1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình

148 331 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế chorằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khíacạnh sau đây: nội dung kinh tế của t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Sau 19 năm (1990-2009) thực hiện cải cách chính sách và quản lý thuế,ngành thuế đã có những đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội, gópphần thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước đã đề

ra Hệ thống chính sách thuế tương đối hoàn chỉnh, đã bao quát cơ bản các nguồnthu hiện có và phù hợp với nền kinh tế đang chuyển đổi theo cơ chế thị trường.Công tác quản lý thu thuế từng bước được chuyên môn hoá, phát huy tốt vai trò,trách nhiệm của cá nhân và tập thể trong quản lý thu nộp thuế, bảo đảm tính côngkhai, dân chủ

Cùng với ngành thuế cả nước, Chi cục thuế huyện Quảng Trạch, tỉnh QuảngBình được thành lập năm 1990 có nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn Tổ chứcquản lý thu thuế từng bước được cải cách, hiện đại hoá; trình độ chuyên môn nghiệp

vụ của cán bộ công chức (CBCC) thuế ngày càng được nâng lên Hiện nay, với gần

200 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đang hoạt động sản xuất kinh doanh(SXKD), là một nhân tố quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho Ngân sáchnhà nước (NSNN) ở địa phương

Tuy nhiên quản lý thuế khu vực DNVVN hiện tại vẫn còn nhiều bất cập cả

về qui trình quản lý, ứng dụng công nghệ tin học, bố trí nguồn nhân lực, trình độcán bộ quản lý của cơ quan thuế, chưa tận dụng được kinh nghiệm quản lý thu thuế củacác nước tiên tiến Số lượng đối tượng nộp thuế (ĐTNT) nói chung và số DNVVN nóiriêng tăng lên nhanh chóng; tính tuân thủ, tự nguyện của ĐTNT chưa cao, tình trạngtrốn thuế, nợ đọng thuế còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều sắc thuế; tình hình nộp thuếchưa phản ảnh đúng quy mô hoạt động SXKD của doanh nghiệp (DN)

Mặt khác, trước xu thế hội nhập kinh tế, theo đó hội nhập quốc tế về thuếngày càng rộng và sâu sắc nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại Ngoàiviệc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thuế phảiđược cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm tạođiều kiện thuận lợi để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 2

khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi đồngnhất về thuế để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Vì vậy hoàn thiện quản lý thu thuế đối với DNVVN được coi là những nộidung trọng tâm của cải cách hệ thống thuế, góp phần tăng thu cho ngân sách Đồngthời đáp ứng được yêu cầu về công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế Xuất phát từnhững vấn đề nêu trên chúng tôi chọn đề tài:"Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình" làm luận văn thạc sỹ kinh tế của mình.

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuthuế đối với các DNVVN, tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch Trên cơ sở đónhằm đề xuất các giải pháp giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ và Chi cục thuếQuảng Trạch nâng cao hiệu quả hoạt động của mình

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn củaviệc quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyệnQuảng Trạch đặt trong tổng thể vấn đề quản lý thu thuế, phí và lệ phí trong toànngành thuế

Trang 3

- Không gian: Chi cục thuế huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế đối với các doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch từ năm 2006 - 2008, đề xuấtgiải pháp quản lý thu thuế đối với DNVVN đến năm 2012

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống thực trạng công tác quản lýthuế đối với các DNVVN tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch, luận văn sử dụngcác phương pháp sau:

4.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử; vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quá trìnhđổi mới kinh tế để phân tích thực trạng quản lý và thực hiện chính sách thuế ở địabàn nghiên cứu Từ đó rút ra một số nhận xét và kiến nghị đề xuất các giải pháp đểgóp phần hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các DNVVN tại Chi cục thuếhuyện Quảng Trạch

Phương pháp tiếp cận: xem xét, nghiên cứu dưới góc độ các quy trình nghiệp

vụ, các văn bản hướng dẫn thực hiện của Nhà nước, trong đó tập trung vào các quytrình quản lý thuế hiện hành như quy trình quản lý DN, quy trình kiểm tra thuế đểphân tích, đánh giá nhằm tìm ra những bất cập, mâu thuẫn hoặc những tồn tại đểnhằm đề xuất một số biện pháp có tính khả thi trong tương lai

4.2 Phương pháp thu thập số liệu

4.2.1 Số liệu thứ cấp

Được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của Chi cục thuế huyện QuảngTrạch; Niên giám thống kê huyện Quảng Trạch; các báo cáo tài liệu của các banngành huyện Quảng Trạch; thông tin đã được công bố trên các giáo trình, báo, tạpchí, công trình và đề tài khoa học trong và ngoài nước

4.2.2 Số liệu sơ cấp

Được tiến hành thu thập trên cơ sở các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh trên địa bàn và số lượng cán bộ công chức (CBCC) quản lý thu thuế thuộcChi cục thuế huyện Quảng Trạch Cụ thể chọn 92 DNVVN trong tổng số 197

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 4

DNVVN đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Quảng Trạch và

56 cán bộ công chức thuế trong tổng số 79 cán bộ công chức của Chi cục thuếhuyện Quảng Trạch để tiến hành điều tra

Phương pháp điều tra bằng cách phát phiếu khảo sát đã được thiết kế sẳn,nhằm lấy ý kiến của các DNVVN và của CBCC thuế về sự phù hợp của nội dungchính sách thuế; thủ tục hành chính thuế

- Phương pháp kiểm định sự bằng nhau của hai trị trung bình để so sánh có

sự khác biệt ý kiến đánh giá của hai nhóm đối tượng được điều tra về nội dungchính sách thuế và công tác quản lý thu thuế

- Phương pháp đồ thị và biểu đồ để phân tích đánh giá một cách khách quan,khoa học về các nội dung nghiên cứu

4.5 Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo

Phương pháp chuyên gia: Để làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng như đánh giáthực trạng quản lý thu thuế đối với DNVVN hiện nay trên địa bàn huyện QuảngTrạch, tác giả thu thập ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Chi cục thuế huyện QuảngTrạch, giám đốc và kế toán một số doanh nghiệp để đưa ra các kết luận một cách xácđáng, có căn cứ khoa học nhằm đề xuất giải pháp có sức thuyết phục cao, mang tínhkhả thi phù hợp với thực tiễn địa bàn nghiên cứu

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ THUẾ

1.1.1 Khái niệm

Trên thực tế thuế đã tồn tại từ khi các Nhà nước hình thành, song các lý luận

về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm

về thuế [40] Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận

từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chungnhất của phạm trù này

Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Đểđạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những ngườicông dân của nhà nước, đó là thuế” [2]

C.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước”; Ăng ghen cũng

đã viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân chonhà nước, đó là thuế ” [41]

Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độclập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuếkhoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” [2]

Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trongcuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng:

“Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đượccủa các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá vàdịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” [2]

Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn

“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế

là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 6

dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó

họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đókhông phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” [3]

Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế chorằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khíacạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữaNhà nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệnày được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyểngiao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khíacạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theomức thu và thời hạn nhất định

Từ việc phân tích những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta nêutrên, có thể nhận thức chung về thuế như sau:

Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu công cộng Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân.

1.1.2 Bản chất, chức năng của thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 7

Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhà nướcthu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để chi phát triển cơ sở hạtầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốcphòng… Hiến pháp nước ta năm 1992, Điều 80 đã ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụđóng thuế và lao động công ích theo qui định pháp luật” [28] Tuy nhiên, Nhà nướccần phải thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế

thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công tác quản lý thuế luôn gặp những khó khăn nhất định.

1.1.2.2 Chức năng của thuế

Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn

có của nó Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác độngvốn có của nó, là phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạmtrù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốtthời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng

Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nóbiểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên, thuế cũng

có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn

từ tổng thể các mối quan hệ tài chính

Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng củathuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấythuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhànước và chức năng điều chỉnh [45]

1.1.3 Hệ thống thuế, phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một sắc thuế

1.1.3.1 Khái niệm hệ thống thuế

Suy cho cùng, cơ sở nộp thuế đều bắt nguồn từ thu nhập, song do yêu cầucủa quá trình tái sản xuất, thu nhập vận động qua một chu trình kinh tế và thay đổihình thái biểu hiện của nó

Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập luân chuyển trong một vòng khép kín:người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua hàng hoá, dịch vụ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 8

của các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốnđầu tư, tiền thuê đất đai, tiền công và những thành phần này chi tiêu dưới nhiềudạng để mua hàng hoá, dịch vụ.

Chính sự biến đổi đa dạng này đã tạo ra khả năng đánh thuế của Chính phủtrên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín Trong dòng luân chuyển đó nảy sinhcác cơ sở khác nhau, do đó xuất hiện các hình thức thuế khác nhau

Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.

