Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về dịch vụ bảo lãnh ngân hàng và thực tiễn triển khai hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại chinhánh BIDV Đ
Trang 3Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận vănNguyễn Phi Hùng
Trang 41 Tính Cấp Thiết Của Đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
7 Kết cấu của đề tài 3
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM 6
1 1 HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1.1 Khái niệm bảo lãnh NH 6
1.1.2 Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng 7
1.1.3 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng 8
1.1.4 Các loại bảo lãnh ngân hàng 9
1.1.5 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng 17
1.1.6 Vai trò của ngân hàng trong dịch vụ bảo lãnh 18
1.1.7 Các dạng rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng 20
1.1.8 Nội dung hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NHTM 22
1.2 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM 24
1.2.1 Nhân tố bên ngoài 24
1.2.2 Nhân tố bên trong 27
Trang 51.3.1 Phân tích bối cảnh môi trường bên ngoài và đặc điểm cơ bản củaNgân hàng có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NH 29
1.3.2 Phân tích về các hoạt động NH đã thực hiện nhằm đạt các mụctiêu của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh 29
1.3.3 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh 291.3.4 Phân tích chất lượng cung ứng dịch vụ bảo lãnh 301.3.5 Phân tích về kết quả kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanhdịch vụ bảo lãnh 31
1.3.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo lãnh 31Kết luận Chương 1 32
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NHTMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐẮK NÔNG 33
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀPHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐẮK NÔNG 33
2.1.1 Quá trình hình thành Ngân hàng TMCP Đâu tư và Phát triển ViệtNam - CN Đắk Nông 33
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Chi nhánh 352.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng TMCPĐầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Đắk Nông thời gian qua (2013-2015) 382.2 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNHTẠI BIDV ĐẮK NÔNG 42
Trang 62.2.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo lãnh của BIDV Đắk Nông 44
2.2.3 Khái quát quy trình nghiệp vụ bảo lãnh tại BIDV Đắk Nông 45
2.2.4 Phân tích các hoạt động mà BIDV đã triển khai trong hoạt đông KDDV bảo lãnh 46
2.2.5 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại BIDV ĐăkNông từ năm 2013 đến 2015 49
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KDDV BẢO LÃNH TẠI BIDV ĐẮK NÔNG 58
2.3.1 Những mặt thành công 58
2.3.2 Những hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 59
Kết luận Chương 2 61
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CN ĐẮK NÔNG 62
3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA BIDV ĐẮK NÔNG 62
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI BIDV ĐẮKNÔNG 65
3.2.1 Đẩy mạnh các hoạt động phát triển khách hàng 65
3.2.2 Đa dạng hóa cơ cấu dịch vụ bảo lãnh theo sản phẩm; theo đối tượng khách hàng và theo ngành nghề 68
3.2.3 Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ bảo lãnh 69
3.2.4 Hoàn thiện công tác định giá phí trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh 72
Trang 73.2.6 Đổi mới cách tiếp cận về quản trị rủi ro trong hoạt động bảo lãnh
74
3.2.7 Các giải pháp hổ trợ 76
3.3 KIẾN NGHỊ 79
3.3.1 Với Chính phủ và ngân hàng nhà nước 79
3.3.2 Với NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam 81
Kết luận Chương 3 83
KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 9Số hiệu
2.2 Quy trình bảo lãnh tại BIDV Đắk Nông 46
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo lãnh là một dịch vụ mang tính chất kép: Vừa được coi là một hoạtđộng tín dụng do những đặc điểm tương đồng với hoạt động cấp tín dụngnhưng đồng thời lại là một hoạt động dịch vụ ngoại bảng
Xu hướng chung của các NHTM trên thế giới là tăng tỷ trọng thu nhập
từ các hoạt động ngoại bảng Các NHTM Việt Nam cũng không phải là mộtngoại lệ
Đây là một dịch vụ vừa mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, là mộtgiải pháp cho tình trạng thông tin bất đối xứng trên thị trường, giúp giảm chiphí giao dịch đồng thời cũng mang lại lợi ích to lớn cho NH do có thể khai thácđược lợi thế về uy tin, về thông tin, về nguồn lực chịu đựng rủi ro để tăng khảnăng sinh lời của mình
Tuy nhiên, tại các NHTM Việt Nam, các hoạt động ngoại bảng nóichung, dịch vụ bảo lãnh vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Riêngtại NH TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đắk Nông, hoạtđộng này vẫn khiêm tốn, dư địa phát triển dịch vụ này vẫn còn rất lớn Hoạtđộng này tuy có một số thành tựu nhất định nhưng vẫn tồn tại những hạn chếcần tìm giải pháp tháo gỡ Vì vậy, nhằm góp phần vào việc tìm giải pháp khả
thi phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Chi nhánh, học viên chọn đề tài “Phân tích
tình hình kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đắk Nông”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa nền tảng cơ sở lý luận
về dịch vụ bảo lãnh ngân hàng, phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ bảolãnh ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi
Trang 11nhánh Đắk Nông Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển dịch vụbảo lãnh ngân hàng tại NH này.
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Nội dung của hoạt động bảo lãnh là gì?
- Nội dung, tiêu chí và phương pháp phân tích hoạt động kinh doanhdịch vụ bảo lãnh của NHTM là gì?
- Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại BIDV ĐắkNông trong thời gian qua (2013 đến 2015) diễn ra như thế nào? Những vấn đềnào cần được giải quyết?
- Giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảolãnh tại chi nhánh?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về dịch vụ bảo lãnh ngân
hàng và thực tiễn triển khai hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tại chinhánh BIDV Đắk Nông
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (tậptrung vào phát hành bảo lãnh) tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam -Chi nhánh Đắk Nông
- Về thời gian: Các dữ liệu khảo sát thực trạng chỉ giới hạn từ năm
2013 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kếthợp với các phương pháp cụ thể bao gồm các phương pháp suy luận logicnhư: phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch Ngoài ra, đề tài cũng sửdụng các phương pháp thống kê trong tổng hợp, phân tích dữ liệu và phươngpháp khảo sát ý kiến khách hàng
Trang 126 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp những chủ đề lý luận của hoạtđộng KDDVBL của ngân hàng thương mại
- Thu thập số liệu, phân tích các dữ kiện về hoạt động KDDV bảo lãnhcủa NHTM, rút ra những nhận định, đánh giá Những dữ liệu và những nhậnđịnh, đánh giá này cũng là một đóng góp vào nghiên cứu cũng như thực tiễnquản lý các đơn vị có điều kiện tương tự
- Đề xuất các giải pháp Kết quả nghiên cứu của đề tài ngoài khả năngvận dụng trong quá trình KDDVBL tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển ViệtNam - Chi nhánh Đắk Nông còn có khả năng vận dụng trong hoạt độngKDDV bảo lãnh tại một số Chi nhánh NH có điều kiện tương tự
7 Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động bảo lãnh và phân tích hoạt độngkinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NHTM
Chương 2: Phân tích tình hình kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tạiNHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đắk Nông
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnhtại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đắk Nông
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1 Luận văn thạc sỹ “Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại chi nhánh Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn TP Đà Nẵng”, học viên Đặng ThịKhánh Phượng (2010)
Trong luận văn này, tác giả đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lý luận
về loại hình dịch vụ này, sử dụng mô hình SERVPERF để đánh giá mức độhài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ bảo lãnh và đề xuất các giảipháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và
Trang 13phát triển nông thôn TP Đà Nẵng, đặc biệt bằng các giải pháp cụ thể triểnkhai đến các bộ phận trực tiếp tiếp xúc khách hàng, làm thay đổi nhận thứccủa từng nhân viên tác nghiệp để cung cấp sản phẩm tốt hơn Bên cạnh đóluận văn còn chỉ ra những quy định chồng chéo khi thực hiện bảo lãnh thanhtoán t gây ra bất cập cho các ngân hàng thương mại triển khai dịch vụ này.
