện các hoạt động gieo trồng cũng như hiệu qủa sản xuất Việc áp dụng cơgiới hóa trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển trong
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14làm giảm khả năng áp dụng khoa học công nghệ, máy móc trong nông nghiệp,đầu tư sản xuất gặp nhiều khó khăn Tích tụ ruộng đất là giải pháp đúng đắncho một nền nông nghiệp hiện đại.
Kiến thức và tập quán canh tác của người dân
Kiến thức và tập quán canh tác của người nông dân quy định cách thứcsản xuất của chính họ Người dân tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng đôi khinhững kinh nghiệm đó lại mang tính phản khoa học, khi nông dân bị hạn chế
về mặt kiến thức thì rất khó thay đổi được quan điểm của họ trong sản xuất(thường là những người bảo thủ) Bên cạnh đó, tập quán canh tác cũng ảnhhưởng nặng đến kết quả sản xuất và ảnh hưởng đến môi trường Một số vùng
có tập quán du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy vừa phá hủy tài nguyên vừalàm mất cân bằng môi trường sống Do đó, trong phát triển nông nghiệp cầnchú trọng công tác nâng cao kiến thức cho nông dân và bỏ dần những tập quáncanh tác lạc hậu
1.1.5 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới, Việt Nam và Tỉnh Thừa
Thiên Huế
1.1.5.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cây lúa là loại cây trồng quan trọng Hiện nay, trên thế giới có khoảng
100 quốc gia trồng lúa Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước sản xuất lúa gạo lớnnhất trên thế giới Theo khu vực địa lý thì sản xuất lúa chủ yếu tập trung ở khuvực Châu Á Đây là nơi sản xuất và là nơi tiêu thụ khoảng 90% lượng gạo toànthế giới Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15năm 1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004 Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68%trọng lượng thóc ban đầu Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu làTrung Quốc (31% sản lượng gạo thế giới), Ấn Độ (20%), Indonesia (9%).Ngày 16 tháng 12 năm 2002, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã tuyên bố năm
2004 là năm quốc tế về gạo Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng
triệu nông dân trên toàn thế giới Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm đểtrồng lúa Ở Châu Phi gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa Năng suất lúacủa châu Phi thấp, khoảng 1,5 tấn/ha và chỉ bằng 40% năng suất của châu Á.Theo FAO năm 2005 thế giới sản xuất 628 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục, nhờgiá cả tăng trong năm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt Năm 2005, Thái Lan
là nước sản xuất và xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới hàng năm bán từ 7 triệu đến
8 triệu tấn trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn Đây là quê hương củagạo thơm Jasmine Tiếp đó là Việt Nam với 4-5 triệu tấn Năm 2006, sản lượnggạo thế giới đạt 635 triệu tấn, tăng 0,8% so với năm 2005
1.1.5.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương với tổng chiều dài là
1650 km, phía Đông và Nam giáp biển, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tâygiáp Lào và Camphuchia Tổng diện tích tự nhiên là 32924,061 nghìn ha với
khoảng 20-25% được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và trên mộtnửa diện tích này được dùng cho sản xuất lúa Cả nước có hai vùng trồng lúachính là đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miềnNam Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, giai đoạn2000-2008 là 33-39 triệu tấn Trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tươngđương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trongnước và bổ sung dự trữ quốc gia Ở miền Bắc và miền Trung, một năm có hai
vụ lúa chính là vụ chiêm và vụ mùa Ở miền Nam, nông dân trồng ba vụ mộtnăm: Vụ Đông Xuân (có sản lượng cao nhất và thóc cũng đạt chất lượng tốtnhất cho xuất khẩu), vụ Hè Thu và vụ ba
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Bảng 1 : Diện tích và sản lượng lúa cả nước từ 2000-2008
Lúa
LúaĐ-X
LúaH-T
LúaMùa
mới cho năng suất cao
1.1.5.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Tỉnh Thiên Huế và Huyện Phong Điền
Thừa Thiên - Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ ViệtNam có tọa độ ở 16-16,8 Bắc và 107,8-108,2 Đông Diện tích của tỉnh là5.053,99 km², dân số theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009 là 1.087.579 người.Phía Bắc giáp Quảng Trị, phía Đông giáp Biển đông, phía Nam giáp Đà Nẵng
và Quảng Nam, phía Tây giáp Lào Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhữngtháng đầu năm có nắng ấm, thỉnh thoảng lụt vào tháng 5, các tháng 6, 7, 8 có
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17gió mạnh, mưa lũ và có gió đông vào tháng 9, 10, tháng 11 thường có lụt, cuốinăm mưa kéo dài Đất sản xuất nông nghiệp của toàn tỉnh là 53,89 nghìn ha,
trong đó đất trồng lúa là 29,79 nghìn ha (năm 2007) Nhưng con số này không
cố định mà biến đổi qua từng năm Diện tích trồng lúa thay đổi, khoa học kỹthuật phát triển, nhiều loại giống mới cho năng suất cao ra đời… cũng làm chonăng suất lúa thay đổi Điều đó thể hiện rất rõ thông qua bảng 2 (tình hình sảnxuất lúa của Tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2000-2008)
Trong thời gian qua, diện tích trồng lúa có giảm nhẹ Từ năm 2000 đến
2002 có tăng từ 51,3 nghìn ha lên 51,9 nghìn ha nhưng đến năm 2003 lại bắtđầu giảm, đến 2006 chỉ còn 50,3 nghìn ha (giảm 1,6 nghìn ha) do đất nàychuyển qua sử dụng vào các mục đích khác như nhà ở, công trình công cộng.Đến 2008, tăng lên 50,9 nghìn ha (tăng 0,6 nghìn ha) Ngược lại với diện tích là
sự tăng lên đều đặn của năng suất lúa, và đạt 54 tạ/ha vào năm 2008 (tăng 15,7tạ/ha so với năm 2000) Nguyên nhân chủ yếu làm tăng năng suất là do sự tácđộng của khoa học kĩ thuật, nhất là việc tạo ra những giống lúa mới có năngsuất, chất lượng cao và kết hợp với các biện pháp thâm canh, áp dụng cơ khíhóa vào sản xuất Đồng thời, điều này chứng tỏ trong những năm gần đây Tỉnh
đã có sự quan tâm thích đáng đến bà con nông dân thông qua những chính sách
hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp như khuyến nông, cung cấp vốn, nghiên cứu
và lai tạo giống mới… giúp nông dân có thêm kiến thức sản xuất, có điều kiện
để tăng cường đầu tư thâm canh tăng năng suất Sự tăng lên của năng suất lúakéo theo sự gia tăng sản lượng Tuy nhiên, có sự khác nhau về năng suất thuđược giữa hai vụ Đông Xuân và Hè Thu Vụ Đông Xuân có năng suất cao và tỷ
lệ tăng cũng đều hơn do điều kiện thời tiết trong vụ này thuận lợi hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Bảng 2: Tình hình sản xuất lúa của Tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2000-2008.
