Bảng 2.18: Phân tích hồi quy tương quan theo bước các nhân tố tác động đến nănglực cạnh tranh của Công ty ...78Bảng 2.19: Ý kiến đề xuất của chuyên gia để nâng cao năng lực cạnh tranh củ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,thông tin được sử dụng trong Luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, trung thực vàđược phép công bố, mọi trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện
NGUYỄN DUY ĐỨC
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Lời đầu tiên, tôi bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo đã giảng dạy và
giúp đỡ tôi trong suốt khoá học.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Tài Phúc, người thầy giáo đã hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm để tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế Huế; Phòng Khoa học công nghệ - Hợp tác quốc tế - Đào tạo sau đại học; các Khoa, Phòng ban chức năng của Trường đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần Xây dựng Tiền Giang; các cơ quan quản lý xây dựng; các nhà tư vấn xây dựng; các khách hàng của Công ty; các đồng nghiệp và bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp những tài liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành Luận
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên học viên : NGUYỄN DUY ĐỨC
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh; niên khóa: 2011 - 2013
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC
Tên đề tài: NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG TIỀN GIANG.
1.Tính cấp thiết của đề tàiTrước sự lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp xây dựng trong nước,
sự xuất hiện của những công ty xây dựng lớn của nước ngoài, sự phát triển của khoahọc công nghệ xây dựng cho thấy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựngđang diễn ra rất gay gắt Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩaquyết định đối với sự thành công và phát triển của các doanh nghiệp xây dựng nóichung và của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang nói riêng
Xuất phát từ yêu cầu thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang” làm luận văn thạc sĩ của
mình
2 Phương pháp nghiên cứuLuận văn sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế vàphân tích kinh doanh; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích ma trận SWOT,phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản mang tính khoa học về cạnhtranh, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong xây dựng Từ đó khẳngđịnh sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong xây dựng của Công ty cổphần Xây dựng Tiền Giang
- Dùng các phương pháp phân tích khoa học, phân tích, đánh giá thực trạng trên
cơ sở kết quả phân tích số liệu thứ cấp, sơ cấp đã thu thập và xử lý Luận văn đã đưa rađược 8 vấn đề tồn tại chính, 8 nhóm nguyên nhân chủ quan và 3 nhóm nguyên nhânkhách quan ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Công ty
- Trên cơ sở đó, Luận văn đã đề xuất 7 nhóm giải pháp cơ bản; trong mỗinhóm đưa ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
cổ phần Xây dựng Tiền Giang Luận văn cũng mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đềxuất đối với Nhà nước, các chủ đầu tư, các cơ quan nhà nước có liên quan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược luận văn iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Mục lục v
Danh mục bảng ix
Danh mục mô hình, sơ đồ xi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Mục tiêu chung 2
3.2 Mục tiêu cụ thể 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận 3
5.1 Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu 3
5.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: 4
6 Những đóng góp khoa học của luận văn 4
7 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 5
8 Bố cục của luận văn 5
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh 6
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh 6 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 61.1.2 Các loại hình cạnh tranh 7
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh 10
1.2 Lý luận về năng lực cạnh tranh 11
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 11
1.2.2 Mối quan hệ giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh 12
1.2.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.2.4 Lợi thế cạnh tranh 18
1.2.5 Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh 19
1.3 Những đặc thù trong cạnh tranh của ngành xây dựng 20
1.3.1 Một số khái niệm về hoạt động xây dựng và doanh nghiệp xây dựng: 20
1.3.2 Đặc điểm sản phẩm xây dựng 21
1.3.3 Đặc điểm chủ yếu của sản xuất xây dựng 22
1.3.4 Những đặc điểm của thị trường xây dựng 26
1.3.5 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng .28
1.4 Một số bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản 34
1.4.1 Công ty TNHH Xây dựng Thuận Phú - Chiến lược thâm nhập thị trường mới .34
1.4.2 Công ty TNHH Xây dựng Hữu Quế - Chiến lược chi phí thấp 35
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH HIỆN NAY CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG TIỀN GIANG 37
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 37
2.1.1 Quá trình hành thành và phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 38
2.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang trong giai đoạn từ năm 2009-2012 40 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 72.1.4 Kết quả tham gia đấu thầu của Công ty cổ phần xây dựng Tiền Giang
trong giai đoạn từ năm 2009-2012 42
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 43
2.2.1 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng Tiền Giang 43
2.2.2 Các nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 54
2.3 Những tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 59
2.3.1 Những tồn tại 59
2.3.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 61
2.4 Đánh giá của chuyên gia về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 64
2.4.1 Thông tin chung về đối tượng được điều tra, phỏng vấn 65
2.4.2 Kiểm định độ tin cậy của các biến số phân tích với hệ số Cronbach’s Alpha 65 2.4.3 Phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Công ty 67
2.4.4 Kiểm định giả thuyết về trị trung bình của các nhân tố thành viên 70
2.4.5 Phân tích hồi qui tương quan các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng Tiền Giang 76
2.5 Đánh giá các đề xuất của chuyên gia để nâng cao năng lực cạnh tranh 79
2.6 Phân tích lợi thế cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 80
Kết luận chương 2 83
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG TIỀN GIANG 85
3.1 Định hướng phát đô thị và khu dân cư nông thôn của tỉnh Tiền Giang đến năm 2020 85
3.1.1 Định hướng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn đến năm 2020 85 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 83.1.2 Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2013-2015 và dự báo thị
phần của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 86
3.2 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang đến năm 2020 87
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang đến năm 2020 89
3.3.1 Đổi mới, sắp xếp hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy; Nâng cao năng lực đội ngũ quản lý và Chất lượng nguồn nhân lực của Công ty 89
3.3.2 Tăng cường vốn đầu tư nhằm hiện đại hóa, đồng bộ trang thiết bị máy móc, kỹ thuật và công nghệ thi công 91
3.3.3 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn 93
3.3.4 Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại nhằm xây dựng chiến lược cạnh tranh đấu thầu dài hạn 94
3.3.5 Nâng cao chất lượng hồ sơ dự thầu và kỹ thuật đấu thầu của Công ty 96
3.3.6 Củng cố, xây dựng và phát triển thương hiệu 100
3.3.7 Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp 101
Kết luận Chương 3 102
PHẦN 3 : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
