1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế

78 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ trương “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” được nêu rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết 41NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-11-2004 về bảo vệ môi trường

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI XỬ LÝ RÁC THẢI CỦA NGƯỜI DÂN TRONG MÔ HÌNH

ĐIỂM DÂN CƯ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI PHƯỜNG THỦY BIỀU – THÀNH PHỐ HUẾ

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn: Trương Nữ Diệu Linh ThS Trần Hạnh Lợi

Lớp: K45 KTTNMT

Niên khóa: 2011- 2015

Huế, tháng 5/2015

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Với việc được nhà trường cho phép làm khóa luận lần này, nó đã giúp tôi thử sức với việc vận dụng các kiến thức đã được học và là kết quả của quá trình học tập tại trường ĐH Kinh tế Huế Cùng với sự nỗ lực của bản thân, không ngừng học hỏi, bồi dưỡng kiến thức lẫn đạo đức và quan trọng nhất được

sự giúp đỡ tận tình của gia đình, thầy cô, bạn bè, các cơ quan đoàn thể… nên tôi mới có thể hoàn thành được khóa luận này Sau đây, cho tôi được gửi lời cảm

ơn chân thành đến tất cả mọi người

Đầu tiên, là lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đến ba mẹ đã cổ vũ tinh thần giúp tôi có thể vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống, là chỗ dựa vững chắc để tôi có thể yên tâm hoàn thành công việc

Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô trường ĐH Kinh tế đã hết lòng truyền đạt những kiến thức để tôi có thể vận dụng vào công việc sau này, đó là những kiến thức quý báu, nền tảng và tâm huyết mà thầy cô đem lại cho tôi

Và người đặc biệt tôi muốn cảm ơn là Giảng viên Th.s Trần Hạnh Lợi, người đã hướng dẫn một cách tận tình, chu đáo để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận này một cách tốt nhất

Cuối cùng, không thể thiếu được là lời cảm ơn gởi đến các cô chú, anh chị của Ủy ban nhân dân phường Thủy Biều, đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu thực tế, và tạo điều kiện giúp tôi thực tập và hoàn thành đề tài

Sau những lời cảm ơn chân thành là sự nhìn nhận lại bản thân, tuy đã nổ lực phấn đấu nhưng không thể tránh được những sai sót trong quá trình thực hiện đề tài Vì thế, tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 05 năm 2015

Sinh viên thực hiện Trương Nữ Diệu Linh

Trang 3

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục hình ảnh, biểu đồ vii

Tóm tắt nghiên cứu viii

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

2.1 Mục tiêu chung: 2

2.2 Mục tiêu cụ thể: 2

3 Câu hỏi nghiên cứu: 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

4.1 Phạm vi nghiên cứu: 2

4.2 Đối tượng nghiên cứu: 3

5 Phương pháp nghiên cứu: 3

5.1.Phương pháp thu thập số liệu: 3

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận: 5

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến báo cáo: 5

1.1.1.1 Môi trường: 5

1.1.1.2 Hoạt động BVMT: 6

1.1.1.3 Cộng đồng tham gia BVMT: 7

1.1.2 Nhận thức và hành vi: 9

1.1.3 Rác thải: 10

1.1.3.1 Khái niệm và phân loại: 10

1.1.3.2 Các tác hại của rác thải gây ra: 11

1.2 Quan điểm của nhà nước về công tác XHH BVMT: 12

Trang 4

1.3 Cơ sở thực tiễn: 14

1.3.2 Các mô hình điểm dân cư BVMT tại các Tỉnh, Thành phố: 15

1.3.3 Các mô hình điểm DC BVMT được triển khai và kết quả nhận được tại các tỉnh: 15

1.3.3.1 Bình Dương: 15

1.3.3.2 Hà Nam: 17

1.3.4 Những vấn đề rút ra từ mô hình: 18

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH ĐIỂM DÂN CƯ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC TRIỂN KHAI TẠI PHƯỜNG THỦY BIỀU, THÀNH PHỐ HUẾ 20

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu phường Thủy Biều: 20

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu: 20

2.1.2 Về lĩnh vực kinh tế, xã hội 22

2.1.3 Sơ lược về rác thải tại phường Thủy Biều: 24

2.1.4 Địa điểm triển khai điều tra về mô hình và địa điểm đối chứng: 25

2.1.5 Mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường 26

2.2 Đánh giá mô hình qua nhận thức và hành vi của người dân giữa hai nhóm hộ: 29

2.2.1 Khái quát mẫu điều tra: 29

2.2.2 Nhận thức chung về mô hình điểm DC BVMT: 32

2.2.3 So sánh nhận thức và hành vi trong việc xử lí rác thải giữa hai nhóm hộ: 32

2.2.3.1.Nhận thức của người dân tại hai nhóm hộ trên địa bàn phường Thủy Biều 32

2.2.3.2 Hành vi của người dân tại hai nhóm hộ trên địa bàn phường Thủy Biều: 39

2.2.3.3 Đánh giá chung qua việc xử lý rác thải: 46

2.2.3.4 Kết luận ảnh hưởng từ mô hình đến nhận thức và hành vi của hai khu vực: 47 2.3 Đánh giá hiệu quả mô hình tại chính nhóm hộ trong mô hình: 47

2.4 Những hạn chế, cơ hội và thách thức khi triển khai mô hình tại phường Thủy Biều: 51

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔ HÌNH DC BVMT 53

3.1 Định hướng: 53

Trang 5

3.2 Giải pháp cho việc nâng cao chất lƣợng mô hình: 54

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận: 56

2 Kiến nghị: 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BVMT: Bảo vệ môi trường

DC BVMT: Dân cư bảo vệ môi trường

KV ĐP I: Khu vực Đông Phước I

KV ĐP II: Khu vực Đông Phước II

UBTƯ MTTQ: Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc

UB MTTT: Ủy ban Mặt trận tổ quốc

UBND: Ủy ban nhân dân

XHH BVMT: Xã hội hóa bảo vệ môi trường

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Phân loại thành phần rác sinh hoạt 10

Bảng 2: Nguồn phát sinh rác thải trên địa bàn phường Thủy Biều 25

Bảng 3: Thông tin cơ bản của người tham gia phỏng vấn tại hai nhóm hộ 31

Bảng 4: Thống kê mức độ quan tâm về rác tại hai nhóm hộ 33

Bảng 5: Kết quả kiểm định về sự khác biệt giữa mức độ quan tâm về rác thải và môi trường giữa hai nhóm hộ 33

Bảng 6: Nhận thức của người dân về các nguồn rác thải và thực tế các nguồn rác thải tại khu vực sinh sống 34

Bảng 7: Ý kiến của người dân tại hai nhóm hộ về tác động của rác thải tới môi trường 35

Bảng 8: Nhận thức người dân về việc xử lý rác thải 37

Bảng 9: Ý kiến người dân về trách nhiệm bảo vệ môi trường 38

Bảng 10: Các loại rác thải mà hộ gia đình thải ra môi trường 39

Bảng 11: Các hoạt động khác liên quan đến việc giảm thiểu rác thải của việc BVMT 43 Bảng 12: Các nguồn nhận thức của hai nhóm hộ 45

Bảng 13: Những hạn chế và khó khăn gặp phải trong quá trình xử lý rác thải 46

Bảng 14: Đánh giá mức độ hoàn thành trách nhiệm với mô hình điểm DC BVMT của các nhóm trong cộng đồng 48

Bảng 15: Đánh giá mô hình điểm DC BVMT tại nhóm hộ trong mô hình 49

Bảng 16: Ý kiến nâng cao chất lượng mô hình của người dân 49

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1: Lượng rác thải sinh hoạt bình quân của người Việt Nam trong một năm 11

Hình 2: Bản đồ Phường Thủy Biều 20

Hình 3: Giới tính của người phỏng vấn ở hai khu vực 29

Hình 4: Khảo sát về các hành vi xử lý rác thải của hai khu vực 40 Hình 5: Khảo sát về các hành động giảm thiểu nguy hại của rác thải đến môi trường 42