DT(nghìn ha)
NS(tạ/ha)
SL(nghìn tấn)
DT(nghìn ha)
NS(tạ/ha)
SL(nghìn tấn)
( Nguồn: Cục thống kê Thừa Thiên Huế )
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Phong Điền là một huyện nằm phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế Làmột Huyện sản xuất nông nghiệp là chính với trên 2/3 số xã có sản xuất lúa.
Cây lúa chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu cây trồng Tình hình sản xuất lúacủa Huyện được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Tình hình sản xuất lúa của Huyện Phong Điền (2003-2007)
1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất lúa
Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất: Biểu hiện mức độ đầu tư chosản xuất, gồm:
Diện tích gieo trồng; diện tích gieo trồng bình quân hộMức đầu tư vốn (cố định, lưu động) cho sản xuất trên 1 đơn vị diện tích
Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị bằng tiền của các sản phẩmđược tạo ra trong một thời kỳ nhất định của một đơn vị
GO = ∑Q.PTrong đó: Q: Là khối lượng sản phẩm sản xuất ra
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Giá trị gia tăng (VA): Phản ánh giá trị tăng thêm so với chi phí muangoài bỏ ra (chưa tính khấu hao và công lao động)
IC là chi phí trung gian (gồm những chi phí vật chất và dịch vụ muangoài dùng cho sản xuất)
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất (GO/IC): Cho biết một đồng chi phí trung gian đượcđầu tư tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất Hiệu suất này càng lớn thì càng có
hiệu quả
Hiệu suất chi phí trung gian tính theo giá trị gia tăng (VA/IC): Được tínhbằng phần giá trị gia tăng bình quân trên một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra, làchỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế
1.2 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA XÃ ĐIỀN HẢI
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Điền Hải là xã đồng bằng ven biển và đầm phá, nằm trên quốc lộ 49B,cách trung tâm huyện lỵ 16 km về phía Đông Bắc huyện Phong Điền, có tổngdiện tích tự nhiên 1.278,00 ha, chiếm 1,34% diện tích toàn huyện, với tổng dân
số 6.012 người gồm 1.269 hộ thuộc 8 thôn Địa giới hành chính của xã đượcxác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Phong Hải
- Phía Nam giáp xã Quảng Lợi huyện Quảng Điền và phá Tam Giang
- Phía Đông giáp xã Quảng Ngạn huyện Quảng Điền
- Phía Tây giáp xã Điền Hòa
1.2.1.2 Thời tiết, khí hậu
Xã Điền Hải nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Nóng, ẩm, mưanhiều Có 2 mùa mưa và nắng rõ rệt Mùa mưa từ tháng 10 đến hết tháng 1 năm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21sau Lượng mưa hàng năm là 2.400mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (chiếm78% lượng mưa cả năm) Hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10 vàtháng 11, lượng mưa trung bình từ 600-800mm/tháng gây ngập úng cho cảvùng Thời gian này lại tập trung áp thấp nhiệt đới, mưa bão và gió mùa đôngbắc nên mùa mưa cũng đồng thời là mùa rét, nhiệt độ trung bình 12oC- 17oC.Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 9, nhiệt độ cao nhất là 41oC (vào tháng 6; 7),
thời gian này chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng và lượng mưa khôngđáng kể nên thường xảy ra hạn hán Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của chế độkhí hậu miền Duyên hải, biên độ nhiệt thường thấp hơn vùng sâu đất liền từ
2oC- 4oC
1.2.1.3 Thủy văn
Nước ngầm: Tuy chưa có kết quả thăm dò chính thức nhưng quađiều tra nguồn nước nhân dân đang sử dụng sinh hoạt thì nguồn nước ngầm kháphong phú, chỉ cần khoan sâu từ 8-10m là đã có nước ngầm, chất lượng nướctốt
Nước mặt: Chủ yếu là do nước mưa chảy tràn bề mặt sau đó chảytràn vào các khe, lạch nước nhỏ Có một số khe nước có dòng chảy thườngxuyên mà nguồn nước được cung cấp do nước rỉ từ trong độn cát ra
1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.2.1 Dân số và lao động
Dân số và lao động là một trong những điều kiện cơ bản và quan trọngcủa mọi quá trình sản xuất Đặc biệt, với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp thìlao động là yếu tố không thể thiếu để tiến hành sản xuất Nó ảnh hưởng đếnbiện pháp canh tác cũng như kết quả thu được Trong những năm qua, dân số
và lao động của xã có nhiều thay đổi, điều đó được thể hiện qua bảng sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Bảng 4: Tình hình dân số xã Điền Hải
Chỉ tiêu
ĐVT
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008
SL % SL % SL % +/- % +/- %1.Tổng dân số Người 5960 100 6132 100 6300 100 +172 +2,88 +168 +2,73Nam Người 2940 49,33 3060 49,90 3130 49,68 +120 +2,01 +70 +1,14
