3 của Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng; + Phương pháp phân loại: Phân loại chi phí, giá thành trong doanh nghiệp theo các tiêu thức phù hợp…; + Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Hà Nội - Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
TS.Đào Thanh Bình
Hà Nội - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo
vệ học vị hay công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Tác giả
Hứa Việt Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Viện Kinh tế và Quản
lý - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đặc biệt là TS Đào Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn xâu sắc tới Ban lãnh đạo và các cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần Nhôm Sông Hồng, đặc biệt là phòng Tài chính - Kế toán
đã cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết và có những góp ý chân thành để tôi hoàn thành luận văn này Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn
bè và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu và động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tác giả
Hứa Việt Dũng
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
KTTC : Kế toán tài chính
NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 6DANH MỤC ĐÕ THỊ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
ĐỒ THỊ
Đồ thị 1 1: Đường hồi qui biểu diễn chi phí hỗn hợp 17
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1 1: Hệ thống dự toán ngân sách 24
Sơ đồ 1 2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán kế toán quản trị kết hợp 35
Sơ đồ 1 3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị độc lập 36
Sơ đồ 1 4: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị hỗn hợp 37
Sơ đồ 2 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Công ty 47
Sơ đồ 2 2: Quá trình sản xuất sản phẩm Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 51
Sơ đồ 2 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của Công ty 53
Sơ đồ 2 4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung 55
Sơ đồ 3 1: Mô hình lập dự toán 87
Sơ đồ 3 2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tài chính và kế toán quản trị theo kiểu kết hợp 96
BẢNG BIỂU Bảng 1 1: Phân biệt kế toán tài chính và kế toán quản trị 6
Bảng 1 2: Phân tích điểm hòa vốn 32
Bảng 2 1: Báo cáo kinh doanh của Công ty trong 3 năm (2013-2015) 46
Bảng 2 2: Sản lượng sản phẩm sản xuất của Công ty 52
Bảng 2 3: Đối tượng tập hợp chi phí của các bộ phận sản xuất 57
Bảng 2 4: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng cho 1 tấn nhôm thành phẩm 65
Bảng 2 5: Định mức đơn giá một giờ lao động trực tiếp 66
Bảng 2 6: Bảng định mức chi phí Nhân công trực tiếp 66
Bảng 2 7: Bảng dự toán khối lượng sản phẩm tiêu thụ quý IV năm 2015 67
Bảng 2 8: Bảng dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất quý IV năm 2015 67
Bảng 2 9: Bảng dự toán Nguyên vật liệu trực tiếp quý IV năm 2015 68
Bảng 2 10: Dự toán chi phí lao động trực tiếp quý IV năm 2015 69
Bảng 3.1: Báo cáo phân loại chi phí theo mức độ hoạt động 84
Trang 7Bảng 3 2 : Báo cáo tổng hợp chi phí 90 Bảng 3 3: Báo cáo nhân tố ảnh hưởng 91
Trang 8MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC ĐÕ THỊ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 5
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 5
1.1.2 So sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị 5
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị 7
1.2 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí 8
1.2.1 Khái quát về chi phí và kế toán chi phí 8
1.2.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 10
1.2.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí 10
1.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 12
1.3.1 Tổ chức thu nhận thông tin ban đầu kế toán quản trị chi phí 12
1.3.2 Phân loại chi phí 12
1.3.3 Định mức chi phí và dự toán chi phí sản xuất 19
1.3.4 Trung tâm chi phí 26
1.3.5 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 28
1.3.6 Phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh 31
Trang 91.4 Mô hình tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp 34
1.4.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính 35
1.4.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản trị độc lập với kế toán tài chính 35 1.4.3 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tài chính và kế toán quản trị theo kiểu hỗn hợp 37
1.5 Kinh nghiệm kế toán quản trị chi phí tại một số doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam 38
1.5.1 Kinh nghiệm tổ chức kế toán quản trị của một số nước phát triển trên thế giới 38
1.5.2 Bài học kinh nghiệm vận dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHÔM SÔNG HỒNG 43
2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 43
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 43
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý tại Công ty 46
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh 49
2.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán 53
2.1.5 Kế toán chi phí sản xuất tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 57
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 61
2.2.1 Thực trạng tổ chức thu nhận thông tin ban đầu kế toán quản trị chi phí 61
2.2.2 Phân loại chi phí 62
2.2.3 Định mức chi phí và dự toán chi phí 64
2.2.4 Thực trạng tổ chức trung tâm chi phí 70
2.2.5 Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 70
2.2.6 Thực trạng phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh 71
Trang 102.2.7 Thực trạng mô hình tổ chức kế toán quản trị 72
2.3 Đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 73
2.3.1 Ưu điểm 73
2.3.2 Nhược điểm 74
2.3.3 Nguyên nhân 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN NHÔM SÔNG HỒNG 78
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 78
3.1.1 Mục tiêu phát triển của Công ty đến năm 2020 78
3.1.2 Sự cần thiết hoàn thiện kế toán quản trị chi phí 79
3.2 Yêu cầu của việc tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 80
3.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng 81
3.3.1 Hoàn thiện về tổ chức thu nhận thông tin ban đầu kế toán quản trị chi phí 81
3.3.2 Hoàn thiện về tổ chức phân loại chi phí 83
3.3.3.Hoàn thiện về hệ thống định mức và dự toán chi phí 85
3.3.4 Hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm chi phí 88
3.3.5 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 91
3.3.6 Phân tích thông tin chi phí để ra quyết định 94
3.3.7 Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại Công ty 96
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhôm là một trong những kim loại quan trọng nhất của nền công nghiệp hiện đại Về quy mô sản xuất và tiêu thụ, nhôm đứng hàng thứ 2 sau sắt và giữ
vị trí thứ nhất trong lĩnh vực kim loại màu Tính ứng dụng của nhôm là rất đa dạng, từ làm cửa, làm trần nhà, các chi tiết máy,… Cùng với xu hướng đó, thị trường nhôm ở Việt Nam trong 10 năm trở lại đây rất sôi động với nhiều Công
ty sản xuất Nhôm trong nước, nhôm nhập khẩu và cả nhôm do tư nhân sản xuất thủ công
Hiện nay các Công ty đầu ngành sản xuất nhôm trong nước bao gồm năm thương hiệu lớn là: nhôm TungKuang (Tài Việt), nhôm Đông Anh, nhôm Đô Thành, nhôm Tungshin và Công ty Cổ phần nhôm Sông Hồng Được thành lập năm 1999 cho đến nay, để có được sự tin tưởng của khách hàng Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng đã rất nỗ lực và cố gắng tạo ra những sản phẩm tốt nhất
và rẻ nhất cung ứng cho thị trường Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình kinh tế toàn cầu khó khăn đã ảnh hưởng rất lớn tới thị trường nhôm, giá nhôm thấp, sản phẩm nhôm dư thừa, hàng tồn kho lớn
Thực tế hiện cho thấy Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng đang chịu rất nhiều áp lực từ bên ngoài, nhu cầu thấp, đối thủ cạnh tranh nhiều và có thực lực Bên cạnh đó, Công ty còn phải đối mặt với các vấn đề bên trong như cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất, bộ phận kế toán chưa hợp lý Do vậy, nếu không kịp thời đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp chắc chắn Công ty
