1.1.Định nghĩa “tục ngữ” Từ trước đến nay, Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ: Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong “Văn học dân gian Việt Nam” năm 1988 thì “
Trang 1MỤC LỤC TrangChương I Khái quát chung về tục ngữ và tục ngữ trong chương trình phổ thông.
1 Khái quát chung về tục ngữ:
1.1 Khái niệm tục ngữ 1.2 Phân loại tục ngữ 1.3 Đặc trưng thể loại 2 Nội dung và thời lượng tục ngữ trong chương trình phổ thông: 2.1 Nội dung và thời lượng 2.2 Nhận xét
Chương II Giảng dạy tục ngữ trong chương trình phổ thông
1 Thực tế giảng dạy tục ngữ ở nhà trường phổ thông. 1.1 Giảng dạy tục ngữ như kinh nghiệm 1.2 Giảng dạy tục ngữ theo lối tán tụng, suy diễn 1.3 Nhầm lẫn giữa tục ngữ với thành ngữ 2 Các phương pháp giảng dạy phù hợp
2.1 Giảng dạy tục ngữ gắn với đặc trưng chung của văn học dân gian 2.2 Giảng dạy tục ngữ gắn với đặc trưng thể loại 2.3 Giảng dạy tục ngữ theo hướng tiếp cận hệ thống
Trang 2Tổng Kết Tài liệu tham khảo
Chương I Khái quát chung về tục ngữ và tục ngữ trong chương trình
Trang 3sách giáo khoa.
1.Khái quát chung về tục ngữ.
1.1.Định nghĩa “tục ngữ”
Từ trước đến nay, Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ:
Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong “Văn học dân gian Việt Nam” năm 1988 thì “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ”
Với Đỗ Bình Trị thì tục ngữ là “những câu nói gọn chắc, xuôi tai”
Vũ Ngọc Phan trong công trình “Tục ngữ ca dao Việt Nam” năm 1965
cũng đã định nghĩa: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lí luận, một công lí, có khi là một sự phê phán”
Theo lối chiết tự, “tục”nghĩa là thói quen lâu đời, còn “ngữ” là lời nói
Từ những cứ liệu trên, khái niệm tục ngữ có thể định nghĩa theo quan
điểm được đánh giá là khá bao quát và sử dụng rộng rãi hiện nay: “Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều nghĩa, kinh nghiệm, được nhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy
và lời ăn tiếng nói hằng ngày”( Bùi Mạnh Nhị- “Tục ngữ”- “Văn học dân gian-
Những công trình nghiên cứu )
Trang 4-Phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất
Tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức lao động của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc Những kinh nghiệm về lao động sản xuất nảy sinh trong quá trình đấu tranh thiên nhiên của nhân dân lao động được đúc kết trong tục ngữ được phổ biến rộng rãi, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian
Trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt, nhân dân tích lũy được nhiều kinh nghiệm về quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu
-Bơ bãi không bằng phải thì.
-Vấy mại thì mưa, bối bừa thì nắng.
-Mây thành vừa hanh vừa giá.
Trong quá trình lao động sản xuất ở các ngành nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, một số nghề thủ công lâu đời, nhân dân cũng đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm Trong đó, những kinh nghiệm về làm ruộng chiếm đa số
Trang 5-Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
-Chim cập cợi, mùa đợi nhau.
-Cơm quanh rá, mạ quanh bờ.
Tục ngữ về lao động sản xuất thể hiện tinh thần sáng tạo của nhân dân trong lao động Song chủ yếu là kinh nghiệm thực tiễn Nhiều kinh nghiệm chỉ phản ánh những biểu hiện cụ thể của những quy luật tự nhiên ở địa phương, từng thời điểm nhất định
- Ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội
Tục ngữ nói về các hiện tượng lịch sử xã hội là bộ phận chủ yếu, phản ánh những tập quán, thị hiếu, cuộc đấu tranh của nhân dân
Một vài ký ức của thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc:
-Ăn lông ở lỗ.
-Con dại cái mang.
-Năm cha ba mẹ.