Nữ Người 3020 50,67 3072 50,10 3170 50,32 +52 +0,67 +98 +1,592.Tổng LĐ Người 2730 100 2780 100 2800 100 +50 +1,83 +20 +0,72Nam Người 1360 49,82 1380 49,64 1388 49,57 +20 +0,73 +8 +0,29
Nữ Người 1370 50,18 1400 50,36 1412 50,43 +30 +1,10 +12 +0,433.Tổng số hộ Hộ 1313 100 1320 100 1330 100 +7 +0,53 +10 +0,76
( Nguồn: Phòng thống kê xã Điền Hải )
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Điền Hải là xã có dân số khá đông là thị trường tiêu thụ các sản phẩmnông nghiệp cũng như sản phẩm của các ngành nghề dịch vụ khác, kích thích
sản xuất phát triển Năm 2009, toàn xã có 1330 hộ (tăng 17 hộ so với năm2007) với tổng dân số là 6300 người, tăng 2,73% so với năm 2007 Tỷ lệ tăngdân số giảm không đáng kể so với năm 2008
Tổng số lao động toàn xã năm 2009 là 2800 người (chiếm gần 45% dân
số toàn xã) Trong đó, lao động nữ nhiều hơn lao động nam (chiếm 50,18%)
Tỷ lệ lao động cũng tăng dần qua 3 năm, năm 2008 tăng 50 người và năm 2009tăng 20 người Đây là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh
tế trên địa bàn xã Tuy nhiên, lao động của xã phần lớn chưa qua đào tạo, hoạtđộng trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là chủ yếu Đó là một hạn chế lớnảnh hưởng xấu đến sản xuất của xã Gần đây, số lao động được đào tạo, cótrình độ ngày càng tăng nhưng lại không tham gia sản xuất tại địa phương màtập trung vào các trung tâm lớn làm việc với mức lương cao hơn Ngoài ra ,những lao động trẻ của xã còn có xu hướng bỏ quê nhà lên thành phố tìm việc
gây nên tình trạng thiếu lao động tạm thời vào những lúc mùa vụ căng thẳng
Vì thế, để phát triển kinh tế xã cần những biện pháp thích hợp giữ chân họ ở lại
đóng góp cho quê hương, giúp người nông dân phát triển theo hướng ly nôngbất ly hương nhằm ổn định cuộc sống
1.2.2.2 Hiện trạng sử dụng quỹ đất
Theo số liệu thống kê, xã Điền Hải có tổng diện tích đất tự nhiên là1.278,00 ha Đất đai chủ yếu là đất cát và đất có dạng bồi tụ trên cát, được chialàm hai loại chính sau:
Nhóm đất cát ở ven biển phân bố ở phía Đông Bắc, thành phần chủ yếu
là cát có lẫn ít mùn bã hữu cơ ở trên mặt, những vùng bằng phẳng có độ ẩmtrong đất rất tốt Loại đất này phần lớn đang được sử dụng cho mục đích trồngrừng, chuyên dùng và một phần nhỏ cho đất ở và trồng lúa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24Nhóm đất phân bố ở phía Tây Nam: gồm phần đất cát pha bùn, bùn phasét và phần đất thuộc phá Tam Giang Nhóm đất này có dạng bồi tụ trên nềncát, tầng đất tương đối dày (từ 20 - 40 cm), xuống tầng sâu hơn tỷ lệ cát càngnhiều Hiện phần lớn loại đất này đang được sử dụng cho trồng lúa, nuôi trồngthủy sản, đất ở và đất chuyên dùng.
Trong đó, đất nông nghiệp là 315,65 ha chiếm 24,69% tổng diện tích tựnhiên; đất phi nông nghiệp là 682,25 ha chiếm 53,38%, trong đó đất ở là 28,24
ha chiếm 4,13%, tăng 0,22 ha so với năm 2005 (năm 2005 diện tích đất ở là28,02 ha) Trong tương lai, đất ở tại xã sẽ tiếp tục tăng do dân số ngày càngtăng cộng với sự đô thị hóa các cụm khu dân cư nông thôn do đó xã đã và đang
có biện pháp nhằm điều chỉnh, sắp xếp lại cơ cấu đất ở tại nông thôn để tănghiệu quả sử dụng, tránh việc chuyển quá nhiều đất nông nghiệp sang đất ở Đấttrụ sở cơ quan công trình sự nghiệp và đất có mục đích công cộng là 70,77 hachiếm 10,37%, không có đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, điều đóchứng tỏ người dân ở đây sống dựa vào sản xuất nông nghiệp là chính, vì vậyđưa việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao chất lượng đàn bò, lợn,lúa gạo vào các chương trình trọng điểm là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp vớiđặc điểm, tình hình kinh tế của địa phương Đất tôn giáo, tín ngưỡng là 9,85 hachiếm 1,44% Đất nghĩa trang, nghĩa địa là 32,28 ha chiếm 5,00% Đất sôngsuối và mặt nước chuyên dùng là 539,11 ha chiếm 79,06% Đất chưa sử dụng
là 280,10 ha chiếm 21,93% Qua đó ta cũng thấy một thực trạng đáng buồn là
tỷ lệ đất chưa sử dụng chiếm một lượng khá lớn trong tổng diện tích tự nhiêntoàn xã (21,93%), trong đó chủ yếu là đất bằng chưa sử dụng Trong 315,65 hađất nông nghiệp lại được phân bổ cho nhiều hoạt động gồm: Đất sản xuất nôngnghiệp (chỉ trồng cây hàng năm: lúa và các loại rau màu), đất lâm nghiệp và đấtnuôi trồng thủy sản Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và sự biến đổi của nóđược thể hiện rõ trong bảng 5 (cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Bảng 5: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 2008/2007 2009/2008
Ha % Ha % Ha % +/- % +/- %Tổng DT đất NN 315,65 100 313,65 100 312,00 100 -2,00 -0,63 -1,65 -0,53
