1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường lao động Việt nam - cơ hội và thách thức

32 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 382,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng thị trường lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điều kiện để tăng trưởng có hiệu quả của nền kinh tế đó. Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam mới chỉ đạt được những bước đi ban đầu trên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tế mệnh lệnh hành chính trước đây.

Trang 1

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Tổng quan – Thực trạng – Cơ hội – Thách thức – Giải pháp

Trang 2

Mục lục

1 Khái niệm về thị trường lao động 3

2 Các đặc điểm của thị trường lao động 3

3 Những đặc trưng hoạt động của thị trường lao động 4

4 Ý nghĩa của thị trường lao động 5

5 Thị trường lao động ở Việt Nam và những đặc điểm của nó trong giai đoạn hiện nay 7

Trang 3

1 Khái niệm về thị trường lao động

Có rất nhiều khái niệm về thị trường lao động, mỗi một thị trường laođộng lại có những đặc điểm riêng của mình Thị trường lao động khácbiệt so với thị trường hàng hóa ở chỗ, nó thể hiện phần lớn nhữngbiểu hiện kinh tế xã hội của cả xã hội và có rất nhiều yếu tố ảnhhưởng tới sự phát triển của nó Vì vậy, thị trường lao động của Mỹ,Nhật, Tây Âu, Nga, Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều khác nhau

Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “… Thị trường mà đảm bảo việc làm

cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì

được gọi là thị trường lao động” ; hoặc, “… Thị trường - đó là một cơ

chế, mà với sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượngchỗ làm việc được điều tiết”

Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm này còn đa dạng

và phong phú hơn nhiều: “Thị trường lao động là toàn bộ các quan

hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó baogồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải laođộng, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao

động ), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người

lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động” Hoặc: “Thịthường lao động được hình thành trong bối cảnh giải phóng người laođộng từ trong các xí nghiệp và tăng thất nghiệp Bản thân thị trườnglao động thường xuyên đồng nhất với thất nghiệp, cũng là nhữngngười không có việc làm, nhưng đang đi tìm nó, còn cầu là nhữngchỗ làm việc trống”

Có thể kết luận rằng khái niệm “thị trường lao động” mà nhà khoa

học kinh tế Nga Kostin Leonit Alecxeevich đưa ra là tương đối đầy đủ: “Thị trường lao động - đó là một cơ chế hoạt động tương hỗ giữa

người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh

té xác định, thể hiện những quan hệ kinh tê' và pháp lý giữa họ với nhau” Hay nói chi tiết hơn, thị trường lao động là tập hợp những

quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động(người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn

đề chỗ làm việc cụ thể, nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra.Quá trình sử dụng sức lao động, lao động sẽ được hình thành trongsản xuất chứ không phải trên thị trường

2 Các đặc điểm của thị trường lao động.

Nếu trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sức lao động khôngđược công nhận là hàng hóa, nên không ai có quyền mua đi bán lại,thì trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, việc thương phẩm

hóa sức lao động đã nảy sinh như một nhu cầu khách quan Theo Đại

từ điển kinh tế thị trường, lý luận về hàng hóa sức lao động vừa

không gây cản trở đối với địa vị chủ nhân của người lao động, vừa

Trang 4

không phá bỏ phương thức phân phối theo lao động mà các nước xãhội chủ nghĩa đã theo đuổi Điều khác biệt chỉ là ở chỗ nó phản ánhcác quan hệ kinh tế khác nhau

a Tính đa dạng của thị trường lao động.

Trên thực tế, có rất nhiều dạng thị trường lao động khác nhau, tùythuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại Xét từ giác độpháp lý, có thể có thị trường hợp pháp và thị trường bất hợp pháp;dưới góc độ quản lý, có thể có thị trường tự do và thị trường có tổchức; dưới góc độ hình thức tổ chức, có thể có thị trường tập trung

và thị trường phi tập trung

Tuy nhiên, có hai tiêu chí thường hay được sử dụng để phân loại thịtrường Đó là trình độ kỹ năng và phạm vi địa lý Xét từ góc độ kỹ

năng, thị trường lao động được phân ra thànhthị trường lao động

giản đơn và thị trường lao động được đào tạo Xét từ giác độ địa lý,

thị trường lao động được phân chia thành thị trường lao động địa

phương và thị trường lao động quốc gia, hoặc thị trường lao động quốc tế.

b Tính không đồng nhất của hàng hóa sức lao động trên thị trường.