2 Một số kiến nghị 104
2.1 Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ đầu tư 104
2.2 Đối với Công ty cổ phần xây dựng Tiền Giang 104
Danh mục tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 109 Biên bản của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ kinh tế
Bản nhận xét của Uỷ viên phản biện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Tiền Giang
trong giai đoạn từ năm 2009-2012 41Bảng 2.2: Kết quả đấu thầu xây dựng của Công ty giai đoạn 2009- 2012 42Bảng 2.3: Một số công trình tiêu biểu của Công ty đã trúng thầu giai đoạn 2009-
2012 43Bảng 2.4: Tình hình sử dụng lao động của Công ty qua 4 năm 2009-2012 45Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu so sánh về lao động của Công ty với các đối thủ cạnh
tranh (năm 2012) 46Bảng 2.6: Một số chỉ Tiêu đánh giá năng lực tài chính của Công ty qua 4 năm 2009-
2012 .47Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu so sánh về năng lực tài chính của Công ty với các đối
thủ cạnh tranh (năm 2012) 48Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu so sánh về máy móc thiết bị của Công ty với các đối thủ
cạnh tranh (năm 2012) 50Bảng 2.9: Cơ cấu giá thành sản phẩm xây lắp của Công ty 52Bảng 2.10: Giá dự thầu các gói thầu Công ty và các đối thủ cạnh tranh tranh tham
dự qua các năm 52Bảng 2.11: Một số chỉ tiêu so sánh giữa Công ty CP xây dựng Tiền Giang với các
đối thủ cạnh tranh thường xuyên trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 57Bảng 2.12: Kiểm định độ tin cậy tổng thể của các biến điều tra 66Bảng 2.13: Bảng phân tích nhân tố đối với các biến điều tra 68Bảng 2.14: Kết quả kiểm định ý kiến đánh giá của chuyên gia về Năng lực nhân sự
và kinh nghiệm thi công của Công ty 71Bảng 2.15: Kết quả kiểm định ý kiến đánh giá của chuyên gia về năng lực thiết bị
kỹ thuật công nghệ của Công ty 72Bảng 2.16: Kết quả kiểm định ý kiến đánh giá của chuyên gia về năng lực tài chính
của Công ty 75Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Bảng 2.18: Phân tích hồi quy tương quan theo bước các nhân tố tác động đến năng
lực cạnh tranh của Công ty 78Bảng 2.19: Ý kiến đề xuất của chuyên gia để nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 79Bảng 2.20: Phân tích ma trận SWOT của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang.82Bảng 3.1: Dự báo nguồn vốn xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai
đoạn 2013-2015 và dự báo thị phần của Công ty cổ phần Xây dựngTiền Giang 86
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11DANH MỤC MÔ HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Mô hình kim cương của M Porter 14Hình 1.2: Năm nguồn lực cạnh tranh 18Hình 2.1: So sánh thị phần của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang với các
đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2009-2012 58Hình 3.1: Dự báo thị phần của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang giai đoạn
2013-2015 87
Mô hình 1.1: Sự khác nhau của quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng và quá trình
sản xuất sản phẩm ở các ngành thông thường khác 25
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang 40
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 và Luật Doanhnghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 ra đời, rất nhiều doanh nghiệp đượcthành lập trong đó có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng Làmcho thị trường xây dựng cạnh tranh ngày càng gay gắt Để đảm bảo sự tồn tại vàphát triển thì nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề bức thiết được các doanhnghiệp quan tâm hàng đầu hiện nay
Mặt khác, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 do ảnh hưởng của suythoái kinh tế, nguồn vốn đầu tư vào ngành xây dựng giảm sút làm cho thị trườngxây dựng ngày càng thu hẹp gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh củacác Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
Công ty Cổ phần Xây dựng Tiền Giang được thành lập từ năm 1977, là mộtdoanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa từ năm 2006 Trãi qua 35 năm hoạt động,Công ty đã gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực thi công xây dựng trên địabàn tỉnh Tiền Giang và một số tỉnh lân cận Đạt được những thành quả đó cũng lànhờ Công ty có được những lợi thế vượt trội hơn các công ty khác về nhân lực, máymóc thiết bị, năng lực quản lý Tuy nhiên, Công ty vẫn còn một số khiếm khuyếtnhư bộ máy quản lý cồng kềnh, lề lối làm việc vẫn còn theo nếp cũ của doanhnghiệp nhà nước, tính năng động không cao Các lý do trên làm cho năng lực cạnhtranh bị giảm sút Từ đó, dẫn đến trong những năm gần đây, Công ty không có đượcnhững hợp đồng thi công xây dựng lớn của Tỉnh
Trước sự lớn mạnh không ngừng của các doanh nghiệp xây dựng trong nước,
sự xuất hiện của những công ty xây dựng lớn của nước ngoài, sự phát triển của khoahọc công nghệ xây dựng vượt trội cho thấy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xâydựng đang diễn ra rất gay gắt Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh có mộtvai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công và phát triểncủa các doanh nghiệp xây dựng nói chung và của Công ty cổ phần Xây dựng TiềnGiang nói riêng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Xuất phát từ yêu cầu thực tế nêu trên, tôi chọn đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang” làm luận văn thạc sĩ của
mình Thông qua đó, mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong quá trình nâng caonăng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng Tiền Giang
2 Câu hỏi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng một số câu hỏi sau đây
để tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề:
- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Xây dựngTiền Giang giai đoạn 2009 - 2012
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phầnXây dựng Tiền Giang
- Những khó khăn nào cần phải giải quyết
- Giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xâydựng Tiền Giang
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng về năng lựccạnh tranh của Công ty, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củaCông ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề liên quan đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần XâyTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công ty CP Xây dựng Tiền Giang với hoạt động sản xuấtkinh doanh trong lĩnh vực xây dựng
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
cổ phần Xây dựng Tiền Giang trong giai đoạn 2009-2012 và đề xuất giải pháp trongthời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
5.1 Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu
- Đối với tài liệu thứ cấp: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,báo cáo tổng kết, bảng cân đối kế toán và các tài liệu khác của Công ty trong cácnăm 2009-2012; số liệu niên giám thống kê, báo cáo ngành xây dựng, thông tintruyền tải trên mạng Internet và các nguồn tài liệu liên quan khác
- Đối với số liệu sơ cấp: Điều tra bằng phiếu điều tra lấy ý kiến Thông tin sốliệu sơ cấp được thu thập làm căn cứ cho việc đánh giá năng lực xây dựng và khả năngcạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng Tiền Giang Do tính chất của đề tài nên sốphiếu điều tra được phát ra trên phạm vi vừa phải, bao gồm các chuyên gia làm việc tạicác đơn vị chủ đầu tư, các phòng chuyên môn của Sở Xây dựng Tiền Giang, Sở Kếhoạch & Đầu tư và Kho Bạc Nhà nước Tiền Giang; các chuyên gia làm việc tại cácCông ty Tư vấn Xây dựng đã có thời gian tiếp xúc nhiều với Công ty cổ phần xây dựngTiền Giang, có thời gian làm việc trong lĩnh vực xây dựng từ 5 năm trở lên Tổng sốphiếu điều tra phát ra cho các đối tượng là 110 phiếu, số thu về 103 phiếu đạt 93,64%;Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15hoàn toàn thích hợp cho phân tích trong nghiên cứu này (phụ lục 2.1).