1.1.3.2 Phân loại thuế

Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luậtthuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệthống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khácnhau, gọi là phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuếthành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mụctiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dungcác Luật thuế có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thôngthường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:

- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhànước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu

+ Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phầnthu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đốivới người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗngười nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một

bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất,kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế Ởnước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

+ Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập củaĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 9

các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theoquy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp độngviên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm:thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất,thuế sử dụng đất nông nghiệp

Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế

- Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại này thuế được chiathành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị giatăng, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặcbiệt Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cánhân Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc sửdụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốncủa Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí

Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa pháthuy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiệnmột cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế [17]

1.1.3.3 Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế

Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giaothu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế Mỗi sắcthuế đều phải được quy định bằng một văn bản pháp luật và được gọi là một luậtthuế Trong một luật thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:

- Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế (Đối tượng nộp thuế):

Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế chỉ rõ khoản thuế đó do chủ thểnào phải nộp Luật thuế gọi chủ thể đó là đối tượng nộp thuế (ĐTNT)

Đối tượng nộp thuế theo luật định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệmphải nộp thuế cho Nhà nước theo luật pháp quy định Đối tượng nộp thuế khôngnhất thiết là đối tượng chịu thuế Trong nhiều trường hợp đối tượng nộp thuế cũngchính là đối tượng chịu thuế, khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khảnăng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 10

- Khách thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế (Đối tượng chịu thuế):

Khách thể trong luật thuế chỉ rõ đối tượng được đưa ra làm cơ sở tính thuế hayđối tượng chịu thuế Trong luật thuế, người ta gọi khách thể là đối tượng chịu thuế

Do cơ sở thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, do đó đối tượng chịu thuếcũng có thể là thu nhập, giá trị hàng hoá hoặc giá trị của tài sản Mỗi một luật thuế

có một đối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế có thể được tính trên một đơn

vị, trên một đơn vị vật lý hoặc một đơn vị giá trị

- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế (Thuế suất):

Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đốitượng chịu thuế Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp là thuếsuất hay định suất

Trong một luật thuế, thuế suất hay định suất là linh hồn của sắc thuế, mangtrong mình nó gánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính

và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng làmối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất trongmột luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc giavừa phải chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệgiữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế

Thuế suất (t) được xác định dựa trên hai yếu tố: tổng số thuế cần huy động cho Nhà nước (T) và cơ sở thuế (C):

t = T/C

Tổng số thuế cần huy động phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trongtừng thời kỳ, mức thu nhập và mức tích luỹ đạt được trong nền kinh tế quốc dân

Cơ sở thuế là một bộ phận của đối tượng tính thuế được xác định làm căn

cứ tính thuế Cơ sở thuế thường thấp hơn đối tượng tính thuế, bởi vì tồn tại mứctối thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế Một cơ sở thuế sau khi tính và nộpmột loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác [41]

1.1.4 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà nước,đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được coi trọng và

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 11

phát huy Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xãhội, sự can thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống Pháp luật, đặc biệt làpháp luật tài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò của thuế trở nên cực kỳ quantrọng Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếucủa Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội [45].

1.1.4.1 Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồnthu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoảnviện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sáchquốc gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia Sau 20 năm đổimới tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tốc độ tăng trưởngkinh tế năm sau tăng hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2004-2008 là 7,8%

Biểu đồ 1.1 Kết quả thu ngân sách của nước ta giai đoạn 2006 - 2008

(Nguồn: Tổng cục thuế [41])Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị trường được mở rộng, kim ngạchxuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển Quan hệ kinh tếđối ngoại từng bước được mở rộng và phát triển hội nhập Trong bối cảnh đó thu

0 100.000 200.000 300.000 400.000 500.000

Trang 12

Ngân sách hàng năm tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước đáp ứng được nhucầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và cảviệc chi trả nợ vay Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thuNgân sách Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng Trong

đó mức động viên thuế và phí chiếm vai trò quan trọng

Ngân sách Nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, Phí - lệphí, viện trợ nước ngoài, tín dụng nhưng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thuchủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia ở các nước phát triển, thuếchiếm trên dưới 90% tổng thu ngân sách Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổngthu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng Trong năm 1990 tỷ trọng thuế vàphí trong Tổng thu ngân sách nhà nước là 76,8%, năm 2008 tăng lên 90% và tỷ lệđiều tiết từ GDP hàng năm khoảng 24-25%; tốc độ thu ngân sách qua các năm đượcthể hiện theo biểu đồ trên về kết quả thu ngân sách của nước ta [8]

Với cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Hệ thống thuế được ápdụng thống nhất, đồng bộ giữa các thành phần kinh tế đã bao quát toàn bộ mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh

Các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng của xã hội thuế đã hoàn thành đượcnhiệm vụ tập trung tích lũy ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của Nhà nước vềcác mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển

1.1.4.2 Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Thuế là một công cụ sắc bén của Nhà nước để quản lý kinh tế - xã hội vớichức năng chủ yếu là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng khuyến khích sản xuất phát triển theo địnhhướng của Nhà nước

Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phùhợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ Do vậy, bằng các sắc thuếkhác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Nhà nước điềuchỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau

Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ cấuĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 13

kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung ương và Địa phương đápứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đây là điềukiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh tế.

Thông qua Pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan hệgiữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ miễn giảm,phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng thời khuyến khích,nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho xã hội, khuyến khíchnhững thành phần kinh tế cần thiết, các danh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệuquả Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phảihạn chế kể từ sản xuất đến tiêu dùng xã hội theo định hướng của chiến lược pháttriển kinh tế của Đảng, Nhà nước có lợi cho quốc kế dân sinh [21]

"Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường và các doanh nghiệp phục vụ các lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội Mặt khác để chống độc quyền cần thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế".

Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệmôi trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiếtkiệm có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước

Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, Thuếkhông những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa, từ đó thúcđẩy sản xuất phát triển đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt cho quan hệ hợp tác quốc

tế trong khu vực và thế giới Mở rộng, phát triển đầu tư hợp tác quốc tế thông quachính sách khuyến khích đầu tư và xuất nhập khẩu

1.1.4.3 Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế và góp phần thực hiện công bằng xã hội

Hệ thống chính sách thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phầnkinh tế, mọi ngành nghề và các tầng lớp dân cư Các đối tượng nộp thuế bình đẳng về

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 14

quyền và nghĩa vụ đối với việc nộp thuế, không một ai có những đặc quyền đặc lợiriêng Chính sách thuế không phân biệt, ưu tiên hay hạn chế giữa các thành phần kinh

tế Mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu sự điều chỉnh giống nhau của Pháp luật thuế

Thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân bằng các sắc thuế vàcác mức thuế suất khác nhau đối với từng lĩnh vực, từng mức thu nhập Nhà nướcthực hiện việc điều tiềt thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các cá nhân trong xãhội Bằng cách đó, Nhà nước thu hẹp, rút ngắn khoảng cách chênh lệch quá mức vềthu nhập giữa các bộ phận trong xã hội Người có thu nhập cao phải nộp thuế cao,người có thu nhập thấp nộp thuế thu nhập ít

Nhưng đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, các cá nhân sản xuất kinhdoanh giỏi, có hiệu quả bằng cách thừa nhận các khoản thu nhập hợp pháp của họ

Trong điều kiện kinh tế chưa phát triển, ý thức Pháp luật, tính tự giác của sốlớn các đối tượng nộp thuế chưa cao Để đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ nộpthuế thì một việc hết sức quan trọng là phải tăng cường công tác quản lý thu thuế.Thông qua việc kiểm tra, thanh tra việc chấp hành Pháp luật thuế phát hiện và xử lýnghiêm mọi hành vi vi phạm Pháp luật thuế Từ yêu cầu đó trong mọi luật thuế đềuquy định rõ các biện pháp xử phạt, cưỡng chế Nhờ đó thuế đã góp phần tích cựctrong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Gópphần vào việc thực hiện công bằng xã hội nói chung [47]

1.2 QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ thìdoanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam được hiểu là cơ sở sản xuất, kinh doanh độclập, đã được đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký khôngquá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người [20]

“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các đơn vị sản xuất, kinh doanh độc lập có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 15

1.2.1.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2006 Việt Nam có khoảng 210.000doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp Trong số này khoảng 96% là cácDNVVN với số lượng là 200.000 Khu vực DNVVN đóng vai trò quan trọng trongphát triển bền vững của các nền kinh tế nói chung và của Việt Nam nói riêng Đặcbiệt là đối với Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá.Vai trò của các DNVVN thể hiện qua các mặt sau đây:

- Tạo ra việc làm mới, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp

- Huy động các nguồn vốn và sức mạnh của xã hội trong sản xuất, kinh doanh

- Đóng góp quan trọng vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá và hiện đại hoá