Khác với nhiều loại hàng hóa thông thường là những thứ thường đượcchuẩn hóa ở mức cao, hàng hóa sức lao động hoàn toàn không giốngnhau Mỗi người lao động là tập hợp của các năng lực bẩm sinh, cộngvới các kỹ năng chuyên biệt tiếp thu được từ giáo dục và đào tạo.Mỗi người lao động đều có những đặc điểm riêng về khả năng, trình

độ, tuổi tác, nguồn gốc, giới tính, nhu cầu, thể lực, động lực làmviệc, Chính vì thế, sức lao động do những người này đem ra traođổi trên thị trường lao động cũng hoàn toàn không đồng nhất vớinhau

c Vị thế quyết định của người lao động trong các đàm phán trên thị trường lao động.

Thực tiễn cho thấy, thông thường, trong các quan hệ giao dịch hayđàm phán trên thị trường lao động, cán cân thường nghiêng về phíangười có nhu cầu sử dụng sức lao động Xuất phát điểm của thực tiễnnày là ở chỗ cho đến nay, số lượng những người tìm việc vẫn nhiềuhơn số lượng các cơ hội việc làm sẵn có Hơn nữa, người lao động đitìm việc bao giờ cũng là người có nguồn lực hạn chế, trong khi đó,người sử dụng lao động có nhiều khả năng chờ đợi và lựa chọn hơn.Chính vì thế, trong quá trình đàm phán hoặc giao dịch, khi thỏathuận các điều khoản hợp đồng, người sử dụng lao động thường có vịtrí quyết định

Trang 5

3 Những đặc trưng hoạt động của thị trường lao động.

Trên cơ sở hoạt động của thị trường lao động, cũng giống như các

yếu tố sản xuất khác, nó cũng có những nguyên tắc làm cơ sở cho

thị trường hàng hóa tiêu thụ và dịch vụ phân tích quan hệ cung - cầu

là phương pháp cơ bản để nghiên cứu hoạt động của thị trường nàyhay thị trường kia Tuy nhiên, hoạt động của thị trường lao động cónhiều đặc biệt, gắn với tính chất và những đặc thù của quá trình táisản xuất sức lao động

- Không tách rời quyền sở hữu hàng hóa - sức lao động khỏi sởhữu chủ Trên thị trường lao động, người mua chỉ có quyền sửdụng và làm chủ từng phần khả năng lao động - sức lao động,

mà hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định Nhưngngười mua không đơn giản là mua sức lao động như những loạihàng hóa khác, mà có quan hệ với người có những quyền hạnnhất đỉnh như một cá nhân tự do, mà anh ta phải tuân thủ

- Có trách nhiệm phối hợp hành động tương đối dài với nhau giữangười bán và người mua nếu so sánh với thị trường hàng hóa,lương thực và thực phẩm Người lao động, như một cá thể, cóthể tự kiểm soát chất lượng công việc của mình với những nỗlực khác nhau, thể hiện mức độ trung thực khác nhau với công

ty đã thuê họ Người thuê phải tính đến những yếu tố đó đểquản lý sản xuất, nghĩa là phải xây dựng một cơ chế đãi ngộ,kích thích, tạo động lực đối với người lao động một cách phùhợp

- Tồn tại số lớn cấu trúc thể chế loại đặc biệt (hệ thống phápluật phân nhánh, những chương trình kinh tế-xã hội, dịch vụviệc làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà doanhnghiệp, v.v ) sinh ra đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thịtrường lao động

- Chất lượng lao động ở từng người lao động có khác nhau theogiới tính, tuổi tác, thể lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ công tác, động lực làm việc v.v… Vì vậy, việc đánh giá chất

lượng lao động khi tuyển dụng, trả công phù hợp cho từngngười gặp nhiều khó khăn và phức tạp

- Nhiều điểm độc đáo trong trao đổi sức lao động so với trao đổihàng hóa vật chất Quá trình trao đổi sức lao động so với traođổi hàng hóa vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thônghàng hóa - quyền sử dụng khả năng lao động được chuyểnsang người mua theo những gì đã được ấn định trong hợp đồnghay thoả ước tập thể Từ đặc điểm nói trên đưa đến 2 kết

quả: thứ nhất, thị trường lao động liên kết xung quanh mình các thị trường khác nhau; thứ hai, tiền công lao động thực tế

được thực hiện tương ứng với kết quả cuối cùng

- Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiềncông và tiền lương, mà còn là nội dung và điều kiện lao động,

Trang 6

bảo đảm duy trì chỗ làm việc, tương lai công việc và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu không khí làm việc trong tập

thể và quan hệ giữa người lao động với người thuê lao độngv.v…

4 Ý nghĩa của thị trường lao động.

