Do nhu cầu về thông tin tài chính doanhnghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính phải được tiến hành bằng nhiềuphương pháp khác nhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quan
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn “ Phân tích tài chính tại Công ty
cổ phần tổng công ty Thương mại Quảng Trị” là công trình nghiên cứukhoa học của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong công trìnhnghiên cứu khoa học này là độc lập và chưa được sử dụng để bảo vệ mộthọc vị nào Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Kế toán-Tài chính-Thống
kê Công ty cổ phần tổng công ty Thương mại Quảng Trị, lãnh đạo và cán bộ phòng
kế toán các đơn vị trực thuộc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thu thập số liệu để nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm,giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Quảng Trị, ngày 25 tháng 6 năm 2015
Tác giả
Lê Ngọc Sáng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên : LÊ NGỌC SÁNG
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH Niên khóa: 2013 - 2015
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI DŨNG THỂ
Tên đề tài: “Phân tích tài chính tại Công ty cổ phần tổng công ty thương mại
Quảng Trị”
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp Tất
cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanhnghiệp, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìmhãm quá trình kinh doanh
Đối với Công ty TNHH Một thành viên Thương mại Quảng Trị (nay là Công
ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị) là doanh nghiệp 100% vốn nhànước, lộ trình cổ phần hóa theo quy định của Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Trịthì đầu năm 2015 phải chuyển sang công ty cổ phần Nên việc nghiên cứu, phân tích
và đánh giá quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng các nguồnlực trở nên cấp bách và cần thiết, trong đó nội dung phân tích tình hình tài chính đểtìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho Công ty có một vị trí hếtsức quan trọng
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Phân tích tài chính tại Công
ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu
- Phương pháp phân tích
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính trongdoanh nghiệp
- Phân tích thực trạng tài chính của Công ty cổ phần Tổng Công ty Thươngmại Quảng Trị giai đoạn 2012-2014
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp[7] 5
1.1.2 Ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp[7] 6
1.2 TỔ CHỨC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 10
1.2.1 Các giai đoạn tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp[7] 10
1.2.2 Hệ thống thông tin và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 11
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 15
1.3.1 Nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp .15
1.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 16
1.4 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 16
1.4.1 Khái quát về nội dung phân tích 16
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 61.4.2 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với
nguồn vốn 22
1.4.3 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh 24
1.4.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 27
1.4.5 Phân tích tình hình luân chuyển hàng hoá tồn kho 30
1.4.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh 30
1.4.7 Phân tích khả năng sinh lợi 33
1.4.8 Phân tích đòn bẩy tài chính 36
1.4.9 Phân tích tỷ suất cổ phiếu thường 36
1.4.10 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh37 1.4.11 Dự báo nhu cầu tài chính 38
1.4.12 Phân tích và dự báo rủi ro tài chính 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI QUẢNG TRỊ 45
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị 45
2.1.1 Thông tin khái quát về Công ty 45
2.1.2 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty 45
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh: 47
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 48
2.1.5 Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh 53
2.1.6 Tình hình lao động 54
2.2 THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI QUẢNG TRỊ 56
2.2.1 Đánh giá tổng quát tình hình tài chính .56
2.2.2 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn 57
2.2.3 Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh 62
2.2.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 66
2.2.5 Phân tích tình hình luân chuyển hàng tồn kho 68
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 72.2.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh 69
2.2.7 Phân tích khả năng sinh lợi 73
2.2.8 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh .76
2.2.9 Dự báo nhu cầu vốn lưu động 81
2.2.10 Phân tích và dự báo rủi ro tài chính 82
2.2.11 Đánh giá chung thực trạng tài chính của công ty 84
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI QUẢNG TRỊ 89
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM TỚI .89
3.1.1 Mục tiêu và định hướng phát triển 89
3.1.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty 90
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY 90
3.2.1 Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng giải pháp 90
3.2.2 Những giải pháp cụ thể 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1 + 2
BẢN GIẢI TRÌNH
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Doanh thu của Công ty qua 3 năm 2012-2014 53
Bảng 2.2: Tình hình lao động qua 3 năm 2012-2014 55
Bảng 2.3: Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty qua 3 năm 2012-2014 .56
Bảng 2.4: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2012-2014 59
Bảng 2.5: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2012-2014 61
Bảng 2.6: Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2012-2014 62
Bảng 2.7: Tình hình tài sản và nguồn tài trợ của Công ty qua 3 năm 2012-2014 64
Bảng 2.8: Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn của Công ty qua 3 năm 2012-2014 65
Bảng 2.9: Phân tích các khoản phải thu, phải trả của Công ty qua 3 năm 2012-2014 .67
Bảng 2.10: Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của Công ty qua 3 năm 2012-2014 68
Bảng 2.11: Phân tích tình hình luân chuyển hàng hóa tồn kho của Công ty qua 3 năm 2012-2014 69
Bảng 2.12: Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2012-2014 71
Bảng 2.13: Phân tích tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 72
Bảng 2.14: Chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tổng tài sản của công ty 72
qua các năm 72
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tài sản ngắn hạn của Công ty qua các năm 73
Bảng 2.16: Các chỉ tiêu hệ số lãi ròng, suất sinh lời của tài sản, đòn bẩy tài chính của Công ty qua các năm 74
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9Bảng 2.17: Các chỉ tiêu khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu của Công ty 75
qua các năm 75
Bảng 2.18: Ảnh hưởng của vốn kinh doanh và hiệu suất sử dụng vốn đến doanh thu .76
Bảng 2.19 : Phân tích ảnh hưởng của vốn kinh doanh và tỷ suất sinh lợi vốn kinh doanh đến lợi nhuận 78
Bảng 2.20: Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 80
Bảng 2.21: Tỷ lệ % trên doanh thu đối với tài sản và nguồn vốn biến động theo doanh thu năm 2014 81
Bảng 2.22: Phân tích và dự báo rủi ro thanh toán nhanh của Công ty 82
Bảng 2.23: Phân tích và dự báo rủi ro bảo toàn và phát triển VCSH của Công ty 83
Bảng 2.24: Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích tài chính tại Công ty 84
