1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế

79 382 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN ------KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ NƯỚC MẮM ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHÚ HẢI, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA T

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ

NƯỚC MẮM ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN

XÃ PHÚ HẢI, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn

Trang 2

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong trường Đại Học Kinh Tế Huế, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển trong suốt 4 năm của khóa học đã dạy dỗ, truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích, thú vị.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Trần Văn Hòa, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu đề tài.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cô, chú, anh chị ở UBND xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập để tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể gia đình, bạn bè tôi, những người luôn ở bên tôi, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp.

Do còn hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm cũng như thời gian, nên quá trình nghiên cứu đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý thầy, cố giáo và bạn bè để khóa luận ngày càng hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục khóa luận: 4

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Các khái niệm liên quan 5

1.1.1.1 Khái niệm môi trường 5

1.1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường 6

1.1.1.3 Các chức năng cơ bản của môi trường 7

1.1.1.4 Các dạng ô nhiễm môi trường 8

1.1.2 Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề 9

1.1.2.1 Khái niệm và vai trò làng nghề 9

1.1.2.2 Đặc điểm chung và những tồn tại của làng nghề 13

1.1.2.3 Ảnh hường của ô nhiễm làng nghề đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, kinh tế - xã hội 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Tổng quan ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam 19

1.2.2 Thực trạng môi trường các làng nghề sản xuất nước mắm ở Việt Nam 20

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT LÀNG NGHỀ NƯỚC MẮM ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHÚ HẢI 24

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24

2.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 25

2.1.2.1 Địa hình, thổ nhưỡng 25

2.1.2.2 Khí hậu, thủy văn 25

2.1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 26

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 27 Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

2.1.3.1 Tình hình dân số và lao động xã Phú Hải, mức sống của người dân 27

2.1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế của xã Phú Hải 27

2.1.3.3 Về xã hội 29

2.1.3.4 Cơ sở hạ tầng 30

2.2 Lịch sử phát triển làng nghề sản xuất nước mắm Làng Trài, xã Phú Hải 31

2.3 Hiện trạng môi trường ở làng nghề nước mắm 34

2.3.1 Quy trình sản xuất nước mắm ở làng nghề Phú Hải 34

2.3.2 Hình thức tổ chức sản xuất và phương thức xả thải của cơ sở nghiên cứu 35

2.3.3 Hiện trạng môi trường của địa bàn nghiên cứu 36

2.4 Đánh giá của người dân về tác động của hoạt động sản xuất nước mắm đến môi trường sống người dân xã Phú Hải 39

2.4.1 Thông tin chung về các hộ dân được điều tra 39

2.4.2 Đánh giá của người dân đối với tác động của hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường, kinh tế và sức khỏe cộng đồng 40

2.4.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường 40

2.4.2.2 Ảnh hưởng đến kinh tế 44

2.4.2.3 Ảnh hưởng đến sức khỏe người dân sống trong khu vực làng nghề 46

2.4.3 Ý thức bảo vệ môi trường của người dân làng nghề 47

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG XÃ PHÚ HẢI 52

3.1 Định hướng bảo vệ môi trường của xã Phú Hải 52

3.2 Một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm làng nghề 53

3.2.1 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và phối hợp tham gia về bảo vệ môi trường 53

3.2.2 Áp dụng công cụ pháp lý trong quản lý chất lượng môi trường 53

3.2.3 Thực hiện quy hoạch làng nghề 54

3.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước 54

3.2.5 Hoàn thiện cơ chế chính sách 54

3.2.6 Ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo 55

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT : Bảo vệ môi trườngCNH-HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóaGTNT : Giao thông nông thôn

LMLM : Lở mồm long móngNTTS : Nuôi trồng thủy sảnTCVN : Tiêu chuẩn Việt NamUBND : Ủy ban nhân dânVSMT : Vệ sinh môi trườngVSMT- ATTP : Vệ sinh môi trường- an toàn thực phẩm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Các yếu tố đặc trưng ảnh hưởng đến sức khỏe của ô nhiễm làng nghề 18

Bảng 2: Kết quả phân tích mẫu nước thải tại làng chế biến nước mắm 23

Bảng 3: Kết quả phân tích mẫu không khí 23

Bảng 4: Phương thức xử lý chất thải của các cơ sở làm nước mắm 36

Bảng 5: Thông tin chung về mẫu điều tra 39

Bảng 6: Ý kiến người dân về chất lượng nước 41

Bảng 7: Ý kiến của người dân về việc ngửi thấy mùi khó chịu 42

Bảng 8: Ý kiến của người dân về mùi hôi nước thải sản xuất nước mắm 43

Bảng 9: Ý kiến người dân về sự thay đổi năng suất lúa, hoa màu, sản lượng NTTS 45

Bảng 10: Tác động của ô nhiễm làng nghề nước mắm đến sức khỏe 46

Bảng 11: Ý kiến của người dân về vấn đề xả chất thải làm nước mắm ra công cộng 48

Bảng 12: Ý kiến của người dân về mâu thuẫn làng nghề 50

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Những năm gần đây, khi mà nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo sự pháttriển của khu vực nông thôn, nó cũng đã góp phần quan trọng trong sự phát triển nướcnhà Sự phát triển của các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là sự khôi phục vàphát triển các làng nghề Bên cạnh, lợi ích trực tiếp về hiệu quả kinh tế, giải quyết việclàm, tăng thu nhập cho người dân, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc ta ngàn đờinay thì hoạt động sản xuất của các làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnhhưởng đến sức khỏe người dân

Làng nghề nước mắm, xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế cũngkhông nằm ngoài quy luật này, nước thải của quá trình sản xuất đã và đang gây tácđộng xấu đến môi trường, hoạt động sản xuất kinh tế cũng như sức khỏe của người dântrong xã Từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

Các phương pháp được sử dụng:

- Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu

- Phương pháp tham khảo chuyên gia

- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu bằng SPSS

- Phương pháp quan sát, mô tả

Từ mục đích và các thông tin thu thập được, đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giáảnh hưởng của hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm "Làng Trài" đến môi trườngsống của các đối tượng điều tra Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu, cảithiện mức độ ô nhiễm môi trường của làng nghề nước mắm "Làng Trài", tạo cơ sở choviệc phát triển làng nghề có hiệu quả và bền vững

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâmnhất và cũng trong những thách thức lớn nhất Cũng bởi lẽ, môi trường sống gắn bóhữu cơ với cuộc sống con người cũng như sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười Phát triển một cách toàn diện không chỉ cần những yếu tố tri thức, có điều kiệnsống tốt mà còn phải quan tâm nhiều hơn nữa tới vấn đề môi trường Vì đó cũng lànhân tố và đồng thời là điều kiện thiết yếu quyết định sự sống của nhân loại

Hiện nay, nước ta đang tiến dần vào quá trình hội nhập hóa toàn cầu, kéo theo sựphát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa thì sự phát triển của khuvực nông thôn cũng góp phần quan trọng trong sự phát triển nước nhà Sự phát triểncủa các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là sự khôi phục và phát triển các làngnghề, các ngành nghề nông thôn đã góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm,tăng thu nhập cho người dân, đồng thời phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc ta ngànđời nay

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà các làng nghề mang lại, nó vẫn còn tồntại những bất cập Hoạt động sản xuất của các làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môitrường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Cùng với sự phát triển của các làng nghềtruyền thống và các cơ sở ngành nghề nông thôn đã ngày càng làm tăng thêm mức độ

ô nhiễm môi trường Tình trạng này xảy ra cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là bởi ý thức bảo vệ môi trường của ngườidân vẫn còn thấp Vấn đề xả thải chưa qua xử lý ra môi trường đã và đang diễn ra ngàycàng nghiêm trọng ở các làng nghề truyền thống ở Việt Nam

Ở Việt Nam nước mắm phổ biến trong ẩm thực Việt, nước mắm cũng có thể coi

là loại gia vị, loại nước chấm không thể thiếu trong các món ăn nên sẽ mãi tồn tại vớitrường tồn của dân tộc, và sẽ được cải tiến, hoàn thiện theo thời gian Do đó, các thế

hệ của dân tộc trong đó có chúng ta nên hiểu biết tìm hiểu về chúng và giữ gìn truyềnthống lâu đời của quê hương, đất nước

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

Với quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, làng nghề nước mắm “ LàngTrài” đã góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Phú Hải, đờisống của người dân nơi đây cũng ngày càng được cải thiện Mặc dù vậy nhưng một vấn

đề đầy lo ngại là trong quá trình sản xuất nước mắm của Làng Trài đã có những ảnhhưởng tới môi trường, tới cuộc sống của người dân nơi đây Xuất phát từ vấn đề này, tôitiến hành nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm nghiên cứu và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môi

trường cho làng nghề nước mắm ở Phú Hải hướng đến sự phát triển bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu, đánh giá mức độ ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường cũng như hiệntrạng môi trường do hoạt động sản xuất nước mắm ở Phú Hải Từ đó, đưa ra các giảipháp nâng cao chất lượng môi trường, giảm thiểu mức độ ô nhiễm tại làng nghề nướcmắm ở xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các cơ sở/ hộ sản xuất nước mắm và không sản xuất nước mắm ở xã Phú Hải,huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: đề tài nghiên cứu dựa trên thông tin, dữ liệu điều tra từ 50

hộ dân ở 4 thôn của xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

- Phạm vi thời gian: các dữ liệu, thông tin sử dụng được thu thập chủ yếu trong 3năm 2012- 2015.