1 Đất SX NN 207,85 65,85 205,85 65,63 204,00 65,38 -2,00 -0,63 -1,85 -0,591.1 Đất trồng lúa 190,45 91,63 190,00 92,30 188,41 92,36 -0,45 -0,14 -1,59 -0,511.2.Cây hàng năm khác 17,40 8,37 15,85 7,70 15,59 7, 64 -1,55 -0,49 -0,26 -0,08
2 Đất lâm nghiệp 60,40 19,14 60,40 19,26 60,40 19,36 0,00 0,00 0,00 0,00
3 Đất NTTS 47,40 15,01 47,40 15,11 47,60 15,26 0,00 0,00 +0,2 +0,06
( Nguồn: Văn phòng thống kê xã Điền Hải )
Trang 26Qua bảng số liệu ta thấy diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm (từ318,65 ha năm 2007 xuống 312 ha năm 2009) Trong đó chủ yếu là giảm diệntích trồng lúa và đất hoa màu Có sự giảm sút này là do việc chuyển một phần
đất này làm sân vận động xã, xây chợ và làm các công trình thủy lợi Những
diện tích giáp phá Tam Giang được chuyển sang nuôi trồng thủy sản, do vậy
mà diện tích nuôi trồng thủy sản tăng nhẹ trong năm 2009
1.2.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng và trang bị kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng để phát triển nông nghiệp nông thôn.Đặc biệt là trong xu hướng cơ giới hóa trong nông nghiệp hiện nay thì nó đóngmột vai trò quyết định Nếu cơ sở hạ tầng và trang bị kỹ thuật thấp kém sẽ cản
trở việc áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa đồng ruộng, việc tiếp cận vớigiống mới, kỹ thuật mới sẽ gặp nhiều khó khăn Đồng thời, nó còn ảnh hưởngđến sản phẩm thu được thông qua vận chuyển, thu hoạch, phơi sấy Vì thế, chútrọng phát triển cơ sở hạ tầng và trang bị kỹ thuật góp phần tạo nên thành công
trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhận thức được vai trò to lớn ấy, trong thời gian qua xã Điền Hải đãkhông ngừng xây dựng, cải thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư trang bị kỹ thuật vàbước đầu đạt được những thành tựu nhất định, thể hiện:
Hệ thống mương tưới tiêu Điền Hải - Điền Hòa được khởi công xâydựng từ đầu năm 2009 và dự kiến đưa vào sử dụng vào cuối năm nay Đê bao
và kênh mương nội đồng có chiều dài 27,3 km đã được hoàn chỉnh, trong đókênh mương bê tông hóa được 8,2 km đạt 30,04%, kênh mương đất 19,1 kmchiếm 69,96%
Mạng lưới giao thông còn kém phát triển với gần 5km đường quốc lộ49B chạy qua nối liền xã Điền Hòa, xã Quảng Ngạn Tuyến đường lên thị trấnHuyện cũng đã được bê tông hóa nhưng về mùa mưa vẫn bị ngập trong nướckhông thể đi lại được Người dân vẫn phải đi đò qua phá để lên thành phố Huế.Đường liên thôn vẫn chưa được bê tông hóa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐIỀN HẢI
Điền Hải là một trong 15 xã thuộc Huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa ThiênHuế Là một xã thuần nông với 10 đội sản xuất nông nghiệp trong tổng số 12đội, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông lâu đời Trong đó, cây lúa luônchiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu các loại cây trồng Theo số liệu thống kê
năm 2007 của UBND xã, diện tích trồng lúa chiếm tỷ lệ lớn nhất (190,45 ha,
chiếm 91,63% đất sản xuất nông nghiệp của xã và chiếm gần 4,2% diện tích
trồng lúa của toàn Huyện) Trong những năm qua, điều kiện thời tiết khôngđược thuận lợi cho sản xuất nhưng với nỗ lực của người dân nơi đây và sự quantâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, đặc biệt là của ban lãnh đạo xã nên sảnxuất lúa trên địa bàn xã đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, vớiđiều kiện tự nhiên của vùng thì vụ Đông Xuân có điều kiện thuận lợi hơn hẳnnên năng suất đạt được cũng cao hơn vụ Hè Thu Để nghiên cứu biến động và
sự khác biệt về diện tích, năng suất, sản lượng lúa của xã, ta tiến hành phân tíchkết quả đạt được qua 3 năm (2007-2009) ở bảng 6
Trong khoảng thời gian này (2007-2009), ta thấy tình hình sản xuất lúatrên địa bàn xã ít có sự biến động
Về mặt diện tích: Diện tích gieo trồng không thay đổi qua ba năm vàcũng không có sự thay đổi giữa từng vụ qua các năm, có chăng đó là sự chênhlệch về diện tích gieo trồng giữa vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu Trong vụ ĐôngXuân, diện tích gieo trồng khá lớn 219 ha chiếm 53,14% diện tích gieo trồng cả
năm Nhưng đến vụ Hè Thu thì giảm đáng kể, từ 219ha xuống còn 191ha, giảm
28 ha tương ứng với 6,83% Sở dĩ có sự chênh lệch đó là do điều kiện sản xuấtcủa xã, phần diện tích giảm là những vùng thấp trũng, mặt khác lượng mưatrong vụ Hè Thu lại rất lớn (vì vụ này trùng với mùa mưa lụt trên địa bàn Tỉnh)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28thiện nên phần diện tích này không thể tiêu nước kịp thời để đưa vào trồng lúa.Hiện nay hệ thống kênh mương bê tông đang được xây dựng nhưng vẫn chưathể đưa vào phục vụ sản xuất trong thời gian tới.
