1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế

101 324 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 627,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta dùng một loại “khái niệm phân tích” nêu bật các đặc điểm cơ bản về số lượng, chức năng, tính chất, cơ cấu…của doanh nghiệp, với 4 đặc trưng sau: + Sự chuyên môn hoá ở mức độ thấ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Huế là một thành phố của tỉnh Thừa Thiên Huế, nổi tiếng với các ngành nghềtiểu thủ công nghiệp như: nghề đúc, chằm nón, dệt may, kim hoàn đây là một tiềmnăng lớn để phát triển kinh tế nói chung và phát triển ngành nghề nói riêng Nhữngsản phẩm này mang đậm nét văn hóa Huế mà ai đã từng đến Huế thì không thểkhông nhắc đến

Căn cứ quyết định số 1445/QĐ-UBND ngày 23 tháng 6 năm 2008 phê duyệt

Đề án quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020 “Phát triển tiểu thủ công nghiệp phải gắn liền với phát triểnkinh tế- xã hội của từng địa bàn, trên cơ sở thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Phát triển công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp với quan điểm xuyên suốt: bền vững, thân thiện với môi trường; bảo tồn tinhhoa và phát huy giá trị bản sắc văn hóa của quê hương, dân tộc, gắn với đảm bảo anninh và quốc phòng” Những năm qua các ngành nghề, làng nghề truyền thống trênđịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung, thành phố Huế nói riêng đã và đang đượckhôi phục và phát triển Từ thành thị đến nông thôn đã xuất hiện nhiều ngành nghềmới, có quy mô và hình thức tổ chức khác nhau, đã góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tiến bộ và hiệu quả Các làng nghềtruyền thống, làng nghề mới đã từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất làđối với những vùng ven thành phố, vùng thuần nông trước đây Phát triển ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp là một vấn đề quan trọng để giảm bớt sức ép về lao độngnông nhàn trong nông thôn, đóng góp một tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản xuất côngnghiệp của tỉnh nhà

Tuy nhiên, việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp còn nhiều bất cập,các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống có nguy cơ mai một, hàng hoáchất lượng kém, tiêu thụ khó khăn, giá cả thấp Đặc biệt là sự phát triển của tiểuthủ công nghiệp tính theo các chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối đều chưa tương xứngvới tiềm năng kinh tế- xã hội hiện có

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

Thực trạng trên đã và đang đòi hỏi các cấp, các ngành, các nhà khoa học cầnphải đánh giá đúng nguyên nhân, đề xuất phương hướng và giải pháp đồng bộ, khảthi nhằm thúc đẩy các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại địa phương phát triểnđúng hướng và hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị trường.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài“Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm

để tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Phát triển các ngành nghề TTCN và làng nghề truyền thống ở Việt Nam là

đề tài đã được các nhà kinh tế nghiên cứu trên nhiều phương diện, đem lại nhiềukết quả có giá trị thực tế Có thể nêu ra các công trình sau đây:

- “Phát triển thị trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng Đồng BằngSông Hồng”, Đề tài NCKH cấp bộ: do PGS TS Trần Văn Chử, Học viện Chính trịQuốc gia HCM làm Chủ nhiệm đề tài, năm 2004- 2005

- “Về các giải pháp phát triển tiểu thủ công nghiệp theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa ở vùng ĐBSH”, Đề tài KH cấp bộ, do TS Đặng Lễ Nghi, Họcviện Chính trị Quốc gia HCM, làm Chủ nhiệm đề tài, năm 1998

- “Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần ở đô thị Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ của Nguyễn Hữu Lục, năm 1996

- "Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Luận án tiến sỹ của Trần Minh Yến, năm 2003

- Một số bài viết khác như: “Làng nghề thủ công truyền thống Bắc Ninh” củatác giả Đỗ Thị Hảo; “Phát triển làng nghề truyền thống với sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh; “Làngnghề trong quá trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn” của TS Vũ thị Thoa…

Các công trình khoa học nghiên cứu trên đã đi vào đánh giá tình hình việcbảo tồn, phát triển làng nghề; các giải pháp phát triển TTCN ở tầm vĩ mô; hoặcnghiên cứu biện pháp tổ chức, quản lý sản xuất TTCN, hoặc mang tính chất tổngkết một giai đoạn phát triển và định hướng hoạt động TTCN ở một địa phương nàođó…Còn ít công trình khoa học đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, đề cập tớiphương hướng chiến lược, các biện pháp đẩy mạnh sản xuất “tiểu, thủ công nghiệp”

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 3

trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đánh giá tác động môi trường của các

cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố Huế Vì vậy, tôi hy vọngluận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách

để thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng đến sự phát triển bền vững ởthành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của các ngành nghề TTCN

ở các phường vùng ven thành phố Huế, phát hiện được những vấn đề kinh tế - xãhội - môi trường cần phải giải quyết và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩyphát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại địa bàn nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển các ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp trong các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất TTCN ở các phường vùng venthành phố Huế

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Về không gian:

Nghiên cứu tình hình phát triển các ngành nghề tiểu thủ công chủ yếu tại cácphường vùng ven thành phố Huế như: An Đông, An Tây, Hương Sơ, Hương Long,Kim Long, Thủy Xuân, phường Đúc…

Trang 4

+ Đề xuất các giải pháp phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở cácphường vùng ven thành phố Huế đến năm 2020.

5 Phương Pháp nghiên cứu và cách thức tiến hành

5.1 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

+ Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp

+ Phương pháp so sánh, khái quát hóa

5.2 Cách thức tiến hành

+ Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài

+ Thu thập số liệu để xử lý và đánh giá thực trạng

+ Tìm giải pháp phù hợp nhằm phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn

TP Huế

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các ngànhnghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố Huế

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển các ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thànhphố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Đánh giá tác động đến môi trường của một số cơ sở sản xuất tiểu thủ côngnghiệp ở các phường vùng ven thành phố Huế, để từ đó đề xuất các giải pháp khắcphục nhằm hướng đến phát triển bền vững

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những lợi thế của địaphương để phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế

7 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.Chương 2: Thực trạng phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở cácphường vùng ven thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển cácngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố Huế, tỉnh ThừaThiên Huế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm tiểu thủ công nghiệp

1.1.1.1 Quan niệm tiểu thủ công nghiệp của các nhà kinh tế trên thế giới

- Quan niệm tiểu thủ công nghiệp của V.I Lênin

Trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội, khi lực lượng sản xuất pháttriển đến một trình độ nhất định, dẫn đến năng suất lao động tăng lên, đặc biệt khi

có công cụ lao động bằng kim loại xuất hiện cùng với những kinh nghiệm đã tíchluỹ được đã tạo nên bước phát triển nhảy vọt trong trồng trọt và nghề thủ công Từ

đó xuất hiện sự phân công lao động lần thứ nhất, trồng trọt tách khỏi chăn nuôi Sau

đó, các nghề thủ công cũng phát triển mạnh tạo ra sự phân công lao động lần thứhai: thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp [12, tr.250- 253] Thủ công nghiệp lànền sản xuất trung gian giữa nông nghiệp và công nghiệp, là một bộ phận của nềnkinh tế quốc dân Trong xã hội phong kiến mặc dù kinh tế thủ công ghiệp chưa táchkhỏi nông nghiệp song nó vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Vì nền sảnxuất bị tách ra làm hai ngành chính là nông nghiệp và thủ công nghiệp nên đã ra đờinền sản xuất hàng hoá, sự trao đổi giữa những người sản xuất riêng biệt đã trở thànhtất yếu của xã hội

“Thủ công nghiệp” là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệpdựa trên quy mô nhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léocủa bàn tay người thợ thủ công Nguyên liệu của các nghề thủ công thường lấy trựctiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay đơn giản Khi khoahọc- kỹ thuật phát triển, khái niệm “thủ công nghiệp” có những nội dung khác sovới trước đây Người thợ thủ công hiện đại có thể sử dụng máy móc để phát lực,truyền lực và kết hợp với đôi bàn tay khéo léo để tạo ra những sản phẩm độc đáo,

có giá trị thẩm mỹ cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

V.I Lê- nin khi phê phán sai lầm của những nhà kinh tế học dân tuý đưa ra kháiniệm về tiểu công nghiệp Để phân biệt “thủ công nghiệp" với "tiểu công nghiệp" Lê-nin đã viện dẫn ba giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa tư bản công nghiệp Nga: “đặcđiểm của tiểu sản xuất hàng hoá là kỹ thuật thủ công hoàn toàn nguyên thuỷ, từ xưađến nay kỹ thuật ấy vẫn không thay đổi Người làm nghề thủ công vẫn là nông dân, họchế biến nguyên liệu theo phương pháp truyền thống Công trường thủ công (CTTC)dựa trên phân công lao động, do đó kỹ thuật được cải biến căn bản, nông dân biếnthành công nhân bộ phận [17, tr.685-687] Đặc trưng của tiểu sản xuất hàng hoá vàCTTC là các xí nghiệp nhỏ chiếm ưu thế Tính chất của sản xuất cũng khác nhau trongcác giai đoạn phát triển Trong các nghề thủ công nhỏ, thị trường và quy mô sản xuấtnhỏ hẹp dễ thích hợp với nhu cầu địa phương; sản xuất ở giai đoạn này ổn định caonhất, nhưng tình trạng kỹ thuật bị đình đốn CTTC sản xuất cho thị trường lớn nênsản xuất của nó có tính ổn định, tính chất này thể hiện cao nhất trong sản xuất côngxưởng tư bản chủ nghĩa (TBCN) Như vậy, có thể thấy giai đoạn phát triển CTTCgần với khái niệm "tiểu công nghiệp", sự khác nhau giữa chúng chỉ là ở trình độphân công lao động, tiến bộ kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguyên vật liệu,quy mô tổ chức sản xuất phân tán hay tập trung “Tiểu công nghiệp” là hình thứccông nghiệp sử dụng công cụ lao động nửa cơ khí để chế biến nguyên liệu Cuộccách mạng khoa học- kỹ thuật lần thứ nhất khởi đầu ở nước Anh thế kỷ 18, máymóc thay thế công cụ thủ công, sự phát minh và ứng dụng máy hơi nước có tácdụng then chốt trong sản xuất lớn TBCN.