Tục ngữ Việt Nam chủ yếu phản ánh những đặc điểm sinh hoạt gia đình
và xã hội, sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân trong thời phong kiến.Những tập quán, phong tục trong đời sống nhân dân:
-Dưa La, cà Láng, nem Bảng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Ðầm Sét.
-Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam
-Mồng bày hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu trở về hội Dóng.
Những nét sinh hoạt của nông thôn Việt Nam thời phong kiến ;
-Phép vua thua lệ làng.
-Ðất có lề, quê có thói.
Trang 6trong xã hội phong kiến:
-Một ngưòi làm quan cả họ được nhờ.
-Chết trẻ còn hơn lấy lẽ.
-Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì.
Phản ánh đời sống người lao động và những quan hệ xã hội trong xã hội phong kiến:
-Lấy bát mồ hôi đổi bát cơm.
-Tháng tám đói qua, tháng ba đói chết.
-Bà chúa đứt tay bằng ăn mày xổ ruột.
-Cá lớn nuốt cá bé.
- Thể hiện triết lý dân gian của dân tộc
Tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm sống và lối sống của nhân dân, phản ánh truyền thống tư tưởng và đạo đức của nhân dân lao động, trong đó bao hàm những tư tưởng chính trị xã hội và tư tưởng triết học
Tục ngữ thể hiện chủ nghĩa nhân đạo chân chính của nhân dân lao động
Tư tưởng này biểu hiện trước hết ở những quan niệm về con người
-Người làm ra của, của không làm ra người.
-Một mặt người hơn mười mặt của.
-Người sống của còn, người chết của hết.
Nhiều tục ngữ thể hiện tinh thần đấu tranh của nhân dân lao động chống
áp bức, bóc lột
-Tuần hà là cha kẻ cướp.
-Muốn nói oan, làm quan mà nói.
-Ðược làm vua, thua làm giặc.
Tục ngữ phản ánh khá phong phú những đức tính của nhân dân lao động, thể hiện truyền thống tư tưởng, đạo đức của nhân dân thông qua những nhận
Trang 7suy gẫm rất sâu sắc về hiện thực
-Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo.
-Có công mài sắc có ngày nên kim.
-Ăn lấy chắc, mặc lấy bền.
-Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
-Ðói cho sạch, rách cho thơm.
Ngoài ra tục ngữ là những kinh nghiệm của nhân dân trong đời sống thục tiễn, song, nhiều tục ngữ phản ánh những nhận thức có tính chất duy vật tự phát -Thầy bói nói dựa
“May hơn khôn”, “Túng thì tính” Tuy ngắn gọn nhưng không ai có thể phủ
định rằng câu tục ngữ không có chữ nào dư thừa, và lượng nội dung được truyền tải rất phong phú và có chiều sâu Tục ngữ là kho tàng mà nhân dân là người nắm giữ chìa khóa, do đó nó phản ánh mạnh mẽ quan niệm về thời đại, điều kiện sống và sản xuất của người dân Hơn nữa, tục ngữ còn mang trong mình những kinh nghiệm được ông cha đúc kết từ bao đời, không chỉ giúp hiệu quả công việc được cao hơn mà còn dạy cho con cháu cách đối nhân xử thế Với tính chất hàm súc, tư tưởng của tục ngữ như bị nén chặt dưới hình thức một câu hết sức ngắn gọn Chỉ khi được vận dụng vào lời nói trong những hoàn cảnh cụ thể, tư tưởng của tục ngữ thường đòi hỏi được mở tung ra
Trang 8nhiều” chính là hình ảnh Để truyền tải được lượng nội dung lớn trong hình thức giới hạn, những hình ảnh được chọn lọc sao cho vừa gần gũi với đời sống người dân lao động, vừa gợi lên nhiều lớp nghĩa tùy theo kinh nghiệm cá nhân của mỗi người đọc mà lại dễ hình dung, dễ thuộc và đi sâu vào lòng người hơn là những giáo lí, giáo điều khô khan
Về kết cấu, tục ngữ được chia thành kết cấu logic và kết cấu nghệ thuật Kết cấu logic gồm kết cấu đơn và kết cấu phức Kết cấu nghệ thuật gồm so sánh