- Tạo thêm thu nhập cho phần lớn người lao động

- Đóng góp vào phát triển đồng đều giữa các vùng khác nhau

- Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

- Đóng góp cho ngân sách Nhà nước

- Đào tạo các cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp lớn trong tương lai và tạonền tảng kinh tế ban đầu cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn

- Cùng với các doanh nghiệp lớn tạo ra các mối liên kết hiệu quả trong tổng thểcác chuỗi giá trị và chuỗi giá trị toàn cầu [20]

1.2.1.3 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chính sách đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra đã thu được nhữngthành công rất to lớn, khẳng định tính đúng đắn trong việc đổi mới công tác lãnhđạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyềnđòi hỏi phải có một Nhà nước được tổ chức khoa học có đủ năng lực quản lý mọimặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhất là năng lực tổ chức quản lý kinh tế, mà mộttrong những công cụ hữu hiệu và sắc bén đó là thuế Hiệu quả quản lý Nhà nước vềthu ngân sách thể hiện qua việc tập trung nguồn lực vật chất, quản lý điều tiết vĩ mônền kinh tế giúp cho Nhà nước quản lý và kiểm soát có hiệu quả các hoạt động kinh

tế và xã hội, thực hiện được các mục tiêu đã đề ra

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 16

Thực tiễn cho thấy các DN nói chung là đối tượng thực hiện tương đối tốtnghĩa vụ với NSNN như thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán, đăng ký kê khai,chấp hành khá tốt pháp luật về thuế Bên cạnh mặt tích cực đó vẫn còn nhiều tồn tạicần phải khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế và quản lý Nhànước đối với các doanh nghiệp.

Các DN đều là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Vìvậy họ đều tính toán khi nộp thuế bởi nó liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp.Nếu không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít thì tỷ lệ để lại được dùng vào mở rộngsản xuất kinh doanh, lợi nhuận để lại nhiều hơn Cho nên còn một số doanh nghiệptìm cách nộp thuế càng ít càng tốt Vì vậy những vi phạm về thuế vẫn cứ tiếp diễndưới các hình thức như: tìm kẻ hở, lách luật để tránh thuế, tăng chi phí để giảm thunhập chịu thuế thậm chí có một số doanh nghiệp còn trốn thuế như hạch toán sai chiphí, doanh thu Do đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý thuế của

cơ quan thuế [41]

Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn còn một số vi phạm về việc đăng ký, kê khai,quyết toán thuế, dây dưa nộp thuế, nợ đọng thuế gây khó khăn phức tạp trong quátrình quản lý thu thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế

Những tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: cơ chế chính sáchthuế vẫn còn nhiều hạn chế chưa quy định chi tiết, cụ thể; giữa các Luật có khikhông đồng bộ gây khó khăn cho công tác thực hiện Công tác quản lý thuế vẫn cònnhiều mặt yếu kém, đội ngũ cán bộ thuế vẫn có những cán bộ chưa thực sự nắmchắc chuyên môn nghiệp vụ còn thụ động, thiếu kiên quyết, lúng túng, chưa cóbiện pháp cứng rắn trong quá trình xử lý các trường hợp vi phạm Mặt khác, nhiềudoanh nghiệp chưa thực sự am hiểu chính sách thuế, thậm chí còn một số doanhnghiệp không tuân thủ các quy định về pháp luật thuế để trốn thuế, gian lận thuế

Qua sự phân tích trên cho thấy việc tăng cường công tác quản lý thuế đối vớicác DNVVN là rất cần thiết đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ mới có thểnâng cao hiệu quả của công tác này, góp phần chống thất thu, tăng thu ngân sách,hạn chế sự vi phạm của các doanh nghiệp, đồng thời giúp Nhà nước quản lý và điều

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 17

tiết các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung đúng định hướng xã hộichủ nghĩa.

1.2.1.4 Các sắc thuế thu vào doanh nghiệp

Thuế đối với doanh nghiệp là thuế đánh vào các pháp nhân kinh doanh baogồm: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty cổ phần (CTCP), công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (TNHH), công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên, công ty hợp danh, hợp tác xã (HTX)

* Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Giá trị gia tăng = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra – Giá trị hàng hoá,dịch vụ mua vào tương ứng

- Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho SXKD và tiêu dùng

- Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hànghoá, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế GTGT

- Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuếGTGT được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật thuế GTGT áp dụng cho từng loạihàng hoá, dịch vụ

Ví dụ: Giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuếGTGT, đối với hàng hoá nhập khẩu giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng vớithuế nhập khẩu v.v

Luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay quy định các mức thuế suất là: 0%,5%, 10% áp dụng cho các nhóm hàng hoá dịch vụ

- Phương pháp tính thuế GTGT: Gồm có 02 phương pháp tính thuế; phươngpháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

+ Phương pháp khấu trừ thuế:

Số thuế phải nộp = thuế GTGT đầu ra - thuế GTGT đầu vào

Trong đó: Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế hàng hoá dịch vụ bán ranhân (x) thuế suất; Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT đã thanh toán được

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 18

ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hànghoá nhập khẩu.

+ Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT: Theo phương pháp này, sốthuế GTGT mà đối tượng nộp thuế phải nộp = GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân(x) với thuế suất [7]

* Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận củacác doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh

Căn cứ theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì Thuế TNDNđược quy định như sau:

- Đối tượng nộp thuế TNDN: Là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanhhàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:

+ Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh

nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luậtđầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán,Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức:Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanhnghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên tronghợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí,

xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung

+ Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh

hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;

+ Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;

+ Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi

là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam

+ Doanh nghiệp nước ngoài, tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt

Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tạiViệt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 19

Thu nhập

chịu thuế

Các khoản thunhập khác

Thu nhập

tính thuế

Thu nhậpchịu thuế

Thu nhập đượcmiễn thuế

Các khoản lỗđược kết chuyểntheo quy định

- Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập tính thuế và thuế suất:

Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuếtrừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theoquy định

Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:

Thu nhập chịu thuế được tính như sau:

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất,kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:

= Doanh thu - Chi phí được trừ +

Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanhthu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí được trừ củahoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó Doanh nghiệp có nhiều hoạtđộng kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tínhriêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng

Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để

kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từcác hoạt động sản xuất kinh doanh khác

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 20

- Miễn, giảm thuế TNDN: Luật thuế TNDN có các quy định về miễn thuế,giảm thuế TNDN áp dụng cho các đối tượng đầu tư sản xuất, kinh doanh thuộcngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư [6].

* Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Theo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành thì luật thuế này chỉ điềuchỉnh quan hệ thu nộp thuế phát sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng mậu dịchqua biên giới Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu

- Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là các tổ chức và cá nhân cóhàng hoá được phép xuất, nhập khẩu thuộc diện chịu thuế

- Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm: Số lượng từng mặt hàngghi trong tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu, giá tính thuế và thuế suất

Trong đó: Giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được áp dụng cụ thể đốivới từng trường hợp Giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu là giá bán cho kháchhàng tại cửa khẩu không bao gồm chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm theo hợpđồng bán hàng; Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua của khách hàng tạicửa khẩu nhập bao gồm chi phí vận tải và chi phí bảo hiểm theo hợp đồng mua hàng(giá CIF)

- Thuế suất: Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập nhập khẩu bao gồm các thuế suất

tỷ lệ % áp dụng cho từng mặt hàng xuất nhập khẩu

- Miễn, giảm thuế, hoàn lại thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu:

+ Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế trong một số trường hợp nhưhàng viện trợ không hoàn lại, hàng tạm nhập, tái xuất

+ Chế độ giảm thuế được áp dụng trong một số trường hợp thiệt hại hàng hoátrong quá trình vận chuyển, bốc xếp bị hư hỏng, mất mát

+ Hoàn lại thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong từng trường hợp hàng đã nộpthuế nhưng thực tế không xuất, không nhập vào Việt Nam [30]

* Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu thông qua chế độ thu thuế TTĐB, nhànước động viên một bộ phận thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước,

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 21

đồng thời nhà nước thực hiện hướng dẫn và điều tiết tiêu dùng của xã hội.