- Phạm vi nội dung: đánh giá mức độ ô nhiễm bởi quá trình sản xuất nước mắmcủa xã đến môi trường và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môitrường thời gian tới cho xã Phú Hải

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu

- Số liệu thứ cấp: căn cứ vào số liệu được cung cấp bởi các phòng chức năng củaUBND xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Số liệu sơ cấp: nghiên cứu tiến hành điều tra, tìm hiểu ý kiến của các hộ dân ở

xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó có 4 thôn: Cự Lại Bắc,

Cự Lại Trung, Cự Lại Đông, Cự Lại Nam

- Chọn mẫu điều tra: tổng số mẫu điều tra là 50 mẫu, các mẫu được chọn theophương pháp ngẫu nhiên không lặp

- Nội dung điều tra: được phản ánh qua phiếu điều tra được xây dựng sẵn

- Tìm hiểu qua sách báo, mạng internet, các khóa luận tốt nghiệp, các báo cáokhoa học

Phương pháp tham khảo chuyên gia

- Tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa họcnói chung và cán bộ ở xã Phú Hải về những nội dung của đề tài

Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

- Các số liệu thu thập được ở kết quả phỏng vấn, tiến hành thống kê và xử lý sốliệu bằng phần mềm SPSS, với các bảng được thể hiện trong khóa luận là kết quả củaphương pháp này

Phương pháp quan sát, mô tả

- Quan sát và ghi lại những thói quen xả thải hàng ngày của người dân cũng như

ý thức của họ trong công tác bảo vệ môi trường sống Đồng thời, đánh giá ưu điểm vàhạn chế của mô hình xử lý môi trường làng nghề nước mắm

- Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế vì qua phương pháp này tất cả cácgiác quan của người phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe qua đó cácthông tin được ghi lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp lại một cách cụ thể, thực tế,phong phú và khách quan

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

5 Bố cục khóa luận:

Ngoài hai phần đặt vấn đề và kết luận, nội dung bài gồm 3 chương:

- Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

- Chương II: Đánh giá ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đếnmôi trường sống của người dân xã Phú Hải

- Chương III: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng môi trường xã Phú Hải

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm môi trường

Theo khoản 1, điều 3, Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005 nêu rõ:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người,

có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.Như vậy, môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnhhưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó Bất cứ một sự vật, hiện tượng nàocũng tồn tại và diễn biến trong môi trường của nó Hay nói rõ ràng hơn thì môi trường

là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới conngười và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, độ

ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế Trong nguyên lý sinh thái học ứng dụng,các hiện tượng địa chất như khí quyển, thủy quyển, thạch quyển tồn tại trước sự sốngtrải qua các giai đoạn tiến hóa, các loại thực vật, động vật và con người đã xuất hiện.Khi đó có sự tương tác giữa cơ thể sống với các nhân tố đó thì chúng mới trở thànhmôi trường Có nghĩa là khi có các cơ thể sống mới có môi trường Môi trường khôngchỉ bao gồm các điều kiện vật lý mà còn bao gồm cả sinh vật sống Đối với các cơ thểsống thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và

xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, khôngkhí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội…Theo nghĩa hẹp thì môi trườngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội trực tiếp liên

quan đến chất lượng cuộc sống của con người (Theo PGS.TS Lê Văn Thăng, giáo

trình khoa học môi trường đại cương).

Theo Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm (2005): “ sự cố môi trường là cáctai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc do biến đổithất thường của thiên nhiên gây ra suy thoái môi trường nghiêm trọng”

Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng, số lượng thành phần vật lý (như suy thoái đất, nước, không khí, hồ, biển ) và đa dạng sinh học của môi trường.Quá trình suy giảm chất lượng môi trường đó đã gây hại cho đời sống sinh vật, conngười và thiên nhiên

1.1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Theo tổ chức Y tế thế giới: “ Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển cácchất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏecon người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường”

Theo khoản 6, điều 3, Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005: “ Ô nhiễmmôi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêuchuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặcnăng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến

sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễmbao gồm các chất thải dạng khí như khí thải, dạng lỏng như nước thải, dạng rắn nhưchất thải rắn chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng nhưnhiệt độ, bức xạ

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường có thể là do các hoạt động của quá trình tựnhiên như thiên tai, bão lũ, núi lửa…Hoặc do hoạt động của con người thực hiện trongcông nghiệp, nông nghiệp, sản xuất làng nghề, giao thông, chiến tranh, trong sinh hoạt,mức độ gia tăng dân số Trong khi con người chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu, nồng

độ chất thải ngày càng vượt quá mức tự đồng hóa của môi trường Ngày nay, ô nhiễmmôi trường trở thành hiểm họa đối với đời sống của sinh giới và cả con người ở bất kỳphạm vi nào, từ quốc gia, khu vực đến toàn cầu Đây chính là sản phẩm của quá trìnhcông nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra trên thế giới Ô nhiễm hiện nay đã lan tràn nhiềunơi, từ đất, nước đến khí quyển, từ bề mặt đất đến lòng đất hay đại dương

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độhoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người,sinh vật và vật liệu.

Tùy theo phạm vi lãnh thổ mà có ô nhiễm môi trường toàn cầu, khu vực hay địaphương mà có tác động lớn đến nền kinh tế- xã hội- sinh thái của con người Đây làvấn nạn toàn cầu không chỉ riêng quốc gia nào mà là của toàn nhân loại Hiện nay,chúng ta đang phải nỗ lực không ngừng nghỉ ngăn chặn ô nhiễm môi trường bằng cáchkhắc phục và ngăn chặn hậu quả của nó từ nâng cao ý thức, năng lực quản lý hay ápdụng công nghệ tiên tiến làm sạch chất thải trong quá trình sản xuất trước khi đưa ramôi trường

1.1.1.3 Các chức năng cơ bản của môi trường

Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có cácchức năng cơ bản sau:

- Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật: Trongcuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần 1 không gian nhất định để phục vụ chohoạt động sống như: Nhà ở, nơi nghỉ, nơi để sản xuất…Như vậy chức năng này đòi hỏimôi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho mỗi con người Không giannày lại đòi hỏi phải đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học,sinh học, cảnh quan và xã hội

- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống vàsản xuất của con người: nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên khôngngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, mức độ phức tạp theo trình độ pháttriển của xã hội

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong quátrình sống: Trong quá trình sống, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môitrường Tại đây các chất thải dưới tác động của sinh vật và các yếu tố môi trường khác

sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt các quátrình sinh địa hóa phức tạp Khối lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thànhphần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình phânhủy thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

- Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người: môi trường Trái Đấtđược xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì chính môi trườngTrái Đất là nơi:

+ Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử Trái Đất, lịch sử tiến hóa của vật chất

và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người

+ Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báođộng sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như phản ứngsinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến

tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa,…

+ Cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn gen, các loài động thực vật, các

hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để thưởngngoạn, tôn giáo và văn hóa khác

- Bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động bên ngoài: Các thành phầntrong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinhvật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: Tầng Ozon trong khí quyển có nhiệm

vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời

1.1.1.4 Các dạng ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường tồn tại dưới dạng ô nhiễm nước, không khí, đất, tiếng ồn,phóng xạ…

- Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạtđộng sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiềuchất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật, tác động tiêu cực đến sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp và các hoạt động thương mại, nghỉ ngơi, giải trí…tùy vào những tiêu chí khác nhau mà ô nhiễm nước được phân loại khác nhau:

Theo nguồn gốc có ô nhiễm tự nhiên: mưa, bão, gió, lũ lụt…với tính chất khôngxác định nguồn gốc và ô nhiễm nhân tạo, chủ yếu do xả thải từ các vùng dân cư, khucông nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong nông nghiệp

Theo bản chất tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra: Ô nhiễm hữu cơ, vô cơ,hóa chất, sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý

Theo vị trí: Ô nhiễm sông, hồ, biển, mặt nước, nước ngầm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

- Ô nhiễm không khí: là sự có mặt của các chất lạ, độc hại trong khí quyển, làmbiến đổi thành phần và chất lượng của không khí theo chiều hướng xấu đối với sựsống Ô nhiễm không khí cũng có 2 nguồn: nguồn gốc tự nhiên (do núi lửa, cháyrừng, gió bụi, quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong tự nhiên…) và nguồn gốcnhân tạo do các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người gây nên như hoạtđộng công nghiệp tại các nhà máy, làng nghề hay đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, hoạtđộng giao thông…

- Ô nhiễm đất: là sự biến đổi thành phần chất lượng của lớp đất ngoài cùng củathạch quyển, dưới tác động tổng hợp nước, không khí đã bị ô nhiễm, rác thải độc hại…theo chiều hướng tiêu cực đối với sự sống của sinh vật và con người Do các tác nhânsinh học như phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý, ký sinh trùng…, tác nhânhóa học như chất thải công nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật…, tác nhân vật lý như nhiệt,phóng xạ Sa mạc hóa là hiện tượng nguy hiểm nhất của suy thoái và ô nhiễm đất

