Mục đích nghiên cứu: Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởngcủa việc thu hồi đất tới sinh kế người dân để điều tra, đánh giá tác động của việc thuhồi đất đai đến sinh kế n
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ KỲ SƠN,
Trang 2-- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ KỲ SƠN,
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Lớp: K44 Kinh tế nông nghiệp Niên khóa: 2010 - 2014
Huế, tháng 5 năm 2014
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này là sự đúc kết, tổng hợp những kết quả học tập và nghiên cứu trong suốt 4 năm học tại trường Đại học Kinh Tế Huế Trong quá trình học tập cũng như thời gian thực tập viết khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, cá nhân, các thầy cô giáo trong và ngoài trường Đại học Kinh Tế Huế.
Đầu tiên tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu ở mái trường Kinh Tế này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s Lê Anh Quý, người đã hết lòng hướng dẫn , giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Ngoài ra tôi xin chân thành cảm ơn đến các bác và các anh chị trong Phòng NN&PTNN huyện Kỳ Anh đã tạo mọi điều kiện, cung cấp cho tôi những kinh nghiệm thực tế, những tài liệu quý giá để tôi hoàn thành khóa luận này trong thời gian tôi thực tập ở quý cơ quan.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè tôi và đặc biệt tập thể K44 Kinh Tế Nông nghiệp đã đồng hành cùng tôi suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành báo cáo.
Tôi đã cố gắng nổ lực hết sức để hoàn thành khóa luận này, tuy nhiên do điều kiện thời gian còn hạn chế, kiến thức của tôi có hạn, kinh nghiệm chưa nhiều nên báo cáo của tôi còn nhiều hạn chế và sai sót, tôi mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để có thể hoàn thiện hơn.
Một lần nữa xin trân trọng cám ơn!
Huế, tháng 5 năm 2014Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Diễn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MUC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.1.Khái niệm về đất và đất nông nghiệp 3
1.1.2 Vai trò của đất đai 4
1.1.3 Đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất 6
1.1.3.1 Đô thị hóa 6
1.1.3.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa 6
1.1.4 Sự cần thiết phải thu hồi đất 7
1.1.5 Khái quát về công tác giải phóng mặt bằng 7
1.1.5.1 Khái niệm về giải phóng mặt bằng và bồi thường thiệt hại 7
1.1.5.2 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) 8
1.1.5.3 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng 8
1.1.5.4 Chính sách bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay .9
1.1.5.5 Một số chính sách bồi thường, hỗ trợ khi hồi đất của tỉnh Hà Tĩnh 11
1.1.6 Các vấn đề về sinh kế 15
1.1.6.1 Khái niệm sinh kế 15
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 51.1.6.2 Sinh kế bền vững 16
1.1.7 Phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 20
1.2.1 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay 20
1.2.2 Tác động của quá trình đô thị hóa 21
CHƯƠNG II : TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN Ở XÃ KỲ SƠN HUYỆN KỲ ANH 25
2.1 Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu 25
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 25
2.1.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình: 25
2.1.1.3.Đặc điểm thời tiết khí hậu 25
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
2.2.1 Tình hình kinh tế 26
2.2.2 Dân số, lao động 27
2.2.3 Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng 29
2.2.4 Hoạt động văn hóa – xã hội 30
2.2.5 Đánh giá chung về vùng nghiên cứu: 32
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý đất đai của xã Kỳ Sơn 33
2.3.1 Tình hình sử dụng đất 33
2.4 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và tác động của nó tới sinh kế người dân ở xã Kỳ Sơn 35
2.4.1 Thực trạng thu hồi đất ở xã Kỳ Sơn 35
2.4.2 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế người dân 37
2.4.2.1 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 37
2.4.2.3 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới việc làm của người lao động 40
2.4.2.4 Tác động của việc thu hồi đất tới thay đổi tài chính 42
2.4.2.5 Tác động việc thu hồi đất đến sự thay đổi nguồn vốn vật chất 45
2.4.2.6 Tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới nguồn vốn xã hội 46
2.4.2.7 Tác động của thu hồi đất về mặt môi trường 47
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 62.4.2.8 Những khó khăn của các hộ điều tra sau thu hồi đất 47
2.5 Đánh giá chung về tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân 48
2.5.1 Mặt tích cực 48
2.5.2 Mặt tiêu cực 49
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 51
3.1 Định hướng 51
3.2 Giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của việc thu hồi đất nông nghiệp tới sinh kế người dân xã Kỳ Sơn 52
3.2.1 Giải pháp về giải quyết việc làm, tạo sinh kế bền vững 52
3.2.2 Giải pháp về nguồn lực tài chính, vật chất kỷ thuật 53
PHẦN III: 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.4 Tình hình thu hồi đất của các dự án trọng điểm trên địa bàn xã Kỳ
Sơn từ 2007 đến nay
35
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MUC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ/Sơ
đồ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế của người dân
xã Kỳ Sơn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”.
