1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị

93 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 602,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một bộ phận của ngành công nghiệp chế biến, ngành công nghiệp dùng nguyên liệu nông nghiệp nông sản, lâm sản, thực hiện các hoạt động bảo qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Giáo viên hướng dẫn: TS HÀ XUÂN VẤN

Huế - Năm 2015

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục bảng biểu vii

Danh mục biểu đồ viii

Danh mục các từ viết tắt ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu .2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Kết cấu đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN 5

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN 5

1.1.1 Khái niệm công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông, lâm sản 5

1.1.2 Nội dung, đặc điểm phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản 7

1.1.3 Vai trò của công nghiệp chế biến nông, lâm sản .11

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản 15

1.1.5 Tiêu chí đánh giá sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản .21

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN 22

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở một số nước trong khu vực 22

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

1.2.2 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản ở một số

địa phương trong nước 26

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản cho thị xã Quảng Trị 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 32

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33

2.2.3 Thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu 39

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ .40

2.2.1 Tình hình phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị 40

2.2.2 Đánh giá công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị qua phiếu điều tra 46

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 61

2.3.1 Thành tựu 61

2.3.2 Hạn chế 62

2.3.3 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết 65

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 69

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ 69

3.1.1 Phương hướng phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị 69

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG,

LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ .71

3.2.1 Hoàn thiện quy hoạch và tổ chức thực hiện tốt các quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn .71

3.2.2 Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn 72

3.2.3 Đổi mới các chính sách tài chính, tín dụng nhằm hỗ trợ và tăng cường cho các cơ sở sản xuất - kinh doanh chế biến nông, lâm sản trên địa bàn 73

3.2.4 Khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất - kinh doanh chế biến nông, lâm sản đổi mới công nghệ trong quá trình sản xuất 75

3.2.5 Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ sở sản xuất - kinh doanh chế biến nông, lâm sản 75

3.2.6 Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm 77

3.2.7 Phát triển đa dạng loại hình sản xuất - kinh doanh 78

3.2.8 Tăng cường vai trò quản lí của Nhà nước, bổ sung và hoàn thiện các chinh sách về hỗ trợ đối với các cơ sở sản xuất - kinh doanh chế biến nông, lâm sản trên địa bàn 80

3.2.9 Phát triển công nghiệp chế biến gắn với việc bảo vệ môi trường 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tỷ trọng của CNCB trong GDP ở Malaysia 26

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế của thị xã Quảng Trị 35

giai đoạn 2011 - 2014 35

Bảng 2.2: Số lượng, cơ sở chế biến nông, lâm sản ở một số Phường, xã của Thị xã Quảng Trị, Tỉnh Quảng Trị năm 2014 41

Bảng 2.3: Số lượng cơ sở mở rộng quy mô sản xuất chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị 43

Bảng 2.4: Diện tích mặt bằng, nhà xưởng trên 50m2 của các nghề chế biến 44

nông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị giai đoạn 2010 - 2014 .44

Bảng 2.5: Sản lượng của ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị giai đoạn 2010 - 2014 .45

Bảng 2.6: Bảng thống kê phiếu điều tra 46

Bảng 2.7: Số lượng cơ sở chế biến nông, lâm sản có sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn thị xã Quảng Trị 47

Bảng 2.8: Tình hình lao động của các cơ sở công nghiệp chế biến nông, 48

lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị 48

Bảng 2.9: Tình hình nguồn vốn sản xuất của các cơ sở chế biến nông sản 50

trên địa bàn nghiên cứu 50

Bảng 2.8: Tình hình phát triển thương hiệu của các cơ sở chế biến 51

nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị năm 2014 .51

Bảng 2.9: Tỉ lệ thị trường nguyên liệu đầu vào của các cơ sở chế biến nông, 53

lâm sản ở thị xã Quảng Trị .53

Bảng 2.10: Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở chế biến nông, 54

lâm sản ở thị xã Quảng Trị 54

Bảng 2.11: Hình thức đưa sản phẩm ra thị trường của các cơ sở chế biên nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị 55

Bảng 2.12: Tình hình áp dụng khoa học - kỹ thuật vào công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị 57

Bảng 2.13: Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của cơ sở chế biến nông, 58

lâm sản ở thị xã Quảng Trị năm 2014 58

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một trong những nội dungquan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Thực tiễn chỉ ra rằng, một số nước trên thế giới nhờ tiếnhành phát triển công nghiệp chế biến (các nước đi trước như Anh, Pháp, Mỹ, Đức các nước đi sau như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore ) đã thúc đẩy các ngành kinh tếquốc dân, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao Nông nghiệp là nền tảng, tạo đà chocông nghiệp và các ngành khác phát triển Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưnghiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay rất thấp mà nguyênnhân chủ yếu là do công nghiệp chế biến của nước ta chưa phát triển tương xứng vớiyêu cầu của sự phát triển nông nghiệp

Thị xã Quảng Trị là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phía nam của tỉnh QuảngTrị, là một thị xã phát triển chủ yếu về nông nghiệp (diện tích đất nông nghiệp chiếm78,91% tổng diện tích tự nhiên) với nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nôngnghiệp như đất đai màu mỡ thuận lợi cho trồng lúa, trồng cây lâm nghiệp Những nămqua, thị xã Quảng Trị rất chú trọng phát triển công nghiệp chế biến và bước đầu đã đạtđược một số thành tựu đáng ghi nhận Tuy nhiên, xét một cách tổng thể nhất thì sựphát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở Thị xã Quảng Trị vẫn còn tồn tạinhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng mà thị xã có được Đó là quy mô nhỏ lẻmanh mún, một số cơ sở hoạt động cầm chừng không ổn định, chưa hình thành đượccác khu, cụm công nghiệp chế biến sản xuất chủ yếu mang tính thủ công việc áp dụng

kỹ thuật mới còn nhiều hạn chế Đây là vấn đề đang được các cấp chính quyền và nhândân của thị xã quan tâm, cho nên việc tìm ra các giải pháp thúc đẩy sự phát triển côngnghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn Thị xã Quảng Trị là yêu cầu bức thiết tronggiai đoạn hiện nay [15, 87]

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và viết về vấn đề phát triển công nghiệp chế biến

ở nhiều góc độ khác nhau như:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

- “Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến thủy sản

xuất khẩu tỉnh Khánh Hòa”, Nguyễn Thị Kim Anh, Luận án tiến sĩ kinh tế năm (2002).

- "Phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản theo định hướng xuất khẩu tại

Đà Nẵng" của ThS Nguyễn Thị Thu Hương, Luận văn thạc sỹ năm (2008).

- "Phát triển thể chế giao dịch nông sản ở Việt Nam" của ThS Bảo Trung, năm

(2009)

- "Đánh giá rủi ro phá sản của các doanh nghiệp chế biến thủy sản đang niêm yết

trên thị trường chứng khoán Việt Nam" (đồng tác giả), tạp chí khoa học công nghệ

thủy sản, số 2/2010

- “Phát triển công nghiệp chế biến dừa tỉnh Bình Định” của Phạm Văn Bình, luận văn

thạc sĩ kinh tế năm (2011)

- “Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Giang”, của

Ngô Thị Thơm, luận văn thạc sĩ kinh tế năm (2011)

- "Phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở tỉnh Gia Lai", của Nguyễn Qúi Thọ,

Luận văn thạc sĩ kinh tế năm (2011)

- "Lan tỏa xuất khẩu từ FDI đến ngành công nghiệp chế biến ở Việt Nam", của

ThS Phạm Thế Anh, Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 263, tr 11–19 (2012)

Tuy nhiên chưa có đề tài trực tiếp nghiên cứu phát triển công nghiệp chế biếnnông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài: "Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị

" làm luận văn thạc sỹ của mình.

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.

2.1 Mục tiêu.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn luận văn khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng

từ đó đề xuất những giải pháp về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở thị

xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ.

- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về công nghiệp chế biến nông, lâm sản

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

lâm sản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2010 - 2014;

- Đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển công nghiệp chếbiến nông, lâm sản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đến năm 2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển công nghiệp chế biến nông,lâm sản,bao gồm tiểu thủ công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Về không gian: thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị

- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâmsản giai đoạn 2010 - 2014; Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển đến 2025

- Nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về công nghiệp chế biến nông, lâmsản (bao gồm tiểu thủ công nghiệp chế biến nông, lâm sản) gồm: Chế biến sản phẩmnông nghiệp, chế biến sản phẩm lâm sản, gồm những nghề có số lượng nhiều, doanhthu cao, sử dụng nhiều lao động, của thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, không nghiêncứu ngành công nghiệp chế biến thủy sản vì quy mô nhỏ, vị trí địa lý không thuậnlợi, không nghiên cứu phong tục tập quán và văn hóa của người dân nơi đây

4 Phương pháp nghiên cứu.

4.1 Phương pháp chung.

Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta để tiếpcận đối tượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm khách quan, toàn diện, pháttriển và hệ thống

Mác-Lê-4.2 Phương pháp cụ thể.