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các hoạt động kinh doanh đa dạng vàphong phú hơn Do đó việc phân tích quá trình hoạt động kinh doanh cũng nhưphân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là một vấn đề cần thiết hiện nay Kếtquả phân tích không chỉ giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được tình hình hoạt độngcủa công ty mà còn dùng để đánh giá dự án đầu tư, tính tóan mức độ thành côngtrước khi bắt đầu ký kết hợp đồng Ngoài ra, việc phân tích tình hình hoạt động kinhdoanh còn là một trong những lĩnh vực không chỉ được quan tâm bởi các nhà quảntrị mà còn nhiều đối tựơng kinh tế khác liên quan đến doanh nghiệp Qua kết quảcủa việc phân tích báo cáo tài chính cho thấy được hoạt động kinh doanh không chỉ
là việc đánh giá kết quả mà còn là việc kiểm tra, xem xét trước khi bắt đầu quá trìnhkinh doanh nhằm hoạch định chiến lược tối ưu Để đạt được kết quả cao nhất trongsản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định phương hướng, mục tiêutrong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện vốn có về các nguồn nhân tài, vật lực
Quản trị tài chính là một bộ phận quan trọng của quản trị doanh nghiệp Tất
cả các hoạt động kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanhnghiệp, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìmhãm quá trình kinh doanh Do đó, để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động kinhdoanh có hiệu quả các nhà quản trị cần phải thường xuyên tổ chức phân tích tìnhhình tài chính Bởi vì thông qua việc tính toán, phân tích tài chính cho ta biết nhữngđiểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũngnhư những tiềm năng cần phát huy và những nhược điểm cần khắc phục Từ đó cácnhà quản lý có thể xác định được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm cảithiện tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị mìnhtrong thời gian tới Với một doanh nghiệp hay bất kì tổ chức kinh doanh dù lớn haynhỏ khi hoạt động đều mong muốn làm sao hoạt động có hiệu quả thu về lợi nhuậnnhiều nhất và đạt được mục tiêu mà công ty đề ra
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11Mặt khác theo nghi định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011của Chính phủ vềchuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành Công ty cổ phần Thoát khỏi
sự bao cấp của Nhà nước, doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì tìnhhình nguồn lực của doanh nghiệp phải mạnh và có chiến lược đúng đắn
Đứng trước tình hình đó, mỗi doanh nghiệp đều phải tăng cường nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực tài chính của công ty mình.Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế ngày càng mở rộng và phát triển, các mốiquan hệ kinh tế ngày càng đa dạng phong phú, thì việc đưa ra các phương án kinhdoanh chính xác sẽ có ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp Các quyếtđịnh này phải dựa trên những điều kiện hiện tại và dự đoán về tương lai Muốn vậyngười làm công tác tài chính phải thường xuyên đánh giá tình hình tài chính củacông ty để thấy những mặt mạnh, mặt yếu từ đó có phương án quản lý và sử dụngtài sản, tài chính của công ty mình một cách có hiệu quả
Đối với Công ty TNHH Một thành viên Thương mại Quảng Trị (nay là Công
ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị) là doanh nghiệp 100% vốn nhànước, lộ trình cổ phần hóa theo quy định của Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Trịthì đầu năm 2015 phải chuyển sang công ty cổ phần Nên việc nghiên cứu, phântích và đánh giá quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng cácnguồn lực trở nên cấp bách và cần thiết, trong đó nội dung phân tích tình hình tàichính để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho Công ty có một
vị trí hết sức quan trọng Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Phân tích
tài chính tại Công ty cổ phần Tổng công ty Thương mại Quảng Trị” làm luận
văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Tổng
Công ty Thương mại Quảng Trị, đánh giá kết quả đạt được cũng như hạn chế để đềxuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao năng lực tài chính của Công ty
Cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính tại Công ty
Cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Công ty Cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị
Về thời gian: Đề tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp và phân tích số liệuphản ánh tình hình tài chính của công ty trong giai đoạn năm 2011 – 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Việc điều tra và thu thập số liệu được tiến hành theophương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp qua các báo cáo của Công ty cổphần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị chọn lọc tập hợp từ các tài liệu sau:Các báo cáo tài chính gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báocáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty và các đơn vịtrực thuộc; Báo cáo thường niên của Công ty
Ngoài ra, còn tham khảo và sử dụng các thông tin từ các tạp chí chuyênngành về tài chính, Kiểm toán; kế thừa một cách hợp lý nguồn thông tin, kết quảnghiên cứu của một số luận văn của các tác giả trong nước về phân tích tài chínhCông ty
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập sử dụng bằng cách phỏng vấn cán bộ lãnhđạo trong công ty, các phòng ban chức năng của Công ty Ngoài ra thảo luận thêmcác chuyên gia cũng được tiến hành để làm rõ các nguyên nhân dẫn đến thực trạng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 134.2 Phương pháp phân tích
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả; phương phápchỉ số; phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp so sánh và một số phươngpháp khác
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung nghiên cứu được chiathành các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Tổng Công tyThương mại Quảng Trị
Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho công ty
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp[7]
Tài chính là một phạm trù kinh tế xã hội, phát sinh và tồn tại cùng với sự tồntại của nhà nước và nền sản xuất hàng hóa Tài chính được đặc trưng bằng sự vậnđộng độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phươngtiện cất giữ trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhấtđịnh của các chủ thể kinh tế - xã hội
Tài chính doanh nghiệp là toàn bộ các quan hệ tài chính biểu hiện qua quátrình “huy động và sử dụng vốn để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp” Hai yếu tố
đó gắn liền với nhau qua hoạt động đầu tư vì đầu tư tạo điều kiện cho sự vận độngcủa các quỹ tiền tệ trong toàn xã hội
Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng cơ bản là huy động và sử dụng vốn.Nói đến tài chính là nhấn mạnh đến các dòng tiền Chức năng “huy động” còn gọi làchức năng tài trợ, ám chỉ quá trình tạo ra các quỹ tiền tệ từ các nguồn lực bên trong
và bên ngoài để doanh nghiệp hoạt động trong lâu dài với chí phí thấp nhất Chứcnăng “sử dụng vốn” hay còn gọi là đầu tư, liên quan đến việc phân bổ vốn ở đâu,lúc nào sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả nhất
Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp, được thể hiện thông qua:(1) Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính Mối quan hệnày thường thể hiện qua việc doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh: từ ngân hàng thông qua vay, từ công chúng qua phát hành trái phiếu, cổphiếu, từ các định chế tài chính khác Trong điều kiện thị trường tài chính vững mạnh
và phát triển thì mối quan hệ này cần được vận dụng linh hoạt để doanh nghiệp sử dụngnguồn tài trợ có chi phí thấp nhất Một thị trường tài chính vững mạnh còn là môitrường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư vốn nhàn rỗi ra bên ngoài
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15(2) Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước Trong điềukiện kinh tế thị trường, quan hệ này thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trongthanh toán các khoản thuế theo luật định Trong nhiều trường hợp đặc biệt, nếu nhànước có chính sách hỗ trợ cho sản xuất trong nước qua hình thức trợ giá, bù lỗ, cấpphát thì đây cũng là một dạng quan hệ tài chính.
