Phương pháp phân tích thống kê như: số tương đối, số tuyệt đối, các chỉ tiêu của dãy số thời gian và phương pháp so sánh để phân tích kết quả và hiệu quả qua các năm nhằm đánh giá năng l
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC BẢNG viii
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Phương pháp thu thập số liệu: 3
4.2 Phương pháp phân tích số liệu: 4
5 Kết cấu của đề tài: 7
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 8
1.1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 8
1.1.1.1 Định nghĩa về cạnh tranh 8
1.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 8
1.1.2 Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh 10
1.1.2.1 Định nghĩa về lợi thế cạnh tranh 10
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh: 11
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 12
1.2.1 Định nghĩa về năng lực cạnh tranh 12
1.2.2 Phân loại năng lực cạnh tranh 14
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 15
1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp: 15
1.3.1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô: 15
1.3.1.1.1 Yếu tố kinh tế: 15
1.3.1.1.2 Yếu tố kỹ thuật - công nghệ: 16
1.3.1.1.3 Các yếu tố chính trị - pháp luật: 16
Trang 21.3.1.2 Các yếu tố thuộc môi trường ngành: 16
1.3.1.2.1 Áp lực từ phía nhà cung cấp: 17
1.3.1.2.2 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn: 18
1.3.1.2.3 Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế: 18
1.3.1.2.4 Sức ép từ khách hàng: 19
1.3.1.2.5 Sự cạnh tranh nội bộ ngành: 19
1.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp: 21
1.3.2.1 Các chính sách chiến lược của công ty 21
1.3.2.2 Sự sẵn sàng của các nhân tố đầu vào 21
1.3.2.3 Nhận thức chung của người lao động trong doanh nghiệp 21
1.3.2.4 Về trình độ tổ chức, quản trị doanh nghiệp 22
1.3.2.5 Hoạt động Marketing: 23
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 23
1.4.1 Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp 23
1.4.1.1 Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường 23
1.4.1.2 Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp 24
1.4.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở cấp độ nguồn lực 24
1.4.2.1 Năng lực tài chính 24
1.4.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 24
1.4.2.3 Năng suất lao động 25
1.4.2.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 25
1.4.2.5 Quản lý nguyên vật liệu 25
1.4.2.6 Lợi thế về vị trí 26
1.4.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở cấp độ phối thức thị trường 26
1.4.3.1 Chính sách sản phẩm 26
1.4.3.2 Chính sách giá cả sản phẩm 27
1.4.3.3 Am hiểu thị trường và khách hàng 27
1.4.3.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 28
1.5 Cơ sở thực tiễn về tình hình cạnh tranh trong ngành xây dựng hiện nay 28
1.5.1 Ngành xây dựng thế giới 28
1.5.2 Ngành xây dựng Việt Nam 30
Trang 3CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG TỔNG HỢP QUẢNG TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN
2013-2015 35
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy công ty 36
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty 36
2.1.2.2 Cơ cấu bộ máy của công ty 36
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh và thị trường hoạt động 39
2.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2013-2015 40
2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 41
2.2.1 Tác động của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 41
2.2.1.1 Tác động của yếu tố kinh tế 41
2.2.1.2 Tác động của yếu tố kỹ thuật- công nghệ 43
2.2.1.3 Tác động của yếu tố chính trị- pháp luật 44
2.2.2 Tác động của các yếu tố môi trường vi mô (môi trường ngành) 44
2.2.2.1 Tác động của nhà cung cấp 44
2.2.2.2 Tác động của các đối thủ tiềm ẩn 45
2.2.2.3 Tác động của các sản phẩm thay thế 46
2.2.2.4 Tác động của khách hàng 46
2.2.2.5 Tác động của sự cạnh tranh trong nội bộ ngành 46
2.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 48
2.3.1 Vị thế cạnh tranh của công ty 48
2.3.1.1 Thị phần của công ty 48
2.3.1.2 Uy tín, thương hiệu của công ty 48
2.3.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở cấp độ nguồn lực 49
2.3.2.1 Năng lực tài chính của công ty 49
2.3.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực 54
2.3.2.3 Năng suất lao động 56
2.3.2.4 Cơ sở máy móc, trang thiết bị 57
Trang 42.3.2.5 Quản lý nguyên vật liệu 59
2.3.2.6 Lợi thế về vị trí 60
2.3.3 Năng lực cạnh tranh của công ty ở cấp độ phối thức thị trường 61
2.3.3.1 Chính sách sản phẩm 61
2.3.3.2 Chính sách về giá cả sản phẩm 62
2.3.3.3 Am hiểu thị trường và khách hàng 64
2.3.3.4 Chính sách xúc tiến hỗn hợp 64
2.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp quảng trị với các công ty xây dựng khách trên địa bàn theo ý kiến tham khảo của khách hàng doanh nghiệp 65
2.4.1 Thông tin chung về khách hàng doanh nghiệp 65
2.4.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị so với các đối thủ cạnh tranh 66
2.4.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 70
2.4.3.1 Các mặt đạt được: 70
2.4.3.2 Các mặt còn hạn chế: 71
2.4.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế: 72
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG TỔNG HỢP QUẢNG TRỊ 75
3.1 Định hướng của công ty trong thời gian tới 75
3.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị theo mô hình SWOT 76
3.2.1 Điểm mạnh của công ty 76
3.2.2 Điểm yếu của công ty 77
3.2.3 Cơ hội từ môi trường hoạt động kinh doanh 78
3.2.4 Thách thức từ môi trường hoạt động kinh doanh 78
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 79
3.3.1 Thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ tối đa giá thành xây lắp công trình: 79
Trang 53.3.2 Tăng cường công tác thu hồi vốn kết hợp với việc lựa chọn nguồn vốn và
huy động vốn cho phù hợp: 81
3.3.3 Thực hiện tổ chức, sắp xếp lại và tăng cường giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ công nhân viên: 82
3.3.4 Phát huy các biện pháp cải tiến kỹ thuật, đầu tư nâng cao năng lực máy móc thiết bị thi công: 84
3.3.5 Xây dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp: 85
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương
WTO Tổ chức thương mại thế giới
TPP Hiệp hội đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
BT Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
BTO Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh
BOO Hợp đồng xây dựng-kinh doanh- chuyển giao
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP trên Thế giới 30
Biểu đồ 1.2: Biến động của ngành xây dựng và GDP 32
Biểu đồ 1.3: Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong ngành xây dựng 33
Biểu đồ 1.4: Tỷ trọng ngành xây dựng theo nhóm công trình 33
Biểu đồ 1.5: Tỷ trọng ngành xây dựng theo vùng miền 33
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước các năm 2013-2015 41
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế Việt Nam từ năm 2013-2015 43
Biểu đồ 2.3: Doanh thu và lợi nhuận của công ty từ năm 2013-2015 53
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu xuất xứ máy móc thiết bị của công ty 58
Biểu đồ 2.5: Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của các công ty 68
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ Radar về năng lực cạnh tranh giữa các công ty 68
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Quy trình đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị 6
Hình 1.2: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter 17
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty 37
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2013- 2015 40
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 2013-2015 41
Bảng 2.3: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ 2013-2015 42
Bảng 2.4: Các nhà cung cấp nguyên vật liệu cho công ty 45