- Quan niệm tiểu thủ công nghiệp của các nhà kinh tế học

Các nhà kinh tế học quan niệm tiểu thủ công nghiệp bao gồm tiểu côngnghiệp và thủ công nghiệp

Về “tiểu công nghiệp”, mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về "tiểu công

nghiệp" có tính chất hành chính, pháp lý, để phân biệt với “đại hay trung côngnghiệp” Khái niệm này làm cơ sở cho việc thi hành các chính sách riêng khu vực

"tiểu công nghiệp" Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về tiểu công nghiệp:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

+ Ở Mỹ quy định: dưới 250 công nhân được xem là “tiểu công nghiệp”, và

"tiểu công nghiệp" còn được phân biệt theo bộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước.Trong ngành công nghiệp chế tạo vẫn lấy số lượng công nhân làm cơ sở, nhưngngành dịch vụ chủ yếu lấy số bán ra hay số thu hàng năm làm tiêu chuẩn

+ Ở Nhật Bản, luật ban hành năm 1957 quy định: các xí nghiệp sử dụng dưới

300 công nhân, mức vốn dưới 10 triệu yên, được thừa nhận hợp pháp là "tiểu côngnghiệp", được hưởng những chính sách tài trợ của nhà nước

+ Ở Ấn Độ, trước năm 1960 mức quy định “tiểu công nghiệp” là dưới 100công nhân nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sử dụngnăng lượng; đến năm 1960 quy định chủ yếu căn cứ vào mức vốn “không quá500.000 ru pi hay 1 triệu ru pi trong một số trường hợp đặc biệt”[15, tr.9-10]

Do có sự xác định khác nhau, nên năm 1952 Uỷ ban kinh tế của Liên hiệpquốc đưa ra định nghĩa để chuẩn hoá các thuật ngữ trên Theo đó, tiểu công nghiệp

là loại xí nghiệp chủ yếu sử dụng nhân công được trả lương, số lượng không quá 50người ở mọi cơ sở sản xuất, không dùng động lực hay dùng không quá 20 ngườitrong một xí nghiệp có dùng động lực

Vì vậy, để có một khái niệm "tiểu công nghiệp" dùng chung cho các nước làrất khó Người ta dùng một loại “khái niệm phân tích” nêu bật các đặc điểm cơ bản

về số lượng, chức năng, tính chất, cơ cấu…của doanh nghiệp, với 4 đặc trưng sau:

+ Sự chuyên môn hoá ở mức độ thấp về quản lý và lãnh đạo xí nghiệp;

+ Vai trò cá nhân chủ xí nghiệp về những mối liên hệ tiếp xúc chặt chẽ vớikhách hàng, tính mềm dẻo trong sản xuất hoặc giao dịch, quan hệ chủ với thợ; tínhlinh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp;

+ Những điểm mạnh, yếu về phương diện vốn và tín dụng như: khó vay vốn

ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bà con hay bạn bè đểthành lập, phát triển sản xuất;

+ Tính chất đa dạng của nền sản xuất TTCN, cần áp dụng mềm dẻo các biệnpháp, chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

Về “thủ công nghiệp”, người ta vẫn coi thủ công nghiệp là một thành phần,

một dạng thức, một loại “tiểu công nghiệp”, là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả cácnghề thủ công

1.1.1.2 Quan niệm tiểu thủ công nghiệp ở Việt Nam

Trong Chính cương của Đảng lao động Việt Nam (1951) lần đầu tiên nóiđến thuật ngữ công nghiệp Mặc dù các văn bản chính thức của Nhà nước chỉdùng chung một thuật ngữ “thủ công nghiệp” nhưng đều hiểu rằng nó bao hàm

cả công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Nhiều ngành nghề trước đây chủ yếulàm bằng tay, sử dụng các công cụ thô sơ Ngày nay với sự phát triển của khoahọc kỹ thuật con người đã biết sử dụng máy móc thiết bị vào nhiều khâu, côngđoạn trong sản xuất thủ công nghiệp

Thủ công nghiệp hay nghề thủ công được hiểu là một hình thức công nghiệp

sử dụng công cụ cầm tay, tác động vào đối tượng lao động để chế biến nguyên liệu

ra sản phẩm thông qua công cụ lao động Đặc trưng của thủ công nghiệp là công cụcầm tay hay cải tiến

Tiểu công nghiệp có thể hiểu, bao gồm những đơn vị sản xuất công nghiệp

có trang bị kỹ thuật tương đối cao hơn thủ công nghiệp Ở một số khâu, bộ phận chủyếu trong dây chuyền sản xuất có thể được trang bị máy móc hiện đại, được chuyênmôn hoá để sản xuất ra các chi tiết, bộ phận, sản phẩm hoàn chỉnh Sự khác nhaucăn bản giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là ở trình độ kỹ thuật của tư liệusản xuất Giữa chúng có điểm giống nhau dựa trên quy mô sản xuất nhỏ, đã tồn tạimột nền đại công nghiệp (ĐCN), và chúng là bộ phận công nghiệp phụ trợ

Để phân biệt với ĐCN, trong điều kiện khoa học- công nghệ phát triển nhưhiện nay, khái niệm tiểu công nghiệp không chỉ dựa vào hai chỉ tiêu về vốn và laođộng mà còn cần phải bổ sung thêm hai chỉ tiêu: độ phức tạp của quản lý, hiệu quảsản xuất kinh doanh

-Về độ phức tạp của quản lý có năm yếu tố: quy mô vốn sản xuất kinhdoanh, doanh thu và thu nhập khác, đầu mối quản lý, trình độ công nghệ sản xuất,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

lao động sử dụng.

-Về hiệu quả sản xuất kinh doanh có ba yếu tố: số nộp ngân sách nhà nước,lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận trên vốn

Tóm lại, định nghĩa tiểu công nghiệp được đề cập ở trên và theo Nghị định số

90/2001/NĐ-CP, đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở sản xuất kinh doanhđộc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá

10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người, và là doanhnghiệp được xếp hạng III tuỳ theo ngành nghề

Nghề thủ công truyền thống: Đó là những nghề thủ công nghiệp được truyền

từ đời này sang đời khác, tồn tại đến ngày nay, trong đó có những nghề đã được cảitiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để sản xuất, nhưng vẫn tuân thủcông nghệ truyền thống, kết hợp với bàn tay tài hoa của người thợ tạo ra sản phẩmthủ công mỹ nghệ có giá trị, tính văn hoá cao

Đặc trưng cơ bản của nghề "thủ công" truyền thống là sử dụng công cụ, kỹthuật và công nghệ sản xuất truyền thống độc đáo, với đội ngũ nghệ công nhân vàthợ lành nghề

Làng nghề truyền thống: Là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành

từ lâu đời, có nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển với một tỷ lệ số hộ và tỷ lệ thunhập từ nghề TTCN nhất định, trở thành nguồn thu nhập quan trọng không thể thiếuđược của người dân trong làng Nhiều nước trên thế giới lấy tỷ lệ 20% hay 30%, ởViệt Nam đang có xu hướng lấy tỷ lệ 30% hay 50% số hộ dân làm nghề và thu nhậpcủa làng từ nghề thủ công Tỷ lệ đó được duy trì và ổn định trong nhiều năm

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: nghề đãxuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; nghềtạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; và gắn với tên tuổi của mộthay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Từ những điều trên, có thể hiểu khái niệm “thủ công nghiệp”, “tiểu côngnghiệp”, và “thủ công nghiệp truyền thống” như sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

- Thủ công nghiệp là hình thức sản xuất công nghiệp ở trình độ thấp, sử dụng

chủ yếu các công cụ cầm tay Khi khoa học kỹ thuật phát triển, các nghề thủ công

có thể sử dụng máy móc, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công nghiệp trongmột số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất lượng và hìnhthức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay Thủ công nghiệp có nhiều ngành,nghề, từ sản xuất đến dịch vụ; gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất với tiêu dùng tại địaphương; có quy mô nhỏ, linh hoạt và tiết kiệm chi phí quản lý; có khả năng huyđộng vốn tự có và lao động của gia đình

- Tiểu công nghiệp gồm những cơ sở sản xuất nhỏ, có trình độ trang bị kỹ

thuật cơ khí, nửa cơ khí, hoặc kỹ thuật tinh xảo; đa dạng hình thức sở hữu, với đa sốquy mô nhỏ và trình độ khác nhau; xu hướng tồn tại và phát triển lâu dài trong nềnkinh tế hiện đại; với các đặc điểm: vốn ít, máy móc thiết bị và mặt bằng sản xuấtnhỏ; cơ cấu sản xuất đa dạng, linh hoạt cao; tổ chức quản lý gọn nhẹ, kết hợp chặtchẽ sản xuất thủ công và cơ giới

-Thủ công nghiệp truyền thống là hình thức sản xuất công nghiệp ở trình độ

thấp, là những ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sốngchính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân làm nghề là ngành nghềTTCN có từ thời thuộc Pháp còn tồn tại đến nay, kể cả những nghề được cải tiếnhoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ nhữngcông nghệ truyền thống

- Tiểu thủ công nghiệp là ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu

bằng thủ công với quy mô nhỏ

Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn thường gắn liền với thời gian nông nhàn,nhưng nó lại có thu nhập cao hơn sản xuất nông nghiệp vì vậy mà nhiều hộ đã rờihẳn nông nghiệp sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp Cho nên tiểu thủ công nghiệpphát triển mạnh ở nông thôn thường gắn liền với các làng nghề truyền thống, màcác làng nghề này phải là nơi có trên 50% hộ dân làm nghề đó với tổng thu nhập từnghề đó phải chiếm trên 50% tổng thu nhập cả làng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

1.1.2 Vai trò của tiểu thủ công nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế

CNH, HĐH không xoá bỏ thủ công nghiệp, mà ngược lại nó còn được cảitạo, theo hướng kết hợp hai yếu tố hiện đại với truyền thống Mặt khác, trong giaiđoạn đầu của CNH, khi ĐCN chưa chiếm ưu thế, TTCN phát huy ưu thế, hỗ trợ, bổkhuyết cho ĐCN Đồng thời, khi TTCN phát triển, người ta sẽ áp dụng mạnh mẽcác tiến bộ khoa học, công nghệ thế giới vào việc cải tạo nghề TCN truyền thống,cải tiến chất lượng, mẫu mã của sản phẩm thủ công nhằm đáp ứng tốt như cầu thịtrường Xây dựng một nền thủ công hiện đại năng động, có khả năng cung ứng sảnphẩm thủ công mỹ nghệ cho những nhu cầu thị hiếu mới, kể cả xuất khẩu Việc xuấtkhẩu những sản phẩm thủ công mỹ nghệ sẽ phát huy lợi thế so sánh của nước ta vớinhững nước nhập khẩu góp phần phát huy khả năng tiềm tàng của Việt Nam

Tóm lại, TTCN tạo ra những tiền đề quan trọng về vốn, lao động, thịtrường…những yếu tố quan trọng cho CNH, HĐH nền kinh tế Vì thế có thể nóiTTCN là điểm xuất phát của CNH, HĐH ở nông nghiệp, nông thôn nói riêng, vànền kinh tế nói chung

1.1.2.2 Tiểu thủ công nghiệp phát triển góp phần phát triển kinh tế địa phương và xây dựng nông thôn mới

TTCN không chỉ là cơ sở cho ĐCN như đã phân tích trên mà nó còn là tiền

đề, là cơ sở cho sự phát triển của kinh tế ở nông thôn

Một là, TTCN phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn

nông thôn theo hướng CNH, HĐH Sự phát triển của các nghề TTCN truyềnthống, mở ra nghề mới làm cho tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 12

dần trong GDP, tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư, góp phần xoá đói giảmnghèo ở nông thôn.