(3) Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường khác như: thị trườnghàng hoá và dịch vụ Mối quan hệ này thể hiện qua việc doanh nghiệp tận dụng cáckhoản tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Đó còn là cácquan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với các khách hàng để kích thích hoạt động tiêuthụ của doanh nghiệp Sử dụng linh hoạt các mối quan hệ tài chính này để đảm bảodoanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn tạm thời có chi phí thấp, tăng cường hiệu qủahoạt động kinh doanh Nghiên cứu mối quan hệ này còn đánh giá công tác thanhtoán giữa doanh nghiệp với các chủ nợ cũng như công tác quản lý công nợ củadoanh nghiệp
(4) Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: thể hiện qua quan hệ thanhtoán giữa doanh nghiệp với người lao động về lương, các khoản tạm ứng ; quan hệ
về phân phối vốn giữa doanh nghiệp với các đơn vị thành viên, quan hệ phân phối
và sử dụng quỹ hình thành từ lợi nhuận để lại
Quá trình phân tích những mối quan hệ nêu trên đóng vai trò hết sức quantrọng đối với nhà quản lý để từ đó có quyết định phù hợp và đúng đắn cho doanhnghiệp của mình Đối với nhà đầu tư, nó là cơ sở để xem xét ra các quyết định tàichính trong doanh nghiệp
1.1.2 Ý nghĩa và mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp[7]
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giátình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho các nhà quản trị đưa ra được quyếtđịnh quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp cho các đốitượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp,qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của họ Có rất nhiều đối tượng quantâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp Mỗi đối tượng lại quan
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16tâm theo giác độ và mục tiêu khác nhau Do nhu cầu về thông tin tài chính doanhnghiệp rất đa dạng, đòi hỏi phân tích tài chính phải được tiến hành bằng nhiềuphương pháp khác nhau để từ đó đáp ứng nhu cầu của các đối tượng quan tâm.Chính điều đó đã tạo điều kiện cho phân tích tài chính ra đời, ngày càng hoàn thiện
và phát triển, đồng thời cũng tạo ra phức tạp của phân tích tài chính
Thông qua phân tích các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng,các thông tin về mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước,với thị trường và với nội bộ doanh nghiệp, phân tích tài chính cho thấy những điểmmạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhờ đó,những người quan tâm đến hoạt động của công ty sẽ có các biện pháp và quyết địnhphù hợp
Phân tích tài chính cung cấp những thông tin hữu ích giúp kiểm tra, phân tíchmột cách tổng hợp, toàn diện, có hệ thống về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hìnhthực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Những người quản lý tài chính khi phântích tài chính cần cân nhắc tính toán tới mức rủi ro và tác động của nó tới doanhnghiệp mà biểu hiện chính là khả năng thanh toán, đánh giá khả năng cân đối vốn,năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, cácnhà phân tích tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quả hoạt động kinhdoanh nói chung, mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Ngoài
ra, phân tích tài chính còn cung cấp những thông tin số liệu để kiểm tra giám sát tìnhhình hạch toán kinh doanh, tình hình chấp hành các chính sách chế độ kinh tế tàichính của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của xã hội thì việc phân tích tài chínhcàng trở nên quan trọng, bởi công tác phân tích tài chính ngày càng cho thấy sự cầnthiết của nó đối với sự phát triển doanh nghiệp Phân tích tài chính cho thấy khả năng
và tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp, do đó sẽ giúp cho công tác dự báo,lập kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn, dễ dàng đưa ra các chính sách tạo điềukiện cho công ty hoạt động
Trước đây, việc phân tích tài chính chỉ để phục vụ cho nhu cầu cho các nhàđầu tư và các ngân hàng Hiện nay việc phân tích tài chính được rất nhiều đối tượng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17quan tâm Tùy theo mục đích khác nhau của người sử dụng mà phân tích tài chính
sẽ có những vai trò khác nhau:
(1) Đối với những người quản lý doanh nghiệp, hoạt động phân tích tàichính của những người quản lý doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội
bộ Do ở doanh nghiệp họ nắm được đầy đủ và chính xác các thông tin, kèm theo
sự hiểu rõ về doanh nghiệp nên họ có lợi thế để phân tích tài chính một cách tốtnhất Phân tích tài chính có ý nghĩa để dự báo tài chính và là cơ sở cho các nhàquản lý đưa ra quyết định phù hợp không chỉ trong vấn đề tài chính mà còn nhiềuvấn đề khác Phân tích tài chính nội bộ thực sự cần thiết để xác định giá trị kinh tế,các mặt mạnh, yếu và đưa ra những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của mộtdoanh nghiệp
(2) Đối với các cơ quan chức năng, cơ quan Nhà nước có liên quan, dựa vàocác báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích đánh giá, kiểm tra hoạt độngsản xuất kinh doanh Hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ với nhà nước hay không, có tuân theo pháp luật hay không đồng thời sựgiám sát này giúp cơ quan thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phùhợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả.Giúp Nhà nước đưa những kế hoạch phát triển ở tầm vĩ mô sao cho mang lại lợi íchthiết thực nhất
(3) Đối với các nhà đầu tư, các nhà đầu tư là các doanh nghiệp và cá nhânquan tâm trực tiếp đến các giá trị của doanh nghiệp vì họ là người đã giao vốn chodoanh nghiệp và có thể phải chịu rủi ro Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giátrị gia tăng thêm của vốn đầu tư Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳvọng của doanh nghiệp Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận màdoanh nghiệp đạt được theo tính toán trên sổ sách Dự kiến trước lợi nhuận sẽ đạtđược là mối quan tâm thực sự của nhà đầu tư Thông qua sự phân tích dựa trên cácbáo cáo tài chính, phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro và sự phân tích diễnbiến giá cả, các nhà đầu tư sẽ đưa ra các quyết định của chính mình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18(4) Đối với ngân hàng, Các nhà cho vay tín dụng, các đối tác kinh doanh vàcác tổ chức khác, những đối tượng này quan tâm đến khả năng thanh toán công nợ,khả năng hợp tác liên doanh của doanh nghiệp, cho nên cũng cần phân tích và đánhgiá thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các chủ nợ, họquan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp nếu đó là các khoản vayngắn hạn, đối với khoản vay dài hạn họ phải tin chắc khả năng hoàn trả khi xem xétkhả năng sinh lời của doanh nghiệp Song quan trọng nhất đó là cơ cấu tài chính biểuhiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi vay Các đối tác kinh doanh còn xem xétđến khả năng hợp tác của doanh nghiệp thông qua tình hình chấp hành các chế độ,khả năng, tiềm năng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
(5) Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp, những ngườihưởng lương trong doanh nghiệp cũng quan tâm đến tình hình tài chính, bởi lợi íchcủa họ gắn liền với hoạt động tài chính của doanh nghiệp Người lao động quan tâmđến các thông tin và số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển vọng của nó trongtương lai Những người đi tìm việc đều có nguyện vọng được vào làm việc trong cáccông ty có triển vọng với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương xứng đáng vàchỗ làm việc ổn định
Những nhà phân tích tài chính nghiên cứu và đưa ra các dự đoán về kết quảcủa hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng trong tương lai Phân tích tàichính là cơ sở để dự đoán tài chính Ngoài ra phân tích tài chính được ứng dụngtheo nhiều hướng khác nhau: Đưa ra quyết định phục vụ nghiên cứu hay để kiểm tragiám sát chặt chẽ hơn Hiện nay với sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp cùngvới quá trình cạnh tranh khốc liệt thì phải có chiến lược kinh doanh cụ thể hợp lý vàchính xác Phân tích tài chính sẽ có tác dụng trong việc thực hiện điều đó
Như vậy, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệpdưới những góc độ khác nhau Song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra cácdòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức sinh lợi nhuận Bởi vậy, việcphân tích tình hình tài chính doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu nhất định Phân tíchtình hình tài chính phải cung cấp cho các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào, ra và tình hình sử dụng có hiệu quả nhất vốnkinh doanh, tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp Phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, cáckhoản nợ, kết quả quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tìnhhuống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của công ty.