và đối xứng, trong đó kết cấu đối xứng xuất hiện khá phổ biến, từ đối xứng từ
loại (“Miệng vào lời ra”, “Liệu cơm gắp mắm”, “Vịt già gà tơ” ) đến thanh điệu (“Chó treo mèo đậy”, “Thầy nào tớ ấy” ) và nghĩa (“Khôn cậy khéo nhờ”, “Tiền phú hậu bần” ) Khác với thành ngữ thuộc loại cụm từ cố định, tục
ngữ thuộc loại đơn vị câu Trong ngôn ngữ, câu là đơn vị được tạo ra trong lời nói nên có tính chất là những kết cấu động chứ không phải là những đơn vị tịnh như từ, cụm từ cố định Song câu của tục ngữ là loại câu quen dùng trong lời nói của một tập thể, một cộng đồng người nhất định, nên nó không như các đơn
vị câu bình thường khác, mà là loại câu cố định về thành phần và cấu trúc, bền vững về ngữ nghĩa
Vần là chất keo nối kết các từ ngữ, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt giữa hình ảnh, nội dung và các vế câu Vần tạo ra sự khác biệt của tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác, và chính đặc trưng đó góp phần cho tục ngữ sống lâu hơn trong đời sống người lao động bình dân Vần bao gồm vần liền, vần cách, vần chính và vần thông Vần liền xuất hiện khi hai âm tiết sát nhau và không có âm
chen giữa: “Ăn vả trả sung”, “Thầy bói nói dựa”, “ Của một đồng công một nén” Trong câu có nhiều âm tiết chen giữa là biểu hiện của vần cách: “Người sống về gạo cá bạo về nước” (1 âm tiết), “Vô tiểu nhân bất thành quân tử” (2
âm tiết), “Việc người thì sáng việc mình thì quáng” (3 âm tiết) Vần chính:
Trang 9“Chết trẻ hơn lấy lẻ” và vần thông- không lặp lại hoàn toàn: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” Tuy nhiên, một câu nói vần có thể không phải là tục ngữ, nhưng
đã là tục ngữ chắc chắn phải có vần
Sự mượt mà của tục ngữ còn được thể hiện ở nhịp Nhịp là chỗ ngừng để phân đoạn các vế câu Thông thường, nhịp được phân theo những cách thức rõ ràng, kết hợp với vần và cấu trúc câu tạo nên một tổng thể cân đối Triều Nguyên đã tổng kết: “ Ở số tục ngữ có gieo vần, vị trí ngừng của nhịp được thể hiện sóng kèm với vần Sự thể hiện thường gặp là, ở mỗi cặp vần (gồm hai tiếng cùng vần, nằm liền hay tách rời nhau), vị trí của nhịp được đặt được đặt sau chỗ gieo vần đầu tiên Đây là quy cách chung của hiện tượng nhịp ở số tục ngữ có gieo vần, bất luận và vần liền, vần cách một tiếng, vần cách hai tiếng, , bất luận đó là những câu tục ngữ có cấu trúc chia hai ba vế cân đối hay có cấu trúc
không cân đối” Có thể kể đến một số cách phân chia nhịp như: 1/1 “ Bún/giá/cá/ruốc”, 2/2 “Đầu chép/mép trôi”, “Bút sa/gà chết”, 3/3 “Xa mỏi chân/gần mỏi miệng”, 2/5 “Đường xa/cái bánh đa cũng nặng”, 2/4 “Đánh đề/ra đê mà ở” Với những câu tục ngữ không gieo vần, nhịp thường nằm giữa câu: “ Chị ngã/em nâng”, “Trai thời loạn/gái thời bình” Nhịp nảy sinh trên cơ
sở kết cấu câu nhiều vế, song ngay cả trong câu chỉ có một vế mà ngữ nghĩa không yêu cầu phải ngắt nhịp trong lời nói, tục ngữ vẫn có xu hướng tạo nên kết
cấu có nhịp điệu “ Thật thà là cha quỷ quái”, “Có thực mới vực được đạo” Ở
những trường hợp trên đã chứng tỏ, cảm xúc nhịp điệu của câu là do yếu tố vần gây ra Vần và nhịp là hai yếu tố tạo nên tính chặt chẽ và cân đối, làm bật lên quan hệ logic giữa các vế, làm bật lên từ và nghĩa trung tâm của câu tục ngữ, đồng thời làm tăng tính biểu cảm, sự nhịp nhàng và độ bám vào trí nhớ Câu tục ngữ tưởng là được nói ra một cách tự nhiên, do hoàn cảnh và tâm hồn, trí nhớ
Trang 10cùng tinh xảo- người ta khó có thể thay thế, thêm bớt gì được.