2 Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Phương Thảo nghiên cứu về “Pháttriển hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôntỉnh Quảng Nam” Luận văn đã đưa ra hệ thống giải pháp phát triển hoạt độngbảo lãnh gồm 3 nhóm giải pháp: nhóm giải pháp mở rộng thị trường, nhómgiải pháp hạn chế rủi ro, nhóm giải pháp bổ trợ Ngoài ra luận văn còn đề xuấtphân biệt mức phí bảo lãnh theo thời gian, bảo lãnh trung dài hạn áp dụngmức phí cao hơn bảo lãnh ngắn hạn, phân loại bảo lãnh theo hình thức bảođảm để xây dựng qui trình bảo lãnh cho phù hợp, đảm bảo sự an toàn nhanhchóng
3 Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thơm “Giải pháp hoànthiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Ngoại thương chi nhánhThành phố Hồ Chí Minh” năm 2011 trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh.Tác giả luận văn đã nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sau: hệ thống hóa cơ
sở lý luận về nghiệp vụ bảo lãnh, nghiên cứu về việc áp dụng các luật trongnước và quốc tế trong nghiệp vụ bảo lãnh, đánh giá thực trạng bảo lãnh tạiVCB Hồ Chí Minh, nêu ra những tồn tại như cơ cấu tổ chức chưa hợp lý, thủtục nghiệp vụ còn rườm rà, chưa có bộ phận chuyên về luật hỗ trợ trong côngtác phòng ngừa rủi ro Từ đó đưa ra các giải pháp cơ cấu tổ chức lại phòngbảo lãnh, thành lập bộ phận chuyên tư vấn về luật, tuy nhiên luận văn chưanêu được các giải pháp đề cải tiến các thủ tục cũng như qui trình bảo lãnh tạichi nhánh cũng như chưa thực hiện khảo sát mức độ hài lòng của khách hàngkhi sử dụng dịch vụ bảo lãnh của chi nhánh.
Trang 144 Luận văn Thạc sỹ, “Phát triển dịch vụ bảo lãnh trong nước tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – CN Đà Nẵng”, học viên: Đào Thị Thùy Trinh, bảo
vệ tại Đại học Đà nẵng (2013)
5 Luận văn Thạc sỹ, “Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCPĐầu tư và phát triển Việt Nam - CN Daklak”, học viên: Nguyễn Thụy NgọcOanh, bảo vệ tại Đại học Đà nẵng (2014)
Cả hai Luận văn trên đều tiếp cận dưới góc độ phát triển hoạt động bảolãnh, trong đó coi mục tiêu gia tăng quy mô bảo lãnh là trọng tâm Đề tài đãtriển khai cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bảo lãnh; thu thập dữ liệu đểđánh giá thực trạng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại một Chi nhánh NH cụ thể.Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm đạt dược mục tiêu phát triển hoạtđộng bảo lãnh
Tất cả các công trình trên đều là cơ sở để tác giả kế thừa khi thực hiện
đề tài này Tuy nhiên, do có sự khác biệt về cách thức tiếp cận, về phạm vinghiên cứu và tính cập nhật nên có nhiều vấn đề đòi hỏi phái phát triển thêm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH
CỦA NHTM1.1 HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm bảo lãnh NH
a Khái niệm bảo lãnh
Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên thực hiện bảo lãnh) cam kết với bên
có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ(bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thựchiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận vềviệc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không cókhả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
b Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
- Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tíndụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiệnnghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặcthực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ vàhoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
- Xét về góc độ học thuật, bảo lãnh ngân hàng là một hình thức “Tíndụng chữ ký - Signature Credit”, là hoạt động sinh lời mà không phải bỏ vốncủa các ngân hàng
- Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem là loại hìnhtài trợ ngoại thương nhằm phòng ngừa những tổn thất cho người thụ hưởngbảo lãnh do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan
Dù có thể tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau thì nhìn chung bảo lãnhngân hàng là công cụ bảo lãnh tài chính, là loại hình tín dụng của ngân hàng
Trang 16để tăng cường chất lượng tín dụng cho người vay vốn, giúp tổ chức tín dụngtránh khỏi tình trạng mất vốn cho vay đồng thời giảm chi phí của người đivay.
1.1.2 Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng
a Bảo lãnh ngân hàng là nghiệp vụ ngoại bảng
Bảo lãnh ngân hàng là nghiệp vụ có thu tiền (phí bảo lãnh) dựa trên uytín, khả năng tài chính mà ngân hàng cấp cho khách hàng nên nghiệp vụ nàykhông ảnh hưởng đến nguồn vốn và sử dụng vốn của ngân hàng, không làmphát sinh một tài sản hay một khoản nợ trên bảng cân đối kế toán ở thời điểmphát sinh nên được xếp vào nghiệp vụ ngoại bảng
b Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Trong một bảo lãnh ngân hàng không đơn thuần là quan hệ giữa ngânhàng và người thụ hưởng mà còn bao hàm những mối quan hệ dựa trên sự kếthợp giữa ba hợp đồng độc lập: hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhậnbảo lãnh là cở sở để phát sinh yêu cầu bảo lãnh, thể hiện nghĩa vụ bắt buộcphải thực hiện của bên được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh; hợp đồnggiữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh thể hiện quan hệ tín dụng giữa ngânhàng và bên được bảo lãnh; hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh
là quan hệ sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của ngân hàng cam kết trảtiền cho bên thụ hưởng khi có sự vi phạm hợp đồng
c Tính độc lập
Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập so với hợp đồng Đây là một đặcđiểm quan trọng của bảo lãnh ngân hàng Điều này có nghĩa bảo lãnh ngânhàng tồn tại độc lập với cơ sở hình thành của nó Việc người đứng ra cam kếtphải chịu trách nhiệm trả tiền ngay lần yêu cầu đầu tiên của người thụ hưởng
đã thể hiện rõ hơn đặc tính này Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng làbồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp
Trang 17đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng, nhưng việc thanh toánmột bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện như đượcqui định trong nội dung của bảo lãnh.
d Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi người thụ hưởng bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngânhàng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình.Ngân hàng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như các chứng từ có dấuhiệu không hợp lệ hay những điều kiện bảo lãnh không được đáp ứng
1.1.3 Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
c Chức năng thúc đẩy
Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khingười được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết trong suốt thời gian có hiệulực của bảo lãnh Vì vậy người được bảo lãnh luôn bị một áp lực thực hiệnhợp đồng một cách nghiêm túc để không bị bồi thường bảo lãnh Việc nhậnkhoản bồi thường từ ngân hàng nếu người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng là
Trang 18điều người thụ hưởng không mong muốn vì việc phải tìm kiếm đối tác khácthay thế khi hợp đồng đang dở dang, có thể sẽ phức tạp và tốn kém hơn rấtnhiều (cả về thời gian và tiền bạc) so với việc hỗ trợ tích cực để họ hoànthành công việc của họ Do vậy bảo lãnh có vai trò đốc thúc người được bảolãnh thực hiện hoàn tất hợp đồng đã kí kết Mặt khác, do chịu trách nhiệmcam kết bồi thường nên ngân hàng phát hành cũng thường xuyên kiểm tra,giám sát tạo ra một áp lực thực hiện hợp đồng, giảm thiểu vi phạm.