1.2 TỔ CHỨC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Các giai đoạn tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp[7]
Tổ chức phân tích tài chính trong doanh nghiệp là việc thiết lập trình tự cácbước công việc cần tiến hành trong quá trình phân tích tài chính Để phân tích tàichính trong doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá trình ra quyết định,phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinhdoanh, cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp và phù hợp với mục tiêu quan tâmcủa từng đối tượng Mỗi đối tượng quan tâm với những mục đích khác nhau, nên việcphân tích đối với mỗi đối tượng cũng có những nét riêng Song nói chung, phân tíchtài chính trong doanh nghiệp thường được tiến hành qua các giai đoạn sau:
(1) Lập kế hoạch phân tích: Đây là giai đoạn đầu tiên, là khâu quan trọng,ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích tài chính Lập
kế hoạch phân tích, bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình phântích Kế hoạch phân tích phải được xác định rõ nội dung, phạm vi phân tích, thờigian tiến hành, những thông tin cần thu thập, tìm hiểu
(2) Giai đoạn tiến hành phân tích: Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện cáccông việc đã ghi trong kế hoạch Tiến hành phân tích bao gồm các bước công việcsau: Sưu tầm số liệu, xử lý số liệu; tính toán các chỉ tiêu phân tích; xác định nguyênnhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phântích; xác định và dự đoán những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến tình hình kinhdoanh của doanh nghiệp; tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tàichính của doanh nghiệp
(3) Giai đoạn kết thúc: Đây là giai đoạn cuối cùng của phân tích Trong giaiđoạn này cần tiến hành những công việc cụ thể sau: Viết báo cáo phân tích; hoànchỉnh hồ sơ phân tích
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 201.2.2 Hệ thống thông tin và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 1.2.2.1 Những thông tin cần thiết cho phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin liên quan đến doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng Một sốcông khai, một số chỉ dành cho những người có lợi ích gắn liền với sự sống còn củadoanh nghiệp Có những thông tin được báo chí hoặc các tổ chức tài chính công bố,
có những thông tin chỉ trong nội bộ doanh nghiệp được biết Do vậy để có nhữngthông tin cần thiết phục vụ cho quá trình phân tích tài chính, các nhà phân tích tàichính phải sưu tầm đầy đủ và thích hợp những thông tin liên quan đến hoạt độngcủa doanh nghiệp
1.2.2.1.2 Thông tin bên ngoài
Là những thông tin bao gồm thông tin liên quan đến tình hình Kinh tế-Xã hội(cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất ngân hàng; thông tin về ngành kinhdoanh; thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, tìnhtrạng công nghệ, thị phần và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanhnghiệp) Nguồn thông tin này được phản ánh trong các văn bản pháp quy của Nhànước, các số liệu thống kê, tin tức hàng ngày trên các phương tiện thông tin đạichúng, hoặc các tài liệu ấn phẩm của từng cơ quan, từng ngành
Nhân tố bên ngoài còn ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh cũng nhưhoạt động của doanh nghiệp Thường là các thông tin về tình hình kinh tế xã hội, về
sự tăng trưởng hoặc suy thoái kinh tế trong nước cũng như trên thế giới Nhữngthông tin này đều góp phần xây dựng các dự báo kế hoạch tài chính ngắn hạn và dàihạn cho doanh nghiệp, góp phần tạo điều kiện cho doanh nghiệp cũng như nhữngđối tượng quan tâm khác đến doanh nghiệp đưa ra quyết định phù hợp và đúng đắn
1.2.2.1.2 Thông tin bên trong
Thông tin bên trong của một doanh nghiệp là mọi nguồn thông tin liên quanđến doanh nghiệp đó, ví dụ: Thông tin về thị trường của doanh nghiệp, thông tin vềnhân sự Trong đó hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị của doanhnghiệp, sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán thông tin về kế toán là nguồn thôngtin đặc biệt cần thiết, mang tính bắt buộc Thông tin kế toán phản ánh một cách hệ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21thống tình hình tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh
và tình hình sử dụng vốn trong những thời điểm nhất định Thông tin kế toán cũnggiúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tàichính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để từ đó ra quyết định phùhợp Sản phẩm cuối cùng của chu trình kế toán số liệu là hệ thống báo cáo kế toáncủa doanh nghiệp Bởi vậy, thông tin kế toán được phản ánh đầy đủ trong hệ thốngbáo cáo kế toán của doanh nghiệp Vì vậy phân tích tài chính tức là phân tích hệthống báo cáo tài chính và kế toán doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính được Nhà nước quy định có tính chất bắt buộc vềbiểu mẫu, phương pháp lập, đối tượng và phạm vi áp dụng cũng như thời gian nộpbáo cáo
Hệ thống báo cáo tài chính được quy định trong chế độ tại Quyết định số15/2006/QĐ- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính [5] Để tiến hànhhội nhập với kế toán quốc tế, phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế, hệ thốngbáo cáo tài chính Việt Nam đã được sửa đổi tại các thông tư
Bảng cân đối kế toán: BCĐKT là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp dưới hìnhthái tiền tệ tại một thời điểm nhất định Thời điểm đó thường là ngày cuối tháng,cuối quý, cuối năm
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo kết quả kinh doanh là báocáo tài chính tổng hợp phản ánh tóm lược tình hình chi phí, doanh thu và kết quảtừng loại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Khác vớiBảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho biết sự dịchchuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chophép đánh giá hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời cũng như khả năng hoạtđộng của doanh nghiệp trong tương lai
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có ý nghĩa rất lớn
trong việc cung cấp thông tin liên quan đến phân tích tài chính doanh nghiệp.Thông qua BCLCTT, ngân hàng, các nhà đầu tư, Nhà nưóc và nhà cung cấp có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22thể đánh giá khả năng tạo ra các dòng tiền từ các loại hoạt động của doanhnghiệp để đáp ứng kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, cổ tức cho các cổ đônghoặc nộp thuế cho Nhà nước Đồng thời, đó cũng là mối quan tâm của các nhàquản lý tại doanh nghiệp để có các biện pháp tài chính cần thiết, đáp ứng tráchnhiệm thanh toán của mình.
BCLCTT còn là cơ sở để dự đoán các dòng tiền của doanh nghiệp, trợ giúpcác nhà quản lý trong công tác hoạch định và kiểm soát các hoạt động của doanhnghiệp Thông qua BCLCTT, người ra quyết định có thể đánh giá thời cơ kinhdoanh của doanh nghiệp để ra các quyết định kịp thời
Thuyết minh báo cáo tài chính: Thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp các
thông tin về doanh nghiệp như: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, niên độ kếtoán sử dụng, chế độ kế toán áp dụng, việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán và chế độ
kế toán Việt Nam Thuyết minh báo cáo tài chính còn bổ sung các thông tin rõ ràng,chi tiết cho các khoản, mục tổng hợp trình bày trong bảng cân đối kế toán và báo cáokết quả kinh doanh
Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính, các báo cáo của kế toán quản trị cũngđược coi là tài liệu không thể thiếu được trong phân tích tài chính Báo cáo kế toánquản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp Báo cáo kếtoán quản trị thay đổi theo quyết định của người quản lý doanh nghiệp và được lậpmột cách thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp Hệ thống báo cáo kếtoán quản trị của một doanh nghiệp bao gồm: Báo cáo tổng hợp giá thành sản phẩm,báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từng bộ phận, mặt hàng, báo cáo khối lượngsản phẩm, dịch vụ hoàn thành; báo cáo khối lượng sản phẩm dịch vụ tiêu thụ, báocáo tình hình sử dụng lao động và năng suất lao động Báo cáo một số chỉ tiêu phântích tình hình tài chính của doanh nghiệp, báo cáo về sử dụng vật tư
Thông tin của các báo cáo quản trị mang lại là cơ sở quan trọng để cho cácnhà quản lý ra quyết định kinh doanh ở khâu như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện,kiểm tra đánh giá mặt khác chúng giúp nhà quản trị trong quá trình xử lý, phântích thông tin lựa chọn phương án và ra quyết định kinh doanh phù hợp Kết hợp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23báo cáo tài chính và báo cáo quản trị làm thành một hệ thống thông tin tương đốiđầy đủ và đáng tin cậy để doanh nghiệp có thể tiến hành phân tích tài chính đạt hiệuquả chính xác.