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Chủ trương “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” được nêu rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết 41NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-11-2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã nêu rõ cần phải tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường

Với những mục tiêu trên, UB MTTQ Việt Nam đã đưa ra các mô hình BVMT từ cộng đồng, trong đó có mô hình Dân cư Bảo vệ môi trường đã được triển khai tại nhiều tỉnh thành trong đó có Tỉnh Thừa Thiên Huế Và Thủy Biều là địa phương đầu tiên được lựa chọn thí điểm mô hình này Được sự chỉ đạo của Ban thường trực UBMT TQVN về việc triển khai xây dựng mô hình điểm cộng đồng dân cư BVMT, vào ngày 12 tháng 2 năm 2007, UBND xã Thủy Biều (nay là phường Thủy Biều) đã đưa ra quyết định thành lập ban chỉ đạo xây dựng mô hình điểm BVMT ở khu dân cư Đây là một bước tiến quan trọng trong việc đưa các mô hình này vào thực tế Sau một thời gian thực hiên, để tìm hiểu hiệu quả của mô hình cũng như những gì mà mô hình đem lại cho địa phương có thực sự thiết thực hay không, nên tôi tiến hành lựa chọn mô hình này để nghiên cứu khóa luận với đề tài “Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường Thủy Biều, thành phố Huế”

Trang 10

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Với xu thế hội nhập cùng phát triển như hiện nay, thì việc phát triển kinh tế - xã hội luôn luôn song hành cùng với việc BVMT để hướng đến một phát triển bền vững nhất Chúng ta không thể dùng một thước đo hoặc một công cụ nào để so sánh sự hơn kém

về tầm quan trọng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Do đó, không

có sự đánh đổi giữa môi trường và sự phát triển hoặc ngược lại Cả hai phải luôn bổ sung và tiết chế để tạo nên một phát triển bền vững nhất Vì thế, BVMT từ lâu đã trở thành một sự nghiệp quan trọng tại các quốc gia và được sự quan tâm hướng đến của cộng đồng quốc tế

Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy, nước ta luôn có chủ trương xem BVMT là một trong những sự nghiệp hàng đầu Đảng và Nhà nước ta không ngừng đưa ra các chính sách và hành động nhằm đạt được mục tiêu BVMT bền vững Với đặc điểm là một nước đang phát triển, trên đà xây dựng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Việt Nam còn trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 nên nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Chúng

ta hội nhập với thế giới, mở rộng quy mô sản xuất trong nước, thu hút các đầu tư từ nước ngoài Với những thành tựu đạt được, các lợi ích mang lại thì bên cạnh đó có không ít khó khăn, thách thức cần phải đối mặt và xử lý Và môi trường là một trong những thách thức lớn buộc chúng ta phải nghiên cứu kĩ lưỡng và hành động thận trọng nhằm đạt được các lợi ích tối ưu và BVMT bền vững

Một trong những quan điểm BVMT của Đảng và Nhà nước là chủ trương xã hội hóa BVMT được xác định rõ và có các bước đầu để tiến hành cụ thể hóa, triển khai vào thực tế đời sống Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường chính là việc huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, được sự chỉ đạo của Ban thường trực UBMT TQVN về việc triển khai xây dựng mô hình điểm cộng đồng dân cư BVMT và quyết định của UBND xã Thủy Biều (nay là phường Thủy Biều) thành lập ban chỉ đạo xây dựng mô hình điểm BVMT ở khu dân cư Đây

Trang 11

là một bước tiến quan trọng trong việc đưa các mô hình này vào thực tế và là lần đầu tiên được triển khai tại Tỉnh nhà Do đó, nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của mô hình này, thông qua việc nhận thức và hành vi của người dân trong việc xử lý rác thải, tôi chọn đề tài: “Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường Thủy Biều, thành phố Huế’’

2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu chung:

Đề tài thực hiện nhằm đánh giá và so sánh nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân ở trong và ngoài mô hình điểm DC BVMT, từ đó đưa ra giải pháp góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng mô hình

2.2 Mục tiêu cụ thể:

triển khai

dân tại địa phương thông qua việc xử lý rác thải

nơi nghiên cứu

3 Câu hỏi nghiên cứu:

Một là, quá trình hình thành và phát triển của mô hình điểm dân cư BVMT tại phường Thủy Biều diễn ra như thế nào?

Hai là, kết quả đạt được của mô hình này đến môi trường tại nơi nghiên cứu ra sao?

Ba là, mô hình này có tác động đến nhận thức và hành vi của người dân địa phương hay không và nếu có thì tác động ra sao?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 12

Nghiên cứu này được thực hiện tại phường Thủy Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Đề tài nghiên cứu bắt đầu từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các mô hình dân cư BVMT, rác thải, trường địa phương, môi trường xã hội, nhận thức và hành vi các hộ dân nằm trong và ngoài phạm vi mô hình điểm DC BVMT

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1.Phương pháp thu thập số liệu:

5.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp:

Đây là số liệu thu thập được từ các nghiên cứu trước, từ các báo cáo, từ các cơ quan chức năng và ban ngành lãnh đạo liên quan đến đề tài Được sử dụng nhằm mục đích phân tích và minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc các tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo’’ Nguồn tài liệu này bao gồm:

đã được xuất bản, công bố của các bên liên quan, các nhà khoa học được lưu hành rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và các tài liệu được phép lưu hành

trên Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu

5.1.2 Thu thập thông tin sơ cấp:

- Phỏng vấn hộ:

Số liệu này được thực hiện bởi chính người làm đề tài trong quá trình nghiên cứu Phương pháp thu thập là điều tra các hộ gia đình nơi thực hiện mô hình với số lượng mẫu điều tra là 90 hộ gia đình ngẫu nhiên nằm trong địa điểm triển khai mô hình và địa bàn đối chứng Từ đó có thể lấy được thông tin từ ý kiến khách quan của người dân và phục vụ cho quá trình điều tra làm đề tài

Trang 13

- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia:

Phương pháp này dựa trên việc thu thập các ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực này, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, người trực tiếp thực hiện, người có kinh nghiệm về đề tài này thông qua tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp để có các kết luận chính xác

5.2 Phương pháp phân tích số liệu

Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu thì tiến hành lập các bảng biểu

Có tổng cộng 90 hộ được điều tra tại Khu vực Đông Phước I và Đông Phước II của Phường Thủy Biều Bao gồm có các thông tin như giới tính, tuổi, thu nhập, ngành nghề trình độ học vấn và các nhận thức, hành vi về xử lý rác thải

Phiếu điều tra sau khi hoàn thành được kiểm tra về độ chính xác và sẽ được nhập vào máy tính bằng phần mềm SPSS và Exel để tiến hành tổng hợp, xử lý

Trang 14

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

vệ môi trường sống của chúng ta, thì đầu tiên là chúng ta phải nắm được khái niệm của

nó, từ đó mới thấy được tầm quan trọng của môi trường Sau đây là một số khái niệm

về môi trường được phổ biến rộng rãi và khái niệm rút ra từ quan sát của bản thân:

người, nó giúp trái đất có sự sống; hỗ trợ sự phát triển, sản xuất; và duy trì các giá trị

đó trong tương lai

Theo Luật BVMT số 55/2014/QH13 của Việt Nam thì môi trường được định nghĩa là: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Điều 1)

Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các

hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người

Trang 15

Như vậy, dù được định nghĩa dưới nhiều dạng khác nhau, tuy nhiên tổng chung lại, cách được hiểu thông dụng nhất là thì môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới con người, tác động qua lại với các hoạt động nhằm duy trì sự sống

1.1.1.2 Hoạt động BVMT:

Từ các khái niệm trên, chúng ta cũng đã nhận thấy tầm quan trọng của môi trường như thế nào, tuy nhiên do tính chất phát triển của toàn bộ thế giới, đòi hỏi phải có các cuộc cách mạng công nghiệp giữa các nước, rồi đến các mâu thuẫn gây nên chiến tranh, dịch bệnh, phát triển dân số một cách chóng mặt, sự phá hủy môi trường xuất phát từ con người và cũng do chính các thiên tai thảm họa nên môi trường càng ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng và đã có rất nhiều hậu quả và các sự cố đáng tiếc xảy ra