- Xử lý số liệu: Phần mềm SPSS và EXCEL
5.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề
lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để khảo sát thực trạng hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Phương pháp hạch toán kinh tế được sử dụng để đánh giá thực trạng hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh được sử dụngtrong việc xem xét, đánh giá, phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp qua từng giai đoạn, từ đó rút ra những kết luận khoa học cần thiếtphục vụ cho các luận điểm được triển khai trong luận văn
- Các phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu được sử dụng đối vớikhách hàng, các chủ đầu tư và những nhà quản lý, chuyên gia của các đơn vị tư vấnxây dựng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Từ đó thu thập những ý kiến thực tế, cungcấp cho việc triển khai các luận điểm khoa học cần thiết trong luận văn
- Phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê: dùng để kiểm định sự khác biệt
về giá trị trung bình của các biến nghiên cứu được đưa vào kiểm định dựa trên sốliệu thu thập được hoặc các biến bổ sung đã được tính toán
Tất cả các phương pháp nêu trên đều có tác động tích cực và hiệu quả vàokết quả nghiên cứu
Tất cả các phương pháp trên đều dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vậtbiện chứng và phương pháp tiếp cận lịch sử cụ thể; xem xét đối tượng nghiên cứutheo quan điểm toàn diện, phát triển và hệ thống
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
Hệ thống hoá được các vấn đề lý luận về chiến luợc kinh doanh và năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Thông tin về thực trạng chiến lược sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranhTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16hiện nay của các doanh nghiệp ngành xây dựng của tỉnh Tiền Giang mà điển hình làCông ty Cổ phần xây dựng Tiền Giang.
Đề xuất một số giải pháp chiến lược chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của Công ty Cổ phần xây dựng Tiền Giang cũng như có thể vận dụng cho cácdoanh nghiệp ngành xây dựng có đặc điểm tương tự ở nước ta
7 Hạn chế của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu còn có một số hạn chế như sau: phạm vi nội dung nghiêncứu được giới hạn trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty cổphần Xây dựng Tiền Giang và 3 công ty được chọn là đối thủ cạnh tranh để đánhgiá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang nên chưa có đủđiều kiện để phân tích đầy đủ và rộng hơn Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập, tổnghợp từ số liệu điều tra ý kiến của các chuyên gia trong ngành xây dựng về năng lựccạnh tranh của Công ty và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh với số mẫu điềutra chưa đủ lớn và mang tính định tính nên có thể có những sai lệch nhỏ do ý kiếnchủ quan của người được phỏng vấn
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh hiện nay của Công ty cổ
phần Xây dựng Tiền Giang
Chương 3: Một số giải pháp chiến lược chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty cổ phần Xây dựng Tiền Giang
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau,nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh
Khái niệm về cạnh tranh đã được đề cập đến từ rất lâu Theo các học giảtrường phái tư sản cổ điển: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phảnứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt độngnhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng củamình” Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã đưa ra quan niệm về cạnhtranh như sau: "Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêuthụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [14] Như vậy từ việc nghiên cứu
xã hội tư bản chủ nghĩa, gắn liền với nó là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, C.Mác đã nhìn nhận cạnh tranh dưới góc độ là "cá lớn nuốt cá bé", là lấn át,chèn ép lẫn nhau để tồn tại và thu được lợi nhuận cao nhất
Theo từ điển kinh doanh Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được xem là
“sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranhgiành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phíamình” [25]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Theo từ điển tiếng Việt, cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng vềmình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau trêncùng một địa bàn, một lĩnh vực [24].
Xét ở góc độ quốc gia: Cạnh tranh được hiểu là quá trình đương đầu của cácquốc gia này với các quốc gia khác trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Xét ở góc độ doanh nghiệp: Cạnh tranh là sự ganh đua về lợi ích kinh tế giữacác chủ thể tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sảnxuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất chomình Đối với khách hàng bao giờ cũng muốn mua được hàng hóa có chất lượng tốtgiá rẻ, còn các doanh nghiệp lại muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình Với mục tiêulợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, giành giật kháchhàng về phía mình
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, cạnh tranh còn được xem là môitrường, là động lực của sự phát triển Các nhà kinh tế học đã đưa ra quan niệm: Cạnhtranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhaudựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiệnsản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sản xuất phát triển [1]
Tóm lại, từ các quan niệm khác nhau trên có thể đưa ra một khái niệm tổngquát về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh
tế (các nhà sản xuất, nhà kinh doanh) ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp để đạt đượcmục tiêu kinh tế của mình, thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàngcũng như các điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất nhằm tối đa hoá lợi nhuận [14]
Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ
đó luôn phát huy nội lực, nâng cao chất lượng sản phẩm, thỏa mãn cao nhất nhu cầukhách hàng Mặt khác, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến làm tổn hại đến lợiích kinh tế của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính doanh nghiệp đó
Trang 191.1.2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Dựa vào tiêu thức này, chia cạnh tranh thành 2 loại:
+ Cạnh tranh giữa người bán và người muaĐây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt” Người muamuốn mình mua được sản phẩm mình cần với giá thấp còn người bán muốn bán sảnphẩm đó với giá cao, qua quá trình mặc cả để xác định giá của hàng hóa [27]
+ Cạnh tranh giữa người bán với nhauĐây là cuộc cạnh tranh chủ yếu trên thị trường với tính gay go và khốc liệt,cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thịphần, thu hút khách hàng và kết quả là hàng hóa gia tăng với chất lượng, mẫu mãđẹp hơn nhưng giá cả lại thấp hơn và có lợi cho người mua hơn Những doanhnghiệp dành được thắng lợi trong cạnh tranh sẽ tăng được thị phần, tăng doanh thu(DT) bán hàng, tạo thêm lợi nhuận và có vốn để mở rộng đầu tư sản xuất [27]
1.1.2.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
Theo tiêu thức này, chia cạnh tranh thành 2 loại: cạnh trong nội bộ ngành vàcạnh tranh giữa các ngành
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùngsản xuất một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợinhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động,giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị hàng hóa cá biệt do doanh nghiệp (DN) sảnxuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội Kết quả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sảnxuất phát triển hơn
+ Cạnh tranh giữa các ngành
Là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa các doanhnghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất Trongquá trình này xuất hiện sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khácnhau, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường, chia cạnh tranh thành 2 loại:cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
+ Cạnh tranh hoàn hảo
Là loại cạnh tranh có đặc điểm: có vô số người bán, người mua độc lập vớinhau (mỗi cá nhân đơn lẻ không có tác động tới giá cả trên thị trường); sản phẩmđồng nhất (người mua không cần phân biệt sản phẩm này là của hãng nào); thôngtin đầy đủ (cả người mua và người bán đều hiểu biết hoàn hảo, liên tục về sản phẩm
và trao đổi sản phẩm); không có rào cản quy định (việc gia nhập và rút lui khỏi thịtrường hoàn toàn tự do, động cơ duy nhất là lợi nhuận) [27]
+ Cạnh tranh không hoàn hảo
Bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền tập đoàn
- Cạnh tranh mang tính độc quyền là thị trường trong đó có nhiều hãng bánnhững sản phẩm tương tự (thay thế được cho nhau) nhưng được phân biệt khácnhau Đặc điểm của loại hình cạnh tranh này là sản phẩm đa dạng: các hãng cạnhtranh với nhau bằng việc bán sản phẩm khác nhau về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì,các điều kiện dịch vụ đi kèm, chất lượng và danh tiếng; mỗi hãng là người sản xuấtduy nhất với sản phẩm của mình; hình thức cạnh tranh chủ yếu là thông qua nhãnmác [27]
- Cạnh tranh mang tính độc quyền tập đoàn: khi đó có thị trường chỉ có vàihãng bán sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần túy) hoặc phân biệt (độcquyền tập đoàn phân biệt) Đặc điểm của độc quyền tập đoàn là chỉ có ít hãng cạnhtranh trực tiếp; các hãng phụ thuộc chặt chẽ (mỗi hãng khi ra quyết định phải cânnhắc cẩn thận xem hành động của mình ảnh hưởng như thế nào tới đối thủ cạnhtranh và sẽ phải ứng xử như thế nào); tốc độ phản ứng của thị trường rất nhanh(thay đổi giá) hoặc đòi hỏi thời gian (trường hợp cải tiến sản phẩm); việc gia nhậpvào thị trường của các hãng mới là rất khó khăn (rào chắn cao) vì những trở ngạiđầu tiên như nền kinh tế theo quy mô, đang phải chi nhiều tiền cho bản quyền để tạolập vị thế và danh tiếng trên thị trường [27]
1.1.2.4 Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21Theo tiêu thức này, chia cạnh tranh thành 2 loại: cạnh tranh lành mạnh vàcạnh tranh không lành mạnh.