sẽ khó tồn tại Từ đó, vấn đề trước mắt cần đặt ra cho Công ty là phải kiểm soát
để tiết kiệm được chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh Thời gian gần đây Công ty đã bước đầu tổ chức công tác KTQT chi phí, tập trung vào công tác xây dựng định mức, lập kế hoạch chi phí sản xuất Tuy nhiên, trên thực tế từ phương hướng xây dựng đến tổ chức thực hiện thì việc ứng dụng KTQT chi phí trong các nội dung này vẫn chưa được tổ chức khoa học và quan tâm đúng mức, còn mang nặng nội dung của KTTC (chủ yếu là tập chung các báo cáo tài chính), chưa thực sự là công cụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị xem xét, phân tích làm cơ sở ra các quyết định Điều này ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng và hiệu quả các quyết định quản trị và là một trong các nguyên nhân làm cho sức cạnh tranh của Công ty còn hạn chế
Vì vậy, hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí, phân tích biến động chi phí giữa thực tế và dự toán nhằm tăng cường kiểm soát chi phí cũng như phân
Trang 122
tích thông tin chi phí để ra quyết định kinh doanh tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng là vấn đề hết sức cấp thiết giúp cho nhà quản trị đưa ra được các quyết định đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty
Xuất phát từ tính cấp thiết trên, tác giả chọn thực hiện đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần nhôm Sông Hồng”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Hoàn thiện KTQT chi phí tại Công ty
cổ phần nhôm Sông Hồng Để thực hiện được mục đích nêu trên, người viết có các nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về KTQT và KTQT chi phí trong doanh nghiệp
- Đề tài vận dụng những lý luận và phương pháp phân tích khoa học để nghiên cứu thực trạng công tác KTQT chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng, từ đó đánh giá thực trạng tổ chức KTQT chi phí tại Công ty về ưu nhược điểm và đưa ra nguyên nhân khách quan và chủ quan
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã nghiên cứu để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng góp phần phục vụ công tác quản lý Công ty hiệu quả hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ nghiên cứu các vấn đề về:
- Nguyên lý cơ bản về KTQT chi phí;
- Thực trạng vận dụng KTQT chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng;
- Hoàn thiện KTQT chi phí nhằm quản lý hiệu quả chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng;
Đề tài chủ yếu khảo sát và sử dụng tài liệu của Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng trong năm 2015 để minh hoạ cho bài viết
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp: + Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu luật kế toán, các chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp, các lý luận về KTQT chi phí, xây dựng mô hình KTQT chi phí trong doanh nghiệp Nghiên cứu các tài liệu, báo cáo kế toán
Trang 133
của Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng;
+ Phương pháp phân loại: Phân loại chi phí, giá thành trong doanh nghiệp theo các tiêu thức phù hợp…;
+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các nhà QLDN, nhân viên kế toán, nhân viên phòng Kế hoạch, vật tư về việc tổ chức và sử dụng hệ thống thông tin nội bộ; tổ chức lập kế hoạch, triển khai và thực hiện kế hoạch sản xuất ; tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định để xây dựng cơ sở cho việc nghiên cứu;
+ Phương pháp tổng hợp - phân tích: Thông qua các số liệu, dữ kiện thu thập được, tác giả tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá để rút ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hoá được cơ sở lý luận về KTQT chi phí trong doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác KTQT chi phí tại Công ty Cổ phần Nhôm Sông Hồng
- Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện KTQT chi phí tại Công ty
Cổ phần Nhôm Sông Hồng, góp phần tích cực phục vụ cho nhà quản trị Công ty đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương sắp xếp có quan hệ mật thiết với nhau đi từ
cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn và giải pháp:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý thuyết về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp
CHƯƠNG 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần nhôm Sông Hồng
CHƯƠNG 3: Giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần nhôm Sông Hồng
Trang 145
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Kế toán quản trị (KTQT) là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy, bản chất của KTQT trước hết được thể hiện ở bản chất của kế toán
Theo Viện KTQT Hoa Kỳ, KTQT là quá trình xác định, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt những thông tin tài chính tới các nhà quản trị, để sử dụng cho mục đích lập kế hoạch, đánh giá và điều chỉnh trong tổ chức, đảm bảo
sử dụng hợp lý và chịu trách nhiệm giải trình cho nguồn thông tin đó
Theo Luật kế toán Việt Nam, “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Mục 3, Điều 4, Chương 1)
Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính, KTQT cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như:
- Chi phí của từng bộ phận, từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn
- Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh,… nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế
1.1.2 So sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị
KTQT và kế toán tài chính (KTTC) là hai bộ phận của công tác kế toán trong doanh nghiệp KTQT cũng bao gồm những nội dung cơ bản của kế toán như phân loại tài sản thành tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) và tài sản dài hạn (tài sản cố định), phân loại nguồn vốn thành nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu, tính giá thành sản phẩm,… nhưng đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận để phục vụ cho hoạt động điều hành kinh doanh của nhà quản trị
Trang 156
Những điểm giống nhau
KTQT và KTTC là hai lĩnh vực chủ yếu của kế toán nên có một số điểm chung cơ bản như:
- KTQT và KTTC đều là công cụ quản lý, giúp quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế của tổ chức
- KTQT và KTTC đều sử dụng các chứng từ ban đầu làm cơ sở tính toán các chỉ tiêu kinh tế - tài chính
- KTQT và KTTC đều quan tâm đến trách nhiệm của nhà quản lý KTTC chú trọng đến trách nhiệm điều hành chung đối với toàn bộ doanh nghiệp; KTQT chú trọng đến trách nhiệm điều hành ở từng bộ phận của doanh nghiệp cho đến cấp thấp nhất chỉ có trách nhiệm với chi phí
Thước đo sử
dụng
Chủ yếu là thước đo giá trị Cả giá trị và hiện vật, thời
gian lao động Các nguyên
Doanh nghiệp tự xây dựng,
tự triển khai, có tính linh hoạt, không mang tính pháp lệnh
Người sử
dụng thông tin
Các thành phần bên ngoài doanh nghiệp như các tổ chức tín dụng; đối thủ cạnh tranh; nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, người đầu tư tài chính;
người lao động v.v
Các thành phần bên trong Công ty: Giám đốc, quản lý hội đồng quản trị, các giám sát viên, quản đốc
Các báo cáo
kế toán chủ
yếu
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thuyết minh báo cáo tài chính
Các báo cáo cung cấp, dự trữ vật tư, hàng hóa
Các báo cáo về quá trình sản xuất (tiến độ, chi phí, kết quả)
Trang 167
Các báo cáo về bán hàng (Chi phí giá vốn, doanh thu)
Kỳ báo cáo Tháng, quý, năm Ngày, tuần, tháng, quý, năm Phạm vi thông
tin
Toàn doanh nghiệp Gắn với các bộ phận trực
thuộc doanh nghiệp
Trọng tâm
thông tin
Chính xác, khách quan, tổng thể Kịp thời, thích hợp, linh
động, ít chú ý đến độ chính xác
Như vậy, KTQT là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với KTTC, KTQT được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin
kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp KTQT về cơ bản dựa trên nội dung
cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa khối lượng, chi phí, lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị
Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó được xem như là một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị
Ngày nay vai trò của KTQT rất khác so với thập niên trước Trước đây, nhân viên KTQT làm việc trong một đội ngũ gián tiếp hoàn toàn tách rời với các nhà quản trị mà họ cung cấp thông tin và các báo cáo Ngày nay, nhân viên KTQT có vai trò như những nhà tư vấn nội bộ doanh nghiệp, cùng làm việc trong các nhóm đa chức năng, cận kề với các nhà quản trị ở tất cả các lĩnh vực của tổ chức Thay vì tách rời, nhân viên KTQT trong phòng Kế toán, ngày nay các Công ty thường bố trí họ trong các bộ phận hoạt động kinh doanh, để cùng với các nhà quản lý khác ra quyết định và giải quyết các vấn đề kinh doanh
Để thực hiện vai trò của mình, KTQT tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện để trợ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch và xử lý thông tin thực hiện để từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện
kế hoạch Như vậy, KTQT đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông
Trang 178
tin cho quản lý cả trước, trong và sau quá trình kinh doanh
KTQT tiến hành cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự án sản xuất kinh doanh KTQT cung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về đặc điểm của sản phẩm,
cơ cấu sản phẩm sản xuất và phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh cung cấp thông tin về dự toán chi phí cho việc lập kế hoạch và
ra quyết định của các nhà quản lý, KTQT cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động
Ngoài ra, các báo cáo hoạt động định kỳ so sánh kết quả thực tế với mục tiêu dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được sử dụng để làm cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý, và từ đó cung cấp động lực cho các nhà quản lý cố gắng thực hiện tốt công việc của mình
KTQT còn cung cấp thông tin cần thiết nhằm giúp nhà quản lý xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt Các báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, như sản phẩm, dịch vụ, các thị trường tiêu thụ nhằm đảm bảo doanh nghiệp chỉ tiến hành các hoạt động mang lại lợi nhuận KTQT cũng cung cấp thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, hay quyết định ngừng sản xuất hợp lý Các báo cáo đặc biệt giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược, như phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, đầu tư các thiết bị, nhà xưởng mới, đàm phán các hợp đồng dài hạn với nhà cung cấp và khách hàng Trong một số trường hợp đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường
1.2 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí
1.2.1 Khái quát về chi phí và kế toán chi phí
1.2.1.1 Khái niệm chi phí
Chi phí trong hoạt động của doanh nghiệp luôn được xác định là những
Trang 189
phí tổn về vật chất, về lao động gắn liền với mục đích kinh doanh
Về mặt bản chất, chi phí là các hy sinh về lợi ích kinh tế, hay nói một cách
cụ thể hơn, chi phí phản ánh các nguồn lực sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt được một mục đích nào đó Nói cách khác, chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả Kết quả đó có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng, hoặc không phải vật chất như kiến thức, dịch
vụ được phục vụ,…
* Chi phí theo quan điểm KTTC
Đứng trên góc độ bên ngoài doanh nghiệp (đối tượng sử dụng thông tin của KTTC), chi phí là các lợi ích kinh tế bị giảm sút trong kỳ kế toán dưới dạng các luồng tiền ra hoặc tổn thất các tài sản hoặc gánh chịu các khoản nợ và làm giảm vốn chủ sở hữu mà không liên quan đến việc phân phối cho các chủ sở hữu Theo quan điểm này, chi phí được xem xét dưới góc độ một khoản mục trên báo cáo tài chính, nó được ghi nhận tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán và phải liên quan đến một kỳ kế toán nhất định
* Chi phí theo quan điểm KTQT
Mục đích của KTQT là cung cấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, với KTQT không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí như trong KTTC, chi phí còn được nhận thức theo phương pháp nhận diện thông tin quyết định Trên góc độ quản trị doanh nghiệp, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh… Như vậy, trong KTQT, khi nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng từ
1.2.1.2 Khái niệm, chức năng của kế toán chi phí
Kế toán chi phí là một bộ phận của kế toán; thực hiện việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin chi phí để phục vụ cho việc hoạch định (lập kế hoạch), kiểm soát chi phí, ra quyết định kinh doanh, đánh giá kết quả thực hiện
và lập BCTC
Trọng tâm của hệ thống kế toán chi phí là quá trình ghi nhận và phân bổ các khoản chi phí phát sinh cho các sản phẩm và dịch vụ hoàn thành Quá trình
Trang 1910
này sử dụng một loạt phương tiện của kế toán truyền thống như các tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết Kế toán chi phí là phần chung (phần giao) của kế toán KTTC và KTQT Kế toán chi phí giao thoa với KTTC ở chỗ nó cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho việc lập BCTC, và với KTQT ở chỗ cung cấp các thông tin định lượng, các thông tin chi phí cần thiết cho nhà quản trị thực hiện các nhiệm vụ của họ Sự giao thoa của kế toán chi phí với KTQT và KTTC là cơ sở để có thể kết hợp hệ thống KTQT và KTTC trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp
Như vậy có thể kết luận là kế toán chi phí cung cấp thông tin cho cả KTQT và KTTC Kế toán chi phí cung cấp các thông tin về chi phí, giá thành, giá vốn hàng bán phục vụ cho việc soạn thảo các BCTC Kế toán chi phí cũng cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm soát chi phí, ra các quyết định và đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận
1.2.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Qua nghiên cứu các vấn đề về KTQT, chi phí, kế toán chi phí ở trên, tác giả cho rằng bản chất của KTQT chi phí là một bộ phận của KTQT chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định
KTQT chi phí có những đặc điểm sau:
- KTQT chi phí cung cấp các thông tin chi phí cho nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm soát chi phí, ra quyết định và đánh giá kết quả thực hiện
- Thông tin do KTQT chi phí cung cấp có thể là thông tin tài chính hay phi tài chính Trong môi trường kinh doanh hiện đại, các thông tin phi tài chính ngày càng được sử dụng rộng rãi trong quản trị chi phí
- KTQT chi phí tồn tại cùng với KTTC trong hệ thống kế toán doanh nghiệp, có thể tổ chức kết hợp hoặc tách biệt với hệ thống KTTC
- Các báo cáo của KTQT chi phí cung cấp cho nhà quản trị được cung cấp một cách định kỳ hoặc khi phát sinh nhu cầu Các biểu mẫu của KTQT chi phí không mang tính nguyên tắc, pháp lý mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
1.2.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Tương ứng với các chức năng của KTQT, vai trò của KTQT chi phí được
Trang 2011
thể hiện qua các nội dung sau:
- Trong quá trình hoạch định (lập kế hoạch): KTQT chi phí là một trong các nguồn thông tin quan trọng được sử dụng để lập các kế hoạch ngắn hạn cũng như dài hạn Để lập các kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch hàng năm, quý, tháng) nhà quản trị căn cứ vào các định mức chi phí được lập để xây dựng dự toán về chi phí theo từng nội dung, từ đó là cơ sở để xây dựng dự toán tổng thể Thông qua