- Phương pháp thu thập thông tin

+ Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các sách tham khảo chuyên ngành, các vănbản, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Quảng Trị năm 2013, 2014 Niêngiám thống kê thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị năm 2013 ; từ các nguồn tài liệukhác nhau như: Internet, tạp chí chuyên ngành, các đề tài khoa học, luận án, luận văn,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

liên quan đến công nghiệp chế biến nông, lâm sản

+ Số liệu sơ cấp: Tác giả đã khảo sát với 100 phiếu điều tra hộ nông dân và cơ

sở chế biến nông lâm sản có nghề chế biến nông, lâm sản phát triển lớn nhất thị xãQuảng Trị, cụ thể trong 100 phiếu khảo sát có 20 phiếu ở xã Hải Lệ, 20 phiếu ởphường An Đôn, 20 phiếu ở Phường 1, 20 phiếu ở Phường 2, 20 phiếu ở Phường 3

- Phương pháp phân tích thống kê

Khi đã thu thập được số liệu sơ cấp tác giả phân chia thành các nhóm,chọn ranhững vấn đề liên quan với nhau sau đó tính số phiếu, tỷ lệ phần trăm, lập bảng, vẽbiểu đồ Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu có sẵn về thực trạng để phục vụ nghiêncứu

- Ngoài ra đề tài này còn làm tư liệu cho những người quan tâm,

Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển công nghiệp chế biến nông, lâmsản ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị

Ngoài ra còn có sơ đồ, biểu đồ, phụ lục

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN

1.1.1 Khái niệm công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông, lâm sản

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội cho thấy sự hình thành và phát triểncông nghiệp chế biến gắn với phân công lao động xã hội dưới tác động của sự pháttriển lực lượng sản xuất Phân công lao động xã hội đã phân chia nền sản xuất xã hộithành nhiều ngành nghề khác nhau, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, phát triển Sản xuấthàng hóa càng phát triển, phân công lao động xã hội càng sâu sắc, nó diễn ra ngaytrong nội bộ từng ngành sản xuất, hình thành những ngành kinh tế độc lập Trong tácphẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga " Lênin đã chỉ rõ "[2,99] Sự phâncông lao động xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hóa Công nghiệp chế biến tách khỏicông nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó là chia thành nhiều loại nhỏ,chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hóa, những sản phẩm đặc biệt và đem trao đổivới tất cả các ngành sản xuất khác" [18, 87]

C Mác chia sản phẩm do xã hội sản xuất thành hai loại: tư liệu sản xuất và tưliệu tiêu dùng Trên cơ sở đó, nền sản xuất xã hội được chia thành hai khu vực: Sảnxuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng

Phát triển quan điểm của C.Mác, Lênin khi phân tích khu vực của nền sản xuất

xã hội, đã phân chia các ngành của nền kinh tế thành hai khu vực

 Khu vực I:

- Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất

- Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu tiêu dùng

 Khu vực II:

- Các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng

Với cách chia như trên,công nghiệp chế biến nông, lâm sản thuộc nhóm thứ baTrong quá trình chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta, để đáp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

ứng yêu cầu của công tác quản lý phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, việc phân loại cácngành trong nền kinh tế quốc dân trong đó có ngành công nghiệp, đã được tiếp cậntheo quan điểm mới Theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của chínhphủ ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân Việt Nam [9,99] và quyết định số:337/QĐ-BKH ngày 10/07/2007 của Bộ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc banhành quy định nội dung hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam bao gồm cấp I, cấp II,cấp III, cấp IV và cấp V Cấp I gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; khaikhoáng; công nghiệp chế biến chế tạo; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng,hơi nước và điều hòa không khí; cung cấp nước, họat động quản lý và xử lý rác thải,nước thải; xây dựng; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động

cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống Với cách phân loại này, côngnghiệp chế biến là một ngành kinh tế độc lập, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất nhưcông nghiệp thực phẩm, công nghiệp dệt và may mặc, công nghiệp đồ gỗ, công nghiệpgiấy và in, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp luyện kim, chế biến các khoáng sảnkhông phải kim loại, công nghiệp chế tạo máy và công cụ kim loại [13,86]

Qua đó, ta có thể hiểu rằng công nghiệp chế biến là một ngành kinh tế độc lập,

bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất, có đặc trưng làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu ( sản phẩm của khai thác, trồng trọt, chăn nuôi) thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục biến thành sản phảm cuối cùng, từ đó làm tăng giá trị của nguyên liệu nguyên thủy và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người.

Từ quan niệm nói trên về công nghiệp chế biến, công nghiệp chế biến nông, lâmsản là một bộ phận hợp thành của công nghiệp chế biến thực hiện các hoạt động bảoquản, giữ gìn, cải biến và nâng cao giá trị sử dụng của nguyên liệu từ nông, lâm, thôngqua quá trình cơ nhiệt hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường

Như vậy công nghiệp chế biến nông, lâm sản là một bộ phận của ngành công nghiệp chế biến, ngành công nghiệp dùng nguyên liệu nông nghiệp (nông sản, lâm sản), thực hiện các hoạt động bảo quản, giữ gìn, cải biến và nâng giá trị sử dụng của nguyên liệu nông, lâm nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

1.1.2 Nội dung, đặc điểm phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản

1.1.2.1 Nội dung của phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản

Công nghiệp chế biến nông, lâm sản bao gồm một số ngành sản xuất chínhnhư: Chế biến sản phẩm trồng trọt: Xay xát gạo, chế biến tinh bột sắn, nấu rượu, chếbiến cafê, chế biến than từ võ trấu, chế biến tinh bột nghệ, ép dầu lạc, làm bún Chếbiến sản phẩm lâm sản: sản xuất các sản phẩm từ gỗ rừng trồng, làm than, chế biến thủcông mỹ nghệ

Phát triển về quy mô của công nghiệp chế biến nông, lâm sản

Theo quan điểm của nhà kinh tế học hiện đại về các mô hình kinh tế phát triểncông nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến nông, lâm sản cần phải tổ chức sản xuất

cả về chiều rộng và chiều sâu

- Chiều rộng: Tổ chức sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm sản theo chiềurộng bao gồm nguồn vốn lớn, sản lượng đảm bảo tiêu chuẩn quy định

- Chiều sâu: Được hiểu một cách khái quát, ngoài tổ chức sản xuất theo chiềurộng, đòi hỏi phải theo chiều sâu Nghĩa là chú ý về chất lượng mẫu mã, thành phầnđáp ứng nhu cầu của con người

Tăng năng lực sản xuất của công nghiệp chế biến nông, lâm sản

Khả năng sản xuất của công nghiệp chế biến nông, lâm sản thể hiện qua sự chếbiến hết nguồn nguyên liệu hiện có Đồng thời tận dụng phế phẩm, tiết kiệm để đadạng hóa sản phẩm Ví dụ như sản xuất chế biến dầu lạc, có thể tận dụng bã lạc để làmthức ăn cho gia súc, vỏ lạc để làm nhiên liệu đốt hoặc làm phân bón hữu cơ

Khả năng của trang thiết bị, công suất của máy phải đáp ứng để chế biến nguồnnguyên liệu hiện có Chẳng hạn như nguồn nguyên liệu lúa, lạc, sắn nhiều trong khimáy móc không đủ hoặc không đảm bảo về mặt kỹ thuật

Năng lực sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ kỹ năng lao động như đội ngũ kỹ

sư, công nhân kỹ thuật lành nghề

Nâng cao trình độ công nghiệp chế biến

Một sản phẩm tốt hay kém chất lượng phụ thuộc vào trình độ công nghệ, kỹthuật Máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại sẽ chế tạo sản phẩm chất

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

lượng cao, mẫu mã đa dạng phong phú đáp ứng nhu cầu thị hiếu con người Cũng từ

đó, một công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp xây dựng thương hiệu sản phẩm của mình

đủ sức cạnh tranh trên thị trường Điều đó thể hiện nếu trang thiết bị hiện đại, côngnghệ cao sản xuất ra sản phẩm đảm bảo về chất lượng và số lượng, giá trị cá biệt thấp,song đem trao đổi trên thị trường bán đúng với giá trị thị trường thì khoản chênh lệchgiữa giá trị thị trường và giá trị cá biệt chính là lợi nhuận; đó là mục đích của nhàdoanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, cũng chính là lợi thế cạnh tranh, cùng với sự lãnhđạo điều hành tốt của những giám đốc năng động

Thay đổi tỷ trọng sản phẩm

Công nghiệp chế biến nông, lâm sản sẽ làm tăng giá trị trong đơn vị sảnphẩm Hàng hóa được tạo ra với chất lượng cao, thương hiệu tốt sẽ thắng đối thủcạnh tranh trong cùng một lĩnh vực Điều đó làm cho hàng hóa được lưu thôngkhông chỉ ở trong nước mà còn ngoài nước Ở tầm vĩ mô, hàng hóa được xuất khẩu

ra các khu vực và thế giới

Với sự phân tích trên, giá trị sản phẩm hàng hóa tăng dẫn đến tỷ trọng trong sảnphẩm qua chế biến cũng thay đổi Chẳng hạn, một tấn cà phê chưa qua chế biến, xuấtkhẩu thô thì giá trị của nó thấp rất nhiều so với một tấn cà phê đã được tinh chế

1.1.2.2 Đặc điểm của công nghiệp chế biến

So với công nghiệp khai thác và các ngành công nghiệp chế biến khác, côngnghiệp chế biến nông, lâm sản có một số đặc điểm riêng chi phối đến việc xác định vaitrò và quan điểm phát triển, quản lý ngành, đó là:

Thứ nhất: Do nguồn nguyên liệu có đặc tính sinh vật nên công nghiệp chế biếnnông, lâm sản thường được tiến hành qua hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Sơ chế bảo quản Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khi thu

hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công với phươngtiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng Nó quyết định mức độ tổn thất sau thuhoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến Đây là giai đoạn quantrọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau Nó bao gồm những côngviệc cụ thể như phơi sấy, lựa chọn, lưu kho

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

Giai đoạn 2: chế biến công nghiệp Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệp

công nghiệp chế biến, sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc, thiết bị công nghệcần thiết để chế biến nguyên liệu động, thực vật ra sản phẩm Ở giai đoạn này trình độcông nghệ, thiết bị, của công nhân có vai trò và ý nghĩa quyết định mức độ chất lượngsản phẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của nông, lâm sản qua khâu chế biến

Thứ hai: Sản phẩm của công nghiệp chế biến nông, lâm sản gắn liền với nhucầu của cuộc sống hàng ngày của con người, ngày càng được nhiều người sử dụng Do

có nhiều yếu tố khác nhau (tâm lý tiêu dùng, tập quán tiêu dùng, thu nhập tăng, tiến bộkhoa học - công nghệ, môi trường nên hiện đang có những xu hướng tiêu dùng tácđộng mạnh mẽ đến việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản: Xu hướng tăngcường sử dụng các loại rau sạch; xu hướng tăng cường sử dụng các loại nông sản đãqua chế biến Hai xu hướng này làm cho các yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, vềđảm bảo chất dinh dưỡng, đảm bảo thời hạn sử dụng Ngày càng trở nên nghiêm ngặthơn Điều hành vừa có lợi cho công nghiệp chế biến nông, lâm sản nước ta trong cạnhtranh với các sản phẩm của nước ngoài (do chưa có điều kiện sử dụng nhiều loại hóachất, chưa có điều kiện nuôi trồng nhân tạo nên phần lớn sản phẩm nông nghiệp vẫnmang tính chất sản phẩm tự nhiên), vừa có tạo ra những tác động bất lợi khác, đặc biệt

là do công nghệ thường là công nghệ thuộc các thế hệ cũ, không giải quyết đượcnhững yêu cầu mới nảy sinh