Và sự ảnh hưởng là toàn bộ nhân loại, không riêng gì một ai, một đất nước nào, một loài vật nào Vì thế nếu chúng ta không có các giải pháp kịp thời để ngăn chặn thì trái đất sẽ không còn sự sống hoặc sự sống sẽ vô cùng khó khăn, khó để duy trì tiếp tục Hoạt động BVMT không còn là một khái niệm mới mẻ nữa, nó đã tồn tại từ rất lâu và cũng được chú trọng từ nhiều thế kỉ nay Tại Việt Nam cũng vậy, BVMT sớm đã được đưa vào các văn bản, chính sách và hình thành nên những luật dùng để BVMT, trong

đó có quy định như sau: BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến với môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học (Luật BVMT năm 2005) Từ

đó, đặt ra các nguyên tắc BVMT nhằm hỗ trợ định hình công tác hoạt động BVMT tại Luật BVMT số 55/2014/QH13:

đình và các nhân

em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu

để đảm bảo quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành

Trang 16

- BVMT quốc gia gắn liền với BVMT khu vực và toàn cầu; BVMT đảm bảo không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

sự cố, suy thoái môi trường

từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho BVMT

khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

1.1.1.3 Cộng đồng tham gia BVMT:

Cộng đồng là một khái niệm cơ bản, vừa mang tính xã hội, vừa mang tính khoa học,

có nhiểu cách hiểu và cách chia khác nhau tùy theo địa lý, tín ngưỡng, tôn giáo Theo UNESCO, năm 1994 thì cộng đồng được định nghĩa là “Là một tập hợp người cùng sống trong một khu vực địa lý hoặc trong cùng một đơn vị hành chính, có chung các lợi ích, các điều kiện tồn tại để hoạt động” Khái niệm cộng đồng ở đây được dùng với ý nghĩa là cộng đồng người cùng chung sống trên một đơn vị hành chính, như kiểu một đô thị; có chung một nên văn hóa như kiểu một bộ tộc; hoặc một vùng địa phương thuộc thành thị hay nông thôn, như kiểu một nhóm người cùng sống tại một vùng hoặc một nơi cùng có tính đặc thù

Ngoài ra cộng đồng còn được hiểu là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó Bao gồm các hoạt động sản xuất, vật chất và hoạt động khác của họ, sự gần gũi của họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động - theo cuốn Phát triển cộng đồng – lý thuyết và vận dụng của hai tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang

Trang 17

Mặc dù có nhiều khái niệm về cộng đồng, nhưng chung quy lại, ta có thể hiểu cộng đồng là nơi tập hợp một yếu tố chứ không riêng lẻ Trong cộng đồng đó, các yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, giúp tạo nên một thể thống nhất, khó có thể tách rời

Môi trường là điều kiện cần để cộng đồng con người có thể phát triển và sinh tồn

Và sự tồn tại của cộng đồng có ý nghĩa cho sự phát triển môi trường Vì thế cộng đồng phải có nghĩa vụ trong việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Những tính chất có sức mạnh nổi bật của cộng đồng là: tính đoàn kết, gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau vì quyền lợi chung (sức mạnh tập thể bao giờ cũng lớn hơn sức mạnh cá nhân); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa; lòng tự hào về truyền thống của làng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính là nguồn cội lớn nhất của sức mạnh cộng đồng Hiện nay, công tác BVMT đang đứng trước các thách thức to lớn, khi mà nhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầu hưởng thụ đời sống một cách sung túc Nói cách khác công tác BVMT đang phải đối mặt với các mâu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân mỗi con người Để quản lý môi trường hiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng Các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phải là thể thống nhất, hài hòa và có sự tham gia của tất cả các cá nhân cũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống BVMT ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng rất bức bách và gắn liền với lợi ích của cộng đồng, sự tham gia cộng đồng vào BVMT là một trong những giải pháp quan trọng của cộng tác quản lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở) Sự tham gia của cộng đồng BVMT không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT, mà còn

là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi xuất hiện

Sự tham gia của cộng đồng là việc một cộng đồng được tham gia tư vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển hay một quy hoạch phát triển kinh tế vùng, khu vực hoặc kế hoạch sử dụng tài nguyên Đây là một cơ hội để

Trang 18

người dân có thể bày tỏ ý kiến và bằng cách đó họ có thể làm ảnh hưởng đến sự ra quyết định của cấp có thẩm quyền Điều này sẽ tác động rất lớn đến kế hoạch của một vùng rộng lớn, hoặc cũng có thể là một dự án nhỏ

Hình thức tham gia cộng đồng có thể khác nhau: có thể là một chính sách về môi trường, quy hoạch vùng, xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp Mức độ và loại hình tham gia cộng đồng ở từng vùng mang tính đặc trưng riêng, đặc biệt còn tùy thuộc vào tâm lý, trình độ dân trí và khả năng nhận thức những vấn đề liên quan đến ý kiến tham vấn, đóng góp của cộng đồng

1.1.2 Nhận thức và hành vi:

tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nét cơ bản của sự vật hiện tượng Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày càng được mở rộng Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học” của nhà xuất bản Bộ giáo dục – đào tạo, năm 2000 định nghĩa rằng: “Nhận thức

là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được

mã hoá, được lưu giữ và sử dụng Hiểu Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá, Như vậy nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức

độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)

Trong bài khóa luận này, tôi muốn nhấn mạnh và đề cập tới nhận thức của con người đối với môi trường nói chung và với những mô hình bảo vệ môi trường nói riêng Như chúng ta biết rằng, nhận thức của người Việt Nam về môi trường được đánh giá là còn thấp vì nhiều yếu tố tác động Tuy nhiên với việc BVMT được nhà nước quan tâm và đặt lên hàng đầu, thêm vào đó trình độ dân trí ngày càng cao, nên chúng ta có thể hy vọng nhận thức về môi trường sẽ được cải thiện và nâng cao Đây cũng là yếu tố quyết định đến việc phát triển và bảo vệ môi trường bền vững

Trang 19

Thông qua việc tìm hiểu nhận thức, ta có thể định hình được các hành vi của con người trong xa hội Như vậy tiến hành tìm hiểu hành vi của con người đối với môi trường, nó có tác động đến môi trường ra sao, theo mặt tích cực hay tiêu cực để từ đó tìm ra những giải pháp đối với những hành vi xấu và phát huy những hành vi tốt để hướng đến việc BVMT một cách bền vững nhất

1.1.3 Rác thải:

1.1.3.1 Khái niệm và phân loại:

kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp

Bảng 1: Phân loại thành phần rác sinh hoạt

cành cây, pin, ắc quy, bóng đèn…

(Nguồn: Công ty URENCO_Hà Nội, 2010)

Trang 20

Rác thải ở Việt Nam đang là một hiện trạng đáng lo ngại Sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số không ngừng đang khiến rác thải sinh hoạt và y tế tại các thành phố lớn ở Việt Nam tăng nhanh hơn cả các nước khác trên thế giới Vì vậy, để đối mặt với vấn đề này, chúng ta cần nhiều hành động hơn là lời nói nhằm ngăn chặn những hậu quả xấu ở thực tại và trong tương lai

Hình 1: Lượng rác thải sinh hoạt bình quân của người Việt Nam trong một năm

(Nguồn: Công ty khoa học kỹ thuật và môi trường Minh Việt, 2014)

1.1.3.2 Các tác hại của rác thải gây ra:

+Ô nhiễm nước:

Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm lạnh tro xỉ, nước làm sạch khí của các lò thiêu làm ô nhiễm nước ngầm

Nước chảy tràn khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, nước làm lạnh tro

xỉ, nước làm lạnh qua các lò thiêu chảy vào các mương rãnh, hồ, ao, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt

Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hòa tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần

Trang 21

+Ô nhiễm không khí:

kim loại thăng hoa

Bụi sinh ra trong quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng, các chất độc hại lẫn trong rác

- Ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của chúng lên các thành phần môi trường Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn

Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý thích hợp, cứ

đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác có nguy cơ gây các bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe cộng đồng xung quanh

- Ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị

Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm

Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ

1.2 Quan điểm của nhà nước về công tác XHH BVMT:

Môi trường là tài sản chung của mọi người và mang tính công hữu rõ rệt Môi trường tốt mọi người có quyền được hưởng, môi trường xấu đi thì mọi người đều phải

Trang 22

có trách nhiệm bảo vệ Huy động lực lượng cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường là nói đến toàn dân tham gia công tác bảo vệ môi trường, làm cho hoạt động này mang tính xã hội, vì lợi ích chung của xã hội và được mọi người trong xã hội tham gia Khi các cộng đồng tham gia vào các hoạt động giữ gìn môi trường thì đó là “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” Môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao, nên công tác bảo vệ môi trường được toàn dân tham gia là một việc làm phù hợp

Chủ trương “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” được nêu rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết 41NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-11-2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã nêu rõ cần phải tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích

cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường đã khẳng định bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của

cơ quan Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi

để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Trong Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường (giai đoạn 2001 - 2010) cũng

đã nêu những luận điểm quan trọng là: Nhà nước thực hiện chính sách xã hội hóa bảo

vệ môi trường bằng luật pháp, bằng các văn bản pháp lý để huy động cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp

Qua đó XHH BVMT được nhìn nhận với các nội dung sau:

- Là vận động và tổ chức tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào BVMT

- Là xây dựng cộng đồng có trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với tạo lập

và thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện, BVMT

- Là đa dạng hóa các hình thức hoạt động trong lĩnh vực BVMT Bên cạnh việc củng cố vai trò của nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hoạt động do các tập thể hoặc cá nhân tiến hành

- Là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng và nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân

Trang 23

1.3 Cơ sở thực tiễn:

1.3.1 Mô hình điểm cộng đồng BVMT tại Việt Nam:

Năm 2004, nhận thức đúng vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký Nghị quyết liên tịch với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về công tác bảo vệ môi trường Từ năm 2004 đến nay, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai xây dựng Khung chiến lược Chương trình “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” và đã triển khai hướng dẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành xây dựng một số mô hình điểm về bảo vệ môi trường, như:

- Mô hình “Lồng ghép nhiệm vụ bảo vệ môi trường vào cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tại 10 tỉnh, thành phố là: Lai Châu, Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Bình Định, Bình Thuận, Kon Tum, Lâm Đồng, Trà Vinh, thành phố Hồ Chí Minh

- Mô hình: “Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường” tại 11 tỉnh, thành phố là: Yên Bái, Nam Định, Thanh Hoá, Phú Yên, Đắc Lắc, Bình Dương, Hoà Bình, Cà Mau, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ

- Mô hình “Khu dân cư thực hiện hài hòa xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường” được xây dựng tại 10 tỉnh gồm: Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Đắc Nông, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Vĩnh Long, Sóc Trăng

Với các mô hình cộng đồng BVMT, tính đến nay, cả nước ta đã nhân rộng lên 6.198

mô hình nhỏ theo bản chất trên Phó Chủ tịch UBTƯMTTQ Việt Nam Lê Bá Trình, Chủ nhiệm chương trình Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường cho biết, năm 2006, Ban Thường trực UBTƯMTTQ Việt Nam đã chỉ đạo triển khai lồng ghép việc xây dựng các mô hình điểm khu dân cư trong cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tại 20 khu dân cư của 10 tỉnh, thành phố gồm: Lai Châu, Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, Bình Định, Bình Thuận, Kon Tum, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh

Từ hoạt động của các mô hình điểm, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường đã đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực,

Trang 24

sát với đời sống của cộng đồng dân cư như: cùng nhau thực hiện tổng vệ sinh vào sáng thứ bảy, hoặc ngày chủ nhật xanh - sạch, giữ gìn cảnh quan khu dân cư… hàng tuần được duy trì đều đặn Bước đầu đã hình thành được thói quen, phương pháp thực hiện trách nhiệm giám sát và tự giám sát thực hiện các quy định bảo vệ môi trường tại khu dân cư Sau 7 năm, từ mỗi địa phương xây dựng hai mô hình điểm ban đầu đến nay cả nước đã nhân rộng 6.198 mô hình KDC bảo vệ môi trường, trong đó đáng chú ý là Hải Phòng: 2.568 mô hình, Long An: 1.032, Lâm Đồng: 998, Bắc Giang: 392, Ninh Thuận: 227,TP.HCM :175 mô hình

Bắc Giang là tỉnh có nhiều điểm sáng Ông Phạm Thanh Sơn – Phó Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Bắc Giang cho biết, sau một năm thực hiện đề án xây dựng mô hình

"Khu dân cư bảo vệ môi trường” đã có sự chuyển biến trong sản xuất, kinh doanh và

tổ chức cuộc sống hàng ngày Điển hình như nhân dân ở ngõ Thổ, thôn Làng, xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế (là huyện miền núi) đã tự nguyện đóng góp kinh phí xây dựng một lò xử lý rác thải trị giá 15 triệu đồng (đã hoạt động từ tháng 11-2012) Trong quá trình thực hiện đề án đã xuất hiện nhiều tấm gương vì cộng đồng như tự nguyện sáng – chiều gom nhặt rác thải, túi ni lông do người dân vứt bừa bãi về phân loại, sau

đó nhờ ban bảo vệ môi trường xã đi tiêu hủy…

1.3.2 Các mô hình điểm dân cư BVMT tại các Tỉnh, Thành phố:

Với mô hình được nhân rộng thì tính đến nay, hầu như khắp cả nước đều đã phổ biến triển khai xây dựng mô hình Với các bước đầu khả quan và đem lại nhiều thành công nên không chỉ ngang mức triển khai mô hình mà còn có sự thi đua giữa các tỉnh, thành phố, các huyện, các xã Vì thế có thể nói, việc tìm hiểu các mô hình này tại các nơi đã triển khai là vô cùng cần thiết, nó giúp chúng ta hoàn thiện hơn mô hình và rút

ra được những khó khăn thuận lợi, từ đó có thể điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện mô hình hơn, góp phần cho công cuộc bảo vệ môi trường nước ta ngày càng vững bền

1.3.3 Các mô hình điểm DC BVMT được triển khai và kết quả nhận được tại các tỉnh:

1.3.3.1 Bình Dương:

Sau gần 7 năm phối hợp hoạt động bảo vệ môi trường giữa Sở Tài nguyên và Môi trường cùng với Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Dương, mô hình dân cư

Trang 25

bảo vệ môi trường tại các khu, ấp trên địa bàn tỉnh này đã mang lại hiệu quả thiết thực,

được nhân dân đánh giá cao

Trong năm 2014, Sở Tài nguyên và tiếp tục phối hợp với Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Dương đã thành lập thêm 7 mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường ở các địa phương như huyện Phú Giáo; thị xã Thuận An; thị xã Bến Cát; thị xã Tân Uyên; huyện Dầu Tiếng và thành phố Thủ Dầu Một Việc thành lập các tổ tự quản bảo vệ môi trường trên đã nâng tổng số tổ tự quản về bảo vệ môi trường ở Bình Dương lên 585 tổ, trong đó có 15 mô hình được thành lập từ kinh phí của Sở Tài nguyên và Môi trường, 9 mô hình được hỗ trợ kinh phí từ Trung ương Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Dương, còn lại là các mô hình nhân rộng được thành lập và hoạt động từ nguồn xã hội hóa của nhân dân