dự toán sẽ cho phép nhà quản trị tiên liệu, liên kết các nguồn lực để đảm bảo lợi nhuận trong kỳ Các kế hoạch đầu tư dài hạn cũng cần dựa trên các kỹ thuật của KTQT chi phí để xây dựng các kế hoạch đầu tư thỏa mãn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Mục tiêu của doanh nghiệp trong dài hạn là tồn tại với vị thế cạnh tranh trên thị trường, cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính do hệ thống KTQT chi phí cung cấp rất cần thiết cho nhà quản trị trong việc lập kế hoạch dài hạn
- Với chức năng kiểm soát của nhà quản trị: Nhà quản trị cần kiểm soát được các hoạt động của mình theo kế hoạch đã được xây dựng Để thực hiện chức năng này, KTQT chi phí cung cấp các thông tin về thực hiện và kế hoạch dưới các dạng báo cáo so sánh để nhà quản trị có thể nhận ra các điểm sai lệch lớn giữa thực hiện và kế hoạch, từ đó tập trung vào để kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động Chẳng hạn các báo cáo chi phí giá thành theo định mức với số liệu về chi phí thực tế và chi phí theo định mức là cơ sở để nhà quản trị thực hiện việc kiểm soát chi phí
- Với chức năng đánh giá kết quả thực hiện: KTQT chi phí cung cấp các thông tin để nhà quản trị đánh giá được thành quả thực hiện của các bộ phận Các thước đo được sử dụng để đánh giá có thể là các thước đo tài chính hoặc phi tài chính Trong KTQT hiện đại thì các thước đo phi tài chính được sử dụng một cách rộng rãi cùng với các thước đo tài chính trong việc đánh giá kết quả thực hiện
- Với chức năng ra quyết định: Để có cơ sở ra các quyết định nhà quản trị cần có thông tin, trong đó rất nhiều thông tin do hệ thống KTQT cung cấp Chẳng hạn khi nhà quản trị thực hiện các quyết định liên quan đến việc chấp nhận một đơn đặt hàng cụ thể, quyết định loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận/sản phẩm, quyết định về đầu tư dài hạn, thì các thông tin chi phí do hệ thống KTQT chi phí cung cấp là rất cần thiết Các thông tin này phải được xử lý
Trang 21và thực hiện theo các nội dung bao gồm, tổ chức hệ thống chứng từ, tổ chức hệ thống định mức, dự toán và tổ chức nguồn lực thu nhận và tổng hợp thông tin KTQT chi phí
Chứng từ để ghi nhận thông tin ban đầu của KTQT chi phí chủ yếu dựa vào chứng từ của KTTC như các phiếu chi, phiếu xuất kho, các hóa đơn giá trị gia tăng Tuy nhiên, các chứng từ ghi nhận thông tin chi phí của KTQT thường hướng tới tính đầy đủ của chi phí nhằm phản ánh đối tượng chịu chi phí Từ đó
có cơ sở chính xác đưa ra các quyết định tối ưu
Bên cạnh đó, hệ thống ghi nhận thông tin ban đầu của KTQT chi phí còn
có hệ thống định mức, dự toán chi phí kỳ trước nhằm để phân tích và đánh giá tình hình biến động chi phí giữa kỳ hiện tại với kỳ trước, để nhà quản trị có các quyết định thích hợp
Mặt khác, hệ thống thông tin thu nhận ban đầu của KTQT không những mang tính chất định lượng mà còn mang tính chất định tính Tính định tính phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, tư duy, phán đoán của các chuyên gia kế toán nhằm đưa ra các quyết định nhanh, kịp thời để chớp lấy cơ hội kinh doanh
1.3.2 Phân loại chi phí
Dù ở cấp bậc quản trị nào trong tổ chức, nhà quản lý đều phải hiểu được bản chất của chi phí phát sinh trong phạm vi mình quản lý để có thể kiểm soát
và sử dụng chúng như một công cụ nhằm gia tăng kết quả hoạt động
Trên góc độ KTQT, mục đích của KTQT là cung cấp thông tin thích hợp
về chi phí để kịp thời ra quyết định Vì vậy, không giống như KTTC, chỉ đơn
Trang 2213
thuần là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động, vật chất, dịch vụ và được bù đắp bằng thu nhập trong kỳ, mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết chọn lựa phương án tối ưu trong từng tình huống cụ thể, mà ít chú ý hơn vào chứng minh chi phí phát sinh bằng các chứng từ kế toán
Trong luận văn này sẽ trình bày sơ lược một số tiêu thức phân loại chi phí như sau: (1) theo chức năng hoạt động, (2) theo mối quan hệ chi phí với thời kỳ tính kết quả kinh doanh, (3) theo khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng chi phí, (4) theo cách ứng xử của chi phí, (5) theo các cách phân loại chi phí khác nhằm mục đích ra quyết định
1.3.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo cách này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp chia thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất:
Ngoài NVLTT cũng cần nguyên vật liệu gián tiếp (NVL phụ), chúng có thể tham gia cấu thành thực thể của sản phẩm hoặc không nhưng có giá trị nhỏ
và không thể xác định cụ thể, rõ ràng cho từng sản phẩm nên phải đưa vào chi phí SXC để phân bổ sau
+ Chi phí NCTT là chi phí tiền lương của những người lao động trực tiếp chế tạo sản phẩm Chi phí NCTT có thể xác định rõ ràng cụ thể và tách biệt cho từng đơn vị sản phẩm nên được tính thẳng vào đơn vị sản phẩm
Bên cạnh lao động trực tiếp còn có lao động gián tiếp, là những nhân công không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng cần thiết cho quá trình sản xuất của nhân công trực tiếp, như quản đốc phân xưởng, nhân viên bảo trì… Chi phí nhân công gián tiếp phải đưa vào chi phí SXC để phân bổ sau
Ngoài ra, trong cơ cấu chi phí nhân công, còn có khoản mục chi phí thuộc vào chi phí nhân công như: chi phí trong thời gian ngừng sản xuất, chi phí phụ
Trang 2314
trội, chi phí phúc lợi lao động
+ Chi phí SXC là những chi phí cần thiết khác để sản xuất sản phẩm, còn được coi là chi phí sản xuất gián tiếp chi phí SXC thường bao gồm chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí lao động gián tiếp và chi phí SXC khác
b/ Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất: khi tiến hành sản xuất, kinh doanh doanh nghiệp còn phải chịu các chi phí ở ngoài khâu sản xuất, bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí QLDN
+ Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện và đẩy mạnh quá trình lưu thông, phân phối hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng
+ Chi phí QLDN: Là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính, văn phòng làm việc của doanh nghiệp mà không thể xếp vào loại chi phí sản xuất hay chi phí bán hàng Tất cả mọi tổ chức (tổ chức kinh doanh hay không kinh doanh) đều có chi phí quản lý
Theo cách phân loại này sẽ giúp cho việc xác định rõ chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt động; là căn cứ để xác định chi phí sản phẩm sản xuất và tập hợp chi phí; cung cấp thông tin cho lập báo cáo kế toán
1.3.3.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với thời kỳ tính kết quả kinh doanh
Khi xem xét cách tính và kết chuyển chi phí để xác định thu nhập trong từng kỳ hạch toán trong doanh nghiệp, chi phí sản xuất kinh doanh được chia làm hai loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
+ Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sản phẩm, các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành qua các giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất) Chi phí sản phẩm gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí NCTT và chi phí sản xuất chung
+ Chi phí thời kỳ là các chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ gồm chi phí bán hàng, chi phí QLDN Chi phí thời kỳ không tạo lên giá trị hàng tồn kho - tài sản, nên kế toán không ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán mà được kế toán ghi nhận trong Báo cáo kết quả kinh doanh để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ mà chi phí phát sinh
Trang 24+ Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu phí Do vậy, chi phí gián tiếp được phân bổ cho các đối tượng chịu phí bằng các phương pháp phân bổ chi phí
Cách phân loại chi phí này giúp cho việc thực hiện kỹ thuật hạch toán, chi phí khi phát sinh đòi hỏi phải áp dụng phương pháp phân bổ, cùng với đó là việc lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý để cung cấp thông tin chính xác, tin cậy về chi phí của từng sản phẩm, từng hoạt động trong doanh nghiệp Ngoài ra, còn cho biết tính chất của chi phí trực tiếp là có thể tránh được, còn chi phí gián tiếp lại khó có thể trách được, nên rất cần thiết cho nhà quản lý ra quyết định kinh doanh ngắn hạn