d Chức năng bồi thường
Bảo lãnh ngân hàng còn mang chức năng bồi thường vì khi khách hàngkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết thì ngườithụ hưởng sẽ được nhận tiền bồi thường cho những thiệt hại phát sinh
e Công cụ tài trợ
Bảo lãnh ngân hàng không chỉ là công cụ bảo đảm cho người thụhưởng mà còn là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho bên được bảolãnh Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên được bảolãnh không phải ký quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ, được ứngtrước Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành thưbảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh đã giúp cho khách hàng được hưởng nhữngthuận lợi về ngân quỹ như khi thực hiện cho vay Với ý nghĩa này, bảo lãnhngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quantrọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinhdoanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của các doanhnghiệp
1.1.4 Các loại bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là hoạt động rất đa dạng về hình thức Có thể phânloại bảo lãnh ngân hàng theo nhiều cách khác nhau dựa trên những tiêu thứcnhất định
Trang 19a Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh
Bảo lãnh có thể phân loại thành các loại sau:
- Bảo lãnh trực tiếp (Direct Guarantee): là loại bảo lãnh mà trong đó
ngân hàng phát hành bảo lãnh cam kết thanh toán không hủy ngang trực tiếpcho người thụ hưởng Người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trựctiếp cho ngân hàng phát hành thư bảo lãnh
- Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee): là loại bảo lãnh mà trong đóngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàngtrung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi
là bảo lãnh đối ứng Người được bảo lãnh không phải bồi hoàn trực tiếp chongân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng trung gian chịu tráchnhiệm bồi hoàn
Tập quán ở nước người thụ hưởng bảo lãnh trong từng trường hợp cụthể sẽ quyết định việc sử dụng loại bảo lãnh trực tiếp hay gián tiếp vì có một
số nước không chấp nhập loại bảo lãnh trực tiếp Sự khác nhau chủ yếu ở đây
là bảo lãnh trực tiếp có thể sử dụng những điều kiện và mẫu thư thích hợp vớiyêu cầu của ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh trong khi bảo lãnh giántiếp thông thường được lập theo mẫu của ngân hàng ở nước người thụ hưởngvới điều khoản trả tiền vô điều kiện ngay lần yêu cầu đầu tiên và ngân hàng ởnước người thụ hưởng còn có quyền lựa chọn loại bảo lãnh để phát hành
- Đồng bảo lãnh (Syndicated Guarantee): là việc nhiều tổ chức tín dụngcùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của khách hàng thông qua một tổ chức tíndụng làm đầu mối
Trong những dự án lớn hoặc các hợp đồng kinh tế, thương mại lớn, khảnăng rủi ro cao một ngân hàng riêng lẻ không thể thực hiện được, hoặc vượthạn mức cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng theo qui định củaNHNN Trong trường hợp này một ngân hàng đứng ra đóng vai trò đầu mối
Trang 20phát hành thư bảo lãnh nhưng có sự tham gia của nhiều ngân hàng khác Nếuphải chi trả cho người thụ hưởng, ngân hàng chính có thể đòi bồi hoàn từ cácngân hàng tham gia đồng bảo lãnh theo tỷ lệ tham gia của họ dựa trên các bảolãnh đối ứng do các ngân hàng phát hành Đến lượt mình các ngân hàng nàytiến hành truy đòi người được bảo lãnh.
- Xác nhận bảo lãnh (Confirm Guarantee): Tương tự như một nghiệp vụthư tín dụng được xác nhận, người thụ hưởng bảo lãnh muốn được bảo đảmkhả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng phát hành thư bảo lãnh.Tuy nhiên trên thực tế, ít xảy ra trường hợp xác nhận bảo lãnh vì nếu khôngtin tưởng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng phát hành thì người thụ hưởng
có thể yêu cầu tái bảo lãnh thay vì xác nhận
b Căn cứ vào điều kiện thanh toán
- Bảo lãnh thanh toán vô điều kiện (Demand Guarantee): là bảo lãnh
mà việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay khi ngân hàng nhận được yêu cầuđầu tiên bằng văn bản của người thụ hưởng và xem đây như một lệnh thanhtoán đơn giản không đòi hỏi phải có chứng từ kèm theo Bảo lãnh thanh toán
vô điều kiện mang lại lợi thế tuyệt đối cho người thụ hưởng vì văn bản đòitiền được người thụ hưởng đơn phương lập không cần có sự xác nhận của bất
cứ ai và ngân hàng không được viện dẫn bất cứ lý do nào để từ chối
- Bảo lãnh thanh toán có điều kiện: là loại bảo lãnh mà việc thanh toánchỉ có thể tiến hành khi người thụ hưởng xuất trình kèm bảo lãnh một sốchứng từ hoặc giấy xác nhận của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ
tư cách chuyên môn để xác nhận) hoặc kèm theo phán quyết của tòa án đãđược quy định trước Loại bảo lãnh này bảo vệ người được bảo lãnh tốt hơn
so với trường hợp bảo lãnh vô điều kiện, trước khi thanh toán ngân hàng phảitiến hành kiểm tra các chứng từ kèm theo phải đảm bảo đúng những điều kiện
đã quy định trong bảo lãnh thì mới thực hiện thanh toán
Trang 21c Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh
- Bảo lãnh đồng nghĩa vụ: là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng và ngườiđược bảo lãnh được xem là có cùng nghĩa vụ, nghĩa vụ của người được bảolãnh là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa vụ của ngân hàng chỉ là nghĩa vụ bổ sung,nghĩa vụ bổ sung chỉ được thực hiện khi có bằng chứng xác nhận rằng nghĩa
vụ đầu tiên bị vi phạm
- Bảo lãnh độc lập: là loại bảo lãnh hiện đại trong đó nghĩa vụ của ngânhàng và của người được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau Việc thanh toán chỉcăn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong bảo lãnh
d Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh
Tùy vào mục đích sử dụng để hạn chế rủi ro mà có các loại bảo lãnhsau:
- Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảolãnh, về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàngkhông trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn nợ vay đối với bên nhận bảo lãnh
- Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảolãnh, về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trongtrường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ thanh toán của mình khi đến hạn