1 Mục đích nghiên cứu: Dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn về ảnh hưởngcủa việc thu hồi đất tới sinh kế người dân để điều tra, đánh giá tác động của việc thuhồi đất đai đến sinh kế người dân và đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tế trênđịa bàn xã Kỳ Sơn
2 Dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu: Để hoàn thành nghiên cứu này tác giả đã tìmhiểu và điều tra nguồn số liệu sơ cấp trên địa bàn xã, cũng như tìm hiểu các số liệu thứcấp cần thiết từ cơ quan thực tập phòng NN&PTNN huyện Kỳ Anh, phòng thống kê,phòng địa chính UBND xã Kỳ Sơn
3 Phương pháp nghiên cứu: Một số phương pháp được sử dụng như phương phápđiều tra thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, phương pháp phân tích, so sánh, phương phápthống kê
4 Kết quả nghiên cứu: Thông qua quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu đề tài
đã cơ bản biết được tình hình sinh kế của của người dân trước và sau thu hồi đất thayđổi như thế nào, những khó khăn họ gặp phải khi bị thu hồi đất Cụ thể như: Sau khithu hồi nguồn lực đất đai của các hộ thay đổi rõ rệt Trong 60 hộ điều tra, trước thu hồibình quân diện tích đất mỗi hộ là 13777,67 m2 sau thu hồi giảm xuống còn 5837,6 m2.Lực lượng lao động ngày càng trẻ hóa, tỷ lệ người tham gia lao động nông nghiệpgiảm xuống 34% trong khi số lao động tăng lên gần 42% so với trước thu hồi đất.Theo kết quả điều tra có khoảng 88% số hộ đồng ý rằng thu nhập của họ tăng lên sovới trước Những người dân bị thu hồi đất thường gặp phải khó khăn như thiếu đất,thiếu vốn sản xuất Dựa trên cơ sở những kết quả đã được nghiên cứu đề xuất một số ýkiến, giải pháp phù hợp với địa phương để góp phần làm cho sinh kế của người dânngày càng được cải thiện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11PHẦN I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế
-xã hội toàn diện, việc xây dựng các cơ sở kinh tế, các khu trung tâm thương mại - dịch
vụ, các khu dân cư mới, các khu công nghiệp, mở rộng phát triển cơ sở hạ tầng để thuhút đầu tư, tăng lên một cách rõ rệt Đồng nghĩa với nhu cầu sử dụng đất phục vụ chocác mục tiêu đó cũng tăng lên, làm cho đất đai ngày càng trở nên khan hiếm Đất đai làloại tài nguyên vô cùng quý giá, đặc biệt trong nông nghiệp nó là tư liệu sản xuấtkhông có tài nguyên nào có thể thay thế được Người nông dân muốn sản xuất thì cần
có đất, không có giá đỡ nào ngoài đất đảm bảo cho công tác sản xuất, nuôi trồng củangười dân một cách lâu dài và có hiệu quả Hiện nay quá trình đô thị hóa ngày càngphát triển mạnh mẽ, bộ mặt đô thị càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng kéo theo
sự thay đổi về mọi mặt của từng địa phương Việc phát triển các khu đô thị, khu kinh
tế, công nghiệp ngày càng tăng đồng thời với việc thu hồi đất ở, đất sản xuất nôngnghiệp cũng tăng lên Thực tế cho thấy thời gian gần đây diện tích đất nông nghiệp bịthu hồi là một con số đáng kể Việc giải phóng mặt bằng thu hồi đất đai là vấn đề nhạycảm Khi đất đai sản xuất bị thu hồi sẽ làm ảnh hưởng tới sinh kế của người dân.Những lợi ích mà quá trình đô thị hóa mang lại là không thể phủ nhận nhưng quá trình
đô thị hóa cũng làm phát sinh những vấn đề cần giải quyết Trong đó vấn đề diện tíchđất nông nghiệp bị thu hẹp và làm thế nào để tạo công ăn việc làm cho những người bịthu hồi đất sản xuất là một trong những vấn đề cần được giải quyết tốt
Kỳ Anh là huyện tuy không nằm gần trung tâm thành phố nhưng mấy năm gầnđây công cuộc đô thị hóa của huyện nhà diễn ra khá mạnh mẽ, không những ở trungtâm thị trấn mà huyện nhà còn đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng đưa các dự án phát triểnkinh tế về các xã vùng xa để nhằm phát triển toàn diện huyện nhà Kỳ Sơn là xã vùng
xa của huyện cách thị trấn Kỳ Anh 18km Những năm qua hòa mình vào không khíphát triển hội nhập của huyện với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội toàn diện, xã KỳSơn cũng đã đón nhận những dự án lớn làm thay đổi bộ mặt của xã như: xây mới nhà
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12máy chế biến tinh bột sắn, đường xuyên Việt lào, Dự án cấp nước cho Khu kinh tếVũng Áng - Hạng mục Lòng hồ Đập dâng Lạc Tiến, dự án nâng cấp hồ chứa nước CâyTrâm Những dự án đó đã làm thay đổi phần nào cuộc sống của những người dân nằmtrong vùng giải tỏa Qua quá trình thực tập, nghiên cứu ở địa phương và tham khảo ýkiến của giảng viên hướng dẫn Th.s Lê Anh Quý cùng các đồng chí trong cơ quan thựctập tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề sinh kế của người dân sau thu hồi đất là cần thiết.
Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sinh kế
của người dân xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”.
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
+ Đối tượng: Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến sinh kế của ngườidân xã Kỳ Sơn, Kỳ Anh, Hà Tĩnh
+ Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Kỳ Sơn- Kỳ
Anh-Hà Tĩnh
+ Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2007-2014, điều tra năm 2014
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp thống kê
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1.Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất đai:
Đất đai là một phạm vi không gian, như một vật mang những giá trị theo ý niệmcủa con người Theo cách định nghĩa này, đất đai thường gắn với một giá trị kinh tếđược thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sởhữu Cũng có những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyênsinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội của của một tổng thể vật chất Trong phạm vinghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như nhân tố sinh thái (FAO, 1976).Theo FAO thì đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặttrái đất ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiệu quả sử dụng đất Như vậy đất đượchiểu như tổng thể nhiều yếu tố bao gồm: Khí hậu, địa hình, đất, thổ nhưỡng, thảm thựcvật tự nhiên, động vật, những biến đổi do hoạt động của con người (TS.Huỳnh VănChương, năm 2011) Cụ thể hơn đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt tráiđất, bao gồm các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đấtnhư khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hinh, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy, ), các lớptrầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cưcủa con người, )
Khái niệm đất có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
• Đất như là không gian
Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh và quốc phòng ”
- Đất nông nghiệp được gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất,khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chănnuôi Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, pháttriển rừng Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sửdụng vào sản xuất nông nghiệp còn được gọi là ruộng đất (Luật đất đai 2003) Đây làmột trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp
1.1.2 Vai trò của đất đai
-Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay bánh xethời gian thì con người xuất hiện và tác động vào đât đai, cải tạo đất đai và biến đất đai
từ sản phẩm của tự nhiên mang lại trong mình sức lao động của con người, tức cũng làsản phảm của xã hội
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu
tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trêntrái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinhtồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trongnông, lâm nghiệp” Bởi vây, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sảnxuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộcsống và duy trì nòi giống cho đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài conngười chiếm hữu đất đai biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản củacộng đồng, của một quốc gia Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa việt nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!”