Cái tinh tế không chỉ toát ra ở hình thức bên ngoài, mà còn đến từ nghĩa
mà câu tục ngữ chuyên chở Tục ngữ có thể có hơn một nghĩa và nghĩa bóng được sử dụng nhiều hơn Câu tục ngữ được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh, mỗi hoàn cảnh lại tương ứng với một nghĩa khác hoặc phát sinh thêm nghĩa mới
Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam dành cho hệ cao
đẳng sư phạm, viết: “Có những câu tục ngữ chỉ có một nghĩa (thí dụ: “Khoai ưa
lạ, mạ ưa quen”, “Một bụi cỏ, một giỏ phân”…) Nhưng bộ phận tục ngữ đa nghĩa chiếm tỉ lệ khá lớn, chất lượng khá cao và là bộ phận tiêu biểu nhất của thể loại này” Nguyễn Xuân Đức trong bài viết “Về nghĩa của tục ngữ” thì cho rằng: “Chúng ta không nên nói tục ngữ có nhiều nghĩa, lại càng không nên nói tục ngữ đa nghĩa Tục ngữ sinh ra để ứng dụng trong cuộc sống, nếu có nhiều nghĩa, hơn thế nữa lại là đa nghĩa thì thật khó vận dụng” […] “Thiết nghĩ, nên nói một cách thận trọng rằng: tục ngữ xét trên văn bản có từ một đến hai nghĩa, nhưng xét trong môi trường ứng dụng, tức là môi trường lưu truyền và tồn tại đích thực, thì với mỗi lần phát ngôn chỉ có một nghĩa (có thể là nghĩa đen hay nghĩa bóng) - tức là nghĩa đang được ứng dụng theo mục đích phát ngôn”
II Nội dung và thời lượng tục ngữ trong chương trình phổ thông.
Chương trình khẳng định việc lấy sáu kiểu văn bản làm trục đồng quy:
Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh và điều hành.Do yêu cầu của hướng tích hợp nên các văn bản được lựa chọn càng trở nên quan trọng trong việc thể hiện kiến thức của ba phân môn Văn , Tiếng Việt và Tập làm văn
Trang 11Chính vì thế chương trình đã sắp xếp tác phẩm theo thể loại Điều này tạo ra sự thuận lợi nhất định đối với việc sắp xếp tác phẩm VHDG Bởi vì, tác phẩm VHDG cần thiết và phải tìm hiểu dựa trên cấp độ thể loại
Trong đó trọng tâm của chương trình lớp 7 là các văn bản biểu cảm và lập luận nên phần VHDG cũng có mặt ca dao và tục ngữ, Và do đó, diện mạo của VHDG nói chung và thể loại tục ngữ nói riêng đã được phác thảo tương đối đầy đủ , dù là nét sơ lược nhất
Nhìn chung, chương trình hiện hành đã có tính kế thừa đối với chương trình cũ, tiếp thu những phần kiến thức cơ bản và quan trọng , đồng thời cũng
có sự phát triển (thể hiện ở sự lựa chọn các văn bản, định hướng tìm hiểu văn bản )
THCS -Tục ngữ về thiên nhiên và
lao động sản xuất-Tục ngữ về con người, gia đình và xã hội
1tiết
1tiếtTHPT
Trang 12-Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất.