+ Ô nhiễm đất bởi tác nhân sinh học: Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệpchưa qua xử lý các mầm bệnh, ký sinh trùng, vi khuẩn,… đã gây ra các bệnh truyền từđất cho cây sau đó sang người và động vật

+ Ô nhiễm bởi tác nhân hóa học: Chất thải từ các nguồn thải công nghiệp baogồm các chất thải cặn bã, các sản phẩm phụ do hiệu suất của các nhà máy không cao

và do nguồn dư lượng bảo vệ thực vật như phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,…

+ Ô nhiễm do tác nhân vật lý: Chủ yếu là từ các quá trình sản xuất công nghiệp

và thường mang tính cục bộ

1.1.2 Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề

1.1.2.1 Khái niệm và vai trò làng nghề

a) Khái niệm làng nghề

Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trướcđây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hìnhthành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân tranh thủ làm lúcnông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính

Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, manglại lợi ích thiết thân cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây tre phục vụTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ cho sản xuất Nghề phụ từ chỗ phục vụ nhu cầuriêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho ngườidân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Và cũng chính nhờ những lợi ích khácnhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghềđem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấphay không phù hợp với làng thì dần dần mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên nhữnglàng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu,làng làm lụa…

Có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm làng nghề Trong đề tài này,khái niệm làng nghề được hiểu là “ làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trungtrên cùng một địa bàn ở nông thôn Trong làng đó có một bộ phận dân cư tách ra cùngnhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ có ít nhấtmột loại hàng hóa dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc hộ gia đình tronglàng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập dân

cư được tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó” (Trà Mỹ Hạnh, giải pháp

bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đúc đồng Phước Kiều tại huyện Điện Bàn- Quảng Nam, 2011).

Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyềnthống Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí của làng nghề nhưng có ít nhấtmột nghề truyền thống được công nhận thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống

Làng được công nhận là làng nghề khi hội tụ đủ 3 yếu tố:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ (hay lao động) trên địa bàn tham gia các hoạt độngngành nghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh của làng ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thờiđiểm đề nghị công nhận

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước.đối với các nghề mà phápluật không khuyến khích, phải đảm bảo môi trường theo quy định của luật bảo vệmôi trường

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Ngoài các tiêu chí trên thì hoạt động sản xuất của làng phải ổn định trong thờigian liên tục nhất định, ít nhất là 5 năm.Đối với những ngành nghề cụ thể thì có những

tiêu chí riêng cho từng ngành (Thông tư số 119/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của bộ

NN&PTN).

Như vậy, để xác định làng nghề, người ta căn cứ vào những quy chuẩn, tiêu chíphát triển nhất định, không phải làng nào có hoạt động sản xuất kinh doanh ngànhnghề nông thôn cũng được gọi là làng nghề

b) Vai trò làng nghề

Trong nhiều năm qua, sự phát triển vượt trội của làng nghề trên cả nước đã làmnền kinh tế chuyển mình, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển kinh tế tạiđịa phương, đóng góp chung vào sự phát triển chung của đất nước Vì vậy, làng nghề

có ý nghĩa hết sức to lớn với nền kinh tế- xã hội, được thể hiện:

- Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương

Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu củalàng, lối sống phong tục tập quán của cộng đồng Những sản phẩm thủ công truyềnthống hầu hết là những sản phẩm hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là những sảnphẩm văn hóa vật thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể Những sảnphẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu, trước thiên nhiên

Từ nguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thànhnhững sản phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng,thể hiện khiếu thẩm mỹ lao động, sự thông minh sự sáng tạo, tinh thần lao động củangười thợ- nghệ nhân Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét vănhóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng Làng nghề truyền thống từ lâu đã trởthành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những văn hóa giátrị chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo đadạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam Làng nghề là cảmột môi trường kinh tế, văn hóa Xã hội làng nghề là nơi cộng đồng dân cư có lối sốngvăn hóa: sống yêu lao động, sống cần cù, giản dị, tiết kiệm, sống đùm bọc, giúp nhaucùng rèn luyện tay nghề Làng nghề là nơi không có đất để văn hóa phẩm độc hại, các

tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè, đua xe…nẩy nở Phải chăng chính vì lẽ đó mà nảysinh nhận thức: làng nghề thủ công truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực, thiếtthực vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

- Góp phần giải quyết việc làm

Bất chấp sự thừa nhận muộn màng chính thống đối với vai trò, vị trí của nó trongnền kinh tế hàng hóa, làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làmcho hàng chục ngàn, trăm ngàn dân cư, đặc biệt là thanh niên Tại các làng nghề, thanhniên- đa số là nữ thanh niên- có tay nghề, dù tay nghề cao hay thấp thì những ngườilao động này cũng thoát khỏi chạy tìm việc lao động phổ thông Để làm nghề thủ côngtruyền thống, người thợ không cần có nhiều vốn, chỉ cần một ít công cụ thủ công cùngđôi bàn tay khéo léo và đặc biệt là sự siêng năng cần mẫn Với điều kiện như thế, khisản phẩm nghề có chỗ đứng trong nền kinh tế hàng hóa, thì làng nghề thu hút đượcnhiều lao động

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Mục tiêu cơ bản của CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn là tạo ra một cơ cấukinh tế mới phù hợp và hiện đại nông thôn Trong quá trình vận động và phát triển cáclàng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp và dulịch dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp

- Thu hút nguồn vốn trong cộng đồng làng, xã, góp phần sử dụng hiệu quả nguồnvốn trong làng nghề

Hầu hết các ngành nghề sản xuất đều sử dụng diện tích 1 phần nhà ở, như nghềlàm bún, nghề mộc, nghề dệt, tiết kiệm được lượng vốn phải đầu tư cho nhà xưởng.Đồng thời, các làng nghề cũng hình thành nên những trung tâm giao lưu buôn bán,cụm dân cư với lối sống đô thị tại nông thôn

- Các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hóa phong phú, đa dạng phục vụ cho nhucầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Số lượng ngành nghề phong phú, các cơ sở, hộ sản xuất đông đã tạo ra sự đadạng về mẫu mã, chủng loại, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, không nhữngphục vụ tại địa phương mà còn các quốc gia khác trên thế giới như hàng thủ công mỹnghệ, thêu ren, gốm sứ của Việt Nam hiện đã có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnhthổ, đồng thời trở thành nguồn thu ngoại tệ quan trọng với mức độ tăng trưởng bìnhquân trên 20%/năm Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao thể hiệnnhững sắc thái riêng của mỗi làng nghề

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

1.1.2.2 Đặc điểm chung và những tồn tại của làng nghề

a) Đặc điểm chung của làng nghề

Theo thống kê của hiệp hội làng nghề Việt Nam, tính đến năm 2012, nước ta có3.597 làng nghề, phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%), miềnTrung (30%) và miền Nam (khoảng 10%) Sự phát triển làng nghề đang góp phầnđáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương Tại nhiều làng nghề, tỷ trọngngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% và ngành nông nghiệp đạt 20 – 40%.(Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008) Tuy ở mỗi làng nghề có sự khác nhau

về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chungnhững đặc điểm như:

- Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự phát triển của xã hội nông thôn Cótác động qua lại lẫn nhau, làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp nôngthôn về lao động, thị trường, nguyên liệu, đất đai… Các ngành nghề thủ công và cácngành nghề nông thôn khác dần tách khỏi nông nghiệp sang các ngành phi nôngnghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn mà nó quay trở lại phục vụ cho nông thôn

Từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông thôn phát triển hơn Đồng thời, làng nghềcòn chứa đựng những giá trị tinh thần đậm nét được phản ánh qua tập tục, tín ngưỡng,

lễ hội và nhiều quy định khác Những quy định này hình thành nên hương ước, lệ làng,tạo ra một khuôn mẫu trong làng nghề và những nét văn hóa đặc thù

- Về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề: chủ yếu sử dụngnguồn nhân lực từ các thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có Hình thức nàyđảm bảo gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng được lao động và thời gian Một sốlàng nghề đã phát triển thành hợp tác xã và xí nghiệp tư nhân Tùy theo yêu cầu sảnxuất, khả năng của các hộ mà có thể thuê lao động bên ngoài gia đình

- Về sản phẩm, nguyên liệu và thị trường: Dựa trên các yếu tố tương đồng vềngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chiahoạt động của làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính gồm: thủ công mỹnghệ; chế biến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, ươm tơ, thuộcda; vật liệu xây dựng, khai thác đá; tái chế phế liệu và các ngành nghề khác

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

- Sản phẩm của các làng nghề thường là các vật dụng phục vụ cho đời sống sảnxuất và sinh hoạt hàng ngày như các loại sản phẩm chế biến nông sản như bún, bánh

…, các sản phẩm tiêu dùng như nón, chiếu, may mặc… không chỉ đáp ứng nhu cầucho con người mà còn mang tính thẩm mỹ của người làm Với nguyên liệu chủ yếukhai thác và tận dụng sự tự có của địa phương, hoặc nguyên liệu trong nước nhưgiang, tre, đất sét…Hàng hóa chủ yếu được tiêu dùng tại địa phương hay trong nước.Mặt hàng xuất khẩu chính là thủ công mỹ nghệ do tính thủ công tinh xảo và nét vănhóa truyền thống đặc trưng của sản phẩm này