- Vai trò của đất đai trong các ngành nông nghiệp - lâm nghiệp:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, với ngành nông nghiệp, đấtkhông chỉ là cơ sở không gian, không chỉ là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tạicủa ngành sản xuất này, mà đất còn là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất Quá trìnhsản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc nhiều vào độ phì nhiêucủa đất, phụ thuộc vào quá trình sinh học tự nhiên Trong nông nghiệp, ngoài vai trò
cơ sở không gian, đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:
- Đất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sảnxuất
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp nước, không khí và cácchất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng để cây trồng sinh trưởng và phát triển
Như vậy đất gần như trở thành một công cụ sản xuất Năng suất, chất lượng sảnphẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất Trong số tất cả các tư liệu sản xuấtdùng trong nông nghiệp, chỉ có đất mới có được chức năng này Chính vì vậy, người ta
có thể nói rằng, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng trong nôngnghiệp Kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số và quá trình đô thịhoá, những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ýthức) đã làm cho nhiều vùng đất nông nghiệp màu mỡ bị suy giảm cả về số lượng vàchất lượng, vấn đề sử dụng đất càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu Với sựphát triển không ngừng của sức sản xuất đã gây áp lực ngày càng cao trong quá trình
sử dụng đất, việc cần thiết là phải gìn giữ những vùng đất nông nghiệp thuận lợi vàluôn bồi bổ đất làm cho công năng của đất đai ngày càng được nâng cao theo hướng đadạng nhiều tầng nấc để truyền lại cho các thế hệ mai sau
Rõ ràng, đất đai không chỉ có những vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nócòn có ý nghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu vàvốn đất đai mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giớiquốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sửdụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự an toàn vềtài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 161.1.3 Đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất
1.1.3.1 Đô thị hóa
Đô thị hóa là một xu thế tất yếu, đó là một quá trình phát triển xã hội mang tínhchất toàn cầu và diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới, khôngmột quốc gia nào đạt được mức tăng trưởng cao mà không trải qua quá trình đô thịhóa Hiện nay có nhiều khái niệm đô thị hóa được sử dụng:
Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành nhanhchóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sựbiến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơcấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị (Th.s TrầnĐoàn Thanh Thanh)
Khái niệm đô thị hóa được dùng phổ biến hiện nay là: Đô thị hóa (Urbanization)
là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân
cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống (Bài giảng đô thị hóa và phát triển
đô thị)
1.1.3.2 Đặc điểm của quá trình đô thị hóa
- Quá trình đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa Ở nơi nào có
đô thị hóa thì ở đó có quá trình công nghiệp hóa và ngược lại
- Quá trình đô thị hóa đã làm biến đổi sâu sắc và đưa đến nhiều thành tựu quantrọng trong quá trình phát triển các đô thị nói riêng và cả xã hội nói chung Bên cạnh
đó, đô thị hóa cũng kéo theo nhiều mặt tiêu cực đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyếtcủa toàn xã hội nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững
+ Về mặt tích cực: đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa dạnghóa các thành phần kinh tế, phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, pháttriển nền kinh tế thị trường; thay đổi cơ cấu nghề nghiệp theo hướng tích cực, tăng tỷ
lệ lao động phi nông nghiệp, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp; tổ chức các hoạt động
xã hội theo hướng phố, phường, quận; tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xâydựng chuyển từ dạng nông thôn sang thành thị, tạo nhiều kiểu kiến trúc mới, đẹp hơn
và hiện đại hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17+ Về mặt tiêu cực: đô thị hóa thường kéo theo nạn thất nghiệp, các tệ nạn xã hội(ma túy, mại dâm, cướp giật, cờ bạc), ô nhiễm môi trường, quy hoạch thiếu đồng bộ, Những tồn tại này làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và nền văn minh đô thị và
cả xã hội, do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết của các cấp chính quyền vàtoàn thể nhân dân nhằm đảm bảo đời sống ấm no, văn minh và lành mạnh
1.1.4 Sự cần thiết phải thu hồi đất
Công nghiệp hóa và cùng với đó là đô thị hóa đã trở thành xu thế chung cho sựphát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Điều này cũng có nghĩa là đô thịhóa càng phát triển thì nhu cầu về đất đai cũng tăng lên theo tỷ lệ thuận để phục vụ chomục đích phi nông nghiệp nhằm xây dựng cơ sở kỹ thuật, hạ tầng đô thị làm tiền đề đểphát triển các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ trong thời kỳ mới Mặt khác,đất đai cũng như các nguồn lực khác, nếu không có thì không thể tiến hành sản xuấtđối với bất cứ ngành kinh tế nào Đất đai lại là sản phẩm của tự nhiên, có giới hạn vàkhông thể thay thế được Trong những năm qua, do áp lực của quá trình đô thị hóa đãdẫn đến những áp lực về đất đai Đất nước chúng ta muốn phát triển sánh vai với cácquốc gia khác thì không thể chỉ phát triển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu cần phảiphát triển theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước Trước những nhu cầu cấpthiết đó cần thiết phải thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho các mục đích phi nôngnghiệp trong quá trình đô thị hóa phát triển đất nước
1.1.5 Khái quát về công tác giải phóng mặt bằng
1.1.5.1 Khái niệm về giải phóng mặt bằng và bồi thường thiệt hại
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc didời nhà cửa, cây cối, các công trình xậy dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đấtnhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trìnhmới
Bồi thường thiệt hại có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho mộtchủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác
Việc bồi thương thiệt hại có thể vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằngtiền hoặc vật chất khác) có thể do các quy định của pháp luật điều tiết hoặc do thỏathuận của các chủ thể
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 181.1.5.2 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB)
Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất thực chất là việc giải quyết mốiquan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người được giao đất thuê đất và người bị thu hồi đất.Bồi thường thiệt hại về đất phải được thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá đất,
về phương thức thu hồi và hạch toán Việc bồi thường thiệt hại về đất không giống vớiviệc trao đổi, mua bán tài sản, hàng hóa trên thị trường Nó vừa phải đảm bảo lợi íchcủa người bị thu hồi đất, nhưng đồng thời phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, củangười nhận quyền sử dụng đất thu hồi, có nghĩa là phải giải quyết một cách hài hòagiữa các đối tượng tham gia
Bản chất của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong tình hình hiện naykhông đơn thuần là bồi thường về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của ngườidân sau khi bị thu hồi đất, đó là có một chỗ ở ổn định với điều kiện sống bằng hoặc tốthơn nơi ở cũ, được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nhằm ổn định và nâng cao đờisống
1.1.5.3 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Giải phóng mặt bằng là quá trình phức tạp, liên quan trực tiếp đến lợi ích của cácbên tham gia và lợi ích của toàn xã hội, nó thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án Quátrình bồi thường giải phóng mặt bằng có các đặc điểm sau:
+ Tính phức tạp: đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đờisống kinh tế xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sốngnhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp cho nên đất đai là tư liệu sản xuất không thểthiếu Đối với khu vực thành thị đất đai là tài sản có giá trị lớn gắn bó trực tiếp với đờisống sinh hoạt người dân, với những hộ sản xuất kinh doanh thì vị trị đất gắn liền vớithu nhập của họ Từ các đặc điểm như trên cho chúng ta thấy quá trình bồi thườngthiệt hại của mỗi dự án là khác nhau
+ Tính đa dạng: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Đối với khu vực thành thịmật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn cho nên quátrình GPMB có đặc điểm khác với khu vực nông thôn hoạt động sản xuất chủ yếu là
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19nông nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp Do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiếnhành với các đặc điểm riêng biệt.