1.2.2.2 Phương pháp phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta có thể sử dụng một hay tổnghợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chínhdoanh nghiệp Những phương pháp phân tích tài chính sử dụng phổ biến là: Phươngpháp so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố, phươngpháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài chính kể cả các phươngpháp phân tích các tình huống giả định
- Phương pháp so sánh: Để thực hiện phương pháp này, thứ nhất, phải tồn tạihai đại lượng, các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thốngnhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thờigian và đơn vị đo lường Thứ hai, gốc so sánh tuỳ thuộc vào mục đích của phântích Gốc so sánh có thể xác định tại từng thời điểm, cũng có thể từng thời kỳ Thứ
ba, kỹ thuật so sánh thường được sử dụng là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng
số tương đối
- Phương pháp phân chia: Đây là phương pháp được sử dụng để chia nhỏ quátrình và kết quả thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêu nhận thứcquá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quantâm của từng đối tượng trong từng thời kỳ
- Phương pháp liên hệ đối chiếu: Là phương pháp phân tích sử dụng đểnghiên cứu xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng, đồng thờixem xét tính tương đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiện các hoạtđộng Sử dụng phương pháp này cần lưu ý đến các mối quan hệ mang tính nội tại,
ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tính cânđối tổng thể, cân đối từng phần
- Phương pháp phân tích nhân tố: Là phương pháp thiết lập các công thứctính toán các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Trên cơ sở mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được sử dụng để phân tích và các nhân tốảnh hưởng mà sử dụng các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố và phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp.
Điều kiện sản xuất kinh doanh và quy trình hoạt động của doanh nghiệp: Mỗidoanh nghiệp có đặc điểm riêng về quy trình hoạt động cũng như sản phẩm, dịch vụ
mà nó sản xuất ra Do vậy, các thông tin thu nhập từ ngay bản thân quá trình sản xuất,kinh doanh cũng mang những đặc điểm riêng, đòi hỏi người phân tích phải tổng hợp,
xử lý phân tích một cách linh hoạt Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tácphân tích tài chính của doanh nghiệp là:
- Đặc điểm của sản phẩm kinh doanh;
- Đặc điểm của quá trình sản xuất, kinh doanh;
- Đặc điểm của quá trình cung ứng hàng hoá, vật tư đầu vào;
- Đặc điểm của mạng lưới tiêu thụ;
- Đặc điểm của loại hình doanh nghiệp
Nhân sự: Yếu tố con người ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của côngtác phân tích tài chính doanh nghiệp Nếu không có đội ngũ cán bộ dồi dào kinhnghiệm và trình độ, quá trình thu nhập và xử lý thông tin sẽ không được tiếnhành hoặc được tiến hành một cách chệch hướng, ảnh hưởng không nhỏ đến cácquyết định của các nhà quản lý Nhân sự trong phân tích tài chính doanh nghiệphiện nay vẫn chủ yếu thuộc bộ phận kế toán doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệpkhông những phải có chính sách đúng đắn trong tuyển dụng và đào tạo mà cònphải có chính sách đãi ngộ hợp lý để các cán bộ nhân viên của phòng tài chính
kế toán yên tâm làm việc và phát huy hết khả năng của mình, với chính sách đãingộ hợp lý, doanh nghiệp còn có thể thu hút được nhân tài từ nơi khác về làmviệc và cống hiến
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Hỗ trợ các phương tiện kỹ thuật: Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
sẽ đạt hiệu quả rất cao nếu doanh nghiệp kịp thời ứng dụng các thành tựu khoa học
kỹ thuật – hệ thống phần mềm tài chính kế toán chuyên dụng
Những nhân tố chủ quan phát sinh chi phối bản thân doanh nghiệp cũng cótác động đối với quá trình phân tích tài chính Chẳng hạn, doanh nghiệp đang tiếnhành cắt giảm chi phí hoặc đang tập trung vào việc mở rộng quy mô hoạt động Trong những kế hoạch như vậy, hiển nhiên hoạt động phân tích phải tính đến nhữngtác động việc thực hiện kế hoạch đến các chỉ tiêu tài chính
1.3.2 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Hoạt động tài chính luôn được đặt trong môi trường kinh doanh, hệ thốngpháp luật cùng những quy định của nó Doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoánđược trước những thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Thôngtin là đầu vào cần thiết cho bất cứ mục tiêu phân tích gì Trong phân tích tài chính,thông tin bên trong (báo cáo kế toán) hay thông tin bên ngoài (thông tin về đối thủcạnh tranh, thông tin của toàn nghành, thông tin về các chính sách thay đổi củaNhà nước ) đều có vai trò hết sức quan trọng Các thông tin thu nhập phải đầy đủ
cả về số lượng và chất lượng, kịp thời phản ánh sát thực tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp
1.4 NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.4.1 Khái quát về nội dung phân tích
Phân tích tài chính doanh nghiệp được nghiên cứu từ rất nhiều nhà lý luậncũng như các nhà quản lý trong và ngoài nước Nội dung chính của các nhà nghiêncứu đều xuất phát từ mục tiêu của phân tích tài chính là giúp người sử dụng thôngtin có căn cứ để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhất, tuy nhiên quan điểm vềnội dung phân tích tài chính còn nhiều quan điểm khác nhau Có thể nêu ra một sốquan điểm sau:
Quan điểm của tác giả Nguyễn Tấn Bình Trong cuốn “ Phân tích hoạt động
doanh nghiệp’’ [2] cho rằng phân tích tài chính có thể xem gần như phân tích báo
cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính thông qua các thông tin được thiết kế sẵn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26cũng như thông qua hệ thống chỉ tiêu được xây dựng dựa trên các báo cáo tài chính
để đánh giá tình hình tài chính (phân tích các nhóm chỉ tiêu chủ yếu, nhóm chỉ tiêuthanh toán , nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn, nhóm chỉ tiêu lợi nhuận, và nhómchỉ tiêu cơ cấu tài chính) và phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Quan điểm của các chuyên viên Vụ chế độ kế toán và kiểm toán - Bộ tàichính cho rằng phân tích tài chính gồm những nội dung không khác nhiều so vớicác nhà khoa học của khoa kế toán - Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội [6], cụ thểphân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính;
+ Phân tích nguồn vốn và chính sách huy động vốn ;
+ Phân tích tình hình khả năng thanh toán ;
+ Phân tích hiệu quả kinh doanh;
+ Dự báo nhu cầu tài chính
Quan điểm của PGS.TS Phạm Văn Được, trưởng khoa kế toán - Kiểm toán,trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trong cuốn “ Phân tích hoạt độngkinh doanh” [9] thì: Nội dung phân tích đi từ khái quát đến cụ thể, bao gồm các nôidung sau:
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính;
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán;
- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn;
- Phân tích hiệu quả kinh doanh
Quan điểm của TS Phạm Thị Gái - Nhà khoa học của khoa kế toán - Đạihọc kinh tế quốc dân Hà Nội [10] đã cụ thể nội dung phân tích bao gồm:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính;
+ Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh;
+ Phân tích tình hình khả năng thanh toán;
+ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn;
+ Dự báo nhu cầu tài chính
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27Quan điểm của tập thể tác giả: PGS TS Nguyễn Năng Phúc; PGS TSNghiêm Văn Lợi; TS Nguyễn Ngọc Quang, trong cuốn “Phân tích tài chính công ty
cổ phần” [17] thì phân tích tài chính gồm những nội dung sau:
- Phân tích tình hình biến đổi về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn củadoanh nghiệp;
- Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tình hìnhđảm bảo nguồn vốn lưu động cho việc dự trữ tài sản lưu động của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình thanh toán với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình rủi ro về tài chính của doanh nghiệp;
- Phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Theo tôi, mục đích quan trọng nhất của phân tích tài chính là giúp các nhàquản lý doanh nghiệp, các nhà quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệpđánh giá được chính xác tình hình tài chính doanh nghiệp, nắm vững tiềm năng, xácđịnh khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh, và rủi ro trong tương lai, dự báođược tình hình tài chính đề ra quyết định chính xác, vì vậy phù hợp với nội dungphân tích tình hình tài chính sử dụng trong luận văn này bao gồm:
1/ Phân tích khái quát tình hình tài chính;
2/ Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn
3/ Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh;
4/ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp;
5/ Phân tích tình hình luân chuyển hàng hoá tồn kho;
6/ Phân tích tỷ suất cổ phiếu thường;