1.3.3.4 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Mối quan hệ giữa chi phí và mức hoạt động hay còn gọi là “ứng xử của chi phí”, đóng vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động của doanh nghiệp Theo cách phân loại này chi phí được chia thành chi phí biến đổi, chi phí cố định
và chi phí hỗn hợp
Chi phí biến đổi (hay biến phí) là chi phí thay đổi theo tỷ lệ thuận trên
tổng số, không thay đổi tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động chi phí biến đổi gồm: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng… chi phí biến đổi tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng về cơ bản được chia thành 2 loại: chi phí biển đổi tuyến tính (biến phí tỷ lệ) là chi phí biến đổi có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động; chi phí biến đổi cấp bậc là những chi phí thay đổi chỉ khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng
Trang 2516
Chi phí cố định (hay định phí) là những chi phí không thay đổi xét về tổng
số, thay đổi tỷ lệ nghịch tính trên một đơn vị mức độ hoạt động Chi phí cố định gồm: chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương pháp bình quân, chi phí quảng cáo khuyến mại, chi phí bảo hiểm…Tuy nhiên, cần chú ý tới phạm vi phù hợp để xem xét tính cố định hay biến đổi của chi phí mà ở đây là giới hạn năng lực hoạt động tối thiểu và tối đa trong ngắn hạn của doanh nghiệp Khi mức độ hoạt động vượt khỏi phạm vi phù hợp, định phí có thể xuất hiện những thay đổi đột biến Định phí tồn tại dưới nhiều hình thức ứng xử khác nhau trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng về cơ bản được chia thành hai loại: chi phí cố định cấp bậc là chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động chỉ trong một phạm vi hoạt động thích hợp nào đó Ở đây cần lưu ý tới sự khác nhau cơ bản giữa chi phí biến đổi cấp bậc và chi phí cố định cấp bậc Chi phí biến đổi cấp bậc có thể điều chỉnh rất nhanh khi các điều kiện thay đổi nhưng định phí một khi đã xác định thì cũng ít nhất bị rằng buộc cho đến kết thúc kỳ kế hoạch mới
có thể điều chỉnh được; bậc biến đổi chi phí biến đổi cấp bậc thường rất nhỏ đến nỗi chúng được xem như không có nhưng bậc biến đổi của chi phí cố định rất rộng nên có thể xem như không đổi trong phạm vi phù hợp Chi phí cố định bắt buộc và chi phí cố định tuỳ ý: Các chi phí cố định bắt buộc phát sinh từ việc doanh nghiệp sở hữu các tài sản cố định và cấu trúc tổ chức cơ bản của tổ chức Chi phí cố định vẫn tồn tại dù tổ chức không hoạt động trong thời gian ngắn hoặc bị gián đoạn Các chi phí cố định tùy ý phát sinh từ các quyết định hàng năm của nhà quản lý Chi phí cố định tuỳ ý có thể cắt giảm hàng năm theo yêu cầu hoạt động của tổ chức
Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí Để
hiểu rõ thành phần của chi phí hỗn hợp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để phân tích
* Phương pháp phân tích sử dụng đồ thị phân tán
Phương pháp này đòi hỏi phải thu thập được các mức hoạt động sinh ra chi phí trong các kỳ kinh doanh trước, sau đó biểu diễn chúng trên đồ thị Nhà phân tích vẽ một đường thẳng đi qua trung tâm của những điểm quan sát được trên đồ thị phân tán Đường thẳng này chính là hàm chi phí ước lượng có dạng Y= a + bx
Theo tác giả phương pháp tương đối đơn giản, đòi hỏi phải có các số liệu
Trang 2617
lịch sử nên bước đầu hình thành quan niệm về chi phí cố định và chi phí biến đổi, song hạn chế của phương pháp này là phụ thuộc theo ý chủ quan của nhà phân tích, số liệu lịch sử chỉ phản ánh phần nào thông tin chi phí trong tương lai
* Phương pháp cực đại- cực tiểu
Theo phương pháp này việc phân tích và ước lượng hàm chi phí chỉ dựa vào hai điểm dữ liệu ở mức độ hoạt động thấp nhất và cao nhất trong tập dữ liệu thu thập được Từ đó, xác định các yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định như sau:
CP biến đổi
đơn vị =
Chênh lệch chi phí giữa mức hoạt động
cao nhất và thấp nhất Chênh lệch giữa mức hoạt động cao nhất và thấp nhất
CP cố định = Tổng chi phí – (CP biến đổi đơn vị x Mức hoạt động)
Phương pháp phân tích chi phí này khách quan hơn phương pháp phân tích bằng đồ thị phân tán Tuy nhiên, phương pháp này chỉ dựa vào hai cặp dữ liệu nên không đại diện cho các mức độ hoạt động ở doanh nghiệp
* Phương pháp bình phương nhỏ nhất: Phương pháp bình phương nhỏ
nhất là một phương pháp phân tích thống kê chính xác và tinh vi hơn hai phương pháp trên, sử dụng để xác định đường hồi qui (hàm chi phí) Ý tưởng của phương pháp này là xác định một đường hồi qui từ các số liệu quan sát được sao cho tổng khoảng cách (chính xác là tổng độ lệch bình phương – ei
2
) từ các điểm quan sát đến đường hồi qui là nhỏ nhất
Trang 2718
Đường biểu diễn chi phí hỗn hợp có dạng: Y = a + bX Trong đó Y là chi phí hỗn hợp ước tính, a là yếu tố chi phí cố định và b là yếu tố chi phí biến đổi (đơn vị) và X là mức độ hoạt động Có thể xác định các hệ số a và b trong phương trình biểu diễn chi phí Với n cặp số liệu quan sát được (xi, yi), bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, có thể xác định các hệ số a và b:
i x x
n
i y i x i y i x n
n i x b i
sự biến thiên của chi phí hỗn hợp khá chính xác trong phạm vi hoạt động thích hợp, giúp doanh nghiệp chủ động trong lập kế hoạch, phân bổ, sử dụng nguồn lực Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi kỹ thuật tính toán khá phức tạp
1.3.3.5 Phân loại chi phí phục vụ ra quyết định
a/ Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Phương pháp phân loại này dựa trên khả năng kiểm soát chi phí đối với các nhà quản lý Nếu một nhà quản lý, cấp quản lý có thể kiểm soát hoặc quyết định về một loại chi phí, thì chi phí ấy được gọi là chi phí kiểm soát được bởi nhà quản lý, cấp quản lý đó Ngược lại, chi phí mà nhà quản lý, cấp quản lý không có khả năng kiểm soát hoặc gây ảnh hướng lớn lên nó thì được phân loại
là chi phí không kiểm soát được đối với nhà quản lý, cấp quản lý đó Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí và ra các quyết định xử lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
b/ Phân loại chi phí trong lựa chọn các phương án
Để thành công trong việc ra quyết định, các nhà quản lý cần phân biệt được các chi phí thích hợp và chi phí không thích hợp để có thể tách các chi phí không thích hợp ra khỏi cơ cấu quyết định
Chi phí thích hợp là chi phí có thể áp dụng cho một quyết định có mối
i x b i x a i y i
Trang 2819
liên hệ với phương án được chọn của nhà quản trị Một trong những chi phí thích hợp quan trọng cần xem xét khi lựa chọn các phương án là chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là phần lợi nhuận tiềm năng bị mất đi khi chọn một phương án
này thay vì chọn phương án khác Chi phí cơ hội là khoản chi phí không được theo dõi trên sổ kế toán nhưng lại rất quan trọng đối với việc ra quyết định Khi lựa chọn các phương án hoạt động, ngoài các chi phí được phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, nhà quản lý còn cần phải xem xét chi phí cơ hội của các phương án đó do các nguồn lực của doanh nghiệp có thể được sử dụng theo những cách khác nhau để quyết định lựa chọn phương án tối ưu nhất
Chi phí không thích hợp là loại chi phí có thể bỏ qua khi xem xét chọn lựa phương án hoạt động Chi phí là một nhân tố vô cùng quan trọng đối với mỗi phương án hoạt động nên để có được quyết định lựa chọn phương án đúng đắn cần loại bỏ các chi phí không thích hợp đối với các quyết định đó Một trong những chi phí không thích hợp quan trọng cần xem xét khi lựa chọn các phương án là chi phí
chìm Chi phí chìm là những chi phí đã phát sinh trong quá khứ và không bị ảnh
hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiện tại cũng như tương lai của doanh nghiệp Chi phí chìm là khoản chi phí có trên sổ sách kế toán nhưng là những chi phí giống nhau ở mọi phương án nên nó là chi phí không thích hợp đối với việc ra quyết định và không phải cân nhắc đến khi lựa chọn các phương án