- Về kỹ thuật, công nghệ làng nghề: lạc hậu, chủ yếu còn sử dụng các thiết bị thủcông, bán cơ khí hoặc đã được cải tiến một phần, đa số mua lại từ các cơ sở côngnghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn

kỹ thuật và điều kiện làm việc của người lao động Công nghệ sản xuất đơn giản, thậmchí là lạc hậu, chủ yếu làm thủ công nên năng suất lao động thấp, cần nhiều thời gian.Trừ một số cơ sở mới xây dựng có công nghệ tiên tiến, đa số còn lại nhất là ở khu vực

hộ gia đình có trình độ công nghệ lạc hậu, thiết bị phần lớn là đơn giản, không đảmbảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường

- Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt.Một số trường hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng khâutrong quy trình sản xuất Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản xuất thìtính chuyên môn hóa càng cao Sự phân chia này không chỉ trong một làng mà còn cóthể mở rộng trong nhiều làng

b) Những tồn tại của làng nghề

Bên cạnh những vai trò to lớn, sự phát triển làng nghề đã và đang tồn tại nhữngnguy cơ, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, môi trường và sức khỏe con người

- Việc phát triển làng nghề là phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế

tư nhân, bị giới hạn bởi diện tích đất đai, vốn đầu tư Quy mô sản xuất tại các làngnghề là quy mô nhỏ, mặt bằng sản xuất xen kẽ với khu vực sinh hoạt, khu dân cư nênđiều kiện môi trường lao động rất hạn chế Từ đó làm giảm khả năng áp dụng tiến bộkhoa học, công nghệ mới vào sản xuất, năng suất lao động chưa cao Đây là tình trạngchung, phổ biến của các hộ, cơ sở sản xuất nghề ở nông thôn mà tại đó người dân sửdụng ngay diện tích ở làm nơi sản xuất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

- Các làng nghề thu hút chủ yếu lao động tại địa phương Tuy nhiên, chất lượngnguồn nhân lực tại làng nghề còn rất yếu và thiếu Lao động làng nghề nói chunghiện nay chia làm 2 nhóm rõ rệt: nhóm lao động không thường xuyên, thiếu kỹ năngthì làm những công việc đơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản và nhóm thứ 2 làlao động thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sở hoặc doanhnghiệp làm hàng mỹ nghệ cao cấp Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làngnghề chỉ là 12,3% (Theo báo điện tử nhân dân), nhiều làng nghề hiện nay thiếu vắngđội ngũ thợ lành nghề, lực lượng lao động có trình độ văn hóa, thẩm mỹ chưa cao.Hầu hết chủ hộ sản xuất chưa được đào tạo về quản trị kinh doanh và thiếu kiến thức

- Công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp vá dẫn tới quátrình sản xuất tiêu tốn nhiều nhiên, nguyên liệu làm tăng phát thải ra môi trường đất,nước, không khí ảnh hưởng tới giá thành và chất lượng sản phẩm Kỹ thuật lao độngchủ yếu là thủ công, bán cơ khí

- Do tính chất phân tán theo mô hình hộ gia đình nên việc chỉ đạo, giám sát, quản

lý của cơ quan quản lý Nhà Nước gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc quản lý làng nghềchưa triệt để

1.1.2.3 Ảnh hường của ô nhiễm làng nghề đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, kinh tế - xã hội

Bên cạnh những tích cực thì hệ lụy của phát triển làng nghề đã để lại những hậuquả mà vấn nạn ô nhiễm ngày càng trầm trọng không chỉ đến hoạt động sản xuất, môitrường mà còn gây tổn hại đến sức khỏe người dân Hiện nay, các chất thải phát sinh

ra từ các làng nghề hầu hết chưa qua xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường, các kết quảquan trắc gần đây cho thấy nồng độ các chất thải có xu hướng gia tăng, nhất là ônhiễm bụi tại các làng nghề gốm, sứ, vật liệu xây dựng, các làng nghề tái chế Tại cácTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, nước thải có độ ônhiễm hữu cơ cao Trong khi đó, công tác thu gom và xử lý chất thải rắn ở các làngnghề vẫn còn nhiều hạn chế, nhận thức của người dân còn hạn chế gây ảnh hưởng đếnmôi trường sống xung quanh và những người trực tiếp tham gia sản xuất.

- Ảnh hưởng của ô nhiễm làng nghề đến môi trường:

Hiện nay ở các làng nghề nước ta hình thành và phát triển mang tính tự phát,trang thiết bị lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên, nhiên liệu thấp, việc đầu tư cho xâydựng hệ thống xử lý nước, khí thải hầu như không được quan tâm Ý thức bảo vệ môitrường sinh thái của người lao động còn hạn chế Tùy vào từng loại hình sản xuất màcác hoạt động làng nghề có tác động đến môi trường khác nhau, cụ thể:

+ Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: đadạng nhưng chủ yếu, đặc trưng nhất là chất hữu cơ dễ bị phân hủy, có mùi hôi khóchịu do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng rắn làm giảm chất lượng môitrường không khí, giảm hiệu suất lao động Các khí ô nhiễm gồm: CH4, NH3, H2S, vàcác khí gây mùi tanh hôi khó chịu Mặt khác, quá trình chế biến thực phẩm có sử dụngthan và củi làm chất đốt thải vào không khí bụi, xỉ than

Khối lượng nước thải sản xuất lớn với tải lượng các chất hữu cơ cao, có nơi lênđến 7000 m3/ngày Tùy theo quy trình chế biến, nước thải loại này có BOD5 lên đến

2500 – 5000mg/l, COD 13300 – 20000mg/l đối với nước tách bột đen trong sản xuấttinh bột sắn Nước thải cống chung của các làng nghề này đều vượt quy chuẩn chophép từ 5 – 32 lần (nguồn: đề tài KC 08 – 09)

Nước mặt ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, ở nhiều nơi có BOD5, COD, NH4+,Coliform vượt TCVN hàng chục đến hàng trăm lần như làng chế biến tinh bột CátQuế, Dương Liễu…Môi trường đất và chất thải rắn đa dạng như bã nguyên liệu, chai

lọ, bao bì… thải ra cống rãnh, đường đi gây tắc nghẽn, khi phân hủy có mùi hôi thốigây ô nhiễm môi trường đất, không khí, nước ngầm

+ Tại các làng nghề tái chế phế liệu (nhựa, giấy, kim loại…): Ô nhiễm ảnhhưởng đến môi trường nghiêm trọng Việc đốt nhiên liệu, rửa sạch chất thải mangnhiều hóa chất độc hại ra môi trường như Zn, Fe, Cr… trong làng tái chế kim loại:Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

xút, phèn, nhựa thông… trong làng tái chế giấy Chất thải rắn khó phân hủy nhưphôi, rỉ sắt, bao bì, cao su… Ngoài ra, làng nghề phải thường xuyên chịu nhiệt độcao, tiếng ồn lớn, bụi và khí độc nhiều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

và sức khỏe con người

+ Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: ô nhiễm không khí diễn

ra phổ biến, phát sinh từ quá trình khai thác, gia công, vận chuyển,… khói độc và sứcnóng tỏa ra từ lò nung, tiếng ồn do hoạt động giao thông làm cho môi trường khôngkhí bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân Một số làng nghề sảnxuất gạch ngói thiếu quy hoạch gây hủy hoại thảm thực vật, tạo ra các vùng trũng ảnhhưởng lớn đến quá trình tưới tiêu và làm giảm diện tích canh tác

+ Tại các làng nghề ươm tơ, dệt vải và thuộc da: ô nhiễm không khí cục bộ, chủyếu là ô nhiễm nước bởi thuốc nhuộm, tẩy, tơ sợi, chất thải rắn thuộc da… chứa nhiềuhóa chất độc hại

+ Tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ: ô nhiễm không khí bởi bụi đá, tiếng ồnthường xảy ra tại một số làng nghề chế tác đá và sản xuất mây tre đan Đặc biệt chế tác

đá phát sinh bụi chứa SiO2 rất có hại cho sức khỏe Môi trường nước ít bị ảnh hưởngbởi lượng thải không lớn, chỉ khoảng 2 -3 m3/ ngày/ cơ sở nhưng hàm lượng chất độchại cao như dung môi, dầu bóng, polymer hữu cơ…

- Ảnh hưởng của ô nhiễm làng nghề đến sức khỏe người dân:

Ô nhiễm môi trường làng nghề làm gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao độngcũng như những hộ dân xung quanh Trong những năm gần đây, tỷ lệ này có xu hướngkhông ngừng gia tăng, thể hiện ở số người chết do ung thư, thần kinh, tuổi thọ giảm.Được thể hiện qua bảng sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

Bảng 1: Các yếu tố đặc trưng ảnh hưởng đến sức khỏe của ô nhiễm làng nghề

Các làng nghề Bệnh đặc trưng Yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Làng nghề chế biến

lương thực, thực phẩm

Bệnh ngoài da, viêmniêm mạc như nấm kẽ,nấm móng, viêm chân,nang lông…

Bức xạ nhiệt, vi sinh vật gây bệnh,hóa chất, nước thải chứa hàmlượng hữu cơ và Coliform cao,chất thải rắn

Hô hấp, ngoài da Sơn, dầu, aceton, xylen, toluene…

(Nguồn: Báo cáo môi trường làng nghề Việt Nam 2008)