Bảng 6: Tình hình SX lúa trên địa bàn xã Điền Hải qua 3 năm (2007-2009)
xã hội năm 2007; 2008; 2009 của UBND xã Điền Hải )
Về năng suất, sản lượng: Trong 3 năm, năng suất lúa bình quân vụ ĐôngXuân (48,97 tạ/ha) luôn cao hơn vụ Hè Thu (45,53 tạ/ha) do vụ Hè Thu mưalụt và sâu bệnh nhiều hơn gây bất lợi cho hoạt động sản xuất, điều đó làm chonăng suất bình quân năm thấp (chỉ đạt 47,27 tạ/ha) và thấp hơn mức bình quânchung toàn Huyện khoảng 4 tạ/ha Đáng chú ý là sự chênh lệch đáng kể vềnăng suất giữa hai vụ trong năm 2008 và 2009 (5 tạ/ha) Trong 2 năm này,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29năng suất lúa nói chung là cao hơn năm 2007 do bà con trong xã đã có kinhnghiệm trồng giống lúa mới và tăng cường đầu tư thâm canh sản xuất Vụ HèThu tăng không đáng kể nhưng vụ Đông Xuân đạt 50 tạ/ha trở lên Năm 2009đạt 48,2 tạ/ha, cao nhất trong ba năm và cao hơn mức bình quân chung Năngsuất thay đổi cũng kéo theo sự biến đổi sản lượng qua các vụ trong năm và quacác năm Vụ Hè Thu sản lượng đạt được thấp hơn và thấp nhất là năm 2007,chỉ đạt 1.891,22 tấn Hai năm sau sản lượng đã tăng cao hơn (đạt gần 2.000tấn), đó là sự cố gắng lớn của các cán bộ và nhân dân trên toàn xã Tuy nhiên,
nó vẫn ở mức thấp so với bình quân chung của Huyện Kể từ 2007 trở lại đây,năng suất bình quân chung cả Huyện đều đạt trên 50,9 tạ/ha và mức sản lượngcủa xã chỉ chiếm 4,18% tổng sản lượng lúa toàn huyện Vì thế, trong thời gian
tới xã cần có chính sách phát triển sản xuất hợp lý , chú trọng hơn đến công tácthủy lợi, có kế hoạch thời vụ phù hợp và chủ động thực hiện việc phòng chốngthiên tai, sâu hại và dịch bệnh nhằm cải thiện kết quả sản xuất được tốt hơn
Về cơ cấu giống lúa: Hiện nay, trên địa bàn xã Điền Hải nông dân sửdụng loại giống chủ đạo là IR38 (chiếm 60% diện tích gieo trồng ) Đây là loạigiống mới, trung ngày, chịu mặn rất phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng
và cho năng suất cao Tuy một số địa phương khác không ưu ái giống nàynhưng nó lại được nông dân ở đây tin dùng Thời gian sinh trưởng của nókhoảng 145 ngày Số còn lại là giống Xi23 và Khang dân (gần 40%) Trong đóXi23 là giống dài ngày (thời gian sinh trưởng khoảng 155) và được sử dụngnhiều hơn Khang dân (thời gian sinh trưởng khoảng 120 ngày), chỉ có một tỷ
lệ rất ít lúa Nàng hương hay nếp Tuy thời gian sinh của các loại giống khác
nhau nhưng thời gian gieo trồng được điều chỉnh để thu hoạch đúng thời vụ vàkịp thời gieo trồng vụ sau, tránh lũ lụt
2.2 NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tôi đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên
64 hộ nông dân trên địa bàn 2 đội, mỗi đội 32 hộ Tình hình chung của các hộ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 302.2.1 Quy mô cơ cấu đất của các hộ điều tra
Đất đai là điều kiện cần để tiến hành hoạt động sản xuất lúa Tuy nhiên,quy mô đất khác nhau có ảnh hưởng đến các hoạt động cũng như kết quả sảnxuất Quy mô đất lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hộ trong việc đầu tư thâmcanh, sử dụng máy móc hiện đại góp phần nâng cao năng suất, sản lượng lúa.Đặc biệt là chất lượng đất quyết định lớn đến năng suất và chất lượng lúa gạo.Nhưng do hạn chế về nhiều mặt nên trong phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu ảnhhưởng của quy mô đất đai của các hộ mà không nghiên cứu chất lượng đất
Bảng 7: Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra
( Tính bình quân/hộ )Chỉ tiêu
Đội 2 Đội 9 BQCSào (%) Sào (%) Sào (%)Tổng diện tích 6,12 100 4,97 100 5,54 100
1 DT đất nông nghiệp 5,48 89,68 4,41 88,74 4,94 89,26
Đất trồng cây hàng năm 5,48 100 4,41 100 4,94 100
+ Đất trồng lúa 4,72 86,25 3,91 88,66 4,32 87,32
+ Cây trồng khác 0,76 13,75 0,5 11,34 0,62 12,68
2 Đất phi nông nghiệp 0,64 10,32 0,56 11,26 0,6 10,74
( Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2010 )Theo nguồn thông tin điều tra thực tế từ đội trưởng các đội và các nông
hộ, đất nông nghiệp được chia đều cho các nhân khẩu trong toàn xã Tại thời
điểm chia đất (từ năm 1994 theo nghị định 64 của chính phủ) thì mỗi nhânkhẩu chỉ được 12-15 thước (tương đương với 0,8 - 1 sào) gồm cả đất lúa và đất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31màu Vì vậy nói chung tình hình đất nông nghiệp của các hộ cùng đội phụthuộc vào số nhân khẩu trong gia đình, đất vườn thừa và một vài yếu tố khác.