Thứ ba: Công nghiệp chế biến nông, lâm sản phát triển trong sự gắn bó mậtthiết với nông nghiệp Nguyên liệu chính của công nghiệp chế biến nông, lâm sản lànhững sản phẩm của công nghiệp và hầu hết được sản xuất trong nước Vì vậy, quy

mô, tốc độ phát triển, cơ cấu của công nghiệp chế biến nông, lâm sản phụ thuộc rất lớnvào quy mô, tính chất và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp Mặt khác, làngành chế biến các sản phẩm của nông nghiệp nên công nghiệp chế biến nông, lâm sảnlại là ngành đảm bảo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, tạo động lực cho nông nghiệpphát triển Tác động này của công nghiệp chế biến nông, lâm sản sẽ thúc đẩy nôngnghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường Vì vậy, nếu thếmạnh của nông nghiệp nước ta là sản xuất nhiều loại nông, lâm sản sẽ tạo điều kiện

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

khai thác ngày càng tốt và có hiệu quả hơn thế mạnh đó Tuy vậy, nhận thức đặc điểmnày cần lưu ý tới các vần đề sau:

+ Nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm sản không chỉ là nông, lâmsản mà cong nhiều loại nguyên liệu là do công nghiệp cung cấp, như các loại vật liệubao bì, hóa chất Các loại vật liệu này ngày càng có vai trò quan trọng, như ở nước tachúng chưa được phát triển tương xứng chính điều đó, làm hạn chế khả năng khai thácthế mạnh sản xuất các loại nông sản nhiệt đới

+ Tiến bộ khoa học - công nghệ tác động mạnh đến sản xuất và tiêu dùng, tạo

ra những biến đổi lớn và từ đó đặt ra những thách thức to lớn đối với công nghiệp chếbiến nông, lâm sản Nhiều loại giống mới với những đặc tính mới và chất lượng cao đãđược nghiên cứu và đưa vào sản xuất Điều này đòi hỏi công nghiệp chế biến nông,lâm sản phải nhanh chóng thay đổi sản phẩm, thay đổi công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuậttrong sản xuất chế biến Trong lĩnh vực tiêu dùng, những yêu cầu về chất lượng sảnphẩm, vệ sinh thực phẩm cũng có điều kiện thực hiện tốt hơn và yêu cầu ngày càngkhắt khe hơn

+ Việc phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản và các ngànhcông nghiệp cần được đặt ra trong mối quan hệ hữu cơ Phải có các chương trình đồng

bộ có mục tiêu trong việc phát triển từng ngành hàng, từng nhóm sản phẩm, từ khâusản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Thứ tư: Sản phẩm của công nghiệp chế biến nông, lâm sản rất phong phú, đadạng về chủng loại, chất lượng và mức độ chế biến Sự phong phú, đa dạng này phụthuộc vào các yếu tố

+ Tiềm năng của nền nông nghiệp

+ Trình độ kỹ thuật và công nghệ của ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản.+ Nhu cầu, thị hiếu, sức mua của người tiêu dùng Trong các yếu tố trên,công nghiệp chế biến nông, lâm sản nước ta có nhiều thuận lợi về tiềm năng nôngnghiệp nhiệt đới, nhưng lại đang có nhiều khó khăn do trình độ kỹ thuật và côngnghệ thấp Bên cạnh đó, thị trường vừa có những thuận lợi cũng vừa có những khókhăn nhất định

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

Thứ năm: Công nghiệp chế biến nông, lâm sản là ngành có nhiều ưu thế hơn sovới các ngành công nghiệp khác như: vốn đầu tư thấp hơn; thời gian thu hồi vốn nhanhhơn; các công trình đầu tư có thể nhanh chóng đưa vào sử dụng; sớm phát huy hiệuquả, do đó khả năng thu hút vốn đầu tư cao hơn.

Các đặc điểm trên quan hệ chặt chẽ với nhau, phản ánh mối quan hệ giữa lựclượng sản xuất với các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, phản ánh mối quan

hệ giữa trình độ khoa học - công nghệ với thị trường Cần nhận thức đúng các đặcđiểm trên và mối quan hệ giữa chúng để tác động có hiệu quả đến sự phát triển côngnghiệp chế biến nông, lâm sản

1.1.3 Vai trò của công nghiệp chế biến nông, lâm sản.

Quá trình của công nghiệp chế biến thường phải trải qua ba khâu:

Nguyên liệu Chế biến  Thị trường

Công nghiệp chế biến nông, lâm sản có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tếđược biểu hiện ở một số vấn đề sau

Một là, kích thích và định hướng cho sản xuất nguyên liệu.

Với tư cách là cầu nối giữa nguyên liệu với thị trường, công nghiệp chế biếnnông lâm sản có tác dụng giữ gìn chất lượng nguyên liệu, tạo ra những sản phẩm cóchất lượng cao, nhờ đó thu được lợi nhuận cao; công nghiệp chế biến nông, lâm sảnchính là thị trường đầu ra của khâu nguyên liệu

Công nghiệp chế biến nông, lâm sản có tác dụng định hướng về các mặt quy

mô, cơ cấu, kích cỡ, chất lượng, giá cả cho khâu sản xuất nguyên liệu một cách trựctiếp Việc các ngành nông, ngư nghiệp sản xuất cái gì, sản xuất ra sao, khai thác nhưthế nào phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của công nghiệp chế biến nếu không cócông nghiệp chế biến nông, lâm sản thì phương án sản xuất nguyên liệu khó đưa lạihiệu quả và nếu có thực hiện chính sách kinh tế mở thì cũng chủ yếu xuất khẩu hàngthô, kém khả năng cạnh tranh, bị chèn ép và thường bị thua thiệt

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

Hai là, sự nghiệp phát triển của công nghiệp chế biến nông, lâm sản phát triển

sẽ thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo hướng CNH - HĐH.

Công nghiệp chế biến có vai trò lớn trong việc thúc đẩy nông, lâm nghiệp pháttriển sản xuất hàng hóa theo hướng CNH - HĐH và các lý do sau đây:

Thứ nhất: Do sản phẩm của nông nghiệp là nguyên liệu chính của công nghiệp

chế biến nông, lâm sản cho nên muốn phát triển ngành này tất yếu đòi hỏi nông nghiệpphải phát triển theo hướng thâm canh, đa dạng hóa, tạo ra các loại sản phẩm, các vùngchuyên canh, có năng suất cao có tỷ suất hàng hóa lớn Mặt khác, cũng vì sản phẩmnông nghiệp khó bảo quản, dễ bị hư hỏng, thối nát, nên sự phát triển của nó chỉ có thểđược đảm bảo vững chắc nên tổ chức được cả hệ thống các cơ sở công nghiệp, sơ chế,tinh chế và sản xuất có liên hệ mật thiết với nhau

Công nghiệp chế biến nông, lâm sản không chỉ tạo sức ép buộc nông nghiệpphải phát triển, mà nó tạo điều kiện để nông nghiệp phát triển thuận lợi qua việc nângcao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, từ đó tăng khả năng tích lũy, tăng khả năngđầu tư mở rộng quy mô sản xuất, hiện đại hóa quá trình sản xuất trong nông, lâm sản.Tác động này trước hết thể hiện ở chỗ: sau khi đưa vào chế biến, giá trị của nông, lâmnghiệp tăng lên rất nhiều Theo tính toán của các chuyên gia, sau khi tinh chế giá trịcủa nông, lâm sản có thể tăng 4 - 10 lần so với giá trị lúc chưa chế biến

Thứ hai: Thông qua công nghiệp chế biến nông, lâm sản tạo khả năng mở rộng

thị trường tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc vào yếu tố thời gian và khoảng cách đối vớitiêu dùng các sản phẩm nông, lâm nghiệp

Thứ ba: Sự phát triển của công nghiệp chế biến nông, lâm sản còn làm tăng

nhu cầu về sản phẩm của nông, lâm nghiệp, qua đó đáp ứng nhu cầu tốt hơn chongười tiêu dùng

Thứ tư: Thông qua chế biến, từ một sản phẩm nông, lâm nghiệp có thể tạo ra

nhiều loại sản phẩm có những giá trị sử dụng rất khác nhau, thậm chí tạo ra những đặctính mới, những giá trị sử dụng mới cho sản phẩm của nông nghiệp; từ đó nâng caomức độ và khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

Thứ năm: Phát triển công nghiệp chế biến góp phần quan trọng vào việc giải

quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động ở nông thôn, đặc biệt là qua việc pháttriển hệ thống các cơ sở chế biến ngay ở nông thôn Điều này giải quyết việc làm laođộng nông nhàn ở nông thôn (đặc biệt sau vụ mùa giữa hai vụ mùa)

Thứ sáu: Công nghiệp chế biến đòi hỏi vốn ít và thời gian thu hồi vốn nhanh

phù hợp với những nước có nền kinh tế đang phát triển của nước ta

Như vậy, việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản vừa có tác dụngtrực tiếp, vừa có tác dụng gián tiếp tới sự phát triển của nông, lâm nghiệp, vừa tạo cầunối giữa công nghiệp và nông nghiệp, là khâu đột phát để CNH - HĐH nông nghiệp

Tính hiệu quả của công nghiệp chế biến nông, lâm sản, trên thị trường được thểhiện ở khối lượng lợi nhuận do sự phát triển của công nghiệp chế biến thu được Côngnghiệp chế biến càng phát triển thì sức cung hàng hóa càng lớn, sức mua càng tăng vàcuối cùng khối lượng lợi nhuận thu được càng nhiều, thu nhập tăng

Trong điều kiện chính sách kinh tế mở, sự phát triển của công nghiệp chế biến,nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản, có hiệu quả là tăng kim ngạch xuất khẩuthô Ở nước ta, giá trị xuất khẩu công nghiệp chế biến đã chiếm trên 30% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước, dù rằng công nghiệp chế biến ở nước ta còn ở trình độthấp, sản phẩm sơ chế chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng hàng hóa xuất khẩu, tăng tỷ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

trọng sản phẩm tinh chế, đa dạng hóa mặt hàng, đáp ứng được nhu cầu về số lượng củanhững khách hàng lớn thì giá trị xuất khẩu còn cao hơn.