Như đã biết, trong thanh toán thương mại có 4 phương thức thanh toánphổ biến là phương thức thanh toán trước (advance payment), phương thứchạch toán ghi sổ (open account), phương thức nhờ thu (collections) vàphương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit hoặc Letter of Credit).Mỗi phương thức đều có những rủi ro nhất định cho người bán và người mua.Với phương thức thanh toán trước, người mua thanh toán tiền hàng trước khihàng hóa được gửi đi Phương thức này có lợi cho người bán nhưng sẽ rất rủi
ro cho người mua bởi tiền đã trả nhưng chưa chắc nhận được hàng Về
Trang 22nguyên tắc, điều kiện thanh toán này chỉ áp dụng khi người bán đáng tin cậy,khi hàng hóa thật cần thiết và không thể mua được loại hàng tương tự ở nơikhác Do đó người mua không chọn phương thức này Với phương thức ghi
sổ trả sau, người mua sẽ trả tiền vào một thời điểm nào đó (thường là định kỳ)sau khi nhận được hàng Phương thức này có lợi cho người mua nhưng sẽ rấtrủi ro cho người bán bởi hàng đã giao nhưng chưa chắc nhận được tiền Vìvậy người bán thường không chọn phương thức này nếu như giữa người bán
và người mua chưa thiết lập được quan hệ tốt Tương tự, với phương thức nhờthu cũng vậy Phương thức này có lợi cho người mua nhưng sẽ rất rủi ro chongười bán bởi hàng đã giao nhưng chưa chắc nhận được tiền, nó phụ thuộc rấtnhiều khả năng và thiện chí thanh toán của người mua Phương thức tín dụngchứng từ (L/C) xem ra công bằng nhưng phức tạp và phát sinh nhiều chi phínên cả người bán lẫn người mua cũng không mặn mà với phương thức này
Vậy thì giải pháp nào để người bán yên tâm sẽ nhận được thanh toántrong khi vẫn có thể bán hàng trả chậm cho người mua (bán hàng theo phươngthức ghi sổ – trả tiền sau khi nhận hàng) và ngăn chặn nhũng rủi ro có thểphát sinh trong các dịch vụ mua bán không thường xuyên, đồng thời bù đắpnhững thiệt hại về mặt tài chính cho người thụ hưởng một cách nhanh chóng
và chắc chắn Giải pháp tối ưu đó là sử dụng bảo lãnh thanh toán của ngânhàng Hiện nay ở các nước Mỹ, EU… phương thức thanh toán ghi sổ chiếm
từ 80 - 90% doanh số thanh toán trong nước và quốc tế Ở Việt Nam tuy chưa
có con số thống kê nhưng ước chừng 50% các giao dịch trong nước đượcthanh toán theo phương thức hạch toán ghi sổ Đây chính là cơ hội để ngânhàng phát triển bảo lãnh thanh toán Cơ hội này sẽ tăng lên, nếu ngân hàngthuyết phục khách hàng chuyển đổi các phương thức thanh toán khác vềphương thức hạch toán ghi sổ kết hợp với bảo lãnh thanh toán của ngân hàng
- Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của tổ chức tín dụng với bên mời
Trang 23thầu, để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Trường hợp,khách hàng phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặckhông nộp đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiệnthay.
Đấu thầu thường được sử dụng để tìm được nguồn cung cấp tối ưunhất Quy trình đấu thầu bao gồm các bước gọi thầu, mở thầu và tuyên bố kếtquả trúng thầu Người dự thầu phải nộp kèm đơn dự thầu một thư bảo lãnh dựthầu do một ngân hàng phát hành với mục đích nhằm bù đắp những thiệt hại
về thời gian và chi phí cho chủ thầu do những vi phạm của người dự thầu gây
ra như rút đơn thầu, trúng thầu nhưng bỏ không ký tiếp hợp đồng cung ứng,
bổ sung thêm các điều kiện khi ký hợp đồng so với bản dự thầu Mức bảolãnh theo thông lệ từ 1% đến 3% giá trị công trình Bảo lãnh dự thầu thực chất
là công cụ thay thế việc ký quỹ của người dự thầu, ngoài ra còn có tác dụng
để cho bên chủ thầu thấy đơn dự thầu là một đề nghị nghiêm túc và bên dựthầu sẽ ký kết hợp đồng nếu trúng thầu Việc ngân hàng cấp bão lãnh dự thầuhàm ý năng lực tài chính của người dự thầu là lành mạnh
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của tổ chức tín dụng với bênnhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ củakhách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợpkhách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh màkhông thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thựchiện thay
Đây là loại bảo lãnh thông dụng trong ngoại thương và thường có hiệulực ngay khi chấm dứt hiệu lực của bảo lãnh dự thầu Sau khi hợp đồngthương mại đã được ký kết, nhà xuất khẩu thường yêu cầu nhà nhập khẩu phải
có bảo lãnh thực hiện hợp đồng của ngân hàng trước khi hợp đồng có hiệu lựcnhằm đảm bảo cho nhà xuất khẩu tránh rủi ro khi hàng đã đặt hoặc sản xuất
Trang 24xong nhưng nhà nhập khẩu vì lý do nào đó không muốn tiếp tục thực hiệnhợp đồng đã ký kết nữa Mức bảo lãnh thông thường được tính 10% trị giáhợp đồng.
- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là cam kết của của tổ chứctín dụng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng cácthoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhậnbảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồithường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của tổ chức tín dụng vớibên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước củakhách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợpkhách hàng vi phạm hợp đồng và phải hoàn trả tiền ứng trước mà không hoàntrả hoặc hoàn trả không đầy đủ thì tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay
Đối với những hợp đồng thương mại có giá trị lớn, để giúp nhà xuấtkhẩu/người bán/nhà cung ứng… có vốn đặt hàng và nhanh chóng giao hàngcho nhà nhập khẩu/người mua/người đặt hàng… thì trong hợp đồng thươngmại thường quy định một tỷ lệ theo giá trị hợp đồng phải được ứng trước(thường từ 5% đến 20% giá trị hợp đồng) đồng thời nhà nhập khẩu/ngườimua/người đặt hàng yêu cầu nhà xuất khẩu/người bán/nhà cung ứng đề nghịngân hàng phát hành thư bảo lãnh về khoản tiền ứng trước nhằm đảm bảo chonhà nhập khẩu/người mua nhận lại được số tiền đặt cọc hay ứng trước trongtrường hợp nhà xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ của mình Tuy nhiênkhác với các loại bảo lãnh khác, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước chỉ có hiệulực khi bên được bảo lãnh nhận được khoản ứng trước
- Bảo lãnh đối ứng là cam kết của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh đốiứng) với bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên bảo
Trang 25lãnh, trong trường hợp bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh và phải trả thay chokhách hàng của bên bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.