Trong nền kinh tế, mỗi một thị trường đều rất cần thiết, phải giảiquyết những nhiệm vụ đặt ra trước nó và có ý nghĩa quan trọng khácnhau Thị trường lao động khác với các loại thị trường khác (như:hàng hóa, vốn, nhà ở, bất động sản v.v ) ở chỗ nó phức tạp hơn, baogồm hoạt động của những lực lượng và các công cụ điều tiết màphần lớn ở các thị trường khác không có Vậy ý nghĩa của thị trườnglao động trong đời sống xã hội ở chỗ nào?

- Trước hết, thị trường lao động đảm bảo việc làm cho dân số

tích cực kinh tế, kết nối họ vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạokhả năng cho họ nhận được những thu nhập thiết yếu để táisản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôisống gia đình mình Thị trường lao động dễ dàng chuyển đổingười lao động sang chỗ làm việc thích hợp hơn với họ, nơi màthành quả lao động của họ có năng suất hơn và có cơ hội nhậnđược thu nhập cao hơn

- Thông qua thị trường lao động các công ty, xí nghiệp đượctrang bị đồng bộ sức lao động cần thiết theo khối lượng đặt ra

và chất lượng đòi hỏi Tuy nhiên, không phải luôn luôn trongmỗi một khu vực đều có sẵn lực lượng lao động cần thiết.Nhưng chính thị trường lao động sẽ cung cấp đầy đủ nhữngthông tin về ngành nghề nào đang cần, nơi nào đang dư thừasức lao động, những người đang đi tìm kiếm việc làm cần phảitrang bị và bồi bổ những chuyên môn nghiệp vụ gì Từ đó thấyrằng, thị trường lao động là nguồn thông tin rất quan trọng và

nó quan hệ chặt chẽ với tất cả các thị trường Thông tin trên thịtrường lao động đem lại cơ sở tư duy lớn cho cả người thuê laođộng cũng như người lan động để xây dựng kế hoạch hoạt độngtrong tương lai của họ

- Cạnh tranh giữa những người lao động sẽ thúc đẩy mở rộngvùng thợ chuyên nghiệp làm thuê, nâng cao chuyên môn vàkhả năng tổng hợp của họ Trong thực tế gần, người lao động

có tay nghề cao, có óc sáng tạo, năng động, biết thích ứngnhanh với bối cảnh mới thì sẽ không bao giờ thiếu việc làm.Mặt khác, sự cạnh tranh của các ông chủ trên thị trường laođộng sẽ bắt buộc họ không chỉ duy trì mức lương đã đặt ra, màcòn tạo ra những môi trường làm việc thuận lợi cho nhân viên

Trang 7

- Thị trường lao động đảm bảo việc phân chia và sắp xếp lại dân

số tích cực kinh tế trong trường hợp cải cách cấu trúc nền kinh

tế ngày nay ở Việt Nam Vấn đề này đặc biệt quan trọng vàkhông kém phần khó khăn khi đất nước bước vào thời kỳ đổimới, các xí nghiệp chịu sự sắp xếp lại theo nhiều hướng khácnhau đã làm cho số người mất việc làm trong các xí nghiệpquốc doanh lên tới hàng triệu người Tỷ trọng lao động trongcác thành phần kinh tế, các ngành nghề, khu vực dân cư dầndần được thay đổi theo cơ cấu ngày càng hợp lý, uyển chuyển,thích ứng và phù hợp vời cấu trúc mới của nền kinh tế

- Thị trường lao động làm tăng tính cơ động của sức lao độnggiữa các xí nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các khuvực với nhau Qua gần 20 năm đổi mới, Nhà nước đã có nhiềuthay đổi trong chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, cải cách từngbước các thủ tục hành chính cũng như hoàn thiện dần cơ sở hạtầng của thị trường lao động thì tính cơ động của sức lao độngViệt Nam cũng đang dần dần có nhiều chuyển biến tích cực,

đặc biệt là trong giới trẻ .