1.1.5.4 Chính sách bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước thống nhất quản lý, ngày 01/07/1980 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số
201/CP về việc: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng
đất dưới bất kỳ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn
thuần chỉ là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng
Ngày 31/05/ 1990, Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định 186/HĐBT về việcđền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất rừng khi chuyển sang mục đích khác, tại điều 1của Nghị định quy định rõ mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất córừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp, đất córừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất chochủ sử dụng không thuộc các khoản đền bù thiệt hại về đất Khung mức giá đền bùthiệt hại do UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương quy định cụ thể,mức đền bù đối với từng quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địaphương nhưng không được thấp hơn hay cao hơn mức quy định của Chính phủ
Điều 23 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức
không bị quốc hữu hóa, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo giá thị trường” Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, thừa kế có
chọn lọc Luật đất đai năm 1988, Luật đất đai 1993 ra đời với những đổi mới quantrọng, đặc biệt với nội dung thu hồi đất phục vụ lợi ích cộng đồng và đền bù thiệt hạikhi Nhà nước thu hồi đất Luật đất đai quy định rõ hơn quyền của người giao đất gồm
có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp Đồng thời Chínhphủ quy định khung giá cho từng loại đất, từng vùng và theo thời gian
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Trong suốt thời gian này, Nhà nước ban hành hàng loạt văn bản pháp luật vềquản lý đất đai Trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp năm 1992, Luật dân sự, cùng vớinhiều Nghị định, Chỉ thị, Thông tư về vấn đề đền bù, tái định cư.
+ Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cánhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
+ Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 về công tác giao đất lâm nghiệp cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
+ Nghị định 87/CP ngày 17/08/1994 quy định khung giá các loại đất
+ Nghị định 89/CP ngày 17/08/1994 quy định về việc thu tiền sử dụng đất và lệphí địa chính
+ Nghị định 91/CP ngày 17/08/1994 ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị.+ Nghị định 45/CP ngày 03/08/1996 đưa ra tiêu chuẩn hợp pháp về sở hữu nhà ở
và quyền sử dụng đất ở đô thị
Điển hình cho các văn bản pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là Nghịđịnh số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồithường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì đượcbồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng Xác định giá đất sát vớigiá thị trường tại thời điểm quyết định thu hồi đất
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được bồi thường bằngđất được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo 1 trong các hình thức:
- Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 - 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đấtnông nghiệp bị thu hồi
- Hỗ trợ bằng 1 suất đất ở hoặc 1 căn hộ chung cư hoặc 1 suất đất sản xuất, kinhdoanh phi nông nghiệp
Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhậnvào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho 1 khóa học đối với cácđối tượng trong độ tuổi lao động Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổinghề phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất thuộc đối tượng chuyển đổi nghề
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 211.1.5.5 Một số chính sách bồi thường, hỗ trợ khi hồi đất của tỉnh Hà Tĩnh
Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địabàn Hà Tĩnh ban hành tại Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 16/3/2010 củaUBND tỉnh như sau:
+ Quy định về giá đất, diện tích để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại như sau:
“Giá đất để tính bồi thường và việc tính chi phí đầu tư vào đất còn lại được thựchiện theo quy định tại Điều 5, Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường
a) Trường hợp diện tích đất bị thu hồi có được do đấu giá quyền sử dụng đất, thìgiá đất để tính bồi thường là giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm thu hồi đấtnhân với hệ số chênh lệch giữa giá đất trúng đấu giá chia cho giá đất được UBND tỉnhquy định tại thời điểm đấu giá Hệ số chênh lệch tối đa được tính là 1,5; trường hợp hệ
số chênh lệch lớn hơn mức 1,5 thì áp dụng mức 1,5
b) Trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường về đất, người sử dụng đấtkhông có hồ sơ, chứng từ về chi phí đã đầu tư vào đất thì cơ quan làm nhiệm vụ bồithường căn cứ vào hiện trạng thực tế về san lấp mặt bằng, tôn tạo đất được giao, đượcthuê, thời gian còn lại chưa được sử dụng đất và giá đất để tính chi phí đầu tư còn lạitrình cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong đó:
- Về chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất được tính tối đa không quá 70%khối lượng thực tế san lấp, tôn tạo
- Đối với đất nông nghiệp chi phí đầu tư còn lại vào đất được tính tối đa khôngquá 30% giá trị đất nông nghiệp cùng loại, cùng vị trí được bồi thường trên địa bàn”
+ Điều 14 về bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất như sau:
“Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội:
Được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuậttương đương do các Bộ chuyên ngành ban hành; giá trị công trình xây dựng mới chủđầu tư phải lập và trình cơ quan có thẩm quyền chuyên ngành thẩm định trước khitrình duyệt kinh phí bồi thường; phần vật tư, thiết bị của công trình bị tháo dỡ mà còn
sử dụng được thì thu hồi giao cho chủ đầu tư công trình quản lý sử dụng; Hội đồng bồi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm đề xuất cơ quan có thẩm quyền thành lậpHội đồng xác định giá trị còn lại của phần vật tư, thiết bị của công trình bị tháo dỡ vàtrừ vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của chủ đầu tư công trình.