Bên cạnh đó, ô nhiễm làng nghề còn ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động pháttriển kinh tế - xã hội ở làng nghề đó, gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ và thậmchí là dẫn đến những xung đột môi trường Xét riêng về ô nhiễm do sản xuất ở nước tahiện nay, thiệt hại kinh tế chủ yếu là:

+ Làm tăng chi phí khám chữa bệnh, giảm năng suất lao động, mất ngày cônglao động do nghỉ ốm đau và chết non…

+ Ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí làm cho lượng lớn hoa màu, tôm, cá mấtmùa ảnh hưởng tới năng suất sản xuất nông nghiệp

+ Giảm sức thu hút du lịch, giảm lượng khách du lịch dẫn đến thiệt hại về kinh tế.+ Ô nhiễm làng nghề làm nảy sinh xung đột môi trường giữa các hộ làm nghề,các hộ không làm nghề, chính quyền quản lý môi trường địa phương về mục tiêu bảo

vệ sức khỏe, môi trường, lợi ích kinh tế, thu nhập giữa các nhóm xã hội Ô nhiễm môitrường là nguyên nhân chính dẫn đến những xung đột môi trường, ảnh hưởng đến sứckhỏe người dân, chủ yếu là nguồn nước, tiếng ồn, không khí

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam

Theo báo cáo của Bộ tài nguyên và môi trường, hoạt động tại nhiều làng nghềthời gian qua phát triển mạnh khiến lượng chất thải hầu như không được xử lý đúng

kỹ thuật, xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường đất, nước, khôngkhí, nước ngầm Đặc biệt, nhiều làng nghề chăn nuôi và giết mổ gia súc còn phátsinh ô nhiễm mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải tạo nên khíSO2, NO2, NH3…Các chất thải làng nghề này đã và đang gây ô nhiễm làm suy thoáimôi trường, tác động trực tiếp đến sức khỏe con người Ô nhiễm làng nghề có nhữngđặc điểm:

+ Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vimột khu vực như thôn, làng, xã… Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khusinh hoạt Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ônhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường càng xấu đi

+ Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề thường khá cao trong khu vực sản xuất,ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động Các nguy cơ mà người lao động tiếpxúc khá cao: 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với khói bụi, 85,9% tiếp xúc với

nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất ( Nguồn: Báo cáo môi trường làng nghề 08.09).

+ Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề thấp, khó có điều kiện pháttriển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường

Qua khảo sát 52 làng nghề điển hình hiện nay trong cả nước đã có tới 46% sốlàng nghề trong số này môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ônhiễm nhẹ Đáng báo động là mức độ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề khôngnhững không giảm, mà còn có xu hướng gia tăng theo thời gian Tùy theo tính chất củatừng loại làng nghề mà loại ô nhiễm môi trường cũng khác nhau Theo như một khảosát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội)

và Bộ Khoa học Công nghệ cho thấy, 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều chothông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Hầu như toàn bộ hệ thống nước mặt, nướcngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm Khảo sát tại 40 xã ở Hà Nội cho thấy khoảng 60% số

xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất Xã Hữu Hòa thuộc huyện Thanh Trì cóTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

hơn 30 hộ làm nghề miến dong, bánh đa với công suất từ 30 đến 40 tấn mỗi ngày.Toàn bộ nước thải từ ngâm, tẩy trắng bột, cùng với nước thải trong chăn nuôi và sinhhoạt hằng ngày đều chảy trực tiếp vào hệ thống cống rãnh của địa phương, rồi đổxuống dòng sông Nhuệ Hai xã Phú Diễn và Thượng Cát của huyện Từ Liêm có nghềsản xuất đậu phụ và tình trạng nước thải từ sản xuất đậu phụ đến nước thải từ cácchuồng lợn cũng đổ ra hệ thống cống chung của xã bốc mùi hôi và ô nhiễm môitrường Mấy năm trước đây, khi dự án cụm công nghiệp làng nghề (13 ha) của xãPhong Khê (Yên Phong, Bắc Ninh) được khởi công, Phong Khê nhanh chóng trởthành "làng công nghiệp" Sản lượng giấy của xã nhanh chóng tăng từ 40.000 tấn/nămlên tới 80.000 tấn/năm, đạt doanh thu gần 200 tỷ đồng Tuy nhiên, kèm theo sự pháttriển kinh tế là ô nhiễm môi trường Do phải thu mua giấy phế thải từ các nơi nênPhong Khê còn có tên "làng bãi rác" Quá trình ngâm, tẩy bằng kiềm, gia­ven thảitrực tiếp ra môi trường một lượng hóa chất độc hại mà không qua xử lý Theo số liệucủa Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, hàm lượng BOD (chỉ số ô­xy sinh hóa)trong nước thải tại Phong Khê vượt tiêu chuẩn cho phép tới 5 lần, COD (nhu cầu ô­xyhóa học) vượt ba lần.

1.2.2 Thực trạng môi trường các làng nghề sản xuất nước mắm ở Việt Nam

Vốn đặc trưng sản xuất hộ gia đình nên tâm lý và thói quen sản xuất quy mô nhỏ,khép kín nên ít đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ dẫn đến hiệu quả sản xuấtthấp, gây ảnh hưởng lớn tới môi trường Thường thì nguồn thải của ngành sản xuấtnước mắm chính là lượng nước vệ sinh các thiết bị, dụng cụ sản xuất, Vì thế, nướcthải có chứa hàm lượng muối cao, cũng như hàm lượng BOD và COD cũng rất cao, cóthể lên đến khoảng 1800 mg/l và 1200 mg/l Nước thải bị nhiễm bẩn cùng với nồng độmuối khá cao làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của con người cũng như sinhvật, các loại thủy sinh trong nước và xung quanh đó

Hơn 20 năm qua, cơ sở kinh doanh, chế biến nước mắm tại 11A ngõ Yên Thế,phường Văn Miếu, của hộ anh Tưởng Thái Hưng ( trước đây là bà Nguyễn Thị Độ- mẹanh Hưng) đã gây bao nỗi khổ và bức xúc cho hàng xóm láng giềng Ngày 9-5-2008,phòng Tài Nguyên Môi Trường quận Đống Đa đã tiến hành kiểm tra thực tế cơ sở kinhdoanh, chế biến nước mắm Hàng ngày, mọi người phải thường xuyên ngửi mùi hôiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

thối của cơ sở này Cứ vài tuần, chủ cơ sở lại rửa kho chứa mắm, muối làm cặn mắmlưu cữu dưới cống rãnh thoát nước của các nhà xung quanh Mùi hôi thối bốc lênkhông ai chịu nổi, sức khỏe người dân bị ảnh hưởng, nhất là người già và trẻ em đều bịviêm đường hô hấp, đau đầu, mất ngủ đồ dùng hoen gỉ, cột bê tông, tường nhà bịtróc, lở do muối và hơi nước bám vào.

Theo thống kê có tới 50% số nhà máy khi xây dựng không có yếu tố môi trường,

bố trí đặt không đúng vị trí nên phải di dời hoặc không hoạt động được, chẳng hạn như

xí nghiệp nước mắm Cầu Niệm ( Hải Phòng), xí nghiệp chế biến nước mắm PhanThiết, Diêm Điền ( Thái Bình) do bố trí đặt quá gần khu dân cư nên mùi từ chượpnước mắm phát tán ra môi trường trong quá trình chế biến gây mùi khó chịu Theo báocáo “ Đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực thủy sản năm 2002” lượng chất thảithải ra môi trường từ hoạt động chế biến nước mắm bã chượp ước tính khoảng 0,3tấn/1 tấn sản phẩm Đối với các nhà máy chế biến nước mắm thì lượng khí phát tánvào khí quyển chủ yếu là SO2, H2S, NO2 Ngoài ra còn có một số chất gây mùi khóchịu làm giảm chất lượng không khí cho môi trường sinh sống của con người

Làng nghề chế biến nước mắm tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên đều phát triển vớiquy mô gia đình theo hướng tự phát Tại các cơ sở sản xuất, có tới 60,2% cơ sở khôngthực hiện xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Các chỉ tiêu môi trường trongmẫu nước (BOD5, COD, Nitơ, photpho,…) tại các làng nghề cao gần gấp 10 lần, đặcbiệt chỉ số coliform cao gấp 100 lần so với tiêu chuẩn cho phép Không khí ở các làngnghề đều có mùi khó chịu, các chỉ tiêu SOx, NOx, COx, NHx, H2S đo được trongkhông khí đều cao hơn mức cho phép từ 1,5 – 2,8 lần theo TCVN 5939:2005

- Nước thải: Chỉ có 39,8 % tổng số hộ chế biến nước mắm trên địa bàn 2 tỉnh

Khánh Hòa, Phú Yên trả lời là nước thải sau chế biến có được xử lý, trong đó chỉ có1,0% trả lời là có sử dụng hóa chất để xử lý, số còn lại sử dụng hầm rút để chứa nướcthải; có đến 60,2% số hộ cho biết là nguồn nước thải của cơ sở không được xử lý trướckhi thải ra ngoài môi trường Theo các hộ chế biến điều tra, việc xử lý nước thải quahầm rút là có hiệu quả, tuy nhiên ảnh hưởng lớn đến nước ngầm

- Chất thải: Chất thải chủ yếu là xác mắm, xác mắm sau quá trình sản xuất nhưng

được tập trung thu lại để rồi bán cho người thu mua chủ yếu đem lên tây nguyên làmTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

phân bón Còn các hộ sản xuất số lượng ít thì xác mắm được sử dụng làm phân bóncây trồng trong gia đình Do vậy, không có quy trình xử lý chất thải Tuy nhiên, việcgom chất thải (xác mắm) cũng làm ảnh hưởng đến môi trường ô nhiễm của địa bànxung quanh, đặc biệt về mùi.