Tiêu biểu như ở thị xã Thuận An có tổ tự quản ấp Bình Thuận, xã Bình Nhâm, Tổ này đã vận động 79 hộ trang bị thùng rác, giám sát các hộ chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường, mua bán lấn chiếm lòng đường, phát hiện và đề nghị xử lý nhiều vụ đi xe gắn máy đổ rác không đúng nơi quy định Huyện Bến Cát có tổ tự quản bảo vệ môi trường tại khu phố 3, thị trấn Mỹ Phước hoạt động rất hiệu quả Các hộ trong tổ đã tự giác giữ gìn vệ sinh chung, bỏ rác đúng nơi quy định, đóng tiền rác hàng tháng đầy đủ Tại huyện Phú Giáo hàng tháng các tổ tự quản vệ sinh môi trường tiến hành giám sát, đôn đốc các hộ gia đình thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh chung về bảo vệ môi trường,

tổ chức thu gom rác, rác thải về đúng nơi quy định; tuyên truyền nhân dân xóa bỏ các thói quen mất vệ sinh…

Nhờ xã hội hóa trong cộng đồng về bảo vệ môi trường bằng mô hình điểm DC BVMT, tỉnh Bình Dương đã không ngừng phát huy quyền làm chủ, chủ động của nhân dân trong việc tham gia xây dựng, thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như xây dựng các quy chế, hương ước của cộng đồng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Được biết, trong những năm gần đây, phong trào bảo vệ môi trường ở Bình Dương

đã nhận được sự quan tâm, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân Cùng với việc chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, công tác

Trang 26

tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường cũng được chú trọng thực hiện Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường đã được các cơ quan quản

lý nhà nước về bảo vệ môi trường cũng như Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Công an tỉnh Bình Dương triển khai quyết liệt và đạt được nhiều kết quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh… Chính vì vậy, tỉnh Bình Dương đã đạt được và vượt mức chỉ tiêu, kế hoạch về bảo vệ môi trường mà Trung ương đề ra trong giai đoạn 2015-2020

1.3.3.2 Hà Nam:

Phát huy vai trò của nhân dân trong việc bảo vệ môi trường, MTTQ tỉnh Hà Nam đã triển khai xây dựng các mô hình điểm khu dân cư bảo vệ môi trường Qua hơn 4 năm thực hiện việc xây dựng các mô hình điểm đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, thói quen của người dân trong việc bảo vệ môi trường Thôn Đình Hậu, xã Thanh Thủy (Thanh Liêm) một trong những khu dân cư được MTTQ tỉnh Hà Nam chọn để triển khai thực hiện điểm khu dân cư bảo vệ môi trường vấn đề ô nhiễm đã từng bước được cải thiện Thôn Đình Hậu, xã Thanh Thủy (Thanh Liêm) một trong những khu dân cư được MTTQ tỉnh Hà Nam chọn để triển khai thực hiện điểm khu dân cư bảo vệ môi trường vấn đề ô nhiễm đã từng bước được cải thiện Ban công tác Mặt trận thôn thường xuyên đến các gia đình tuyên truyền, vận động

bà con nhân dân thực hiện tốt việc phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt, xử lý chất thải, nước thải trong sinh hoạt chăn nuôi cũng như khắc phục các thói quen sinh hoạt, sản xuất và tiêu dùng ảnh hưởng đến môi trường Cùng đó, lồng ghép nội dung xây dựng khu dân cư bảo vệ môi trường trong các buổi họp dân, sinh hoạt của các chi hội, đoàn thể nhằm vận động người dân, hội viên tích cực thực hiện Nhờ đó ngay năm đầu tiên triển khai, 100% các hộ gia đình trong thôn đều tự nguyện ký cam kết Bảo vệ môi trường với các nội dung như mỗi hộ gia đình đều phải có vật dụng chứa rác thải, chất thải bảo đảm không gây ô nhiễm trước khi đưa đến nơi xử lý; không vứt rác bừa bãi ra đường; phân loại rác thải, bảo đảm an toàn, vệ sinh khu vực công cộng, không phóng

uế, vứt xác động vật bừa bãi, không chặt phá cây xanh, thả rông súc vật…

Trang 27

Hiện, 100% người dân trên địa bàn xã đã thực hiện các quy định như chứa rác thải bằng vật dụng bảo đảm vệ sinh; bỏ rác đúng nơi quy định, đổ rác đúng giờ, không để vật nuôi gây mất vệ sinh nơi công cộng và nộp đủ phí bảo vệ môi trường Cùng với xã Ngọc Sơn, nhiều địa phương khác của huyện Kim Bảng như thị trấn Quế, xã Thi Sơn đến nay cũng đã thành lập được các tổ thu gom rác thải tại các địa bàn dân cư Mô hình chính quyền hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu như tiền mua xe vận chuyển rác, tuyên truyền, vận động và người dân tự đóng góp kinh phí để duy trì hoạt động đang được nhân rộng trên địa bàn

Theo Phó chủ tịch MTTQ tỉnh Hà Nam Nguyễn Đức Hiếu, việc xây dựng các mô hình điểm đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, thói quen của người dân Cùng đó, phát huy được năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ Mặt trận ở cơ sở cũng như các cá nhân tiêu biểu có tiếng nói đối với người dân trong thôn, xóm để huy động sự vào cuộc của cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường Sau khi được chọn làm điểm mô hình, các khu dân cư đều bảo đảm thực hiện đúng các tiêu chí như 100% hộ gia đình ký cam kết bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt hàng ngày; 100% hộ gia đình tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường ở thôn, xóm…

+ Thành lập các Ban chỉ đạo Chương trình “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” Tổ chức hướng dẫn chỉ đạo lồng nghép nội dung bảo vệ môi trường vào nội dung của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

Trang 28

ở khu dân cư” Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm và kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường mà nhân dân đã cam kết

+ Ban hành các văn bản, tài liệu, nội dung, tiêu chí, cách đánh giá, các bản cam kết bảo vệ môi trường

+ Khảo sát và chọn khu dân cư để xây dựng mô hình

- Công tác tuyên truyền về môi trường và bảo vệ môi trường đạt một số kết quả thiết thực

Thực tế ở các khu dân cư cho thấy, công tác tuyên truyền về môi trường và bảo

vệ môi trường đã và đang được cấp ủy Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc các cấp rất quan tâm Hiện nay ở khu dân cư, ngoài ngày kỷ niệm Môi trường thế giới (5-6), các khu dân cư thường xuyên tuyên truyền và động viên nhân dân thực hiện tốt nội quy về bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức như trên loa truyền thanh của thôn, khẩu hiệu, các pano, áp phích, bằng rôn, các tờ gấp…Nhiều khu dân cư còn đưa nội dung bảo vệ môi trường vào Hương ước, Quy ước của thôn làng, ấp

- Nhận thức của nhân dân về môi trường và BVMT ngày càng tăng lên

Có thể nói đây là một thành công lớn của các mô hình điểm trong những năm qua Giờ đây, không chỉ ở thành phố, thị xã mới nhận thức vai trò của môi trường đối với đời sống xã hội, mà ngay ở vùng nông thôn cũng đã nhận thấy bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp là trách nhiệm của mọi người Mỗi gia đình, mỗi cộng đồng dân cư đã và đang thấy rõ môi trường và công tác BVMT vừa là nghĩa vụ vừa là trách nhiệm của mỗi công dân

- Bước đầu đã tạo được chuyển biến về hành vi bảo vệ môi trường ở cộng đồng dân

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH ĐIỂM DÂN CƯ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC TRIỂN KHAI TẠI PHƯỜNG

THỦY BIỀU, THÀNH PHỐ HUẾ

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu phường Thủy Biều:

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu:

 Vị trí địa lý

Địa giới hành chính:

- Phía Đông giáp với phường Thuỷ Xuân, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Phía Tây giáp phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Phía Nam giáp với xã Thuỷ Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Phía Bắc giáp phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Hình 2: Bản đồ Phường Thủy Biều

(Nguồn: UBND Phường Thủy Biều)

Diện tích tự nhiên: 657.3 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 207.29 ha;

- Đất phi nông nghiệp: 439.9 ha;

Trang 30

- Đất chưa sử dụng: 10.11 ha

Dân số và lao động:

- Tổng dân số: 2.285 hộ với 10.216 khẩu

- Lao động: 5.344 người, trong đó:

+ Lao động phi nông nghiệp: 4.244 người (chiếm 79.4 %);