Tóm lại, thị trường lao động điều tiết dòng chuyển sức lao động

đang được hình thành trên thị trường đi theo 4 hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, chuyển những người làm thuê bị mất việc vào hàng

ngũ người thất nghiệp

Thứ hai, sắp xếp những người thất nghiệp ở xí nghiệp hoặc các

công sở và chuyển họ vào đội ngũ người lao động

Thứ ba, bố trí về hưu hoặc giảm việc tìm kiếm công việc, có

nghĩa là chuyển họ từ dân số tích cực kinh tế vào dân số khôngtích cực kinh tế

Thứ tư, tìm kiếm và sắp xếp công việc cho những người mới tất

nghiệp các trường đào tạo, cũng như những người trước đâykhông làm việc và chưa bao giờ tìm kiếm việc làm

Cùng với việc hoạt động tương hỗ để giải quyết những vấn đề kinh tế

xã hội quan trọng khác, thì thị trường lao động cũng đem đến nhữnghậu quả tiêu cực:

Một là, tăng sự phân lập về lương và thu nhập của người lao

động, làm giảm tỷ lệ lương trong thu nhập, tăng bất công lànguyên nhân sinh ra đói nghèo Thị trường lao động Việt Namđang trong giai đoạn hình thành và phát triển, vì vậy nó khôngthể tránh khỏi bị những ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả cải cáchtoàn diện nền kinh tế trong những năm qua Theo kết quả điềutra vào năm 1998, ở Hà Nội có tới 65% số công nhân có mứcthu nhập từ 144 ngàn đồng đến 350 ngàn đồng/người/tháng;các con số tương ứng ở Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh và TháiNguyên là 10,18%, 22,68% và 92,9%; sự chênh lệch về thu

Trang 8

nhập giữa 20% người giầu nhất và nghèo nhất là 11,26 lần, hệ

số này năm 2001 là hơn 13 lần

Hai là, thị trường lao động làm tổn hại tới tinh thần đoàn kết,

nhất trí của người lao động Cạnh tranh giữa những người laođộng dẫn đến tách rời ý kiến, cá thể hóa quyền lợi, làm yếu đi

sự đồng nhất quan điểm trong đàm phán với người thuê laođộng

5 Thị trường lao động ở Việt Nam và những đặc điểm của

nó trong giai đoạn hiện nay.

Xây dựng thị trường lao động tự do là yếu tố quan trọng nhất choviệc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là điềukiện để tăng trưởng có hiệu quả của nền kinh tế đó Tuy nhiên, thịtrường lao động Việt Nam mới chỉ đạt được những bước đi ban đầutrên con đường giải phóng khỏi những tồn đọng từ hệ thống kinh tếmệnh lệnh hành chính trước đây

Ở Việt Nam quan điểm có tính nguyên tắc của chính sách phát triếnthị trường lao động là phải giữ nguyên sự duy trì đầy đủ vai trò lớnlao của Nhà nước đối với nhân dân trong vấn đề điều tiết việc làm.Điều kiện quan trọng nhất của việc thực hiện chính sách này là phảituân theo hàng loạt những nguyên tác như: phát triển đa dạng cácloại hình sở hữu và hoạt động kinh doanh với mục đích mở rộngnhững khả năng lựa chọn các hnh vực bổ sung lao động; không đượcphép cưỡng bức lao động và bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào -theo giới, độ tuổi, dân tộc v.v… ; tự do pháp lý và kinh tế đối vớingười lao động và người thuê lao động khi thuê mướn và sa thải; tự

do di chuyển lao động và vốn; phát triển hệ thống điều tiết các quan

hệ lao động, đặc biệt khi giải quyết những tranh chấp lao động tập

thể và cá nhân Chính sách việc làm phải đưa vào và phối hợp chặt

chẽ với quan niệm chung của cải cách kinh tế, phù hợp với nhữngnguyên tắc chùng và chiến lược thực hiện nó

Tuy nhiên, sự liên kết phối hợp cần thiết giữa chính sách việc làm đãđược chọn cho mô hình thị trường lao động với khái niệm đổi mớitoàn diện ở Việt Nam đến nay vẫn chưa được hình thành, thiếu hẳnquan điểm thống nhất giữa mục đích trước mắt và lâu dài trong việcquản lý các quá trình giải quyết việc làm ở nước ta vấn đề thấtnghiệp chỉ được xem xét từ một phía - đó là từ người lao động Trong

khi đó, ở các nước phát triển, dịch vụ việc làm được trang trải tài

chính tới hơn 50% từ ngân quỹ quốc gia Theo qui định của Bộ luậtLao động Việt Nam, tất cả các xí nghiệp, công sở, công ty khôngphân biệt loại hình sở hữu đều phải chuyển vào nguồn vốn bảo hiểm

xã hội một tỷ lệ phần trăm xác định được trích từ Quỹ lương hưu(20% trong đó: người thuê lao động 15%, người lao động 5%)