Kết quả từ bảng 2 cho thấy hầu hết các chỉ tiêu môi trường nước thải tại 2 quy

mô làng nghề chế biến nước mắm nhỏ và lớn đều cao hơn rất nhiều so với QCVN11:2008/BTNMT Cụ thể, BOD5 trung bình ở hai qui mô trung bình của 2 quy mô lớn

và nhỏ đều cao hơn lần lượt chỉ tiêu là 10,3 và 9,6 lần; COD trung bình của 2 quy mô

ở hai qui mô cao hơn lần lượt là 7,7 và 7,4 lần; NH3 cao hơn tiêu chuẩn là 1,6 lần; Ni

tơ trung bình trong nước thải của 2 quy mô đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép lần lượt

là 10,8 và 8,5 lần Photpho tổng ở hai qui mô cao hơn tiêu chuẩn lần lượt là là 11,3 và12,5 lần Tổng coliform ở hai qui mô cao hơn tiêu chuẩn cho phép lần lượt là 104,4 và107,8 lần Chỉ tiêu về mùi cũng không đạt chuẩn cho phép vì mùi tại các làng nghề chếbiến nước mắm khó chịu Điều này chứng tỏ các làng nghề chế biến nước mắm ởKhánh Hòa và Phú Yên có nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm khá cao.Ghi chú: Giá trị giới hạn quy định ở cột A áp dụng cho các nhà máy, cơ sở đanghoạt động Giá trị giới hạn quy định ở cột B áp dụng cho các nhà máy, cơ sở mới xâydựng Kết quả từ bảng 3 cho thấy các chỉ tiêu SOx , NOx, COx, NHx, H2S của cả haiquy mô chế biến nước mắm nhỏ và lớn đều cao hơn nồng độ cho phép cho cơ sở đanghoạt động theo TCVN 5939:2005 ở các thời gian đo mẫu khác nhau nhưng ở mứckhông nhiều, ngoại trừ nồng độ khí COx và SOx Như vậy, không khí ở làng nghề chếbiến nước mắm tại Khánh Hòa, Phú Yên đã xảy ra ô nhiễm, nhưng ở mức chưa cao.Bụi nguyên liệu phát tán trong không khí, mùi hôi và tanh của các loại cá phơi, bã thảisau khi làm nước mắm cũng gây ô nhiễm nặng nề Với nhu cầu nhiên liệu rất lớn, bụi,khí thải sinh ra do đốt than củi (nhiên liệu chủ yếu phục vụ sản xuất), cũng là nguồngây ô nhiễm chính tới môi trường không khí Tại những hộ gia đình sản xuất nướcmắm, có mùi tại cơ sở chế biến tương đối khó chịu Thực tế, tuy ô nhiễm không khímới chỉ ở mức trung bình và nhẹ, nhưng lại là ô nhiễm diện rộng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Bảng 2:Kết quả phân tích mẫu nước thải tại làng chế biến nước mắm

TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Nồng độ

cho phép

Kết quả phân tích( giá trị trung bình) Khánh Hòa Phú Yên Quy mô

nhỏ

Quy mô lớn

Quy mô nhỏ

Quy mô lớn

Khó chịu Khó chịu Khó chịu Khó chịu

( Nguồn: Thực trạng và giải pháp quản lý môi trường làng nghề chế biến nước mắm

tại Khánh Hòa và Phú Yên)

Bảng 3: Kết quả phân tích mẫu không khí

TT Chỉ tiêu

phân tích

Nồng độ cho phép

Kết quả phân tích (giá trị trung bình)

(mg/Nm3)

A B Quy mô Khánh Hòa Phú Yên

nhỏ

Quy mô lớn

Quy mô nhỏ

Quy mô lớn

( Nguồn: Báo cáo phân tích của nước mắm tại Khánh Hòa và Phú Yên)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT

LÀNG NGHỀ NƯỚC MẮM ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG

CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHÚ HẢI

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý

Xã Phú Hải, huyện Phú Vang là xã vùng biển và phải cách trung tâm huyệnkhoảng 22 km theo hướng Đông Bắc, cách thành phố Huế khoảng 23 km vào hướngĐông, có chiều dài bãi biển 2 km, bán kính chiều rộng 900m, diện tích tự nhiên 338,9

ha, có đường QL 49B đi qua

Có tọa độ địa lý: - Phía Đông giáp biển Đông

- Phía Tây giáp phá Tam Giang

- Phía Nam giáp xã Phú Diên và phá Tam Giang

- Phía Bắc giáp xã Phú Thuận và biển Đông

Toàn xã có 4 thôn: Thôn Cự Lại Bắc, thôn Cự Lại Trung, thôn Cự Lại Nam, thôn

Cự Lại Đông

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

2.1.2.1 Địa hình, thổ nhưỡng

Về địa hình của xã Phú Hải có địa hình khá phức tạp, vùng đất ven biển là caonhô lên cao dần từ đông sang tây để chắn bão, nước biển dâng; đất đai không đượcmàu mỡ, chủ yếu chỉ toàn đất cát Là một xã ven đầm phá của huyện Phú Vang, PhúHải có địa hình ít bị chia cắt Phía Tây là vùng đầm phá nuôi trồng thủy sản, phíaĐông là vùng biển, phía Tây Bắc và Đông Bắc, phía Nam là vùng đồng cồn cát Nhìnchung địa hình, địa mạo của xã cũng khá thuận lợi cho phát triển hạ tầng khu dân cưcũng như sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

2.1.2.2 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu mang tính chất chung của toàn huyện Là xã nằm trong vùng đồng bằngven biển miền Trung nên Phú Hải chịu sự chi phối chung của khí hậu nội chí tuyếnnhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đại dương Vì vậy, những đặc trưng chủ yếu

về khí hậu thời tiết là: Nhiệt độ trung bình năm đạt 25oC; Nhiệt độ cao nhất vào cáctháng 5, 6, 7 và 8; Nhiệt độ cao tuyệt đối năm: 38,9oC; Nhiệt độ thấp nhất vào cáctháng 12, tháng 1 và tháng 2 năm sau; Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 10,2oC Độ ẩm tươngđối trung bình năm: 85 - 86%; Độ ẩm cao nhất là: 92%; Tháng có độ ẩm cao nhất la 9,

10, 11; Độ ẩm thấp nhất trong năm là 77%

- Gió, bão: Xã Phú Hải chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:

+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân 2 - 3

m/s có khi lên tới 7 - 8 m/s Mùa này gió thường khô nóng, bốc hơi mạnh nên gây khôhạn kéo dài

+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió bình

quân từ 4 - 6 m/s Gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt, ngập úng

Trang 34

2.1.2.3.Tài nguyên thiên nhiên

 Tài nguyên đất: Diện tích tự nhiên có 338,9 ha, trong đó: Diện tích đất thổ cư

27,7 ha Diện tích đất nông nghiệp 15,7 ha Đất lâm nghiệp có 27 ha Diện tích đất mồ

mã và bạch sa có 93 ha

 Tài nguyên mặt nước: Diện tích nuôi trồng thủy sản có 10,5 ha, diện tích mặt

nước có 129 ha Về Nuôi trồng thuỷ sản: Thả nuôi hết tổng diện tích NTTS là: 11,34

ha Trong đó: cao triều 5,4 ha; hạ triều 5,94 ha Tổng số lượng thả và ươm nuôi tôm là:303,6 vạn; 26,5 vạn con cá Dìa; 336,7 vạn con cá Kình và 44 vạn con Cua Có vùngbiển rộng

 Tài nguyên lâm nghiệp: Về lâm nghiệp diện tích có 26,94 ha, trước đây là đất

hoang hóa, động cát, gò đồi Sau ngày thành lập xã đến nay rừng cây phi lao luôn đượctrồng và bảo vệ nên luôn phát triển tốt để chống xâm thực bờ biển vừa có tính chiếnlược phục vụ quốc phòng

 Tài nguyên biển và ven biển: Với bờ biển dài khoảng 2 km, bình quân chiều

rộng có 900m, dồi dào nguồn lực hải sản, xã Phú Hải còn có một khả năng lớn để đilên từ phát triển kinh tế biển, đặc biệt là khai thác có hiệu quả Đây cũng là ngành kinh

tế mũi nhọn của xã Biển và ven biển chứa nhiều tài nguyên, nhất là các loại hải sản.Cát ven biển có thể phục vụ công nghệ chế biến thủy tinh

Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên như trên của

xã Phú Hải có những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

Thuận lợi: Xã có tuyến Quốc lộ 49B đi ngang qua là điều kiện thuận lợi trongviệc lưu thông và trao đổi hàng hóa giữa địa phương với các vùng lân cận Bên cạnh

đó, xã Phú Hải vừa giáp Biển Đông, vừa giáp phá Tam Giang, nên có tiềm năng lớn, làđiều kiện thuận lợi để phát triển ngư nghiệp, dịch vụ, du lịch, chế biến và nuôi trồngthủy sản, góp phần phát triển nền kinh tế của xã nhà