Còn giữa 2 đội thì sự khác biệt khá rõ ràng, thể hiện:
Tổng diện tích đất bình quân hộ đạt 5,54 sào , trong đó diện tích đấtnông nghiệp là 4,94 sào và diện tích đất phi nông nghiệp là 0,6 sào Đất phinông nghiệp là đất nhà ở, một số công trình phụ và đất vườn tạp, chiếm khoảng10,72% tổng diện tích, phần còn lại là đất sản xuất nông nghiệp Như vậy, nhìnchung tổng quỹ đất của các hộ điều tra còn nghèo nàn cả về quy mô lẫn chủng
loại phân theo mục đích sử dụng Cụ thể, ở đội 2 trung bình mỗi hộ được 6,12sào Trong khi đó ở đội 9 chỉ 4,9 sào Có sự chênh lệch này là do quỹ đất củađội 9 ít hơn đội 2 mà tổng nhân khẩu lại nhiều hơn Điều đó làm cho đất sảnxuất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp của đôi 9 cũng thấp hơn đội 2
Đất sản xuất nông nghiệp chỉ dùng để trồng cây hàng năm (lúa và cácloại rau màu) chứ trên địa bàn xã không có cây lâu năm, trong đó đất trồng lúachiếm trên 70% (4,32 sào), phần còn lại ít ỏi (0,62 sào) được chia ra trồng rấtnhiều các loại rau và cây hoa màu như: ớt, lạc, rau cải, mướp đắng
Mặt khác, phần đất được chia đã không lớn còn được chia ra thànhnhiều mảnh và ở từng vùng cánh xa nhau Trung bình mỗi thửa có diện tích từ
gần 1 sào đến 2 sào, bình quân mỗi hộ được 3 thửa đất ruộng
Đây là những khó khăn lớn cho việc phát triển kinh tế của xã và gâycản trở cho việc thực hiện cơ giới hóa, đầu tư thâm canh tăng năng suất của các
hộ dân, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập và điều kiện sống của nôngdân Vì thế, chính quyền xã cần có những chính sách phát triển các ngành nghề
khác phù hợp với điều kiện của xã, thực hiện “ ly nông bất ly hương ” nhằm ổnđịnh cuộc sống cho nông dân Khuyến khích chuyển nhượng đất đai để chuyểnđất từ những hộ có đất nhưng không đủ điều kiện đầu tư sản xuất cho các hộ cónhu cầu đảm bảo sử dụng đất hiệu quả hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 322.2.2 Các nguồn lực khác
Để tiến hành sản xuất lúa thì bên cạnh đất đai các hộ còn phải sử dụngnhững nguồn lực khác Qua số liệu điều tra, tình hình nguồn lực sản xuất củacác hộ được thể hiện như sau:
Bảng 8: Nguồn lực sản xuất của các hộ điều tra
(Tính bình quân/hộ)Chỉ tiêu ĐVT Đội 2 Đội 9 BQC
Để tiến hành sản xuất thì yếu tố lao động là không thể thiếu Con người
sử dụng tư liệu lao động tác động có chủ đích vào đối tượng lao động để tạo rasản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình Nguồn lực lao động có thể là từ bênngoài hoặc lao động gia đình Ở hầu hết các vùng nông thôn Việt Nam, việc
sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng các nguồn lực trong gia đình mà ít thuê
từ bên ngoài (phần lớn là người già, ít có thanh niên) Qua số liệu điều tra ở 2đội trên địa bàn xã cho thấy, nguồn lao động trong các nông hộ khá dồi dào.Trong 64 hộ được điều tra gồm 283 nhân khẩu có tới 186 người trong độ tuổilao động, đạt trên 50% Đây là một yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế của hộ
và kinh tế xã nhà Tuy nhiên, cần xem xét nguồn lực này dưới nhiều góc độ và
về nhiều mặt nhằm đánh giá đúng để có kế hoạch phát triển và sử dụng hợp lý
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Xét về độ tuổi chủ hộ: Bình quân trên toàn vùng, tuổi chủ hộ là 56,9 tuổi
và sự chênh lệch tuổi tác giữa các chủ hộ trong các vùng được điều tra khôngđáng kể Ở đội 2, tuổi trung bình là 56,56 và ở đội 9 là 57,25 Đây là độ tuổi đã
có bề dày kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp (là yếu tố rất quan trọng
trong nghề nông) Nhưng đây cũng là độ tuổi đáng lẽ là đã được nghỉ ngơi, annhàn Với cái tuổi này thì việc tiếp thu cái mới có phần hạn chế, nhiều ngườirất “lười học” bởi có học bây giờ cũng không “vào” được Vì vậy khả năng tiếpthu khoa học, kỹ thuật mới gặp nhiều khó khăn Để thuyết phục họ cần cóngười đi tiên phong thực hiện và đạt kết quả tốt, lúc đó họ mới có thể tin tưởng
và tự nguyện làm theo Do đó cần có biện pháp tác động hợp lý tránh sự bấtmãn trong tâm lý của người nông dân
Quy mô lao động: Qua bảng trên ta thấy, cứ trung bình mỗi hộ cókhoảng 3 lao động trong khi đó quy mô hộ là gần 5 người/hộ, và số lao độngbằng 0,65 lần số nhân khẩu (chiếm khoảng 2/3 tổng nhân khẩu) Điều đó thểhiện khả năng cung cấp sức lao động của vùng rất lớn, cần chú ý khai thác và
sử dụng Trong đó có sự khác biệt giữa hai đội, ở đội 2 lực lượng lao độngnhiều hơn đội 9 và quy mô hộ cũng lớn hơn Việc giảm quy mô hộ là rất cầnthiết đối với các nông hộ bởi đời sống của họ còn rất khó khăn khi mà nguồnthu nhập để “nuôi con” dựa hết vào những mảnh ruộng và những lao động lớnlên từ các vùng quê vẫn luôn trong tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp,