1.3.3 Định mức chi phí và dự toán chi phí sản xuất
1.3.3.1 Khái quát định mức chi phí sản xuất
Định mức chi phí có vai trò quan trọng đối với nhà quản trị, là một thang điểm để đo lường việc thực hiện chi phí trong thực tế sản xuất kinh doanh, góp phần quan trọng trong việc kiểm soát chi phí; ngoài ra, định mức chi phí là cơ sở
để lập dự toán và ra các quyết định của nhà quản trị liên quan đến việc định giá sản phẩm/dịch vụ, từ chối hay chấp nhận một đơn đặt hàng, cũng như thúc đẩy công nhân làm việc với năng suất cao hơn, tiết kiệm vật tư
a Định mức và các loại định mức:
Định mức là chi phí dự tính cần thiết để sản xuất một đơn vị sản phẩm hoặc cung cấp một dịch vụ đơn lẻ Định mức chi phí không chỉ đơn giản là ước tính chi phí mà còn là mục tiêu cần đạt được
Định mức được xây dựng thông qua định mức lượng và định mức giá
- Định mức lượng cho thấy số lượng của các loại chi phí được sử dụng là
Trang 29Định mức chi phí được chia thành hai loại: Định mức lý tưởng và định mức thực tế
- Định mức lý tưởng là định mức chỉ có thể đạt được trong những điều kiện hoàn hảo nhất Chúng không cho phép bất kỳ một sự hư hỏng máy móc hoặc gián đoạn sản xuất Rất ít doanh nghiệp sử dụng định mức tưởng Định mức lý tưởng rất khó thực hiện vì thế nó không tạo động lực thúc đẩy người lao động đạt được định mức Sử dụng nó thường phát sinh chênh lớn giữa thực tế và định mức và việc phân tích sai lệch sẽ không còn ý nghĩa
- Định mức thực tế (định mức có thể đạt được) là định mức đạt được với
sự nỗ lực nhất định Định mức thực tế cho phép có thể xảy ra các sự cố về thiết
bị, có thời gian nghỉ ngơi của người lao động Doanh nghiệp có thể đạt được định mức này với sự nỗ lực của người lao động có trình độ ở mức trung bình, với một hiệu suất cao của thiết bị Định mức thực tế được các doanh nghiệp sử dụng trong lập dự toán cũng như là cơ sở để so sánh với chi phí thực tế đáp ứng việc kiểm soát chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của nhà quản trị và các nhân viên
b Xây dựng định mức cho các khoản mục chi phí
* Định mức chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức chi phí NVLTT là sự tiêu hao của chi phí NVLTT để sản xuất một sản phẩm, được xây dựng thông qua định mức lượng NVLTT và định mức giá NVLTT
- Định mức lượng NVLTT phản ánh lượng NVLTT tiêu hao để sản xuất một sản phẩm Để xây dựng định mức lượng NVLTT cần nắm vững yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm Số lượng nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ… cho nhu cầu sản xuất có bản, lượng nguyên vật liệu hao hụt trong quá trình sản xuấtvcho phép, lượng nguyên vật liệu dành cho sản phẩm hỏng cho phép…, kết hợp với trình độ tay nghề của công nhân Định mức lượng NVLTT thường được xây dựng với từng loại sản phẩm riêng biệt
Trang 3021
- Định mức giá NVLTT là giá nhập kho tính trên một đơn vị NVLTT Được xây dựng căn cứ vào giá mua trên hóa đơn, chi phí thu mua, hao hụt trong quá trình thu mua cho phép, các khoản chiết khấu…
Định mức giá NVLTT do bộ phận thu mua xây dựng thường dựa trên các hợp đồng thu mua đã ký kết hợp với chất lượng nguyên vật liệu, các khoản chi phí phát sinh liên quan, tình hình biến động giá… và quá trình thương lượng giá với nhà cung cấp Trong trường hợp cung một loại vật liệu được thu mua từ nhiều nhà cung cấp với các mức giá khác nhau thì phải xác định giá bình quân
Từ định mức lượng và định mức giá NVLTT, định mức chi phí NVLTT được xác định thông qua công thức sau:
Định mức chi phí
NVLTT = Định mức lượng NVLTT x Định mức giá NVLTT
* Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí NCTT là chi phí NCTT để sản xuất một sản phẩm Cũng giống như định mức chi phí NVLTT, định mức chi phí NCTT được xây dựng căn cứ vào định mức lượng thời gian lao động và định mức giá thời gian lao động
- Định mức lượng thời gian lao động là lượng thời gian cần thiết để tiến hành sản xuất một sản phẩm Khi xây dựng định mức lượng thời gian lao động cần phải tính đến thời gian nghỉ ngơi hợp lý của người lao động, thời gian nghỉ máy, lau chùi máy …
- Định mức giá thời gian lao động là chi phí NCTT cho một đơn vị thời gian của doanh nghiệp (giờ, ngày…) Khi xây dựng định mức giá thời gian lao động phải căn cứ vào bảng lương, các hợp đồng lao động đã ký, trình độ tay nghề, bậc thợ của công nhân Định mức giá thời gian lao động ngoài lương cơ bản còn phải tính các khoản phụ cấp lương, các khoản trích theo lương theo tỉ
Định mức giá thời gian lao động
Trang 3122
* Định mức chi phí sản xuất chung
Chi phí SXC là chi phí hỗn hợp bao gồm nhiều yếu tố mang tính chất biến đổi và cố định Khi xây dựng chi phí SXC theo mức độ hoạt động thường chia thành định mức biến phí SXC và định mức định phí SXC
- Định mức biến phí SXC là biến phí SXC để sản xuất một sản phẩm Nếu biến phí SXC liên quan trực tiếp đến từng loại sản phẩm (chi phí vật liệu phụ, chi phí nhân công gián tiếp …) thì xây dựng định mức biến phí SXC tương tự như định mức chi phí NVLTT và định mức chi phí NCTT
Nếu biến phí SXC liên quan đến nhiều loại sản phẩm thì khi xây dựng phải căn cứ trên định mức chi phí trực tiếp và tỉ lệ biến phí SXC so với chi phí trực tiếp Định mức biến phí
Định mức chi phí trực
Tỉ lệ biến phí SXC so với chi phí trực tiếp Nếu doanh nghiệp xác định được tiêu thức phân bổ chi phí SXC một cách chính xác, khi xây dựng định mức biến phí SXC phải xác định đơn giá biến phí SXC phân bổ
Hệ số phân bổ biến phí
Tổng biến phí SXC ước tính Tổng tiêu thức phân bổ chi phí SXC Định mức biến phí
Mức độ hoạt động bình quân một sản phẩm x
Hệ số phân bổ biến phí SXC
- Định mức định phí SXC là định phí SXC để sản xuất một sản phẩm Định mức định phí SXC thường không thay đổi trong phạm vi phù hợp của quy
mô hoạt động như: lương quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ phân xưởng, chi phí thuê nhà xưởng … Do đó, phải xác định giới hạn hoạt động của doanh nghiệp (tổng mức độ hoạt động, tổng tiêu thức phân bổ chi phí SXC) và đơn giá định phí SXC phân bổ
Hệ số phân bổ định
Tổng định phí SXC ước tính Tổng tiêu thức phân bổ chi phí SXC Định mức định phí
Mức độ hoạt động bình quân một sản phẩm x
Hệ số phân bổ định phí SXC
Từ định mức biến phí SXC và định mức định phí SXC, định mức chi phí SXC được xác định theo công thức:
Trang 321.3.3.2 Xây dựng dự toán chi phí kinh doanh
Dự toán là căn cứ để phân tích giữa kết quả thực hiện so với các dự toán đã xây dựng, từ đó có những thông tin đánh giá về tính kế hoạch của dự toán đã xây dựng hoặc sự thay đổi bất thường của các yếu tố thuộc về điều kiện sản xuất Do đó, tác dụng của dự toán là căn cứ để phê duyệt các quyết toán về nguồn lực sử dụng và cấp phát giúp cho các nhà quản trị chủ động trong việc phân bổ các nguồn nguồn lực, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực
Dự toán về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường được xây dựng từ cấp cơ sở (phân xưởng, đội sản xuất) do các chuyên gia có trình độ chuyên môn trong từng hoạt động sẽ xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh doanh của cơ sở sau đó thông qua các cấp chuyên môn (phòng, ban) đóng góp về tính khả thi của các dự toán và gửi cho cấp cao nhất để xem xét phê duyệt các dự toán Hội đồng quản trị căn cứ trên số liệu chi tiết của cấp dưới gửi lên, kết hợp với chiến lược mục tiêu của doanh nghiệp cũng như năng lực của doanh nghiệp xây dựng lên bảng dự toán có tính thống nhất và khả thi nhất Cuối cùng bảng
dự toán được gửi xuống cấp cơ sở để thực hiện
Khi tiến hành xây dựng hệ thống dự toán các thành phần cần phải căn cứ vào trước hết là định mức chi phí tiêu chuẩn cho một đơn vị kết quả mà doanh nghiệp đã xây dựng, sau đó căn cứ vào điều kiện thực tiễn của quá trình hoạt động kinh doanh, giá cả các yếu tố đầu vào, diện tích mặt bằng thực hiện sản xuất, máy móc thiết bị thực hiện quá trình sản xuất, trình độ của cán bộ công nhân viên thực hiện quá trình sản xuất cũng như kết quả thực hiện của các kỳ trước đó Từ các căn cứ đó, KTQT tiến hành xây dựng hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 3324