Khó khăn: Khí hậu khắc nghiệt ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế- xãhội và đời sống nhân dân Đặc biệt là các hộ sản xuất, chế biến nước mắm Mùa đôngdài, thường xuyên xảy ra các trận bão, lũ lụt Mùa hè hạn hán, thiếu nước Ảnh hưởnglớn đến đời sống người dân vùng ven biển Địa hình không thuận lợi cho hệ thống giaothông tạo điều kiện phát triển giao thương buôn bán

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.3.1 Tình hình dân số và lao động xã Phú Hải, mức sống của người dân

Toàn xã có: 5.686 khẩu và 825 hộ vào năm 1989 và hiện nay có 1.594 hộ và8.100 nhân khẩu, lao động có 3.340 người Trong đó lao động biển và NTTS có 1.210người, lao động tiểu thủ công nghiệp có 380 người, lao động nông nghiệp có 80 người,lao động ngành nghề buôn bán, chế biến và dịch vụ khác có 1.570 người Số lượngtrong độ tuổi lao động trung bình chiếm 50%, là một xã thuần ngư chỉ có một làng (CựLại) nên dân cư sống tập trung

Cơ cấu kinh tế của xã Phú Hải chủ yếu là dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, đánh bắtthủy sản Theo thống kê thì có tới 70% người dân tham gia khai thác đánh bắt thủysản, nhưng lại đến 80- 90% người dân làm nghề sản xuất, chế biến nước mắm, mắm.Bên cạnh kết quả đạt được, mức thu nhập bình quân đầu người của xã Phú Hảivẫn còn thấp mà nguyên nhân chủ yếu là do họ sống chủ yếu nhờ vào biển, đầm phánên phụ thuộc rất lớn vào thời tiết lẫn mùa vụ đánh bắt cá; phương tiện thô sơ, lạc hậu;trình độ thấp Hộ nghèo theo chuẩn mới toàn xã có 85 hộ nghèo có 290 khẩu chiếm4,95%; hộ cận nghèo có 59 hộ có 206 khẩu chiếm 3,34% Tỷ lệ hộ nghèo năm 1989 là30% nhưng hiện nay chỉ còn 4,95%, bình quân thu nhập đầu người là 8 triệu đồng/người Tỷ lệ hộ giàu khá ngày càng tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần

2.1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế của xã Phú Hải

- Dịch vụ - Tiểu thủ công nghiệp:

Các cơ sở sản xuất nước đá, dịch vụ sửa chữa cơ khí, mộc, nề, may mặc, chế biếnnước mắm, thu mua hàng xuất khẩu nội địa và các ngành nghề khác v.v phát triển khá

ổn định đã tạo nhiều công ăn việc làm cũng như phục vụ tốt trong đời sống bà con nhândân Phòng Công thương huyện, tỉnh nghiệm thu hỗ trợ khuyến công cho các cơ sở nướcmắm Út Diệp, Phú An và cơ sở mộc mỹ nghệ Nhất Cư Đã đăng ký chương trình hỗ trợkhuyến công năm 2015 cho 03 cơ sở: Lê Tròn, Lê Văn Chiến, Bà Sen

Trong năm 2014, các cơ sở kinh doanh, sản xuất nước đá đã sản xuất đượckhoảng 146 tấn; chế biến và tiêu thụ trên 51.000 lít nước mắm và 52 tấn mắm các loạitạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, đồng thời phục vụ tốt đời sống của bà connhân dân trên địa bàn Làng Cự Lại đã được UBND tỉnh ban hành Quyết định và cấpbằng công nhận Làng nghề mang thương hiệu nước mắm “Làng Trài”

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

- Khai thác thuỷ sản:

Tổ chức tổng kết khai thác và NTTS năm 2013 và đề ra phương hướng, nhiệm vụnăm 2014 và tổ chức Lễ ra quân đánh bắt cá năm 2014 Về năng lực đánh bắt của ngưdân ngày càng được nâng lên Bên cạnh đó, được cấp trên tập huấn các kiến thức vềquy định đánh bắt khai thác Thủy hải sản cũng như sử dụng thành thạo một số thiết bịthông tin điện tử: Như máy định vị, máy dò cá và một số phương tiện kỹ thuật đánhbắt khác

Tổng sản lượng khai thác hải sản: 4.528/5.100 tấn, đạt 88,8% KH năm, doanh thuước khoảng: 45 tỷ đồng (giảm hơn cùng kỳ năm trước khoảng 13 tỷ đồng) Trong đó:

Cá 3.856 tấn, Mực 170 tấn, Ruốc 432 tấn, thủy sản khác 70 tấn

- Về Nuôi trồng thuỷ sản:

Thả nuôi hết tổng diện tích NTTS là: 11,34 ha Trong đó: cao triều 5,4 ha; hạtriều 5,94 ha Tổng số lượng thả và ươm nuôi tôm là: 303,6 vạn; 26,5 vạn con cá Dìa;336,7 vạn con cá Kình và 44 vạn con Cua Tổng sản lượng thu hoạch trong 2 vụ là:18,01 tấn trong đó, tôm: 4,04 tấn; cá: 10,82 tấn; cua: 3,15 tấn, doanh thu ước đạtkhoảng 2,7 tỷ đồng Ngay từ đầu năm Tổ NTTS đã tổ chức họp bà con ngư dân đểquán triệt đến từng hộ nuôi về những quy định trong việc thả nuôi theo khung lịch củacấp trên

Nhìn chung thời tiết trong năm 2014 rất thuận lợi cho bà con ngư dân ra khơi.Mặc dù sản lượng đánh bắt không vượt chỉ tiêu đề ra là do đàn cá không rộ và giảm 02chiếc tàu Đồng thời giá cả xăng dầu và một số mặt hàng thiết yếu luôn bị biến động,tăng cao nên ảnh hưởng đến thu nhập của bà con ngư dân

- Nông - Lâm nghiệp:

Nông nghiệp: đã thu hoạch hết 10,4/14,4 ha vụ lúa Đông Xuân 2013-2014 vớinăng suất 52 tạ/ha, tổng sản lượng thóc thu hoạch là: 52 tấn, vụ Hè Thu bà con khônggieo cấy do sợ thiếu nước và chuột phá Hiện bà con đã cày ải hết 10,4 ha vụ lúa ĐôngXuân năm 2014-2015

Thú y và chăn nuôi: Tổng số đàn gia súc, gia cầm trên toàn xã có 2.150 con.Trong đó gia cầm: 1.260 con; Trâu bò: 48 con; Dê 25 con; Lợn: 630 con Đã tiêm vắcxin các loại cho 1280 con gia súc, gia cầm Tiêm phòng vắc xin trụ huyết trùng,Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

thương hàn, dịch tả, LMLM là 510 con Lợn đạt 81%; 45 con trâu bò đạt 94% Tiêmphòng dại Chó 200 con và đã tiêm được 167 con đạt 83,5% Vận động bà con mở rộngchuồng trại để chăn nuôi tập trung theo kiểu gia trại và nhân rộng mô hình chăn nuôitrên địa bàn.

Lâm nghiệp: đã vận động bà con chăm sóc và bảo vệ rừng dương liễu hiện có đểphòng chống cát bay, đồng thời tăng cường biện pháp phòng chống chặt phá câydương liễu Ngoài ra rừng cây phi lao luôn được trồng và bảo vệ

2.1.3.3 Về xã hội

- Các đối tượng chính sách có 104 người, trong đó gia đình liệt sĩ có 76 hộ có 84liệt sĩ Thương binh có 24 người, người có công cách mạng 4 người, cán bộ tham giacách mạng và cơ sở cách mạng bị tù đày từ năm 1945- 1975 có 93 người, bà mẹ ViệtNam anh hùng có 3 mẹ nay đã từ trần Các đối tượng chính sách thường xuyên đượcthăm hỏi động viên, gia đình chính sách và quân nhân phục viên, xuất ngũ, tại ngũ,qua hàng năm địa phương tổ chức lễ kỷ niệm ngày TBLS 27/7, cũng như thăm hỏichúc tết đầu năm, quan tâm tặng quà cho gia đình chính sách, " uống nước nhớ nguồn,

ăn quả nhớ người trồng cây"

- Về cơ sở y tế: cơ sở trạm y tế được xây dựng mới và nâng cấp, hiện có 2 phòngkhám, 2 phòng điều trị, 3 phòng khoa sản Đội ngũ y tế có 5 nhân viên: 1 bác sĩ, 1 y sĩ,

3 y tá, 5 y tá thôn, cán bộ y tế phục vụ khám điều trị chăm sóc sức khỏe ban đầu chonhân dân Thực hiện đầy đủ các chương trình y tế quốc gia để phòng ngừa dịch bệnhcho cộng đồng Hiện nay, trạm y tế xã đã được công nhận trạm y tế đạt chuẩn quốcgia Công tác chăm sóc sức khỏe và bảo vệ quyền trẻ em cũng được quan tâm, trẻ emđược quan tâm, trẻ em trong độ tuổi đều được tiêm chủng đầy đủ đạt 100%, các cháuđược chăm sóc chu đáo