Trong trường hợp công trình hạ tầng thuộc dự án phải di chuyển mà chưa đượcxếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc sẽ nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì cơ quan
có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư công trình đề xuất UBND tỉnh xácđịnh cấp tiêu chuẩn kỹ thuật
Các công trình có thiết bị, vật tư, phụ tùng phụ trợ trong dây chuyền hệ thốngcông nghệ khi tháo dỡ, lắp đặt địa điểm mới thì chi phí bồi thường áp dụng bao gồm:chi phí tháo lắp, vận chuyển, hao hụt, bảo quản, bảo dưỡng và chi phí lắp đặt mới tạithời điểm, mọi trách nhiệm quản lý sử dụng thuộc chủ sở hữu tài sản Đơn giá áp dụngtheo đơn giá xây dựng và lắp đặt hiện hành do UBND tỉnh quy định”
(chi tiết tại Quyết định số: 07/2010/QĐ-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2010 vềchính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàntĩnh Hà Tĩnh)
Một số hạn chế trong công tác thu hồi đất ở nước ta hiện nay:
- Chính sách giữa các địa phương trong tỉnh, giữa tỉnh với trung ương còn chưađồng bộ nhất là trong lĩnh vực đền bù giải tỏa, tái định cư khi người dân bị thu hồi đất
Cơ quan có thẩm quyền quy định về giá đất lại thường xuyên thay đổi nâng giá theoquy luật, theo thời gian và giá biến động ngoài thị trường làm cho tình trạng giá đấtkhông ổn định; khi thanh toán tiền đền bù đất cho người dân, hộ dân giao đất sớm lạinhận tiền đền bù thấp hơn hộ dân giao đất muộn vì khi hộ dân giao đất muộn thì giáđất được đền bù đã thay đổi theo thời gian và giá mới thường cao hơn giá cũ
- Để việc xây dựng bảng giá đất sát với thực tế ở từng địa phương khác nhau, tạiThông tư liên tịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08 tháng 01 năm 2010 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng, thẩm định và banhành bảng giá đất, điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương Tuy nhiên, giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh đưa ra
so với giá thị trường còn chênh lệch quá lớn, giá thực tế ở nhiều khu vực cao hơnnhiều so với giá quy định của Nhà nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- Giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng luật trong vấn đề giá đất bồithường cho người dân vẫn không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.
- Điều 48 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định vềbồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: “Hộ gia đình, cá nhântrực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trongtrường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng màkhông có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinhdoanh dịch vụ phi nông nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số17/2006/NĐ-CP thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu táiđịnh cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch” Tuy nhiên, một sốtỉnh, thành phố quỹ đất nông nghiệp hạn chế nên không thể bồi thường hết bằng đấtnông nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà phải bồi thường bằng tiền Chính vì ápdụng không thống nhất hình thức đền bù nên tình trạng khiếu nại, khiếu kiện về bồithường đất bị kéo dài
- Về định giá quyền sử dụng đất tranh chấp: Giá trị quyền sử dụng đất tranh chấpphải được xác định theo giá thị trường tại thời điểm tranh chấp Nhưng đa phần cácthành viên Hội đồng định giá thường áp giá theo bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnhban hành nhưng giá này thường thấp hơn giá thị trường
- Một số địa phương cứ chạy theo phong trào phát triển các khu công nghiệp khu
đô thị mà chưa cân nhắc tới cái được và cái mất, ảnh hưởng tới người dân như thế nào
- Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa thực sựhiệu quả, lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được nhu cầu công nghiệp
Số lượng lao động không có nghề nghiệp ổn định cao Có tới 67% số lao động nôngnghiệp bị thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiêp, 13% chuyển sangnghề mới, 20% không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định Đối với vùng nôngthôn khi có dự án khu công nghiệp mở ra với những hộ nông dân bị thu hồi hết đât thì
họ chuyển sang làm thuê, làm mướn, một số được tuyển làm công nhân việc thu hồiđất ảnh hưởng lớn tới các hộ sống chủ yếu là làm nông nghiệp, họ sẽ khó khăn trongtìm kiếm việc làm vì không có tay nghề trong các việc khác Có khoảng 53% số hộdân có thu nhập giảm so với trước, chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước Dân
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24số ngày càng đông nhưng đất đai thì không tăng lên được và ngày càng bị thu hẹp lại,diện tích đất nông nghiệp những năm gần đây giảm mạnh trong khi lao động nôngnghiệp chiếm tỷ trọng cao tạo nên sự dư thừa lao động Chất lượng lao động nông thôncòn thấp, cả về trình độ văn hóa và chuyên môn nên khả năng chuyển đổi nghề nghiệp
và tìm kiếm việc làm đối với những lao động này thấp
- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi dưỡng giải phóng mặt bằng tại các địa phươngvừa thiếu, vừa yếu, dẫn đến việc không giải đáp rõ được thắc mắc của người dân hoặckhông áp dụng đúng chính sách đền bù làm ảnh hưởng tới quyền lợi người dân
- Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên về bảo vệquyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bị thu hồi
1.1.5.6 Một số tác động của việc thu hồi đất đã được nghiên cứu
Theo kết quả công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của thu hồi đất tới người dân ở
Mê Linh - Hà Nội của thạc sĩ Quách Thị Kiều Dung, tôi tóm tắt được một số ảnhhưởng tiêu cực và tích cực của việc thu hồi đất ở Mê Linh, Hà Nội nói riêng và cáctỉnh thành khác nói chung như sau:
Tác động tích cực của việc thu hồi đất đối với nông dân ở vùng bị thu hồi đất
Thứ nhất, một bộ phận nông dân chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ,nâng cao mức thu nhập, cải thiện đời sống
Trong 2,5 triệu người có nhu cầu việc làm có hơn 1,5 triệu lao động nông nghiệp
bị thu hồi đất đã được chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp (làm việc trong các KCN
và ngoài KCN) Nông dân còn có thể có việc làm trong các loại hình thương mại nhỏ,dịch vụ sinh hoạt, phục vụ xây dựng, giáo dục, y tế, vui chơi giải trí Các nguồn thunhập khác mà nông dân có được khi phát triển công nghiệp và đô thị như phí bồithường đất, tiền chuyển nhượng thổ cư
Thứ hai, khi xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị nhà nước đã đầu tư chokết cấu hạ tầng giao thông, thông tin, trường sở, các loại hình dịch vụ điện nước.v.v…Nhờ đó đời sống tinh thần vật chất của dân chúng được chuyển biến
Tác động tiêu cực của việc thu hồi đất đối với nông dân
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Thứ nhất là, những dự án triển khai chậm để đất thu hồi bị bỏ hoang hóa khôngnhững không tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang các ngành nghề phi nôngnghiệp, mà còn biến họ thành những người thất nghiệp và thu nhập bất ổn định.