- Xác nhận bảo lãnh là cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng (bên xácnhận bảo lãnh) đối với bên nhận bảo lãnh, về việc bảo đảm khả năng thựchiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên bảo lãnh đối với khách hàng
- Các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệquốc tế, như:
+ Bảo lãnh nhận hàng (Shipping Guarantee) mục đích nhằm đảm bảoviệc nhận hàng mà không có vận đơn gốc của người được bảo lãnh Ngườibảo lãnh cam kết bồi hoàn cho người nhận bảo lãnh (người chuyên chở/hãngtàu) mọi tổn thất phát sinh do việc giao hàng không có vận đơn gốc
+ Bảo lãnh thuế quan (Custom Guarantee) đảm bảo cho người có tráchnhiệm nộp thuế trước những đòi hỏi của cơ quan thuế quan do chưa thực hiệnđúng nghĩa vụ thuế của mình, như trong trường hợp nhập hàng tạm thời đểtham gia hội chợ hoặc nhập máy móc công cụ để lắp ráp những công trìnhxây dựng nếu quá thời hạn đã đăng ký mà không tái xuất Trị giá Guarantee
do cơ quan thuế quan ấn định trong từng trường hợp cụ thể Loại Guaranteenày không qui định rõ thời hạn hiệu lực có nghĩa sẽ hết hạn khi hoàn tất nghĩa
vụ nộp thuế
+ Bảo lãnh sai sót trong chứng từ nhờ thu (Discrepancy Guarantee):Trong trường hợp này, theo đề nghị của nhà xuất khẩu, ngân hàng cam kết vớingười nhập khẩu bù đắp những thiệt hại phát sinh trong khuôn khổ phươngthức thanh toán nhờ thu do việc xuất trình chứng từ không phù hợp hoàn toànvới những điều khoản của hợp đồng mua bán hoặc số lượng chứng từ thiếukhông được gửi tiếp theo
+ Các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệquốc tế
Trang 261.1.5 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
a Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh
Với bên thụ hưởng bảo lãnh, khi có sự bảo lãnh của ngân hàng, rủi rođối với khách hàng sẽ được giảm thiểu tới mức thấp nhất Đây là điều kháchhàng cần đến nhất khi quan hệ giữa hai bên chưa được xác lập một cách vữngchắc Với bên được bảo lãnh, họ nhận được rất nhiều lợi ích từ việc sử dụngbảo lãnh ngân hàng Về ngân quỹ, khách hàng tiết kiệm được một khoản vốnđáng kể và có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động với chi phí nhỏhơn so với việc phải vay ngân hàng Hơn nữa, họ còn được các chuyên giacủa ngân hàng giúp đỡ trong phân tích, đánh giá việc sử dụng vốn vay để cóhiệu quả cao nhất
b Đối với ngân hàng bảo lãnh
Trước hết, thông qua việc cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng,ngân hàng nhận được một khoản phí bảo lãnh Bên cạnh đó, bảo lãnh còn gópphần đa dạng hóa sản phẩm của NHTM, giúp NHTM giảm thiểu rủi ro tronghoạt động kinh doanh Đồng thời, bảo lãnh cũng là biện pháp hữu hiệu trongviệc thu hút và giữ chân khách hàng - một vấn đề quan trọng trong tình hìnhcạnh tranh gay gắt như hiện nay Ngoài ra, hoạt động bảo lãnh ngân hàngcũng là một trong những hoạt động góp phần khẳng định uy tín, vị thế và khảnăng tài chính của một NHTM nên rất được các ngân hàng chú trọng
c Đối với nền kinh tế
Bảo lãnh ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế Hoạt động này đã thực sự trở thành công cụ thông dụng nhằm đảm bảothực thi nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ tài chính trong các giao dịch ở hầu hếtcác quốc gia và trên toàn thế giới
Trang 271.1.6 Vai trò của ngân hàng trong dịch vụ bảo lãnh
a Ngân hàng thông báo
Trong hoạt động bảo lãnh, ngân hàng thông báo chỉ có vị trí hết sứckhiêm tốn Nhiệm vụ của ngân hàng thông báo chỉ là nhận điện phát hành bảolãnh của ngân hàng đại lý, kiểm tra tính xác thực và chuyển cho người hưởng.Ngân hàng thông báo không có bất kỳ cam kết và ràng buộc nào với ngườihưởng liên quan đến bảo lãnh Việc thông báo thư bảo lãnh của ngân hàngkhông hàm ý bất kỳ cam kết hoặc nghĩa vụ nào của ngân hàng Tuy nhiên,ngân hàng thông báo thường là ngân hàng của người hưởng Người hưởngquan hệ với ngân hàng thông báo không chỉ với tư cách là người hưởng lợicủa thư bảo lãnh mà còn là một khách hàng của ngân hàng thông báo Đứngtrên quan điểm phục vụ khách hàng, ngân hàng thông báo hoàn toàn có thể tưvấn cho người hưởng về các điều khoản và điều kiện của thư bảo lãnh Ngânhàng thông báo có thể cảnh báo người hưởng về những điểm bất lợi trong thưbảo lãnh Việc tư vấn của ngân hàng thông báo hoàn toàn vì quyền lợi củakhách hàng, không phải là một nghĩa vụ của ngân hàng và không ảnh hưởngtới quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong bảo lãnh Ngược lại khingười hưởng đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng thông báo sẽ giúp ngânhành phát hành kiểm tra tư cách pháp lý của người đòi tiền
Vì vậy ngân hàng thông báo chỉ tham gia dưới góc độ kỹ thuật nghiệp
vụ mà không có quyền và nghĩa vụ liên quan trong bảo lãnh
b Ngân hàng phát hành bảo lãnh
Thư bảo lãnh là một cam kết độc lập không hủy ngang của ngân hàngphát hành Tuy nhiên, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh theo chỉ thị củangười được bảo lãnh với chi phí và rủi ro thuộc về người được bảo lãnh Ngânhàng phát hành có nghĩa vụ thực hiện đúng chỉ thị của người được bảo lãnh.Nội dung của bảo lãnh phải phù hợp với chỉ thị của người được bảo lãnh
Trang 28Ngân hàng phát hành phải chịu trách nhiệm với người được bảo lãnh kiểm tra
sự phù hợp của chứng từ xuất trình với các điều kiện và điều khoản của thưbảo lãnh và chỉ được thanh toán khi chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp.Chỉ thị của người được bảo lãnh có thể coi là một “hợp đồng ”giữa ngườiđược bảo lãnh và ngân hàng phát hành Khi ngân hàng chấp nhận phát hànhthư bảo lãnh tức là ngân hàng đã mặc nhiên chấp nhận nội dung của hợp đồng
đó Ngân hàng phát hành không thực hiện đúng chỉ thị nhận được (ví dụ nhưthanh toán khi chứng từ xuất trình không phù hợp, thanh toán khi bảo lãnh đãhết hạn ) bị coi là vi phạm hợp đồng và chịu mọi hậu quả cho sự vi phạm đó
Rủi ro của ngân hàng phát hành là rủi ro phải thanh toán cho ngườihưởng trong khi không đòi được tiền từ người được bảo lãnh Tuy nhiên đâykhông phải là vấn đề lớn vì ngân hàng phát hành thường yêu cầu ký quỹ hoặcnắm giữ tài sản thế chấp của người được bảo lãnh Do đó rủi ro lớn nhất củangân hàng phát hành là rủi ro nghiệp vụ, thanh toán cho người hưởng khôngphù hợp với các điều kiện và điều khoản của bảo lãnh
Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành với người hưởng chỉ giới hạn trongnội dung bảo lãnh Ngân hàng phát hành có nghĩa vụ thanh toán cho ngườihưởng khi chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp với điều kiện và điều khoảnthư bảo lãnh, độc lập với hợp đồng và quan hệ giữa các bên
Ngân hàng phát hành đóng vai trò trung gian giữa người được bảo lãnh
và người thụ hưởng, cung cấp một dịch vụ tài chính theo yêu cầu của ngườiđược bảo lãnh, giúp cho việc thực hiện thỏa thuận một cách trôi chảy, nhanhchóng, không quan tâm và không bị ràng buộc bởi những tranh chấp giữangười được bảo lãnh và người thụ hưởng liên quan đến hợp đồng vì nội dungbảo lãnh, điều kiện đòi tiền…chính do người hưởng và người được bảo lãnhthỏa thuận
Trang 29c Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng
Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng hành động theo chỉ thị củangười được bảo lãnh với mọi rủi ro và chi phí thuộc về người được bảo lãnh.Đến lượt mình ngân hành phát hành bảo lãnh đối ứng lại chỉ thị cho ngânhàng phát hành bảo lãnh với mọi chi phí và rủi ro thuộc về ngân hàng pháthành bảo lãnh đối ứng Suy cho cùng người chịu mọi rủi ro và chi phí dongười được bảo lãnh chịu Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng không cóbất kỳ nghĩa vụ và cam kết nào đối với người hưởng và người được bảo lãnhcũng không có bất kỳ cam kết và nghĩa vụ nào đối với ngân hàng phát hànhbởi tính độc lập của bảo lãnh
Quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng và ngân hàng pháthành bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng không chỉ là người ra chỉ thị vàngười nhận chỉ thị mà còn là quan hệ theo “hợp đồng” Chỉ thị gồm 2 phần: chỉthị phát hành bảo lãnh (có thể coi là một hợp đồng) và cam kết hoàn trả (chính
là bảo lãnh đối ứng) Ngân hàng phát hành bảo lãnh đối ứng có nghĩa vụ thanhtoán cho ngân hàng phát hành khi được yêu cầu phù hợp với điều kiện và điềukhoản của bảo lãnh đối ứng hoặc theo “hợp đồng” giữa hai ngân hàng
1.1.7 Các dạng rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng
Đối với bên bảo lãnh
Khi cam kết bảo lãnh được phát hành, trong việc đòi tiền, ưu thếthường nghiêng về bên thụ hưởng Bên được bảo lãnh thường ở thế thụ động
và chịu rủi ro cao nếu đối tác không trung thực Giao dịch bảo lãnh ngân hàngvới đặc trưng là bằng chứng từ và trên cơ sở chứng từ là điều kiện thuận lợicho sự lạm dụng, gian lận và lừa đảo xuất hiện Điều này xuất phát từ thực tế
là thủ tục đòi tiền của bảo lãnh ngân hàng khá đơn giản¸ thường chỉ xuất trìnhvăn bản đòi tiền cùng tuyên bố vi phạm, nên đã vô tình trở thành những ưuđãi đối với bên thụ hưởng Khi chứng từ được xuất trình đầy đủ, ngân hàng
Trang 30bảo lãnh phải thanh toán cho bên thụ hưởng theo đúng điều khoản nêu trongcam kết bảo lãnh, dù bên bảo lãnh có thực sự vi phạm hay không Khi rủi roxảy ra đối với bên được bảo lãnh, trong trường hợp họ không có khả năng bồihoàn cho ngân hàng số tiền ngân hàng đã thanh toán cho bên được bảo lãnh,ngân hàng sẽ gặp rủi ro.
- Rủi ro nợ quá hạn
Cùng với cho vay, chiết khấu và cho thuê tài chính, bảo lãnh là mộttrong những nghiệp vụ cấp tín dụng của ngân hàng Vì vậy, bảo lãnh ngânhàng có thể gặp những rủi ro như rủi ro tín dụng: nợ quá hạn, rủi ro nợ khôngđược hoàn trả…
- Rủi ro do gian lận
Trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, gian lận là hành vi đòi tiền vượtquá mức tổn thất của vi phạm, lập chứng từ khống để hợp thức hóa việc xuấttrình chứng từ hoặc xuất trình chứng từ không đúng thực tế dù rất hoàn thiện,sửa chữa các số liệu của chứng từ cho phù hợp,… để được thanh toán theocam kết bảo lãnh
- Rủi ro do lừa đảo và giả mạo
Đối với bảo lãnh ngân hàng, lừa đảo và giả mạo là hai vấn đề thườngxuyên đi liền với nhau và thường gây hậu quả lớn Một số dạng lừa đảo và giảmạo thường gặp là:
Lập công ty giả, ký hợp đồng mua hàng và yêu cầu đối tác phải có camkết bảo lãnh tại ngân hàng rồi lợi dụng sự yếu kém nghiệp vụ và thiếu cảnhgiác của đối tác, lập chứng từ đòi tiền ngân hàng rồi bỏ trốn
Giả mạo cam kết bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng lớn trên thếgiới để vay tại một ngân hàng khác
Dùng các kỹ thuật tinh vi để làm giả cam kết bảo lãnh của một ngân hànghoặc thay đổi một số chi tiết trên một cam kết bảo lãnh có thật của một ngân
Trang 31hàng Trong các dạng gian lận, lừa đảo và giả mạo, có dạng có thể phát hiệnngay, nhưng cũng có dạng rất tinh vi, đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải nắmvững chuyên môn nghiệp vụ và ngân hàng cần có quan hệ đại lý rộng khắp.
- Rủi ro pháp lý
Ngoài ra, ngân hàng bảo lãnh còn chịu rủi ro bởi những văn bản hoặc
tư vấn pháp lý không đúng, không phù hợp hoặc các Luật hiện hành khônggiải quyết được các vấn đề pháp lý liên quan đến nhiều vụ kiện tụng Đối vớingân hàng bảo lãnh, rủi ro pháp lý thường xảy ra khi phát mại tài sản thếchấp
Đối với bên được bảo lãnh
Rủi ro của người được bảo lãnh là rủi ro trong kinh doanh, thương mạiđơn thuần Không những thế, người được bảo lãnh còn phải đề phòng khảnăng lừa đảo của bên đối tác có thể lập chứng từ giả mạo để yêu cầu ngânhàng thanh toán, nhưng trên thực tế người được bảo lãnh vẫn phải hoàn thànhđầy đủ nghĩa vụ của mình
Đối với bên thụ hưởng bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng thực sự là một hình thức đảm bảo cho người thụhưởng trong các giao dịch kinh tế thương mại Tuy nhiên, không phải ngườithụ hưởng sẽ không gặp rủi ro trong quá trình thực hiện các thỏa thuận vớingười được bảo lãnh Trên thực tế hoạt động kinh doanh của một NHTMcũng chứa đựng rủi ro, có thể dẫn đến phá sản Và rủi ro cho người thụhưởng sẽ xảy ra khi đối tác yêu cầu một ngân hàng bảo lãnh không được như
ý muốn
1.1.8 Nội dung hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NHTM
Hoạt động bảo lãnh của NHTM nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Mục tiêu về quy mô bảo lãnh
- Mục tiêu về cạnh tranh trong hoạt động bảo lãnh thể hiện qua mục tiêu
Trang 32về thị phần hoạt động bảo lãnh trên thị trường mục tiêu.