Bảng 2.5: Thị phần của công ty và các đối thủ cạnh tranh 48
Bảng 2.6: Bảng cân đối kế toán của công ty từ năm 2013- 2015 50
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu tài chính của công ty từ năm 2013- 2015 52
Bảng 2.8: Cơ cấu lao động qua các năm 2013-2015 54
Bảng 2.9: Thu nhập của lao động qua các năm 2013-2015 54
Bảng 2.10: Cơ cấu lao động theo cấp bậc và giới tính 55
Bảng 2.11: Cơ cấu lao động theo trình độ 56
Bảng 2.12: Năng suất lao động của lao động qua các năm 2013-21015 56
Bảng 2.13: Danh mục các máy móc, trang thiết bị chính của công ty 57
Bảng 2.14: Bảng báo giá hạng mục xây dựng nhà dân dụng (phần thô) năm 2016 63
Bảng 2.15: Thông tin chung về khách hàng doanh nghiệp được phỏng vấn 66
Bảng 2.16: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị và các đối thủ 67
Trang 9
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang ngày càng phát triển và bước vào quá trình toàn cầu hóa Những năm gần đây, Việt Nam liên tục ký kết các hiệp định thương mại với các nước khác trên thế giới cũng như tham gia các tổ chức thương mại thế giới như ASEAN, ASEM, APEC, WTO
và gần đây nhất là TPP… Với việc tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và thế giới đánh dấu sự chuyển biến quan trọng của đất nước ta trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá Chúng ta tham gia vào thị trường chung thế giới tức là phải chấp nhận luật chơi chung và chịu sức ép cạnh tranh lớn từ các công ty và tập đoàn nước ngoài đã, đang và sẽ thâm nhập vào thị trường Việt Nam Gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn đồng nghĩa với việc chúng ta phải thực hiện những cam kết đã ký trong đàm phán như : cắt giảm thuế quan, giảm và tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuế quan, giảm bớt các trở ngại và hạn chế đối với dịch vụ, đầu tư quốc tế, điều chỉnh các chính sách thương mại khác Điều này đồng nghĩa với việc xoá bỏ hàng rào bảo hộ, tạo một sân chơi lớn, công bằng, bình đẳng cho mọi doanh nghiệp trong và ngoài nước Các đối thủ nước ngoài thì có tiềm lực rất mạnh về mọi mặt, trong khi đó khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam là năng lực còn hạn chế, quy mô sản xuất, tài chính còn khiêm tốn, năng lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, mối liên kết giữa các doanh nghiệp còn yếu và mang tính hình thức Do vậy nếu mỗi doanh nghiệp trong nước không tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì trong trận đấu vốn không cân sức với đối thủ nước ngoài sẽ rất dễ bị loại khỏi cuộc đua Gia nhập các tổ chức kinh tế lớn
là cơ hội tốt cho doanh nghiệp nào biết tận dụng nó một cách hợp lý song cũng chính
là rào cản lớn cho doanh nghiệp nếu không tự nâng cao được năng lực cạnh tranh cần thiết cho mình Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết cho sự phát triển kinh
tế, xã hội
Ngành Xây Dựng Việt Nam đã trải qua thời kỳ khó khăn trong giai đoạn
2009-2013 Tuy nhiên, những dấu hiệu phục hồi trong thời gian gần đây sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành bứt phá và vươn lên tầm cao mới Trong giai đoạn 2011-
Trang 102014, nhóm doanh nghiệp tư nhân luôn chiếm trên 80% trong cơ cấu sản xuất của ngành Xây Dựng, đóng góp vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành Nguồn vốn tư nhân không chỉ đóng góp vào sự tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng dân dụng, còn tham gia vào phát triển cơ sở hạ tầng thông qua các hợp đồng BT, BOT, BOO và PPP Tuy nhiên, khung pháp lý cho các hình thức hợp tác công- tư (PPP) còn nhiều hạn chế, nên chưa thể thúc đẩy mạnh lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng Với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay, cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế, trong 5 năm tới nhu cầu đầu tư về xây dựng các công trình giao thông, công trình nhà
ở, công cộng sẽ ngày một tăng và sức cạnh tranh trong ngành xây dựng sẽ ngày càng
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa lý luận về năng lực cạnh tranh nhằm tạo nền tảng lý thuyết phục
vụ cho việc đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty
Tìm hiểu các đặc điểm của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống các chỉ tiêu phản
ánh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Về phạm vi không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu trong không gian của
Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị và các công ty xây dựng đối thủ trên địa bàn
Về phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 18/01/2016 đến 15/05/2016
Số liệu thứ cấp phục vụ cho quá trình phân tích qua 3 năm (2013-2015)
Điều tra phỏng vấn khách hàng từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện đề tài, trong suốt quá trình thực hiện tôi đã sử dụng các phương pháp:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu:
Dữ liệu thứ cấp
Nguồn nội bộ: Các thông tin được tập hợp từ các báo cáo của phòng tài chính -
kế toán Các thông tin cần thu thập:
Tài liệu về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, số lượng lao động các phòng ban của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Nguồn bên ngoài: Các số liệu bên ngoài được tập hợp từ các website, sách báo,
tạp chí chuyên ngành, thư viện trường Đại học Kinh tế Huế…
Trang 12 Dữ liệu sơ cấp
Thu thập thông qua việc điều tra phỏng vấn khách hàng bằng bảng hỏi phỏng vấn
4.2 Phương pháp phân tích số liệu:
Số liệu thứ cấp
Sử dụng phương pháp thống kê, tính toán, tổng hợp, phân tích theo các tiêu thức khác nhau nhằm mô tả khái quát được tổng quan hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranhcủa công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Phương pháp phân tích thống kê như: số tương đối, số tuyệt đối, các chỉ tiêu của dãy số thời gian và phương pháp so sánh để phân tích kết quả và hiệu quả qua các năm nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh, đồng thời đưa ra kết luận về mối liên hệ của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Công ty
Số liệu sơ cấp
Để đánh giá một cách một cách tổng quát năng lực cạnh tranh của công ty với các công ty đối thủ tôi đã sử dụng ma trận hình ảnh cạnh tranh (Competitive Profile Matrix), qua đó giúp so sánh năng lực cạnh tranh tổng thế của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị với các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Ma trận hình ảnh cạnh tranh cho ta nhận diện những đối thủ cạnh tranh chủ yếu cùng những ưu thế và nhược điểm của họ Ma trận này là sự mở rộng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài bằng cách đưa vào đó các yếu tố quan trọng của môi trường bên trong để so sánh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành Các bước cụ thể để xây dựng công cụ ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ doanh nghiệp gồm:
Bước 1, nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu này được tiến hành bao gồm ba bước
nghiên cứu đó là: (1) Nghiên cứu tài liệu thứ cấp; (2) Nghiên cứu sơ bộ định tính; và (3) Nghiên cứu sơ bộ định lượng
Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ các giáo trình, bài giảng,
Internet, các tạp chí khoa học chuyên ngành liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp
Nghiên cứu sơ bộ định tính: Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực hiện thông
qua kỹ thuật thảo luận tay đôi Mục đích của nghiên cứu này chủ yếu nhằm xây dựng,
Trang 13điều chỉnh và bổ sung các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng dựa trên các tiêu chí của cơ sở lý thuyết sẽ trình bày ở phần nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Nghiên cứu sơ bộ định lượng được thực hiện
thông qua việc điều tra khảo sát một số doanh nghiệp Mục đích của nghiên cứu này chủ yếu nhằm hoàn thiện bảng hỏi phục vụ quá trình điều tra chính thức