- Đối tượng nộp thuế: bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩuhàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB

- Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ chịu thuế vàthuế suất Giá tính thuế đối với hàng hoá sản xuất trong nước là giá do cơ sở sảnxuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế TTĐB, đối với hàng hoá nhập khẩu là giátính thuế nhập khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu

- Thuế suất: Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt gồm các thuế suất tỷ lệ % quy định

áp dụng có tính chất phân biệt giữa các nhóm hàng hoá, dịch vụ và giữa các hànghoá, dịch vụ trong cùng một nhóm nhằm thực hiện chính sách điều tiết sản xuất vàtiêu dùng của nhà nước

- Miễn, giảm thuế TTĐB: Thuế TTĐB là thuế gián thu có tác dụng lớn trongviệc điều tiết tiêu dùng của xã hội Do đó luật thuế TTĐB chỉ quy định giảm thuếtrong một số trường hợp như; cơ sở sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐBgặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ [29]

* Thuế tài nguyên

Là loại thuế điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế tài nguyên với các tổ chức và cánhân khai thác tài nguyên thuộc chủ quyền của Việt Nam

- Đối tượng nộp thuế tài nguyên bao gồm mọi tổ chức, cá nhân thuộc cácthành phần kinh tế, không phân biệt nghành nghề, hình thức khai thác có địa điểm

cố định hay lưu động có khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền củaNước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tếkhai thác, giá tính thuế và thuế suất

- Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác là số lượng, trọnglượng hay khối lượng của tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ nộp thuế, không phụthuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

+ Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khaithác tài nguyên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 22

+ Biểu thuế tài nguyên gồm các thuế suất tỷ lệ % áp dụng theo nhóm và loạitài nguyên

- Miễn, giảm thuế tài nguyên: được áp dụng đối với các trường hợp nhằmkhuyến khích đầu tư, khuyến khích sản xuất hoặc để thực hiện một số chính sáchkinh tế - xã hội của nhà nước [46]

* Thuế môn bài

Thuế môn bài là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm, thông qua chế

độ thu thuế môn bài Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát các hoạt động sảnxuất kinh doanh trong nền kinh tế Mức thuế môn bài được áp dụng theo số tuyệtđối và được phân biệt theo 2 nhóm: tổ chức kinh tế và hộ kinh doanh cá thể Đốivới doanh nghiệp (tổ chức) thì mức môn bài được qui định từ 1.000.000 đồng đến3.000.000 đồng tuỳ theo vốn đăng ký [14]

1.2.2 Đặc điểm về quản lý thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Quản lý thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có nhiềucách quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một góc

độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau Dù vậy theochúng tôi, các quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:

+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,

+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lýbằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thểquản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Đối tượng bị quản lý làcác tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để đối tượng nộpthuế và các đối tượng có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế củamình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế,nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ sở chất cầnthiết để quản lý

Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lậppháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổchức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 23

quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thựchiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Theo nghĩa rộng,quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuếthông qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế vàcác cơ quan Nhà nước có liên quan.

- Quản lý thu thuế đối với DN nói chung và DNVVN nói riêng là hoạt độngquản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành,giám sát việc thực thi pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp nhằm động viênnguồn thu vào ngân sách nhà nước

- Đối với CBCC thuế, quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuếDNVVN nói riêng bao gồm 3 hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định đốitượng nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế Chức năng chủ yếu của quản

lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo luật thuế để răn đenhững đối tượng nộp thuế vi phạm Đồng thời, quản lý thu thuế cũng đảm bảo bênthứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ với đối tượng nộp thuế phải báocáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế nộp ngân sách nhànước theo qui định của luật

- Đối với một cơ quan thuế, quản lý thu thuế hay quản lý thu thuế đối vớiDNVVN là một quá trình giống như quá trình sản xuất Trong đó, đầu vào gồmnhân công (cán bộ công chức thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thucho Nhà nước và sự công bằng cho người nộp thuế

- Quản lý thu thuế đối với DNVVN bao gồm các hoạt động: hoạch định mụctiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình thủ tục, đề ra giải pháp tổchức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy và nhân sự để thựchiện các khâu công việc

- Quản lý thu thuế đối với đối với DNVVN là quản lý thu thuế đối với nhữngpháp nhân và là những đối tượng nộp thuế lớn Số thu từ DNVVN chiếm tỷ trọng lớntrong tổng thu nội địa, do vậy quản lý thu thuế đối với DNVVN được đặc biệt quantâm và đặt ưu tiên hàng đầu Hầu hết cơ quan thuế các nước cũng tập trung khôngngừng và đáng kể các nguồn lực vào việc quản lý nhóm đối tượng nộp thuế này

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 24

- Quản lý thu thuế trên cơ sở ĐTNT thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn,chứng từ Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp đều phải mở sổ sách kế toán, vàhạch toán kế toán theo chế độ qui định và thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp

kê khai thuế

- Doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp caohơn so với đối tượng là hộ cá thể Ngày nay, nhiều doanh nghiệp có phạm vi kinhdoanh trên phạm vi cả nước Vì vậy việc kiểm soát chi phí và thu nhập khi tính thuế

là hết sức phức tạp Nhiều doanh nghiệp không trốn thuế một cách "ngây ngô" nhưcác cá nhân kinh doanh bằng cách gian lận hoá đơn hay bán hàng không xuất hoáđơn Các doanh nghiệp này luôn xuất trình đủ hoá đơn, chứng từ và hạch toán rấtbài bản, nhưng đằng sau những số liệu "sạch sẽ" đó, là cả một kế hoạch tránh thuếhết sức tinh vi Do đó quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp đòi hỏi đội ngũ cán bộ

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Có như vậy, mới phát hiện được các thủthuật trốn thuế, tránh thuế hết sức tinh vi của các đối tượng này, từ đó đề xuất hoànthiện chính sách hoặc xử lý đối tượng vi phạm [8]

1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.3.1 Hoạch định mục tiêu quản lý

Mục tiêu là trạng thái tương lai, là đích phải đạt tới mà hệ thống quản lýmong muốn đạt tới Nó có vai trò chi phối và định hướng hoạt động của toàn bộ

hệ thống

Mục tiêu quản lý phải được xác định trước, nó luôn chi phối, dẫn dắt cả chủthể và đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động Xác định mục tiêu đúng

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý

Mục tiêu của quản lý thuế nói chung thường được xác định bằng các chỉ tiêu

cụ thể như: số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từthuế vào Ngân sách Nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch sovới thời kỳ trước; tỷ trọng các sắc thuế (thường hay quan tâm đến tỷ trọng của thuếgián thu và thuế trực thu trong tổng thu ngân sách) cần đạt được trong từng thờikỳ Tuy nhiên vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 25

Nhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xét đếncùng, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện đầy

đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiệnđược các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế

Mục tiêu cụ thể của quản lý thuế đối với DNVVN, đó là làm cho các doanhnghiệp thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình trên cơ sởmức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngày càng cao.Điều đó cũng có nghĩa là số thuế thu từ doanh nghiệp sẽ tiến gần đến số thuế tiềmnăng, hay thất thu thuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0; số thu của ngân sáchNhà nước từ doanh nghiệp sẽ là lớn nhất trong điều kiện chính sách thuế ổn định,đồng thời chi phí của cơ quan thuế giảm khi mức độ tuân thủ của đối tượng nộpthuế ngày càng tăng Đồng thời mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế cũng được thựchiện [4]

1.2.3.2 Phân cấp quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp

Hệ thống quản lý là một hệ thống rất phức tạp, bao gồm nhiều tầng nấc, mỗitầng nấc là một hệ thống con có sự độc lập tương đối, có mục tiêu riêng và điều kiệnvận động đặc thù cả về vật chất và thông tin nhưng lại đặt trong sự quản lý thống nhấtchung của toàn hệ thống Như vậy toàn bộ hệ thống vừa có một sự quản lý tập trungthống nhất, vừa có sự tự vận động độc lập tương đối Do đặc thù quản lý của hệthống, chủ thể quản lý một mặt phải đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất trênnhững mặt cơ bản chính yếu nhất, mặt khác phân cấp cho cấp dưới xử lý thông tin và

ra quyết định với những quyền hạn và trách nhiệm xác định Việc phân cấp trongquản lý mang lại nhiều lợi ích:

- Giải phóng cho chủ thể quản lý cấp cao những công việc sự vụ, tập trungvào những nhiệm vụ quan trọng, có tầm chiến lược, đảm bảo sự quản lý tập trung,thống nhất

- Giao quyền và trách nhiệm quản lý cho cấp dưới để tạo điều kiện phát huytính năng động sáng tạo của cấp dưới, rèn luyện và tập dượt cho cấp dưới trưởngthành, khắc phục tính dựa dẫm, ỷ lại cấp trên

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 26

- Tạo nên bầu không khí tâm lý dân chủ và lành mạnh trong tập thể của hệthống quản lý, mở rộng dân chủ hoá trong quản lý.