- Mục tiêu về kiểm soát rủi ro trong hoạt động bảo lãnh
- Mục tiêu về hiệu quả sinh lời từ hoạt động bảo lãnh
Nhìn chung, các mục tiêu nói trên không phải là những mục tiêu cùngchiều một cách tuyệt đối mà luôn hàm chứa những tương quan đánh đổi nhấtđịnh Do đó, tùy từng thời kỳ, từng bối cảnh hoạt động mà từng ngân hàng sẽ cónhững ưu tiên khác nhau về các mục tiêu
Đối với hoạt động bảo lãnh, do đặc thù của hoạt động này vừa là hoạtđộng tín dụng vừa là hoạt động ngoại bảng, việc gia tăng quy mô dịch vụđồng thời cũng mang lại nhiều lợi ích gián tiếp cho ngân hàng ngoài lợi ích vềthu nhập Đó là các lợi ích về bán chéo sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu về cácdịch vụ liên quan cho khách hàng, qua đó mà gia tăng số lượng khách hàngcũng như quy mô giao dịch nói chung của ngân hàng
Để đạt được các mục tiêu trong hoạt động bảo lãnh, các hoạt động chủyếu của ngân hàng bao gồm:
- Các hoạt động nhằm đạt mục tiêu về quy mô bảo lãnh và phát triển thịphần phù hợp với chiến lược kinh doanh của NH bao gồm: hoạt động pháttriển khách hàng; vận dụng các công cụ chính sách Marketing – mix như:chính sách sản phẩm; chính sách lãi suất; chính sách phân phối; con người;bằng chứng vật chất; quy trình; chính sách bảo lãnh; chính sách chăm sóckhách hàng,
- Đa dạng hóa sản phẩm, đối tượng khách hàng nhằm đổi mới cơ cấubảo lãnh một cách hợp lý, phù hợp với những biến động trong nhu cầu của thịtrường và năng lực đáp ứng của ngân hàng trong từng thời kỳ
- Hoạt động kiểm soát rủi ro trong hoạt động bảo lãnh phù hợp với mụctiêu mà NH đề ra cho từng thời kỳ
- Các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả sinh lời từ hoạt động bảo lãnh
Trang 33như: thực hiện các biện pháp tăng thu nhập phí bình quân trên doanh số bảolãnh; kiểm soát tốt chi phí trong hoạt động bảo lãnh
1.2 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM
Hoạt động ngân hàng nói chung và bảo lãnh ngân hàng nói riêng chịutác động của rất nhiều yếu tố khác nhau Những nhân tố này tác động dướinhiều khía cạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển hoạt động bảo lãnh cảtrong hiện tại và tương lai
1.2.1 Nhân tố bên ngoài
a Môi trường kinh tế
Bốn nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế vĩ mô đó là tỷ lệ tăngtrưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái và tỷ lệ lạm phát, ảnh hưởngrất lớn đến các doanh nghiệp có thể làm thay đổi khả năng tạo giá trị và thunhập của doanh nghiệp tác động đến tổng cầu dịch vụ các dịch vụ ngân hàng
Vì vậy tất yếu sẽ tác động không nhỏ đến sự phát triển của dịch vụ bảo lãnhcủa ngân hàng thương mại
Môi trường kinh tế tác động lớn đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng theohai hướng: tích cực và tiêu cực Môi trường kinh tế phù hợp và phát triển ổnđịnh có thể tạo thuận lợi cho hoạt động ngân hàng phát triển trong đó có bảolãnh Trong môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể tham gia trong nềnkinh tế hoạt động hiệu quả thì sẽ thúc đẩy mở rộng hoạt động bảo lãnh.Nhưng nền kinh tế suy thoái, lạm phát cao, đẩy các doanh nghiệp vào tìnhtrạng thua lỗ, gây rủi ro cho mở rộng hoạt động bảo lãnh
b Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị xã hội tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngânhàng cũng như các danh mục sản phẩm dịch vụ ngân hàng Sự ổn định vềchính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn của các
Trang 34nhà đầu tư Các cá nhân, doanh nghiệp là khách hàng bảo lãnh của ngân hàng
có môi trường để kinh doanh ổn định và hiệu quả, đảm bảo được khả năngthực hiện nghĩa vụ của mình, ngân hàng sẽ không phải trả thay cho kháchhàng của mình Ngược lại, một môi trường chính trị xã hội không ổn định,hàm chưa nhiều yếu tố bất ổn sẽ tác động bất lợi lên hoạt động kinh doanhngân hàng Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị vàkinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trongcác quan hệ quốc tế
c Môi trường pháp lý
Pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng nói chung
và bảo lãnh ngân hàng nói riêng Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, đầy
đủ và ổn định, việc thực thi pháp luật chưa nghiêm sẽ tạo khe hở cho quản lýbảo lãnh Cơ sở pháp lý đồng bộ sẽ tạo hành lang pháp lý để các ngân hàng dễdàng thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình, xây dựng những quy trình bảolãnh nói riêng và quy trình nghiệp vụ tín dụng nói chung phù hợp với từngngân hàng, tạo điều kiện cho hoạt động bảo lãnh phát triển
d Môi trường công nghệ
Sự thay đổi công nghệ thông tin đã giúp ngân hàng sáng tạo ra các sảnphẩm dịch vụ mới đây chính là cơ hội cho ngân hàng nào biết nắm bắt lấynhững xu hướng ngày càng hiện đại của xã hội và cũng là mối đe dọa nếukhông biết đổi mới, nâng cấp công nghệ thông tin tìm kiếm các sản phẩm dịch
vụ thay thế để mất dần thị phần của mình
Công nghệ ngày càng phát triển và phục vụ đắc lực cho mọi hoạt độngcủa nền kinh tế xã hội Đối với hoạt động bảo lãnh của NHTM cũng vậy, sửdụng công nghệ hiện đại vừa thể hiện mức độ hiện đại hóa của ngân hàng vừagiúp phục vụ khách hàng tốt hơn, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh vàkhả năng quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro của NHTM
Trang 35e Môi trường quốc tế
Rất nhiều dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng liên quan đến các giao dịchkinh doanh quốc tế, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Vì vậy, các dịch vụ nàychịu ảnh hưởng rất lớn từ những tác nhân trong môi trường quốc tế Nhữngtác nhân này rất đa dạng nhưng những tác nhân chủ yếu bao gồm:
- Sự phát triển kinh tế và những biến động về kinh tế quốc tế
- Luật pháp và sự thay đổi luật pháp
- Quan hệ giữa các nước
ro có thể xảy ro, nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh
- Tính khả thi của dự án và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp - Năng lực tài chính của doanh nghiệp
- Các biện pháp đảm bảo
Ngoài ra, sự phát triển hoạt động bảo lãnh còn phụ thuộc rất nhiều vàonhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng càng cao sẽ tạo điều kiệncho ngân hàng phát triển hoạt động này Vì vậy, ngân hàng nên xác định cácnhu cầu của khách hàng để đáp ứng tốt
Trang 36g Môi trường cạnh tranh
Trong kinh doanh, các đối thủ của nhau sẽ giành giật với nhau về kháchhàng, thị phần Đối thủ cạnh tranh có nhiều thế mạnh sẽ thu hút được nhiềukhách hàng làm giảm thị phần của chủ thể kinh doanh Và hoạt động bảo lãnhcủa ngân hàng không ngoại lệ Do đặc điểm của sản phẩm dịch vụ ngân hàngkhông thể được cấp quyền sở hữu trí tuệ, chúng thường xuyên được nháy lại,bắt chước vì vậy muốn sản phẩm của ngân hàng khác biệt đối thủ là rất khó
Vì vậy cần theo dõi sát sao các chiến lược sản phẩm của đối thủ cạnh tranh sẽ
là cơ hội giúp ngân hàng thấu hiểu sản phẩm của mình hiện tại và có cơ sở đểcho ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh hơn
1.2.2 Nhân tố bên trong
a Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Chiến lược phát triển kinh doanh chung của ngân hàng chính là cơ sở
để xây dựng các chính sách phát triển của từng bộ phận riêng biệt trong đó cóhoạt động bảo lãnh Nếu không có một chiến lược kinh doanh hợp lý và đúngđắn, ngân hàng sẽ luôn bị động trước những thay đổi, biến động của thịtrường Ngược lại, một chiến lược kinh doanh hiệu quả sẽ giúp ngân hàngphát triển đúng hướng, phát huy được tiềm năng của mình, đồng thời thíchứng kịp thời với những biến đổi của môi trường kinh doanh
b Chính sách, kế hoạch phát triển bảo lãnh của NH
Hoạt động bảo lãnh là một bộ phận trong hoạt động của ngân hàng.Dựa trên cơ sở chiến lược hoạt động kinh doanh chung, ngân hàng sẽ hoạchđịnh chính sách bảo lãnh phù hợp cho từng giai đoan, xây dựng kế hoạchphát triển hoạt động bảo lãnh một cách cụ thể và chi tiết hơn Kế hoạch pháttriển phải chi tiết, theo đúng đường lối chung của ngân hàng nhưng cũngphải sát với thực tế thì mới có thể thúc đẩy hoạt động bảo lãnh ngày càng tốthơn
Trang 37Có chính sách và kế hoạch phát triển hoạt động bảo lãnh đúng đắn,phù hợp sẽ thúc đẩy hoạt động bảo lãnh phát triển có hiệu quả, ngược lại sẽkìm hãm sự phát triển của hoạt động bảo lãnh ngân hàng.