TTCN cung cấp sản phẩm cho khu vực nông thôn, nông nghiệp, đồng thờitạo vốn, phát triển ngành nghề TTCN cung ứng nhiều sản phẩm cho thị trường vàthu được lợi nhuận cao TTCN phát triển làm cho thu nhập từ các ngành phi nôngnghiệp trong dân cư tăng nhanh Từ đó kích thích nông dân đầu tư vốn vào mởxưởng để làm TTCN Khi khối lượng sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng nhanh,thị trường mở rộng thì kinh tế dịch vụ phát triển thúc đẩy cơ cấu kinh tế ở nôngthôn chuyển dịch theo hướng tích cực [18]

Hai là, hoạt động sản xuất kinh doanh của các nghề TTCN góp phần làm

tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế Năng lực sản xuất, kinh doanhcủa các làng nghề là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nôngthôn Phát triển nghề TTCN có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xãhội nông thôn Với quy mô nhỏ bé, được phân bổ rộng khắp ở các vùng nông thôn,hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khálớn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, đóng góp đáng kể cho nềnkinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng Thực tế cho thấy ởđịa phương nào có nhiều làng nghề thì ở đó kinh tế hàng hoá phát triển

Ba là, các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển góp phần phát huy tiềm năng,

thế mạnh nội lực của nông thôn Các nghề thủ công trong làng nghề cho phép khaithác triệt để hơn các nguồn lực ở địa phương, cụ thể là nguồn lao động, nguyên vậtliệu, tiền vốn Làng nghề truyền thống có thể làm được điều này vì nó có nhiều loạiquy mô, dễ dàng chuyển hướng kinh doanh v.v…Một khi các nghề TTCN ở nôngthôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề cao và lớp nghệnhân mới Chính thông qua lực lượng này để tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật vàcông nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất, làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giáthành giảm, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn Như vậy các nghề TTCN càngphát triển mạnh nó càng có điều kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nôngthôn Hơn nữa khi cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là tạo

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nângcao tính tổ chức kỷ luật Đồng thời trình độ văn hoá của người lao động ngày mộtnâng cao, lại là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệvào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong làng nghề.

1.1.2.3 Tiểu thủ công nghiệp phát triển sẽ góp phần tạo dựng thị trường nông thôn sâu rộng cho phát triển công nghiệp

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất TTCN có những lợi thế nhất định sovới công nghiệp lớn Người chủ doanh nghiệp TTCN có thể phản ứng linh hoạt vớithị trường, dễ chuyển hướng sản xuất, thay đổi mẫu mã sản phẩm, kỹ thuật, cáchlàm ăn hơn xí nghiệp lớn Giá trị tổng sản lượng sản xuất TTCN hàng năm ở nước

ta tăng nhanh, chiếm tới 40% GDP Quy mô thị trưòng được mở rộng trong quátrình CNH, HĐH, hiện đại hoá TTCN Đồng thời với hàng loạt chính sách hỗ trợmang tính dài hạn đối với phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thônthời gian qua, hoạt động khuyến công tại nhiều địa phương trên cả nước đã thuđược nhiều kết quả tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn

Theo Cục Công nghiệp địa phương, Bộ Công Thương, từ khi triển khai thựchiện Nghị định 134/2004/NĐ-CP của Chính phủ về Khuyến khích phát triển côngnghiệp nông thôn và thực hiện Quyết định số 136/2007/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Chương trình khuyến công quốc gia đến năm 2012, các hoạtđộng khuyến công, nhất là đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề gắn vớinhu cầu doanh nghiệp; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ chuyển giaocông nghệ, phát triển sản phẩm tiêu biểu… đã có kết quả tích cực đối với nhiều cơ

sở sản xuất công nghiệp nông thôn trên phạm vi cả nước Nếu giai đoạn 2001 –

2004, giá trị sản xuất khu vực công nghiệp nông thôn có mức tăng trưởng bình quân

là 15,75%, đến giai đoạn 2005 – 2010 đã đạt mức 17,6% Số lao động làm việctrong các cơ sở công nghiệp nông thôn tăng 8,9%/năm, chiếm gần 55% tổng số laođộng toàn ngành công nghiệp

Như vậy, TTCN đã có sự tác động lớn tới thị trường nông thôn, biểu hiện ởmột số điểm sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

Một là, thị trường nguyên liệu cho sản xuất TTCN hiện nay còn nhỏ bé, phân

tán, chất lượng thấp, dần cạn kiệt, ví dụ như nguyên liệu cho ngành chế biến đồ gỗ

mỹ nghệ đang phụ thuộc vào nguồn gỗ nhập khẩu từ Lào, Căm-pu-chia, ASEAN…

Muốn phát triển TTCN, phải đáp ứng mọi nhu cầu về nguyên liệu với sốlượng, chất lượng và giá cả hợp lý Phải chủ động nguồn nguyên liệu trong nước.Đối với ngành nông, lâm, thuỷ sản, cần có kế hoạch đầu tư nuôi trồng theo côngnghệ hiện đại, để tăng năng suất, cung ứng nguyên liệu tại chỗ có chất lượng caocho công nghiệp chế biến Cần có kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu đó, để ổnđịnh sản xuất Do đó, thị trường nguyên liệu phục vụ cho TTCN sẽ được cảithiện đáng kể

Hai là, Thị trường máy móc, công cụ sản xuất và công nghệ có quyết định

tới hiện đại hoá sản xuất TTCN Quá trình chuyên môn hoá TTCN, xuất hiện nhữngnghề chuyên sản xuất công cụ cải tiến, nửa cơ khí và cơ khí nhỏ Theo đà CNH,HĐH, các nghề TTCN sẽ từng bước được hiện đại hoá Nhu cầu trang bị máy móchiện đại trong sản xuất tăng lên thì thị trường này sẽ phát triển mạnh

Ba là, Nhu cầu vốn cho mở rộng sản xuất, phát triển nghề TTCN mới ở các

làng nghề khá lớn Nhưng nguồn vốn tự có của cơ sở sản xuất rất nhỏ bé, vốn chiếmdụng trong thanh toán lớn và nguồn vốn tín dụng lại khó tiếp cận do cơ chế chưaphù hợp, đang là trở ngại cho phát triển nghề TTCN Hình thức tín dụng truyềnthống với lãi xuất cao, linh hoạt đang là hình thức phổ biến trong các làng nghề Do

đó nhu cầu mở rộng thị trường vốn cho TTCN là nhu cầu cấp bách hiện nay

Bốn là, Nghề TTCN phát triển, từ chỗ là nghề phụ lúc nông nhàn, thành một

nghề thường xuyên có thu nhập ổn định chiếm ưu thế ở nông thôn Các xưởng thủcông nghiệp không chỉ thu hút lao động tại chỗ, mà còn thu hút lực lượng lao độngcủa những vùng xung quanh, tạo nên mặt cầu về lao động công nghiệp ở địaphương Do đó, mở rộng thị trường lao động ở nông thôn

Năm là, TTCN tạo ra lượng cung hàng hoá lớn cho thị trường nông thôn.

Đồng thời nó cũng tạo nên một lượng cầu hàng hoá ở các làng nghề, các khu côngnghiệp và đô thị nhỏ ở nông thôn Thị trường này vẫn là thị trường tại chỗ, nên còn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

nhỏ, hẹp, phụ thuộc vào quy mô thu nhập của dân cư Khi kinh tế nông thôn pháttriển, thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng lên, doanh nghiệp mở rộng sản xuất,cầu về sản phẩm TTCN sẽ tăng mạnh, kể cả những sản phẩm thủ công mỹ nghệ cótrình độ tay nghề cao.

Sự phát triển của TTCN mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp.ĐCN cung ứng máy móc công cụ, nguyên liệu và công nghệ hiện đại để duy trìnghề truyền thống, mở ra nghề mới Việc đưa máy móc vào sản xuất hàng thủ công

mỹ nghệ, làm tăng năng suất lao động, hạ giá thành, cung nhiều sản phẩm cho thịtrường Sự kết hợp giữa máy móc hiện đại với tay nghề khéo léo của người thợ thủcông, tạo ra sản phẩm có độ tinh xảo cao "Tiểu công nghiệp" gắn bó chặt chẽ giữaTCN và ĐCN Phải quan tâm đến thị trường đầu ra, nhất là trong trao đổi quốc tế đểphát huy lợi thế so sánh của Việt Nam Như vậy, TTCN phát triển sẽ phát triển thịtrường hàng hoá: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

1.1.2.4 Tiểu thủ công nghiệp phát triển góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn.

Với diện tích đất canh tác bình quân vào loại thấp và tỷ lệ thất nghiệp, thiếuviệc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (hiện khoảng 30 - 35% lao độngnông thôn), do vậy vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn trởnên hết sức khó khăn Việc mở mang, đầu tư phát triển ngành nghề ở các làng nghề

là biện pháp tốt nhất để huy động nguồn lao động này Bởi vì, sản xuất TTCN chủyếu thực hiện bằng tay, không đòi hỏi cao về trình độ cũng như về chuyên môn, kỹthuật như đối với các lĩnh vực sản xuất khác Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công tuy

có quy mô nhỏ, thậm chí chỉ là sản xuất của các hộ gia đình nhưng đã thu hút một

số lượng khá lớn lao động nông thôn Nhiều làng nghề ở nước ta hiện thu hút trên60% lao động tham gia vào các hoạt động ngành nghề Sự phát triển của làng nghềkhông những chỉ thu hút lao động ở gia đình làng xã mình mà còn thu hút đượcnhiều lao động từ các địa phương khác Ngoài ra, sự phát triển của các làng nghềcòn kéo theo nhiều nghề dịch vụ khác phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm chongười lao động

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

Muốn giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân cần phát triển toàndiện TTCN ở nông thôn Thủ công nghiệp (TCN) có thể sử dụng lao động nôngnhàn ở nông thôn, lao động trẻ em, người già, làm tăng thu nhập nông dân Có thểminh hoạ bằng nghề dệt lụa ở Vạn Phúc, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây, một nghề cócách đây 1200 năm Lụa Vạn Phúc tham gia hội chợ quốc tế Mác-xây và Pa-ri(Pháp) năm 1931, 1938, được thị trường Pháp, Thái Lan, Inđônêxia ưa chuộng VạnPhúc hiện có 785 hộ làm nghề dệt, với gần 60% dân số Vạn Phúc có trên 1.000máy dệt, hơn 100 của hàng và hàng ngày thu hút 400 lao động Hàng năm, nghề dệtlụa sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, doanh thu gần 27 tỷ đồng, chiếm trên 60% giátrị sản xuất toàn xã [4].

Mặt khác, cần chú ý đến ý nghĩa xã hội của những việc làm được tạo ra ở cáclàng nghề Sự phát triển của các làng nghề đã có vài trò tích cực trong việc hạn chế

di dân tự do Người dân nông thôn luôn có tâm lý gắn bó với làng quê khi đã cóviệc làm và thu nhập ổn định Việc phát triển làng nghề theo phương châm “lynông, bất ly hương” không chỉ có khả năng lớn giải quyết việc làm, nâng cao thunhập cho người lao động, mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân

tự do từ nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác ở nước ta hiện nay.Hoạt động sản xuất TTCN của làng nghề không chỉ tạo ra một số lượng lớn laođộng mà còn giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp nhàn rỗi sau mỗi

vụ mùa sản xuất Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất thủ công trong làng nghề còn thuhút được một lực lượng đông đảo người già, trẻ em, người tàn tật tham gia sản xuất

ở những công đoạn đơn giản Theo ước tính của Hiệp hội làng nghề Việt Nam,những nhóm đối tượng này chiếm đến 30 - 35% lao động đang làm việc trong cáclàng nghề

Bên cạnh đó, tạo thêm công ăn việc làm sẽ làm tăng thu nhập của người laođộng, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giảmbớt những tệ nạn xã hội ở nông thôn, bởi “nhàn cư vi bất thiện” Đây cũng là mộttrong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề quốc kế dân sinh Vìvậy, sự phục hồi và phát triển của các làng nghề đã có ý nghĩa rất to lớn đối với sự

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Thu nhập của các hộ làm nghề thủ công ở cáclàng nghề cao hơn từ 2 - 8 lần thu nhập của hộ thuần nông Ở các làng có nghề, tỷ lệ

hộ khá và giàu thường rất cao, tỷ lệ hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có

hộ đói Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lạicho người dân ở các làng nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chấtlẫn tinh thần