Sơ đồ 1 1: Hệ thống dự toán ngân sách
Sơ đồ 1.1 thể hiện mối quan hệ giữa dự toán chi phí sản xuất kinh doanh trong dự toán tổng quát của doanh nghiệp Hệ thống các dự toán chi tiết được lập trên logic số liệu từ dự toán tiêu thụ làm cơ sở cho các dự toán chi phí chi tiết Thông qua hệ thống dự toán doanh nghiệp hoàn toàn chủ động các kế hoạch từng công đoạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và việc huy động nguồn lực cho từng khâu, bộ phận sản xuất
Hệ thống dự toán của doanh nghiệp căn cứ vào mối quan hệ với mức độ hoạt động chia thành dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt Trong đó, dự toán tĩnh là
dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định, dự toán linh hoạt là những dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động khác nhau trong cùng một phạm vi hoạt động Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm:
a/ Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Việc lập dự toán nguyên liệu nhằm mục đích đảm bảo đầy đủ nguyên liệu phục vụ sản xuất và nhu cầu tồn kho nguyên liệu cuối kỳ Một phần của nhu cầu
Trang 34Dự toán chi phí NVLTT được xác định theo công thức:
Dự toán
NVLTT =
Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch x
Định mức chi phí nguyên vật liệu/1 sản phẩm
b/ Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán NCTT trực tiếp được soạn thảo dựa trên dự toán sản xuất Dự toán chi phí NCTT phản ánh toàn bộ tiền lương, tiền công, các khoản trích theo lương của NCTT sản xuất sản phẩm Dự toán chi phí NCTT là căn cứ quan trọng giúp các nhà quản trị chủ động trong việc bố trí nhân lực cho quá trình sản xuất, tránh trình trạng thừa hoặc thiếu lao động Đồng thời sử dụng nguồn lực lao động sao cho đạt hiệu quả cao nhất, đảm bảo môi trường làm việc, khuyến khích tăng năng suất lao động
Nhu cầu về lao động trực tiếp được tính toán dựa trên tổng số lượng sản phẩm cần sản xuất ra trong kỳ và định mức thời gian lao động trực tiếp cần thiết cho một đơn vị sản phẩm Nếu có nhiều loại lao động khác nhau gắn với quá trình sản xuất thì việc tính toán phải dựa theo nhu cầu từng loại lao động
Dự toán chi phí NCTT được xác định theo công thức:
Dự toán
NCTT =
Số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch x
Định mức chi phí NCTT/1 sản phẩm
c/ Dự toán chi phí sản xuấtchung
Chi phí SXC được lập dự toán theo định phí và biến phí SXC, dựa trên đơn giá phân bổ và tiêu thức được lựa chọn để phân bổ chi phí SXC, tiêu thức được chọn phổ biến là thời gian lao động trực tiếp
Như vậy, chi phí SXC bao gồm tất cả các chi phí còn lại ngoài chi phí NVLTT và chi phí NCTT Các chi phí này được chia thành chi phí cố định và chi phí biến đổi
Đối với chi phí SXC biến đổi, cần thiết phải tính hệ số chi phí SXC biến đổi và định mức thời gian cho một đơn vị sản phẩm
Trang 35d/ Dự toán chi phí bán hàng và QLDN
Giống như chi phí SXC, chi phí bán hàng và chi phí QLDN có thể phân chia thành biến phí và chi phí cố định Các khoản mục như hoa hồng bán hàng, chi phí vận chuyển là các khoản biến phí Chi phí khấu hao thiết bị văn phòng, chi phí quảng cáo, lương nhân viên marketing, chi phí kiểm toán, là các định phí đối với mức tiêu thụ của doanh nghiệp Do đó, dự toán chi phí bán hàng và QLDN cũng tương tự như dự toán chi phí SXC
e/ Dự toán linh hoạt
Dự toán linh hoạt là dự toán chi phí theo các mức độ hoạt động có thể xảy
ra Các dự toán linh hoạt rất có ích cho các nhà quản lý trong việc hoạch định, kiểm soát, và đánh giá hiệu quả công việc bằng cách so sánh kết quả thực tế và
số liệu dự toán cho cùng một mức độ hoạt động Dự toán linh hoạt được lập gồm
4 bước cơ bản:
+ Bước 1: Xác định phạm vi phù hợp với đối tượng được lập dự toán + Bước 2: Phân loại chi phí theo cách ứng xử, đối với chi phí hỗn hợp được phân tích thành định phí và biến phí theo phương pháp thích hợp
+ Bước 3: Xác định biến phí đơn vị mức hoạt động dự toán
+ Bước 4: Xây dựng dự toán linh hoạt
Trong thực tiễn, mức hoạt động thực tế thường có sự chênh lệch so với mức hoạt động dự toán Do vậy, khi lập dự toán chi phí kinh doanh, chúng ta thường sử dụng dự toán linh hoạt, dự toán tĩnh không phù hợp với việc phân tích
và kiểm soát chi phí, nhất là chi phí SXC
1.3.4 Trung tâm chi phí
1.3.4.1 Trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong tổ chức, nơi mà nhà quản trị
Trang 3627
bộ phận chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của bộ phận mình Theo đó, căn
cứ vào cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý của doanh nghiệp, trung tâm trách nhiệm gồm các bộ phận sau:
- Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà đầu vào được lượng hoá bằng tiền còn đầu ra thì không lượng hoá được bằng tiền Trung tâm chi phí có thể là một bộ phận sản xuất, một phòng ban chức năng , và nhà quản trị ở các
bộ phận này có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh ở bộ phận mình
- Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà đầu ra có thể được lượng hóa bằng tiền còn đầu vào thì không lượng hóa được bằng tiền Người quản trị của trung tâm doanh thu chỉ chịu trách nhiệm về tích lũy doanh thu và không phải kiểm soát việc thiết lập giá bán hoặc dự toán ngân sách chi phí Trên thực tế, một trung tâm thuần túy về doanh thu không tồn tại
- Trung tâm lợi nhuận là trung tâm trách nhiệm mà người quản trị chịu trách nhiệm cho cả chi phí (đầu ra) và doanh thu (đầu vào), chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra chính là lợi nhuận
- Trung tâm đầu tư là trung tâm trách nhiệm chịu trách nhiệm trong việc tạo ra doanh thu, lập kế hoạch và kiểm soát chi phí Ngoài ra, người quản trị của trung tâm đầu tư có thẩm quyền điều phối, sử dụng, đầu tư tài sản để tìm kiếm mức lợi nhuận cao nhất Sự thành công của nó không chỉ được đo bằng số lợi nhuận tạo ra mà còn là lợi nhuận trong mối tương quan với tổng vốn đầu tư, tức khả năng sinh lời của đồng vốn
1.3.4.2 Xác định trung tâm chi phí
Như đã phân tích ở trên, trung tâm chi phí là một bộ phận của trung tâm trách nhiệm Mỗi một trung tâm chi phí được phân công cho một nhà quản lý phụ trách để giữ cho chi phí không vượt quá mức kế hoạch, đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh Theo đó, trung tâm chi phí thường được hình thành tại các phân xưởng, đội sản xuất, tổ sản xuất gắn với trách nhiệm của Quản đốc phân xưởng, Tổ trưởng tổ sản xuất, Đội trưởng đội sản xuất Người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở bộ phận mình, không có quyền hạn đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn
Đầu vào của trung tâm chi phí là các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất
Trang 3728
như nguyên vật liệu, tiền công, tình hình sử dụng máy móc thiết bị, có thể được đo bằng những thước đo khác nhau Đầu ra của trung tâm là các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất như số lượng và chất lượng sản phẩm, chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Kế toán trách nhiệm của trung tâm chi phí chính là thông qua các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả của từng bộ phận, từ đó xác định trách nhiệm của từng nhà quản trị đối với bộ phận mình quản lý Như vậy, nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm trung tâm chi phí là kiểm soát các khoản mục và yếu tố chi phí phát sinh theo các định mức và dự toán đã xây dựng Lập các báo cáo chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị Phân tích sự biến động của các định mức chi phí NVLTT, NCTT, chi phí SXC Từ đó xác định những nguyên nhân ảnh hưởng và đưa ra các biện pháp nhằm giảm chi phí thấp nhất