Nông dân mất đất không có việc làm, thiếu việc làm không phải từ nguyên nhânchính khi thu hồi đất xây dựng các KCN Minh chứng là hoạt động của các KCN đãtạo ra số việc làm đáng kể, khoảng 2,6 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp
Thứ hai là, các khu công nghiệp và đô thị đòi hỏi lao động trẻ tuổi, có trình độchuyên môn kỹ thuật, mà phần lớn nông dân các vùng thu hồi đất không đáp ứngđược
Các doanh nghiệp thường chỉ tuyển dụng lao động trẻ đã tốt nghiệp trung họcphổ thông, và có trình độ đào tạo chuyên môn
Thứ ba, một số khu công nghiệp và đô thị chưa xử lý tốt việc bảo vệ môi trường.Việc xây dựng ồ ạt các khu công nghiệp, khu đô thị mà thiếu các giải pháp về bảo vệmôi trường một cách thích đáng, đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đếnđời sống nông dân, giảm chất lượng cuộc sống, tổn hại sức khỏe, lây lan bệnh tật
Theo số liệu thống kê, trong số các KCN trên cả nước, chỉ có 131 KCN đã xâydựng xong hệ thống xử lý nước thải tập trung và đi vào hoạt động, 10 KCN đang xâydựng hệ thống này, còn lại các KCN khác chưa xây dựng
Thứ tư, không gian cư trú và không gian văn hóa bị tác động CNH, ĐTH đã đặt
ra những thách thức lớn đối với nông dân vùng có đất bị thu hồi
1.1.6 Các vấn đề về sinh kế
1.1.6.1 Khái niệm sinh kế
- Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhấttrí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới hoạt động sống củamỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân haynông hộ tự quyết định dựa vào khả năng và năng lực của họ, đồng thời chịu tác độngcủa các thể chế chính sách, rủi ro v.v Trong nhiều nghiên cứu của mình F.Ellis chorằng một sinh kế bao gồm tài sản (tự nhiên, vật chất, con người, tài chính và nguồnvốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến tài sản, mà theo đó cácquyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ (Ellis, 2000)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 261.1.6.2 Sinh kế bền vững
- Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm pháttriển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về
sinh kế bền vững như sau: “Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh
nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác.”
- Sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bềnvững khi họ vượt qua được những biến động và cú sốc trong cuộc sống do thiên tai,bệnh dịch, khủng khoảng kinh tế vv Là sự phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại màkhông làm ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Trong hai thập kỷ qua, vấn đề sinh kế bền vững đã trở thành mục tiêu phân tích
ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, và tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Hiện nay cónhiều khung sinh kế được đưa vào sử dụng nhưng khung phân tích sinh kế bền vữngcủa Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID)được sử dụng rộng rãi nhất, đây là khung phân tích sinh kế dễ tiếp cận và tiếp cận mộtcách toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua thảo luận về sinh kế con người
- Khung sinh kế này là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét một cách toàndiện tất cả các yếu tố khác nhau ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế của con người, đặcbiệt là các cơ hội hình thành nên chiến lược sinh kế của con người Đây là cách tiếpcận toàn diện nhằm xây dựng các lợi thế hay chiến lược đặt con người làm trung tâmtrong quá trình phân tích
- Khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế Đólà: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiến lược mà họ lựachọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết địnhđến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thuđược; (4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả cácloại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế,công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ (Ashley and Carney, 1999)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27- Khung phân tích này lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sựphân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển.
- Khung phân tích này thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnhhưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng chúng đều ảnh hưởng.Ngoài ra, khung phân tích sinh kế bền vững được coi là một tiếp cận toàn diện trongphân tích về sinh kế và đói nghèo
(a) Vốn vật chất (Physical capital) bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hàng hóa
mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế
Con người
Chính sách, tiến trình và
cơ cấu -Ở các cấp
khác nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc -Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân
-Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)
Các chiến lược SK
-Các tác nhân xã hội (nam, nữ, hộ gia đình, cộng đồng
…) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên -Cơ sở thị trường
- Đa dạng -Sinh tồn hoặc tính bền vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều hơn -Cuộc sống đầy
đủ hơn -Giảm khả năng tổn thương -An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên -Giá trị không sử dụng của
tự nhiên được bảo vệ
Xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28(b) Vốn tài chính (Financial capital) ngụ ý về các nguồn lực tài chính mà conngười sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế của mình.
(c) Vốn xã hội (Social capital) là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng đểtheo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viênnhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phichính thống quan trọng
(d) Vốn con người (Human capital) đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khả nănglàm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theođuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế Ở cấp độ hộgia đình, vốn con người là số lượng và chất lượng lao động của hộ và loại vốn nàykhác nhau tùy thuộc vào kích cỡ của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năng nghề nghiệp,khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức về các cấu trúc sở hữu chính thống vàphi chính thống (như các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, các thủtục )
(e) Vốn tự nhiên (Natural capital) là tất cả những nguyên vật liệu tự nhiên để tạodựng sinh kế Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm cả các nguồn lựcđất đai
1.1.7 Phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra chọn mẫu: Trong những năm qua xã Kỳ Sơn đã đón nhậnnhiều dự án phát triển, như dự án nhà máy chế biến tinh bột mì Hà Tĩnh được xâydựng, các dự án nước sạch, có tuyến đường A12 xuyên Việt Lào đi qua, Căn cứ vàođịa bàn nghiên cứu và thực trạng thu hồi đất và mức độ tác động của việc thu hồi đất ở
xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh tác giả tiến hành điều tra ngẫu nhiên 60 hộ thuộc diện bịthu hồi đất do dự án Nhà máy chế biến tinh bột mì (vì đây là dự án thu hồi diện tíchđất lớn)
Chọn mẫu điều tra: Số mẫu điều tra để phục vụ đề tài được chọn ngẫu nhiêntrong số những hộ bị thu hồi đất và được điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫunhiên không lặp Cụ thể tác giả chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống(systematic sampling):
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Trước tiên lập danh sách các hộ nằm trong diện bị thu hồi đất của dự án theo quy
mô diện tích đất bị thu hồi, sau đó đánh số thứ tự các đơn vị trong danh sách Tiếp theo
là tìm khoảng cách chọn k, tác giả tiến hành điều tra 60 hộ trong 205 hộ bị thu hồi của
dự án, vậy khoảng cách chọn là: k=204/60=3,4 Vậy ta tiến hành đi điều tra theo cácnội dung trong bảng hỏi, cứ cách 3 hộ thì phỏng vấn một hộ, điều tra khi nào đủ 60 hộthì dừng lại Vì các hộ nông dân ở đây phân bố không rộng, các thôn nằm liền kề nhau,các hộ có nhiều đặc điểm chung và khá tương đồng về vấn đề đang nghiên cứu nên lựachọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống cũng rất thuận tiện hơn
Nội dung điều tra: nội dung nghiên cứu đươc điều tra thông qua bảng hỏi
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dựa vào nội dung vấn đề nghiên cứu để liên
hệ xin số liệu từ Ủy ban nhân dân xã Kỳ Sơn, phòng tài nguyên môi trường huyện KỳAnh
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Dùng các phần mềm chuyên dụng như EXCEL để xử lý số liệu điều tra và phântích số liệu
- Phương pháp tham khảo ý kiến
Quá trình nghiên cứu có tham khảo ý kiến của các cán bộ có chuyên môn ởphòng nông nghiệp, phòng tài nguyên và môi trường, cán bộ địa chính xã
Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sinh kế:
- Các chỉ tiêu đánh giá nguồn lực và hoạt động sinh kế:
- Tình hình đất đai:
+ Diện tích các loại đất theo mục đích sử dụng
+ Diện tích đất thu hồi
- Các chỉ tiêu về dân số, việc làm, lao động:
+ Tổng số nhân khẩu
+ Nhân khẩu nông nghiệp
+ Nhân khẩu phi nông nghiệp
+ Tổng số lao động
+Tỷ lệ thất nghiệp của lao động:
Tỷ lệ thất nghiệp (%) = {( Số người thất nghiệp)/( Lực lượng lao động )} x 100
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30- Chỉ tiêu về cơ sở vật chất hạ tầng.