Bước 2: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đến năng lực cạnh
tranh của công ty Những nhân tố này được xác định dựa trên quan điểm của các nhà chuyên môn và khách hàng được xác định ở bước 1
Bước 3: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 1 (Không quan trọng)
đến 12 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Cần lưu ý, tầm quan trọng được ấn định cho các yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh
Bước 4: Phân loại từ 1 đến 5 cho mỗi yếu tố đại diện (thực tế có thể định
khoảng điểm rộng hơn) Cho điểm yếu lớn nhất khi phân loại bằng 1, điểm yếu nhỏ nhất khi phân loại bằng 2, điểm trung bình khi phân loại bằng 3, điểm mạnh nhỏ nhất khi phân loại bằng 4 và điểm mạnh lớn nhất khi phân loại bằng 5 Như vậy, đây là điểm số phản ánh năng lực cạnh trạn từng yếu tố của doanh nghiệp so với đối thủ trong ngành
Bước 5: Nghiên cứu chính thức:
Với đối tượng điều tra là doanh nghiệp: Là các đơn vị đã và đang có hợp đồng xây dựng với công ty và các công ty đối thủ.( Công ty TNHH xây dựng số 1 Quảng Trị, Công ty xây dựng cầu 76, Công ty cổ phần xây dựng 78 và công ty TNHH xây dựng đường 9)
Bước 6: Tính điểm cho từng yếu tố bằng cách nhân mức độ quan trọng của
yếu tố đó với điểm số phân loại tương ứng
Bước 7: Tính tổng điểm cho toàn bộ các yếu tố được đưa ra trong ma trận
bằng cách cộng điểm số các yếu tố thành phần tương ứng của mỗi doanh nghiệp Tổng
số điểm này cho thấy, đây là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo đó, nếu tổng
số điểm của toàn bộ danh mục các yếu tố được đưa vào ma trận từ 3,0 trở lên thì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trên mức trung bình Ngược lại, tổng số điểm trong ma trận nhỏ hơn 3,0 thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thấp hơn mức trung bình
Trang 14Cơ sở lý thuyết về: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Xác định sơ bộ các yếu tố tác động đến Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp đứng từ phía khách hàng
Thảo luận (thảo luận tay đôi)
Điều chỉnh và thiết kế sơ bộ bảng hỏi
Xác định thang điểm trọng số
Gửi câu hỏi cho các khách hàng doanh nghiệp
Khách hàng trả lời bảng hỏi
Thu thập, phân tích kết quả đánh giá của các khách hàng doanh
nghiệp (Tiến hàng xử lý, tính toán)
Hình 1.1: Quy trình đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng
tổng hợp Quảng Trị
Trang 155 Kết cấu của đề tài:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần đặt vấn đề nêu rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, đồng thời trình bày rõ mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương1: Cơ sở khoa học của vấn đề cần nghiên cứu
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Chương3: Giải pháp nhằm nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần xây dựng tổng hợp Quảng Trị
Phần III:Kết luận và kiến nghị
Phần này tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài sau đó rút ra kết luận và kiến nghị đối với nhà trường và nội tại doanh nghiệp
Trang 16PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ LỢI THẾ CẠNH TRANH:
1.1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh
1.1.1.1 Định nghĩa về cạnh tranh
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế thị trường Trong bất kỳ một lĩnh vực, ngành nghề nào thì khái niệm về cạnh tranh cũng xuất hiện nhưng ở các góc độ và mục đích khác nhau Chính vì vậy, mặc dù cạnh tranh không phải là một khái niệm mới song rất khó
để đưa ra một định nghĩa cụ thể, rõ ràng và thống nhất
Theo Các Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhắm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”
Theo từ điển kinh tế: “Cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc tranh giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa”
Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”
Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế, ở
đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi
1.1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với lợi nhuận
và cạnh tranh Cạnh tranh tác động đến mọi thành phần trong nền kinh tế
Trang 17 Đối với toàn bộ nền kinh tế:
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế và nâng cao năng suất lao động xã hội Như chúng ta đã biết, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí sản xuất kinh doanh cao, kinh doanh không hiệu quả Một nền kinh tế mạnh là khi
có các công ty, doanh nghiệp vững mạnh và có khả năng cạnh tranh cao
Cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ cung cầu Cạnh tranh sẽ là tiền đề thuận lợi làm cho sản xuất thích ứng linh hoạt dưới sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến việc phân phối thu nhập tạo sự cân bằng trên thị trường
Bên cạnh đó, cạnh tranh còn là nguyên nhân thúc đẩy sự đổi mới về mọi mặt của nền kinh tế
Đối với doanh nghiệp:
Cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu
và bất khả kháng Cạnh tranh là cuộc đua mà trong đó các doanh nghiệp luôn phải tìm cách để vươn lên chiếm ưu thế và giành thắng lợi Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh hợp lý Coi cạnh tranh như là một công
cụ, là bàn đạp vươn lên
Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của khách hàng Điều này đã khiến các doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương án chiến lược tối ưu như: chi phí sản xuất thấp nhất, công nghệ hiện đại, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để giảm giá thành và
nâng cao chất lượng sản phẩm
Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất và phát triển, cạnh tranh sẽ đào thải những doanh nghiệp hoạt động yếu kém, giúp doanh nghiệp tìm tòi và khắc phục những yếu điểm để vươn lên nắm giữ thị trường Doanh nghiệp nào có các chính sách cạnh tranh hiệu quả sẽ tạo ra được vị thế trên thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận Tuy nhiên,
vị thế cạnh tranh chỉ mang tính tương đối, không hoàn toàn triệt để Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn nhìn nhận cạnh tranh, điều kiện cạnh tranh là các căn cứ quan trọng
để xây dựng chiến lược phát triển cho doanh nghiệp
Trang 18 Đối với khách hàng:
Cạnh tranh làm cho người tiêu dùng được tiêu dùng hàng hóa cũng như dịch vụ
có chất lượng cao hơn với giá thành hợp lý hơn và nhu cầu của người tiêu dùng cũng được đáp ứng tốt hơn Có được như vậy là vì có cạnh tranh nên hàng hóa trong nước
và trao đổi quốc tế trở nên phong phú và đa dạng về chủng loại, bao bì, mẫu mã và hơn hết là chất lượng ngày càng tốt hơn mà giá lại rẻ hơn
1.1.2 Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh
1.1.2.1 Định nghĩa về lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để
“nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm cho doanh nghiệp, có tính vi mô chứ không phải có tính vĩ mô ở cấp quốc gia
Như vậy không có cái gọi là “lợi thế Việt Nam” mà chỉ có lợi thế của doanh nghiệp A hoặc doanh nghiệp B Những giá trị nào quyết định lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp? Đó là sự thôi thúc, đam mê, khả năng và bản chất đặc thù của người doanh nhân cộng với điều kiện hoàn cảnh cá nhân, tài nguyên sẵn có, nhu cầu của thị trường mà họ tiếp cận được, tạo ra những cơ hội kinh doanh đặc thù để doanh nhân có thể nắm bắt Như vậy mỗi doanh nhân có mỗi lợi thế khác nhau
Một công ty được xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận cao hơn tỷ lệ bình quân trong nghành Và một công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài
Hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một công ty, và do đó biểu thị
nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là lượng giá trị mà khách hàng cảm nhận được
về hàng hóa hay dịch vụ của công ty, và chi phí sản xuất của nó Giá trị cảm nhận của khách hàng là sự lưu giữ trong tâm trí của họ về những gì mà họ cảm thấy thỏa mãn từ sản phẩm hay dịch vụ của công ty Nói chung giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm của công ty thường cao hơn giá mà công ty có thể đòi hỏi về các sản phẩm/ dịch vụ của mình