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý cũng là nội dung cơ bản củaphân cấp, vừa đảm bảo sự quản lý tập trung trên những vấn đề cơ bản và mở rộngdân chủ cho cấp dưới Trong quản lý hiện đại, nhất là trong điều kiện của hệ thốngquản lý ngày càng phức tạp, lượng thông tin cực kỳ lớn và rất nhạy cảm trong xử lýthì yêu cầu phân cấp càng lớn và càng đòi hỏi dân chủ hoá và mở rộng quyền Tuynhiên tập trung quyền lực hay phân quyền đến đâu còn tuỳ thuộc vào điều kiệnkhách quan và nhất là trình độ, năng lực của cán bộ quản lý ở mỗi cấp [41]

Trong hệ thống quản lý thuế, việc phân cấp quản lý cho từng cấp là hết sứccần thiết Ở nhiều nước, hệ thống thuế được tổ chức phù hợp với tổ chức của Nhànước như thuế Liên Bang, thuế Bang (như Hoa Kỳ, Úc), hoặc thuế Trung ương vàthuế địa phương (như Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin ) Đối với thuế Liên Banghoặc thuế Trung ương, xu hướng chung trên thế giới hiện nay là cơ quan thuế được

tổ chức theo ngành dọc thống nhất gồm hai hoặc ba cấp Đối với Việt Nam, Hệthống thuế được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến quận,huyện (từ năm 1990) chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa.(không phân biệt thuế Trung ương hay thuế địa phương) [44]

Việc phân cấp quản lý thu trong ngành Thuế thường căn cứ vào đối tượngquản lý (không căn cứ vào sắc thuế) Một đối tượng có thể nộp nhiều loại thuế khácnhau nhưng hầu hết sẽ chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan thuế Điều này tránhđược sự phiền hà cho ĐTNT (chỉ phải liên hệ với một cơ quan thuế) Trong tổng sốđối tượng nộp thuế hiện nay: khoảng hơn 180.000 doanh nghiệp, gần 2 triệu hộ kinhdoanh cá thể, hơn 10 triệu hộ nộp thuế nhà đất, hàng trăm nghìn đối tượng nộp thuếthu nhập cá nhân và các loại thuế khác, tất yếu phải được phân cấp quản lý cho từngcấp trong ngành thuế một cách phù hợp Có như vậy, mới tạo ra sức mạnh tổng hợp

để quản lý thu có hiệu quả [41]

Đối với doanh nghiệp, mặc dù số đối tượng nộp thuế không lớn, tuy nhiên sốthu từ đối tượng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nội địa; qui mô và phạm vi

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 27

kinh doanh rộng lớn hơn hộ cá thể rất nhiều, đòi hỏi cán bộ quản lý thuế phải cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ cao do đó việc phân cấp quản lý đối tượng này cũngphải dựa vào qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm của doanh nghiệp, độ phứctạp của công tác quản lý, cơ sở vật chất và nhân lực của cơ quan thuế.

1.2.3.3 Xây dựng, ban hành và thực hiện các qui trình quản lý thu đối với doanh nghiệp

Qui trình quản lý thu thuế qui định trình tự, thủ tục các bước công việc phảilàm để quản lý thu thuế

Việc ban hành qui trình quản lý giúp cho cơ quan thuế chỉ đạo, điều hànhhoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình tự hợp lý,đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hóa, công khai minh bạch

và rõ ràng để các cán bộ thuế, ĐTNT dễ thực hiện và kiểm soát cơ quan thuế

Việc thực hiện các qui trình quản lý thuế phản ánh chất lượng quản lý của cơquan thuế và tác động đến kết quả thu thuế

Mỗi loại đối tượng nộp thuế có đặc điểm khác nhau, các sắc thuế áp dụngkhác nhau Vì vậy qui trình quản lý thuế cũng được qui định cho từng loại đối tượngphù hợp với đặc điểm về chính sách thuế và đặc điểm riêng có của từng loại đốitượng, như qui trình quản lý đối với doanh nghiệp, qui trình quản lý đối với hộ cáthể kinh doanh, qui trình quản lý phí, lệ phí Cùng với cải cách chính sách thuế vàyêu cầu quản lý, đòi hỏi các qui trình này cũng phải được bổ sung, sửa đổi hoặc cảicách căn bản qua các giai đoạn

Qui trình quản lý thu đối với doanh nghiệp bao gồm các qui trình nhỏ nhưqui trình đăng ký thuế, kê khai nộp thuế, kiểm soát tính thuế, thông báo thuế, thuthuế, tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT; cưỡng chế thu nợ thuế; thanh tra, kiểm tra, và

xử lý vi phạm pháp luật về thuế Nội dung của qui trình này bao gồm

- Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các đơn vị và cá nhân liên quan đến quản

lý thu thuế đối với doanh nghiệp trong cơ quan thuế

- Trình tự, thủ tục hành chính của các bước công việc: đảm bảo hoạt độngđồng bộ giữa các bước công việc cũng như về thời gian

- Mối quan hệ công tác giữa các đơn vị, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ:ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 28

phối hợp ngang giữa các bộ phận trong cơ quan, giữa các cơ quan trong ngành; kếthợp các công việc của các cá nhân trong bộ phận.

Việc xây dựng, ban hành và thực hiện các qui trình quản lý thu đối với doanhnghiệp là nội dung cơ bản của quản lý thuế

1.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Quản lý thu thuế tại Hungary

Hungary là một nước theo chế độ cộng hoà dân chủ nghị viện, với dân sốhơn 10 triệu người Từ năm 1987, Hungary bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kế hoạchhoá tập trung sang cơ chế thị trường Đặc điểm này khá tương đồng với sự chuyểnđổi của nền kinh tế nước ta Việc chuyển đổi đó đã tác động trực tiếp đến việc banhành chính sách thuế và tổ chức quản lý thuế

Cải cách thuế được thực hiện từ năm 1988 với việc ban hành hệ thống thuế

cơ bản gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cánhân Một nguyên tắc cơ bản của hệ thống thuế mới đó là áp dụng cơ chế tự khai- tựnộp Năm 1987, ban hành Luật qui trình nộp thuế Đây là bước quan trọng trongviệc quản lý thuế đối với nền kinh tế thị trường Tổng cục Thuế được thành lập năm

1987 (cùng với việc ban hành Luật qui trình nộp thuế), với tổng số cán bộ khoảng10.000 người, trong đó 47% có trình độ đại học và 43% trình độ trung cấp Số thu

do Tổng cục Thuế quản lý là 30,7 tỷ USD năm 2003 [33]

- Một số vấn đề về thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp: + Đăng ký thuế: Năm 1996, thực hiện cấp mã số cho tất cả đối tượng nộp

thuế Ngoài ra, cơ quan thuế phải phối hợp với các cơ quan khác để lấy các thôngtin liên quan đến việc quản lý thu thuế như đăng ký về dân số, đăng ký về tổ chức

có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân, đăng ký về đất đai tài sảnkhác [33]

+ Thanh tra, kiểm tra: Cơ quan thuế chia đối tượng nộp thuế thành 5 nhóm

để có chiến lược và kế hoạch thanh tra, kiểm tra: đối với đối tượng nộp thuế lớn

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 29

(doanh nghiệp lớn), việc kiểm tra được thực hiện một năm một lần Việc thanh trathuế được thực hiện 5 năm/lần Cơ quan thuế có quyền thanh tra, kiểm tra việc thựchiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế từ 5 năm trở về trước, kể cả kiểm tra bênthứ ba có liên quan [33].

1.3.1.2 Quản lý thu thuế tại Indonesia

Indonesia là một quốc gia có số dân tương đối lớn, trên 200 triệu người, chủyếu theo đạo hồi Chính phủ rất coi trọng cải cách hệ thống thuế để tăng cườngnguồn thu ngân sách nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, thông thường sau 5 năm, Chính phủ cải cách hệ thống thuế một lần và lần cảicách gần đây nhất là năm 2000 Ngay từ lần cải cách thuế năm 1984, hệ thống thuếcủa Indonesia đã áp dụng nguyên tắc tự định thuế trong việc thiết kế các chính sáchthuế, trong công tác quản lý thuế và tổ chức bộ máy ngành thuế Tổng cục Thuế cónhiệm vụ quản lý thu thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp,thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế chuyển nhượng nhà đất và lệ phí chứng thư Cơquan thuế mỗi cấp được tổ chức theo chức năng, đồng thời có bộ phận quản lýdoanh nghiệp lớn tại cấp Cục thuế vùng và tại Tổng cục thuế ở Trung ương [35]

- Một số vấn đề về thuế nói chung và quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp: + Kê khai thuế qua mạng: tháng 7/2002, cơ quan thuế Indonesia bắt đầu áp

dụng kê khai thuế qua mạng Điều này được xem như một bước cải thiện dịch vụ hỗtrợ cho đối tượng nộp thuế Việc kê khai thuế qua mạng được áp dụng trước hết đốivới tờ khai thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp trong tháng có từ 500 hoá đơntrở lên Những doanh nghiệp trong tháng có dưới 500 hoá đơn vẫn áp dụng kê khaithuế theo phương pháp truyền thống (bằng giấy) Việc kê khai thuế qua mạng đãđem lại nhiều lợi ích cho cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế [35]

+ Cưỡng chế và điều tra thuế: Trên thế giới, có hơn 1/3 số quốc gia thực

hiện giao quyền điều tra, khởi tố các vụ vi phạm pháp luật thuế cho cơ quan thuế.Đối với Inddonesia, việc điều tra các hành vi vi phạm luật thuế để khởi tố hình sựchỉ được thực hiện bởi các điều tra viên thuế Điều tra viên thuế là những cán bộthanh tra thuế giỏi được lựa chọn để đào tạo nghiệp vụ điều tra và được Bộ Tư pháp

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 30

cấp giấy phép hoạt động điều tra viên Điều tra thuế nhằm ngăn chặn tội phạm bỏtrốn ra nước ngoài, đưa ra toà xét xử các vụ án trốn thuế, tìm kiếm tịch thu các tàisản phạm tội, công bố rộng rãi trước công chúng về các thông tin liên quan đến việcphạm tội [35].