+ Cạnh tranh không lành mạnh
Là cạnh tranh không bằng chính nội lực, thực sự của doanh nghiệp mà dùngnhững thủ đoạn, mưu mẹo nhằm cạnh tranh một cách không công khai thông qua việctrốn tránh các nghĩa vụ đối với nhà nước và luồn lách qua những kẻ hở của pháp luật
1.1.3 Vai trò của cạnh tranh
1.1.3.1 Vai trò đối với nền kinh tế quốc dân
Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, từ đó thúc đẩy sựphát triển của lực lượng sản xuất Cạnh tranh là điều kiện thúc đẩy tính năng độngcủa các doanh nghiệp Bên cạnh đó, góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thôngqua sự xuất hiện của các sản phẩm mới
1.1.3.2 Vai trò đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp do khảnăng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâuquyết định cho doanh nghiệp phát triển hay đóng cửa sản xuất Cạnh tranh là động lựccho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện phápnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Cạnh tranh quyết định vị trí củadoanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của DN so với đối thủ cạnh tranh
1.1.3.3 Vai trò đối với người tiêu dùng
Nhờ có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hộimua được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giáthành phù hợp với khả năng của họ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22Bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tiêu cực Đó là dẫntới sự phân hóa giàu nghèo, có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh, sựcạnh tranh không bình đẳng, tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, gây thiệt hại cho ngườitiêu dùng Cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến việc khủng hoảng thừa, thấtnghiệp… Đó chính là những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, để khắc phục nócần phải có vai trò điều tiết của Chính phủ.
Để thành công trong nền kinh tế thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh, điều quantrọng là các doanh nghiệp cần phải xây dựng và triển khai ngay cho mình một chiến lượckinh doanh toàn diện, phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh
1.2 Lý luận về năng lực cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) đến nay vẫn chưa được thống nhấtgiữa các nhà kinh tế học Quan niệm khá phổ biến hiện nay là năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanhnghiệp Theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so vớiđối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp
Dưới đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Tác giả Vũ Tự Lâm cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN” [16].
Tác giả Trần Sữu lại cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo
ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” [23].
TS Nguyễn Hữu Thắng định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm
đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững” [29].
Michael E Porter cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra
những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”[31].
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Tóm lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo
ra được lợi thế cạnh tranh, tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnhtranh, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để đạt được lợi ích kinh tếcao, chiếm được thị phần lớn và phát triển bền vững
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thếcủa doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòihỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Năng lực cạnh tranh không phải làmột chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều tiêu chí cấu thành Đây
là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về côngnghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh,marketing một cách riêng biệt mà cần phải đánh giá, so sánh những điểm mạnh vàđiểm yếu bên trong doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng mộtlĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnhtranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với các đối thủ củamình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của kháchhàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh về mình, mởrộng được thị trường tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận cao và bền vững [17]
1.2.2 Mối quan hệ giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Trong xu thế hội nhập và trào lưu tự do hoá thương mại, khái niệm cạnhtranh và năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu Các họcgiả, nhà kinh tế học đều thống nhất phân chia năng lực cạnh tranh có bốn cấp độ, đólà: cấp quốc gia, cấp độ ngành, cấp độ doanh nghiệp và cấp độ sản phẩm
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá được đo bằng thị phần của nótrên thị trường; giá bán hàng hoá so với các đối thủ cạnh tranh hay mức độ đáp ứngthị hiếu, các yêu cầu về chất lượng, dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh [26]
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranhtrong và ngoài nước [26]
- Năng lực cạnh tranh của ngành được xem là năng lực cạnh tranh sản phẩmTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24của một quốc gia được đo bằng tốc độ tăng trưởng, thu hút và sử dụng vốn hiệu quả,
tỷ suất lợi nhuận được sinh ra [26]
- Năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt đượctăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nângcao đời sống của người dân Theo đó năng lực cạnh tranh quốc gia được đo lườngthông qua các chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI), được xây dựng bởi 9nhóm nhân tố: thể chế, hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục tiểu học và y tế, đào tạo vàgiáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường, mức độ sẵn sàng về công nghệ, trình độ kinhdoanh và đổi mới [26]
Giữa bốn cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫnnhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Do đó, khi xem xét,đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì phải đặt nó trong mối tươngquan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh
Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao khi có nhiều ngành, sảnphẩm, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao Năng lực cạnh tranh quốc gia làtiền đề cho ngành và doanh nghiệp phát triển thông qua việc tạo ra những cơ hội,môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp Năng lựccạnh tranh của ngành thúc đẩy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpbằng việc hình thành và liên kết các thể chế trong ngành, liên kết các ngành phụ trợ
để tăng tính hấp dẫn của một ngành kinh doanh Năng lực cạnh tranh của ngành bịhạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh của hàng hoá dongành đó sản xuất ra thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngànhyếu Là một tế bào của nền kinh tế, do đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo
cơ sở cho năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia Một doanh nghiệp sản xuấtnhiều sản phẩm có năng suất, chất lượng cao, được người tiêu dùng tín nhiệm, thịphần tiêu thụ sản phẩm ngày càng tăng và thu được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp
đó được đánh giá là có năng lực cạnh tranh Sức cạnh tranh của các sản phẩm quốcgia, ngành mũi nhọn sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công về kinh tế củamột quốc gia, đảm bảo tính bền vững cho khả năng cạnh tranh quốc gia [32]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 251.2.3 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịutác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Từ mô hình kim cương (hình 1.1) củaMichael E Porter cho thấy sức cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố ngữ cảnh của doanh nghiệp thực chất là chiến lược của doanhnghiệp cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh
- Các điều kiện yếu tố: Là các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp bao gồmnguồn nhân lực, quy mô, vốn, trình độ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường…
“Nguồn: Chiến lược cạnh tranh của Michael E.Porter, Nxb trẻ TP.HCM 2009 [31]”
Hình 1.1 Mô hình kim cương của M Porter
- Các điều kiện nhu cầu: Là nhu cầu của khách hàng, đây là yếu tố có tác độngrất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanhnghiệp có thể tận dụng được lợi thế về quy mô, từ đó cải thiện được hoạt động kinhdoanh của mình Nhu cầu khách hàng có thể gợi mở cho doanh nghiệp phát triển cácloại hình sản phẩm và dịch vụ mới
- Các ngành cung ứng và liên quan: Sự phát triển của doanh nghiệp không thể tách
Ngữ cảnh củadoanh nghiệp
Các điều kiệnnhu cầu
Các ngành cungứng và liên quan
Các điều kiện
yếu tốNgẫu nhiên
Nhà nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26rời sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ như thị trường tài chính, sự phát triểncông nghệ thông tin, tin học, mạng truyền thông
Ngoài 4 yếu tố nêu trên, có 2 yếu tố có tính chất tác động tương đối tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp đó là yếu tố ngẫu nhiên và nhà nước
Tuy nhiên có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
1.2.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
a Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệpĐây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Nóđược thể hiện trên các mặt:
+ Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: Được thể hiện bằng những kiến thứccần thiết để quản lý và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại củadoanh nghiệp Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn màcòn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liênquan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc
tế, thị trường, ngành hàng… đến kiến thức về xã hội, nhân văn [29]
+ Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơcấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của các bộphận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn,nhẹ và hiệu lực cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao,
ra quyết định nhanh chóng, chính xác mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý,nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [29]
+ Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạch địnhchiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ý nghĩa lớntrong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn và
do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [29]
b Trình độ thiết bị, công nghệĐây là một trong những nhân tố quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh củaTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27sản phẩm Nếu một doanh nghiệp được trang bị công nghệ phù hợp và thiết bị sảnxuất tiên tiến sẽ rút ngắn được thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, hạgiá thành, tăng năng suất lao động, tạo ra lợi thế cạnh tranh của sản phẩm.
c Trình độ lao động trong doanh nghiệp:
Trình độ của lực lượng lao động có tác động rất lớn đến chất lượng và độtinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động và chi phí của doanhnghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chấtlượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề dưới nhiều hình thức, đầu tư kinhphí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sángchế, cải tiến… [29]
d Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết phải có vốn Vốnchính là tiền đề cho doanh nghiệp có được lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp mình Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ là sốvốn hiện có mà còn thể hiện ở khả năng khai thác và sử dụng các nguồn lực tàichính trong và ngoài doanh nghiệp nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển củachính doanh nghiệp Tiềm lực tài chính còn thể hiện quy mô của doanh nghiệp Nócho phép doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện sản xuất hàng loạt, tốithiểu hóa chi phí để tận dụng lợi thế theo quy mô Nó cũng cho phép doanh nghiệp đadạng hóa ngành nghề kinh doanh, đa dạng hóa thị trường nhằm tối đa hóa lợi nhuận
và san sẻ rủi ro
e Năng lực Marketing của doanh nghiệp:
Là khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P(Product, Place, Price, Promotion) trong hoạt động Marketing, trình độ nguồn nhânlực Marketing Khả năng Marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêuthụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quan trọngtác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [28]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28f Năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) của doanh nghiệp:
Là yếu tố tổng hợp gồm nhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết
bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, khả năng đổi mới sản phẩm củadoanh nghiệp Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong việc cảitiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất,hợp lý hóa sản phẩm Do vậy năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp làyếu tố rất quan trọng ảnh hưởng mạnh tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nănglực này càng quan trọng trong điều kiện cách mạng công nghệ diễn ra mạnh mẽ trênthế giới
Ngoài ra một số yếu tố khác như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề kinh doanh,quy mô… có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Khác với nhóm các nhân tố bên trong, nhóm các nhân tố bên ngoài chỉ tácđộng đến hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vàdoanh nghiệp không thể can thiệp trực tiếp để có thể làm thay đổi các nhân tố này
Có nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Bao gồm các yếu tố môi trường vĩ mô và các yếu tố môi trường vi mô:
a Các yếu tố môi trường vĩ môĐối với doanh nghiệp nói chung, các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm: môitrường chính trị; chiến lược phát triển kinh tế tài chính của quốc gia; thể chế, chínhsách của nhà nước; cơ sở hạ tầng; dân số; địa lý; sự phát triển khoa học và côngnghệ; mức độ tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế… Tất cả nhữngyếu tố đó có tác động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cácyếu tố thuộc môi trường vĩ mô cụ thể tác động: nhu cầu xây dựng; tình hình pháttriển dân số; chính sách, chủ trương, pháp luật của nhà nước…
b Các yếu tố môi trường vi môCác áp lực của 5 nguồn lực cạnh tranh (hình 1.2): đối thủ cạnh tranh hiện tại,đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sản phẩm thay thế, khách hàng và nhà cung cấp SứcTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29mạnh tổng hợp của 5 yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và mức độ cạnh tranh trong ngành.