Hiện nay ở thị trường trong nước, do tác động của chính sách kinh tế mở cửa,người nước ngoài vào nước ta ngày càng nhiều Nhu cầu tiêu dùng của nhóm kháchhàng này cũng ngày càng nhiều, nếu hiện đại hóa công nghiệp chế biến, tạo ra nhiềusản phẩm đa dạng có chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu của họ thì có thể tănglượng sản phẩm công nghiệp chế biến xuất khẩu tại chỗ một cách đáng kể và sẽ cóhiệu quả cao

Công nghiệp chế biến, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm sản tồn tại vàphát triển trên cơ sở nguyên liệu chính được sản xuất trong nước Theo Adam Smith(nhà kinh tế học người Anh) thì ở mỗi đất nước đều có những nguồn lực và tài nguyênnhất định như nguồn đất đai, mặt nước, khí hậu, địa hình Sự phát triển của côngnghiệp chế biến cho phép phát huy tiềm năng lợi thế của mỗi vừng, mỗi khu vực trongviệc khai thác nguyên liệu, phát huy công nghệ truyền thống, sản xuất và chế biến sảnphẩm riêng của mỗi địa phương

Như vậy, các quốc gia sẽ tiến hành sản xuất chuyên môn hóa những mặt hàng

có lợi thế xuất khẩu và nhập khẩu những mặt hàng trong nước có điều kiện sản xuấthoặc sản xuất không có lợi

Bốn là, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản mang lại hiệu quả kinh

tế - xã hội, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.

Sự phát triển của công nghiệp chế biến tác động mạnh đến đời sống và sự pháttriển của nhiều ngành kinh tế quốc dân, nên công nghiệp chế đóng vai trò quan trọngtrong sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế

Sự phát triển của công nghiệp chế biến là một trong những thước đo quan trọng đểđánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia Một ưu điểm là các ngành côngnghiệp chế biến nông, lâm sản không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, không đòi hỏi công nghệphức tạp, nhưng nó có khả năng thu hút được nhiều lao động và tạo ra tích lũy lớn

Nước ta là một nước nông nghiệp, nền kinh tế chưa phát triển đang phải tậptrung mọi lực lượng đẩy mạnh CNH - HĐH Ngành công nghiệp chế biến do đó cũng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

chưa phát triển, mâu thuẫn sâu sắc với nhu cầu chế biến số lượng lớn nông sản củangành nông nghiệp đang trong xu thế phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.

Hiện nền sản xuất nông nghiệp nước ta với nhiều hạn chế trong tập quán, thóiquen sản xuất chưa phù hợp như ngành rau quả đã tổng kết: Do vừa trồng chủ yếu ởquy mô hộ gia đình, dưới 5 ha, giống không đồng nhất, chất lượng không đều, nênkhông thể đưa công nghệ kỹ thuật cơ khí hiện đại vào quá trình sản xuất, lựa chọn, bảoquản Do đó nhiều sản phẩm nông nghiệp chưa qua được khâu sơ chế, số lượng hưhỏng cao, chất lượng không đảm bảo

Ngoài ra, kinh nghiệm sản xuất và quản lý theo yêu cầu của công nghiệp hóa,hiện đại hóa còn thiếu, yêu cầu giải quyết việc làm cho một đội ngũ lao động khá đôngcũng đang đặt ra yêu cầu cấp bách Trong bối cảnh đó, nếu phát triển mạnh côngnghiệp chế biến thì có thể giải quyết được mâu thuẫn kể trên Đặc biệt cho phép huyđộng được các nguồn vốn trong nền kinh tế quốc dân, thông qua các hình thức liên kết,liên doanh Vừa phát huy được tay nghề của người lao động, vừa tạo ra nhiều sảnphẩm cho xã hội, vừa khai thác được lợi thế của tất cả các vùng Tạo điều kiện từngbước phát triển ngành công nghiệp chế trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật sản xuấthàng hóa, vừa phục vụ tốt nhu cầu nội địa, vừa tăng cường được lượng hàng xuất khẩu

và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế Các quốc gia(Tây, Âu, Nhật Bản trước đây, các nước NIEs và nhiều nước Đông Nam Á hiện nay)

đã thực hiện công nghiệp hóa thành công nhờ áp dụng chiến lược phát triển côngnghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến gắn với nông nghiệp có hàm lượng khoa học kỹthuật và vốn cao

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản.

Quá trình phát triển ngành công nghiệp chế biến chịu tác động của nhiều nhân tố.Một số nhân tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản

Trang 22

nơi mỗi doanh nghiệp có thể bán các sản phẩm của mình làm ra để thu được doanh thu

và lợi nhuận Nếu không xác định đúng được thị trường một cách chính xác và đúngđắn có thể dẫn đến sản phẩm chế biến không bán được, hoặc là sản phẩm sản xuất rakhông đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường, như thế các doanh nghiệp chế biến nôngsản làm ăn sẽ kém hiệu quả Vì sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến nông, lâmsản rất nhạy cảm với yếu tố thị trường, do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn tới việc pháttriển công nghiệp chế biến nông, lâm sản của Việt Nam:

- Thứ nhất, thị trường tiêu thụ trong nước: là nơi tiêu thụ chủ yếu các mặt hàng

nông sản tươi sống, hoặc một phần đã qua chế biến Việt Nam với dân số trên 90 triệudân nên đây là thị trường tiêu thụ nông, lâm sản tiềm năng rất lớn, do vậy cần khaithác một cách triệt để, nếu làm được điều đó thì ngành CNCB nông sản của chúng taphát triển rất tốt

- Thứ hai, thị trường nông sản thế giới ngày càng phát triển mạnh, nó buộc

ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản của nước ta phải đầu tư phát triển sao chotương xứng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới Nước ta có thể dụngtiềm năng, lợi thế riêng về công nghiệp chế biến để sản xuất, xuất khẩu sang các nước

có nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm sản đã qua chế biến

 Trình độ kỹ thuật - công nghệ

Trong cơ chế thị trường, sự tồn tại và phát triển của ngành công nghiệp chếbiến phải dựa vào sức sống của chính nó Sức sống của các sản phẩm công nghiệp chếbiến phải được thể hiện qua khả năng cạnh tranh của nó với các mặt hàng cùng loạitrên thị trường Trong các nhân tố thì nhân tố đầu tiên định khả năng cạnh tranh cùngngành công nghiệp chế biến chính là trình độ kỹ thuật - công nghệ Trình độ côngnghệ, kỹ thuật cao hay thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng phát triển ngành côngnghiệp chế biến Công nghệ chế biến có ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sảnphẩm, thời gian bảo quản, giá thành sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm

- Thứ nhất, công nghệ chế biến ảnh hưởng tới năng suất chế biến nông, lâm sản Với

những dây chuyền chế biến hiện đại, tiên tiến, phương pháp chế biến khoa học, làmtheo dây chuyền, tạo năng suất cao Còn đối với công nghệ chế biến lạc hậu, chủ yếu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

chế biến bằng phương pháp thủ công truyền thống, ít máy móc thiết bị tạo ra năng suấtthấp Trước đây, máy móc xay xát gạo còn thô sơ, lạc hậu nên năng suất xay xát gạochỉ đạt ở mức 500kg/giờ Ngày nay, thiết bị máy móc đã được cải tiến hiện đại nênnăng suất xay xát gạo đã tăng lên nhanh ở mức 5 – 6 tấn/giờ Trong giai đoạn hiện naykhi nền kinh tế hàng hóa phát triển thì vấn đề năng suất rất được chú trọng vì nó cóảnh hưởng lớn tới việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, tới khả năng cung cấp kịpthời cho thị trường.

- Thứ hai, là công nghệ chế biến có ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm Công nghệ

chế biến có thể làm cho chất lượng sản phẩm nông sản tốt hơn cũng có thể làm chochất lượng của nó giảm đi Như nghề bún nếu sản xuất bằng công nghệ lạc hậu thì búnthành phẩm phải qua khâu rửa nước Còn với công nghệ sản xuất tiên tiến thì khôngqua rửa nước mà tiến hành thao tác hấp với nhiệt độ hấp trên 100 độ, thanh trùng được

vi sinh, nấm mốc, thời gian bảo quản 36- 48 giờ, dài hơn so với bún làm bằng máy cũchỉ 24 giờ Cọng bún lại dai, ngon, xốp hơn Như vậy, với việc sử dụng trang thiết bịhiện đại, phương pháp chế biến tiên tiến, khoa học, dây chuyền công nghệ theo đúngtiêu chuẩn thì chất lượng các mặt hàng nông sản luôn có giá trị cao, chất lượng đượcđảm bảo Khi chất lượng sản phẩm có giá trị cao sẽ làm tăng vị thế của các sản phẩmnông sản, tạo được sự tin tưởng cho khách hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Từ

đó công nghiệp chế biến có điều kiện phát triển ngày càng mở rộng về quy mô theo cảchiều rộng và chiều sâu, làm tăng vị thế của mình trên trường quốc tế

- Thứ ba, là công nghệ chế biến với kỹ thuật hiện đại còn làm cho thời gian chế biến

các sản phẩm từ nông, lâm sản diễn ra nhanh chóng Chẳng hạn như đối với nghề làmbún nếu theo quy trình cũ là làm bằng thủ công thì phải ngâm gạo 6 - 7 ngày, vừangâm vừa tẻ liên tục thì với quy trình mới sản xuất bằng máy móc chỉ cần 6 tiếng.Hiện nay, ở nước ta đã có các thiết bị máy móc chế biến nông sản góp phần rút ngắnthời gian sản xuất như máy phân loại hạt cà phê, gạo, điều nhân bằng màu sắc ứngdụng công nghệ quang – cơ điện tử công suất 3 - 5 tấn/giờ; máy xát trắng gạo và máyđánh bóng gạo công xuất 4 – 6 tấn/giờ; các hệ ép và nấu đường công suất 3.000 tấnmía cây/ngày trở lên; máy ly tâm tách bã sắn 80 – 100 m3/giờ và tách mủ tốc độ đến