1.1.2.5 Tiểu thủ công nghiệp phát triển góp phần tạo nguồn vốn và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp

Phần trên đã nói, TTCN tạo ra những điều kiện ban đầu về nhân lực, vốn, thịtrường cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Đi sâu hơn TTCN khôngchỉ tạo ra những yếu ban đầu Chúng ta biết rằng, tính chất đặc trưng của sản xuất

"tiểu, thủ công nghiệp" là quy mô nhỏ, công cụ lao động thủ công Với mức đầu tưkhông lớn, nên TTCN dễ dàng huy động các khoản vốn nhỏ nhàn rỗi trong dân, của

hộ gia đình, trong họ hàng, và đi vay từ các tổ chức tín dụng Ở nước ta dân cư sống

ở nông thôn rất đông trên 70% dân số, với gần 10/12 triệu hộ làm nông nghiệp.TTCN với ưu thế của các xí nghiệp vừa và nhỏ rất hấp dẫn các nhà đầu tư trong vàngoài nước Trong điều kiện nền kinh tế mở, các cơ sở sản xuất TCN tiềm năng cóthể thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển sản xuất

Trong các nghề TTCN có sự truyền nghề với những quy định rất khắt khe.Ông tổ nghề là người có công đầu đưa kỹ thuật mới, công nghệ tiên tiến hơn từ nơikhác về địa phương, làm chấn hưng, phát triển nghề Chế độ học việc cổ truyền ởcác làng nghề, đã đào tạo ra nhiều thợ thủ công lành nghề, chuẩn bị đội ngũ côngnhân dự bị cho nền ĐCN Việc thờ tổ nghề, là truyền thống tôn sư trọng đạo để giữgìn, phát triển các nghề truyền thống ở nông thôn Hiện nay, cách đào tạo nghề theokiểu cha truyền con nối, là nguyên nhân dẫn đến nhiều nghề bị thất truyền, trong đó

có các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống

Qua hoạt động công xưởng, người thợ thủ công được rèn thói quen, kỷ luật

và phương pháp làm việc công xưởng Theo đó từng bước hình thành thị trường laođộng có tổ chức, cung ứng đủ về số lượng và chất lượng nhân lực cho công nghiệp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

Đồng thời xây dựng và rèn luyện một đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất, chủ cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Sự lớn mạnh của TTCN đồng nghĩa với việc tầng lớpdoanh nhân phát triển đủ sức đảm đương việc quản lý và điều hành những xí nghiệpcông nghiệp ở khu vực nông thôn Các nghề thủ công ở nước ta chủ yếu phát triểnsau đổi mới, chỉ có 4% lao động có thâm niên trên 30 nǎm, nên yêu cầu đào tạonghề và kiến thức quản lý về TTCN cho các làng nghề là cấp thiết.

1.1.2.6 Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc

Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử phát triển nền văn hoá Việt Namluôn gắn liền với lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống Văn hoá làngnghề với các thể chế cộng đồng chứa đựng những quan hệ huyết thống, láng giềng,hôn nhân, nghề nghiệp với các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội mang đậmnhững sắc thái riêng, tạo nên bản sắc truyền thống văn hoá phong phú sâu đậm củadân tộc ta Vì vậy, để các làng nghề truyền thống mai một cũng tức là đánh mất đimột vốn quý của dân tộc Làng nghề là cả một môi trường kinh tế, xã hội và vănhoá thu nhỏ Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật từ đời này sang đờikhác, hun đúc các thế hệ nghệ nhân tài ba Những sản phẩm độc đáo mang bản sắcriêng bởi đặc trưng của nghề thủ công là sự tích hợp các kiến thức về tự nhiên, xãhội, môi trường, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tinh hoa văn hóa dân tộc và truyềnthống đẹp trong đời sống xã hội qua nhiều thời đại Vì vậy, các làng nghề truyềnthống với những bàn tay vàng của người thợ thủ công cần được coi trọng, bảo tồn

và phát triển Bảo tồn và phát triển các làng nghề là tăng thêm sức mạnh cội nguồn,gieo vào lòng mỗi người Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trân trọng, giữ gìn disản và bản sắc văn hoá Việt Nam Điều đó không gì khác là giữ gìn và phát huy một

bộ phận của nền văn minh nhân loại, làm tăng những giá trị văn hoá truyền thốngtrong một thế giới đa phương tiện thông tin và đầy biến động

Với vai trò to lớn của làng nghề trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp, nông thôn, để khôi phục và phát triển làng nghề đòi hỏi các cấpchính quyền phải nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của làng nghề; kịp thời có

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

những biện pháp hỗ trợ các làng nghề phát triển phù hợp với đặc điểm từng địaphương cũng như yêu cầu của thị trường.

1.1.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

1.1.3.1 Nhu cầu thị trường

Chỉ có trên cơ sở trao đổi được sản phẩm TTCN, thì tái sản xuất mở rộngmới có thể thực hiện được, và thực hiện tái sản xuất mở rộng trong sản xuất TTCN

là yêu cầu khách quan Sản xuất TTCN ngày nay chịu sự chi phối của quy luật cungcầu, của quy luật giá trị Những làng nghề TTCN thích ứng với cơ chế thị trường thì

sẽ phát triển nhanh và ngược lại Động lực thúc đẩy TTCN phát triển chính là yếu tốthị trường cho sản xuất

Sự tồn tại và phát triển của các nghề TTCN phụ thuộc rất lớn vào khả năngđáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến đổi của thịtrường Những nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của thị trườngthường có sự phát triển nhanh chóng Sự thay đổi nhu cầu của thị trường tạo địnhhướng cho sự phát triển của các nghề TTCN Những nghề mà sản phẩm của nó phùhợp với nhu cầu của xã hội, có khả năng tiêu thụ lớn thì vẫn phát triển bình thường.Ngay cả trong mỗi một nghề, cũng có những làng nghề phát triển, trong khi một sốlàng nghề khác lại không phát triển được, do sản phẩm làm ra chỉ là những sảnphẩm truyền thống, ít chú ý đến sự thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng và giá

cả nhằm đáp ứng được sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

triển vì mở rộng được thị trường, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó có sảnphẩm thêu ren truyền thống, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho hàng nướcngoài tràn vào thị trường trong nước khá nhiều, làm cho sản phẩm của các làngnghề khó có thể cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập, làm hạn chế sự phát triểncủa một số làng nghề.

Trong quá trình CNH, HĐH đất nước, nếu không có chính sách phát triểnhợp lý đối với sự kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp thì các làngnghề cũng khó có điều kiện phát triển

Việc phát huy được các lợi thế của TTCN, phụ thuộc rất lớn vào thái độ củaĐảng và Nhà nước thông qua ban hành, thực thi các chủ trương, chính sách và phápluật Quá trình đề ra và thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật phát triểnTTCN ở nước ta là quá trình nhận thức các quy luật kinh tế khách quan về pháttriển TTCN

Từ năm 1988 đến nay, quan điểm của Đảng về phát triển TTCN rõ hơn vàtrực tiếp nêu phương hướng phát triển TTCN, làng nghề, làng nghề truyền thống vàcác loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Trong đó phát triển đadạng công nghiệp chế biến và TTCN ở nông thôn, thị trấn, liên kết với công nghiệplớn ở đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, phát triển các làng nghề, nhất là làngnghề xuất khẩu, mở rộng xuất khẩu dịch vụ… Nhà nước công nhận về pháp lý sựtồn tại, phát triển, vai trò tác dụng tích cực lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể,kinh tế tư doanh trong nền kinh tế quốc dân Từ năm 1992 đến nay, các cơ sở sảnxuất TTCN trong các làng nghề truyền thống được khôi phục, đổi mới hoạt động,phát triển Các hợp tác xã được thành lập theo luật hợp tác xã mới, có bước pháttriển mới về chất [14, tr.29]

Có thể thấy rằng từ khi đổi mới, chủ trương phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần được cụ thể hoá bằng chính sách và pháp luật; nên TTCN phát huy vaitrò của mình trong CNH, HĐH kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là từ sauĐại hội IX

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

1.1.3.3 Vốn đầu tư

Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất kinhdoanh nào Sự phát triển của các nghề TTCN cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởngcủa nhân tố này Cùng với lao động, nguồn vốn đầu tư là hai nguồn lực tất yếu củamỗi quá trình sản xuất Karl Marx đã chỉ rõ: nền sản xuất hàng hoá TBCN giả địnhphải có những khối lượng lớn tư bản và sức lao động trong tay những người sảnxuất hàng hoá [11, tr.255] Vốn đầu tư được chủ doanh nghiệp sử dụng để thuê mặtbằng, đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, đầu tư cho công nghệ, đầu

tư cho kết cấu hạ tầng, thuê mướn nhân công…để tiến hành sản xuất kinh doanhtheo ngành nghề đã đăng ký Một thời gian dài ta coi nghề "thủ công nghiệp" nhưmột nghề phụ của ngành nông nghiệp, nguồn vốn tự có của các hộ rất nhỏ bé và khókhăn, thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay mượn của bà con họ hàng,láng giềng, nên quy mô sản xuất không mở rộng được Ngày nay, trong điều kiệncủa nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòihỏi các hộ sản xuất, kinh doanh phải có lượng vốn khá lớn để đầu tư, cải tiến côngnghệ, đưa thiết bị, máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, công việc có thểthay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường Do đó, Nhà nước đang cónhững chính sách phù hợp để thu hút, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư, hoặc đầu

tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, để hỗ trợ tiểu, thủ công nghiệp nông thôn

1.1.3.4 Nguyên vật liệu

Yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất TTCN.Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nơi cónguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản phẩm của cácđơn vị sản xuất Cho nên, các làng nghề thường chú ý nhiều đến yếu tố nguyên vậtliệu Trước đây, phần lớn các làng nghề được hình thành do có nguồn nguyên vậtliệu tại chỗ và nghề nghiệp chủ yếu được gắn bó với nguồn nguyên liệu sẵn có tạiđịa phương Hiện nay, nguồn nguyên liệu tại chỗ của nhiều làng nghề truyền thống

đã cạn kiệt, phải vận chuyển từ những nơi khác về, điều kiện khai thác, vận chuyển

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

có ảnh hưởng tới việc đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các làng nghề Trong điềukiện khoa học và công nghệ phát triển như hiện nay, nguyên vật liệu cho các làngnghề đã có sự phong phú, đa dạng Một loại nguyên vật liệu có thể dùng cho nhiềuloại sản phẩm, ngược lại một loại sản phẩm có thể dùng nhiều loại nguyên vật liệuthay thế Vì vậy, vấn đề chọn lựa và sử dụng các loại nguyên vật liệu thay thế hợp

lý, theo hướng đa dạng hóa, giá rẻ, bảo đảm cho quy trình sản xuất nhanh, đảm bảosảm phẩm của các làng nghề có được chất lượng cao, giá thành hạ là điều cần đượcquan tâm

1.1.3.5 Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất và môi trường sinh thái

- Kỹ thuật cá nhân người thợ "thủ công" quyết định sự ra đời, tồn tại, pháttriển của nghề Sản phẩm TCN chủ yếu phụ thuộc vào tài khéo léo, sáng tạo, nhạycảm của đôi mắt, đầu óc và bàn tay của người thợ, tức là tay nghề của người thợ thủcông “Nếu người công nhân có khi phụ thuộc vào máy móc, thì ở người thợ thủcông, công cụ lệ thuộc vào bàn tay nghề thợ”, và do TCN có tính kỹ thuật rấtchuyên nghiệp, gắn với thợ, rất khó truyền lại cho người khác”[14, tr.154]

Về công nghệ sản xuất, TTCN là tiền thân của công nghiệp hiện đại Thủcông nghiệp đã ra đời từ một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên Người nông dântách ra khỏi sản xuất nông nghiệp thành một người sản xuất độc lập Thủ công lànền công nghiệp cổ xưa, và “sự phát triển của công nghiệp, thoạt đầu có tính chấtthủ công, rồi sau đó biến thành công trường thủ công” [10, tr.232] TCN sẽ pháttriển cùng với sự đổi mới công nghệ

Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất có ảnh hưởng rất quan trọng đối vớibất kỳ ngành nghề nào, sản phẩm nào Nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất laođộng, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩmhàng hóa trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại hay suy vong củamột cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó

Hiện nay, phần lớn các cơ sở sản xuất TTCN vẫn sử dụng thiết bị thủ công,công nghệ cổ truyền chủ yếu dựa vào kinh nghiệm có tính chất cha truyền con nốitrong từng hộ gia đình là chính Bởi vậy, sản phẩm sản xuất ra với năng suất, số

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

lượng và chất lượng sản phẩm thấp kém, không đồng bộ, giá thành cao, hạn chế khảnăng cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề Để đa dạng hóa sản phẩm, nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước vàxuất khẩu, các cơ sở sản xuất kinh doanh không thể không đổi mới trang thiết bị, cảitiến áp dụng một số tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất.

- TTCN cũng có tác động không nhỏ đến môi trường Hệ thống làng nghềViệt Nam phát triển phần lớn theo tính tự phát, kiểu phong trào, công tác quy hoạchnhiều năm qua đã bị bỏ lửng Các nghề TTCN chủ yếu phát triển sau thời kỳ đổimới, có nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường Môi trườnglao động đáng lo ngại, nguy cơ tiếp xúc với bụi, nóng, tiếng ồn, hoá chất rất cao.Các chất gây ô nhiễm môi trường xung quanh chủ yếu là nước thải độc hại, hơi khíđộc, hoá chất, bụi và tiếng ồn Nếu để môi trường bị ô nhiễm đến một độ nào đó, sẽảnh hưởng xấu đến sự phát triển TTCN

Trong các nghề truyền thống, bao giờ cũng có các thợ cả, nghệ nhân có trình

độ tay nghề cao, có kinh nghiệm sản xuất, có tâm huyết với nghề, là những hạt nhân

để duy trì và phát triển của nghề Họ và cơ sở cho sự tồn tại bền vững của các nghềTTCN trước mọi thăng trầm và đảm bảo duy trì những nét độc đáo truyền thống.Yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa của từngnghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm có tính độc đáo và có giá trị cao Song, trongđiều kiện của nền kinh tế thị trường, không thể chỉ có kinh nghiệm cổ truyền, màcòn phải có khoa học và công nghệ hiện đại, phải có những con người có đầu óckinh doanh năng động, sáng tạo Yếu tố truyền thống trong điều kiện hiện nay có

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

tác dụng hai mặt, vừa tích cực vừa tiêu cực, đối với sự phát triển của các làng nghề.Việc khó là làm sao đưa được những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đạivào nhưng vẫn giữ được những yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dântộc và những sản phẩm của các làng nghề phải được tiếp nhận trong thị trường của

xã hội hiện đại

cũ (cách đây khoảng vài triệu năm đến 1 vạn năm), con người đã làm ra các sảnphẩm thủ công với khoảng 12 loại nguyên liệu (đá, gỗ, tre, vỏ sò, vỏ ốc, đất, vỏ cây,dây leo, xương, sừng, ngà, da ) Nhưng khi đó thủ công chưa phải là những nghềchuyên nghiệp, nó chỉ phục vụ cho việc hái lượm, săn bắt của con người

Từ thời đại đồ đá mới (10.000 – 6.000 năm về trước), tuy nghề nông ra đời

và thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và theo hướng chuyên môn hóa Xãhội loài người được phân hóa và dần hình thành bên cạnh nghề nông là các nghề thủcông Qua nhiều thời kỳ phát triển đến nay có rất nhiều nghề thủ công truyền thốngkhác nhau, có thể kể tên các nghề như: nghề gốm sứ, nghề khảm trai, nghề chạmkhắc gỗ, nghề đan mây, tre, nứa, nghề dệt truyền thống, nghề đúc đồng

Theo tài liệu khảo cổ học, cư dân Phùng Nguyên đã nâng kỹ thuật chế tác đálên trình độ cao với đủ các loại dụng cụ, cưa, khoan, tiện, mài Nghề làm gốm phát

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

triển cao với các sản phẩm đa dạng Họ đã biết trang trí nhiều đồ án hoa văn, hìnhnhững đường cong uốn lượn phức tạp… làm cho các đồ đựng vừa tiện lợi, vừa đẹpmắt, đã chứng tỏ óc thẩm mỹ của người Phùng Nguyên [2, tr.1217].

Thời kỳ văn minh Văn Lang, nghề luyện kim, đồng thau phát triển đến trình

độ cao, người thợ thủ công đã biết tính toán tỷ lệ các chất kim loại trong hợp kimđồng thau để sử dụng vào nhiều mục đích Kỹ thuật nung gốm đạt 8000c, ở lò luyệnkim đến 1200- 12500c Trống đồng Ngọc Lũ là sản phẩm nổi tiếng về nghệ thuậttrang trí và nghệ thuật đúc đồng thời đó Người Việt cổ đã sáng tạo ra nghề nấu sắtbằng phương pháp hoàn nguyên, nghề nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa…[2, tr.1221- 1222]

Đến thời kỳ nền văn minh Đại Việt, bên cạnh nền nông nghiệp phát triển,kinh tế công, thương nghiệp cũng có bước phát triển đáng kể, các nghề thủ công cổtruyền đều duy trì và phát triển hơn thời Bắc thuộc Đã có những làng, phường thủcông chuyên nghiệp, bên cạnh những nghề phụ của nông dân, ở ấp Mao Điền- HảiDương có nghề dệt vải nhỏ đẹp hơn lụa; ở phường Tầng Kiến, Kinh thành ThăngLong dệt võng, gấm trừu; ở phường Hàng Đào nhuộm vải điều, làng Huê Cầunhuộm vải thâm… Nghề làm gốm tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng tinh xảovới một trình độ thẩm mỹ đặc sắc, được lái buôn nước ngoài ưa chuộng Đến thế kỷthứ XVI- XVII nghề đồ gốm phát triển ra cả nước, nhiều làng gốm nổi tiếng như:Bát Tràng, Hương Canh, Thổ Hà, Phù Lãng…Với những sản phẩm đa dạng: ấm,chén, gạch tráng men, bình hoa, chậu hoa… Bốn công trình lớn: chuông Quy Điều,vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên, tượng chùa Quỳnh Lâm thể hiện sáng tạo của ngườithợ thủ công Đại Việt đầu thế kỷ XI Tiếp thu công nghệ làm giấy của Trung Quốc,người Việt dùng nguyên liệu trong nước từ vỏ cây gió, các loài rêu biển, vỏ cây dâu,

vỏ cây thượng lục…làm ra nhiều loại giấy bản khác nhau: giấy nghè, giấy nhũtương, giấy đại phương, giấy trầm hương Nghề in khắc gỗ phát triển, hình thànhlàng nghề ở Hồng Lục và Liễu Tràng- Hải Dương [2, tr.1233-1235]

Trong thời Pháp thuộc nghề TCN trong nước, bị tư bản nước ngoài chèn ép.Nhưng hàng tơ lụa của Việt Nam vẫn là nguồn lợi to lớn: trong khoảng các năm1909- 1913, mỗi năm Việt Nam xuất sang Pháp 183,3 tấn tơ lụa các loại Theo điều

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

tra của P Gourou, trong số 108 nghề thủ công khác nhau ở đồng bằng Bắc bộ năm

1935 thì nghề dệt đứng đầu với trên 54 nghìn thợ dệt

Như vậy, nghề thủ công ở Việt Nam đã ra đời từ rất lâu nhưng các sản phẩmthủ công vẫn còn có giá trị cho đến nay Cùng với dòng chảy của thời gian, cácngành nghề thủ công truyền thống đã được lưu truyền và trở thành tài sản văn hoá

vô cùng quý báu của dân tộc ta khi cả thế giới biết đến các sản phẩm độc đáo củanhững người thợ tài hoa

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Khôi phục các ngành nghề, làng nghề truyền thống, phát triển nhiều ngànhnghề mới trong nông thôn là chủ trương của Đảng ta trong quá trình thực hiệnCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Từ 1956 đến 1975 Đảng và Nhà nước takhẳng định TTCN có vị trí, vai trò quan trọng trong nền Kinh tế quốc dân và lúc

đó quan niệm TTCN là nghề phụ gia đình TTCN có nhiệm vụ phục vụ sản xuấtnồng nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng cho nhân dân và cho hàng xuất khẩu Chính

vì vậy năm 1956 TTCN truyền thống được khôi phục và mở ra nhiều nghề mới, cơ

sở sản xuất được cải tạo và một hình thức sản xuất mới ra đời- Hợp tác xã tiểu thủcông nghiệp

Từ năm 1975 đến năm 1988, Đảng ta nhấn mạnh: “thủ công nghiệp” ở nước

ta có tiềm năng to lớn, là bộ phận quan trọng của công nghiệp hàng tiêu dùng, đã vàđang được cải tạo và tổ chức lại thành một bộ phận kinh tế xã hội chủ nghĩa(XHCN) có vị trí trọng yếu và lâu dài trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trongchặng đường đầu tiên này Đảng chủ trương giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện

có, khai thác tiềm năng, thực hiện 3 chương trình kinh tế trọng điểm của đất nước.Kết quả là "tiểu, thủ công nghiệp" đã sản xuất ra 45% giá trị công nghiệp địaphương, tạo 20% giá trị kim ngạch xuất khẩu và thu hút hàng vạn lao động nôngthôn Thời kỳ 1975- 1988 là thời gian mà hợp tác xã TTCN phát triển rực rỡ nhất[14, tr 26] Tuy nhiên do còn duy trì chế độ kế hoạch hoá bao cấp; đến cuối thập kỷ

80, mô hình hợp tác xã TTCN cũ không còn thích hợp, do mất thị trường Đông Âu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

và cả nguyên nhân trong nội bộ không giải quyết thoả đáng vấn đề lợi ích, nên đa sốhợp tác xã TTCN bị tan rã.

Riêng về tổ chức quản lý, ngày 2/11/1987 hội đồng Chính phủ đã ban hànhnghị định số 279-CP về “tổ chức và hoạt động của Liên hiệp HTX tiểu công nghiệp

và thủ công nghiệp Trung ương” và Chỉ thị về “Việc tăng cường chỉ đạo, quản lýkhu vực sản xuất tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp” vào ngày 26.6.85, trong đó,quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức này, đồngthời cũng quy định mối quan hệ phân công, phối hợp các ngành có liên quan ởTrung ương trong việc chỉ đạo và quản lý khu vực sản xuất TTCN

Thời kỳ 1988 đến nay, quan điểm của Đảng về phát triển TTCN rõ hơn đượcthể hiện trong các văn kiện Đại hội của Đảng, các Nghị quyết, Nghị định như Quyếtđịnh 132/2000/QĐ-TTg, ngày 24/11/2000 của thủ tướng CP về: “ngành nghề nôngthôn” Nghị định số 134/2004/ NĐ-CP ngày 9/6/2004 về: “khuyến khích phát triểnngành nghề nông thôn”, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về “phát triểnngành nghề nông thôn” Đặc biệt khi nói đến mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệpnông thôn, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh vị trí, vai trò của TTCN: “Trong nhữngnăm còn lại của thập kỉ 90 và những năm tiếp theo là phải đẩy mạnh phát triển cácngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề ở nông thôn”, coi đây là giảipháp lớn nhăm giải quyết những bức xúc trong nông nghiệp, nông thôn và nông dângiai đoạn hiện nay Yêu cầu đối với sự phát triển của các ngành nghề, làng nghề làgắn với sản xuất nông nghiệp, tạo sự phát triển ổn định, bền vững Song phải tùythuộc vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của từng địa phương đề sảnxuất vừa đạt mục tiêu kinh tế - xã hội vừa đảm bảo về môi trường sinh thái, giữ gìnvăn hóa truyền thống của địa phương Đó là nguồn nội lực là điều kiện quan trọng

để nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển ổn định và bền vững

Trong xu thế hội nhập kinh tế, cùng với sự tác động mạnh của nền kinh tế thịtrường, việc đầu tư phát triển ngành nghề TTCN, làng nghề truyền thống đượcĐảng và Nhà nước ta xem là vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách trong quá trìnhthực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn theo hương tích cực, vừa giải quyết

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

việc làm, vừa chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang lao động côngnghiệp-tiểu thủ công nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, rút ngắn khoảngcách giữa thành thị và nông thôn nhằm khắc phục những hạn chế trong sản xuất vàđời sống của hộ sản xuất.

1.2.3 Kinh nghiệm về phát triển tiểu thủ công nghiệp ở một số nước Châu Á và Việt Nam

1.2.3.1 Kinh nghiệm phát triển tiểu thủ công nghiệp ở Châu Á

- Kinh nghiệm của Nhật Bản

Ở Nhật Bản, cùng với sự phát triển ngoại thương, có một số ngành tiểu thủcông nghiệp biến mất, một số lớn ngành nghề cũ tìm được nguồn tiêu thụ mới,thành những ngành có khả năng xuất khẩu lớn nhất đó là: nghề tằm tơ, nghề dệtcác mặt hàng tơ lụa theo thị hiếu, đồ sơn và chiếu hoa…nhiều hoạt động thủ côngmới mẻ như làm giày dép, chụp ảnh, giặt ủi, làm dù, làm đồ da, làm đồ kim loạiquý, mạ kim loại quý, đồ thuỷ tinh, nhuộm da [15, tr.45] Nhật Bản ưu tiên pháttriển các nhà máy nhỏ, chế biến kim loại theo hướng chuyên môn hoá Các cơ sởnày sơ chế, xử lý trung gian kim loại, sản phẩm là thép dát mỏng, thanh thép vàdây thép…Chính phủ Nhật ban hành luật khuyến khích ngành công nghiệp cơ khí,nhiều khoản tín dụng với lãi suất ưu đãi cấp cho các nhà "tiểu công nghiệp" đầu tưđẩy mạnh sản xuất hàng loạt, với năng suất cao, khối lượng sản phẩm lớn, gia tăng

sử dụng công nhân

Ở Nhật Bản, trong quá trình công nghiệp hóa, các nghề tiểu thủ công nghiệpkhông những không bị mai một mà trái lại, nó vẫn được duy trì và phát triển ở nôngthôn, trong các hộ nông dân, các làng nghề và thị trấn Qua kết quả thống kê, ở NhậtBản có 867 nghề tiểu thủ công nghiệp khác nhau như chế biến lương thực, thựcphẩm bằng nông sản, thủy sản (như bột gạo, miến, đậu phụ, tương, dấm, rượu Sakê,mắm, v.v.); nghề đan lát bằng tre nứa; nghề dệt chiếu, bao tải bằng rơm; nghề thủcông mỹ nghệ (bao gồm gốm sứ, sơn mài, chạm khắc gỗ); nghề dệt lụa may áoKimônô; nghề rèn nông cụ, với công nghệ cổ truyền rèn kiếm Nhật nổi tiếng…,nghề cổ truyền sơn mài đã trải qua những bước tiến thăng trầm trong cơ chế thị

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

trường của thời kỳ công nghiệp hóa, có thời kỳ thịnh vượng và có lúc suy thoái Sơnmài (tiếng Nhật là SHIKKI) là một nghề thủ công mỹ nghệ lâu đời mà AIZO –WAKAMAMATSU là một trong những địa phương nổi tiếng về các sản phẩm sơnmài, phục vụ khách hàng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài, kể cả nước Mỹ.Trước đây các gia đình Nhật Bản có tập quán sử dụng các đồ dùng là những sảnphẩm có giá trị thẩm mỹ cao bằng sơn mài và gốm sứ ở trong nhà, nhưng đến naylối sống và sinh hoạt của người dân Nhật Bản đang thay đổi mạnh, theo phong cáchcông nghiệp hóa, nên thị hiếu về đồ dùng trong nhà cũng khác đi Chính vì vậynghề sơm mài giảm sút Điều đáng chú ý công nghệ chế tạo nông cụ của Nhật Bản

từ thủ công dần dần được hiện đại hóa với các máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tôi,

mạ tiên tiến Thị trấn TAKEO có trung tâm nghiên cứu mẫu mã và chất lượng nông

cụ với đầy đủ thiết bị đo lường hiện đại để kiểm nghiệm nông cụ theo tiêu chuẩnquốc gia

Mặc dù hiện nay Nhật Bản đã trang bị đầy đủ hệ thống máy móc nôngnghiệp và đạt trình độ cơ giới hóa dưới 95%, nhưng nghề sản xuất nông cụ vẫnkhông giảm sút nhiều Nông cụ Nhật Bản với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, khôngchỉ được tiêu thụ ở thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang những nước đangphát triển và những nước công nghiệp phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ

Vào những năm 70 của thể kỷ XX ở tỉnh OITA (miền Tây Nam Nhật Bản)

đã có phong trào “Mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển ngành nghề cổtruyền ở nông thôn Kết quả là ngay từ năm đầu tiên họ đã sản xuất được 143 loạisản phẩm, thu được 358 triệu USD, đến năm 1992 sản xuất thu được 1,2 tỷ USD,trong đó có 378 triệu USD do bán rượu đặc sản Sakê, 114 triệu USD các mặt hàngthủ công mỹ nghệ Phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước

- Kinh nghiệm của Ấn Độ

Ấn Độ là một nước có dân số đông thứ hai trên thế giới (sau Trung Quốc), cónền văn minh và văn hóa dân tộc lâu đời, được thể hiện rõ qua các nghề thủ công cổtruyền đặc sắc Hàng chục triệu người dân Ấn Độ đến nay vẫn đang sinh sống bằngcác nghề thủ công Sản phẩm làm ra tiêu thụ ở thị trường trong nước và xuất khẩu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

với doanh thu mỗi năm trên 1000 tỷ rupi Chính Phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm và đề

ra nhiều biện pháp và các chính sách để bảo tồn và phát triển các nghề tiểu thủ công

mỹ nghệ tinh hoa của dân tộc, tạo ra sự ưu thế vươn ra thị trường thế giới ChínhPhủ đã tổ chức các trung tâm phát triển công nghệ và thiết kế mẫu mã cho các mặthàng thủ công mỹ nghệ ở nhiều nơi như Niuđêli, Cancutta, Bombay, Bănggalonhằm nghiên cứu, thiết kế mẫu mã và công nghệ, bảo tồn những nét đặc sắc của mặthàng thủ công mỹ nghệ Ấn Độ Các trung tâm còn nghiên cứu ứng dụng các côngnghệ mới, tạo ra những mẫu mã mới, đa dạng, hợp với thị hiếu nhiều mặt của kháchhàng trong và ngoài nước, riêng các trung tâm ở Bombay và Bănggalo còn tập trungnghiên cứu tạo dáng cho hàng mỹ nghệ của các bộ lạc thiểu số và giới thượng lưu.Không chỉ chú ý mẫu mã, ở Ấn Độ còn có khoảng 400 trung tâm dạy nghề rải rác ởcác vùng trong nước, tập trung ở các bang Utta Prađét, Giamu, Casơmia, Biha đểđào tạo nghề cho các lao động thủ công mỹ nghệ Cùng với đào tạo tay nghề chothợ, Ấn Độ đặc biệt quan tâm tới đội ngũ thợ lành nghề, thợ cả có nhiều kinhnghiệm 13 trung tâm đào tạo có nhiệm vụ chuyên lo việc nâng cao tay nghề chothợ cả, nhằm giữ gìn, khôi phục các nghề thủ công cổ truyền đặc sắc có nguy cơ bịmai một, thất truyền và bồi dưỡng tay nghề cho các nghệ nhân đặc biệt tài ba đãhoạt động

Thợ cả - các nghệ nhân tài năng có tay nghề cao được coi như vốn quý củaquốc gia Ấn Độ, được nhà nước chú ý quan tâm về vật chất và tinh thần Từ năm

1950 đến nay, Chính phủ Ấn Độ đã đặt ra giải thưởng cấp nhà nước trao tặng cácthợ cả nghệ nhân xuất sắc một thẻ chứng nhận của Chính phủ, 10.000 rupi tiềnthưởng và một bộ quần áo của Tổng thống ban tặng Từ năm 1973 – 1974, mỗi nămnhà nước lại chọn ra 15 thợ cả nghệ nhân xuất sắc và cấp cho mỗi người một khoảntrợ cấp hàng tháng 500 rupi và cho đến nay 227 nghệ nhân đã được hưởng khoảntrợ cấp này

Trong các nghề thủ công mỹ nghệ, nghề chế tác kim cương có tốc độ pháttriển nhanh trên cơ sở tận dụng, phát huy công nghệ cổ truyền và ứng dụng côngnghệ, thiết bị hiện đại vào sản xuất Ấn Độ đã trở thành một trong các quốc gia chế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

tác kim cương lớn nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu là 3 tỷ USD.

Ở Ấn Độ, Viện thủ công mỹ nghệ quốc gia là cơ quan nghiên cứu kinh tế kỹthuật phục vụ yêu cầu phát triển các ngành nghề cổ truyền, ngoài việc nghiên cứukhoa học, công nghệ, mẫu mã, mặt hàng, trong thời gian qua còn tổ chức 165 cuộctriển lãm – hội chợ hàng thủ công mỹ nghệ ở trong nước và nước ngoài, giới thiệucác mặt hàng đặc sắc của Ấn Độ, nghiên cứu thị trường và tiếp thị để mở rộng thịtrường xuất khẩu ra thế giới

Những ngành cơ khí nhẹ thành đạt, những xí nghiệp nhỏ chuyên môn hoátrong sản xuất các dụng cụ cơ khí nhẹ, phát triển mạnh vào những năm 1950 Đếnnăm 1960, nó cung cấp 49% sản phẩm kim khí và 30% dụng cụ cơ khí, bao gồmcác sản phẩm: các bộ phận rời đổ khuôn, rèn bằng sắt, bằng thép, các quả cân, dao,khoá, dây thép, dây thép gai, ốc vít, bù loong, đinh tán, các bộ phận rời và phụ tùngcủa dụng cụ trong ngành dệt, các dụng cụ khoa học, mô tơ điện dưới 10CV; cácmáy cái như: máy tiện, trục máy tiện chạy bằng băng chuyền, máy khoan, máy épchạy bằng điện và bằng tay Chính phủ phối hợp với các hiệp hội nghề nghiệpkhuyến khích nhằm đơn giản hoá, chuyên môn hoá và tiêu chuẩn hoá sản xuất sảnphẩm và sử dụng cố vấn kỹ thuật [15, tr.120- 121]

- Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là nước có diện tích canh tác bình quân đầu người đạt 3.756 m2,diện tích bình quân của một hộ nông dân là 4.5 hecta, cao nhất trong các nước ĐôngNam Á Trong những năm 60 của thế kỷ trước, Thái Lan vẫn còn là nước lạc hậu,yếu kém về nông nghiệp và công nghiệp nên họ đã lựa chọn con đường công nghiệphóa – hiện đại hóa, để nâng cao mức sống của người dân nông thôn, đi đôi với việckhuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng xuất khẩu Chính phủ Thái Lanchủ động phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn,tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa

Các ngành nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ như chế tác vàng bạc đáquý và đồ trang sức, được duy trì và phát triển tạo ra nhiều hàng hóa xuất khẩuđứng vào loại thứ hai trên thế giới, do kết hợp được tay nghề của các nghệ nhân

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

lành nghề với công nghệ, kỹ thuật, thiết bị hiện đại Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm

mỹ nghệ vàng bạc, đá quý năm 1990 đạt 2 tỷ USD

Nghề gốm sứ cổ truyền ở Thái Lan trước đây chỉ sản xuất để đáp ứng nhucầu trong nước Gân đây ngành này đã phát triển theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn thứ hai sau gạo.Trung tâm sản xuất đồ gốm lớn nhất ở Thái Lan – Chiềng Mai, đang được pháttriển đi vào sản xuất với khối lượng lớn cả 3 mặt hàng: đồ gốm truyền thống (gồmcác đồ dùng sinh hoạt hàng ngày), hàng gốm sứ công nghiệp (bao gồm gốm xâydựng, gốm cách điện, chịu lửa), hàng gốm sứ mới (gồm các vật thể hóa học, quanghọc, gốm điện v.v ) Cho đến nay 95% hàng gốm xuất khẩu của Thái Lan là đồtrang trí nội thất và đồ lưu niệm Để nâng cao chất lượng sản phẩm, Thái Lan đangxúc tiến nâng cao tay nghề cho công nhân của 93 xí nghiệp gốm ở Chiềng Mai vàLam Pang

- Kinh nghiệm của Inđônêxia

Chương trình phát triển ngành nghề TTCN được Chính phủ Inđônêxia hếtsức quan tâm bằng việc lần lượt đề ra các kế hoạch 5 năm

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất: Xây dựng các xưởng và trung tâm để bán cácsản phẩm TTCN của các làng nghề

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ hai: Thực hiện các dự án hướng dẫn và phát triểncông nghiệp nhỏ nhằm giáo dục, đào tạo, mở mang các hoạt động sản xuất tiểu thủcông nghiệp của những doanh nghiệp nhỏ

+ Kế hoạch 5 năm lần thứ ba: Chính phủ đứng ra tổ chức một số cơ quan đểquản lý, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cung cấp vật tư thiết bị, tiêu thụ sản phẩmcho các làng nghề

Chính phủ đã thiết lập chương trình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệpvới làng nghề truyền thống Các trung tâm công nghiệp có trách nhiệm giúp đỡ làngnghề truyền thống nâng cao năng lực quản lý, quy trình công nghệ marketing, cungcấp tài chính, mua nguyên liệu thô và đứng ra đảm bảo cho làng nghề truyền thống

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

vay vốn ngân hàng, còn làng nghề truyền thống có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, đồngthời làm nhiệm vụ gia công cho trung tâm công nghiệp lớn Thậm chí có lúc trungtâm công nghiệp lớn còn đứng ra giúp đỡ làng nghề truyền thống bán sản phẩm củamình trên thị trường quốc tế hoặc thường xuyên trao đổi cung cấp thông tin cầnthiết về thị trường xuất khẩu, những mặt hàng đang được ưa chuộng và có nhu cầulớn trên thị trường Có thể nói, sự nỗ lực của Chính phủ trong việc phát triển ngànhnghề TTCN ở nông thôn đã đem lại những hiệu quả thiết thực ở Inđônêxia.

1.2.3.2 Kinh nghiệm phát triển tiểu thủ công nghiệp ở Việt Nam

- Kinh nghiệm của tỉnh Hà Tây

Làng Đông Mỹ- xã An Tiến- huyện Mỹ Đức có 243 hộ với 1.105 nhân khẩu.Năm 2002, dự án nhân cấy nghề mây giang đan xuất khẩu đưa về làng, được ngườidân tiếp thu rất nhanh Năm 2004 có 78% số hộ tham gia làm nghề; doanh thu từnghề đạt tỷ trọng CN- TTCN 52,1% và thu nhập trung bình của người làm nghề là9,7 triệu đồng/ người/ năm Những người thợ ở làng nghề Lưu Thượng- xã Phú Túc,Phú Xuyên khéo léo, sáng tạo, cải tiến mẫu mã, làm ra những sản phẩm thủ công đadạng: con giống ngộ nghĩnh, lẵng hoa xinh xắn, những chiếc làn đủ hình thù, kíchcỡ Những mặt hàng này được giới thiệu, chào hàng ở 20 quốc gia: Đông Âu,Canada, Úc, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan Huyện Chương Mỹ đã quy hoạch 2khu công nghiệp và 12 điểm công nghiệp làng nghề, với tổng diện tích 760,15ha.Năm 2005, có 40 dự án đi vào sản xuất kinh doanh, tạo việc làm thường xuyên cho3.800 lao động và hơn 5 vạn lao động thời vụ, giá trị sản xuất CN- TTCN đạt 425 tỷđồng, tăng 39,8% so năm 2004, chiếm 30,3% trong cơ cấu kinh tế Chương Mỹ trởthành “điểm hấp dẫn để thu hút đầu tư” Để phát triển TTCN và du lịch làng nghề,tỉnh Hà Tây đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá, lập quy hoạch tổng thể phát triển dulịch làng nghề, chọn khâu đầu tư xây dựng đường giao thông Trong 4 năm 2001-

2005, tỉnh đã đầu tư 20 tuyến đường vào các điểm du lịch làng nghề, với tổng kinhphí là 25 tỷ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

- Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 16 làng nghề, với trên 10 ngành nghề sảnxuất khác nhau Để phát triển TTCN năm 2005, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành quyhoạch 25 khu cụm công nghiệp làng nghề, diện tích 127,5 ha, dự kiến doanh thu

156 tỷ đồng, thu hút 25.800 lao động; với nhiều ngành nghề: gốm, mộc, mộc mỹnghệ, chế biến nông sản, thực phẩm, chế biến nông sản phẩm, thực phẩm, kim loại,

đa nghề

- Kinh nghiệm của Thái Nguyên

Trong những năm qua, nền kinh tế tỉnh Thái Nguyên ngày càng phát triển,tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt gần 9%, cơ cấu kinh tế có sựchuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ Cùng với sựphát triển của các ngành kinh tế, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cũng đượcquan tâm phát triển và đã có những đóng góp tích cực trong việc phát triển kinh tếnông nghiệp – nông thôn Thu nhập từ các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp hàngnăm lên tới nhiều tỷ đồng Điều quan trọng hơn là các ngành nghề này đã thu hútmột lực lượng lao động tương đối lớn trong nông thôn tham gia và đã tạo ra nhữnglàng nghề mang sắc thái riêng của từng địa phương trong tỉnh như các làng nghềđan lát các vật dụng sinh hoạt, xuất khẩu ở xã Hà Châu, Tân Đức (Phú Bình), xãTiên Phong (Phổ Yên); các làng nghề chè ở Tân Cương, Trại Cài; làng sản xuấtgạch ngói ở Cổ Lũng (Phú Lương) Với tiêu chí cũ thì trên địa bàn tỉnh có 37 làngnghề tập trung ở 5 huyện: Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương Cáclàng nghề phát triển với tốc độ nhanh (năm 2001 mới có 22 làng nghề)

Xã Hà Châu (Phú Bình) là địa phương có tới 3 làng nghề chuyên đan lát cácsản phẩm như rọ tôm, rổ, rá, nong nia phục vụ cho nhân dân trong và ngoàihuyện Năm 2005 đạt doanh thu 106 triệu đồng

Một làng nghề khá nổi tiếng khác với sản phẩm bánh chưng Bờ Đậu ở xã CổLũng đã thu hút được 41 hộ sản xuất với gần 100 lao động tham gia, đạt doanh thugần 300 triệu đồng năm 2005

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

- Kinh nghiệm của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

TP Hội An, tỉnh Quảng Nam đã được biết đến là thành phố phát triển mạnh

về du lịch Để phục vụ cho du lịch, UBND tỉnh đã đẩy mạnh phát triển các ngànhnghề TTCN, đây được coi là một ngành kinh tế mạnh xếp sau du lịch Trong nhữngnăm qua, dựa trên tiềm năng thế mạnh của một vùng đất có truyền thống sản xuấtTTCN, biết liên kết chặt chẽ với sự phát triển của ngành du lịch- thương mại, Hội

an đã tạo được bước chuyển biến tích cực trong cơ cấu sản xuất nội bộ ngành TTCN và làm thay đổi căn bản đời sống hơn chục nghìn lao động tại địa phương.Năm 2008, GTSX CN_TTCN của Hội an đạt hơn 840 tỷ đồng, GDP toàn ngành đạtgần 145 tỷ đồng tăng 77% so với năm 2003 trong đó giá trị xuất khấu đạt gần 250 tỷđồng, tăng 25% so với 2003 [26]

CN-Hiện trên địa bàn thành phố có khoảng 1100 cơ sở sản xuất TTCN thu hút12.000 lao động Có được kết quả trên là nhờ UBND thành phố Hội An đã cónhững chính sách phát triển phù hợp Từ Nghị quyết đại hội Đảng bộ Hội An lầnthứ XV, lãng đạo thành phố đã đề ra những quyết sách linh hoạt, sát thực nhằmphục vụ du lịch, khôi phục và mở rộng hoạt động của các làng nghề truyền thống,nhờ vậy cùng với nhóm chế biến thủy sản, gỗ xuất khẩu phát triển mạnh và dần dầnchiếm vị trí thay thế(42%), các nhóm may mặc da dày 17,25% tăng bình quân33%/năm, mây tre đan, thủ công mỹ nghệ cũng liên tục tăng Riêng nghề may nóng:phát triển cực thịnh, hơn 300 cơ sở may trực tiếp các cơ sở ngày được đầu tư trangthiết bị máy móc phù hợp, tập trung lực lượng lao động lành nghề nên chất lượng,mẫu mã các sản phẩm làm ra tạo được sức cạnh tranh mạnh trên thị trường, đáp ứngnhanh chóng nhu cầu của du khách

1.2.4 Những bài học rút ra đối với sự phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở thành phố Huế

Từ thực tiễn phát triển các nghề TTCN ở một số nước Châu Á và ở ViệtNam, có thể rút ra những bài học đối với thành phố Huế như sau:

- Một là, muốn phát triển các nghề TTCN thực sự có hiệu quả trước hết phải

có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước Kinh nghiệm của các nước cho thấy, chính phủ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

cần có những hỗ trợ toàn diện đối với các nghề TTCN, từ đảm bảo nguồn nguyênliệu, đào tạo lao động đến cung cấp thông tin, quảng bá sản phẩm, Những chươngtrình này sẽ tạo điều kiện cho các ngành nghề TTCN có thể phát triển một cách bềnvững Đồng thời phát triển các nghề TTCN phải xuất phát từ những chính sách bảotồn và phát triển văn hoá truyền thống; phát triển làng nghề truyền thống gắn vớiphát triển du lịch làng nghề.