Căn cứ vào các nội dung trên, tác giả cho rằng trung tâm chi phí là nền tảng cơ bản của hệ thống xác định các chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động: (1) Lập dự toán chi phí; (2) Phân loại chi phí thực tế phát sinh; (3) So sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn Việc xác định trung tâm chi phí phụ thuộc vào quy trình sản xuất và quy mô của từng doanh nghiệp Xác định đúng các trung tâm trách nhiệm sẽ là cơ sở cho việc tổ chức công tác KTQT để theo dõi được chi phí phát sinh tại từng trung tâm, từ đó xác định đúng giá phí của từng sản phẩm mà nhà quản trị mong muốn
1.3.5 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí
Báo cáo kế toán là kết quả cuối cùng của một quy trình KTQT chi phí, việc xây dựng một hệ thống báo cáo tốt sẽ phản ánh được toàn bộ những kết quả đánh giá và phân tích của bộ phận KTQT chi phí, ngược lại, báo cáo sẽ không thể hiện hết được những ý nghĩa của quá trình ghi chép và tổng hợp số liệu của KTQT chi phí Như vậy, báo cáo KTQT chi phí chính là sự chi tiết hóa thông tin thu nhận được theo các chỉ tiêu phù hợp với nhu cầu sử dụng thông tin của nhà quản trị trong quá trình QLDN Do đó, nội dung, kết cấu và hình thức thể hiện của báo cáo phải thể hiện được các chỉ tiêu mà nhà quản trị yêu cầu theo dõi, phân tích và đánh giá
Từ những lý do trên, việc tổ chức hệ thống báo cáo KTQT chi phí phải khoa học, hợp lý, hiệu quả về mặt chi phí nhưng vẫn phải đảm bảo cung cấp đúng, đủ thông tin cho nhà quản trị
Trang 3829
Trong các doanh nghiệp khác nhau, hệ thống báo cáo KTQT chi phí không nhất thiết phải giống nhau, đây chính là điểm khác biệt quan trọng giữa KTTC và KTQT chi phí Việc khác nhau này phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp, đặc thù sản phẩm và quan trọng là trình độ và nhận thức của các cấp lãnh đạo cũng như nhân viên thực hiện công việc của KTQT Ngoài ra, với tính động của mình, nội dung cũng như yêu cầu của thông tin KTQT chi phí là thay đổi liên tục trong từng kỳ thậm chí là từng nhịp độ sản xuất vì yêu cầu thông tin quản trị là luôn thay đổi
Mặc dù vậy, hệ thống báo cáo KTQT chi phí vẫn có những tư tưởng xuyên suất đó là với những báo cáo chi tiết thường đi sâu vào các bộ phận, các trung tâm trách nhiệm, phân tích và đánh giá từng phần nhỏ trong các công việc thực hiện của doanh nghiệp như phân tích và đánh giá biến động của vật tư, tài sản trong khi những báo cáo KTQT chi phí tổng hợp thường mang tính khái quát, tính dự báo cao hơn Các loại báo cáo KTQT chi phí thường bao gồm những báo cáo sau:
- Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố: Báo cáo này được sử dụng để cung cấp thông tin cho nhà quản trị về tình hình thực hiện chi phí sản xuất sản phẩm
và so sánh giữa dự toán và thực tế sản xuất, thông qua báo cáo này, bộ phận kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp có những đánh giá nguyên nhân chênh lệch chi phí để có biện pháp khắc phục cũng như điều chỉnh dự toán cho các kỳ tiếp theo Cơ sở dữ liệu để lập báo cáo là căn cứ vào thực tế phát sinh chi phí tại các phân xưởng
- Báo cáo sản xuất theo phương pháp bình quân và Báo cáo sản xuất theo phương pháp FIFO: Đây là những báo cáo chi tiết về tình hình chi phí phát sinh tại phân xưởng và kết quả hoàn thành nhằm cung cấp thông tin cho các cấp quản trị để từ đó có các quyết định thích hợp Đây chính là báo cáo mô tả các hoạt động sản xuất diễn ra trong kỳ ở phân xưởng sản xuất nhằm đánh giá trách nhiệm của quản đốc phân xưởng
- Báo cáo giá thành theo sản phẩm và Báo cáo giá thành toàn bộ: Báo cáo này cung cấp tình hình thực hiện chi phí để sản xuất sản phẩm trong doanh nghiệp, với báo cáo giá thành theo sản phẩm cung cấp khái quát các chi phí tham gia sản xuất sản phẩm trong phạm vi phân xưởng nhằm đánh giá trách nhiệm của
bộ phận sản xuất, trong khi báo cáo giá thành toàn bộ cung cấp thông tin đầy đủ
Trang 39- Báo cáo biến động sản phẩm hàng hóa: Báo cáo cung cấp tình hình mua sắm, sử dụng và sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Thông qua báo cáo này, nhà quản trị có thể hình dung khái quát khả năng phát sinh chi phí cũng nhưng nguồn gốc phát sinh chi phí trong doanh nghiệp
- Báo cáo tiến độ sản xuất: Báo cáo cung cấp khái quát tình hình sản xuất
và tiến độ sản xuất của từng sản phẩm, đây là báo cáo quan trọng với các doanh nghiệp sản xuất vì đây là báo cáo khái quát cung cấp thông tin về chi phí sản xuất của sản phẩm
- Báo cáo dự toán vật tư theo kế hoạch sản xuất: Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, bộ phận sản xuất sẽ lập báo cáo lên kế hoạch mua sắm vật tư phục
vụ sản xuất, dựa trên báo cáo này, nhà quản trị sẽ ra quyết định về số lượng vật tư được mua để tránh hiện tượng dư thừa gây tổn thất về chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
- Báo cáo kết quả kinh doanh phân loại theo chi phí, doanh thu: Đây là dạng báo cáo kết quả kinh doanh chi tiết theo từng sản phẩm, từng bộ phận Báo cáo này được lập nhằm đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh doanh của từng loại sản phẩm, từ báo cáo này có thể xác định được với mỗi sản phẩm thì chi phí tại công đoạn nào phát sinh cao nhất để có phương án quản lý chi phí hợp lý hơn
Tùy vào quy mô của từng loại doanh nghiệp cũng như hệ thống dự toán
và định mức chi phí được thiết kế đến đâu mà doanh nghiệp có thể vận dụng một cách linh hoạt các loại báo cáo trên Việc xây dựng hệ thống báo cáo KTQT chi phí có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản trị chi phí sản xuất của doanh nghiệp trong việc tổng hợp, đánh giá và ra các quyết định sản xuất kinh doanh Thông qua các báo cáo này, nhà quản trị có thể biết được thông tin về tình hình sản xuất cũng như sử dụng các khoản chi phí của doanh nghiệp, từ đó có kế
Trang 4031
hoạch điều chỉnh phù hợp cũng như làm căn cứ đánh giá các bộ phận sản xuất giúp nâng cao khả năng kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp của nhà quản trị
1.3.6 Phân tích chi phí để ra quyết định kinh doanh
1.3.6.1 Phân tích mối quan hệ giữa Chi phí - Sản lượng - Lợi nhuận
Trong số các mô hình và công cụ thường được các nhà quản lý sử dụng để phân tích chi phí nhằm phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, mô hình phân tích Chi phí - Khối lượng -Lợi nhuận (CVP) được coi là một công cụ hiệu quả và dễ áp dụng trên thực tế tại doanh nghiệp CVP giúp các nhà quản lý xác định được mối liên hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận trong một doanh nghiệp nhằm làm rõ các những nội dung chính sau:
- Làm rõ các chỉ tiêu, ý nghĩa các chỉ tiêu trong phân tích C-V-P như lợi nhuận gộp đơn vị, tỷ lệ lợi nhuận gộp, cơ cấu chi phí, độ lớn đòn bẩy kinh doanh
- Phân tích điểm hòa vốn, xác định sản lượng, doanh thu và thời gian tương ứng để đạt lợi nhuận kế hoạch, đánh giá các chỉ tiêu an toàn
- Ứng dụng phân tích C-V-P trong việc phân tích các yếu tố giá bán, biến phí, định phí, cơ cấu tiêu thụ ảnh hưởng đến lợi nhuận như thế nào nhằm có được các quyết định đúng đắn về các sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn kinh doanh có lãi, muốn vậy các nhà quản trị cần xác định được tại mức sản xuất và tiêu thụ là bao nhiêu
để doanh thu vừa đủ bù đắp chi phí và doanh nghiệp hoạt động ở mức nào, với giá bán bao nhiêu để tối thiểu là không bị thua lỗ, để trả lời được câu hỏi đó, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích điểm hòa vốn Như vậy, điểm hòa vốn là điểm mà tại đó lợi nhuận bằng không hay Tổng doanh thu Tổng chi phí, Tổng lợi nhuận gộp Tổng định phí
Phân tích điểm hòa vốn cho phép doanh nghiệp xác định ba yếu tố đó là:
Số lượng sản phẩm hòa vốn, doanh thu tiêu thụ tại điểm hòa vốn và thời gian đạt điểm hoà vốn
Để phân tích điểm hòa vốn cần phân loại chi phí thành biến phí và định phí Xác định điểm hòa vốn có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản trị, bởi nó là căn cứ để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh như chọn phương án kinh doanh, chọn cơ cấu tiêu thụ sản phẩm cho hợp lý, xác định mức sản lượng doanh thu để đạt lợi nhuận mong muốn