-Tục ngữ về con người, gia đình và xã hội
Nếu chỉ xét đơn thuần về nội dung, cách tuyển chọn này dễ bị trùng lập vì một chùm bài tục ngữ được dạy và học chỉ có chung một đề tài Nhưng nếu xét
về hình thức nghệ thuật thì cách tuyển chọn này lại rất hay bởi thông qua việc giảng dạy sẽ làm học sinh thấy được sự sáng tạo của quần chúng lao động Việt Nam: viết về cùng một chủ đề nhưng lại có nhiều phương thức thể hiện hết sức phong phú, đa dạng
VHDG nói chung và phần tục ngữ nói riêng trong chương trình Ngữ văn
10 là sự tiếp nối chương trình của cấp THCS Học sinh được gặp lại một số thể loại ở chương trình của cấp THCS với các văn bản mới, gần gũi với tâm lý và trình độ tiếp nhận của mình So với cấp THCS, cả thảy VHDG chương trình Ngữ văn 10 tập trung chủ yếu ở học kì 1( kéo dài 19 tuần), được phân bố từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 11 Giảng dạy phần tục ngữ đạo đức, lối sống(Ngữ văn
10 , Nâng cao) thông qua tìm hiểu tri thức tục ngữ về lối ứng xử trong sự giao thoa văn hóa, mở rộng thêm tri thức về tục ngữ và lối ứng xử trong sự giao thoa văn hoc dân tộc
Chương II Giảng dạy tục ngữ ở trường phổ thông.
1 Thực tế giảng dạy tục ngữ ở nhà trường phổ thông.
Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng giảng dạy, chúng tôi đã đến trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai để khảo sát học sinh khối 11 Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 3 lớp : Lớp 11 Toán, Lớp 11 TN1, Lớp 11 Văn
Dưới đây là bảng thống kê và số liệu thu được
Bảng thống kê các phương pháp giảng dạy tục ngữ của giáo viên
dạy như kinh
Chẻ nhỏ từng câu chữ/
Giảng dạy gắn với dị
Phương pháp khác/
Trang 13nghiệm/ phần trăm
phần trăm bản/ phần trăm phần trăm
Từ bảng số liệu trên, chúng tôi vẽ biểu đồ:
Biểu đồ tỉ lệ các phương pháp giảng dạy ở lớp 11 Toán
Biểu đồ tỉ lệ các phương pháp giảng dạy ở lớp 11 TN1
Trang 14Biểu đồ tỉ lệ các phương pháp giảng dạy ở lớp 11 Văn
Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy giảng dạy tục ngữ như kinh nghiệm và phương pháp chẻ nhỏ câu chữ để phân tích, tán tụng chiếm tỉ lệ khá cao Cụ thể
+Phương pháp giảng dạy như kinh nghiệm: lớp 11 Toán có 22/40 học sinh, (chiếm 55%), lớp 11TN1 có 15/40 học sinh (chiếm 37.5%) và lớp 11 Văn
có 10/40 học sinh (chiếm 25% ) cho rằng giáo viên giảng dạy tục ngữ như kinh nghiệm
+Phương pháp giảng dạy chẻ nhỏ câu chữ để phân tích, tán tụng: Lớp 11 Toán có 10/40 học sinh (chiếm 25%), Lớp 11 TN1 có 18/40 học sinh (chiếm 45%), lớp 11 Văn có 14/ 40 học sinh (chiếm 35%) cho rằng giáo viên đã sử dụng phương pháp này để giảng dạy
Bên cạnh đó, phương pháp dạy học phù hợp như giảng dạy gắn với dị bản lại ít được sử dụng: Chỉ có lớp 11 Văn với 8/10 học sinh (chiếm 20%) và lớp 11 TN1 với 2/40 học sinh (chiếm 5%) cho rằng giáo viên đã vận dụng phương pháp này
Như vậy, các phương pháp giảng dạy tục ngữ ở trường phổ thông còn theo lối cũ và chưa phù hợp Trong khi đó phương pháp dạy học khác hay dạy học gắn với dị bản cũng ít được sử dụng
1.1 Giảng dạy tục ngữ như kinh nghiệm chứ không phải như một thể loại văn học.
Trang 15Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh được đúc kết từ kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên, lao động sản xuất, con người và xã hội Bản thân tục ngữ cũng đã mang tính kinh nghiệm, nó được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, và khi tiếp nhận thì con người đều coi đó là kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết để truyền lại cho thế hệ sau Chính vì tục ngữ rất quen thuộc, dễ tiếp nhận nên người dạy và người học rất dễ bị nhầm lẫn , xem tục ngữ như là một kinh nghiệm chứ không phải một thể loại của văn học dân gian.