- Hai là, việc sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm phảiđáp ứng được các yêu cầu cơ bản của thị trường Cải tiến mẫu mã bằng việc mờicác chuyên gia của những nước nhập khẩu chính để tư vấn Mặt khác, TTCN cần ưutiên khuyến khích phát triển các ngành nghề dịch vụ, xây dựng và các ngành mỹnghệ Ngành mỹ nghệ cần kết hợp tốt khâu sản xuất và thương nghiệp, lựa chọnmẫu mã, kỹ xảo, kỹ thuật, nguyên liệu, dụng cụ, kỹ thuật cải tiến, đáp ứng thị hiếu

- Ba là, tăng cường việc đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá,trình độ tay nghề cho người lao động thông qua các trung tâm đào tạo, các việnnghiên cứu Đồng thời phải xây dựng và phát triển các trung tâm đào tạo nghề bậccao thay vì đào tạo nghề mới như hiện nay Khai thác, tận dụng các lợi thế về nguồnnhân công dồi dào, giá rẻ, và các nguồn vốn đầu tư nhỏ trong phát triển TTCN Bêncạnh đó, cần giáo dục thế hệ trẻ biết giữ gìn văn hoá truyền thống cũng như tôn vinhnghệ nhân, những người trực tiếp làm nên những sản phẩm thủ công độc đáo

- Bốn là, thành lập các tổ chức, hiệp hội ngành nghề và phát huy vai trò của

nó trong việc hỗ trợ các vấn đề về vốn, tiêu thụ sản phẩm, đào tạo,

- Năm là, áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chấtlượng sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường

- Sáu là, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng (kỹ thuật, hành chính, nghiên cứu

và phát triển) tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận với các điều kiện sản xuất kinhdoanh hiện đại và mở rộng thị trường

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ

TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở CÁC PHƯỜNG VÙNG VEN

THÀNH PHỐ HUẾ

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI

SỰ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở CÁC PHƯỜNG VÙNG VEN THÀNH PHỐ HUẾ

Trang 38

Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ Bắc và 107,8-108,20kinh Đông Huế là đô thị trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp cáchuyện Hương Trà, Quảng Điền; phía Tây và phía Nam giáp huyện Hương Thuỷ,phía Đông giáp huyện Phú Vang Thành phố Huế có diện tích gần 83,3km2 bằng1,5% diện tích toàn tỉnh, bao gồm 27 phường, xã Huế nằm ở vị trí trung tâm củađất nước, trên trục Bắc-Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không

và đường biển Thành phố Huế nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung vớicác trung tâm kinh tế lớn đang phát triển nhanh như Khu kinh tế Chân Mây-Lăng

Cô, thành phố Đà Nẵng, Khu kinh tế Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội Từ thành phố

có thể tiếp cận dễ dàng với các tỉnh, thành phố trên toàn quốc trực tiếp bằng đườnghàng không, đường biển, đường bộ và đường sắt Như vậy, thành phố Huế có vị tríđịa lý thuận lợi đối với việc phát triển kinh tế xã hội, đóng vai trò quan trọng trongviệc phát triển kinh tế xã hội toàn tỉnh và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế củakhu vực miền Trung

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vìnơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực trongtoàn tỉnh Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đếntháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9ºC Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùamưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7ºC, có khi hạ xuống còn 8,8ºC,trời lạnh

Độ ẩm trung bình 85%-86% Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm.Gió bão chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: gió mùa Tây Nam (Bắt đầu

từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài) và giómùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưalàm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt

2.1.1.3 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: Đất ở TP Huế có khoảng 10 loại chính Các loại đất có diệntích tương đối lớn là đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đất cát, mặn…

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

phân bố trên các vùng khác nhau Quỹ đất đang sử dụng vào phát triển cây nôngnghiệp là 1718,2 ha, chiếm 24,2% diện tích tự nhiên Đất dùng vào lâm nghiệp là369,4 ha Đất chuyên dùng 2.926,1 ha Ngoài ra, còn có đất trồng cây lâu năm vàđất vườn tạp; đồng cỏ tái tạo dùng vào chăn nuôi và đất có mặt nước dùng vào nông

- ngư nghiệp Diện tích đất chưa sử dụng là 177,0 ha (chiếm 2,5% diện tích tựnhiên) có thể dùng vào những mục đích khác phục vụ phát triển kinh tế trên địa bàn

Tài nguyên rừng: TP Huế có diện tích rừng thông đặc dụng và đất lâmnghiệp là 385,35 ha (độ che phủ rừng đạt 5,4%), phân bổ trên địa bàn 04 phường:phường An Tây (347,2 ha), phường An Cựu (17,61 ha), phường Thủy Biều (15,24ha), phường Hương Long (5,3 ha)

Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng,với nhiều điểm khoáng sản, trong đó có các loại chủ yếu như: đá vôi, đá granít, caolanh, titan, than bùn, sét, nước khoáng…

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Về dân số

Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: qui mô và cơcấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ cấu của nguồn lao động Bởidân số và nguồn lao động có quan hệ mật thiết với nhau: Lực lượng dân cư càngđông trình độ lao động của dân cư càng cao, và càng trẻ thì sức phát triển của nềnkinh tế đó càng tiềm tàng

Dân số bình quân của thành phố Huế năm 2009 là 337.506 người, trong đónam 162.996 (chiếm 48,3%) người, nữ 174.509 người (chiếm 51,7%) dân số thànhthị là 304.581 người (chiếm 90,3%), dân số nông thôn 32.925 người (chiếm 9,7%).Tốc độ tăng dân số bình quân trong 5 năm qua là 1,04%/năm, mật độ dân số 4.755người/km2

2.1.2.2 Về lao động

Thành phố Huế có một lực lượng lao động khá dồi dào, trong đó số ngườitrong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 96% trong tổng sốlao động, rất ít người mất khả năng lao động Điều đó thể hiện qua bảng số liệu sau:

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

Bảng 2.1: Lao động xã hội thành phố Huế năm 2009

100 96 4 100 62,8 37,2

-B Phân phối nguồn LĐ

1 LĐ đang làm việc trong các ngành kinh tế

2 Số người trong độ tuổi có khả năng LĐ đang đi học

- Học phổ thông

- Học chuyên môn nghiệp vụ, học nghề

3 Số người trong độ tuổi có khả năng LĐ đang làm nội trợ

4 Số người trong độ tuổi có khả năng LĐ không làm việc

5 Số người trong độ tuổi LĐ không có việc làm

196.255

128.339 47.467 21.094 26.373 7.495 3.260 9.694

100

65,4 24,2 10,8 13,4 3,8 1,7 4,9

(Nguồn: Niên giám thống kê 2009)

Rõ ràng Huế là một thành phố đang có thế mạnh lớn về nguồn lực lao động,một nguồn lao động trẻ, năng động, có trình độ ngày càng được nâng cao Số ngườitrong độ tuổi lao động có sức khỏe, trẻ, có khả năng lao động chiếm đa số trongtổng số lao động, 191.287 người chiếm 96% trong tổng số lao động Lao động làmviệc trong các ngành kinh tế chiếm một tỷ lệ lớn 65,4%, điều này có thể là một lợithế để phát triển cho nền kinh tế thành phố Chỉ một số ít không làm việc (1,7%), tỷ

lệ làm công việc nội trợ hay tỷ lệ không có việc làm chỉ chiếm 6,6% Điều đó chứng

tỏ việc sử dụng lao động ở thành phố Huế ngày càng có hiệu quả, không có sự lãngphí nguồn lực lao động trên địa bàn

2.1.2.3 Về văn hóa, y tế, giáo dục

Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của thành phố Huế trong những năm qua đãđạt được những kết quả đáng khích lệ, thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dụcTHCS, luôn là đơn vị dẫn đầu của tỉnh trong công tác xây dựng trường chuẩn quốc

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 08/11/2016, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Báo Điện tử Bắc Ninh “Làng đúc đồng Đại Bái” 12/12/2003 Báo Du lịch Việt Nam;“Sức bật làng nghề Đại Bái” Phương Thu, ngày 29/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng đúc đồng Đại Bái” 12/12/2003 Báo Du lịch Việt Nam;“Sức bật làng nghề Đại Bái
4. Báo Điện tử Hà Tây (2004), Thăm làng dệt lụa Vạn Phúc, Tin Thông tấn xã Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm làng dệt lụa Vạn Phúc
Tác giả: Báo Điện tử Hà Tây
Năm: 2004
7. Báo Điện từ Bắc Ninh (2004), Báo Bắc Ninh “Gìn giữ một dòng tranh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Bắc Ninh “Gìn giữ một dòng tranh
Tác giả: Báo Điện từ Bắc Ninh
Năm: 2004
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Hội thảo "Mỗi làng một nghề", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỗi làng một nghề
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
10. C.Mác - Ph.Ăngghen (1985), Chống Duy rinh, Tuyển tập, tậpV, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Duy rinh
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1985
11. C.Mác và Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 1993
12. C.Mác - Ph.Ăngghen (1983), Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư nhân và nhà nước, tuyển tập, tập IV, Nxb Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư nhân và nhànước
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1983
13. Đảng Cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Lê Khắc Thành (1982), Nền tiểu, thủ công nghiệp ở một số nước tư bản, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền tiểu, thủ công nghiệp ở một số nước tư bản
Tác giả: Lê Khắc Thành
Nhà XB: NxbThành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1982
16. V.I Lênin (1976), Toàn tập, tập 2, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1976
1. Báo cáo khôi phục làng nghề truyển thống thành phố Huế 2009 Khác
2. Bách khoa tri thức phổ thông (2000), Nxb Văn hoá- Thông tin , Hà Nội Khác
6. Báo Điện tử Bình Dương (2006), Chuyên đề về làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Bình Dương như nghề gốm, sơn mài, điêu khắc… Khác
8. Bộ Công nghiệp (2005), Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển Khác
14. Đặng Lễ Nghi (1998), Về các giải pháp phát triển tiểu công nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ thành phố Huế - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Hình 2.1 Bản đồ thành phố Huế (Trang 37)
Bảng 2.1: Lao động xã hội thành phố Huế năm 2009 - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.1 Lao động xã hội thành phố Huế năm 2009 (Trang 40)
Bảng 2.4: Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo nhóm ngành chính - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp theo nhóm ngành chính (Trang 54)
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp của các phường vùng ven thành phố Huế năm 2010 - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp của các phường vùng ven thành phố Huế năm 2010 (Trang 56)
Bảng 2.6: Tình hình vay vốn trong các cơ sở sản xuất TTCN - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.6 Tình hình vay vốn trong các cơ sở sản xuất TTCN (Trang 57)
Hình 2.2: Tỷ lệ vay vốn của các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Hình 2.2 Tỷ lệ vay vốn của các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp (Trang 58)
Bảng 2.8: Lao động trong các ngành nghề TTCN - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.8 Lao động trong các ngành nghề TTCN (Trang 60)
Bảng 2.9: Trình độ lao động tại các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.9 Trình độ lao động tại các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp (Trang 61)
Bảng 2.10: Tình hình lao động trong các hộ - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.10 Tình hình lao động trong các hộ (Trang 62)
Bảng 2.11: Tổng hợp số lượng số cơ sở sản xuất CN-TTCN có khả năng gây ô - Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở các phường vùng ven thành phố huế, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.11 Tổng hợp số lượng số cơ sở sản xuất CN-TTCN có khả năng gây ô (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w