Trang 9

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý lao động và việc làm của Việt Namvẫn chưa được chuẩn bị chu đáo cả về mặt tổ chức và mặt kinh tế đểthích ứng năng động với việc đào tạo lại số lượng lớn những ngườiđang lao động, cùng những người thất nghiệp thuộc các ngành nghề

và trình độ chuyên môn khác nhau có tính toán tới những đòi hỏingày càng đa dạng của người thuê lao động đối với lao động làmthuê Sự thiếu hụt ngân quỹ của Việt Nam lại càng làm khó khănthêm việc áp dụng những biện pháp cần thiết để hỗ trợ cho ngườithất nghiệp (như: trợ cấp thất nghiệp, phát triển các trung tâm đàotạo lại, những công việc xã hội và việc làm phụ cho một nhóm dâncư) Tiềm năng của các cơ quan quản lý lao động và việc làm tronglĩnh vực cung ứng sản xuất, kỹ thuật, tổ chức hiệu quả việc làm chodân cư ở nước ta hiện nay còn bị giới hạn rất nhiều

Tuy nhiên, cùng với việc tăng khối lượng và sự phức tạp những côngviệc cần giải quyết, tất cả những bất cập giữa hiệu quả lao động và

sự đảm bảo việc làm ngày càng trở lên rõ ràng và bức xúc, và cũng

là động lực thúc đẩy sự quan tâm tới hiệu quả công việc và nhữngđảm bảo xã hội:

*Nguồn lao động từ nông dân: Trong năm 2012, nông dân Việt

Nam chiếm khoảng hơn 61 triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73%dân số của cả nước Cả nước có khoảng 113.700 trang trại, 7.240hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề, 40% sảnphẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100nước Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có nhữngchuyển biến tích cực

- Tuy nhiên, lao động trong nông dân ở nước ta vẫn chưa đượckhai thác, chưa được tổ chức đầy đủ Người nông dân chẳng có

ai dạy nghề trồng lúa Họ đều tự làm Hiện có từ 80 đến 90%lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nôngthôn chưa được đào tạo Điều này phản ánh chất lượng laođộng trong nông dân còn rất yếu kém Sự yếu kém này đẫ dẫnđến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đangtrong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểutruyền thống, hiệu quả sản xuất thấp

- Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộphận lao động ở nông thôn dôi ra, không có việc làm Từ năm

2000 đến năm 2007, mỗi năm nhà nước thu hồi khoảng 72nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, xây dựng

đô thị

 Chính vì nguồn lao động trong nông thôn chưa được khai thác,đào tạo, cho nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không cóviệc làm ở các khu công nghiệp, công trường

Nguyên nhân: do khâu tổ chức lao động và quy hoạch lao độngtrong nông thôn chưa tốt Chính sách đối với nông nghiệp, nông

Trang 10

dân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tính khuyến khích vàtính cạnh tranh.

*Nguồn lao động từ công nhân: Năm 2012, số lượng giai cấp

công nhân Việt Nam có khoảng 10 triệu người (kể cả khoảng 500nghìn công nhân đang làm việc ở nước ngoại, tại trên 40 nước vàvùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề ở nước ngoài và 2 triệu

hộ lao động kinh doanh cá thể) Số công nhân có trình độ cao đẳng,đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người Nhìn chung, côngnhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nóichung

Đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng dạy nghề; 303trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề, hơn 1.000 cơ sởkhác có tham gia dạy nghề Dạy nghề trình độ trung cấp từ 75,6nghìn tăng lên 360 nghìn người

Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí vàcông nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặngcòn rất thấp, khoảng 20% trong tổng số công nhân của cả nước,trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ, chế biếnthực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%

 Nhìn chung, qua hơn 30 năm đổi mới, cùng với quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân nước ta

đã có những chuyển biến tích cực, tăng nhanh về số lượng, đadạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từng bước Việc làm

và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện.Bên cạnh đó, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đápứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng nghềnghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lànhnghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạnchế; phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân, chưa được đàotạo cơ bản và có hệ thống, "Địa vị chính trị của giai cấp côngnhân chưa thể hiện đầy đủ"

Nguyên nhân: do quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong quá trìnhđổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển củagiai cấp công nhân Việt Nam Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kémtrong phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm,đời sống, tâm tư, tình cảm của công nhân; những chính sách về giaicấp công nhân tuy đã ban hành, nhưng chưa sát hợp với tình hìnhthực tế của giai cấp công nhân

*Nguồn lao động từ trí thức, công chức, viên chức: tính cả sinh

viên đại học và cao đẳng, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trong nhữngnăm gần đây tăng nhanh Riêng sinh viên đại học và cao đẳng pháttriển nhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002:1.020,7 nghìn người; năm 2003: 1.131 nghìn người; năm 2004:

Trang 11

1.319,8 nghìn người Năm 2005: 1,387,1 nghìn người; năm 2006(mới tính sơ bộ): 1,666, 2 nghìn người,… Cả nước có khoảng 14 nghìntiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư; 5.253 phó giáo sư; 16nghìn người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt động khoa học

và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có49% của số 47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viêntrung cấp chuyên nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìngiáo viên hệ phổ thông; gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, thì cókhoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30% thực sự làm chuyên môn.Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 300 nghìnngười trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng 200giáo sư, tiến sĩ đang giảng dạy tại một số trường đại học trên thếgiới

Số trường đại học tăng nhanh Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có

143 trường đại học, đại học, học viện; 178 trường cao đẳng; 285trường trung cấp chuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề Cảnước hiện có 74 trường và khối trung học phổ thông chuyên với tổng

số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trungương và 7 trường đại học chuyên Tỷ lệ học sinh trung học phổ thôngchuyên so với tổng dân số của cả nước đạt 0,05%, còn chiếm rấtthấp so với thế giới

Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển Vào nămhọc 2007-2008, cả nước có gần 6 nghìn cơ sở giáo dục mầm non, 95trường tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổthông, 308 cơ sở dạy nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và

64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáo dục ngoài công lập

Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngàycàng tăng Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài cônglập là 15,6% (năm 2000 là 11,8%), trong đó, tỷ lệ học sinh phổ thông

là 9%, học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 18,2%, học nghề là31,2%, sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%

Cả nước có 1.568/3.645 học sinh đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏiquốc gia trung học phổ thông năm học 2007-2008

Bên cạnh nguồn lao động là trí thức trên đây, nguồn lao động là côngchức, viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngànhcủa đất nước cũng tăng nhanh:

Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5nghìn người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước trong năm

2012 (trung ương 42, địa phương 12)

Đến năm 2012, tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viênchuyên nghiệp và hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làmviệc trong các cơ quan báo chí và hàng chục nghìn người khác là

Trang 12

cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn,tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo chí, hơn

800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình

Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chínhsách pháp luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có

43 tiến sĩ luật (chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc

sĩ luật (chiếm 10,08%), 43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại họcluật (chiếm 55,70%), 223 đại học khác (chiếm 27,06%), 64 người có

2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa chuyên môn khác (chiếm 7,77%),

… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật sư trên 24 nghìn ngườidân)

Trí thức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơquan trung ương và địa phương cũng tăng nhanh

Bên cạnh sự tăng nhanh lao động trí thức, công chức, viên chức đãdẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng lao độngtrí thức, công chức, viên chức còn yếu kém và bất cập Có 63% tổng

số sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm; không ít đơn vịnhận người vào làm, phải mất 1-2 năm đào tạo lại Trong số 37%sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng được công việc Bằngcấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động quốc tế thừanhận Theo ước tính, mỗi tấm bằng đại học, người dân bỏ ra 40 triệuđồng, còn nhà nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng Như vậy, với tỷ lệ63% số sinh viên ra trường chưa có việc làm, cho thấy kinh phí đầu

tư của sinh viên thất nghiệp (161.411 sinh viên x 63% x 70 triệu), ítnhất thất thoát 7.117 tỷ đồng (trong đó, 4.067 tỷ đồng của dân và3.050 tỷ đồng của nhà nước)

Năm 2012, Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại họctrở lên Con số này có thể nói tương đương với 2,6 triệu trí thức nướcnhà

 Tóm lại, nguồn lao động từ nông dân, công nhân, trí thức (trong

đó có công chức, viên chức) ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiềubất cập Sự bất cập này đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triểnkinh tế - xã hội Trong những năm đổi mới, kinh tế đất nước tuy

có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so với kinh tế thế giới thì cònkém xa Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàntài chính quốc tế (IFC), công bố ngày 26-9-2007, kinh tế ViệtNam xếp thứ 91/178 nước được khảo sát

Thực trạng

a Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tăng nhanh.

Việt Nam là nước đông dân, có cơ cấu dân số trẻ Năm 2012, dân số

là 88,77 triệu người, trong đó dân số từ 15 tuổi trở lên là 68,195 triệu

Trang 13

người, chiếm 76,8% dân số cả nước Vì dân số đông nên lực lượng laođộng của nước ta khá dồi dào, đó là một lợi thế to lớn để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Bảng 1: Dân số hoạt động kinh tế ở nước ta thời kì 1989-2012 (triệu người)

số cả nước, bao gồm 51,4 triệu người có việc làm và 925,6 nghìn người thất nghiệp Trong tổng số lực lượng lao động của cả nước, nữ giới chiếm tỉ trọng thấp hơn nam giới (48,6% nữ giới so với 51,4% nam giới)

Sức trẻ là đặc điểm nổi trội của nguồn lao động nước ta Cơ cấu dân

số hoạt động kinh tế chia theo nhóm tuổi tập trung nhiều nhất ở nhóm 15 – 34 tuổi, chiếm 44,7%, tiếp theo là nhóm 35 – 54 tuổi (xem bảng 2)

Bảng 2: Cơ cấu dân số hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi (%)

(15-34 tuổi)

Nhóm trungniên (35-54tuổi)

Nhóm cao tuổi(≥ 55 tuổi)

quyết việc làm trở nên khó khăn hơn

Trang 14

b Phân bố lực lượng lao động không đều.

Lực lượng lao động của Việt Nam tuy đông và tăng nhanh nhưng có

sự phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ Lao động nước ta tậptrung chủ yếu khu vực nông thôn Năm 2012, lao động nông thônchiếm 69,7% trong cơ cấu lao động chung của cả nước Điều này là

do ở nông thôn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính nên cầnmột lực lượng lao động đông, diện tích đất đai ở nông thôn cũng lớnhơn Tuy nhiên, do năng suất lao động thấp, hơn nữa, vào thời gianchuyển giao giữa các mùa, lực lượng lao động thiếu việc làm cao nên

tỉ lệ lao động nông thôn giảm dần, góp phần làm tăng tỉ lệ lao độngthành thị Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị tìm việc một cách

tự phát cũng đang trở thành một trong những khó khăn cho vấn đềviệc làm ở nước ta

Phân bố lao động cũng có sự chênh lệch giữa các vùng kinh tế Trong

8 vùng kinh tế, gần 3/5 lực lượng lao động (56,7% tổng lực lượng laođộng của cả nước) tập trung ở 3 vùng là đồng bằng (ĐB) sông Hồng,Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, ĐB sông Cửu Long Như vậy,khu vực nông thôn và 3 vùng kinh tế - xã hội này là những nơi cần cócác chương trình khai thác nguồn lực lao động, tạo việc làm và đàotạo nghề trong những năm tới

c Chất lượng nguồn lao động.

Chất lượng nguồn lao động nước ta đã được cải thiện, có đóng gópđáng kể cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nhưng nhìnchung vẫn còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đất nước

và còn có sự khác biệt lớn giữa các vùng lãnh thổ

- Về trình độ học vấn của lực lượng lao động: Nhìn chung trong cả

nước, trình độ học vấn của lực lượng lao động ngày được nâng cao

Tỉ lệ người chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học không ngừnggiảm Tỉ lệ này năm 1996 là 26,67%, năm 2009 giảm xuống còn6,5% Đồng thời, số người đã tốt nghiệp THCS, THPT tăng lên liêntục, trong đó tăng nhanh nhất (cả về quy mô và tốc độ) là số ngườitốt nghiệp THPT, từ 13,48% năm 1996 lên 26,4% năm 2009 Nhữngchuyển biến tích cực về trình độ học vấn sẽ tạo nhiều thuận lợi choviệc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tạothêm việc làm mới cho lực lượng lao động trong thời gian tới

Tuy nhiên, trình độ học vấn còn có sự phân hóa giữa nông thôn vớithành thị và theo các vùng lãnh thổ Ở nông thôn, tuy trình độ họcvấn của lực lượng lao động đã được cải thiện, nhưng vẫn còn thấphơn nhiều so với khu vực thành thị Năm 2009, tỉ lệ người chưa tốtnghiệp tiểu học trong lực lượng lao động ở nông thôn là 15,9%(thành thị là 7,6%), tỉ lệ người tốt nghiệp THPT ở nông thôn là 17,8%(thành thị là 46,8%)