Trang 19Theo các nhà kinh tế phần cao hơn đó chính là thặng dư nhà tiêu dùng mà khách hàng có thể dành được Cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các công ty giúp khách hàng nhận được phần thặng dư này Cạnh tranh càng mạnh thì thặng dư người tiêu dùng càng lớn Hơn nữa công ty không thể phân đoạn thị trường chi tiết đến mức
mà có thể đòi hỏi mỗi khách hàng một mức giá phản ánh đúng đắn những cảm nhận riêng của họ về giá trị sản phẩm, hai lí do này chỉ có thể đòi hỏi mưc giá thấp hơn giá trị mà khách hàng cảm nhận và đánh giá về sản phẩm
Cách thức mà công ty có được các lợi thế cạnh tranh:
Thứ nhất, công ty sẽ cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng, làm
cho họ có sự thõa mãn vượt trên cả sự mong đợi của chính họ Các nỗ lực của công ty làm cho sản phẩm hấp dẫn hơn nhờ sự vượt trội về thiết kế, tính năng, chất lượng và điều gì đó tương tự để chính khách hàng cảm nhận được được một giá trị lớn hơn và
họ sẵn sàng trả giá cao hơn
Thứ hai, công ty có thể cố nâng cao hiệu quả các hoạt động của mình để
giảm chi phí Hệ quả là biên lợi nhuận tăng lên, hướng đến một lợi thế cạnh tranh Nói cách khác, khái niệm về sự sáng tạo giá trị là hạt nhân của lợi thế cạnh tranh Bằng việc khai thác các năng lực cốt lõi hay lợi thế cạnh tranh để đáp ứng và đáp ứng trên tất cả các chuẩn mực yêu cầu của cạnh tranh, các doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng Về bản chất, việc tạo ra giá trị vượt trội không nhất thiết yêu cầu một công ty phải có cấu trúc chi phí thấp nhất trong ngành hay tạo ra một sản phẩm có giá trị nhất trong mắt của khách hàng, mà quan trọng là độ lệch giữa gía trị nhận thức được và chi phí sản xuất lớn hơn các đối thủ cạnh tranh
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh:
Bao gồm là hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách hàng
Về hiệu quả: nếu coi một doanh nghiệp như là một hệ thống chuyển hóa các hệ
thống đầu vào thành đầu ra Các đầu vào là các yếu tố cơ bản của sản xuất như là lao động, vốn, đất đai, quản trị và bí quyết công nghệ Đầu ra là các hàng hóa và dịch vụ
mà doanh nghiệp sản xuất Cách đơn giản nhất của hiệu quả là là đem chia số lượng các đầu ra cho các đầu vào Một công ty càng hiệu quả khi nó cần càng ít đầu vào để sản xuất một đầu ra nhất định
Trang 20 Về chất lượng: các sản phẩm có chất lượng phải đáng tin cậy theo nghĩa mà nó
được thực hiện đúng như thiết kế và làm tốt điều đó, ngoài ra chất lượng cao dẫn đến hiệu quả cao hơn và đem lại chi phí thấp hơn Chất lượng cao sẽ làm giảm thời gian lao động bị lãng phí để làm ra các chi tiết sản phẩm bị khuyết tật hay cung cấp dịch vụ không đáp ứng đủ tiêu chuẩn và giảm thời gian bỏ ra để sữa chữa khuyết tật sẽ làm cho năng xuất lao động cao hơn và chi phí đơn vị thấp hơn Như vậy, chất lượng sản phẩm cao không chỉ để cho công ty đòi hỏi giá cao hơn về sản phẩm của mình mà còn
hạ thấp chi phí
Về cải tiến: cải tiến là bất kì những gì được coi là mới hay mới lạ trong cách
thức mà một công ty vận hành hay sản xuất sản phẩm của nó Cải tiến bao gồm những tiến bộ mà công ty phát triển về các loại sản phẩm, quá trình sản xuất, hệ thống quản trị,cấu trúc tổ chức và các chiến lược Cải tiến có lẽ là khối quan trọng nhất của lợi thế cạnh tranh Về dài hạn cạnh tranh có thể coi như một quá trình được dẫn dắt bằng sự cải tiến
Về đáp ứng khách hàng: một công ty có khả năng đáp ứng khách hàng tốt phải
có khả năng nhận diện và thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh Có như vậy khách hàng sẽ cảm nhận gía trị sản phẩm của công ty, và công
ty có lợi thế cạnh tranh trên cơ sở khác biệt
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.2.1 Định nghĩa về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều các lĩnh vực nhưng đến nay vẫn là khái niệm khó hiểu và rất khó đo lường
Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là
“khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”
Trang 21Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn được hiểu là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây
là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt
mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất
cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và
có hạn chế về mặt khác.Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này
và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin
và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp
Trang 22Nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển của mình Đặc biệt trong thời kỳ Việt nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới, để nâng cao năng lưc cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải hiểu rõ các yêu cầu khi tham gia hội nhập đối với ngành SXKD của đơn vị, để từ đó thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu tố để đánh giá được hiện trạng của doanh nghiệp đồng thời đề ra các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.2 Phân loại năng lực cạnh tranh
Đã có rất nhiều những nhà chuyên môn đã nghiên cứu và có những công trình nghiên cứu công phu về năng lực cạnh tranh Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc các tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng
sự (2004)… đã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3 loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trên thực tế như: thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp…
Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công nghệ, lao động Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, công nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh Các quá trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp (sản xuất, chất lượng…)
Trang 231.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
1.3.1.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:
1.3.1.1.1 Yếu tố kinh tế:
Các nhân tố kinh tế có vai trò quan trọng hàng đầu và ảnh hưởng có tính quyết định đến hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp Các nhân tố kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thường là: tỷ giá hối đoái,
tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ lãi suất
Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng tiền của các quốc gia khác Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến tính cạnh tranh của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất trên thị trường quốc tế Khi giá trị của đồng tiền trong nước thấp hơn so với giá trị của các đồng tiền khác, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ tương đối rẻ hơn , còn hàng hóa sản xuất ngoài nước sẽ tương đối đắt hơn Một đồng tiền thấp hay đang giảm giá sẽ làm giảm sức ép từ các công ty nước
ngoài, tạo ra nhiều cơ hội để tăng sản phẩm xuất khẩu và ngược lại
Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường trước được Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc hoàn toàn mới Thực trạng của lạm phát là làm cho tương lai kinh doanh trở nên khó dự đoán được, khi đó nó sẽ hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế, gây nên tình trạng thất nghiệp, và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng
Tỷ lệ lãi suất
Tỷ lệ lãi suất có thể tác động đến mức cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp
Tỷ lệ lãi suất rất quan trọng khi người tiêu dừng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình Tỷ lệ lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư Chi phí này là nhân tố chủ yếu khi quyết định tính khả thi của chiến lược
Trang 241.3.1.1.2 Yếu tố kỹ thuật - công nghệ:
Ngày nay công nghệ được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh Thay đổi