c Nguồn nhân lực
Đối với ngành dịch vụ nói chung nhân viên có vai trò cực kỳ quantrọng trong việc thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng và do đó trong việc giữkhách hàng hay đánh mất khách hàng cũng do nhân viên quyết định Vì vậyyếu tố con người phải được chú trọng, rèn luyện, đào tạo để có thái độ đúngđắn trong công việc, có kiến thức, có kỹ năng tư vấn, kỹ năng giao tiếp vớikhách hàng vì thế sẽ làm nổi bật lên hình ảnh của ngân hàng cùng các sảnphẩm dịch vụ của nó Khả năng nhân viên tối ưu hóa các quan hệ giao tiếpkhách hàng là mục tiêu theo đuổi của mọi ngân hàng
cơ hội kinh doanh
Một quy trình bảo lãnh hợp lý, vừa đảm bảo tính an toàn cho hoạtđộng của ngân hàng vừa thỏa mãn được nhu cầu tiện ích của khách hàngchính là điều kiện cần thiết để ngân hàng nâng cao chất lượng, tạo điều kiệnphát triển hoạt động bảo lãnh an toàn và hiệu quả
Trang 381.3 NỘI DUNG, TIÊU CHÍ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM
Phân tích hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh tập trung vào các nộidung sau Trong mỗi nội dung, luận văn sẽ kết hợp nêu các tiêu chí sử dụng
để phân tích và phương pháp phân tích
1.3.1 Phân tích bối cảnh môi trường bên ngoài và đặc điểm cơ bản của Ngân hàng có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NH.
1.3.2 Phân tích về các hoạt động NH đã thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh
Với hai nội dung trên, tiêu chí phân tích là các tiêu chí định tính,phương pháp phân tích chủ yếu là dựa vào thu thập các dữ kiện từ các tài liệuthứ cấp
1.3.3 Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh
Phân tích kết quả hoạt động bảo lãnh tập trung vào các nội dung sau:
a Phân tích về quy mô hoạt động bảo lãnh
Các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích quy mô hoạt động bảo lãnh là:
- Doanh số bảo lãnh: Doanh số bảo lãnh là tổng giá trị các khoảnBLNH phát sinh trong một thời kỳ
- Doanh thu phí BLNH: Doanh thu phí BLNH là tổng giá trị khoản phíthu được từ dịch vụ BLNH trong một thời kỳ
- Số món bảo lãnh: Số món bảo lãnh là số lượng giao dịch của cáckhoản BLNH phát sinh trong một thời kỳ báo cáo nhất định
Phương pháp phân tích thường được sử dụng là sử dụng các dữ liệu thứcấp trong các báo cáo của ngân hàng, so sánh biến động để rút ra các nhậnđịnh về xu hướng
Trang 39b Phân tích thị phần hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của NH
Thị phần hoạt động bảo lãnh của ngân hàng là tỷ lệ quy mô hoạt động
BL của ngân hàng so với tổng quy mô của toàn thị trường mục tiêu Quy mô
BL có thể tính bằng các chỉ tiêu khác nhau: Doanh số, doanh thu, dư nợ bảolãnh…
Phương pháp phân tích sử dụng là phương pháp so sánh biến động thịphần theo thời gian
c Phân tích về cơ cấu hoạt động bảo lãnh Cơ cấu hoạt động bảo lãnh của NH có thể được phân tích qua các tiêu thức sau:
- Cơ cấu bảo lãnh theo sản phẩm
- Cơ cấu bảo lãnh theo loại hình khách hàng
- Cơ cấu bảo lãnh theo ngành nghề
- Cơ cấu bảo lãnh theo hình thức bảo đảm
Tuy nhiên, tùy theo điều kiện về số liệu mà có thể lựa chọn tiêu thứcphân tích thích hợp
Phương pháp phân tích là tính tỷ trọng của từng thành phần trong tổng
số theo từng tiêu thức phân tổ thích hợp và so sánh biến động
1.3.4 Phân tích chất lượng cung ứng dịch vụ bảo lãnh
Tiêu chí về chất lượng cung ứng dịch vụ thể hiện trước hết qua sự hàilòng của khách hàng trong quá trình NH cung ứng dịch vụ cho vay Tiêu chínày có thể được đánh giá qua 2 phương thức:
- Đánh giá trong: là đánh giá nội bộ của Ngân hàng về chất lượng cungứng dịch vụ cho vay tiêu dùng
- Đánh giá ngoài: là đánh giá của khách hàng thông qua khảo sát ýkiến
Trang 401.3.5 Phân tích về kết quả kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo lãnh
Mức độ rủi ro được phản ảnh qua các chỉ tiêu:
- Dư nợ bảo lãnh quá hạn: Là giá trị những khoản ngân hàng đã trả thaycho khách hàng theo cam kết bảo lãnh nhưng khách hàng không trả được nợcho ngân hàng
- Tỷ lệ những khoản trả thay: bằng tổng giá trị các khoản ngân hàng trảthay/Doanh số bảo lãnh
1.3.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo lãnh
Hiệu quả kinh doanh dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng được đánh giáqua các chỉ tiêu chủ yếu:
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh số bảo lãnh
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phí từ dịch vụ bảo lãnh
Trên thực tế, việc tính toán các chỉ tiêu này trong hoạt động kinh doanhngân hàng là rất khó thực hiện được vì các ngân hàng chưa tính toán chínhxác các chi phí cấu thành từng sản phẩm đơn lẻ do đó việc hạch toán các chiphí trực tiếp và phân bổ các chi phí chung cho dịch vụ bảo lãnh là không thểthực hiện được
Vì vậy, chỉ tiêu thường được sử dụng phổ biến là chỉ tiêu tỷ lệ giữadoanh thu phí dịch vụ bảo lãnh /doanh số bảo lãnh để đánh giá
Khái quát lại, phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng đối với nộidung phân tích kết quả hoạt động bảo lãnh là tính toán các chỉ tiêu, so sánhvới mục tiêu đặt ra và/hoặc so sánh theo thời gian để chỉ ra xu hướng, mức độhoàn thành, phát hiện các vấn đề tồn tại, bất cập