- Chỉ tiêu về thu nhập:
+ Tổng thu nhập = Thu từ tiền lương, tiền công + thu từ nông, lâm, ngư nghiệp +thu từ thương mại, dịch vụ + thu từ công nghiệp, xây dựng + thu từ các nguồn khácđược tính vào thu nhập
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay
Đô thị hóa là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có ViệtNam Việt nam là một nước trải qua hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến và hàngtrăm năm là thuộc địa của đế quốc Chúng ta đã trải qua bao cuộc đấu tranh đổ máu đểgiành lại độc lập Chiến tranh đã kìm hãm sự phát triển của đất nước trong một thờigian dài Là một nước nghèo trong những nước đang phát triển nên quá trình đô thịhóa của nước ta phát triển chậm và yếu kém năm 1975 Sau một số năm khôi phục vàphát triển kinh tế sau chiến tranh đặc biệt trong 15 năm gần đây trong thời đổi mới, tốc
độ phát triển của đô thị đã diễn ra mạnh mẽ
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới cókhoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên
649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó
có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên
500 thị trấn Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thịtrung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế.Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu,Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình…Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hànhchính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch-dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thịtrung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đếnnăm 2010 con số này sẽ 56-60%, đến năm 2020 là 80%
Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽđạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31dân Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m /người Nếu đạt tỷ lệ100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000 ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diệntích đất đô thị chỉ có 105.000 ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân
số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề phức tạp phátsinh từ quá trình đô thị hoá
1.2.2 Tác động của quá trình đô thị hóa
- Tác động tích cực:
Thứ nhất, quá trình đô thị hoá đã cung cấp một lực lượng lao động lớn, trẻ, cótrình độ Nền kinh tế ở một thành phố năng động bậc nhất ở nước ta như thành phố HồChí Minh, tăng trưởng kinh tế liên tục trong 20 năm, bình quân 10,02%/năm, năm
2005 đóng góp 21% cơ cấu GDP và 30% tổng thu ngân sách nhà nước, 29% giá trị sảnxuất công nghiệp và gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong những đóng góp này,
có cả thành quả lao động của lực lượng lao động do quá trình đô thị hoá thu hút thamgia sản xuất So với người thành phố, lao động nhập cư thường linh hoạt và tích cựchơn trong việc tìm kiếm việc làm, chấp nhận nặng nhọc, độc hại, công việc có thunhập thấp mà người thành phố không muốn làm
Thứ hai, đô thị hóa góp phần giải quyết công ăn việc làm, làm giảm bớt lao động
dư thừa hiện nay Quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút một lựclượng lớn lao động nông nghiệp dư thừa, mỗi năm có hàng trăm ngàn người Do sựphát triển khoa học - công nghệ đặc biệt công nghệ sinh học, lực lượng lao động nôngthôn hiện nay mỗi năm chỉ làm việc từ 30-40 ngày Những ngành nghề phi nôngnghiệp, công nghiệp chế biến, công nghiệp nông thôn chưa phát triển, lao động nôngnghiệp không thể tìm việc làm ngay ở quê hương mình Hơn thế nữa, quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hoá,hội nhập kinh tế, người nông dân ít được đào tạo luôn luôn nằm trong tình trạng bị bậtkhỏi đồng ruộng Họ là đội quân tiềm năng ngày một lớn cho đô thị hoá
Thứ ba, đô thị hoá đã góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai Đất đai luôn
có giới hạn, việc tập trung cao dân cư trong các quận nội đó hay vùng ven đô thị hoácao đã làm cho hệ số sử dụng đất cao nhất, tiết kiệm nhất
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Thứ tư, đô thị hoá tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanhhơn Nó tạo tiền đề, thị trường cho khu vực công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ Sự giaolưu kinh tế - văn hoá giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờ quá trình
đô thị hoá cũng là quá trình thị trường hoá Nó kích thích cầu và mở đường cho cungứng
Thứ năm, đô thị hoá tạo điều kiện giao lưu và giữ gìn văn hoá các vùng miền,làm phong phú hơn văn hoá dân tộc, tiếp thu văn hoá hiện đại Dân di cư đến thànhphố đồng thời mang văn hoá riêng có của vùng quê của họ, góp vào một văn hoáchung được hưởng thành với lưu giữ ở thành phố
Thứ sáu, đô thị hoá tạo điều kiện cải biến con người thuần nông sang người thànhthị, có tính công nghiệp cao hơn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước,phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Đây cũng là một trong những con đường đưa nhànước nước ta đi dần lên chủ nghĩa xã hội thông qua sự đào luyện trong quá trình pháttriển kinh tế
- Tác động tiêu cực:
Thứ nhất, sự gia tăng dân số nhập cư ngày càng cao nhưng hơn 80% dân số trong
số đó có trình độ phổ thông, việc giải quyết việc làm ngày càng khó khăn do sự chênhlệch giữa trình độ và yêu cầu của nền kinh tế, áp lực thất nghiệp ngày càng lớn hơn doquá trình đô thị hóa ngày càng diễn ra nhanh, vấn đề cũ chưa giải quyết xong đã xuấthiện vấn đề mới
Thứ hai, kết cấu hạ tầng giao thông và môi trường sống luôn bị phá vỡ, khôngtheo kịp yêu cầu thực tiễn Sự tăng lên đột biến của dân số trong quá trình đô thị hóa
đã làm cho kết cấu hạ tầng đã có bị lạc hậu nhanh chóng Do đó tình trạng ùn tắc giaothông liên tục xảy ra, số người sử dụng phương tiện giao thông tăng lên theo thời gian.Quá trình đô thị hóa làm ô nhiễm môi trường hiện nay, không khí ô nhiễm đã trở thành