về công nghệ có thể làm cho các sản phẩm hiện đang sản xuất trở nên lỗi thời trong một khoảng thời gian ngắn Cũng với thời gian đó có thể tạo ra được sản phẩm mới Như vậy, công nghệ đồng thời có thể vừa là cơ hội cũng như mối đe dọa của doanh nghiệp Do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã diễn ra xu hướng làm ngắn lại chu kỳ sống của sản phẩm Bên cạnh đó, công nghệ cũng tạo ra nhiều phương pháp sản xuất mới, những phương pháp này cũng sẽ là những cơ hội hoặc thách thức của doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải lường trước được những thay đổi do công nghệ mang lại
1.3.1.1.3 Các yếu tố chính trị - pháp luật:
Các yếu tố chính trị - pháp luật cũng có tác động lớn đến mức độ thuận lợi và khó khăn của môi trường kinh doanh trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động phải tuân theo các quy định của chính phủ về thuê mướn nhân công, thuế, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường,… Những quy định này cũng có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với doanh nghiệp Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh thông qua luật pháp và quản lý nhà nước sẽ đảm bảo cho sự phát triển, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là bình đẳng và lành mạnh
1.3.1.2 Các yếu tố thuộc môi trường ngành:
Sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter, theo mô hình này thì ảnh hưởng đến cầu trúc cạnh tranh trong một ngành có các yếu tố sau:
Trang 25Hình 1.2: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
1.3.1.2.1 Áp lực từ phía nhà cung cấp:
Người cung cấp được coi là sự đe dọa với doanh nghiệp khi họ có thể đẩy mức giá hàng cung cấp cho doanh nghiệp lên, ảnh hưởng đến mức lợi nhuận của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau như thiết bị vật tư, nguồn lao động và tài chính Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm
Các nhân tố tác động trực tiếp và tạo ra sức ép từ phía các nhà cung cấp tới hoạt động mua sắm và dự trữ cũng như tuyển dụng lao động của từng doanh nghiệp: số lượng nhà cung cấp nhiều hay ít, tính chất thay thế của các yếu tố đầu vào khó hay dễ, tầm quan trọng của các yếu tố đầu vào đối với hoạt động của doanh nghiệp, khả năng
Trang 26của các nhà cung cấp và vị trí quan trọng đến mức độ nào của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp
1.3.1.2.2 Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở trong ngành nhưng có khả năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó Tác động của các doanh nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp đó như công nghệ chế tạo, quy mô… Sự xuất hiện của các đối thủ mới này có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp hay còn làm thay đổi bức tranh cạnh tranh ngành Dù thay đổi cục diện cạnh tranh cạnh tranh kiểu nào thì sự xuất hiện của chúng cũng làm gia tăng mức cạnh tranh của ngành Do đó, các doanh nghiệp đang hoạt động tìm mọi cách để hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của họ
Theo M Porter, những nhân tố tác động đến quá trình tham gia thị trường của các đối thủ mới đó là: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tế của quy mô, bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hóa sản phẩm, yêu cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận đường dây phân phối, các chính sách thuộc quản lý vĩ mô,…
1.3.1.2.3 Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các doanh nghiệp trong những ngành khác nhau nhưng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giống như các công ty trong ngành Những doanh nghiệp này thường cạnh tranh gián tiếp với nhau Càng nhiều loại sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ càng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bấy nhiêu Đặc điểm của sản phẩm thay thế như: sản phẩm sẽ được tiếp tục đưa vào sản xuất hay sẽ được sử dụng trong tiêu dùng cũng như tính chất của sản phẩm thay thế đều tác động trực tiếp, tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp
Như vậy, sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành, một sức ép cạnh tranh rất lớn, nó giới hạn mức giá mà một doanh nghiệp có thể định ra và do đó giới hạn mức lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại, nếu sản phẩm của một doanh nghiệp có
Trang 27rất ít các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá và kiếm được lợi nhuận tăng thêm
1.3.1.2.4 Sức ép từ khách hàng:
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm hay dịch vụ
do doanh nghiệp cung cấp Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng không chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả khách hàng tiềm ẩn Khách hàng là người tạo
ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp Họ được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi đẩy giá cả xuống hoặc khi họ yêu cầu chất lượng sản phẩm
và dịch vụ tốt hơn làm cho chi phí hoạt động của doanh nghiệp tăng lên Ngược lại, nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn Người mua có thể gây áp lực với doanh nghiệp đến mức nào phụ thuộc vào thế mạnh của họ trong mối quan hệ với doanh nghiệp
Theo M Porter, những yếu tố tạo áp lực cho người mua đó là:
Khi ngành cung cấp gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ còn người mua chỉ là số ít doanh nghiệp nhưng có quy mô lớn
Khi người mua mua với số lượng lớn, họ có thể sử dụng sức mua của mình như một đòn bẩy để yêu cầu được giảm giá
Khi người mua có thể lựa chọn đơn đặt hàng giữa các doanh nghiệp cung ứng cùng loại sản phẩm
1.3.1.2.5 Sự cạnh tranh nội bộ ngành:
Cạnh tranh nội bộ là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện đang có mặt trong ngành Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là yếu tố quan trọng tạo ra cơ hội hoặc mối đe dọa cho các doanh nghiệp Nếu sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành yếu, các doanh nghiệp có cơ hội nâng giá nhằm thu được lợi nhuận cao hơn Nếu sự cạnh tranh này là gay gắt thì sẽ dẫn đến cạnh tranh quyết liệt về giá, nguy
cơ làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành chịu tác động tổng hợp của 3 yếu tố cấu thành: cơ cấu ngành, mức độ cầu và những trở ngại ra khỏi ngành
Cơ cấu ngành: đó là sự phân bố về số lượng và quy mô của các công ty trong
ngành Có thể phân biệt hai loại cơ cấu chính: Thứ nhất, ngành phân tán, bao gồm số
Trang 28lượng lớn các công ty có quy mô vừa và nhỏ, không có công ty nào có vai trò chi phối toàn bộ ngành như ngành sản xuất lương thực trong nông nghiệp, ngành dệt, ngành kinh doanh khách sạn, du lịch, nên không có sức mạnh chi phối thị trường và thường phải chấp nhận mức giá của thị trường Thứ hai, ngành hợp nhất, bao gồm số lượng ít các công ty có quy mô lớn hoặc chỉ có một công ty độc quyền như ngành sản xuất ôtô, sản xuất điện Các công ty trong nhóm ngành hợp nhất hoạt động phụ thuộc vào nhau
và do đó hoạt động cạnh tranh của một công ty sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của các công ty khác trong ngành
Mức độ cầu: tình trạng về cầu trong ngành cũng là một yếu tố tác động đến
cạnh tranh Tăng nhu cầu tạo ra cơ hội cho việc mở rộng sản xuất, làm dịu bớt sự cạnh tranh Cầu tăng lên khi trên thị trường có thêm người tiêu dùng mới hoặc làm tăng sức mua của người tiêu dùng hiện tại Các doanh nghiệp có thể tăng doanh thu mà không làm ảnh hưởng đến thị trường của các doanh nghiệp khác Như vậy việc tăng cầu đưa đến cơ hội mở rộng hoạt động cho các doanh nghiệp
Ngược lại cầu giảm khi có người tiêu dùng rời bỏ thị trường của ngành, hoặc sức mua của những người tiêu dùng hiện tại giảm Khi đó sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên mạnh mẽ hơn, một doanh nghiệp chỉ có thể đạt tới sự tăng trưởng mạnh bằng cách lấy đi thị phần của những doanh nghiệp khác Sự biến động của mức cầu phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của ngành