+ Lao động nông nghiệp: 1.100 người (chiếm 20.6 %)

 Điều kiện khí hậu

Phường Thủy Biều nói riêng cũng như TP Huế nói chung nằm trong vùng khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước

+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C - 22°C

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30% lượng mưa cả năm

Trang 31

+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài

+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt

2.1.2 Về lĩnh vực kinh tế, xã hội

 Phát triển kinh tế

+ Sản xuất nông nghiệp:

Diện tích cả năm 2014 là 147.2 ha, năng suất bình quân đạt 52,227 tạ/ha Sản lượng

cả năm đạt 768.78 tấn đạt 93.68% Cơ cấu giống cấp I đạt 100% Trong đó giống chất lượng cao đạt 35%.Các loại hoa màu khác: Diện tích trồng các loại hoa 11 ha, tổng giá trị sản lượng 804 triệu đồng Tổng diện tích các cây hoa màu khác 84 ha, tổng giá trị sản lượng 2.4 tỷ đồng

+ Về thương mại:

Hoạt động thương mại ổn định, qua thống kê toàn phường đã có 474 hộ đăng ký kinh doanh, dịch vụ, các mặt hàng thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh, buôn bán trên địa bàn ngày càng phong phú, đa dạng, sản phẩm sạch của nông dân như: rau sạch, thịt lợn thông qua tổ chức BAJ Cầu Châu Á Nhật Bản đã giới thiệu đến người tiêu dùng ngoài Tỉnh chấp nhận, trong thời gian qua thông qua tổ chức này đã

có trên 100 người tại TP Hồ Chí Minh tiêu thụ 1500kg thịt lợn và 500kg rau sạch, hiện nay nông dân đã có điều kiện để trao đổi, mua bán thường xuyên

+ Dịch vụ - Du lịch:

Trong những năm qua, Thủy Biều đã có nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội Do biết phát huy thế mạnh là nơi có nhiều điểm di tích lịch

sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được công nhận di sản văn hóa thế giới như:

Hổ Quyền và điện Voi Ré; các di tích được công nhận cấp tỉnh như: di tích Thành lồi

và nhà máy nước Vạn Niên; những thắng cảnh đẹp nổi tiếng như Đồi Vọng Cảnh, Độn Bàu Hồ; có con sông Hương uốn khúc bao bọc 2/3 ranh giới của phường

Trang 32

Hiện nay, địa phương đang là điểm hấp dẫn để thu hút khách tham quan du lịch trong

và ngoài nước nhất là du lịch sinh thái Do đó, phường Thuỷ Biều có một diện mạo đô thị mới từng bước hình thành rõ nét, đời sống, sinh hoạt và thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao

+ Công tác văn hóa xã hội

Công tác thông tin, tuyên truyền có nhiều cố gắng góp phần đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước vào cuộc sống, phục vụ tốt nhân kỷ niệm các ngày

lễ lớn và các nhiệm vụ chính trị trọng tâm

Cuộc vận động “Toàn đân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa “ tiếp tục được đẩy mạnh; đã có trên 92% gia đình được công nhận gia đình văn hóa, phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng có chuyển biến tích cực

Lĩnh vực giáo dục – đào tạo tiếp tục được đầu tư xây dựng trường lớp, trang thiết bị dạy học được mua mới Chất lượng giáo dục được giữ vững, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp

ở các bậc học, thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng đạt khá cao, năm 2014 toàn phường có 56 em thi đỗ vào các trường Đại học được UBND phường tổ chức biểu dương khen thưởng Số trẻ được huy động ra lớp ở bậc Mầm non là 150 trẻ, học sinh được huy động ra lớp 1 là 95 em, số học sinh đăng ký vào lớp 6 là 100 em

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết

bị ở trạm y tế có chuyển biến tích cực Các chương trình y tế quốc gia thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra, công tác khám chửa bệnh tại trạm y tế đạt nhiều hiệu quả cao Tổng số lần khám chửa bệnh ngoại trú trong năm 2014 đạt 5.483 lượt người

Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai thực hiện tốt Các mô hình tổ dân phố không con thứ 3; mô hình nâng cao chất lượng dân số tiếp tục được nhân rộng Tổng số người chấp nhận các biện pháp tránh thai 592 người đạt 110,03%; tỷ lệ sinh con thứ 3 là 12,1% so với năm 2013 giảm 0,5% Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 0,73% (năm 2013: 0,77%)

 Công tác xây dựng cơ bản

Trong những năm qua được sự đầu tư của nhà nước, cùng với sự cố gắng quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn phường, cho đến nay, phường đã

Trang 33

xây dựng được nhiều công trình phục vụ dân sinh như: hệ thống đường trên 10 km đã trãi thảm nhựa (đường Bùi Thị Xuân, Ngô Hà, Huyền Trân Công Chúa); toàn bộ hệ thống đường kiệt được Thành phố hỗ trợ kinh phí cùng với nhân dân đóng góp đã xây dựng hoàn thành đường bê tông toàn phường với tổng chiều dài hơn 60 km; Hệ thống điện chiếu sáng ở các trục đường chính trong phường như Bùi Thị Xuân, đường Ngô

Hà, Huyền Trân Công Chúa đảm bảo 100%; Số hộ dùng điện ánh sáng đạt 100%; Số

hộ dùng nước sạch đạt 100% (97,8% dùng nước máy); 98% người dân có phương tiện nghe, nhìn (40% hộ gia đình có dùng máy vi tính trong đó hơn 10% hộ dân có nối mạng internet)

Hiện nay trên địa bàn phường có 01 trường Mầm non; 01 trường Tiểu học; 01 trường Trung học cở sở; Cơ sở vật chất của các trường hàng năm đều được nâng cấp sửa chữa, đầu tư xây mới đạt chuẩn quốc gia chất lượng giảng dạy; việc dạy và học của các trường ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực; Phường có 1 trạm y tế vừa mới được đầu tư xây dựng mới tổng mức đầu tư 1,5 tỷ đồng Trạm y tế phường đã được công nhận đơn vị đạt chuẩn Quốc gia nhiều năm liền; Phường có 2 chợ có 145 chị em tiểu thương tham gia buôn bán kinh doanh, có 01 sân vận động, 02 trạm bưu điện (trong đó có 01 trạm bưu điện Tỉnh và 01 bưu điện văn hoá); số hộ dùng điện thoại nhà riêng chiếm gần 95% tổng số hộ

2.1.3 Sơ lược về rác thải tại phường Thủy Biều:

Trước đây phường Thủy Biều là địa phương có diện tích rộng lớn nhưng mật độ dân

số thấp do cách xa trung tâm thành phố Huế nên tổng lượng rác thải phát sinh vẫn chỉ

ở mức độ trung bình Nhưng trong những năm gần đây thành phố Huế có xu hướng phát triển mạnh cho các phường thuộc vùng ven của thành phố thì khối lượng chất thải bắt đầu tăng nhanh chóng do sự phát triển mọi mặt trên địa phương đặc biệt là các dự

án xây dựng quy hoạch khu dân cư trên địa bàn phường Ngoài ra, Thủy Biều là phường phát triển mạnh về du lịch của thành phố Huế, có 2 di sản được nhà nước công nhận là di sản cấp quốc gia đó là thành Hổ Quyền và Điện voi ré, nên hàng năm thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan nên thải cũng tăng một phần đáng kể

Trang 34

Cùng với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, mức sống người dân ngày càng được nâng cao, mức xả thải chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người cũng tăng theo Tốc độ tăng mức xả thải chất thải rắn sinh hoạt bình quân người dân phường Thủy Biều giai đoạn 2012-2014 là 2,82%/năm Năm 2014, mức xả thải bình quân trên đầu người là 0,612 kg/người/ngày; năm 2013 là 0,629 kg/người/ngày Năm 2014 mức

xử thải bình quân tăng nhanh lên mức 0,647 kg/người/ngày, tăng 0,018 kg/người/ngày

so với năm 2013, tốc độ tăng tương ứng là 2,86%

Qua bảng 2, nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường chủ yếu từ 3 nguồn sau: thứ nhất là rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình chiếm 60%, tương ứng là 10.86 tấn/ngày, tiếp theo là rác thải ngoài ra từ các các chợ, quán ăn, dịch vụ công cộng chiếm 25%, tương ứng với 4.53 tấn/ngày Khối lượng còn lại là rác từ trường học, cơ quan, công ty