7/ Phân tích hiệu quả kinh doanh;
8/ Phân tích khả năng sinh lợi;
9/ Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và các nhân tố ảnh hưởng;
10/ Dự báo nhu cầu tài chính và phân tích rủi ro tài chính
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 281.4.2 Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính Là việc xem xét, nhận định sơ bộbước đầu về tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc đánh giá này cung cấpthông tin một cách tổng quát về thực trạng và sức mạnh tài chính của doanhnghiệp, từ đó biết được mức độ độc lập về mặt tài chính và những khó khăn màdoanh nghiệp đang phải đương đầu
Đánh giá khái quát tình hình tài chính được thực hiện bằng cách tính ra và sosánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc các chỉ tiêu sau:
(1) Tổng số nguồn vốn
Tổng nguồn vốn phản ánh toàn bộ nguồn hình thành tài sản hiện có của doanhnghiệp đến cuối kỳ hạch toán, nó cho biết khả năng huy động vốn từ các nguồn khácnhau của doanh nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào
sự tăng lên hay giảm đi của tổng nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu kỳ thì chưa thể đánhgiá sâu sắc và toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệp được
(2) Hệ số tài trợ
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp, nócho biết trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm baonhiêu phần Các chủ nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để thực hiệnmức độ tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn cho các món nợ Nếu chủ sở hữu doanhnghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro xảy ra trong sản xuấtkinh doanh chủ yếu có các chủ nợ gánh chịu
Vốn chủ sở hữu
Hệ số tài trợ =
Tổng số nguồn vốnTrị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng độc lập về mặt tài chínhcủa doanh nghiệp càng cao và ngược lại
(3) Hệ số tự tài trợ
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đầu tư vốn chủ sở hữu vào tài sản dài hạn làbao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản dài hạn chủ yếu đượcđầu tư bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao cũng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29là không tốt vì khi đó, do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vàokinh doanh quay vòng để sinh lợi nên hiệu quả kinh doanh không cao.
(5) Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là tiền mặt và các dạng tài sản có tính thanh khoản cao (dễchuyển thành tiền) Nợ ngắn hạn là những khoản nợ cần phải thanh toán trong thờigian ngắn Một doanh nghiệp sáng suốt cần phải duy trì đủ tài sản ngắn hạn để đảmbảo thanh toán kịp thời các khoản nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắnhạn chính là thước đo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của nhà nước vớitổng số tài sản ngắn hạn hiện có Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là đảm bảo và tình hình tài chính làbình thường hay khả quan; ngược lại, nếu nhỏ hơn 1 thì khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là thấp
Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn(6) Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Tài sản ngắn hạn không phải lúc nào cũng dễ dàng chuyển đổi thành tiền,
=
Hệ số khả năngthanh toán nợ ngắn hạn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30khả năng thanh toán của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng nhiều nếu giá trị hàngtồn kho chiếm tỷ trọng lớn và nhiều khả năng không thể bán lấy tiền mặt hoặc tỷ lệkhoản phải thu cao Do đó, để kiểm tra khả năng thanh toán một cách chặt chẽ hơn,các nhà phân tích thường dùng chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” Chỉ tiêunày cho biết với số vốn bằng tiền hiện có (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng ) và cáckhoản đầu tư tài chính ngắn hạn, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn hay không Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 0,5 thì doanh nghiệp được coi là
đủ khả năng thanh toán Nếu trị số của chỉ tiêu này nhỏ, thì doanh nghiệp có thể gặpkhó khăn trong việc thanh toán công nợ
Tiền, các khoản tương đương tiền vàkhoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn(7) Hệ số khả năng thanh toán tức thời (bằng tiền) :
Chỉ tiêu này cho biết khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn, từ
đó biết được doanh nghiệp có đủ tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn củamình hay không
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạnNói chung, chỉ tiêu này quá cao hay quá thấp cũng đều không tốt vì nếu quácao, tiền và các khoản tương đương tiền quá nhiều, doanh nghiệp thừa khả năngthanh toán nhưng gây ứ đọng vốn, và ngược lại, nếu quá thấp sẽ không đảm bảo khảnăng thanh toán
(8) Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư phản ánh tỷ trọng của tài sản dài hạn chiếm trong tổng số tàisản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Tỷ suất này cao hay thấp là phụthuộc chủ yếu vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản dài hạnTổng tài sản
=
Tỷ suất đầu tư =
=
Hệ số khả năngthanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán
tức thời
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 311.4.2 Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn
Phân tích cơ cấu tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị,
tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ nhữngdấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp vớiviệc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hay không Ngoài ra, việc phân tích này còn cung cấp chonhà phân tích nhìn về quá khứ tìm kiếm một xu hướng, bản chất sự biến động tàisản của doanh nghiệp
Bên cạnh việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản cũng như từng loạitài sản giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc thì cũng cần phải đánh giá thêm tỷ trọngtừng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng theo thờigian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ
Tổng số tài sản
Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sự thayđổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ Sự thay đổi này bắt nguồn từnhững dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phùhợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng,khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay khôngcũng như có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp hay không ? Phân tích cơ cấu nguồn vốn cung cấp thông tin cho người phântích sự thay đổi nguồn vốn, một xu hướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai
Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự như việcphân tích cơ cấu tài sản Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loạinguồn vốn giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh
tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xuhướng biến động, mức độ hợp lý và tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp
Trang 32(10) Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn
Tổng số nguồn vốn
Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tàisản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tíchmối quan hệ này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồnvốn doanh nghiệp huy động và sử dụng cùng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, và sửdụng có hợp lý, hiệu quả hay không
Khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhà phân tích cần tính
ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
(11) Hệ số nợ trên tổng tài sản
Nợ phải trảTổng tài sảnChỉ tiêu này cho biết sử dụng một đồng vốn kinh doanh thì có bao nhiêuđồng nợ vay Thông thường các chủ nợ thích hệ số này nhỏ và vừa phải vì hệ số antoàn cao Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp ưa thích hệ số nợ cao vì họ vìchỉ cần bỏ ra một lượng vốn nhỏ nhưng lại được sử dụng một lượng tài sản lớn Hệ
số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm đi, mức độ rủi ro cao hơn và có thể doanhnghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không ổn định, nhưngdoanh nghiệp cũng có khả năng thu lợi nhuận cao khi điều kiện kinh tế thuận lợi
Dù vậy, nếu hệ số này quá cao thì doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào tình trạng mất khảnăng thanh toán và không thể kiểm soát được hoạt động của mình Vì vậy, để vừađảm bảo khả năng gia tăng lợi nhuận cao vừa giảm thiểu rủi ro khi đưa ra các quyếtđịnh tài chính, doanh nghiệp cần xem xét mức độ cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận
(12) Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu
Tài sảnVốn chủ sở hữuĐây là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốnchủ sở hữu Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, chứng tỏ tài sản của doanh
Trang 33nghiệp được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu càng ít làm cho khả năng độc lập về tàichính của doanh nghiệp càng kém và ngược lại.