“Nguồn: Lợi thế cạnh tranh của Michael E.Porter, Nxb trẻ TP.HCM 2009 [32]”
Hình 1.2: Năm nguồn lực cạnh tranh 1.2.4 Lợi thế cạnh tranh
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, trước hết cần xácđịnh những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó Lợi thế cạnh tranh là những gìlàm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt trên thương trường và chiếm ưu thế sovới đối thủ cạnh tranh Đó là những thế mạnh mà doanh nghiệp có hoặc khai tháctốt hơn đối thủ cạnh tranh Việc tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh đóng một vaitrò rất lớn trong sự thành công của doanh nghiệp
Theo quan điểm truyền thống cổ điển, các nhân tố sản xuất như: đất đai, vốn,lao động là những yếu tố thuộc về tài sản hữu hình được coi là những nhân tố để tạo
ra lợi thế cạnh tranh
Michael E Porter cho rằng: Kiên trì quan điểm cho rằng nếu một công ty chỉ
Những đối thủ cạnh tranh trong ngành
Những đối thủ cạnh tranh trong ngành
Cạnh tranh giữa cácđối thủ hiện hữu
Những đối thủ mới tiềm năng
Năng lựcđàm pháncủa nhàcung cấp
Nguy cơ từ nhữngđối thủ mới
Năng lựcđàm phán củangười mua
Nguy cơ của sản phẩm;
dịch vụ thay thế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đókhông đảm bảo sự thành công lâu dài của công ty Điều quan trọng nhất đối với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào, theo Michael E.Porter, là xây dựng được một lợithế cạnh tranh bền vững Lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là công ty phải liêntục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào
có thể cung cấp được [9]
Một cách chung nhất, có thể chia lợi thế cạnh tranh thành hai nhóm cơ bản:
- Lợi thế về chi phí: Khi tính ưu việt của nó thể hiện trong việc tạo ra sảnphẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh này mang lạicho DN hiệu quả cao hơn và khả năng tốt hơn để chống lại việc giảm giá bánsản phẩm
- Lợi thế về sự khác biệt hóa: Khi tính ưu việt của nó dựa vào sự khác biệt củasản phẩm, làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩmhoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép doanhnghiệp có khả năng buộc thị trường chấp nhận mức giá cao hơn mức giá của đối thủ
1.2.5 Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển, doanh nghiệpphải tạo cho mình khả năng chống chọi lại các thế lực cạnh tranh một cách có hiệuquả Nhất là trong giai đoạn hiện nay, với tiến trình khu vực hóa, toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới và những tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ củacông nghệ thông tin, tính quyết định của năng lực cạnh tranh đối với sự thành cônghay thất bại của doanh nghiệp càng rõ nét Do vậy, các doanh nghiệp phải khôngngừng tìm tòi các biện pháp phù hợp và liên tục đổi mới để nâng cao năng lực cạnhtranh, vươn lên chiếm được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ thì mới có thể pháttriển bền vững được
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn góp phần vàoviệc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Từ đó, tạo ra những sản phẩm, dịch
vụ ngày càng tốt hơn với giá rẻ hơn, làm cho nền kinh tế phát triển, khả năng cạnhtranh của quốc gia được nâng cao và đời sống của nhân dân ngày càng được cảiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31thiện tốt đẹp.
1.3 Những đặc thù trong cạnh tranh của ngành xây dựng
1.3.1 Một số khái niệm về hoạt động xây dựng và doanh nghiệp xây dựng:
Theo Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 và Luật Đấu thầu số61/2005/QH11 ngày 29/11/2005, hoạt động xây dựng và doanh nghiệp hoạt độngxây dựng được quy định như sau:
Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xâydựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựngcông trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựngcông trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác cóliên quan đến xây dựng công trình [22]
Doanh nghiệp xây dựng quan hệ với Chủ đầu tư bằng hợp đồng thi công xâydựng với tư cách là Nhà thầu
Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạtđộng xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng tronghoạt động xây dựng [22]
Theo Luật đấu thầu, Nhà thầu là tổ chức có tư cách hợp lệ khi có đủ các điềukiện sau đây:
1 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư được cấptheo quy định của pháp luật hoặc có quyết định thành lập đối với các tổ chức không
có đăng ký kinh doanh trong trường hợp là nhà thầu trong nước; có đăng ký hoạtđộng do cơ quan có thẩm quyền của nước mà nhà thầu mang quốc tịch cấp trongtrường hợp là nhà thầu nước ngoài;
2 Hạch toán kinh tế độc lập;
3 Không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lànhmạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả;đang trong quá trình giải thể
Nhà thầu xây dựng là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu xây lắp
Xây lắp gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị cácTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn [21]
1.3.2 Đặc điểm sản phẩm xây dựng
1.3.2.1 Những khái niệm có liên quan đến sản phẩm xây dựng
Hoạt động xây dựng tạo ra 2 loại sản phẩm: sản phẩm vật chất xây dựng củanhà thầu thi công xây dựng (nhà cửa, văn phòng, bệnh viện, trường học, đường giaothông, cầu, cảng, đê, kè, …) và dịch vụ xây dựng của nhà thầu tư vấn xây dựng (tưvấn thiết kế, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định,….)
Sản phẩm của doanh nghiệp thi công xây dựng là công trình xây dựng hoànchỉnh được bàn giao cho Chủ đầu tư
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của conngười, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị vớiđất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước vàphần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồmcông trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi,năng lượng và các công trình khác [22]
Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học-công nghệ và tổchức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định Nó là một sản phẩm có tínhchất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia sản xuất sản phẩm chủ yếugồm: các chủ đầu tư; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấnxây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án như thiết bị côngnghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng; các tổ chức dịch vụ ngânhàng và tài chính; các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
1.3.2.2 Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường
Trang 33liệu, giải pháp thi công để dự án đầu tư đảm bảo tính khả thi cao.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp.
Theo đặc điểm này dẫn đến thời gian thi công xây dựng (chu kỳ sản xuất) dài
vì phải thực hiện từng công việc theo trình tự Do đó yêu cầu trong công tác quản lýkinh tế, quản lý tài chính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuậtthi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tư, lao động, tiết kiệm chiphí quản lý để hạ giá thành xây dựng
- Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm
có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác.
Về phương diện sử dụng sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, vùng,địa phương như cao ốc văn phòng, chung cư, các đường giao thông quốc lộ, tỉnh lộ,đường sắt, các cảng biển, cảng hàng không
- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng.
- Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, riêng lẻ.
- Sản phẩm xây dựng có liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trường tự
nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình.
1.3.3 Đặc điểm chủ yếu của sản xuất xây dựng
1.3.3.1 Các đặc điểm của sản xuất xây dựng xuất phát từ tính chất của sản phẩm xây dựng
- Địa điểm sản xuất không cố định.
Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là duy nhất theo từng dự án đầu tư, quy
mô lớn, thời gian sử dụng lâu dài dẫn đến đặc điểm của sản xuất ngành xây dựngđược tiến hành ở những địa điểm khác nhau Sau khi hoàn thành công trình, ngườilao động và trang thiết bị phải di chuyển đến địa điểm xây dựng mới Các phương
án về xây dựng, về kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng luôn phải thay đổi theo từngđịa điểm Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng hay bị gián đoạn trong giai đoạnchuyển tiếp giữa công trình này với công trình tiếp theo Do đó, đòi hỏi trong côngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34tác tổ chức, quản lý thi công xây dựng phải thật sự linh hoạt, mục tiêu là giảm chiphí phát sinh nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình.
- Chu kỳ sản xuất (thời gian thi công xây dựng công trình) thường dài.
Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh được thựchiện qua nhiều công đoạn theo quy trình nhất định nên thời gian sản xuất ra chúngthường kéo dài Mặc khác, ngoài phần ứng hợp đồng, nhà thầu phải bỏ vốn để thựchiện hợp đồng thi công xây dựng Từ đó dẫn đến thiếu hụt vốn hoạt động của doanhnghiệp thi công xây dựng Do đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải chú ý đến công tácnghiệm thu thanh toán khối lượng hoàn thành từng giai đoạn thi công xây dựng đểthu hồi vốn
- Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm xây dựng không có sự giống nhau hoàn toàn, không thể tiến hànhsản xuất hàng loạt mà sản xuất từng công trình theo đơn đặt hàng thông qua hìnhthức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu Việc "mua - bán" sản phẩm được xác địnhtrước khi thi công Vì vậy, người mua và người bán được xác định trước khi có sảnphẩm Do đó, trong công tác quản lý phải tìm mọi giải pháp để chuẩn xác các tiêuchí đánh giá về chất lượng và giá cả công trình Ngoài ra, việc nghiên cứu đặc điểmsản xuất đơn chiếc trong sản xuất xây dựng còn là cơ sở để nghiên cứu tìm các giảipháp tổ chức thi công hợp lý nhằm giảm các chi phí phát sinh trong quá trình xâydựng và rút ngắn thời gian thi công
- Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu
tố tự nhiên, điều kiện làm việc nặng nhọc.
Điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu đều ảnh hưởng đến quá trình xâydựng Ảnh hưởng này thường làm gián đoạn quá trình thi công xây dựng Từ đóảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành từng giai đoạn thi công, đến việc bảo quản vật
tư thiết bị thi công và ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Đặc điểm này đòihỏi các doanh nghiệp xây dựng khi tiến hành thi công xây dựng công trình phảilập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu; phải nghiên cứu các giải pháp
để bảo đảm chế độ, chính sách thích hợp đối với người lao động Đồng thời phảiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35tổ chức tốt hệ thống kho, bãi để bảo quản vật tư, sản phẩm dở dang nhằm tránh
hư hỏng, mất mát tài sản, vật tư, thiết bị do thiên nhiên gây ra trong hoạt độngđầu tư và xây dựng
- Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp.
Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia thực hiệnphần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên mộtmặt bằng thi công chật hẹp Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải
có trình độ phối hợp cao trong sản xuất để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượngcông trình
- Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây dựng đem lại.
Cùng một loại công trình xây dựng nhưng nếu nó được tiến hành xây dựng ởnhững nơi có sẵn nguồn vật liệu xây dựng, nhân công và các cơ sở cho thuê máymóc xây dựng, thì nhà thầu xây dựng trong trường hợp này có nhiều cơ hội thuđược lợi nhuận cao hơn so với các địa điểm xây dựng khác
- Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giải
quyết vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhập lòng đất.Việc áp dụng tự động hóa quá trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ lao động thủ côngchiếm cao
1.3.3.2 So sánh quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng với quá trình sản xuất sản phẩm ở các ngành công nghiệp thông thường khác
Quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng do chủ đầu tư đứng ra làm chủ kinhdoanh nhưng phải đi thuê các tổ chức khác thực hiện như tổ chức tư vấn, tổ chứcxây lắp, tổ chức cung ứng thiết bị công nghệ; còn quá trình sản xuất sản phẩm ở cácngành công nghiệp thông thường khác thường chỉ do một tổ chức kinh doanh thựchiện Sự khác nhau này có thể minh họa ở mô hình 1.1 về sự khác nhau của quátrình sản xuất sản phẩm đầu tư xây dựng và quá trình sản xuất sản phẩm ở cácngành thông thường khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Mô hình 1.1: Sự khác nhau của quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng và quá trình sản xuất sản phẩm ở các ngành thông thường khác 1.3.3.3 Những đặc điểm của sản xuất xây dựng xuất phát từ các điều kiện tự nhiên và kinh tế của Việt Nam
- Về điều kiện tự nhiên: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong
điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện địa chất công trình và địa chất thủy vănphức tạp, đất nước dài, hẹp và còn nhiều nơi chưa được khai phá, có một số nguồnvật liệu xây dựng phong phú Do đó, các giải pháp xây dựng ở Việt Nam chịu ảnhhưởng mạnh của các nhân tố này
Quá trình sản xuất sản phẩm ở các ngành công nghiệp thông
thường khác
Chủ đầu tư tiến hành nghiệm thu
công trình đã xây dựng xong và
đưa vào sử dụng Nhà thầu sửa
chữa sản phẩm trong thời gian bảo
trường và chiến lược kinh doanh
Quá trình sản xuất sản phẩm xây dựng
Chủ đầu tư khởi xướng lập dự án
đầu tư xây dựng trên cơ sở điều tra
nhu cầu thị trường
Các doanh nghiệp tư vấn được chủ
đầu tư thuê lập dự án, thiết kế công
trình duy nhất cho dự án
Các doanh nghiệp xây dựng và các
doanh nghiệp cung ứng thiết bị
công nghệ được chủ đầu tư thuê
thực hiện xây dựng và cung ứng
thiết bị cho dự án
Doanh nghiệp tổ chứcsản xuất sản phẩm
Doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Doanh nghiệp thông thường thựchiện cả việc sửa chữa sản phẩmtrong thời gian bảo hành
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37- Về điều kiện kinh tế: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam được tiến hành trong
điều kiện của một nền kinh tế đang phát triển và còn nhiều mặt yếu kém so với cácnước trên thế giới Trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay, ngành xây dựng củaViệt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng có nhiều nguy cơ vàthách thức
1.3.4 Những đặc điểm của thị trường xây dựng
Nền kinh tế thị trường biểu hiện trong ngành xây dựng phụ thuộc vào các nhân tố:
- Bản chất và quy luật vốn có của kinh tế thị trường;
- Các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất xây dựng;
Các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất xây dựng làm cho nền kinh tế thịtrường trong xây dựng có nhiều đặc điểm khác biệt so với các ngành khác ở một sốđiểm sau đây:
1.3.4.1 Đặc điểm về quan hệ cung cầu trong thị trường xây dựng
- Trong hoạt động thi công xây dựng, doanh nghiệp xây dựng đóng vai trò vừa
là bên cung vừa là bên cầu Vai trò bên cung trong quan hệ với Chủ đầu tư (bêncầu); vai trò bên cầu khi quan hệ với các nhà cung cấp vật liệu xây dựng, máy mócthiết bị (bên cung);
- Cung cầu trong xây dựng xãy ra tương đối gián đoạn hơn so với các ngànhkhác vì nhu cầu đầu tư xây dựng (ĐTXD) công trình không thể xãy ra thườngxuyên nếu nhìn nhận theo từng chủ đầu tư riêng lẻ Điều này làm cho các doanhnghiệp xây dựng khó kiếm được việc làm thường xuyên và phải mở rộng địa bànhoạt động;
- Cung cầu trong xây dựng phụ thuộc vào chu kỳ suy thoái hay hưng thịnh củanền kinh tế Ở thời kỳ hưng thịnh thì nhu cầu đầu tư xây dựng của xã hội rất cao,còn thời kỳ suy thoái thì nhu cầu này thường rất thấp
1.3.4.2 Đặc điểm về hình thức cạnh tranh
Theo Luật Đấu thầu, có 5 hình thức lựa chọn nhà thầu: Đấu thầu rộng rãi, đấuthầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp và chào hàng cạnh tranh trong muasắm hàng hóa Riêng đối với lĩnh vực xây lắp có 3 hình thức: Đấu thầu rộng rãi, đấuTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38thầu hạn chế, chỉ định thầu.
1.3.4.3 Đặc điểm về quá trình tiêu thụ sản phẩm
Quá trình tiêu thụ sản phẩm xây dựng có một số đặc điểm sau:
- Xãy ra trước khi sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) ra đời, tức làđược bắt đầu khi chủ đầu tư công bố đấu thầu xây dựng
- Quá trình xây dựng xãy ra kéo dài kể từ khi chủ đầu tư công bố đầu thầu, trãiqua các quá trình thanh toán khối lượng hoàn thành đến khi nghiệm thu bàn giaođưa vào sử dụng và quyết toán công trình
- Sản phẩm xây dựng không thể chế tạo sẵn hàng loạt để bán, trừ trường hợpNhà thầu xây dựng là các nhà kinh doanh bất động sản và họ có thể xây sẵn một sốcăn hộ để bán hay cho thuê
- Sản phẩm xây dựng không có khâu lưu kho chờ bán
- Quá trình mua bán xãy ra trực tiếp giữa người mua và người bán thông quađấu thầu không qua đại lý bán hàng, trừ trường hợp có sự tham gia của các nhânviên môi giới bất động sản cho cho các nhà kinh doanh bất động sản
- Số người tham gia mua bán lớn, bao gồm chủ đầu tư có sự tham gia của các
tổ chức tư vấn một bên và Nhà thầu xây dựng có sự huy động nhân lực, thiết bị đểthực hiện hợp đồng
- Người mua (chủ đầu tư) phải tạm ứng tiền cho người bán (Nhà thầu xâydựng) trong quá trình thực hiện hợp đồng thi công xây dựng (trừ trường hợp Nhàthầu xây dựng muốn được thắng thầu đã tự nguyện tạm ứng vốn trước)
- Người mua (chủ đầu tư) đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn ngườibán (tổ chức xây dựng) và trong việc định giá bán
1.3.4.4 Đặc điểm về giá cả
- Giá cả sản phẩm xây dựng có tính cá biệt cao vì nó phụ thuộc vào điều kiệnđịa phương có công trình xây dựng, vào yêu cầu kỹ thuật, vào phương án tổ chức thicông xây dựng của từng công trình, vào thời điểm và thời gian xây dựng cũng nhưvào ý muốn của Chủ đầu tư
- Người ta không thể định giá sẵn cho một sản phẩm cuối cùng (công trình xâyTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39dựng), mà chỉ có thể định sẵn phương pháp tính toán giá, cũng như định sẵn một sốđịnh mức và đơn giá để tính nên giá của toàn công trình.
- Quá trình hình thành giá công trình xây dựng kéo dài kể từ thời điểm đấuthầu cho đến khi kết thúc xây dựng công trình và thanh quyết toán, vì trong quátrình xây dựng rất có thể phát sinh các chi phí mới ngoài dự kiến của chủ đầu tư
- Trong xây dựng có nhiều loại giá như: giá gói thầu, giá dự thầu, giá hợpđồng, giá thanh quyết toán công trình
- Giá xây dựng công trình hình thành chủ yếu thông qua đấu thầu và đàm phán
- Bên mua (tức chủ đầu tư) giữ vai trò quyết định đối với mức giá công trìnhthông qua giai đoạn lựa chọn nhà thầu
- Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả các công trìnhxây dựng thông qua các định mức, đơn giá, phương pháp tính toán chi phí xây dựng
và các tiêu chuẩn xây
1.3.4.5 Đặc điểm về marketing trong xây dựng
Marketing trong xây dựng có nhiều đặc điểm khác biệt so với các ngành khác như:
- Chính sách sản phẩm: Kiểu dáng và qui mô công trình xây dựng không phải
do Nhà thầu xây dựng thiết kế mà do chủ đầu tư thuê công ty tư vấn thực hiện, trừtrường hợp áp dụng hình thức tổng thầu "chìa khóa trao tay" Nhà thầu chỉ được thicông xây dựng theo đúng thiết kế được duyệt Do đó, sản phẩm đi đấu thầu của nhàthầu chỉ là giải pháp thi công xây dựng và phương án tổ chức xây dựng
- Chính sách giá cả: Chịu ảnh hưởng cả các đặc điểm của giá cả trong xây
dựng đã trình bày trên
- Chính sách giao tiếp và quảng cáo trong xây dựng diễn ra chủ yếu trong giai
đoạn trước khi ký hợp đồng, quảng cáo trực tiếp và cá biệt là chủ yếu;
- Chính sách tiêu thụ trong xây dựng chịu ảnh hưởng của quá trình tiêu thụ sảnphẩm xây dựng như đã trình bày trên Ở đây, các kênh tiêu thụ chính là các chủ đầu
tư có công trình cần xây dựng, không có tổ chức đại lý bán hàng, các kênh tiêu thụthực sự hoạt động khi quá trình đấu thầu xây dựng bắt đầu
1.3.5 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Xuất phát từ đặc điểm và các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp trongTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40ngành xây lắp, để có hợp đồng phải trúng thầu (trúng chỉ định thầu hoặc đấu thầu)tức là chứng minh được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cao hơn các đối thủcạnh tranh Các yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpthi công xây dựng như sau:
1.3.5.1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của mộtdoanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào Trong nội dung phân tích hiệu quả xuất kinhdoanh của doanh nghiệp cần phải phân tích rất nhiều chỉ tiêu Tuy nhiên, do đặc thùcủa ngành xây dựng là phải đấu thầu mới có hợp đồng thi công xây dựng, trong luậnvăn này tác giả chỉ phân tích một số chỉ tiêu chính liên quan đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp xây dựng trong quá trình đấu thầu như sau:
- Lợi nhuận dương;
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn lớn hơn 1
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
- Giá trị ròng lớn hơn 1
Giá trị ròng = Tổng tài sản - tổng nợ phải trả
Cả ba tiêu chí trên phải ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp xây dựng Đồng thời, phản ánh khả năng thanh toán nợ và đãm bảotrả nợ của doanh nghiệp
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng thêm một số tiêu chí khác để làm nổi bật nănglực tài chính của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh:
- Kỳ thu tiền bình quân phản ánh khả năng thu hồi công nợ của doanh nghiệp:
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu
x 360Doanh thu thuần
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (%) =
Lợi nhuận sau thuế
x 100Tổng vốn tự có
Trường Đại học Kinh tế Huế