Bảng 2: Nguồn phát sinh rác thải trên địa bàn phường Thủy Biều

Nguồn

Khối lượng (tấn/ ngày)

Cơ cấu (%)

( Nguồn: UBND phường Thủy Biều)

2.1.4 Địa điểm triển khai điều tra về mô hình và địa điểm đối chứng:

- Nhóm hộ trong mô hình (Khu vực Đông Phước II)

Thôn Đông Phước 2 là một thôn được tách ra từ thôn Đông Phước Năm 2011, với quá trình đô thị hóa nông thôn được chính phủ phê duyệt nghị quyết số 14/CP, vào ngày 25 tháng 4 năm 2010, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định thành lập

Xã Thủy Biều thành phường Thủy Biều, vì thế thôn Đông Phước 2 trở thành khu vực Đông Phước 2 gồm có ba tổ dân phố là tổ dân phố 4, 5 và 6, hiện toàn khu vực

Trang 35

có 361 hộ với 1580 nhân khẩu Dân cư trong khu vực chủ yếu sinh sống bằng buôn bán nhỏ, cán bộ công nhân viên, chăn nuôi, thợ thủ công, một số làm vườn, trồng cây lưu niên ( chủ yếu là cây thanh trà) và sản xuất nông nghiệp… Trên địa bàn khu vực tập trung các cơ quan quan trọng của địa phương như UBND Phường, Hợp tác

xã nông nghiệp, Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, Trường Tiểu học Thủy Biều, Trường Mầm non Thủy Biều, Đình làng Nguyệt Biều và công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng Long Thọ Ngoài ra còn có các công trình phúc lợi khác của Phường như chợ, sân bóng đá,…

Với việc tập trung nhiều công trình công cộng và các trung tâm hành chính, lại là nơi chủ yếu giao thương buôn bán và sầm uất, và việc ô nhiểm môi trường cao hơn các tổ khác nên tổ 4, tổ 5, tổ 6 được chọn thí điểm mô hình điểm dân cư BVMT đầu tiên tại tỉnh Thừa Thiên Huế

- Nhóm hộ ngoài mô hình (Khu vực Đông Phước I)

Khu vực Đông Phước I cũng là khu vực được tách ra từ thôn Đông Phước Khu vực gồm ba tổ đó là tổ 7, tổ 8, tổ 9 Hiện toàn khu vực có 230 hộ với 920 nhân khẩu Dân cư ở đây sinh sống chủ yếu cũng bằng các nghề tương tự như khu vực Đông Phước II Trên địa bàn cũng có tập trung các cơ quan, cơ sở sản xuất, buôn bán dịch vụ… So về mặt bằng chung thì khu vực Đông Phước II vì đặc điểm là địa bàn trung tâm nên ở đây kinh tế phát triển hơn hẳn khu vực Đông Phước I Tuy nhiên, trên thực tế vì hai khu vực này nối liền nhau, lại có những đặc điểm cơ bản giống nhau, nên tôi tiến hành nghiên cứu đối chiếu hai khu vực này để phục vụ cho quá trình điều tra

2.1.5 Mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường

Được sự chỉ đạo của Ban thường trực UBMT TQVN về việc triển khai xây dựng

mô hình điểm cộng đồng dân cư BVMT, vào ngày 12 tháng 2 năm 2007, UBND xã Thủy Biều đã đưa ra quyết định thành lập ban chỉ đạo xây dựng mô hình điểm BVMT

ở khu dân cư Đây là một bước tiến quan trọng trong việc đưa các mô hình này vào thực tế

Trang 36

xuất, sinh hoạt, tiêu dùng không có lợi cho môi trường

+ Phát triển các phong trào quần chúng tham gia BVMT

+ Nâng cao ý thức và hành vi BVMT cho cộng đồng dân cư

Trong đó, các mục tiêu cụ thể được đưa ra về vấn đề xử lý rác thải đưa ra tại buổi tập huấn về mô hình như sau:

- Phân loại các loại rác thải tại nguồn (tại hộ gia đình): Rác trước khi được đem xử, cần được phân loại ngay tại hộ gia đình, rác được chia thành hai loại và cách phân loại như sau:

Rác hữu cơ: là các loại rác dễ bị thối rữa trong điều kiện tự nhiên sinh ra mùi hôi thối như: các loại thức ăn thừa, thức ăn hư hỏng (rau, cá chết ), vỏ trái cây, các chất thải tách ra do làm bếp

Rác vô cơ được chia làm 2 loại đó là rác vô cơ tái chế và không tái chế (rác khô) + Rác vô cơ tái chế: là các loại rác có thể sử dụng lại nhiều lần trực tiếp hoặc chế biến lại như: giấy, các tông, kim loại (khung sắt, máy tàu hỏng, ), các loại nhựa + Rác vô cơ không tái chế: là chất thải rắn vô cơ không có khả năng sử dụng hoặc chế biến lại như: giấy ăn đã sử dụng, thủy tinh (bóng đèn, cốc vỡ ), quần áo

cũ, xỉ than, xương động vật

những thứ có thể tái chế hoặc tái sử dụng được Tái chế tức là dùng nó làm nguyên liệu

để sản xuất ra sản phẩm mới Tái sử dụng tức là thu hồi, rửa sạch và sử dụng lại Việc tái chế, tái sử dụng đem lại nhiều lợi ích:

Trang 37

Làm giảm lượng rác thải ra môi trường

Tăng thêm hàng hóa sử dụng

Tạo công ăn việc làm cho những người làm công tác thu gom rác, nhặt rác

Thay thế một phần nguyên liệu đầu vào, do đó tiết kiệm được tài nguyên, khoáng sản và công khai thác chúng

- Sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường: Thay thế các vật dụng có hại đến môi trường bằng các sản phẩm thân thiện với môi trường, tiêu biểu như sử dụng túi giấy, túi cói thay cho túi nilong,

- Khuyến khích hộ gia đình trang bị đầy đủ các thùng rác, tránh vứt bừa bãi rác trước cổng nhà hoặc nơi công cộng Đổ rác đúng giờ và đúng quy định khi có người thu gom rác thải

- Khuyến cáo người dân không tự ý thực hiện các hành vi sau như đốt rác, chôn lấp rác thải, đổ rác thải trực tiếp ra môi trường như môi trường nước khi rác thải chưa qua

xử lý, không tự ý mua các hóa chất nhằm tiêu hủy rác thải

- Vận động người dân tham gia các đợt ra quân dọn dẹp vệ sinh chung tại các khu vực sinh sống

- Nâng cao ý thức và hành vi của người dân trong việc xử lý rác thải

 Cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của mô hình

Ðể xây dựng thành công mô hình, Ban chỉ đạo xây dựng mô hình điểm khu dân cư BVMT của xã phối hợp Ban Công tác Mặt trận thôn Ðông Phước 2, xây dựng kế hoạch theo hướng dẫn của cấp trên trình cấp ủy phê duyệt Các hình thức vận động như:

- Ban công tác Mặt trận khu vực đã tổ chức lễ phát động Ngày môi trường, tập huấn

về bảo vệ môi trường được đông đảo nhân dân tham gia

- Bên cạnh đó, qua các buổi sinh hoạt dân cư và hệ thống truyền thanh của Phường, của khu vực, các buổi sinh hoạt của các đoàn thể đều có lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường, được nhân dân, đoàn viên, hội viên tích cực hưởng ứng

Trang 38

Các tổ chức đoàn thể đều có đưa nội dung bảo vệ môi trường vào kế hoạch hoạt động của mình Ban công tác mặt trận và Ban điều hành đã tổ chức cho các hộ gia đình

ký cam kết bảo vệ môi trường, theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận các cấp và đã