Những trở ngại ra khỏi ngành: Những trở ngại ra khỏi ngành đe dọa khi cầu
đang có xu hướng giảm Nếu như những trở ngại này rất khó vượt qua thì các doanh nghiệp có thể bị buộc chặt vào nhau, mặc dù hoạt động kinh doanh không có hứa hẹn
gì tốt đẹp, và nó sẽ làm cho sự cạnh tranh trở nên gay gắt Các trở ngại chính ra khỏi ngành đó là: Thứ nhất, các mày móc thiết bị khó có thể sử dụng vào ngành khác, do vậy doanh nghiệp không bán được, khi doanh nghiệp ra khỏi ngành phải bỏ toàn bộ tài sản này Thứ hai, những chi phí cố định rất lớn khi ra khỏi ngành như trả lương cho công nhân khi chưa hết hợp đồng Thứ ba, đó là sự gắn bó về tình cảm đối với ngành như những công ty thuộc gia đình, dòng họ
Trang 291.3.2 Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp:
Phân tích nội bộ doanh nghiệp nhằm làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chính doanh nghiệp trong từng lĩnh vực kinh doanh để cuối cùng chỉ ra doanh nghiệp
có những năng lực riêng biệt nào đó và những năng lực riêng biệt này tạo ra lợi thế cạnh tranh
1.3.2.1 Các chính sách chiến lược của công ty
Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, giúp hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nó vạch ra phương hướng và mục tiêu hoạt động cho doanh nghiệp trong trung hạn và dài hạn, giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro, vượt qua khó khăn thử thách để đi đến thành công Chính sách và chiến lược bao gồm nhiều loại như: chính sách nhân sự, chính sách sản phẩm, chính sách thị trường Việc
đề ra được các chính sách và chiến lược đúng là điều cơ bản để mọi doanh nghiệp giành được thành công trên thương trường Làm được điều này phụ thuộc rất nhiều vào tài, đức và nghệ thuật quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp
1.3.2.2 Sự sẵn sàng của các nhân tố đầu vào
Các nhân tố đầu vào bao gồm: nhân lực, nguyên vật liệu, phụ liệu, bán thành phẩm, nhiên liệu, công nghệ, thông tin Các nhân tố này phải sẵn sàng, nghĩa là phải
dự trữ đủ số lượng, chủng loại và chất lượng, để kịp thời cung cấp cho các bộ phận sản xuất kinh doanh khi cần, nếu không sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất, làm giảm năng suất và chất lượng, hậu quả là làm giảm năng lực cạnh tranh Đặc biệt trong thời đại ngày nay việc cung cấp thông tin về đối thủ và thị trường đúng và kịp thời cho các
bộ phận là cực kỳ quan trọng để doanh nghiệp có thể chiến thắng trong cạnh tranh
1.3.2.3 Nhận thức chung của người lao động trong doanh nghiệp
Thứ nhất là, nhận thức của người lao động về cạnh tranh: Quy luật của cạnh
tranh là sẽ đào thải những cái yếu, cái không đủ năng lực Do vậy nếu người lao động trong công ty chưa nhận thức được quy luật và không chịu rèn luyện, phấn đấu, học tập nâng cao trình độ, chưa nhận thức được vai trò và địa vị của mình trong dây chuyền sản xuất sẽ làm cho sản phẩm không đảm bảo chất lượng và như vậy sẽ gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh, cũng như sự tồn tại của doanh nghiệp
Trang 30 Thứ hai là, sự hiểu biết của người lao động về chính sách luật pháp của Nhà
nước Điều này rất quan trọng vì nếu kiến thức này của người lao động chưa được trang bị đầy đủ thì rất có thể gây ra những hành vi sai lầm xâm hại tới lợi ích của tập thể, của quốc gia, làm giảm uy tín của doanh nghiệp như : họ có thể tham gia biểu tình, đình công mà pháp luật không cho phép
Thứ ba là, quan điểm về lao động: Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người cần
nhận thức rõ rằng là mình làm cho ai? và để làm gì? chứ không chỉ đơn thuần là làm thuê kiếm sống Từ đó mới có ý thức lao động tốt, chủ động và sáng tạo nhằm xây dựng và phát triển công ty Nếu quan điểm lao động không đúng sẽ dẫn tới kỷ luật lao động chấp hành không tốt, người lao động làm với tinh thần nghĩa vụ, hoàn thành công việc với chất lượng không cao, sản phẩm không có tính cạnh tranh và điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.4 Về trình độ tổ chức, quản trị doanh nghiệp
Thứ nhất là về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Nếu một doanh nghiệp có
cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động
sẽ trôi chảy, có năng suất Ngược lại một cơ cấu chồng chéo, quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém Trong đó thì cơ cấu Ban lãnh đạo có phẩm chất và tài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúng quy luật và còn phải làm cho nó hoạt động một cách linh hoạt, uyển chuyển cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp
Thứ hai là công tác đào tạo: Quản trị doanh nghiệp trước hết là phải làm tốt
công tác giáo dục đào tạo trong công ty Lãnh đạo doanh nghiệp phải tiến hành thường xuyên việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa cho mọi thành viên.Từ đó giúp họ nhận thức tốt về pháp luật, về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, khuyến khích mọi người tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, giảm thiểu những chi phí vô ích, ngoài ra còn tạo môi trường văn hoá lành mạnh trong công ty giúp mọi người đoàn kết, gắn bó, tạo dựng được tập thể vững mạnh cùng phấn đấu cho mục tiêu
"nâng cao năng lực cạnh tranh" của doanh nghiệp
Trang 31 Thứ ba là việc áp dụng các phương pháp quản trị mới: Nếu biết áp dụng các
phương pháp và biện pháp quản trị mới sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảm được nhiều chi phí, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh Nếu ta sử dụng một lối mòn trong quản trị sẽ dẫn đến sự trì trệ, bảo thủ, không phù hợp với những thay đổi của cơ chế thị trường và đặc biệt sẽ bị đối thủ "bắt bài" tìm kẽ hở để chiếm mất thị phần của công ty
1.3.2.5 Hoạt động Marketing:
Chức năng cơ bản của hoạt động Marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp Chỉ có marketing mới có vai trò quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh
Tính chất cạnh tranh của thị trường ngày càng gay gắt, thôi thúc của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chắc chắn sẽ là nguyên nhân trọng yếu thúc đẩy các doanh nghiệp phải hiểu biết và vận dụng marketing một cách linh hoạt vào kinh doanh, tạo dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày một cao hơn
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1 Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1.1 Thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành, là chỉ tiêu được doanh nghiệp hay dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh Thị phần lớn sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi phí sản xuất do lợi thế về quy mô Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ là tỷ
lệ phần trăm thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó
Xét một cách tổng quát nhất, thị phần là tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh hiện tại của một doanh nghiệp trong việc thu hút và duy trì khách hàng, Thị phần của mỗi doanh nghiệp chính là kết quả của việc doanh nghiệp đó sử dụng nguồn lực của mình như thế nào, và trên cơ sở nguồn lực có sẵn đó đã phát huy được những khả năng
gì để thu hút và duy trì được một lượng khách hàng nhất định trên thị trường
Trang 321.4.1.2 Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu có tính chất rất khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động Marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng của doanh nghiệp với chính quyền Đó là tài sản vô hình vô giá mà doanh nghiệp nào cũng coi trọng, nếu mất uy tín thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không có khả năng cạnh trạnh trên thương trường Có uy tín doanh nghiệp có thể huy động được rất nhiều nguồn lực như: vốn, nguyên vật liệu, và đặc biệt là sự an tâm, gắn bó của người lao động với doanh nghiệp hay sự ủng hộ của chính quyền địa phương với công ty