1.4.3 Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào để đi vào hoạt động thì cũng phải huy độngđược một lượng vốn chủ sở hữu đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu về tài sản ngắn hạn
và tài sản dài hạn Quá trình hoạt động của doanh nghiệp sẽ tiếp tục hình thành nêncác khoản chiếm dụng vốn tạm thời, vốn vay ngắn hạn, vốn vay dài hạn đồng thờivới sự tích luỹ dần về vốn chủ sở hữu Thực chất của phân tích tình hình bảo đảmvốn cho hoạt động kinh doanh là việc xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản vànguồn hình thành tài sản, nói cách khác là việc phân tích cân bằng tài chính củadoanh nghiệp
Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần có tài sảnbao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Nguồn tài trợ tương ứng cho hai loạitài sản này là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn ngắn hạn trongdoanh nghiệp bao gồm các khoản nợ ngắn hạn, còn nguồn vốn dài hạn bao gồm nợdài hạn và vốn chủ sở hữu Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tư để hình thànhtài sản dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn và phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tưvào tài sản ngắn hạn
Trong mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sẽ là hợp lý nếu tàisản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn vì điều này chứng tỏ doanh nghiệp giữ vững mốiquan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợngắn hạn Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu kỳ luân chuyển tài sảnngắn hạn với chu kỳ thanh toán nợ ngắn hạn Ngược lại, nếu tài sản ngắn hạn nhỏhơn nợ ngắn hạn thì đây là dấu hiệu cho thấy một phần nguồn vốn ngắn hạn đãđược đầu tư vào tài sản dài hạn Khi đó, chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳthanh toán nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và có thể đưa đếnmột hệ quả tài chính không tốt
Trong mối quan hệ giữa tài sản dài hạn với nợ dài hạn, nếu tài sản dài hạn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ sở hữu thì là điều hợp
lý vì khi đó doanh nghiệp đã sử dụng đúng mục đích nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu.Tuy nhiên nếu phần thiếu hụt được bù đắp bằng nợ ngắn hạn thì lại bất hợp lý vì nólàm mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn
nợ dài hạn thì chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã được chuyển vào tài trợ tài sản ngắnhạn Điều này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ dài hạn vừa thể hiện sử dụng saimục đích nợ dài hạn
Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, ngườiphân tích cũng cần chú trọng đến vốn hoạt động thuần (còn gọi là vốn ngắn hạnthường xuyên) là số vốn mà doanh nghiệp không cần phải vay mượn hay đi chiếmdụng, được sử dụng để duy trì những hoạt động bình thường, diễn ra thường xuyêntại doanh nghiệp Vốn hoạt động thuần có thể tính theo một trong hai cách sau:
Vốn hoạt động thuần = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Hoặc:
Vốn hoạtđộng thuần
Nguồn tài trợthường xuyên
Tài sảndài hạnTrong đó, nguồn tài trợ thường xuyên là nguồn vốn mà doanh nghiệp sửdụng thường xuyên lâu dài, bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, nợ dài hạn, trunghạn trong hạn
Nếu vốn hoạt động thuần lớn hơn 0 thì đây là dấu hiệu tài chính bình thườnghay khả quan, thể hiện sự cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạnhoặc cân đối giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn Cân bằng tài chính trongtrường hợp này gọi là cân bằng tốt
Ngược lại nhỏ hơn 0 sẽ thể hiện một sự mất cân đối giữa tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn và mất cân đối giữa nguồn tài trợ thường xuyên với tài sản dài hạn.Điều này chỉ ra rằng doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ tạm thời cho cả tài sản dàihạn và nếu tình trạng này kéo dài thì có thể dẫn đến tình trạng tài chính của doanhnghiệp có thể mất dần và đi đến bờ vực phá sản Và tất nhiên, cân bằng tài chínhtrong trường hợp này là cân bằng xấu
-ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh.
Để phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh, nhà phân tíchcần tính ra và so sánh các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số tài trợ thường xuyên
Nguồn tài trợ thường xuyên
Tổng nguồn vốn
Hệ số này cho biết, so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn tài trợthường xuyên chiếm mấy phần Trị số này càng lớn chứng tỏ tính ổn định về tàichính càng cao và ngược lại
Tương tự như hệ số tài trợ thường xuyên, hệ số tài trợ tạm thời cho biết, sovới tổng nguồn tài trợ, nguồn tài trợ tạm thời chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêunày càng lớn chứng tỏ tính ổn định về mặt tài chính của doanh nghiệp càng thấp vàngược lại
+ Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thưòng xuyên
Vốn chủ sở hữuNguồn tài trợ thường xuyên
Thông qua chỉ tiêu này, nhà phân tích thấy được trong tổng số nguồn tài trợthường xuyên, số vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu Trị số của chỉ tiêu này càng lớnthì tính tự chủ và độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
Hệ số tài trợ
Hệ số tài trợ tạm thời =
Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn
vốn tài trợ thường xuyên =
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36+ Hệ số nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn
Nguồn tài trợ thường xuyên
Tài sản dài hạnChỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợ của tài sản dài hạn bằng nguồn vốnthường xuyên Trị số của chỉ tiêu càng lớn thì tính ổn định và bền vững về tài chínhcủa doanh nghiệp càng lớn và ngược lại
+Hệ số tài sản ngắn hạn so với nợ ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạnVới chỉ tiêu này người phân tích biết mức độ tài trợ tài sản ngắn hạn bằng nợngắn hạn là cao hay thấp Trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 thì tính ổn định vàbền vững về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại
1.4.4 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
* Phân tích tình hình thanh toán
Chất lượng hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu phụ thuộc chủyếu vào tình hình thanh toán của doanh nghiệp Nếu hoạt động tốt, doanh nghiệp sẽ
có ít công nợ, ít bị chiếm dụng vốn và cũng ít đi chiếm dụng vốn Ngược lại, nếuhoạt động tài chính kém, doanh nghiệp sẽ phải đương đầu với các khoản công nợkéo dài Phân tích tình hình thanh toán là việc xem xét tình hình thanh toán cáckhoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp, qua đó có thể đánh giá được chất lượng
và hiệu quả hoạt động tài chính
Để phân tích tình hình thanh toán các khoản phải thu, nhà phân tích trướctiên cần xem xét sự biến động các khoản nợ phải thu trên tổng số cũng như trêntừng khoản nợ phải thu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc nhằm đánh giá chung tìnhhình thanh toán của doanh nghiệp Sau đó tính ra tỷ lệ các khoản phải thu so vớitổng số các khoản nợ phải thu, phải trả
Nợ phải thuTổng số các khoản nợphải thu, phải trả
Hệ số nguồn vốn tài trợ thường
xuyên so với tài sản dài hạn =
Hệ số giữa tài sản ngắn hạn so
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37Đây là chỉ tiêu nhằm đánh giá mối quan hệ giữa các khoản nợ phải thu vớitổng số các khoản nợ phải thu, phải trả Nó cho biết, trong tổng số các khoản nợphải thu, phải trả thì nợ phải thu chiếm bao nhiêu % Nếu tỷ lệ này lớn hơn 50%,nghĩa là các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả thì doanh nghiệp đang bịchiếm dụng vốn Ngược lại thì doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn của người khác.Chiếm dụng vốn và bị chiếm dụng vốn trong hoạt động kinh doanh là điều bìnhthường, tuy nhiên cần xem xét tính hợp lý để có biện pháp quản lý công nợ tốt hơn.