được 100% hộ dân nhất trí ký vào bản cam kết thực hiện

2.2 Đánh giá mô hình qua nhận thức và hành vi của người dân giữa hai nhóm hộ:

2.2.1 Khái quát mẫu điều tra:

Đề tài đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 90 hộ trên địa bàn phường Thủy Biều (Trong đó 30 hộ tại nhóm hộ ngoài mô hình và 60 hộ tại nhóm hộ trong mô hình) để tiến hành so sánh nhận thức và hành vi của người dân trong việc xử lý rác thải Sau khi điều tra, thu được 100% số phiếu hợp lệ Sau khi tiến hành thống kê, kết quả phân tích

số liệu phỏng vấn 90 hộ gia đình tham gia phỏng vấn cho thấy các hộ được phỏng vấn

Hình 3: Giới tính của người phỏng vấn ở hai khu vực

(Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra năm 2015)

Trang 39

Các thông tin cơ bản khác cũng được làm rõ qua thống kê:

Độ tuổi của chủ hộ chiếm tổng lớn nhất trong số liệu điều tra tại hai khu vực là từ

46 đến 50 tuổi, tiếp theo là từ 31 đến 45 tuổi và tổng phần trăm còn lại là của hai nhóm tuổi còn lại Qua đó ta thấy rằng đặc điểm phân bố theo độ tuổi một phần là do tại đây còn nhiều gia đình nhiều thế hệ còn tồn tại và một phần là đặc điểm nghề nghiệp tại đây khiến lượng tuổi trung niên chiếm đa số

Về trình độ học vấn, được chia theo số năm đi học vì đặc điểm về tuổi tác của người dân tại nơi đây Qua bảng 3 cho thấy, trình độ học vấn tại nhóm hộ trong mô hình chiếm đa số là nhóm từ “nhóm 10 – 12 năm” chiếm 36,7% Tiếp theo là “nhóm 7 – 9 năm”, và tỷ lệ giảm dần theo số năm đi học giảm dần Như vậy, đánh giá chung của nhóm hộ trong mô hình thì trình độ học vấn ở đây cũng được đánh giá cao nếu xét về đặc điểm tuổi tác Tại nhóm hộ ngoài mô hình, tỷ lệ cao nhất thuộc về “nhóm 4 – 6 năm”, chiếm 36,7% Hai nhóm còn lại có tỷ lệ tương đương nhau là “nhóm 7 – 9 năm”

và “nhóm 10 – 12 năm” Còn lại là tỷ lệ của “nhóm 0 – 3 năm” chiếm 13,3% Nhìn chung, tại hai khu vực mặc dù có sự khác biệt giữa các khoảng năm đi học, tuy nhiên 100% hộ được phỏng vấn đều biết đọc, biết viết và nhận thức được những câu hỏi mà nghiên cứu đưa ra

Về nghề nghiệp của hai khu vực có sự khác biệt nhất là cán bộ công nhân viên và nông nghiệp Qua điều tra, tại nhóm hộ trong mô hình, cán bộ công nhân viên là ngành nghề chiếm tỷ lê cao nhất chiếm 35% Trong khi đó tại nhóm hộ ngoài mô hình, nông nghiệp vẫn là một trong những ngành nghề chính tại đây Lý do một phần là vì tại khu vực của nhóm hộ trong mô hình có sự phát triển cao hơn, vì thế tập trung nhiều khu vực hành chính cũng như các công ty nên số lượng người người thuộc ngành nghề này

có phần nổi trội hơn cả Còn khu vực nhóm hộ ngoài mô hình, với truyền thống tại đây thì đất đai dùng cho phát triển nông nghiệp vẫn được duy trì và chiếm đa số, chiếm 30% Còn lại những ngành nghề khác được ghi nhận tại đây cũng rất phong phú và đa dạng do phường Thủy Biều đang trên đà phát triển nên cơ hội việc làm cũng như tính chất công việc ngày càng được mở rộng

Yếu tố thu nhập cũng là một yếu tố quan trọng được điều tra trong bảng hỏi Cả hai nhóm hộ được phỏng vấn đều có mức thu nhập nằm trong khoảng từ 3,1 đến 5 triệu

Ngày đăng: 08/11/2016, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] UBND Phường Thủy Biều, “Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và định hướng 2014” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và định hướng 2014
[1] Bộ TN&MT, Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia, Chương 6 Chất thải rắn, 2010 Khác
[2] Bộ chính trị, Nghị quyết số 41/NQ/TW ngày 15/11/2004 về BVMT trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, 2004 Khác
[3] Chính phủ, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về Quản lý chất thải rắn, 2007 Khác
[4] Chính phủ, Luật BVMT số 55/2014/QH13 của Việt Nam, 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lượng rác thải sinh hoạt bình quân của người Việt Nam trong một năm - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 1 Lượng rác thải sinh hoạt bình quân của người Việt Nam trong một năm (Trang 20)
Hình 2: Bản đồ Phường Thủy Biều - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 2 Bản đồ Phường Thủy Biều (Trang 29)
Hình 3: Giới tính của người phỏng vấn ở hai khu vực - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 3 Giới tính của người phỏng vấn ở hai khu vực (Trang 38)
Bảng 3: Thông tin cơ bản của người tham gia phỏng vấn tại hai nhóm hộ - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 3 Thông tin cơ bản của người tham gia phỏng vấn tại hai nhóm hộ (Trang 40)
Bảng 5: Kết quả kiểm định về sự khác biệt giữa mức độ quan tâm về rác thải và môi - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 5 Kết quả kiểm định về sự khác biệt giữa mức độ quan tâm về rác thải và môi (Trang 42)
Bảng 4: Thống kê về mức độ quan tâm về rác tại hai nhóm hộ - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 4 Thống kê về mức độ quan tâm về rác tại hai nhóm hộ (Trang 42)
Bảng 6: Nhận thức của người dân về các nguồn rác thải và thực tế các nguồn rác thải - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 6 Nhận thức của người dân về các nguồn rác thải và thực tế các nguồn rác thải (Trang 43)
Bảng 7: Ý kiến của người dân tại hai nhóm hộ về tác động rác thải tới môi trường - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 7 Ý kiến của người dân tại hai nhóm hộ về tác động rác thải tới môi trường (Trang 44)
Bảng 8: Nhận thức người dân về việc xử lý rác thải - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 8 Nhận thức người dân về việc xử lý rác thải (Trang 46)
Bảng 9: Ý kiến người dân về trách nhiệm bảo vệ môi trường - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 9 Ý kiến người dân về trách nhiệm bảo vệ môi trường (Trang 47)
Bảng 10 cho biết các loại rác thải hằng ngày mà người dân tại hai khu vực. So sánh  kết quả của bảng trên cho thấy sự tương quan ở đây về rác thải tại hai khu vực là giống  nhau - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 10 cho biết các loại rác thải hằng ngày mà người dân tại hai khu vực. So sánh kết quả của bảng trên cho thấy sự tương quan ở đây về rác thải tại hai khu vực là giống nhau (Trang 49)
Hình 5: Khảo sát về các hành động giảm thiểu nguy hại của rác thải đến môi trường - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 5 Khảo sát về các hành động giảm thiểu nguy hại của rác thải đến môi trường (Trang 51)
Bảng 12: Các nguồn nhận thức của hai nhóm hộ - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Bảng 12 Các nguồn nhận thức của hai nhóm hộ (Trang 54)
Hình 1: Hội nghị triển khai và tập huấn mô hình điểm DC BVMT                                                                  (Nguồn: UBND phường Thủy Biều) - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 1 Hội nghị triển khai và tập huấn mô hình điểm DC BVMT (Nguồn: UBND phường Thủy Biều) (Trang 75)
Hình 3: Người dân kí cam kết thực hiện mô hình - Đánh giá nhận thức và hành vi xử lý rác thải của người dân trong mô hình điểm dân cư bảo vệ môi trường tại phường thủy biều, thành phố huế
Hình 3 Người dân kí cam kết thực hiện mô hình (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w