1.4.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở cấp độ nguồn lực
1.4.2.1 Năng lực tài chính
Tài chính là một nguồn lực mà các doanh nghiệp cần phải có trước tiên trong quá trình thành lập và phát triển Tình hình tài chính tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Mọi hoạt động đầu tư, mua sắm, dự trữ, lưu kho,… cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó Năng lực tài chính là yếu
tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh yếu như thế nào? Doanh nghiệp có đủ nguồn lực tài chính để tài trợ cho chiến lược hay không? Doanh nghiệp
có thể huy động các nguồn lực tài chính khi cần hay không? Vấn đề sử dụng vốn của doanh nghiệp như thế nào? Một doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh, năng lực cạnh tranh cao khi doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào bằng cách đa dạng hóa nguồn cung vốn, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lí; bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có kế hoạch sử dụng đồng vốn
có hiệu quả để phát triển lợi nhuận; và hơn hết, phải hạch toán chi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả một cách chính xác
1.4.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực
Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải được xem xét trên
cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động:
Trang 33 Về số lượng lao động: Để có thể hoàn tất công trình đúng tiến độ và đảm bảo
chất lượng công trình thì các doanh nghiệp xây dựng nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng, nhằm chủ động trong việc sử dụng nguồn nhân lực,
Về chất lượng lao động: Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu quan trọng
được dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đối với một doanh nghiệp xây dựng chất lượng của nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực của ngành xây dựng chủ yếu được đánh giá qua kỹ thuật tay nghề, trình độ văn hóa, năng suất của người lao động…
1.4.2.3 Năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của nhiều yếu tố như: con người, công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức phối hợp Do vậy nó là tiêu chí rất quan trọng
để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động được đo bằng sản lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị số lượng lao động làm ra sản phẩm đó Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì năng lực cạnh tranh càng cao bấy nhiêu so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực
1.4.2.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố rất cơ bản góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong lĩnh vực xây dựng, trang thiết bị chủ yếu là: xe tải chuyên chở, máy múc, máy xúc, các loại xe chuyên dụng (xe lu, xe ủi….)…Đây là yếu
tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, vì khi doanh nghiệp được trang bị máy móc, thiết bị đầy đủ sẽ giúp nâng cao chất lượng công trình và đẩy nhanh tiến độ thi công
1.4.2.5 Quản lý nguyên vật liệu
Quản lý nguồn nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và doanh nghiệp xây dựng giữ vai trò hết sức quan trọng Nguồn nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Cho nên việc quản lý quá trình thu mua, vậnchuyển bảo quản dự trữ và sử dụng vật tư
có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản xuất sản phẩm nhưng
Trang 34vẫn đảm bảo chất lượng tốt nhăm từng bước nâng cao uytin và sức mạnh cạnh tranh của công ty trên thị trường
Bên cạnh đó, đối với các công ty xây dựng, việc đảm bảo nguồn cung nguyên vật liệu là hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và thời gian thi công công trình Do đó, công tác quản lý nguồn nguyên vật liệu vô cùng quan trọng và quyết định rất lớn đến năng lực cạnh tranh của công ty trong ngành
1.4.2.6 Lợi thế về vị trí
Đối với các công ty xây dựng hay công ty sản xuất kinh doanh cũng như các công ty thương mại dịch vụ, lợi thế về vị trí kinh doanh có ảnh hưởng khá lớn đến năng lực cạnh tranh của công ty Khi công ty có lợi thế về vị trí, gần nguồn nguyên vật liệu và công trình đang thi công, sẽ giúp rút ngắn thời gian di chuyển, thời gian vận chuyển nguyên vật liệu, từ đó có thể rút ngắn thời gian thi công công trình, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
1.4.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở cấp độ phối thức thị trường
1.4.3.1 Chính sách sản phẩm
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, để nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước phù hợp hơn với xu hướng phát triển của ngành xây dựng trong khu vực và trên thế giới, việc xây dựng và phát triển chính sách sản xây dựng nhằm định hướng cho quá trình phát triển, đồng thời nhằm nâng cao chất lượng về sản phẩm và tiến độ hoàn thành sản phẩm
Việc phát triển sản phẩm và ứng dụng công nghệ phải đáp ứng kịp thời yêu cầu nền kinh tế và xã hội, đòi hỏi phải có những thay đổi mạnh mẽ kết hợp cả công nghệ, sản phẩm và đổi mới trong mô hình tổ chức Chính sách sản phẩm phải thực hiện tốt các mục tiêu như sau:
Chất lượng sản phẩm luôn được nâng cao nhằm đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách tối đa
Chất lượng sản phẩm phải đáp bảo: tính kỹ thuật, tính mỹ thuật, tính kinh tế, độ tin cậy và độ an toàn
Nâng cao vị thế và hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 35 Hoàn thành sản phẩm sớm nhất có thể và đảm bảo chất lượng của sản phẩm đúng như yêu cầu của khách hàng
Mở rộng thị trường và thị phần của doanh nghiệp bằng cách phát triển đa dạng các sản phẩm của doanh nghiệp
1.4.3.2 Chính sách giá cả sản phẩm
Định giá là công việc quan trọng trong xây dựng chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, giá cả linh hoạt, hấp dẫn là một điểm mạnh để khách hàng lựa chọn doanh nghiệp, nâng cao và củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Với cùng một sản phẩm có chất lượng như nhau thì nếu sản phẩm nào có giá thấp hơn
sẽ thắng trong cạnh tranh và ngược lại thì sẽ bị thị trường đào thải
Giá cả được doanh nghiệp đưa ra trên cơ sở xác định lợi ích hợp lý đôi bên cùng có lợi giữa khách hàng với doanh nghiệp Hợp tác bình đẳng giữa cá đối tác kinh doanh trong nền kinh tế sẽ tạo điều kiện cho quan hệ hợp tác lâu dài hơn, bền vững hơn Chính sách giá phải thực hiện tốt các mục tiêu như: thu hút được khách hàng mới
và phải tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, tăng cường mối quan hệ giữa khách hàng và doanh nghiệp
1.4.3.3 Am hiểu thị trường và khách hàng
Đây là một yếu tố rất quan trọng đối với mỗi công ty khi kinh doanh trên thị trường, khi am hiểu về thị trường, cũng như nhu cầu của khách hàng thì sản phẩm mà công ty cung cấp sẽ dễ dàng được thị trường đón nhận và nhanh chóng được khách hàng chấp nhận Đối với công ty xây dựng cũng vậy, khi hiểu rõ và nắm bắt được xu thế của thị trường cũng như hiểu rõ và chính xác những yêu cầu, điều kiện mà khách hàng đang hướng tới, thì công ty đó đã có lợi thế hơn nhiều những công ty khác Từ sự
am hiểu thị trường và khách hàng đó công ty có thể dễ dàng xâm nhập thị trường và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng ngay từ lần đáp ứng đầu tiên, có được sự hài lòng của khách hàng và nâng cao được uy tín thương, hiệu trên thị trường Đồng thời cũng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
Trang 36 Tuyên truyền hoạt động của doanh nghiệp trong xã hội
Hình ảnh một doanh nghiệp đặc biệt quan trọng đối với quyết định lựa chọn doanh nghiệp của khách hàng Việc phát triển hình ảnh của một doanh nghiệp rõ ràng
và tin cậy ngày càng được coi trọng trong chính sách xúc tiến hỗn hợp marketing của mỗi doanh nghiệp
Các hoạt động tài trợ
Hoạt động tài trợ ngày càng được áp dụng rộng rãi, bởi thực tế hoạt động tài trợ