Hệ thống chính sách phạt cũng như việc thực hiện phạt đối với đối tượng viphạm được thực hiện nghiêm minh nhằm mục đích răn đe có hiệu quả Đối tượng bịphạt không chỉ là các đối tượng nộp thuế vi phạm mà cả cán bộ thuế và bên thứ 3 viphạm như cố tình không cung cấp thông tin cho cơ quan thuế, thậm chí bị tù kể cảtrường hợp tiết lộ bí mất của đối tượng nộp thuế [35]

1.3.2 Một số nhận xét và bài học cho Việt Nam

- Hầu hết các nước đã chuyển từ cơ chế cơ quan thuế tính thuế sang cơ chế tự

khai - tự nộp (TK-TN) Có thể nói cơ chế TK-TN là cơ chế quản lý thu thuế đối với

DN phổ biến hiện nay trên thế giới

Để tăng cường việc tuân thủ các luật thuế và tăng thu ngân sách Nhà nước,trước sự phát triển nhanh chóng của đối tượng nộp thuế cả về số lượng và sự phứctạp của các loại hình kinh doanh do tác động của toàn cầu hoá và những thành tựucủa công nghệ thông tin, các nước trên thế giới đều hướng tới việc áp dụng cơ chế

quản lý thuế hiện đại và có hiệu quả Một hệ thống quản lý thuế hiện đại phải đảm

bảo được nguyên tắc quản lý thuế cơ bản, đồng thời cũng là mục tiêu cao nhất củabất kỳ ngành thuế nào - đó là khuyến khích sự tuân thủ tự giác của ĐTNT Tuân thủ

tự giác đi liền với quản lý theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế

Việc áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế là vấn đề nổi bật trong quản lýthuế vào những năm đầu thập kỷ 90, khi hầu hết các nước quyết định việc ban hànhthuế GTGT phải đi liền với phương thức quản lý TK-TN Trong số 120 nước trênthế giới hiện nay đang áp dụng thuế GTGT, chỉ có 16 nước còn quản lý loại thuếnày không theo cơ chế tự khai - tự nộp [44]

Tại một số nước tiên tiến như Nhật bản, Đan mạch, Thuỵ điển, cơ chế

TK-TN đã được áp dụng từ nhiều thập kỷ trước trên cơ sở ý thức tuân thủ tự giác củangười dân cao

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 31

Tại các nước có nền kinh tế mới nổi và đặc biệt các nước ASEAN (Philipin,Inđônêxia, Thái lan), cơ chế TK-TN được áp dụng như một trọng tâm của quá trìnhcải cách quản lý thuế cùng với các dự án tin học hoá quản lý thuế và thành lập các

bộ phận quản lý đối tượng nộp thuế lớn (doanh nghiệp lớn) [44]

Tóm lại, cơ chế TK-TN là một cơ chế quản lý thuế hiện đại đang được ápdụng khá phổ biến tại các nước trên thế giới Việc áp dụng cơ chế quản lý này sẽgiúp ngành thuế giảm bớt chi phí quản lý, nâng cao tính hiệu quả của công tác quản

lý thu thuế, là cơ sở để thúc đẩy cải cách hành chính thuế và hiện đại hoá vì nó đòihỏi các qui trình quản lý hiện đại với sự ứng dụng rộng rãi các thành tựu của côngnghệ thông tin

- Xu hướng cải cách quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với doanh

nghiệp nói riêng, đó là nâng cao tính tự giác tuân thủ của đối tượng nộp thuế bằngcác biện pháp tăng cường dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, tạo thuận lợi và giảmchi phí thực hiện nghĩa vụ thuế cho đối tượng nộp thuế; Công tác này được quantâm và trở thành một ưu tiên của cơ quan thuế, được thực hiện dưới nhiều hìnhthức; cùng với nó các biện pháp thanh tra và chế tài xử lý được tăng cường để bảođảm rằng các đối tượng không tuân thủ sẽ bị phát hiện và xử lý nghiêm theo quiđịnh của pháp luật

- Song song với việc áp dung cơ chế TK-TN nhằm tăng cường tính tuân thủ

tự nguyện của đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế các nước rất chú trọng đến việcquản lý các đối tượng nộp thuế lớn (là doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệplớn) Ở nhiều Quốc gia, cơ quan thuế đã thành lập bộ phận quản lý doanh nghiệplớn tại Tổng cục Thuế (ở Trung ương) hoặc Cục Thuế vùng nhằm mục đích kiểmsoát chặt chẽ các đối tượng nộp thuế có số thu chiếm tỷ trọng lớn

- Việc thực hiện các dịch vụ điện tử về thuế nói chung và kê khai thuế quamạng internet được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ trong những năm gần đây (đặcbiệt từ những năm đầu của thế kỷ 21)

- Các điều kiện cơ bản thực hiện tốt cơ chế TK-TN và kê khai điện tử là: một

hệ thống chính sách rõ ràng, đơn giản, minh bạch, đầy đủ; cơ sở vật chất kỹ thuật

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 32

hiện đại với việc ứng dụng tin học ở mức độ ngày càng cao trong quản lý thuế; hệthống thông tin trở thành công cụ quan trọng trong cơ chế TK-TN; đội ngũ cán bộthuế phải được đào tạo để có trình độ năng lực đáp ứng được yêu cầu.

1.3.3 Một số kinh nghiệm của Việt Nam về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp

- Về công tác tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Việc tuyên truyền thuế đã đạt được bề rộng và đang từng bước đi vào chiềusâu Nhiều phương thức thức phối hợp để phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luậtthuế đã được triển khai; Các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế phongphú: báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, ca nhạc và đưa nội dung giáo dục vềthuế vào chương trình giáo dục phổ thông

Nhiều hình thức cung cấp hịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đã được tiến hành: trảlời trực tiếp hoặc qua điện thoại, trả lời bằng văn bản, cung cấp tài liệu, tập huấn,đối thoại với doanh nghiệp Đặc biệt cung cấp thông tin qua trang Web trên mạngInternet là một phương thức hiện đại, khoa học, phù hợp với tiến bộ chung của thếgiới [5]

Qua đó các doanh nghiệp hiểu rõ hơn chính sách thuế, tính thuế, kê khai thuếchính xác hơn, nộp thuế đầy đủ hơn

- Về cơ chế tự khai - tự nộp

Kết quả bước đầu trong thực hiện mô hình chức năng với hệ thống các quytrình quản lý theo cơ chế TK-TN đã làm rõ và khẳng định hướng đi này là đúng đắn

để hiện đại hoá ngành thuế, nâng cao năng lực quản lý

Đã nâng cao được tính tuân thủ của doanh nghiệp thể hiện ở việc nộp tờkhai và nộp thuế đúng hạn với tỷ lệ cao hơn, chất lượng tốt hơn

Bắt đầu ứng dụng công nghệ tin học vào tất cả các khâu của qui trình quản lý.Xây dựng được bộ máy quản lý thuế theo chức năng với phân bổ nguồn nhânlực hợp lý hơn Xây dựng được các nội dung cơ bản về nghiệp vụ, quy trình quản lýthuế theo yêu cầu của cơ chế TK-TN Kết quả đạt được trong thực hiện tổ chứcquản lý theo chức năng và theo các quy trình quản lý mới đã cho thấy chất lượngquản lý thuế đã được nâng lên rõ rệt [39]

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 33

- Về kê khai thuế GTGT qua mạng Internet

Việc kê khai điện tử nói chung, và kê khai thuế qua mạng nói riêng, là mộtphương thức kê khai hiện đại, có nhiều ưu việt hơn so với các phương thức truyềnthống và phù hợp với xu thế phát triển chung của khoa học công nghệ, cũng như củacông tác quản lý nhà nước của tất cả các quốc gia trên thế giới

Về mặt công nghệ, giải pháp do nhóm nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm làhoàn toàn phù hợp với điều kiện, xu thế phát triển của công nghệ; phù hợp với điềukiện và trình độ tác tác nghiệp của các cơ quản quản lý thuế của Việt Nam; phù hợpvới trình độ và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp hoạtđộng ở Việt Nam Đặc biệt phương thức kê khai thuế qua mạng hoàn toàn thích hợpđối với các doanh nghiệp thực hiện cơ chế TK-TN [39]