kẻ giết người thầm lặng, ô nhiễm nguồn nước, rác thải và nồng độ một số chất ô nhiễm
đã vượt mức tiêu chuẩn cho phép
Thứ ba, quá trình đô thị hóa gây sức ép về chất lượng giáo dục và y tế Sự tănglên đột biến về dân số đồng thời cũng tăng lên số người độ tuổi đi học Bên cạnh đóviệc tăng dân số còn tạo ra nhiều vấn đề bất cập, tăng lên các tệ nạn xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 331.2.3 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay
Theo hội thảo “Nông dân bị thu hồi đất - Thực trạng và giải pháp” do Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức đã trình bày một số tình hình cơ bản về thu hồiđất nông nghiệp của một số tỉnh như sau:
Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi cảnước là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng) Trong đó, diệntích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp
là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là136,17 nghìn ha
Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồilớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương
có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), BìnhDương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha),
Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha)
Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại 16 tỉnhtrọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% vàdiện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thuhồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là2,1%, ở nhiều vùng khác: dưới 0,5%
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏtrong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một sốhuyện, xã có mật độ dân số cao nên số người bị ảnh hưởng nhiều Ví dụ, theo số liệucủa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Vĩnh Phúc, từ năm 1997đến nay, tỉnh đã thu hồi hơn 5000ha đất nông nghiệp (với tổng số gần 10.000 hộ) đểbàn giao cho 600 dự án xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị và kết cấu hạ tầng Diệntích đất bị thu hồi bình quân 650 mét vuông/hộ, tỉ trọng lao động mất việc làm sau thuhồi đất là 15%, thiếu việc làm là 25%, và số lao động bị ảnh hưởng do thu hồi đất lêntới hơn 40.000 người
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có xã diện tích đất bị thuhồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác Các tỉnh nằm ngoài những vùng trọngđiểm về phát triển kinh tế, diện tích đất sản xuất và đất ở bị thu hồi còn tương đối nhỏ
và nằm trong khoảng từ vài trăm tới dưới 1.000 ha
Không thể phủ nhận những lợi ích lớn lao, lâu dài của việc triển khai các dự án,tuy nhiên, quá trình thu hồi đất của nông dân, chuyển đổi mục đích sử dụng đã cónhững vấn đề xã hội mới nảy sinh Mặc dù trước khi đầu tư, chủ dự án nào cũng hứa
sẽ sử dụng lao động tại địa phương Nhưng trên thực tế, tỉ lệ này rất thấp, tình trạngthiếu việc làm hoặc mất việc làm của nông dân ngày càng tăng
Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, các địa phương có số lao động mất việc làmlớn do bị thu hồi đất là Hà Tây (35.000 người), Vĩnh Phúc (22.800 người), Đồng Nai(hơn 12.000 người), v.v Đã xuất hiện những tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc,trộm cắp, mại dâm… ở các vùng nông thôn được “đô thị hoá” Bên cạnh đó, nhữngvấn đề về môi trường như ô nhiễm nguồn nước, giảm diện tích cây xanh, chất thảichưa được xử lý, cũng xuất hiện tại các khu công nghiệp, đô thị mới Thực trạng đơnthư, khiếu kiện liên tục, vượt cấp trong thời gian qua có liên quan nhiều đến chính sáchđền bù, giải phóng mặt bằng để triển khai dự án
Ông Ngô Thế Hiên, Trưởng phòng Kế hoạch - Hành chính, Cục Hợp tác xã vàPhát triển nông thôn đã nhận định: Qua điều tra, khảo sát, việc thu hồi đất nông nghiệp
và đất ở đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế, xã hội của nông dân Sau khi bịthu hồi, 60% số hộ vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ,6% số hộ sinh kế bằng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, còn lại là các ngành nghềkhác Chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước, trong khi có tới 53% số hộ thunhập giảm so với trước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35CHƯƠNG II : TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN Ở XÃ KỲ SƠN HUYỆN KỲ ANH
2.1 Tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Kỳ Sơn là một xã miền núi nằm ở phía tây của huyện Kỳ Anh, cách trung tâmhuyện khoảng 18km Đây là một trong những xã vùng xa nghèo nhưng mấy năm gầnđây bắt đầu phát triển hòa nhịp với sự phát triển kinh tế xã hội của huyện
+ Phía Bắc giáp xã Kỳ Lâm
+ Phía Nam giáp huyện Tuyên Hoá - tỉnh Quảng Bình
+ Phía Đông giáp xã Kỳ Lạc
+ Phía Tây giáp xã Kỳ Thượng
- Diện tích tự nhiên: 9035,83 ha
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình:
Kỳ Sơn là xã miền núi, địa hình đồi núi hơi dốc nghiêng về phía bắc, phía tây vàphía nam là rừng và đồi núi, phía bắc, phía đông có đất canh tác và dân cư sinh sống
2.1.1.3.Đặc điểm thời tiết khí hậu
Kỳ Sơn là một xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa khô thì nắng nóng (giólào), mùa mưa thì thường có gió bão mưa lớn lũ lụt xẩy ra Nhiệt độ trung bình hàngnăm khoảng 24,50 C tháng cao nhất 360 C, tháng thấp nhất 150 C độ ẩm không khí70%
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, lượng mưa bìnhquân 1500 - 2000 thường kèm theo gió bão, lũ lụt
Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 đây là mùa nắng nóng gay gắtkèm theo gió lào hanh khô Đặc biệt từ tháng 6 đến tháng 8 lượng mưa rất ít chỉ đạt 8 -12% lượng mưa cả năm
Với đặc điểm khí hậu như vậy nên xã có lợi thế cho việc phát triển phong phú đadạng về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, kinh tế vườn rừng và chăn nuôi
Trường Đại học Kinh tế Huế