phải đi tìm việc ở các khu kinh tế lớn tạo nên nhiều bất ổn cho xã hội
Trình độ văn hóa: Đây là vấn đề quan trọng trong phát triển nôngnghiệp, nông thôn và cả nhiều lĩnh vực khác Thế nhưng, những chủ hộ ở đâychỉ có trình độ văn hóa phổ biến từ lớp 2 đến lớp7 Những thanh niên trong độtuổi lao động thì mới học hết lớp 9 và một số ít học hết cấp 3 Trong bối cảnh
kinh tế - xã hội hiện nay đòi hỏi nhiều những lao động có trình độ (văn hóa vàchuyên môn) còn những lao động như thế chỉ có thể làm các công việc thủ
công, đơn giản Đây là một khó khăn lớn nhất trong chiến lược phát triển của
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34những gia đình khiếm khuyết “trụ cột chính” hoặc quá lớn tuổi không thể sử
dụng mới không có và họ thuê những người khác làm Thời gian sử dụng bình
là khoảng 5 - 7 năm; những nông cụ nhỏ như cào, cuốc, rựa, thúng trị giákhoảng 10 - 30 ngàn/cái phục vụ cho cả những hoạt động khác, những loại câytrồng khác Trung bình mỗi hộ mất khoảng 161,80 ngàn cho các vật dụng này
và thời gian sử dụng chúng là không thể nói trước, cũng có thể là hàng nămnhưng có khi chỉ được một vụ là đã hỏng Trên địa bàn xã các công việc nhưlàm đất đều thuê dịch vụ, thu hoạch xong thì thuê máy tuốt luôn ở ngoài đồngrồi mới mang về nên các hộ không nuôi trâu bò cày kéo, không có cày tay haybừa tay thậm chí cả xã chỉ có 3 hộ nuôi bò thịt và dùng để kéo thuê
Thực tế cho thấy, các nông hộ sử dụng TLSX vào rất nhiều các hoạtđộng cùng một lúc Bình phun thuốc BVTV, cào cuốc, vừa dùng cho cây lúa,vừa sử dụng cho các loại cây rau, hoa màu hay các loại cây cảnh (trong xã rất
phổ biến việc trồng và chơi cây cảnh) Các loại thúng mủng, rổ rá, triêng, gánh
thì vừa sử dụng cho sản xuất lúa, các loại cây trồng khác vừa gánh hàng đichợ Các hoạt động làm đất, vận chuyển được hộ thuê ngoài nên TLSX củanông hộ đơn giản và không nhiều, giá trị nhỏ nhưng mục đích sử dụng phongphú, thời gian sử dùng dài Do đó khó tính được khấu hao cho các TLSX này
2.2.3 Tình hình thu nhập của các hộ điều tra
Nông hộ khác nhau có các hoạt động kinh tế, mức đầu tư, khác nhau
vì thế nguồn thu nhập cũng khác nhau Thu nhập là toàn bộ giá trị bằng tiền mà
hộ thu được trong một chu kỳ sản xuất hay trong một khoảng thời gian Nó là
động lực giúp hộ tiếp tục sản xuất và ảnh hưởng rất lớn đến tư duy, khả năng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35đầu tư và kết quả sản xuất trong chu kỳ tiếp theo Nhìn chung, thu nhập của hộ
nông dân trên địa bàn xã chủ yếu là từ nông nghiệp, một ít từ các hoạt độngkhác, thể hiện:
Bảng 9: Tình hình thu nhập của các hộ điều tra
(Tính BQ/hộ)Nguồn thu Đội 2 Đội 9 BQC
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36nguồn thu khác tuy ít hơn nhưng không kém phần quan trọng đối với người dângiúp họ cải thiện cuộc sống Vì thế bên cạnh phát triển sản xuất nông nghiệp
cần phát triển thêm những ngành nghề khác để nông dân có thêm thu thập đểđầu tư vào sản xuất thâm canh
2.3 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA
Qua điều tra thu thập thông tin và số liệu từ các hộ dân trên địa bàn xãhai đội, tình hình sản xuất lúa của các nông hộ (qua đó cũng phản ảnh về tìnhhình sản xuất lúa chung cho tất cả các hộ trong xã) được thể hiện như sau:
Thời giansinhtrưởng
Diện tích
Năng suất(tạ/sào) Ghi chúSào %
Tổng - 276,48 100 -
-Giống IR38 140-150 179,71 65 2,8-3,5 Loại giống trung
ngày, chịu mặn
Giống Xi23 150-160 69,12 25 2,8-3 Dài ngày
Khang dân 115-125 27,65 10 2,5-3 Ngắn ngày
( Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2010 )
Ta thấy trong cơ cấu giống lúa được sử dụng thì IR38 chiếm tới 65%.Đây là loại giống trung ngày, thời gian sinh trưởng từ 104-150 ngày, chịu mặntốt, phù hợp với vùng đất cát ven đầm phá Tam Giang Được nông dân trong xãđưa vào sản xuất chưa lâu Năng suất cao nhất trong các loại giống được sửdụng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37Tiếp theo là Xi23 ( các hộ vẫn quen gọi là giống X ), là loại giống dàingày với thời gian sinh trưởng từ 150-160 ngày Xi23 chiếm 25% diện tíchgieo trồng của các hộ, năng suất đạt được khoảng từ 2,2-2,4 tạ/sào Được sửdụng ít nhất và gắn bó lâu nhất với nông dân nơi đây là Khang dân, chiếm10% Đây là giống ngắn ngày, mới được lai tạo với một số đặc tính tốt hơn loạigiống Khang dân cũ Giống nông dân trong xã sử dụng được cung cấp từ cáctrung tâm khuyến nông xã hoặc các cơ sở cung ứng vật tư nông nghiệp trên địabàn với giá trung bình khoảng 6,7 ngàn/kg.