- Về giáo dục: Chất lượng dạy và học của các cấp học ngày càng cao cũng nhưnhiều phong trào khác được quan tâm hơn Hiện nay, trường THCS có 21 phòng họcvới 700 học sinh; trường Tiểu học có 734 học sinh, trường mầm non có 225 cháu họcbán trú, cả ngày Toàn xã có 235 em đang theo học tại các trường PTTH trên địa bàntoàn tỉnh và 114 em học sinh tham dự kỳ thi tốt nhiệp PTTH Hiện nay, có trên 80 emđang học tại các trường Đại học, Cao đẳng và THCN

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

Hiện nay, đã bổ sung công tác chính sách dân số vào hương ước, quy ước Làngvăn hóa Đã cấp phát hỗ trợ tiền điện quý cho các hộ nghèo với tổng số tiền:15.300.000 đ Các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đã có nhiều phần quà thiết thực hỗtrợ cho hộ nghèo trong toàn xã tổng số tiền trên 500.000.000đ Có 90 học sinh thuộc

hộ nghèo và cận nghèo được tổ chức từ thiện và nhân đạo xã hội hỗ trợ dụng cụ họctập tạo điều kiện góp phần giảm học sinh nghèo bỏ học Đã tổ chức tặng quà chonhững cụ cao tuổi

2.1.3.4 Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: Đường giao thông nông thôn: trong những năm qua đã phát huy nộilực kết hợp ngoại lực để đầu tư xây dựng và từ chỗ chưa có đường đến nay đã hoànthành cơ bản hệ thống giao thông đường liên thôn đáp ứng một phần nào nhu cầu đi lạicủa người dân Đường sá dần dần được nhựa hóa và bê tông hóa Bê tông hóa GTNT (2001-2003) xây dựng dài 6,5 km với kinh phí 1 tỷ 640 triệu đồng Trong đó nhà nước

hỗ trợ 860 triệu đồng, nhân dân đóng góp 780 triệu đồng

- Hệ thống điện: Cuối năm 1994 nguồn điện đưa về tỏa sáng trên làng quê, hiệnnguồn điện cung cấp cho xã đã đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất củangười dân Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 100%

- Thương mại, dịch vụ, phương tiện đánh bắt, nhà ở:

Hiện nay trên địa bàn xã có một chợ “ Cự Lại” là nơi giao lưu buôn bán củangười dân trong xã Tuy quy mô không lớn nhưng đáp ứng nhu cầu mua bán, tiêu dùngcủa người dân Bên cạnh đó, mạng lưới dịch vụ bước đầu phát triển dọc theo các tuyếnđường góp phần làm tăng thu nhập cho người dân

Trên địa bàn xã có một trạm bưu điện, nay đã có khoảng 660 chiếc điện thoại,bình quân 5 hộ/máy Toàn xã có 560 chiếc xe honda, tivi màu có khoảng 90% so vớitổng hộ Nhà ở cấp 2 có 5%, nhà ở cấp 3 có khoảng 45%, nhà ở cấp 4 kiên cố cókhoảng 45%, chưa kiên cố 5%

Các phương tiện đánh bắt xa bờ được thay thế dần từ thô sơ sang hiện đại, từcông suất nhỏ sang công suất lớn, từ chèo bằng tay sang bằng máy Ngư lưới cụ đượcquan tâm cải tiến, đầu tư mua sắm mới để phục vụ đánh bắt Ngư dân vươn khơi xa đểđánh bắt dài ngày, nên sản lượng khai thác ngày càng cao, khai thác dồi dào Số lượngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

phương tiện đánh bắt thủy hải sản hiện có: 158 chiếc với tổng công suất: 9.845CV.Trong đó: 46 chiếc tàu công suất từ 92-460CV (giảm 02 chiếc); 30 chiếc ghẹ công suất

từ 24- 82CV; 82 thuyền máy cố công suất từ 8-18 CV (trong đó: sông đầm 35 máy)

 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế- xã hội:

Thuận lợi: Xã Phú Hải có lực lượng lao động dồi dào, có kinh nghiệm lâu nămtrong đánh bắt chế biến thủy hải sản, là điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế xã hội.Điện, nước, thông tin liên lạc được mở rộng đã góp phần nâng cao đời sống tinh thầncho người dân Hệ thống giao thông đã được cải thiện, không còn bị chia cắt về mặtđịa lý, phương tiện chủ yếu bằng đường bộ thuận lợi cho thông thương và trao đổimua bán

Khó khăn: Do đặc điểm là một xã thuần ngư gắn liền với các hoạt động đánh bắt,nuôi trồng thủy hải sản nên các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ còn kémphát triển Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cao, phương tiện đánh bắtngày càng hiện đại nhưng chỉ mới phục vụ được một phần nhu cầu sản xuất và sinhhoạt đi lại của người dân địa phương

2.2 Lịch sử phát triển làng nghề sản xuất nước mắm Làng Trài, xã Phú Hải

Làng Cự Lại, xã Phú Hải (tục còn gọi là “Làng Trài”) do Ngài bổn Thổ Tiền khaicanh Phan Quý Công, cùng các vị Tiền bối khai canh, khai khẩn đã lập nên cách đâykhoảng 463 năm và các vị Thủy tổ các họ (tục còn gọi là phụ tộc, phụ phái) cùng nhauxây dựng qua nhiều thế hệ cho đến nay Đạt được những thành quả đó, không phảingẫu nhiên từ 10 năm, 20 năm mà có được Đây là chặng đường phấn đấu khá dài, nógắn liền với lịch sử phát triển của Làng Cự Lại Khi ấy vùng đất còn quá hoang sơ, câycối um tùm, dân sống thưa thớt và cuộc sống thì muôn vàn khó khăn vất vả, thiếu thốn,lạc hậu, thiên tai địch họa hy sinh mất mát Nhưng được bù đắp lại cho sự khó khănchồng chất ấy, thì Làng Cự Lại có truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, chịuthương, chịu khó Bên cạnh được thiên nhiên ban tặng cho địa hình, địa thế bằngphẳng, nằm trải dọc trước phá Tam Giang, sau là biển Đông, là điều kiện không chỉthuận lợi trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc, quê hương mà còn là điều kiện thuận lợi đểphát triển kinh tế Nhận thức được lợi thế, tiềm năng của Làng, những cụ TrưởngLàng, Trưởng Họ thời ấy luôn họp bàn với các Họ tộc, Bô lão để động viên con cháuTrường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 08/11/2016, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Kiên, Hoàng Đức Nhuận, Mai Sỹ Tuấn, Sinh thái học và môi trường, NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học và môi trường
Nhà XB: NXBGD
5. Bản tóm tắt làng nghề nước mắm xã Phú Hải, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tóm tắt làng nghề nước mắm xã Phú Hải
8. Tiểu luận ô nhiễm môi trường xã Phú An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu luận ô nhiễm môi trường xã Phú An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa ThiênHuế
1. Trà Mỹ Hạnh (năm 2011), giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống đúc đồng Phước Kiều tại huyện Điện Bàn- Quảng Nam Khác
3. TS. Võ Văn Nha, Thực trạng và giải pháp quản lý môi trường làng nghề chế biến nước mắm tại Khánh Hòa và Phú Yên Khác
4. Theo PGS.TS. Lê Văn Thăng, giáo trình khoa học môi trường đại cương Khác
6. Bộ Tài Nguyên và Môi Trường (2008), Báo cáo môi trường làng nghề quốc gia năm 2008 Khác
7. Thông tư số 119/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của bộ NN&PTN Khác
9. Báo cáo kết quả thực hiện CT VSMT xã Phú Hải, 2014 Khác
10. Báo cáo trả lời cử tri xã Phú Hải, 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Kết quả phân tích mẫu nước thải tại làng chế biến nước mắm - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại làng chế biến nước mắm (Trang 31)
Bảng 5: Thông tin chung về mẫu điều tra - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 5 Thông tin chung về mẫu điều tra (Trang 47)
Bảng 6: Ý kiến người dân về chất lượng nước - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 6 Ý kiến người dân về chất lượng nước (Trang 49)
Bảng 7: Ý kiến của người dân về việc ngửi thấy mùi khó chịu - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 7 Ý kiến của người dân về việc ngửi thấy mùi khó chịu (Trang 50)
Bảng 8: Ý kiến của người dân về mùi hôi nước thải sản xuất nước mắm - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 8 Ý kiến của người dân về mùi hôi nước thải sản xuất nước mắm (Trang 51)
Bảng 9: Ý kiến người dân về sự thay đổi năng suất lúa, hoa màu, sản lượng NTTS - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 9 Ý kiến người dân về sự thay đổi năng suất lúa, hoa màu, sản lượng NTTS (Trang 53)
Bảng 10: Tác động của ô nhiễm làng nghề nước mắm đến sức khỏe - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 10 Tác động của ô nhiễm làng nghề nước mắm đến sức khỏe (Trang 54)
Bảng 12: Ý kiến của người dân về mâu thuẫn làng nghề - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 12 Ý kiến của người dân về mâu thuẫn làng nghề (Trang 58)
Sơ đồ 1: Quy trình làm nước mắm ở Làng Trài - Ảnh hưởng hoạt động sản xuất làng nghề nước mắm đến môi trường sống của người dân xã phú hải, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế
Sơ đồ 1 Quy trình làm nước mắm ở Làng Trài (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w