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN

Quảng Trạch có ranh giới phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía nam giáp huyện

Bố trạch, phía tây giáp huyện Tuyên Hoá và phía đông giáp biển Đông

Quảng Trạch nằm trong vùng khí hậu duyên hải miền Trung nhiệt đới giómùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc với 2 mùachủ yếu là mùa khô (từ tháng 4 đến tháng 8) và mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 3năm sau)

Quảng Trạch có chiều dài bờ biển là 34 km, có hai con sông chính đó là sôngRoòn và sông sông Gianh, đồng thời có một hệ thống hồ đập, sông ngòi, mặt nước,bãi biển khá rộng lớn, tạo nguồn lợi tự nhiên khá phong phú

Quảng Trạch có nhiều danh lam, thắng cảnh, môi trường sạch Bãi biểnQuảng Phú đẹp nổi tiếng Biển xã Cảnh Dương dồi dào tôm cá, người dân theonghề ngư nghiệp đã hàng trăm năm Xã Quảng Đông là nơi có khu du lịch sinh tháiVũng Chùa, Đảo Yến

Quảng Trạch có nhiều nguồn tài nguyên, khoán sản quý hiếm, có trữ lượnglớn như quặng Titan, cát Thạch Anh có trữ lượng 35 triệu m3 có khả năng sản xuấtcác mặt hàng Pha lê cao cấp, có mỏ đá vôi, đất cát sét [43]

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Huyện Quảng Trạch là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phía Bắc tỉnhĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 35

Quảng Bình Toàn huyện có 33 xã và 01 thị trấn Ba Đồn là trung tâm huyện lỵ, theoquy hoạch được phê duyệt, thị trấn Ba Đồn được đầu tư xây dựng mở rộng pháttriển để trở thành Thị xã trực thuộc tỉnh vào năm 2010.

2.1.2.1 Dân số và lao động

Tính đến cuối năm 2008 tổng dân số huyện Quảng Trạch khoảng 206.538người, mật độ dân số bình quân khoảng 336 người/km2 Dân số thành thị chiếm3,96%, dân số nông thôn chiếm 96,04% [26]

Bảng 2.1 Diện tích, dân số, lao động huyện Quảng Trạch

2 Dân số trung bình người 203.320 205.187 206.538 100,9 100,7 0,8

a Trong độ tuổi LĐ người 101.818 102.835 103.507 101,0 100,7 0,85

b Có khả năng LĐ người 98.033 99.048 100.073 101,0 101,0 1,0

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Quảng Trạch)Dân số trong độ tuổi lao động là 103.507 người chiếm 50,1%, dân số có khảnăng lao động là 100.073 người chiếm 48,5% tổng dân số Người dân Quảng Trạchlao động cần cù, sáng tạo và mến khách Đây là một lực lượng lao động dồi dào làđiều kiện thuận lợi để tạo nguồn nhân lực cho việc phát triển doanh nghiệp vừa vànhỏ trên địa bàn vừa giãi quyết công ăn việc vừa đóng góp nguồn thu cho NSNN

2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng

Có hệ thống giao thông đường sắt, đường thuỷ và đường bộ, quốc lộ nối liềnBắc - Nam Đường quốc lộ 12A đi qua nước Lào, Thái Lan Cảng biển Hòn La đãkhánh thành đi vào hoạt động

Có các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt Nhà máy Xi măng Sônggianh công suất 1,4 triệu tấn/năm; Khu kinh tế cảng biển Hòn La đã và đang trên đàthu hút các nhà đầu tư [43]

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 36

2.1.3 Khái quát tình hình phát triển doanh nghiệp vừa nhỏ trên địa bàn huyện Quảng Trạch

Trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, kinh tếhuyện Quảng Trạch cũng chuyển biến mạnh mẽ Các DNVVN trên địa bàn huyện rađời và phát triển một cách nhanh chóng, theo số liệu báo cáo của Chi cục thuếhuyện về số DNVVN đang hoạt động SXKD như sau: Năm 2006 có 157 doanhnghiệp, năm 2007 có 175 doanh nghiệp, năm 2008 có 197 doanh nghiệp, trong đóloại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ lệ lớn nhất là 53%, tiếp đến doanhnghiệp tư nhân chiếm 41%, công ty cổ phần chỉ có 2% và hợp tác xã chiếm 4%, cơcấu các loại hình doanh nghiệp như sau:

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu loại hình DNVVN tại huyện Quảng Trạch

DN tư nhân HTX

(Nguồn: Chi cục thuế huyện Quảng Trạch)Các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh ở rất nhiều lĩnh vực từ sảnxuất, xây dựng, chế biến, dịch vụ đến thương mại, du lịch, vận tải, đồng thời baogồm cả kinh doanh tổng hợp nhiều ngành nghề như kết hợp cả kinh doanh thươngmại và dịch vụ; giữa sản xuất và dịch vụ, kinh doanh đa ngành nghề, lĩnh vực Cácdoanh nghiệp đã giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đónggóp không nhỏ nguồn thu Ngân sách cho huyện

Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp có số vốn ở mức vừa và nhỏ Các doanhnghiệp có xu hướng đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tư ban

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 37

đầu thấp, tỷ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh Phần lớn các doanh nghiệp đượcthành lập và đăng ký hoạt động ở thị trấn Ba Đồn và các vùng lân cận.

Bên cạnh các doanh nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh, kinh doanh tuân thủ phápluật của Nhà nước thì vẫn còn không ít các doanh nghiệp kinh doanh không trungthực, tính tuân thủ pháp luật Nhà nước về tài chính và kinh tế còn kém Đặc biệt là lợidụng danh nghĩa doanh nghiệp để trốn thuế, nhất là khu vực DNVVN Mặt khác, doviệc định hướng kinh doanh ban đầu chưa rỏ ràng, nên sau khi được cấp giấy phépkinh doanh có một số DN không hoạt động, có một số doanh nghiệp chưa thật sự tổchức kinh doanh ngay, hoặc hoạt động không có hiệu quả, có khoảng 7% doanhnghiệp sau khi được thành lập từ 6 - 7 tháng lại xin bổ sung ngành nghề kinh doanh

Nguồn thu từ sản xuất kinh doanh ở khu vực này có vị trí quan trọng cầnđược tăng cường quản lý và khai thác nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách huyện.Đồng thời phải tăng cường công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nóiriêng để đảm bảo tất cả các đơn vị SXKD đều phải tuân thủ pháp luật Mặt khác,giúp các doanh nghiệp phát triển theo định hướng của Nhà nước và quan điểm pháttriển kinh tế nhiều thành phần của Đảng Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu tình hìnhquản lý thu thuế đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp làđiều hết sức cần thiết, không chỉ trên phương diện đảm bảo số thu cho ngân sáchhuyện, mà còn có ý nghĩa trên phương diện quản lý

2.2 KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC THUẾ HUYỆN QUẢNG TRẠCH

Số lượng cán bộ ban đầu là 59 người, trình độ chuyên môn nghiệp vụ khôngđồng đều, trình độ đại học (có cả đại học chứng chỉ đào tạo 6 tháng) và trung cấpchỉ có 21 người chiếm 35%; còn lại là sơ cấp, phổ thông 75% Đến nay tổng số cán

bộ công chức là 79 người, trình độ đại học 47 người chiếm 59%, trung cấp 32

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 38

người, chiếm 41% Tổ chức bộ máy từ 16 tổ, trạm thuế năm 1990 đã rút gọn xuống

13 đội thuế năm 2008 [10]

2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy

Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch từ khi thành lập cho đến nay, cùng với sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước và công cuộc cải cách hệ thống thuế ViệtNam, sắp xếp tổ chức mới; Bộ máy của Chi cục thuế cũng được thay đổi theohướng giảm số đội thuế liên xã, thị trấn, tăng số đội thuế ở văn phòng phù hợp vớitình hình thực tiễn gắn liền với nhiệm vụ thu NSNN và công tác tuyên truyền giáodục pháp luật thuế, bước đầu xây dựng mô hình tổ chức QLT theo chức năng

Theo quy định tại Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18/6/2007 Của Tổng cụctrưởng Tổng cục thuế đối với các Chi cục thuế có số thu dưới 300 tỷ/năm thì cơ cấu

tổ chức bộ máy của Chi cục thuế như sau:

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch

( Nguồn: Chi cục thuế huyện Quảng Trạch)