2.3.2 Đầu tư cho sản xuất lúa
2.3.2.1 Tình hình đầu tư cho sản xuất lúa
Để tiến hành hoạt động sản xuất lúa thì nông hộ phải trang bị rất nhiềuyếu tố như giống, phân bón, lao động, Trung bình các hộ sử dụng 4,84 kggiống cho 1 sào, tương đối phù hợp so với yêu cầu kỹ thuật mà cán bộ khuyến
nông đưa ra (gieo sạ là 4 kg, cấy là 7 kg) Lượng phân bón các loại mà nôngdân sử dụng tính bình quân/sào/vụ trong năm vừa qua như sau: đạm: 5,91 kg;lân: 18,85 kg; kali: 5,04 kg Các mức này đều thấp hơn mức đầu tư trên loại đấtcát pha của địa phương mà đội ngũ khuyến nông khuyên dùng Đó là do thóiquen tiết kiệm và thói quen trong việc mua và sử dụng các yếu tố này Thông
thường các hộ mua phân bón theo từng bao 25-50 kg và chia ra sử dụng, cóthiếu vài ba kg thì bón ít lại một chút cũng không hề gì Do đó, tập huấn kỹthuật một đằng mà nông dân cứ làm một nẻo Công lao động sử dụng khôngnhiều (gần 6 công/sào), chủ yếu là công gieo cấy và thu hoạch còn công chămsóc rất ít Năm 2009 vừa qua, tình trạng dịch bệnh trên cây lúa ít hơn nhữngnăm trước nhưng nhiều hộ vẫn không phòng trừ kịp thời gây thiệt hại không
Trang 38Bảng 11: Tình hình đầu tư cho sản xuất lúa của các hộ điều tra
( Tính bình quân/sào )Chỉ tiêu ĐVT Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu BQC
Giống Kg 4,84 4,84 4,84
Đạm Kg 5,90 5,91 5,91
Lân Kg 18,85 18,85 18,85Kali Kg 5,01 5,06 5,04Lao động Công 5,59 5,58 5,59
BVTV Chai/bì 2,95 3,56 3,26
( Nguồn: Số liệu điều tra thực tế năm 2010 )Bên cạnh đó, số liệu điều tra ở bảng 11 cũng cho thấy mức độ đầu tưbằng hiện vật cho trồng lúa của các hộ ở hai vụ Đông Xuân và Hè Thu có sựchênh lệch Trong vụ Hè Thu do thời tiết bất lợi hơn nên lượng BVTV và phânbón cũng cao hơn
2.3.2.2 Đầu tư chi phí cho sản xuất lúa
Với đầu vào phải sử dụng như trên thì nông hộ phải bỏ ra các khoản chiphí tương ứng và một số chi phí khác Tuy nhiên, không phải cứ đầu tư càngnhiều càng tốt mà cần xác định mức và cơ cấu đầu tư phù hợp Việc này khôngnhững giúp tăng năng suất, chất lượng lúa mà còn làm giảm chi phí đầu tư Quađiều tra các nông hộ, mức đầu tư chi phí được thể hiện như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39Bảng 12: Chi phí và kết cấu chi phí sản xuất lúa của các hộ điều tra
( Tính bình quân/sào )Loại chi phí
Vụ Đông Xuân Vụ Hè Thu Hè Thu/Đông Xuân BQC1000đ % 1000đ % +/- % 1000đ %
Trang 40Chi phí giống
Giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất tối đa có thể đạt được,
là TLSX sống có quan hệ chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh như đất đai, khíhậu và chế độ canh tác của từng vùng Với điều kiện sản xuất trên địa bàn xã,bình quân các hộ đều đầu tư ở mức 32,45 ngàn đồng, chiếm 3,89% tổng số vốnđầu tư Chi phí giống giữa hai vụ và ở hai đội tính trên một sào hầu như không
có sự khác biệt Mức chi phí này là khá cao, cao hơn chi phí BVTV và chi phíthủy lợi cộng lại, trong khi trên thị trường giá nhiều loại giống lúa lai chỉ vớikhoảng 25 ngàn đồng/sào thì đó quả thật là thiệt thòi cho người dân Do đó cán
bộ khuyến nông xã cần cố gắng tìm các nguồn giống phù hợp với địa bàn sảnxuất mà giá cả có lợi cho nông hộ hơn
Chi phí phân bón
Trên địa bàn xã hầu như không có hộ nào sử dụng phân chuồng hay cácloại phân xanh cho sản xuất lúa Nông dân chỉ bón phân hóa học trong khi điềukiện đất đai của vùng không mấy màu mỡ (đất cát pha nghèo dinh dưỡng).Phân hóa học được sử dụng chủ yếu là: Phân đạm, lân và phân kali với giá
tương ứng trong năm vừa qua lần lượt là 8000đ; 3500đ và 13000đ trên một kg
Do đó năng suất đạt được cũng không cao bằng các vùng khác cho dù mức đầu
tư phân hóa học cao hơn Trung bình nông hộ bỏ ra 357,44 ngàn đồng/sào/năm
để mua phân bón Chi phí phân bón chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu chiphí đầu tư (21,4%) Mức đầu tư phân bón ở đội 2 và đội 9 khác nhau, ở đội 2 là352000đ thấp hơn 1200 so với mức đầu tư của các hộ đội 9 (364000đ) Vàlượng phân sử dụng cho vụ Hè Thu ở hai đội luôn lớn hơn lượng dùng cho vụĐông Xuân Trong những năm gần đây, giá các loại vật tư nông nghiệp liên tụctăng với mức cao gây khó khăn lớn cho nhiều hộ nông dân, đặc biệt là khi họkhông có loại phân nào thay thế hay bổ sung Trước tình hình đó, xã nên có cáchoạt động thu mua tập trung các loại phân bón với giá ưu đãi để đáp ứng nhucầu sản xuất trên địa bàn xã, đồng thời khuyến khích các nông hộ tự sản xuất
Trường Đại học Kinh tế Huế