Trang 15

Trình độ học vấn của lực lượng lao động theo vùng lãnh thổ cũng cóchênh lệch Tỉ lệ những người chưa từng đi học trong lực lượng laođộng cao nhất ở vùng Trung du và miền núi (TD&MN) phía Bắc(chiếm 11,3% lực lượng lao động của vùng, 2009), tiếp đến là TâyNguyên (10,2%) và ĐB sông Cửu Long (5,7%) Đây cũng là nhữngvùng có tỉ lệ lao động tốt nghiệp THPT trở lên thấp nhất, đặc biệt làvùng ĐB sông Cửu Long, chỉ có 13,4% trong khi trung bình của cảnước là 25,6% Hai vùng có trình độ học vấn của lực lượng lao độngcao là ĐB sông Hồng và Đông Nam Bộ Tỉ lệ lực lượng lao động chưatừng đi học chỉ có 0,8% và 2,2%, còn tỉ lệ tốt nghiệp THPT trở lênchiếm 35,9% và 32,9%

- Về trình độ chuyên môn kĩ thuật của lực lượng lao động: Trình độ

chuyên môn kĩ thuật là một trong những yếu tố quan trọng cấuthành chất lượng lao động Trình độ chuyên môn kĩ thuật của ngườilao động nước ta đã có sự thay đổi theo thời gian

Bảng 3: Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kĩ thuật (%)

Nhìn chung, xu hướng này là tiến bộ; tuy nhiên, mức giảm của tỉ lệlao động không có trình độ chuyên môn kĩ thuật còn chậm, chưa đápứng được yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho

sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế của đất nước Đối với công nhân kĩ thuật, tăng từ 2,2% lên 6,3%giai đoạn 1989-2009, nhưng sau đó lại giảm xuống còn 4,7% năm

2012 Mức độ tăng này là chậm so với yêu cầu và không ổn định,điều này đặt ra những nhiệm vụ là cần mở rộng và hoàn thiện hệthống dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân

d Cơ cấu lao động của nước ta có sự chuyển biến nhưng còn chậm

Trang 16

Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đạihóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Quá trình này dẫnđến làm tăng tỉ trọng lao động trong các ngành công nghiệp - xâydựng và dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong nông nghiệp

Biểu đồ cho thấy qua hơn 20 năm, cơ cấu lao động của nước ta đã có

sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa Tỉ trọng lao động trong công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng gần gấp đôi, tăng tương ứng từ 11,2% lên 21,2% và 16,3% lên 31,4% Lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 71,5% xuống còn 47,4% giai đoạn 1989-

2012 Tuy vậy, có thể thấy rằng sự gia tăng tỉ lệ lao động trong

nhóm ngành công nghiệp – xây dựng vẫn còn chậm và chưa đáp ứngđược yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa Mặc dù lao động trong nhóm ngành nông – lâm – thủy sản đã giảm nhưng vẫn còn chiếm tỉ trọng lớn

Cơ cấu lao động giữa các vùng lãnh thổ

Cơ cấu lao động giữa các khu vực có sự chuyển dịch phù hợp với quátrình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, tỉ trọng lao động giữa các vùng trong khu vực rất khác nhau

- Lao động trong khu vực I: thấp nhất là Đông Nam Bộ (34,8%),

ĐB sông Hồng (40,7%), các vùng còn lại đều cao hơn mức

trung bình của cả nước

- Lao động trong khu vực II: cao nhất là Đông Nam Bộ (33,5%), thấp nhất là Tây Nguyên (8,2%), TD&MN phía Bắc (12,1%), ĐBSCửu Long (16,6%)

- Lao động trong khu vực III: cao nhất là Đông Nam Bộ (31,8%), tiếp đến ĐB sông Cửu Long (31,3%), đến ĐB sông Hồng

(29,5%), thấp nhất là TD&MN phía Bắc (17,9%), Tây Nguyên (20,6%)

Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế

Ngày đăng: 08/11/2016, 15:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế của nước ta giai đoạn 1998-2012 - Thị trường lao động Việt nam - cơ hội và thách thức
Bảng 4 Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế của nước ta giai đoạn 1998-2012 (Trang 17)
Bảng 5: Những đối tác đạt trên 1 tỷ USD vốn đăng ký còn hiệu lực (tính đến cuối tháng 12/2013) - Thị trường lao động Việt nam - cơ hội và thách thức
Bảng 5 Những đối tác đạt trên 1 tỷ USD vốn đăng ký còn hiệu lực (tính đến cuối tháng 12/2013) (Trang 23)
Bảng 7: Cơ cấu lao động làm việc trong các khu vực ở Việt Nam - Thị trường lao động Việt nam - cơ hội và thách thức
Bảng 7 Cơ cấu lao động làm việc trong các khu vực ở Việt Nam (Trang 27)
Hình dối với việc dịch chuyển lao động mà ngay cả những điều - Thị trường lao động Việt nam - cơ hội và thách thức
Hình d ối với việc dịch chuyển lao động mà ngay cả những điều (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w