đã góp phần đảm bảo sự thành công của hoạt động marketing và xúc tiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phần gia tăng ở đây dựa trên sự tin tưởng, gây dựng hình ảnh và tạo sự hiểu biết sâu rộng về doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần xác định cho mình một chính sách xúc tiến hỗn hợp hợp lý nhằm tăng sự hiểu biết của khách hàng về doanh nghiệp, xây dựng hình ảnh mang sắc thái riêng của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh, giành sự quan tâm của khách hàng, tăng doanh số hoạt động, hấp dẫn khách hàng mới, tăng sự gắn bó của khách hàng với doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.5 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH CẠNH TRANH TRONG NGÀNH XÂY DỰNG HIỆN NAY
1.5.1 Ngành xây dựng thế giới
Sự phát triển của ngành Xây Dựng thế giới phụ thuộc vào 3 yếu tố chính: (1) tăng trưởng kinh tế, (2) giá cả các loại tài nguyên, năng lượng, (3) lạm phát và lãi suất cho vay
Trang 37Tốc độ phục hồi ở các nước phát triển được dự báo sẽ cao hơn các nước đang phát triển Theo dự báo của WB, tốc độ tăng trưởng của các nước phát triển sẽ được cải thiện từ mức 1,8% năm 2014 lên 2,2% trong năm 2015 Bên cạnh đó, các nước đang phát triển cũng được dự báo có mức tăng trưởng từ 4,8%-5,4% trong những năm tiếp theo, thấp hơn 2% so với thời kỳ trước khủng hoảng Nguyên nhân chính là do tình hình kinh tế không mấy khả quan ở Trung Quốc Đây cũng là dấu hiệu cho sự chuyển hướng của dòng tiền từ các nước đang phát triển về lại các nước phát triển đặc biệt là nền kinh tế Mỹ trong ngắn hạn từ 1 đến 2 năm tới
Theo dự báo thì các nhóm hàng hóa năng lượng và kim loại chính có xu hướng giảm dần trong thời gian sắp tới, ảnh hưởng tiêu cực đến vốn đầu tư vào mở rộng sản xuất Giá dầu Brent tiếp tục giảm xuống dưới mức 50 đô-la/thùng, và được dự đoán là khó hồi phục lại trong những năm tới Ngoài ra, do nền kinh tế Trung Quốc suy yếu làm ảnh hưởng tới lực cầu của các nhóm kim loại cơ bản, nên giá đồng, nhôm và sắt đều có xu hướng đi xuống trong những năm gần đây và World Bank cũng dự đoán đà
đi xuống vẫn sẽ tiếp diễn Sự suy giảm này sẽ có tác động tiêu cực đến lợi nhuận các công ty khai khoáng và tổng mức đầu tư vào ngành Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế vẫn cho rằng sự hồi phục kinh tế đủ để bù đáp về sự suy giảm này
Trong 2015-2016, Worldbank và IMF dự báo lạm phát trung bình được giữ ở mức dưới 2%/năm ở các nước phát triển và dưới 6%/năm tại các quốc gia mới nổi, đồng thời lãi suất USD và EUR kỳ hạn 6 tháng cũng được giữ dưới mức 1%/năm Với lạm phát và lãi suất cho vay được giữ ở mức thấp, các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế có thể tập trung vào việc phục hồi kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp Điều này sẽ có tác động tích cực tới các khoản đầu tư vào xây dựng công nghiệp và dân dụng
Trang 38Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP trên Thế giới
Trong 2015-2016, Worldbank và IMF dự báo lạm phát trung bình được giữ ở mức dưới 2%/năm ở các nước phát triển và dưới 6%/năm tại các quốc gia mới nổi, đồng thời lãi suất USD và EUR kỳ hạn 6 tháng cũng được giữ dưới mức 1%/năm Với lạm phát và lãi suất cho vay được giữ ở mức thấp, các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế có thể tập trung vào việc phục hồi kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp Điều này sẽ có tác động tích cực tới các khoản đầu tư vào xây dựng công nghiệp và dân dụng
1.5.2 Ngành xây dựng Việt Nam
Lịch sử phát triển ngành xây dựng Việt Nam
Sự phát triển và biến động của ngành Xây Dựng Việt Nam có thể chia thành những giai đoạn chính:
Giai đoạn trước 1975: Từ năm 1954 hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng, lực lượng xây dựng đã tích cực tham gia vào việc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế Đồng thời, đây cũng là thời kỳ vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đối với miền Bắc, và vừa dồn sức chi viện cho chiến trường miền Nam
Giai đoạn 1976-1985: Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam bắt đầu vào giai đoạn khôi phục sau chiến tranh và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn bao cấp
Trang 39 Giai đoạn 1986-1990: Chính phủ bắt đầu thực hiện những chủ trương và chính sách “đổi mới”, ngành Xây Dựng đã có những chuyển biến quan trọng Từ việc thiết
kế quy hoạch, thiết kế nhà ở chuyển sang cơ chế mới là quy hoạch xây dựng đô thị Bên cạnh đó, bước đầu thực hiện phương thức đấu thầu đã có tác dụng tích cực thúc đẩy các đơn vị chú ý sắp xếp lại lực lượng lao động, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật, máy móc thi công để nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả xây lắp
Giai đoạn 1991-2000: Trong giai đoạn này thị trường BĐS đã trải qua đợt sốt nhà đất đầu tiên vào 1993-1994, và đây cũng là thời kỳ tăng trưởng vượt bật của ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân 10,5%/năm Bên cạnh đó, đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến về chất trong sự phát triển của ngành Nhiều cơ chế chính sách được hình thành tạo nên khung pháp lý khá đồng bộ Các công ty mạnh tiếp tục đầu tư chiều sâu
để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, và khả năng cạnh tranh Tốc độ thi công các công trình lớn về hạ tầng, công nghiệp, dân dụng nhanh gấp 2-3 lần so với thời kỳ trước
Giai đoạn 2001-nay: Kinh tế cả nước trong giai đoạn này đã bắt đầu hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới với điểm nhấn là việc gia nhập WTO (2006) Các đợt sốt nhà đất vào 2000-2001 và 2007-2008 cũng đã tạo ra sự tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng ngành Luật Xây dựng, Luật Nhà Ở và Luật Kinh Doanh Bất Động Sản, Luật Quy Hoạch Đô Thị đã được ban hành tạo khung pháp lý hoàn thiện cho các công tác quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản Chất lượng và trình độ xây dựng cũng đã được cải thiện đáng kể Đến nay, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các công trình cao tầng, công trình nhịp lớn, công trình ngầm, công trình trên nền địa chất phức tạp có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
Đặc điểm ngành xây dựng Việt Nam hiện nay
Sự phát triển của ngành Xây Dựng phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và các chính sách vĩ mô Với vai trò là ngành hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng của ngành xây dựng phụ thuộc vào các yếu tố như tốc độ đô thị hóa, vốn đầu tư FDI, lãi suất cho vay và lạm phát Bên cạnh đó, xây dựng cũng là lĩnh
Trang 40vực tạo nên nền tảng cho phát triển cho những ngành khác và nền kinh tế nói chung
Do đó, việc chính phủ luôn duy trì một mức giải ngân vào lĩnh vực xây dựng, đặc biệt
là cơ sở hạ tầng Ngoài các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng có tác động trực tiếp tới ngành xây dựng Như trong giai đoạn 2011-2013, chính sách thắt chặt tiền
tệ đã đẩy lãi suất cho vay lên mức trên 20%/năm, khiến cho nguồn vốn đổ vào đầu tư xây dựng giảm mạnh Do đó, chu kỳ của ngành xây dựng cũng chịu tác động mạnh từ chu kỳ của tăng trưởng kinh tế ước tính kéo dài khoảng 3-10 năm Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ có một độ lệch nhất định so với tốc độ tăng trưởng GDP
Biểu đồ 1.2: Biến động của ngành xây dựng và GDP
Xây Dựng (LHS) GDP (RHS)
Nguồn: IMF, BMI, và FPTS tổng hợp
Trong giai đoạn 2011-2014, nhóm doanh nghiệp tư nhân luôn chiếm trên 80% trong cơ cấu sản xuất của ngành Xây Dựng, đóng góp vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành Nguồn vốn tư nhân không chỉ đóng góp vào sự tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng dân dụng, còn tham gia vào phát triển cơ sở hạ tầng thông qua các hợp đồng BT, BOT, BOO và PPP Tuy nhiên, khung pháp lý cho các hình thức hợp tác công- tư (PPP) còn nhiều hạn chế, nên chưa thể thúc đẩy mạnh lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng
“Đổi Mới”