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

7.200 vòng/phút; dây chuyền chế biến cà phê kiểu ướt công suất 4 – 10 tấn trên giờ

- Thứ tư, một điều hết sức quan trọng là sự ảnh hưởng của công nghệ chế biến đến vấn

đề vệ sinh an toàn thực phẩm An toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là đối với mặt hàng làcác sản phẩm nông, lâm sản cần có sự quan tâm đặc biệt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe người tiêu dùng Với công nghệ chế biến theo dây chuyền hiện đại, quy trìnhkhép kín, khả năng xử lí các chất độc hại từ nông, lâm sản tốt, việc có bao bì bảo quảnngày càng cao sẽ làm cho việc giữ gìn vệ sinh là đảm bảo

 Nguồn nhân lực

Đây là yếu tố quan trọng ảnh hướng đến sự phát triển bền vững của ngànhcông nghiệp chế biến nói chung và công nghiệp chế biến nông, lâm sản nói riêng.Nguồn nhân lực trong công nghiệp chế biến bao gồm các nhà khoa học các nhànghiên cứu chế tạo, chủ cơ sở sản xuất, những người lao động Trong đó, các nhàkhoa học và các nhà nghiên cứu chế tạo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việcnghiên cứu tìm tòi phát triển các công nghệ mới các phương pháp sản xuất mới để ứngdụng vào sản xuất và họ là những người sáng tạo ra những sản phẩm mới mang tínhđộc đáo làm nên thương hiệu và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến củamột quốc gia Bên cạnh đó, phải kể đến đội ngũ những người lao động có trình độ taynghề cao và những chủ cơ sở sản xuất có trình độ quản lí, kiến thức kinh tế thị trường,khả năng liên doanh, liên kết, biết hạch toán kinh tế giỏi Đây là yếu tố quyết định đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp hoạt độngtrong ngành công nghiệp chế biến

Tuy nhiên, một hạn chế lớn trong các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp hoạtđộng trong ngành công nghiệp chế biến hiện nay là chất lượng nguồn lao động chưacao Hơn nữa, nhiều chủ cơ sở sản xuất, chủ doanh nghiệp xem nhẹ việc nâng cao chấtlượng trình độ tay nghề của người lao động đây là một yếu tố cản trở của ngành côngnghiệp chế biến ở nước ta

 Cơ chế chính sách của Nhà nước.

Đối với công nghiệp chế biến các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước sẽảnh hưởng theo hai chiều hướng khác nhau: Đó là thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

của các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến Trong nềnkinh tế thị trường và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới của nước ta hiệnnay, cơ chế, chính sách kinh tế vĩ mô, văn bản pháp luật của Nhà nước, có vai trò hếtsức quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung và phát triển của ngànhcông nghiệp chế biến nói riêng.

 Hình thức tổ chức sản xuất

Những năm qua việc tổ chức sản xuất công nghiệp chế biến đang còn mangtính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ nhất là ở các địa phương Hình thức chủ yếu ởcác địa phương là các cơ sở, hộ gia đình, cá nhân riêng rẽ Đặc điểm của hình thức sảnxuất này là phân tác, nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, không kiểm soát được chất lượng sảnphẩm, không tạo được sự liên kết đồng bộ trong quá trình sản xuất Dẫn đến sức cạnhtranh của các sản phẩm công nghiệp chế biến không cao

Vì vậy, hình thành sự hợp tác trong sản xuất kinh doanh sẽ có ý nghĩa hết sứcquan trọng thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến phát triển như thành lập các khu quyhoạch sản xuất tập trung, các hợp tác xã hoặc các doanh nghiệp có quy mô lớn, thôngquan các tổ chức có tư cách pháp nhân này: giúp các cơ sở sản xuất dẽ dàng nắm bắtthông tinh về thị trường tiêu dùng, chuyển giao tiến bộ KH- KT, cải tiến mẫu mã sảnphẩm, kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bên cạnh đó còngiúp các cơ quan quản lí dễ dàng giúp đỡ, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất tiếp cậncác dự án, các chương trình hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức kinh tế khác

 Các nhân tố khác

- Nguồn nguyên liệu cho sản xuất:

Nguồn nguyên liệu là yếu tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình sản xuất kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp hoạt động trong ngành côngnghiệp chế biến Nguồn nguyên liệu phong phú, có chất lượng sẽ quyết định số lượng,chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quảhoạt động sản xuát kinh doanh của các cơ sở, các doanh nghiệp chế biến

Do đó, Nhà nước cần có những giải pháp hỗ trợ các cơ sở, doanh nghiệp chếbiến trong việc quy hoạch, trồng nguyên liệu, xây dựng các kho chứa nguyên vật liệu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

dự trữ, Đồng thời, trong điều kiện khan hiếm nguồn nguyên liệu cần khuyến khíchcác cơ sở, doanh nghiệp chế biến tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới thay thế.

- Kết cấu hạ tầng:

Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu chínhviễn thông Có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các cơ sở, doanh nghiệp hoạtđộng trong ngành công nghiệp chế biến Thực tế cho thấy những địa phương có kếtcấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ thì ngành công nghiệp chế biến mới có điều kiện pháttriển

Hệ thống giao thông phát triển tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến vận chuyểnnguyên liệu, sản phẩm thuận lợi và giảm được chi phí sản xuất Hệ thống cung cấpđiện, nước đảm bảo cho các cơ sở chế biến sử dụng các thiết bị, máy móc, xử lýnguyên liệu trong sản xuất, tránh gây ô nhiễm môi trường Hệ thống thông tin liên lạctạo điều kiện cho các cơ sở, chế biến trao đổi, quảng bá sản phẩm ở trong nước và thịtrường quốc tế Trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt trong xu thế hội nhập vào nềnkinh tế thế giới thì sự phát triển của hệ thống thông tin ngày càng trở nên quan trọng

- Nguồn vốn

Vốn là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế, là yếu tốquan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vốn bao gồm cả bằng tiền và tài sảnkhác phục vụ cho sản xuất Nguồn vốn đầy đủ sẽ giúp cho các cơ quan, doanh nghiệpchế biến có thể đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ như: nhà xưởng, kho hàng,mua sắm máy móc, phương tiện, chủ động dữ trữ nguồn nguyên liệu cho sảnxuất, Nguồn vốn của cơ sở chế biến chủ yếu là nguồn vốn tự có do tích lũy được hoặcvay mượn Do đó, lượng vốn trong các cơ sở chế biến không lớn, phần lớn không đápứng được yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt không thể đầu tư đổi mớicông nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng và sức cạnh trạnh của sản phẩm Hiện nay,

để tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến phát triển, Nhà nước đã ban hành nhiều chínhsách hỗ trợ về tài chính, tín dụng Vì vậy cần có những biện pháp giúp các cơ sở chếbiến dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn nay

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

Tóm lại, tùy vào từng thời điểm các yếu tố trên có sự tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến quá trình phát triển của ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản Do

đó, để tạo điều kiện cho ngành chế biến nông, lâm sản phát triển Đảng và Nhà nướccần có sự nghiên cứu một cách toàn diện để có định hướng cụ thể Đồng thời, các cơ

sở sản xuất, các doanh nghiệp chế biến cần có các giải pháp để phát huy mặt tích cực

và kiềm chế yếu tố tiêu cực từ sự tác động của các nhân tố này Có như vậy, các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các cơ sở, doanh nghiệp chế biến mới phát triển một sốcách hiệu quả và bền vững đáp ứng yêu cầu qúa trình hội nhập

1.1.5 Tiêu chí đánh giá sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản.

1.1.5.1 Về định tính

- Ý kiến của chuyên gia và các chủ cơ sở chế biến nông sản, lâm.

- Chất lượng sản phẩm được nâng cao, được người tiêu dùng chấp nhận vàchiếm lĩnh được thị trường

- Các cơ chế chính sách của chính quyền địa phương để phát triển công nghiệpchế biến nông, lâm sản

1.1.5.2 Về định lượng

- Quy mô sản xuất lớn hay nhỏ, theo chiều rộng hay theo chiều sâu

- Nguồn vốn, lực lượng lao động có đảm bảo cho công nghiệp chế biến phát triển

- Giá trị sản xuất công nghiệp: thường được dùng để đo lường toàn bộ kết quảsản xuất công nghiệp trong một thời kỳ nhất định Giá trị sản xuất công nghiệp đượctính theo giá cố định và giá hiện hành Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệpđược tính bằng giá cố định

- Năng lực sản xuất của công nghiệp chế biến nông, lâm sản:

 Mức tăng trưởng của sản lượng

 Khả năng cạnh tranh của công nghiệp chế biến nông, lâm sản

 Khả năng cung ứng nguyên liệu thô, các dịch vụ đáp ứng cho công nghiệpchế biến nông, lâm sản

- Trình độ công nghiệp chế biến nông, lâm sản:

 Đặc điểm của công nghệ: hiện đại hay lạc hậu

 Trang thiết bị máy móc: thủ công, kết hợp thủ công và máy móc, máy

móc khép kín

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản ở một số nước trong khu vực

Công nghiệp hóa - quy luật của mọi quốc gia trong quá trình chuyển nền kinh

tế từ sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, kỹ thuật thủ công lên sản xuất lớn với côngnghiệp hiện đại, kỹ thuật tiên tiến

Tuy nhiên, một vấn đề có tính quy luật của quá trình công nghiệp hóa là phải cóbước đi cụ thể, tùy theo vai trò vị trí trước mắt, lâu dài của từng ngành mà vạch bước đi thíchhợp Thực tế hầu hết các nước trên thế giới đều bắt đầu công nghiệp hóa bằng phát triểncông nghiệp chế biến, bởi ba lý do:

- Công nghiệp chế biến cho phép sản xuất ra những sản phẩm mới mà nôngnghiệp bị hạn chế

- Công nghiệp chế biến là nhân tố hết sức quan trọng kích thích tăng trưởngnhanh nền kinh tế, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao

- Công nghiệp chế biến tạo ra các động lực thúc đẩy các ngành kinh tế kháctrong nền kinh tế quốc dân

1.2.1.1 Kinh nghiệm của ThaiLand.

Công nghiệp chế biến nông sản Thailand phát triển khá mạnh và phân bổ khắpcác địa bàn trong nước với trình độ công nghệ và quy mô khác nhau đóng góp tới11,76% GDP và khoản 12,08% tổng kim ngạch xuất khẩu của Thailand hiện nay.Công nghiệp chế biến lúa gạo của Thailand bao gồm hàng chục ngàn cơ sở xay xátlớn, vừa và nhỏ cộng với hệ thống kho chứa gạo, kho dự trữ, các xí nghiệp sản xuấtbào bì đóng gói khắp các thị trấn, thành phố bến cảng Công nghiệp mía đường, côngnghiệp chế biến sắn của Thailand cũng khá phát triển với sản lượng gần 5 triệu tấn sắnkhô/năm Đặc biệt công nghệ chế biến trái cây và rau xuất khẩu của Thailand pháttriển khá nhanh với rất nhiều chủng loại từ dừa, xoài, dứa, chuối, bưởi, măng cụt, rauthơm và đặc biệt là đồ gia vị Hiện nay, Thailand là một trong những nước đứng đầuthế giới về sản xuất rau quả chế biến sang thị trường các nước Mỹ, Nhật, EU

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

Nhìn chung, công nghiệp chế biến nông sản của Thailand phát triển tương đối

ổn định và toàn diện với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoản 5,5%/năm trong thờigian nhiều năm từ thập kỷ 90 đến nay Tuy nhiên trước áp lực cạnh tranh trên thịtrường quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại, nông nghiệp Thailandcũng phải đối mặt với nhiều khó khăn: Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp diễn ra chậm,năng xuất chất lượng, chi phí sản xuất cao, giá nhân công tăng, cơ sở hạ tầng và trangthiết bị sản xuất yếu kém, nhất là vùng phía Bắc và Đông Bắc, các nguồn tài nguyên bịkhai thác kém hiệu quả

Để khắc phục tình trạng trên, Thailand đã đưa ra nhiều giải pháp để phát triểnnông nghiệp, công nghiệp chế biến như: Đầu tư phát triển nông nghiệp, công nghiệpchế biến nông sản theo chiều sâu để tăng khả năng cạnh tranh của các mặt hàng chủlực và đề ra các giải pháp thích hợp cho mỗi nhóm hàng xuyên suốt từ sản xuất, chếbiến, tiêu thụ; chú trọng vào công tác nghiên cứu khoa học, tăng cường đầu tư chothủy lợi và khoa học kỹ thuật Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho hoạt động sản xuất vàtiếp thị của nông dân thông qua quỹ "Hỗ trợ chính sách cho nông dân", tiến hành giảmthuế xuất khẩu nông sản và nguyên liệu

Tiếp đó để giúp ngành công nghiệp chế biến nông sản cạnh tranh trên thịtrường quốc tế, Thailand định hướng mạnh mẽ vào việc tăng chất lượng sản phẩm chếbiến từ nông sản Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng "Hệ thống quản lý môitrường" (EMS) khuyến khích và bắt buộc các nhà sản xuất áp dụng cho các sản phẩmchế biến Cố gắng này giúp sản phẩm của Thailand đạt tiêu chuẩn quốc tế nhưISO/14000 và vượt qua các rào cản về kỹ thuật để vào thị trường quốc tế Nhờ nổitiếng về chất lượng, nông sản chế biến của Thailand đang cạnh tranh quyết liệt dần thịphần của Indonesia và Malaysia.[22,87]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Indonesia

Chính phủ Indonesia cho rằng, với một đất nước mà kinh tế nông nghiệp còngiữ vai trò chủ lực, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì nhiệm vụtrước hết là phải có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biếnnông sản Chính phủ cũng đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

đích tư nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tưbản nước ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, cung cấp nguyên liệu chochế biến xuất khẩu Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinhdoanh đồn điền trên cơ sở nhà nước cho vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế kinhdoanh và cho phép phối hợp với Nhà nước để thực hiện hợp đồng xuất khẩu.

Nhờ những chính sách khuyến khích sản xuất và cải tạo hệ thống lưu thôngnông sản, công nghiệp chế biến của Indonesia đã có những bước chuyển biến căn bản

Là nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới, Indonesia bắt đầu tự túc được lương thực từnăm 1981, năng suất cây trồng tăng nhanh, sản lượng cà phê đứng thứ ba thế giới, sảnlượng ca cao đứng thứ nhất thế giới Indonesia đứng đầu thế giới về sản xuất hạt tiêutrắng và thứ hai thế giới về hạt tiêu đen

Những năm cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu

Á, nền kinh tế Indonesia bị thiệt hại nặng nề Tình hình chính trị bất ổn và hạn hán xảy

ra nghiêm trọng đã làm cho nông nghiệp nước này không phát triển được Sau đóIndonesia triển khai nhiều chiến lược phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến vàđạt được nhiều thành tựu

- Xóa bỏ độc quyền của Bulog trong nhập khẩu lúa mì, bột mì, đậu tương, tỏi

và gạo, cắt giảm thuế quan với tất cả các hàng thực phẩm xuống mức cao nhất là 5%

- Cho tự do buôn bán giữa các vùng, loại bỏ những cản trở đối với việc buônbán và vận chuyển một số hàng hóa, giảm các cản trở phi thuế quan đối với thị trườngnông sản, tạo điều kiện cho các cơ sở nhỏ có cơ hội tăng thu nhập và phát triển

- Đảm bảo giá sàn theo mức thích hợp cho từng vùng để hổ trợ cho nông dânthay cho việc bảo hộ người tiêu dùng như trước đây Trong vụ thu hoạch khi giá xuốngquá thấp chính phủ sẽ mua vào bằng giá sàn để hổ trợ cho người nông dân

- Chính phủ Indonesia tăng cường đầu tư vào nghiên cứu, phát triển khoa học kỹthuật phát triển các giống mới kỹ thuật canh tác mới, tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp

- Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến nhằm nâng cao giá trịcho ngành công nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa nông sản củaIndonesia trên thị trường quốc tế.[20,87]

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

1.2.1.3 Kinh nghiệm của Malaysia

Malaysia có thế mạnh và tiềm năng về xuất khẩu và chế biến cao su Chính vì vậy,Chính phủ Malaysia đã đưa ra nhiều chương trình hỗ trợ cho phát triển như: hỗ trợ tàichính, công nghệ, kỹ thuật, Các cán bộ chức năng trực thuộc Bộ Nông nghiệp cònthực hiện các dịch vụ tư vấn cho sản xuất, tư vấn tiếp thị cho các nhà quản lý Cáccánh rừng trồng cây cao su được tổ chức theo nhóm có thể được trợ giúp dưới hìnhthức tín dụng, cung ứng các yếu tố đầu vào và các điều kiện tiếp thị

Ở Malaysia còn có hội đồng ngành cây cao su được thành lập nhằm mục đích xúctiến sự liên kết giữa khu vực nhà nước và tư nhân Mạng lưới của hội đồng gồm cáccác đại diện của các bộ, cục, các công ty, các trường đại học và các đơn vị tư nhân cóliên quan tới sự phát triển của ngành cao su, tạo nên sự liên kết có trách nhiệm trongsản xuất - nghiên cứu và xuất khẩu

Malaysia còn thực hiện những chính sách khuyến khích về tài chính và tiền tệnhằm phát triển việc trồng trọt, chế biến, xuất khẩu các loại nông sản có lợi thế trênquy mô lớn Các công ty muốn tham gia vào việc trồng cây để bán đều có quyền đượchưởng các khuyến khích về thuế

Các dự án nông nghiệp đã được chấp thuận, nghĩa là đã được Bộ tài chính thôngqua, chi phí cơ bản ban đầu cũng được khấu trừ trong trường hợp: khai hoang, trồngmới, xây dựng đường xá, cầu cống ở nông thôn, xây dựng công trình thủy lợi phục vụtưới tiêu Các dự án này có quyền được hưởng chính sách thuế đặc biệt Chính phủcũng quy định đối với từng lọai cây, khoảng thời gian và diện tích tối thiểu đượchưởng

Để thúc đẩy xuất khẩu, chính phủ đã đưa ra những khuyến khích trợ giúp xuấtkhẩu như: trợ giúp phí tổn khi xúc tiến việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâmsản, trợ giúp các nhà xuất khẩu thâm nhập vào thị trường mới, trợ giúp trong việc xâydựng các kho chứa, bảo quản và tín dụng đổi mới công nghệ Đối với lĩnh vực chế biếnđược áp dụng những khuyến khích như: với công ty mới thành lập được hưởng sựgiảm thuế trong 5 năm đầu, kể từ ngày bắt đầu sản xuất Các công ty xuất khẩu sảnphẩm đã qua chế biến được hưởng chính sách khuyến khích như trợ cấp xuất khẩu, cấp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

vốn tín dụng xuất khẩu, được các khoảng tín dụng với lãi xuất ưu đãi có thể giúp cho

họ cạnh tranh hữu hiệu hơn trên thị trường quốc tế Chính phủ cũng miễn thuế nhậpkhẩu máy móc thiết bị phục vụ cho công nghiệp chế biến xuất khẩu Những chính sáchtrợ giúp này đã tạo cho ngành chế biến nông sản phát triển nhanh và có điều kiện đổimới công nghệ cũng như tiếp thị mở rộng thị trường Do đó, tỷ trọng đóng góp củacông nghiệp chế biến vào GDP của Malaysia rất cao và ngày càng có xu hướng tăng,thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1.1 Tỷ trọng của CNCB trong GDP ở Malaysia

1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biên nông sản ở tỉnh Hà Tĩnh