Độiquản

lý nợvàcưỡngchếnợthuế

Độinghiệp

vụ dựtoán

-Độihànhchính

- nhân

sự Tài

-vụ

QT Ấn

-chỉ

Độiquản

lý thu

lệ phítrước

bạ vàthukhác

Độithuếthunhậpcánhân

Độithuếliên

xã, thịtrấnĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 39

Năm 2008 cơ cấu tổ chức bộ máy Chi cục Thuế Quảng Trạch gồm có 13Đội thuế, bao gồm:

- 08 đội thuế ở văn phòng chi cục gồm: Đội tuyên truyền hỗ trợ pháp luậtthuế; Đội kê khai kế toán thuế và tin học; Đội kiểm tra; Đội quản lý nợ và cưởngchế nợ thuế; Đội nghiệp vụ dự toán; Đội hành chính - nhân sự - tài vụ - ấn chỉ; Độiquản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác; Đội thuế thu nhập cá nhân và 05 đội thuếliên xã thị trấn

Công tác quản lý đối tượng nộp thuế là DNVVN, nhiệm vụ tập trung ở các độithuộc văn phòng Chi Cục mà chủ yếu là ở đội Kiểm tra, đội Kê khai kế toán thuế vàtin học, đội Tuyên truyền hỗ trợ NNT và đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

2.2.3 Chức năng nhiệm vụ

Theo Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18 tháng 6 năm 2007 của Tổng CụcThuế quy định: Chi Cục Thuế quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là tổchức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy

định của pháp luật

Chức năng nhiệm vụ của các đội thuế như sau:

- Đội tuyên truyền hổ trợ pháp luật thuế: Thực hiện công tác tuyên truyền vềchính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Chi cục thuế quản lý

- Đội kê khai kế toán thuế và tin học: Thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý

hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế nộp vào NSNN theo phân cấp quản lý;quản lý và vận hành hệ thống trang thiết bị tin học; triễn khai, cài đặt, hướng dẫn sửdụng các phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế

- Đội kiểm tra: Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết

tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu các DNthuộc phạm vi quản lý của Chi cục thuế

- Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Thực hiện công tác quản lý nợ thuế,cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lýcủa Chi cục thuế

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Trang 40

- Đội Nghiệp vụ - Dự toán: Hướng dẫn về nghiệp vụ QLT, chính sách, phápluật thuế cho CBCC thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu NSNN đượcgiao của Chi cục thuế.

- Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác: Quản lý thu lệ phí trước bạ,thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá vềđất, tài sản, tiền thuê đất, thuế tài sản (sau này), phí, lệ phí và các khoản thu khácphát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục thuế quản lý

- Đội Hành chính - Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ: Thực hiện công tác hànhchính; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong nội

bộ Chi cục thuế quản lý

- Đội quản lý thuế thu nhập cá nhân: Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân có thu nhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân thuộc phạm vi Chicục thuế quản lý

- Đội thuế liên xã, thị trấn: Thực hiện quản lý thu thuế các tổ chức (nếu có),

cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, thị trấn được phân công (bao gồm các hộ sản xuấtkinh doanh dịch vụ, hộ nộp thuế nhà đất, thuế tài nguyên )

2.2.4 Tình hình sử dụng cán bộ, công chức ngành thuế

Số lượng cán bộ công chức thuế được bố trí theo cơ cấu tổ chức hành chính,chức năng nhiệm vụ thể hiện ở bảng 2.2 Năm 2008 Cục thuế Quảng Bình giao chỉtiêu biên chế cho Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch 79 CBCC trong đó trong biênchế 75 CBCC chiếm 95%, hợp đồng dài hạn 4 cán bộ chiếm 5%, so với năm 2006CBCC giảm 7 người là do số CBCC đến tuổi nghỉ hưu, một số nghỉ hưu trước tuổitheo Nghị định 132/NĐ-CP của Chính phủ

- Phân theo nhiệm vụ công tác

Để phù hợp với chương trình cải cách hệ thống thuế và quản lý thuế theo môhình chức năng, chủ trương của ngành thuế giảm số lượng CBCC ở Đội thuế liên

xã, thị trấn, tăng số lượng CBCC ở các đội Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế vàđội Kiểm tra thuế Năm 2007 so với năm 2006 lượng CBCC ở đội thuế liên xã, thịtrấn ở Chi cục giảm dần từ 48 người năm 2006 xuống còn 22 người năm 2008 và số

ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

Ngày đăng: 08/11/2016, 11:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hải Anh (2007), "Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thuế đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hoá", Tạp chí thuế Nhà nước, (số 35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức bộ máy quản lý thuế đáp ứng yêu cầucải cách và hiện đại hoá
Tác giả: Hải Anh
Năm: 2007
2. Lê Văn Ái (2000), Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
3. Lê Văn Ái (1996), Thuế Nhà nước, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế Nhà nước
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1996
4. Nguyễn Đình Ân (2007), "Đào tạo cán bộ thuế theo yêu cầu cải cách - Cần chuẩn mực & chuyên nghiệp", Tạp chí thuế Nhà nước,(số 47) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ thuế theo yêu cầu cải cách -Cần chuẩn mực & chuyên nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Ân
Năm: 2007
6. Bộ tài chính (2003), Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
7. Bộ Tài chính (2003), Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống các văn bản pháp luật về thuế GTGT
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
8. Bộ Tài Chính (2005), Kế hoạch thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch thực hiện chiến lược cải cách hệ thốngthuế đến năm 2010
Tác giả: Bộ Tài Chính
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
9. Hoàng Minh Châu (2007), "Đổi mới chính sách thuế nhằm khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân", Tạp chí Tài chính doanh nghiệp (số 79) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách thuế nhằm khuyến khíchphát triển doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Năm: 2007
10. Chi Cục thuế huyện Quảng Trạch (2004), Kỹ yếu 1990-2004, Quảng Trạch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ yếu 1990-2004
Tác giả: Chi Cục thuế huyện Quảng Trạch
Năm: 2004
14. Chính phủ (2002), Pháp lệnh thuế môn bài, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thuế môn bài
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2002
15. Vũ Kim Dũng, Cao Thúy Xiêm (2003), Giáo trình quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà Xuất bản Thống kê.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý kinh tế,Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tác giả: Vũ Kim Dũng, Cao Thúy Xiêm
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thống kê.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Năm: 2003
5. Ban Tư Tưởng văn hoá Trung Ương (2006), Tài liệu hướng dẫn tuyên truyền chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2005-2010 Khác
11. Chi cục thuế huyện Quảng Trạch (2007), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2006 Khác
12. Chi cục thuế huyện Quảng Trạch (2008), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2007 Khác
13. Chi cục thuế huyện Quảng Trạch (2009), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, dân số, lao động huyện Quảng Trạch - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.1. Diện tích, dân số, lao động huyện Quảng Trạch (Trang 35)
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch (Trang 38)
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng lao động ở Chi cục thuế Quảng Trạch giai - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng lao động ở Chi cục thuế Quảng Trạch giai (Trang 41)
Bảng 2.4. Kết quả thực hiện dự toán thu các sắc thuế của doanh nghiệp - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.4. Kết quả thực hiện dự toán thu các sắc thuế của doanh nghiệp (Trang 43)
Bảng 2.5. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thuế (cấp mã số thuế) - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.5. Tình hình doanh nghiệp đăng ký thuế (cấp mã số thuế) (Trang 45)
Bảng 2.10. Bảng phân loại nợ thuế của DN qua ba năm 2006-2008 - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.10. Bảng phân loại nợ thuế của DN qua ba năm 2006-2008 (Trang 51)
Bảng 2.13. Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.13. Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra (Trang 57)
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù của công tác tập huấn hổ trợ DN - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù của công tác tập huấn hổ trợ DN (Trang 60)
Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù hợp đối với những quy định - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù hợp đối với những quy định (Trang 62)
Bảng 2.17. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù hợp đối với công tác kiểm - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.17. Ý kiến đánh giá của DNVVN về sự phù hợp đối với công tác kiểm (Trang 65)
Bảng 2.19.Ý kiến đánh giá của CBCC thuế về sự phù hợp đối với những quy - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.19. Ý kiến đánh giá của CBCC thuế về sự phù hợp đối với những quy (Trang 68)
Bảng 2.21. Ý kiến đánh giá của CBCC thuế về sự phù hợp đối với công tác - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.21. Ý kiến đánh giá của CBCC thuế về sự phù hợp đối với công tác (Trang 70)
Bảng 2.25. Kiểm định trị trung bình của hai nhóm khảo sát DN – CBCC thuế - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 2.25. Kiểm định trị trung bình của hai nhóm khảo sát DN – CBCC thuế (Trang 75)
Bảng 3.1. Kế hoạch công tác tuyên truyền, hổ trợ doanh nghiệp - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Bảng 3.1. Kế hoạch công tác tuyên truyền, hổ trợ doanh nghiệp (Trang 90)
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch ...............................38 - Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi cục thuế huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế huyện Quảng Trạch ...............................38 (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w