Để phân tích tình hình thanh toán các khoản nợ phải trả, nhà phân tích cần sosánh các khoản nợ phải trả trên tổng số cũng như trên từng khoản nợ phải trả kỳphân tích so với kỳ gốc cả về số tuyệt đối và số tương đối, đồng thời phân tích thờihạn của các khoản nợ Trên có sở đó, xác định nguyên nhân làm khê đọng cáckhoản công nợ và kiến nghị các giải pháp thiết thực nhằm giải quyết Sau đó, tính ra
tỷ lệ các khoản phải trả so với tổng số các khoản phải thu, phải trả:
Nợ phải trảTổng số các khoản nợphải thu, phải trảThực chất, chỉ tiêu này là nghịch đảo của chỉ tiêu “tỷ lệ các khoản nợ phải thu
so với tổng số các khoản nợ phải thu, phải trả”, nó phản ánh so với tổng số các khoản
nợ phải thu, phải trả thì các khoản nợ phải trả chiếm bao nhiêu %
Việc tiến hành phân tích đồng thời các khoản phải thu, phải trả sẽ giúp doanhnghiệp cân đối công nợ, tiến tới làm chủ tình hình tài chính của mnình
* Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữacác khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ.Phân tích các khả năng thanh toán giúp nhà quản lý biết được sức mạnh tài chínhhiện tại, tương lai, cũng như dự đoán được tiềm lực trong thanh toán và an ninh tàichính của doanh nghiệp Tình hình tài chính lành mạnh có nghĩa doanh nghiệp cókhả năng thanh toán được các khoản nợ ngắn hạn, các khoản nợ đến hạn và tìnhhình kinh doanh của doanh nghiệp tốt Việc không đảm bảo khả năng thanh toán có
Tỷ lệ các khoản nợ phải trả so với tổng số
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38thể dẫn đến việc doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc gặp những vấn đề khókhăn như: hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp, không tận dụng được các cơ hộitốt và có thể bị mất quyền kiểm soát; mất lòng tin với các chủ nợ, và có thể phải đốimặt với các vấn đề pháp lý; khi lâm vào tình trạng thiếu khả năng thanh toán, doanhnghiệp có thể phải thay đổi các chính sách và điều kiện tín dụng thương mại làmảnh hưởng đến doanh thu và thị phần
Như vậy, việc duy trì và đảm bảo khả năng thanh toán là cơ sở để doanhnghiệp tăng thêm uy tín đối với các chủ nợ ngắn hạn (ngân hàng, nhà cung cấp )đảm bảo các nhu cầu thanh toán, các cam kết trả nợ khi đến hạn, giảm chi phí tàichính khi có nhu cầu về vốn Tuy nhiên, việc duy trì mức thanh toán cao sẽ làmgiảm khả năng sinh lời, do đó doanh nghiệp cần xác định một định mức thanh toánhợp lý để vừa bảo đảm được khả năng thanh toán vừa đạt tỷ lệ sinh lời cao nhất.Điều đó phụ thuộc vào hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Các hệ số thành toán sẽ cung cấp cho nhà phân tích về khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp ở một thời kỳ Để phân tích khả năng thanh toán, ngoài các hệ sốthanh toán như: hệ số khả năng thanh toán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán nợngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán nhanh các nhà phân tích còn sử dụng hệ số khảnăng thanh toán:
Khả năng thanh toánNhu cầu thanh toán
“Khả năng thanh toán” là số tiền có thể dùng để thanh toán; còn “Nhu cầuthanh toán” là số tiền phải thanh toán Hệ số khả năng thanh toán phản ánh mốiquan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp Hệ sốkhả năng thanh toán là cơ sở để đánh giá khả năng thanh toán và tình hình thanhtoán của doanh nghiệp
Nếu hệ số này lớn hơn 1, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng trang trải hếtcông nợ, tình hình tài chính là ổn định khả quan Ngược lại, nếu nhỏ hơn 1, doanhnghiệp không có khả năng trang trải hết công nợ, thực trạng tài chính của doanhnghiệp là không bình thường, tình hình tài chính của doanh nghiệp gặp nhiều khó
Hệ số khả năng thanh toán =
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39khăn và hoạt động tài chính bắt đầu có những dấu hiệu không lành mạnh Trị số củachỉ tiêu càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn mất dần khả năngthanh toán và thậm chí có nguy cơ phá sản.
1.4.5 Phân tích tình hình luân chuyển hàng hoá tồn kho
Số vòng luân chuyển hàng tồn kho: là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quânluân chuyển trong kỳ Số vòng hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh đánh giácàng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng hoá tồn kho thấp nhưng vẫn đạtdoanh số cao Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
Hàng hoá tồn kho bình quân
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho: Phản ánh số ngày trung bình một vòngquay hàng tồn kho, được xác định theo công thức sau:
Số ngày của một vòng quay Số ngày trong kỳ
hàng tồn kho Số vòng quay hàng tồn kho
1.4.6 Phân tích hiệu quả kinh doanh
* Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trì độ sử dụng cácnguồn vốn của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh vớitổng chi phí thấp nhất Phân tích hiệu quả kinh doanh giúp các nhà quản lý có thểđánh giá được chính xác khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp
Để phân tích hiệu quả kinh doanh, ngoài việc xem xét, kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về kết quả kinh doanh hiện hành với quá khứ, nhà phân tích còn phải
sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh cho phù hợp Về mặt tổngquát, các nhà phân tích thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Sức sản xuất: chỉ tiêu này cho biết một đơn vị yếu tố đầu vào thì đem lạimấy đơn vị kết quả sản xuất đầu ra Trị số của chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quảkinh doanh càng cao và ngược lại
Trang 40Trong công thức trên, “Đầu ra phản ánh kết quả sản xuất” có thể là: tổng giátrị sản xuất, doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng, tổng số luân chuyển thuần ;còn “Yếu tố đầu vào” bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốnchủ sở hữu, vốn vay Việc sử dụng chỉ tiêu nào là tuỳ thuộc vào mục đích cả nhàphân tích Trị số của yếu tố đầu vào thường được xác định là trị số bình quân của kỳphân tích và được tính như sau:
Trị số đầu kỳ + cuối kỳ của từng yếu tố
2+ Sức sinh lợi: Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị yếu tố đầu vào đem lại mấyđơn vị lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ khả năng sinh lời càngcao, từ đó kéo theo hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại
Đầu ra phản ánh lợi nhuậnYếu tố đầu vào hay đầu ra phản ánh KQSX+ Suất hao phí: Đây là chỉ tiêu cho biết để có một đơn vị đầu ra phản ánh kếtquả sản xuất hay đầu ra phản ánh lợi nhuận thì cần mấy đơn vị yếu tố đầu vào Trị
số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh càng thấp và ngược lại
Yếu tố đầu vàoĐầu ra phản ánh KQSX hay LNTrên cơ sở các chỉ tiêu tổng quát trên, nhà phân tích có thể xây dựng được hệthống chỉ tiêu chi tiết phản ánh hiệu quả sử dụng từng yếu tố, từng loại tài sản cũngnhư từng loại vốn
Từ chỉ tiêu tổng quát “Sức sản xuất”, nhà phân tích có thể tính được các chỉtiêu phản ánh sức sản xuất của các yếu tố đầu vào như: sức sản xuất của tổng tài sản,sức sản xuất của tài sản dài hạn, sức sản xuất của tài sản cố định, sức sản xuất của tàisản ngắn hạn, sức sản xuất của vốn chủ sở hữu, sức sản xuất của vốn vay Chẳnghạn sức sản xuất của tổng tài sản được tính như sau
Trị số bình quân củatừng yếu tố đầu vào =
Sức sinh lời =
Suất hao phí =
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