Đầu tư nâng cấp, mở rộng công suất các nhà máy chế biến hiện có, như: Nhàmáy chế biến chè xuất khẩu, Nhà máy chế biến mủ cao su

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư thu hút các doanh nghiệp trong và ngoàinước đầu tư xây dựng các nhà máy bảo quản, chế biến các sản phẩm nông nghiệp xuấtkhẩu Trước mắt đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng: Nhà máy chế biến lúa gạochất lượng cao xuất khẩu, Nhà máy chế biến công nghiệp sản phẩm súc sản (thịt hộp,dăm bông, xúc xích) tại Khu Kinh tế Vũng Áng, Nhà máy sản xuất phân vi sinh từthan bùn, các nhà máy chế biến đồ gỗ xuất khẩu

Phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm

- Duy trì các thị trường truyền thống, tiếp tục tìm kiếm thị trường mới, đẩymạnh xuất khẩu; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở thu mua tiêu thụsản phẩm cho nông dân

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

- Tăng cường tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức cho nông dân về hộinhập kinh tế quốc tế, thông tin thị trường; hỗ trợ áp dụng các quy trình sản xuất theocác tiêu chuẩn quốc tế gắn với xây dựng thương hiệu

- Đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng hàng hóa, hỗ trợ cải tiến mẫu mã, baobì; xây dựng, đăng ký thương hiệu sản phẩm, chỉ dẫn địa lý

- Xúc tiến thành lập các hiệp hội ngành hàng để tạo điều kiện tương trợ lẫnnhau, giải quyết các vấn đề khó khăn nhằm tăng cường sức cạnh tranh của các sảnphẩm CNCB trên thị trường trong và ngoài nước

- Tăng cường việc ký kết với các siêu thị, cửa hàng, đại lý để giới thiệu và tiêuthụ sản phẩm CNCB Hàng năm tổ chức các cuộc hội chợ, giới thiệu sản phẩm CNCB,

hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân tham gia các hội chợ, giới thiệu, quảng bá sản phẩmtrong nước và Quốc tế

- Nâng cao trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cho đội ngũ cán

bộ kỹ thuật và nông hộ để chuyển giao nhanh các tiến bộ mới vào sản xuất

- Đào tạo cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và kỹ thuật viên về sản xuất nôngnghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, thông qua thực hiện các

đề tài, dự án, liên kết đào tạo trong và ngoài nước

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học

kỹ thuật đủ về số lượng, chất lượng, nhất là đội ngũ chuyên gia đầu ngành, tiếp tụcthực hiện chính sách thu hút nhân tài, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các đơn vịhoạt động khoa học - công nghệ

- Tăng cường công tác khuyến nông, hội thảo chuyên đề; tư vấn, chuyển giaocác công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp [12,86]

1.2.2.2 Kinh nghiệm của huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản

- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản phải gắn với quá trình côngnghiệp hoá nông thôn

- Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn

- Tiến hành quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

- Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về tài chính cho các

cơ sở, doanh nghiệp chế biến

- Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy ngành côngnghiệp chế biến phát triển

- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp vàtrung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống

- Cần có nhận thức đúng tầm quan trọng của ngành công nghiệp chế biếnnông, lâm sản trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn nóiriêng

- Có cơ chế chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp chế biếnnông, lâm sản một cách toàn diện trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ tài chính cho các

cơ sở, doanh nghiệp chế biến

- Giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho sản phẩm của ngành công nghiệp chế biếnnông, lâm sản

- Thành lập các trung tâm nghiên cứu, tư vấn khoa học - kỹ thuật cho ngànhcông nghiệp chế biến

- Xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cho ngành công nghiệp chế biến và giámsát việc áp dụng chặt chẽ để nâng cao chất lượng các sản phẩm của ngành công nghiệpchế biến

1.2.2.3 Kinh nghiệm phát triển công nghiệp chế biến ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Huyện Hải Lăng có 24 nghề, trong đó có 11 làng nghề chế biên nông, thủy sảntruyền thống với nhiều ngành nghề chế biến nông, thủy sản truyền thống như: Chếbiến nước nắm, làm chổi đốt, làm bún, làm bánh tráng Các hoạt động nghề và làngnghề đã tạo việc làm cho 132 hộ, thu nhập ổn định 800.000 đến 1.200.000 ngànđồng/người/tháng (năm 2011) Để phát triển làng nghề truyền thống, huyện Hải Lăngthực hiện một số giải pháp như:

- Quan tâm công tác đào tạo tay nghề cho người lao động

- Hỗ trợ vốn cho các hội để mở rộng sản xuất kinh doanh

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

- Ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các hộ gia đình

Hỗ trợ các địa phương, các làng nghề đào tạo nguồn lực như: Mở các lớptruyền nghề, dạy nghề để nâng cao tay nghề cho người lao động Các ngành chức nănggiúp đỡ, tạo điều kiện cho các làng nghề thành lập doanh nghiệp, tìm kiếm dự án đầu

tư, mặt bằng sản xuất, thị trường xuất khẩu và tư vấn các cơ sở sản xuất đầu tư côngnghệ tiên tiến,

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản cho thị xã Quảng Trị

Qua nghiên cứu sự phát triển công nghiệp chế biến ở các nước trong khu vực

và một số đơn vị trong nước, cho thấy, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền nôngnghiệp nói chung, của các ngành nông, lâm sản xuất khẩu nói riêng là nhờ những kinhnghiệm sau đây:

Thứ nhất, thành công của các nước là gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, lấy nông nghiệp làm điểm khởi đầu để phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Chính phủ các nước trên đã kiên trì theo đuổi chiến lược đó: tập trung nỗ lực cho pháttriển nông nghiệp để tạo đà và đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thực hiện chiếnlược công nghiệp hóa và hiện đại hóa của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu làchủ yếu Thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy các lợi thếtuyệt đối và tương đối (lợi thế so sánh) phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu là con đườngchủ yếu để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nông nghiệp, từ kinh nghiệm này trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Đảng ta chủ trương:

"phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông lâm - thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn" [12,86]

-ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

Thứ hai: áp dụng công nghệ chế biến nhiều trình độ, có trọng điểm, mũi nhọn

đi tắt lên hiện đại, tạo điều kiện chuyển sang lấy công nghệ chế biến hiện đại làm chủ yếu Trong điều kiện từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua nhiều năm chiến tranh,

chịu ảnh hưởng của mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài, làm cho đấtnước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh

tế có những bước khởi sắc nhất định Song do sự gia tăng dân số, sức ép công ăn việclàm quá lớn, ngân sách còn hạn hẹp nên tuy đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội,nhưng còn một số yếu tố chưa vững chắc như Đảng ta đã nhận định Trong điều kiện

đó, việc bố trí cơ cấu công nghệ phải đa dạng, đa trình độ, đồng thời phải biết lựa chọnkhâu, ngành và mặt hàng mũi nhọn đi tắt lên hiện đại là quan điểm đúng trong quátrình phát triển công nghiệp chế biến

Thứ ba: Phối hợp đồng bộ các chính sách và giải pháp để đạt mục tiêu đã đề

ra trong từng thời kỳ nhất định, đặc biệt đối với các nông, lâm sản xuất khẩu, các nước bước đầu đều có chính sách bảo hộ và các chương trình hỗ trợ đặc biệt để tạo dựng ngành hàng xuất khẩu.

Thứ tư: chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nghiên cứu triển khai, tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thu, phát triển các kênh sản xuất - tiêu thụ

- xuất khẩu, coi trọng chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường.

Trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, các ngành công nghiệp chế biến, nhất làchế biến các sản phẩm mà nguyên liệu có sẵn trong nước được ưu tiên phát triển.Chính phủ cần thực hiện các chính sách hỗ trợ về tài chính, xây dựng môi trường pháp

lý thuận lợi để sớm mở rộng và nâng cấp các cơ sở chế biến và tạo kết cấu hạ tầngthuận lợi để chúng hoạt động Đối với các nước công nghiệp chế biến phát triển muộn,việc xây dựng đi trước một bước các kết cấu hạ tầng về kinh tế và pháp lý là điều kiệnrất quan trọng để đẩy nhanh tốc độ và quy mô phát triển công nghiệp chế biến Kết cấu

hạ tầng thuận lợi là cách tốt nhất để nối liền các cơ sở sản xuất, khai thác nguyên liệu vớicác trung tâm chế biến, là cách khai thông sản phẩm chế biến với thị trường

Để sản phẩm công nghiệp chế biến tiếp cận với thị trường thế giới và pháttriển lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động, các nước đã đưa ra những chính

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

sách khuyến khích và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm chế biến Thái Lan, Indonesia thựchiện miễn thuế và cấp vốn với lãi suất thấp để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuấtkhẩu sang các nước phát triển.

Thứ năm: Sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản xuất nông nghiệp có hiệu quả như chính sách tài chính, tín dụng, ngân hàng, thương mại trong quá trình phát triển.

Chính phủ các nước đã can thiệp có hệ thống vào thị trường vốn thông quachính sách lãi suất và chỉ đạo tín dụng, hướng luồng vốn chảy vào các ngành lĩnh vực

cần ưu tiên đầu tư Chế biến nông, lâm, thủy sản là một trong những hướng mà các

chính phủ Thái Lan, Indonesia, Malaysia quan tâm.

Tóm lại, Trong chương một đã nêu lên được những vấn đề lý luận cơ bản về

công nghiệp chế biến nông, lâm sản, kinh nghiệm thực tiễn từ việc phát triển côngnghiệp chế biến nông, lâm sản của các nước trong khu vực và các địa phương trongnước, đây là cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng và những giải pháp để phát triểncông nghiệp chế biến nông lâm sản trên địa bàn thị xã Quảng Trị, địa phương có nhiềuđiều kiện thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp này

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM SẢN Ở THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Thị xã Quảng Trị Nằm ven châu thổ sông Thạch Hãn, cách cố đô Huế khoảng60km về phía bắc, phía tây và phía bắc giáp huyện Triệu Phong, phía đông giáp huyệnHải Lăng và phía nam giáp huyện Đakrông và Hải Lăng

Nằm trên trục đường giao thông chiến lược của quốc gia: quốc lộ I, tuyếnđường sắt Bắc-Nam, địa bàn thị xã Quảng Trị giao thông ra bắc vào Nam hết sứcthuận lợi Thị xã cũng là đầu mối xuất phát của các con đường tỉnh lộ như đường 64(thị xã Quảng Trị- Cửa Việt), đường 68 (thị xã Quảng Trị- đồng bằng Triệu Hải-Phong Quảng) và nhiều con đường khác: thị xã Quảng Trị -La Vang- Phước Môn, thị

xã Quảng Trị- Thượng Phước- Trấm- Cùa Với hệ thống đường bộ, đường sắt, đườngthuỷ từ trung tâm thị xã có thể mở rộng phát triển khắp các vùng, tiện lợi cho việc giaolưu kinh tế, văn hoá giữa thị xã Quảng Trị với các huyện, thị trong tỉnh, trong nước Vìvậy, thị xã Quảng Trị có một vị trí quan trọng không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị,quân sự, văn hoá, xã hội

Địa hình, đất đai

Địa hình thị xã Quảng Trị chia thành 2 vùng rõ rệt: Phía nam là vùng đồi núivới những thảm rừng có hệ sinh thái phong phú Phía bắc là vùng đồng bằng tương đốibằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng lúa và các loại cây ăn quả lâu năm Hai con sôngThạch Hãn và Vĩnh Định thành con đường thủy nối liền thị xã Quảng Trị với CửaViệt, Đông Hà

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

Diện tích tự nhiên 7.291,60 ha, trong đó đất nông nghiệp 5.753,74 ha, đất phi

nông nghiệp 1.403,91 ha, đất chưa sử dụng 133,95 ha [2,86] Đất đai của thị xã Quảng

Trị chủ yếu là đất nông nghiệp nên tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông,lâm sản khá lớn

Điều kiện khí hậu

Thị xã Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm của vùngven biển, có hai mùa mưa, năng rõ rệt Mùa mưa từ tháng 8 năm trước đến tháng giêngnăm sau, lượng mưa hằng năm khá lớn, tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 và

12 chiếm 75-80% lượng mưa cả năm, gây úng lụt ảnh hưởng đến sản xuất nôngnghiệp, nuôi trồng thủy sản, cũng như đời sống của nhân dân Mùa nắng gió Tây -Nam khô nóng oi bức, bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, lượng bốc hơi cao nhất từ tháng

2 đến tháng 4(lúc nước thủy triều thấp) Nhiệt độ không khí trung bình dao động từ25,3oC đến 27,8oC

Khoáng sản

Thị xã Quảng Trị là vùng không có nhiều tài nguyên khoáng sản, một số loạiđiển hình như cát, sạn ở sông Thạch Hãn, có chất lượng tốt đang được khai thác songquy mô không được lớn

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Trong giai đoạn 2011 - 2014, tình hình kinh tế - xã hội thị xã Quảng Trị vẫn tạođược nhiều chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả cáckhía cạnh sau:

 Tăng trưởng kinh tế.

Trong giai đoạn 2011 - 2014 nền kinh tế của thị xã Quảng Trị phát triển theochiều hướng tích cực, luôn duy trì với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhữngnăm qua Trong năm 2014 dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng kinh tế thị xã Quảng Trịvẫn duy trì ở mức tăng trưởng khá cao; cụ thể như sau:

- Cơ cấu kinh tế năm 2014(GDP):

+ Thương mại - Dịch vụ: 51,8%, Công nghiệp – xây dựng: 37,9%, Nông - Lâm

- Thủy sản: 10,3%

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

- Tốc độ tăng trưởng bình quân các ngành chủ yếu:

+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, du lịch (Giá HH) tăng:19,8%/năm

+ Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp (Giá so sánh 2010) thời kỳ 2011-2015tăng 11%/năm

+ Giá trị sản xuất Nông - lâm - thủy sản (Giá so sánh 2010) thời kỳ 2011-2015tăng: 5,9%/năm

+ Sản lượng lương thực có hạt năm 2014:3.084 tấn, năm 2015 ước đạt 3.285 tấn

- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 ước đạt 28 triệu đồng

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đến năm 2015 ước đạt 26,9 tỷ đồng, tốc

độ tăng bình quân giai đoạn 2011- 2015 tăng 9,7%/năm

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 2011 – 2015 khoảng là 828 tỷ đồng Kếtquả thực hiện trên các nghành, lĩnh vực:

Về lĩnh vực Kinh tế: Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịchđúng hướng

Thương mại - dịch vụ - du lịch:

Tổng mức bán lẽ hàng hoá và doanh thu dịch vụ du lịch từ 465,5 tỷ đồng năm

2010 thì đến năm 2014: 975 tỷ đồng, năm 2015 ước đạt 1.150 tỷ đồng Nhịp độ tăng

bình quân giai đoạn 2011-2015 lă 19,8%/năm (Kế hoạch đề ra tăng từ 17-19%/năm).

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:

Giá trị sản xuất CN-TTCN (giá so sánh 2010) từ 207,3 tỷ đồng năm 2010, năm

2014: 321,6 tỷ đồng, ước đạt 350 tỷ đồng văo năm 2015, bình quân giai đoạn

2011-2015 tăng 11%/năm (Kế hoạch tăng từ 18-20%) Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có

bước chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến chiếm gần 88%trong cơ cấu nội bộ ngành CN – TTCN

Nông, lâm nghiệp, thủy sản:

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra,nhưng sản xuất nông nghiệp phât triển ổn định, giá trị sản xuất nông - lâm – thủy sản

tăng đều qua các năm Năm 2011, tổng giá trị sản xuất nông- lâm- thủy sản (giá so

sánh 2010) đạt 66,6 tỷ đồng Đến năm 2014 đạt 84,7 tỷ đồng, năm 2015, ước đạt 88 tỷ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 08/11/2016, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Bình, Phát triển công nghiệp chế biến dừa tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp chế biến dừa tỉnh Bình Định
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sựthật
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII).Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. Nguyễn Thị Thu Hương, Phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản theo định hướng xuất khẩu tại Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản theođịnh hướng xuất khẩu tại Đà Nẵng
11. Huỳnh Công Thời, Phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, khóa luận tốt nghiệp năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp chế biến nông, thủy sản ở huyện PhúVang, tỉnh Thừa Thiên Huế
12. Ngô Thị Thơm, Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Hà Giang, luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh HàGiang
13. Tổng cục thống kê (1993), quyết định 143/TCTK/PPCĐ ngày 22/12/1993 về hệ thống ngành kinh tế cấp II, cấp III và cấp IV.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Sách, tạp chí
Tiêu đề: quyết định 143/TCTK/PPCĐ ngày 22/12/1993 về hệthống ngành kinh tế cấp II, cấp III và cấp IV
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 1993
2. Chi cục thống kê thị xã Quảng Trị, Niên giám thống kê thị xã Hương Trà 2014 Khác
3. Cổng thông tin điện tử chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2013, kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và nhiệm vụ 2014 - 2015 Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2011 Khác
7. Giáo trình kinh tế học chính trị Mác – Lênin, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2008 Khác
8. Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị, Nghị quyết số 09/2012/NQ – HĐND ngày 24/10/2012, về việc quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác
10. Phòng kinh tế thị xã Quảng Trị, báo cáo tình hình phát triển CN – TTCN và làng nghề ở thị xã Quảng Trị giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tỷ trọng của CNCB trong GDP ở Malaysia - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 1.1. Tỷ trọng của CNCB trong GDP ở Malaysia (Trang 32)
Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế của thị xã Quảng Trị - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế phân theo ngành kinh tế của thị xã Quảng Trị (Trang 41)
Bảng 2.2: Số lượng, cơ sở chế biến nông, lâm sản ở một số Phường, xã của Thị xã - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.2 Số lượng, cơ sở chế biến nông, lâm sản ở một số Phường, xã của Thị xã (Trang 47)
Bảng 2.3: Số lượng cơ sở mở rộng quy mô sản xuất chế biến nông, lâm sản trên - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.3 Số lượng cơ sở mở rộng quy mô sản xuất chế biến nông, lâm sản trên (Trang 49)
Bảng 2.6:  Bảng thống kê phiếu điều tra Phiếu điều tra Số phiếu - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.6 Bảng thống kê phiếu điều tra Phiếu điều tra Số phiếu (Trang 52)
Bảng 2.7: Số lượng cơ sở chế biến nông, lâm sản có sản xuất nông, lâm nghiệp - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.7 Số lượng cơ sở chế biến nông, lâm sản có sản xuất nông, lâm nghiệp (Trang 53)
Bảng 2.8: Tình hình lao động của các cơ sở công nghiệp chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.8 Tình hình lao động của các cơ sở công nghiệp chế biến nông, (Trang 54)
Bảng 2.8: Tình hình phát triển thương hiệu của các cơ sở chế biến - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.8 Tình hình phát triển thương hiệu của các cơ sở chế biến (Trang 57)
Sơ đồ 3: Tình hình phát triển thương hiệu của các cơ sở chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Sơ đồ 3 Tình hình phát triển thương hiệu của các cơ sở chế biến nông, (Trang 58)
Bảng 2.9: Tỉ lệ thị trường nguyên liệu đầu vào của các cơ sở chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.9 Tỉ lệ thị trường nguyên liệu đầu vào của các cơ sở chế biến nông, (Trang 59)
Bảng 2.10: Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.10 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở chế biến nông, (Trang 60)
Bảng 2.11: Hình thức đưa sản phẩm ra thị trường của các cơ sở chế biên nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.11 Hình thức đưa sản phẩm ra thị trường của các cơ sở chế biên nông, (Trang 61)
Bảng 2.12: Tình hình áp dụng khoa học - kỹ thuật vào công nghiệp chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.12 Tình hình áp dụng khoa học - kỹ thuật vào công nghiệp chế biến nông, (Trang 63)
Bảng 2.13: Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của cơ sở chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Bảng 2.13 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của cơ sở chế biến nông, (Trang 64)
Sơ đồ 7: Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của cơ sở chế biến nông, - Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn thị xã quảng trị, tỉnh quảng trị
Sơ đồ 7 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân của cơ sở chế biến nông, (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w