Bản thân người giáo viên khi tiếp nhận văn học dân gian nói chung và tục ngữ nói riêng đã tiếp nhận kinh nghiệm trong các câu tục ngữ bằng chính kinh nghiệm của mình Như vậy giáo viên sẽ dễ truyền đạt, có thể lồng ghép vào các câu chuyện kể về những kinh nghiệm làm cho tiết học sinh động Sở dĩ có khuynh hướng giảng dạy và phân tích tục ngữ như thế là vì những người giảng dạy và nghiên cứu tục ngữ theo khuynh hướng này không nhận rõ đặc trưng thể loại của tục ngữ
Ví dụ:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”.
Câu tục ngữ được đúc kết từ kinh nghiệm trông sao đoán thời tiết đã có từ lâu của ông cha ta, nó được áp dụng thường xuyên trong sản xuất nông nghiệp
và trong sinh hoạt Nắm được thời tiết để chủ động sắp xếp công việc Vì vậy,
Trang 16khi dạy những câu tục ngữ như thế này thì giáo viên sẽ giảng dạy như một kinh nghiệm để các em dễ hiểu, dễ tiếp nhận.
1.2 Giảng dạy tục ngữ theo hướng tán tục suy diễn.
Khuynh hướng này chịu ảnh hưởng khá đậm của phương pháp truyền thống trong việc phân tích văn chương Đó là lối tán tụng “chẻ sợi tóc làm tư” rất tùy hứng
Phân tích câu tục ngữ: “nhất thì, nhì thục” có người cho rằng: “thì, thục”
mang ý nghĩa tính nết, đạo đức Thực chất câu tục ngữ này mang ý nghĩa về lao động, sản xuất “Thì” ở đây được hiểu là thời vụ, “thục” được hiểu là công việc làm đất Vì vậy khi giảng dạy theo hướng tán tụng suy diễn sẽ làm lệch hướng
so với cảm hứng chủ đạo của câu tục ngữ, dễ làm cho chỉnh thể tác phẩm bị cắt
Số học sinh cho rằng thành ngữ giống tục ngữ/ phần trăm
Số học sinh có ý kiến khác/ Phần trăm
Trang 17Từ bảng số liệu, chúng tôi vẽ thành biểu đồ:
Biểu đồ về tỉ lệ học sinh nhầm lẫn giữa thành ngữ và tục ngữ
Dựa vào bảng thống kê và biểu đồ, ta có thể thấy được, tỉ lệ học sinh nhầm lẫn tục ngữ và thành ngữ khá cao Cụ thể là:
+Lớp 11 Toán có số học sinh không phân biệt được tục ngữ và thành ngữ cao nhất, đến 18/40 học sinh, chiếm 45%
+Lớp 11 TN1 có 15/40 em nhầm lẫn giữa thành ngữ và tục ngữ, tỉ lệ này cũng khá cao, chiếm 37.5 %
+Lớp 11 Văn cũng có 1 trường hợp nhầm lẫn, chiếm 2.5%
Vì 11 Toán và 11TN1 là hai lớp học theo chương trình cơ bản môn Ngữ Văn nên các em không được chú trọng nhiều Hơn nữa, trong chương trình lớp 10
cơ bản không có bài nào về tục ngữ, các em chỉ được học ớp lớp 7 mà thôi Do
đó, sự mai một về kiến thức và sự nhầm lẫn giữa thành ngữ và tục ngữ là điều khó tránh khỏi
Riêng lớp 11 V, dù là lớp chuyên nhưng vẫn có trường hợp nhầm lẫn
Thành ngữ, tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, là di sản ngôn ngữ, tri thức, kinh nghiệm vô cùng quý báu của dân tộc
Thành ngữ là tập hợp những từ cố định đã quen dung mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó
Ví dụ:
Trang 18“ rán sành ra mỡ”
Tục ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân Đồng thời là một câu hoàn chỉnh, diễn tả trọn vẹn một ý, mang trong mình cả ba chức năng cơ bản của văn học là chức năng nhận thức, chức năng thẩm mĩ và chức năng giáo dục
Ví dụ:
“ Đói cho sạch, rách cho thơm”
“ Một giọt máu đào hơn ao nước lã”.
“ Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”
Vì sự giống nhau giữa tục ngữ và thành ngữ đều là sản phẩm của nhận thức của nhân dân nên khi giảng dạy giáo viên dễ bị nhầm lẫn hoặc sẽ bỏ qua không phân biệt rõ ràng nên học sinh dễ nhầm lẫn
2 Các phương pháp giảng dạy phù hợp:
2.1 Giảng dạy tục ngữ theo đặc trưng chung của văn học dân gian.
Văn học dân gian được phân chia thành nhiều thể loại Trong các thể loại
đó, nếu sử thi gồm những tác phẩm đồ sộ với dung lượng lớn thì tục ngữ lại là những tác phẩm rất ngắn gọn và hàm súc Nhưng dù ngắn hay dài, các thể loại này đều nằm trong hệ quy chiếu của văn học dân gian Nằm trong hệ thống đó, các thể loại văn học dân gian nói chung, tục ngữ nói riêng đều mang trong mình những đặc trưng chung của văn học dân gian Chính vì vậy, khi giảng dạy tục ngữ ở nhà trường phổ thông, chúng ta không thể nào tìm hiểu tục ngữ mà không gắn với đặc trưng của văn học dân gian
Trang 192.1.1 Giảng dạy tục ngữ gắn với tính biến đổi của văn học dân gian
Văn học dân gian được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng trong tập thể Có nhiều hình thức truyền miệng khác nhau như kể, ngâm, hát đối đáp…
Và trong quá trình truyền miệng đó, không thể tránh khỏi sự biến đổi về từ ngữ, giọng điệu ,…để phù hợp với hoàn cảnh diễn xướng tác phẩm Chính vì vậy, dù
cố ý hay vô tình, truyền miệng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhiều dị bản Chúng ta không thể nào khẳng định văn bản này là bản chính, văn bản kia
là bản phụ vì mỗi dị bản đều có lý do riêng để tồn tại Tác phẩm nào được sử dụng càng nhiều thì càng tạo ra nhiều dị bản Và tục ngữ , thể loại được dùng khá phổ biến trong đời sống con người không nằm ngoài sự biến đổi này
Khi giảng dạy tục ngữ ở nhà trường phổ thông, ngoài văn bản trong sách giáo khoa, giáo viên cần mở rộng thêm các câu tục ngữ cùng đề tài với văn bản
đó để học sinh vừa tìm hiểu khái quát về câu tục ngữ, vừa có cái nhìn chi tiết về cách mà người Việt dùng ở nhiều đề tài khác nhau Qua đó, học sinh có được cái nhìn đa diện, nhiều chiều
Chẳng hạn , chương trình Ngữ Văn lớp 7 có các câu:
-“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
-“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”
Trang 20*Giảng dạy gắn với tính biến đổi:
Ở tiết trước, giáo viên dặn dò học sinh về nhà sưu tầm những câu tục ngữ gần giống như những câu trên để tiết này lên trình bày
Hoạt động 1: Phần thi “ai nhanh hơn”:
Hoạt động này chia lớp thành 4 nhóm, cho học sinh thảo luận trong 3 phút , sau đó cử đại diện lên viết thật nhanh (trong vòng 30s) những dị bản mà các
em sưu tầm được Đội nào viết được nhiều hơn thì đội đó thắng
Sau đó, giáo viên chọn lọc những đáp án đúng và cung cấp thêm những dị bản (nếu có):
Ví dụ:
*Với câu : “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”
Các dị bản: