Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhànước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó Do vậy, thuế
là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là nguồn thuchủ yếu cho ngân sách Nhà nước Trong các đối tượng chịu thuế, kinh tế ngoài quốcdoanh là đối tượng có số thuế phải thu chiếm tỷ trọng cao trong ngân sách Nhànước, được xem là thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và năng động nhất Songcũng là thành phần kinh tế đa dạng và phức tạp nhất Trong 10 năm triển khai ápdụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với thành phần kinh tế này đã nảy sinh không
ít những khó khăn, vướng mắc Vậy, làm thế nào để luật thuế GTGT thực sự đi vàocuộc sống, phát huy hết các vai trò, tác dụng và những ưu điểm nổi bật của nó Vấn
đề quản lý thu thuế GTGT đối với khu vực kinh tế NQD như thế nào? Đó là mộtcâu hỏi cấp bách đặt ra cần có những giải pháp
Thành phố Huế là trung tâm của tỉnh Thừa Thiên Huế, thu ngân sách hàngnăm của Thành phố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Tỉnh Trong
đó, khoản thu thuế GTGT của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một trong nhữngkhoản thu chủ yếu, góp phần quan trọng quyết định hoàn thành nhiệm vụ thu ngânsách của Thành phố, của Tỉnh
Công tác quản lý thu thuế GTGT trong những năm qua của Thành phố đã đạtđược nhiều kết quả Tuy nhiên, một số khâu trong công tác thu thuế GTGT vẫn cònnhững điểm hạn chế Số thu thuế GTGT luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch và cótốc độ tăng cao, nhưng số thu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Thànhphố, nhiều nguồn thu chưa được khai thác Đặc biệt, tình hình thất thu thuế vẫnđang diễn ra ở một số lĩnh vực như: thương mại, ăn uống, khách sạn, dịch vụ Tìnhtrạng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng không khai thuế, nộp thuế vẫn cònnhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý; tỷ lệ nợ thuế vẫn còn cao
Vì thế, để phát huy vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế và huy động nguồn thu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2cho ngân sách Nhà nước, chi cục Thuế Thành phố Huế cần phải có những giải pháphết sức thiết thực nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý về công tác thu thuế GTGT, tạođiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động và đảm bảo công bằng giữa các
thành phần kinh tế Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Huế” làm luận văn khoa học của mình.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thành phố Huế” thực hiện nhằm đạt được những mục đích sau đây:
2.1 Mục đích chung
Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT, đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh (DN NQD) trên địa bàn Thành phố Huế
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu: Đánh giá công tác quản lý thu thuế GTGT các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố ở Chi cục Thuế thành phố Huế
3.1 Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành
phố Huế
3.2 Phạm vi thời gian: Trong thời gian từ năm 2005-2008.
Trọng tâm của vấn đề nghiên cứu chủ yếu là thuế GTGT và các đối tượngquản lý thu thuế trên địa bàn thành phố Trên cơ sở phân tích kết quả thu thuế từngnăm chỉ ra ưu, nhược điểm và tác động của chính sách thuế đến số thu ngân sách và
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3phát triển kinh tế thực hiện công bằng xã hội giữa các thành phần kinh tế đồng thời
đề xuất những định hướng, giải pháp quản lý khả thi trong thời gian tới
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp chung
Luận văn vận dụng cách tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử; vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong quá trìnhđổi mới kinh tế để phân tích thực trạng quản lý và thực hiện chính sách thuế ở địaphương nghiên cứu Từ đó rút ra một số nhận xét và kiến nghị đề xuất các giải pháp
để góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DNNQD tại Chi cục Thuế thành phố Huế
Phương pháp tiếp cận: xem xét, nghiên cứu dưới góc độ các quy trình nghiệp
vụ, các văn bản hướng dẫn thực hiện của Nhà nước, trong đó tập trung vào các quytrình quản lý thuế hiện hành như quy trình quản lý DN, quy trình thanh tra, kiểmtra để phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những bất cập, mâu thuẫn hoặc những tồntại để nhằm đề xuất một số biện pháp có tính khả thi trong tương lai
4.2 Phương pháp cụ thể
4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu thứ cấp cần thiết cho đề tài được thu thập từ các nguồn: Cục Thống
kê, Phòng thống kê, các đội kiểm tra thuế, đội kê khai kế toán tin học Đội cưỡngchế quản lý và thu nợ thuế thuộc Chi cục Thuế thành phố Huế, niên giám thống kêcủa thành phố, các tài liệu kinh tế - xã hội, Internet…… Ngoài ra, còn sử dụng các
số liệu từ báo cáo khoa học đã được công bố, các công trình nghiên cứu khoa họccủa nhiều tác giả về lĩnh vực liên quan đến đề tài
+ Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng cách khảo sát phỏng vấn các doanhnghiệp dựa trên số lượng doanh nghiệp mà Chi cục Thuế đang quản lý và số lượngcán bộ công chức thuế thuộc Chi cục Thuế thành phố Cụ thể chọn ngẫu nhiên 73
DN sản xuất kinh doanh trên địa bàn, gồm: 18 công ty cổ phần, 20 công ty TNHH,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 425 doanh nghiệp tư nhân, 10 Hợp tác xã và 55 cán bộ công chức (CBCC) thuế đểtiến hành điều tra.
Phương pháp điều tra bằng cách phát phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn, nhằmđánh giá các quy định về việc kê khai đăng ký thuế, kế toán thuế, mức độ hài lòng củangười nộp thuế và cán bộ công chức thuế về công tác hướng dẫn tuyên truyền hỗ trợngười nộp thuế, công tác hoàn thuế, kiểm tra thuế tại DN của cơ quan thuế
Mục đích của việc điều tra là để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc,những kiến nghị đề xuất của DN cũng như cán bộ công chức thuế trong việc thựchiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo Luật quản lý thuế Bảng hỏi được thiết kế bámsát theo các nội dung của quy trình quản lý thuế hiện tại và theo đề cương nghiêncứu, bảng hỏi chủ yếu sử dụng các câu hỏi chọn lựa mà người được phỏng vấn cho
là đúng nhất, có đặt một số câu hỏi đóng và một số câu hỏi mở phục vụ cho việc lấy
ý kiến đề xuất của DN
Phỏng vấn khảo sát cán bộ công chức thuế thuộc Chi cục thuế thành phố Huếnhằm thu thập các dữ liệu quan trọng về tính hiệu quả của hệ thống quản lý thuế nóichung và các chức năng quản lý thuế nói riêng
Số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp được thu thập và xử lý trên các phần mềmthông dụng như Micrsoft Excel, SPSS
4.2.2 Phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê là phương pháp chủ yếu được sửdụng trong đề tài, cụ thể gồm phân tích các chỉ tiêu tương đối, tuyệt đối và số bìnhquân để đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu phân tích khi có sự thống nhất vềthời gian, không gian theo một số tiêu thức nhất định
4.2.3 Phương pháp phân tích ANOVA
Phương pháp phân tích phương sai ANOVA được dùng để kiểm định sự khácnhau về trị trung bình các ý kiến đánh giá của các loại hình doanh nghiệp với nhau (củacác cán bộ công chức thuế) về công tác quản lý thu thuế GTGT và giữa các loại hìnhdoanh nghiệp (các cán bộ công chức thuế) với trung bình chung của tổng thể điều tra
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5Giả thiết được sử dụng để kiểm định:
H0 :µ 1 = µ 2 = µ 3 = µ 4 - Không có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác
quản lý thu thuế GTGT trong mỗi loại hình DN và từngloại hình DN với trung bình chung của tổng thể nghiêncứu
- Không có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tácquản lý thu thuế GTGT trong mỗi nhóm cán bộ công chức
và giữa các nhóm với trung bình chung của tổng thểnghiên cứu
H1 :µ 1 ≠ µ 2 ≠ µ 3 ≠ µ 4 - Có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác quản lý
thu thuế GTGT trong mỗi loại hình DN và từng loại hình
DN với trung bình chung của tổng thể nghiên cứu
- Có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác quản lýthu thuế GTGT trong mỗi loại nhóm cán bộ công chức vàgiữa các nhóm với trung bình chung của tổng thể nghiêncứu
4.2.4 Phương pháp sơ đồ để mô tả quy trình quản lý thu thuế giá trị gia tăng.
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm về thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời làmột tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước
Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu,trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địaphương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho các côngviệc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng vàphát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sựnghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài[30,20]
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùngquyền lực chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngânsách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài
chính cho Nhà nước Hình thức đóng góp đó chính là Thuế [30,20].
Như vậy, Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.Bản chất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế
Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn
“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế
là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá,dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó
họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đókhông phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”[30,21].Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng,
để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía cạnh sauđây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 7nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ nàyđược nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giaothu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khía cạnh luậtpháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu
Trong thực tế, ở nước ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhànước thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý và xây dựngkinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các côngtrình phúc lợi xã hội khác thì người nộp thuế thông qua đó đựơc hưởng một phầnkết quả nộp thuế của mình [4] Như vậy thuế ở nước ta luôn luôn là một khoản thubắt buộc, không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế nhưng họ được giántiếp hưởng lợi do chính sách đầu tư, phát triển của Nhà nước cho các công trìnhphúc lợi xã hội khác nhau [30]
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Thứ nhất, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao
Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia.Trong cácquốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắtbuộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước Các tổ chức kinh tế vàcông dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các Luật thuế cụ thể được cơ quan quyền lựctối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các hoạt động và thu nhập của từng tổchức kinh tế và công dân Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện nghĩa vụ thuếcủa mình, tức là họ đã vi phạm Luật pháp của quốc gia đó[19]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản đóng góp mangtính tự nguyện cho NSNN và thuế đối với các khoản vay mượn của Chính phủ.Tuy nhiên, cũng càn phải hiểu rằng thuế là biện pháp tài chính mang tính chấtbắt buộc của Nhà nước, nhưng sự bắt buộc đó luôn được xác lập dựa trên nền tảngcủa các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế thế giới.
Thứ hai, thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp
Khác với các khoản vay, Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và các cánhân nhưng không phải hoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau một khoảngthời gian với một khoản tiền mà họ đã nộp vào NSNN Số tiền thuế thu được, Nhànước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước vàmỗicá nhân trong xã hội Mọi cá nhân, người nộp thuế cho Nhà nước cũng nhưngười không nộp thuế, người nộp nhiều cũng như người nộp ít, đều bình đẳng trongviệc nhận được các phúc lợi công cộng từ phía Nhà nước, được tính toán không dựatrên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể
và thu nhập của họ Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí[19]
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1 Thuế là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho Ngân sách Nhà Nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội
bộ nền kinh tế quốc dân Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại các thunhập theo đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đặc biệt trong tình hìnhhiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép củaquan hệ “mua bán sòng phẳng”,“có vay, có trả”, thuế phải là công cụ quan trọnggóp phần tích cực giảm bội chi Ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội,chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài Thuế phải trởthành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh Vớinền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thànhphần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồnthu nhập trong xã hội …[9]
Mục tiêu của Quốc hội đề ra trong những năm tới là động viên về thuế chiếm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9khoảng 20 đến 25% GDP và ổn định mức đóng góp về thuế Mức động viên trênđây là phù hợp với khả năng kinh tế, phù hợp với sức đóng góp của nhân dân, bảođảm phần lớn các nhu cầu chi tiêu của Ngân sách nhà nước, nguồn vốn để xây dựng
cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế theo hướng có lợi cho đất nước Nhà nước ta luôncoi thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất của Ngân sách nhà nước[1]
1.1.3.2 Thuế tham gia vào việc điều tiết kinh tế vĩ mô
Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các sắc thuế,việc xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễngiảm, phương pháp quản lý thu thuế dựa trên cơ sở hạch toán kế toán đầy đủ, chínhxác, thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội thể hiện trênhai mặt: khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn cóhiệu quả; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sảnxuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí Thuế còn khuyếnkhích việc bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanhthuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật Thuế góp phầnkhuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong việc tranh thủ vốn hợp tác củanước ngoài để phát triển kinh tế hàng hoá, không ngừng nâng cao khả năng tích luỹ,đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước Thuế thúc đẩy
mở rộng thị trường một cách lành mạnh, vừa khuyến khích giao lưu hàng hoá, vừađấu tranh hạn chế mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian, đầu cơ tích trữ đểhưởng chênh lệch giá[19]
1.1.3.3 Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phầnkinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảo công bằng và bình đẳng tronglàm nghĩa vụ và quyền lợi Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông quachính sách động viên giống nhau (thuế suất) giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọithành phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực, bảo đảm sự công bằng vàbình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ với mọi công dân, không có những đặc quyền,đặc lợi cho bất cứ đối tượng nào Thuế kích thích mọi công dân, doanh nghiệp cải
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và có thu nhập cao một cáchchính đáng [4].
1.1.3.4 Thuế còn là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
Vai trò này được xuất hiện chính do quá trình tổ chức thực hiện thuế trongthực tế Để thu được thuế và thực hiện đúng các Luật thuế đã được ban hành, cơquan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng,quy mô các cơ sở sản xuất kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặthàng họ được phép kinh doanh Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiệnnhững việc làm sai trái, vi phạm Luật của các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinhdoanh, hoặc phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm biệnpháp tháo gỡ Như vậy, do công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra,kiểm soát toàn diện các mặt hàng, hoạt động của các cơ sở kinh tế đảm bảo thựchiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội[19]
1.1.4 Bản chất, chức năng của thuế
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhà nướcthu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để chi phát triển cơ sở hạtầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốcphòng… Hiến pháp nước ta năm 1992, Điều 80 đã ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11đóng thuế và lao động công ích theo qui định pháp luật” Tuy nhiên, Nhà nước cầnphải thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế
thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định [4].
1.1.4.2 Chức năng của thuế
Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn cócủa các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vậnđộng và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính
Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế,chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:
- Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuếNgay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chínhvào Ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước) Về mặt lịch sử, chức nănghuy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh rathuế Thông qua chức năng này, các quỷ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hìnhthành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhànước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phânphối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phânphối và phân phối lại thu nhập của tiền là sự huy động một bộ phận thu nhập quốcdân dưới hình thức tiền tệ vào Ngân sách Nhà nước Phần lớn thuế đánh trên hànghoá và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hoá, dịch vụ làngười nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lại được Nhà nước chi nhằm thực hiệnchính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội Trong mộtchừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự
ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế Chức năng phân phối vàphân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiều này được giải thích bởi sự pháttriển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khácnhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế[4]
- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối với nềnkinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chitiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải
mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế Nhu cầu vềnguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế
để tác động một cách có hiệu quả đến nền kinh tế quốc dân Chính trong quá trình
đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được
sử dụng một cách hiện thực Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mụctiêu nào đó đã được dự liệu trước vào trong quá trình huy động tập trung nguồn tàichính Bằng cách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăngcường hoặc làm yếu đi sự tích luỹ tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khảnăng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh
tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm viquốc gia[19]
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hìnhthức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộpthuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng củangười nộp thuế Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹđạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điềukiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngàycàng được nâng cao Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của cácchủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhànước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh haykhông kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh[4]
Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sựvận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuếcũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự canthiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhànước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện đểtăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mởrộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại[4].
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâuthuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năngphân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều đó cónghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trìnhkinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại mộtcách quá mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát triểnkinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Ðó làtính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tíchcực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động
đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xâydựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạnphát triển kinh tế- xã hội nhất định [4]
1.1.5 Chính sách thuế và phân loại thuế
1.1.5.1 Khái niệm
Chính sách thuế là tổng hòa phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thuế
và các biện pháp để đạt được những mục tiêu đã định [35].
Chính sách thuế thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập dướihình thức thuế trong nền kinh tế quốc dân Chính sách thuế được thực hiện bằngcách thiết lập các văn bản pháp luật trong lĩnh vực nộp thuế, ban hành các loại thuế
và các ưu đãi về thuế trong từng giai đoạn phát triển nhất định Điều dó có nghĩa làchính sách thuế được thực hiện bằng cách thiết lập hệ thống thuế, cải cách thuế vàủung cố hệ thống thuế
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng cómối quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nướctrong từng thời kỳ[35]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 141.1.5.2 Phân loại thuế
Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luậtthuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệthống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khácnhau, gọi là phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuếthành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mụctiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dungcác Luật thuế có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thôngthường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
+ Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhànước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần
thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đốivới người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗngười nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một
bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất,kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế Ởnước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt [30]
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của
các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theoquy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp độngviên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm:thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuếchuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp [30]
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại này thuế được chia
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15thành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia
tăng, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc
biệt Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Thuế đánh vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào
việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sửdụng đất, sử dụng vốn của Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa pháthuy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiệnmột cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế [30]
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng(GTGT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
(Điều 1- Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9)
Giá trị gia tăng = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra – Giá trị hàng hoá,dịch vụ mua vào tương ứng
* Thuế giá trị gia tăng có đặc điểm sau
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hànghoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch
vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp
Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó Tổng số thuế GTGT thuđược ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêudùng cuối cùng [11]
Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng Tuynhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâubán hàng trung gian Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế Tổng số thuếngười tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạncủa quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Đặc điểm này cho thấy thuế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16GTGT có ính ưu việt hơn so với các loại thuế gián thu khác, khắc phục được nhượcđiểm thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế” [11].
* Thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng vì:
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao Tính trung lập biểu hiện ởhai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanhcủa người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp
hộ khoản thuế này vào NSNN; Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quátrình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cảcác giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể sốgiai đoạn nhiều hay ít
Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ratrong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ
- Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ
mô đối với nền kinh tế Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của Ngân sách nhànước Thuế giá trị gia tăng tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngânsách nhà nước
Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùnghàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT
Thuế GTGT không trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêmcủa hàng hoá, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, không tính vàophần giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trướcđược tính khấu trừ ở khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tưphát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sảnxuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường[11]
Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%,
DN xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâuxuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước
Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng từ vàthanh toán qua ngân hàng
Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là “thuế chồng lên thuế”; thuếGTGT có nhiều ưu điểm, tác dụng tích cực thúc đẩy tốc độ giao dịch, khuyến khíchsản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN [11].
1.2.2 Nội dung cơ bản Luật thuế giá trị gia tăng
Luật thuế GTGT gồm một số nội dung cơ bản như sau:
Phạm vi áp dụng thuế giá trị gia tăng
- Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cánhân ở nước ngoài)
- Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụchịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinhdoanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hànghoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu)đều là đối tượng nộp thuế GTGT[31]
- Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
Gồm 26 loại hàng hoá dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT Cơ sở kinhdoanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch
vụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịuthuế giá trị gia tăng này mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyênvật liệu hoặc chi phí kinh doanh[31]
Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế
- Giá tính thuế giá trị gia tăng
+ Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ màngười mua đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho người bán
+ Thời điểm để xác định giá tính thuế GTGT là thời điểm cơ sở kinh doanh
đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá, dịch vụ (đối với trường hợpxây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục côngtrình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành), không phân biệt đã thu được tiềnhay chưa thu được tiền[31]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18- Thuế suất thuế giá trị gia tăng
Thuế suất hiện nay Việt nam đang áp dụng các mức 0%; 5%; 10%; 20%
- Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Luật thuế GTGT hiện hành quy định việc tính thuế GTGT phải nộp có thểthực hiện bằng một trong 2 phương pháp: phương pháp khấu trừ và phương pháptính trực tiếp trên GTGT [31]
* Phương pháp khấu trừ thuế Áp dụng cho các cơ sở SXKD thực hiện tốt chế độ
kế toán, hoá đơn chứng từ
Trong đó: + Thuế GTGT đầu ra bằng (=) Giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ
nhân (x) Thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó
+ Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá
đơn GTGT mua hàng dùng cho SXKD hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuếGTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu
** Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Áp dụng cho các cơ sở SXKD chưa
đáp ứng được đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ; Cơ sở kinh doanh mua, bánvàng, bạc, đá quý
Số thuế GTGT
GTGT của hàng hóa,dịch vụ chịu thuế
Thuế suất thuế GTGT củahàng hóa, dịch vụ đó
Có 3 cách xác định GTGT của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ cóhoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán:
GTGT của hàng hoá,
dịch vụ bán ra =
Doanh số của hànghoá, dịch vụ bán ra -
Giá vốn của hàng hoá,dịch vụ bán raTrường hợp cơ sở SXKD không hạch toán được doanh số mua vào:
Doanh số tồncuối kỳ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19- Đối với CSKD đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa, dịch
vụ, xác định được đúng doanh số bán, không có đủ hoá đơn mua hàng:
Hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ
Cơ sở kinh doanh khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện chế độ hoáđơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấutrừ thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hoá đơnGTGT (trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán làgiá đã có thuế GTGT)
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bánhàng hoá, dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng
- Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quyđịnh trên hoá đơn Đối với hoá đơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT,phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã cóthuế; nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chunggiá thanh toán thì thuế GTGT đầu ra phải tính trên giá thanh toán[31]
1.3 QUẢN LÝ THUẾ
1.3.1 Khái niệm Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực
hiện những quy định trong Luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuếvào ngân sách nhà nước theo luật định [35]
Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị; nhưng dướigóc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù dưới góc độ nào đichăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằmđạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20Quản lý thuế là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan thuế Nhà nướccác cấp trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức,quản lý, điều hành các hoạt động thu thuế của Nhà nước Nói cách khác, quản lýthuế chính là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ítnhất một bên có thẩm quyền hành chính Nhà nước trong quan hệ chấp hành, điềuhành Quản lý thuế là hoạt động đảm bảo thực thi chính sách thuế trong thực tế,trong đó vai trò của cơ quan thuế rất quan trọng khi tác động lên ĐTNT để đảm bảotính hiệu lực – đáp ứng mục đích thu cho NSNN Quản lý thuế chủ yếu được thựchiện bởi hệ thống cơ quan thuế Nhà nước: Tổng cục Thuế ở Trung ương, Cục thuế,Chi cục Thuế ở các địa phương[35].
1.3.2 Nội dung quản lý thuế
Để huy động các khoản thu vào NS, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết, nhànước cần ban hành các chính sách thuế và để đưa được các chính sách thuế vàocuộc sống thì phải có hệ thống quản lý thuế để tổ chức thực thi chính sách thuế.Giữa hai nội dung này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hệ thống chính sách thuế là
cơ sở tiền đề để hình thành hệ thống quản lý thuế và ngược lại hệ thống QLT là nơi
tổ chức thực hiện chính cách thuế
Theo Điều 3 Luật quản lý thuế được Quốc hội nước CHXHCNVN thông quatại kỳ họp thứ 10, khoá XI, nội dung quản lý thuế gồm :
- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
- Quản lý thông tin về người nộp thuế
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Các quy định của Luật QLT đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chếQLT mới, cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21của NNT Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hổ trợngười nộp thuế Cơ quan thuế chuyển sang thực hiện chức năng tuyên truyền, hỗ trợngười nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế [36].
Các nội dung trên được cụ thể hoá bằng các quy trình cụ thể để quản lý thuthuế theo chức năng Hiện nay ngành thuế đã triển khai thực hiện 5 quy trình quản
lý thuế : Đăng ký, kê khai thuế; Kiểm tra thanh tra; Miễn giảm thuế; Hoàn thuế;Quản lý nợ thuế
Việc quy định rõ vai trò, nhiệm vụ, chức năng của từng Đội thuế trong côngtác QLT thuế đối với các DN nhằm hạn chế các tiêu cực cũng như tạo điều kiệnthuận lợi nhất cho DN thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế, tuy nhiên "Hệthống mẫu biểu, văn bản, các quy trình hướng dẫn chưa đồng nhất, chưa kịp thờidẫn đến khó khăn trong việc hướng dẫn, hổ trợ NNT thực hiện tốt nghĩa vụ vớiNSNN" [33]
1.3.2.1 Đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế
+Đăng ký nộp thuế
- Cơ sở kinh doanh, kể cả các công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửahàng trực thuộc cơ sở kinh doanh chính phải đăng ký nộp thuế với Cục thuế hoặcChi cục thuế nếu là cá nhân kinh doanh về địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinhdoanh, lao động, tiền vốn, nơi nộp thuế và các chỉ tiêu liên quan khác theo mẫuđăng ký nộp thuế và hướng dẫn của cơ quan thuế[37]
Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế chậm nhất là 10 ngày
kể từ ngày cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấpcon dấu; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhnhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh
Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh,chuyển trụ sở kinh doanh sang các địa điểm khác, sáp nhập, giải thể, phá sản, hợpnhất, chia, tách hay thành lập các Công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàngmới phải đăng ký bổ sung với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sựthay đổi đó[37]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22- Cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương(tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nhưng có cơ sở hạch toán phụ thuộc, nhưCông ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực tiếp bán hàng ở một địaphương khác thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế nơi đóngtrụ sở, các cơ sở hạch toán phụ thuộc cũng phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơquan thuế địa phương nơi cơ sở phụ thuộc đóng trụ sở Riêng các tổ chức, cá nhânthực hiện dịch vụ tư vấn, khảo sát, thiết kế hoặc các hợp đồng tư vấn, dịch vụ đăng
ký, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi đóng trụ sở[37]
- Cơ sở xây dựng, lắp đặt phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế địa phươngnơi đóng trụ sở Trường hợp xây dựng, lắp đặt các công trình ở địa phương khác(tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) do các cơ sở phụ thuộc không có tư cáchpháp nhân như tổ, đội, ban quản lý công trình thực hiện thì cơ sở xây dựng đồngthời phải đăng ký, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi xây dựngcông trình[37]
- Cơ sở thực hiện cơ chế khoán cho tập thể, cá nhân kinh doanh theo phươngthức tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh thì tập thể, cá nhân nhận khoán phảitrực tiếp đăng ký, kê khai, nộp thuế GTGT với cơ quan thuế nơi kinh doanh
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếptrên giá trị gia tăng, nếu thực hiện được đúng, đủ các điều kiện mua, bán hàng hoá,dịch vụ có đầy đủ hoá đơn, chứng từ, ghi chép hạch toán sổ kế toán đúng chế độ, kêkhai, nộp thuế GTGT đúng chế độ và tự nguyện đăng ký thực hiện nộp thuế GTGTtheo phương pháp khấu trừ thuế thì được áp dụng tính thuế theo phương pháp khấutrừ thuế Cơ sở phải lập và gửi bản đăng ký nộp thuế cho cơ quan thuế nơi cơ sởđăng ký nộp thuế Cơ quan thuế khi nhận được đăng ký của cơ sở có trách nhiệmkiểm tra, thông báo kịp thời cho cơ sở về việc được áp dụng hay không được ápdụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT (nêu rõ lý do không được ápdụng) trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở
Cơ sở chỉ được thực hiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ khi được cơ quanthuế thông báo cho áp dụng[37]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23Những cá nhân (hộ) kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháptính trực tiếp trên GTGT đã được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừthuế, nếu trong quá trình thực hiện, cơ sở không thực hiện đúng các điều kiện quyđịnh thì cơ quan thuế áp dụng biện pháp ấn định thuế phải nộp và ra thông báo đìnhchỉ việc nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
- Cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế: Các cơ sở kinh doanh đã thực hiệnđăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm cấp mã số thuế vàgiấy chứng nhận đăng ký thuế cho cơ sở kinh doanh Đối với các chủ dự án (hoặcđại diện được uỷ quyền như ban quản lý công trình), nhà thầu chính nước ngoài làđối tượng được hoàn thuế GTGT chưa có mã số thuế phải làm thủ tục với Cục thuếnơi đóng trụ sở để được cấp mã số thuế[37]
+ Kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp ngân sách Nhà nước
Cơ sở sản xuất, kinh doanh và người nhập khẩu hàng hoá phải kê khai thuếGTGT phải nộp theo quy định như sau:
Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT phải lập và gửi cho cơquan thuế tờ khai tính thuế GTGT từng tháng kèm theo bảng kê hàng hoá, dịch vụmua vào, bán ra theo mẫu quy định Thời gian gửi tờ khai của tháng cho cơ quanthuế chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu
tờ khai thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai Trường hợp cơ
sở kinh doanh đã gửi tờ khai cho cơ quan thuế, sau đó phát hiện có sự sai sót về sốliệu kê khai trước thời hạn nộp thuế, cơ sở phải thông báo cho cơ quan thuế biếtđồng thời lập lại tờ khai thay cho tờ khai không đúng Trường hợp phát hiện sai sótsau thời hạn nộp thuế thì cơ sở điều chỉnh vào tờ khai của tháng tiếp sau[37]
+ Nộp thuế, quyết toán thuế giá trị gia tăng
Đối tượng nộp thuế GTGT có trách nhiệm nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạnvào Ngân sách Nhà nước (NSNN) Trình tự, thủ tục nộp thuế thực hiện như sau:
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sau khi nộp tờkhai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan Thuế phải nộp thuế giá trị gia tăng vào NSNN.Thời hạn nộp thuế của tháng chậm nhất không quá ngày 20 của tháng tiếp theo
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Đối với cơ sở kinh doanh có mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng làm thủtục nộp thuế bằng giấy nộp tiền vào NSNN, thời gian nộp thuế vào NSNN được tính
từ ngày Ngân hàng nhận và làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản của cơ sở vàoNSNN, được Ngân hàng ghi trên giấy nộp tiền vào NSNN Đối với cơ sở kinhdoanh nộp thuế bằng tiền mặt, thời gian nộp thuế vào NSNN là ngày cơ quan Khobạc hoặc cơ quan Thuế nhận tiền thuế[37]
Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế GTGT còn thiếu vào NSNNsau 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán thuế, nếu nộp thừa được trừ vào sốphải nộp của kỳ tiếp sau, hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thuộc trường hợp và đốitượng được hoàn thuế
1.3.2.2 Hoàn thuế giá trị gia tăng
Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừthuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
+ Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt theo quýcủa năm dương lịch cũng như niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấutrừ hết Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gianxin hoàn thuế Trường hợp này áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh có đầu tư mới, đầu
tư chiều sâu[37]
+ Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số
thuế GTGT đầu vào của hàng hoá xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấutrừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng Cơ sở kinh doanhtrong tháng vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trongnước, nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trongtháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên, nhưng sau khi bù trừ với số thuếGTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, nếu số thuế GTGT đầu vàochưa được khấu trừ trên tờ khai thuế GTGT của tháng phát sinh nhỏ hơn 200 triệuđồng thì cơ sở kinh doanh không được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGTđầu vào chưa được khấu trừ trên tờ khai thuế GTGT của tháng phát sinh từ 200 triệu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25đồng trở lên (thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết bao gồm cả thuế đầu vàocủa hàng hoá, dịch vụ bán trong nước) thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGTtheo tháng Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp, hàng hoáxuất khẩu để thực hiện dự án đầu tư ra nước ngoài, đối tượng hoàn thuế là cơ sở cóhàng hoá uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, doanh nghiệp đầu tư ranước ngoài hoặc doanh nghiệp được uỷ thác xuất khẩu[37].
- Đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộpthuế theo phương pháp khấu trừ thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạtđộng, chưa phát sinh thuế đầu ra, và thời gian đầu tư từ một năm trở lên thì cơ sởkinh doanh vẫn phải lập tờ khai thuế hàng tháng và được xét hoàn thuế đầu vào theotừng năm dương lịch Nếu số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn cógiá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo quý (3 tháng liên tụckhông phân biệt theo năm dương lịch) [37]
- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấutrừ thuế có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vàohoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh phải lập
tờ khai thuế mẫu số 01B/GTGT, lập hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư theotừng năm, nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ
200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý (3 tháng liên tục không phân biệttheo năm dương lịch) Khi dự án đầu tư thành lập doanh nghiệp mới đã hoàn thành
và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh
là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế GTGT phát sinh, số thuế GTGT đã hoàn,
số thuế GTGT chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thànhlập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế GTGTtheo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp[37]
- Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giảithể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước
có thuế GTGT nộp thừa, số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết
- Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩmquyền theo quy định của pháp luật
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26- Việc hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA thực hiệntheo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.
- Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoànlại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ thìđược hoàn lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng [37]
1.3.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Đối tượng của kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và các cá nhân
có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và chính bản thân các đơn vị thuộc ngành thuế
Mục đích của thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát hiện những sai sót để từ đó
có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế nhằm hạn chế mứcthấp nhất tình trạng thất thu về thuế cho Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành phápluật thuế cho các ĐTNT và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế; phát hiệncác nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn nhằmkiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống thuế
Yêu cầu của công tác kiểm ta, thanh tra là phải đảm bảo tính khách quan,trung thực, chính xác, rõ ràng trong việc xem xét và đưa ra các kết luận sau kiểmtra, thanh tra; Kiểm tra, thanh tra thuế phải dựa vào các văn bản pháp quy của Nhànước để tiến hành[37]
Nội dung của công tác thanh kiểm tra thuế tập trung vào việc cháp hànhnhững quy định về đăng ký, kê khai nộp thuế, chế độ thống kê - kế toán, hoá đơnchứng từ; thanh kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
Thật ra công tác quản lý thu thuế không chỉ là một số nghiệp vụ chủ yếunhư nêu trên mà là cả một quy trình quan hệ phối hợp giữa sự lãnh đạo của chínhquyền các cấp, giữa các Sở, Ngành và Cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong tất
cả các khâu công việc của công tác quản lý thu thuế đến từng đối tượng nộp thuế
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐỂ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
Thuế không chỉ được sử dụng để tập trung nguồn thu cho NSNN mà còn làmột trong những công cụ quan trọng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Để huy độngmột bộ phận GDP vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước cần ban
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27hành các chính sách thuế (Hệ thống chính sách thuế) Nhưng muốn đưa các chínhsách thuế vào đời sống xã hội phải thông qua hệ thống quản lý thuế để tổ chức thựcthi các chính sách thuế Hệ thống quản lý thuế bao gồm: Cơ cấu tổ chức bộ máy,các quy trình quản lý về nghiệp vụ và lực lượng đội ngũ cán bộ công chức[6].
Trước yêu cầu của sự nghiệp cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, có rất nhiềuchỉ tiêu thống kê phản ánh về chất lượng QLT Xuất phát từ yêu cầu của công tácQLT, căn cứ vào vai trò, ý nghĩa cũng như đặc điểm của chỉ tiêu, để đánh giá về chấtlượng QLT của từng địa phương, cần thiết phải sử dụng 5 chỉ tiêu [6]
- Mức độ hoàn thành dự toán được giao Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độhoàn thành nhiệm vụ chính trị tập trung nhất, tổng quát nhất của từng cơ quan thuế.Trong phạm vi một địa phương, sự biến động của chỉ tiêu này có xu hướng và quan
hệ khá chặt chẽ với các chỉ tiêu phát triển kinh tế của địa phương đó Mức độ hoànthành dự toán phản ánh khá rõ nét chất lượng QLT của địa phương
Mức độ hoàn thành (%) = Số thuế thực hiện/ Dự toán được giao
- Tốc độ tăng thu Tốc độ tăng thu của địa phương cao hay thấp không chỉphản ánh sự tăng lên của từng ngành, từng thành phần kinh tế mà còn phản ánh sựthay đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khả năng khai thác của từng nguồn thu củatừng địa phương
Tốc độ
=
Số thu năm nay – Số thu năm trước
- Tỷ lệ thu Ngân sách và GDP hoặc VA tính theo giá thực tế Chỉ tiêu nàyđặc trưng cho quan hệ so sánh giữa tổng thu NSNN và chỉ tiêu GDP tính theo giáthực tế Chỉ tiêu này được xác định là một trong những chỉ tiêu chủ yếu để đánh giáphát triển kinh tế và khả năng động viên NS địa phương
Tỷ lệ huy động (%) = Số thuế thực hiện / Giá trị tăng thêm (VA)
- Tỷ lệ nợ trên tổng số thu NS Nợ thuế là một tiêu chí, một thước đo QLT
và năng lực tài chính của NNT Với các điều kiện pháp lý, tổ chức bộ máy và nhân
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28lực như hiện nay, công tác QL nợ và cưởng chế nợ thuế có thể gánh vác đượcnhiệm vụ, trọng trách, đảm bảo số nợ thuế giảm đến mức hợp lý Đáp ứng yêu cầucủa ngành thuế, tỷ lệ nợ dưới 5% trên tổng số thu của ngành thuế.
Tỷ lệ nợ (%) = Số thuế còn nợ / Tổng số phải nộp
- Tỷ lệ đối tượng quản lý thu so với số đối tượng đăng ký hoạt động Theoquy định các đối tượng đã đăng ký KD, được cấp MST phải được vào quản lý đầy
đủ, kịp thời
Tỷ lệ số DN quản lý = Số DN khai thuế / Tổng số DN đăng ký thuế
- Ngoài các chỉ tiêu trên, khi nghiên cứu đánh giá chất lượng QLT, có thểxem xét, phân tích các chỉ tiêu khác như :
+ Mức thu bình quân một DN trên từng địa bàn;
+ Số thu bình quân cho từng CBCC thuế;
+ Tình hình thu từng khu vực
+ Hiệu quả quản lý thuế (H) = Tổng số thuế thu được (M)/ Tổng chi phí (C);
Tính hiệu quả của thuế được thể hiện trên hai góc độ : Hiệu quả về hành thu
và hiệu quả về kinh tế - Xã hội
Hiệu quả về hành thu thể hiện tiết kiệm chi phí tổ chức QL thu và hiệu suấtthu cao, hạn chế tối đa các hành vi trốn thuế và tránh thuế
Hiệu quả về kinh tế - Xã hội thể hiện tiết kiệm được chi phí tuân thủ củaNNT tức là tiết kiệm được thời gian, công sức, các chi phí khác cho việc thực hiệncác thủ tục về thuế đồng thời phát huy vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế,khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng của Nhà nước, thúc đẩy sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực [19]
Hiện nay Tổng Cục Thuế chủ yếu dùng chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành dựtoán được giao để đánh giá chất lượng QLT của từng Cục Thuế địa phương Đây là chỉtiêu phản ánh khách quan công tác thu thuế của các cơ quan thuế địa phương, là chỉ tiêuđơn giản, hiệu quả song cũng có những bất cập ở việc xây dựng kế hoạch thu NSNN chotừng địa phương là công việc rất khó chính xác, chưa sát nguồn thu trên địa bàn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 291.5 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1.5.1 Hệ thống chính sách, pháp luật thuế
Hệ thống chính sách, pháp luật thuế được áp dụng thống nhất đối với mọithành phần kinh tế phải đảm bảo được sự động viên đóng góp bình đẳng và thựchiện công bằng xã hội Hệ thống thuế phải thực sự khuyến khích mọi thành phầnkinh tế, mọi ngành nghề kinh doanh, các tổ chức và cá nhân bỏ vốn, lao động, đầu
tư trang thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh theoquỹ đạo của kế hoạch nhà nước [30]
Hệ thống thuế mang tính chấp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có thểvừa gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước Ngược lại, hệ thốngchính sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong thời gian dài tạo điềukiện nâng cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công dân đối với thuế, tranh thủđược sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp dân cư và tự giác chấp hành luậtthuế, từ đó tác dụng thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện nghiêm chế độ kế toán,hoá đơn chứng từ [30]
1.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế
Yếu tố này có vai trò quan trọng mang tính quyết định cho việc thực thi chủtrương, chính sách, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc cải cách thuế Hệ thống bộmáy quản lý thuế phải được kiện toàn, củng cố để có đủ điều kiện thực hiện có hiệuquả các chức năng, nhiệm vụ của cả hệ thống thuế Bộ máy quản lý thuế phải thốngnhất từ trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực của cả hệ thống trong quátrình triển khai hệ thống chính sách thuế mới [33]
1.5.3 Công tác tin học
Khối lượng công việc quản lý thu thuế là rất lớn, chi phí rất cao và ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả thu ngân sách nhà nước Phương pháp càng tiến bộ thìkết quả quản lý thu thuế càng cao Do vậy, việc ứng dụng công nghệ tin học là mộtkhả năng tốt nhất có tác dụng mạnh trong việc đẩy mạnh cải cách thuế và phát huynhững tiến bộ của ngành thuế trong công tác quản lý và thu thuế hiện nay [33]
Đặc điểm của công tác quản lý thuế là phải quản lý trực tiếp đến từng đối
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30tượng nộp thuế theo nhiều loại sắc thuế với số lượng đối tượng nộp thuế rất lớn màtheo quy định thì tất cả các chứng từ hoạt động kinh doanh, kê khai nộp thuế, căn cứtính thuế, thông báo thuế phải lưu giữ là nguyên tắc bắt buộc Do vậy, nếu làm bằngphương pháp thủ công thì sẽ cần rất nhiều nhân lực và chi phí cao Mặt khác, sự saisót, chậm trễ trong việc tính thuế và cung cấp thông tin để chỉ đạo hành thu sẽ cónhiều khả năng tạo ra kẽ hở để thất thu thuế, tiêu cực trong công tác quản lý thuthuế Nếu ứng dụng tốt công tác tin học sẽ tự động hoá các khâu công việc trên vàtheo một quy trình chặt chẽ sẽ nâng cao tính pháp lý và hiệu quả sẽ rất tốt trongcông tác quản lý hành thu thuế hiện nay [33].
1.5.4 Công tác tuyên truyền chính sách thuế
Các chính sách chế độ, luật, pháp lệnh về thuế chỉ có thể thực thi một cáchđầy đủ, thống nhất khi công tác phổ biến giáo dục được triển khai sâu rộng trongquảng đại quần chúng Mọi tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ các quy định,những việc phải làm và mức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành vi trốn lậu thuế, khôngchấp hành nghiêm việc kê khai, đăng ký thuế; vi phạm về sử dụng hoá đơn chứng
từ, sổ sách kế toán, dây dưa nợ đọng trốn thuế Tăng cường công tác phổ biến, giáodục pháp luật về thuế còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ củacông dân đối với nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thicác chính sách, pháp luật về thuế, đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội [33]
1.5.5 Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng
Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước Là công cụquan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay nói một cách khác thuế
là một phạm trù kinh tế - chính trị tổng hợp, do đó thực hiện chính sách thuế khôngphải là công việc đơn phương của ngành thuế Cần có sự phối hợp với các đoàn thể
và cơ quan có liên quan để triển khai đồng bộ việc thi hành chính sách thuế với cácchính sách khác và quản lý kinh tế- xã hội trên địa bàn [36]
Cần phát huy chức năng của các toà án hành chính kinh tế trong việc giảiquyết các tranh chấp giữa cơ quan thuế và người nộp thuế bảo đảm tính khách quantrong việc thực hiện đầy đủ các quy định về thuế của nhà nước [36]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31+ Trình độ nhận thức và ý thức chấp hành luật thuế của nhân dân Nhà nướcđưa được công tác thuế vào quần chúng nhân dân là công việc rất quan trọng gópphần phát huy tác dụng của chính sách thuế; nâng cao tính pháp lý của hệ thốngchính sách thuế; giáo dục tính tự giác về nghĩa vụ nộp thuế và quyền lợi đượchưởng về thuế, tạo điều kiện giúp thuế trở thành công cụ mạnh mẽ trong trong điềukhiển kinh tế quốc gia Nếu trình độ nhận thức và ý thức chấp hành thuế của quầnchúng nhân dân cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế đồng thờiqua sự phản hồi những vấn đề bất hợp lý sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống chínhsách, pháp luật về thuế [36].
1.5.6 Sự tuân thủ chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ, quan hệ thanh toán
Công tác kế toán, sử dụng hoá đơn, chứng từ ảnh hưởng rất lớn đến công tácthu thuế GTGT Việc thực hiện chế độ kế toán, sử dụng hoá đơn, chứng từ trongtoàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh được coi là điều kiện bắt buộc thì côngtác thu thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng mới đạt hiệu quả cao
Hình thức thanh toán trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến công tác thu thuếGTGT Việc thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay đang gây khó khăn cho việckiểm soát doanh thu của cơ quan thuế Do đó phải qui định bắt buộc hình thức thanhtoán qua ngân hàng mới hạn chế được tình trạng trốn thuế, gian lận thuế[36]
1.5.7 Công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý Nhà nước
Công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan Nhà nước có vai trò đảm bảocông bằng trong xã hội và sự công minh của pháp luật Nó làm tăng ý thức chấphành nghĩa vụ nộp thuế của ĐTNT cũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ thuế,góp phần ngăn chặn tình trạng tiêu cực, gian lận Các trường hợp vi phạm phải xử
lý kịp thời, nghiêm minh mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối tượng vi phạm
1.5.8 Qui trình quản lý thu thuế
Qui trình quản lý thu thuế qui định trình tự, thủ tục các bước công việc phảilàm để quản lý thu thuế Việc ban hành qui trình quản lý giúp cho cơ quan thuế chỉđạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo mộttrình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hoá, côngkhai minh bạch và rõ ràng để các cán bộ thuế, đối tượng nộp thuế dễ thực hiện [36]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32Tóm lại, công tác quản lý thu thuế có nhiều nhân tố tác động, chúng ta cầnchú trọng đến những nhân tố cơ bản nhất, nhưng cũng không nên bỏ qua những yếu
tố khác về kinh tế-xã hội và tác động của môi trường
1.6 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH, DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.6.1 Đặc điểm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
- Đặc điểm cơ bản của khu vực ngoài quốc doanh là mang tính sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất, tính tư hữu cao và hoạt động theo cơ chế thị trường vớimục đích chính là mưu cầu lợi nhuận Khu vực ngoài quốc doanh bao gồm cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh (Công ty CP, Công ty TNHH, DNTN, HTX) và hộkinh doanh cá thể
- Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thường mang tính tựphát và có nhiều biến động phụ thuộc vào cung cầu thị trường hàng hoá, vào nhữngchính sách của Nhà nước trong việc khuyến khích hay hạn chế phát triển
- Quy mô sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp thường nhỏ, vốnthường tập trung chủ yếu ở một số ngành như xây dựng, thương mại, dịch vụ Tuynhiên số lượng các đơn vị sản xuất kinh doanh trong khu vực này rất lớn Các doanhnghiệp hoạt động thường có tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinhdoanh, dễ thích nghi với hoàn cảnh và yêu cầu của nền kinh tế
- Ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp ở khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh thường không cao, thể hiện qua việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng
từ mua bán hàng hoá chưa đầy đủ, không theo đúng quy định của Nhà nước, nếu cóchỉ mang tính chất đối phó Việc giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ chủ yếu bằngtiền mặt, rất ít trường hợp thanh toán qua Ngân hàng [25]
1.6.2 Vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳngđịnh những đóng góp trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Với mục tiêu đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hoáhiện đại hoá, kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI tháng 12 năm
1986, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Thực hiện
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng đểphát triển nền kinh tế nhiều thành phần, kinh doanh theo cơ chế thị trường có sựquản lý vĩ mô của Nhà nước Đảng và Nhà nước tạo ra những hành lang pháp lýthuận lợi giúp cho các khu vực kinh tế phát huy hiệu quả của mình Nhờ những chủtrương, chính sách đúng đắn của Nhà nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngàycàng phát triển với cơ cấu đa dạng Sự hình thành và phát triển của kinh tế ngoàiquốc doanh đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Bằng những chính sách ưu tiên và động viên hợp lý đối với khu vực kinh tếngoài quốc doanh, một phần lớn vốn nhàn rỗi trong xã hội đã được đưa vào kinhdoanh đúng mục đích và có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế đất nước, đẩynhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Với quy mô và hình thức kinh doanh ngày càng phong phú, khu vực kinh tếngoài quốc doanh đã và đang góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm và
thu nhập cho người lao động Đặc biệt là sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh với mọi loại hình, mọi quy mô, mọi loại ngành nghề đã huy động mọi nguồn lực sử dụng cho SXKD tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh
có vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho NSNN Với số lượng lớn doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề đã đem lại một nguồn thu lớn cho NSNN Đây là tiềm năng to lớn của nền kinh tế Nếu có cơ chế quản lý tốt thì mức động viên đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ ổn định và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN.
Xuất phát từ vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng của thành phần kinh tếngoài quốc doanh đối với nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đang tạo mọi điều kiện đểkhu vực kinh tế này ngày càng phát triển và đưa nó trở thành một khu vực kinh tếquan trọng, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế của đất nước [25]
1.6.3 Thất thu thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong những năm qua, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cả nước nóichung, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đã phát triển không ngừng và đã đạt nhữngthành tựu đáng khích lệ, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34Tỉnh Thành công này đã khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển kinh
tế nhiều thành phần của Ðảng và Nhà nước
Sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọngtrong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động,nhất là cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh trong từngvùng, từng ngành, từng lĩnh vực…
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã khơi dậy, huy động và khai thác mộttiềm năng to lớn về tiền vốn, sức lao động, trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinhdoanh và các nguồn lực khác vào phát triển kinh tế, góp phần quan trọng vào sựphát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng caocủa nhân dân trong Tỉnh và Thành phố
Mặt trái của nền kinh tế thị trường là việc chạy theo lợi nhuận, chính vì vậy
mà các cơ sở kinh tế ở khu vực ngoài quốc doanh này thường xem nhẹ việc chấphành pháp luật về thuế Họ thường tìm cách để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, một sốdoanh nghiệp còn cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật thuế trốn thuế, gian lận thuế
Thất thu thuế làm cho mục đích thu NSNN từ thuế không đạt được, gây khó khăn cho
kế hoạch chi tiêu của nhà nước để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.
Một số thủ đoạn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường sử dụng để trốnthuế, gian lận thuế GTGT đó là:
- Bán hàng không xuất hoá đơn từ đó không kê khai doanh thu tính thuế.
- Bán hàng ghi hoá đơn thấp hơn giá bán thực tế cho khách hàng, thấp hơn hoặc bằng giá vốn mua vào, do đó phần GTGT phát sinh thấp hơn so với thực tế, không phát sinh thuế GTGT, hoặc phát sinh thuế GTGT âm.
- Bán hàng phản ánh trên hoá đơn các liên không giống nhau, liên 1 dùng để
kê khai nộp thuế doanh thu ít hơn so với liên 2 giao cho khách hàng.
- Lợi dụng thuế suất GTGT qui định chưa rõ ràng cụ thể do đó áp dụng thuế suất thuế GTGT không đúng làm giảm số thuế phải nộp.
- Kê khai thuế GTGT đầu vào để khấu trừ không đúng theo qui định của Luật thuế Thường là kê khai hàng hoá dịch vụ mua vào không dùng cho kinh doanh như sinh hoạt gia đình và các mục đích khác.
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35- Không phân bổ hoặc phân bổ thuế GTGT không đúng cho hàng hoá dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế.
- Kê khai thuế GTGT đầu vào để khấu trừ của các hoá đơn bất hợp pháp Xin hoá đơn của các DN bán lẽ để kê khai khấu trừ thuế.
Trong đó hình thức thông thường, phổ biến và dễ thấy nhất là việc doanh nghiệp lợi dụng khách hàng không lấy hoá đơn khi mua hàng hoá dịch vụ để trốn thuế như không kê khai doanh thu tính thuế hoặc kê khai không đúng doanh thu thực tế.
Thất thu thuế làm giảm nguồn thu NSNN, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệuquả của các luật thuế, gây mất công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuếcủa người dân, tạo ra ý thức coi thường kỷ cương pháp luật thuế, gây ra cạnh tranhkhông lành mạnh giữa các DN, sự thiếu tin tưởng của người nộp thuế vào cơ quanNhà nước [35]
Những tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: cơ chế chính sáchthuế vẫn còn nhiều hạn chế chưa quy định chi tiết, cụ thể; giữa các luật có khikhông đồng bộ gây khó khăn cho công tác thực hiện Công tác quản lý thuế vẫn cònnhiều mặt yếu kém, đội ngũ cán bộ thuế vẫn có những cán bộ chưa thực sự nắmchắc chuyên môn nghiệp vụ còn thụ động, thiếu kiên quyết, lúng túng, chưa cóbiện pháp cứng rắn trong quá trình xử lý các trường hợp vi phạm
Qua sự phân tích trên cho thấy việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuthuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD là rất cần thiết đòi hỏi phải có nhiều giảipháp đồng bộ mới có thể nâng cao hiệu quả của công tác này, góp phần chống thấtthu, tăng thu ngân sách, hạn chế sự vi phạm của các doanh nghiệp, đồng thời giúpNhà nước quản lý và điều tiết các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chungđúng định hướng xã hội chủ nghĩa
1.7 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ GTGT CỦA THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.7.1 Trên Thế Giới
- Thuế GTGT ở Thuỵ Điển
Thuế GTGT được áp dụng ở Thuỵ Điển từ ngày 01/01/1960 để thay thế chothuế Doanh thu và hổ trợ xuất khẩu Thuế GTGT của Thuỵ Điển với những nộidung cơ bản sau:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36* Đối tượng chịu thuế: Lúc đầu khi mới được ban hành vào năm 1960, thuếGTGT ở Thuỵ Điển chỉ đánh vào một số mặt hàng và dịch vụ Đến ngày01/01/1969 thì áp dụng cho tất cả các mặt hàng hoá, dịch vụ từ khâu sản xuất đếnlưu thông, phân phối (kể cả hàng nhập khẩu và hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ).
* Đối tượng không chịu thuế: Tính đến năm 1992, chính sách thuế GTGT củaThuỵ Điển quy định 29 loại hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế như:Xuất khẩu, giáo dục , coi trẻ, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, hội hoạ, mỹthuật, điêu khắc, hoạt động lưu trữ, viện bảo tàng, tem thư, sách báo, tạp chí, quàtặng, dịch vụ tang lễ, bác sĩ nha khoa
* Đối tượng nộp thuế: Tất cả mọi tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh cácmặt hàng, dịch vụ chịu thuế GTGT là đối tượng nộp thuế
* Căn cứ tính thuế: là doanh thu tính thuế và thuế suất
- Doanh thu tính thuế : Là toàn bộ doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ do ngườimua hàng trả Riêng đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ thì tính theo giá thịtrường; còn đối với hàng hoá nhập khẩu thì tính trên giá hàng nhập khẩu
- Thuế suất: Khi mới ban hành vào năm 1960 thuế GTGT áp dụng một mứcthuế suất 4% cho một số hàng hoá, dịch vụ Đếnngày 01/01/1969 được nâng lên là10% và áp dụng chung cho tât cả các lọại hàng hoá, dịch vụ Đến năm 1991 có bamức thuế suất là 4%, 12% và 20% Năm 1992 điều chỉnh lại còn hai mức thuế suất18% và 25% Mức thuế suất 18% áp dụng cho các ngành khách sạn, nhà hàng, thựcphẩm, vận tải giao thông công cộng; thuế suất 25% áp dụng cho các ngành còn lại.Riêng đối với hàng hoá xuất khẩu tuỳ thuộc diện không chịu thuế GTGT nhưng đượcthoái trả lại số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước (tương ứng với mức thuế suất %)
* Phương pháp tính thuế: là phương pháp kháu trừ thuế Thuế GTGT ở khâusau đựoc khấu trừ thuế đã nộp ở khâu trước thông qua hệ thống sổ sách kế toán, hoáđơn chứng từ đầy đủ Không có hình thức khoán thu[30]
* Kỷ luật thuế: Thuế GTGT hoàn toàn thu theo kê khai Quá ngày quy định cơ
sở không nộp tờ khai thuế GTGT sẽ bị phạt 15 ngày đầu bị phạt 2% trên tổng sốthuế phải nộp, từ trên 15 ngày bị phạt 5% trên tổng số tiền thuế phải nộp, mức phạtthấp nhất là 50 SEK Nếu chậm quá 3 đến 4 tuần, cơ quan thúe sẽ chuyển hồ sơsang cơ quan cưỡng chế thuế[30]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37- Thuế giá trị gia tăng ở Indonesia
Trước năm 1983, Indonesia áp dụng thuế Bán hàng, tính chất tương tự nhưthuế Doanh thu ở nước ta Đến năm 1983 Nhà nước Indonesia đã ban hành đạo luậtthuế GTGT Nhưng do trình độ quản lý của cán bộ Tổng cục thuế chưa cao và nhậnthức của người nộp thuế còn nhiều hạn chế,nên đến năm 1985 đạo luật thuế GTGTmới có hiệu lực thi hành Để phù hợp với khả năng quản lý cuả Tổng cục thuế vànhận thức của người nộp thuế, Nhà nước Indonesia có kế hoạch tổ chức thực hiệnluật thuế GTGT theo từng bước cụ thể như sau:
- Từ năm 1985 đến năm 1988: chỉ áp dụng đối với ngươi cung cấp hàng hoá(các DN sản xuất hàng hoá, dịch vụ, nhập khẩu) và các Tổng đại lý bao tiêu sảnphẩm, dịch vụ
- Từ năm 1989 đến năm 1991: Áp dụng thêm đối với Đại lý bán buôn
- Từ năm 1992: tiến hành áp dụng rộng rãi đến tất cả các cửa hàng bán lẻ vàngười tiêu dùng
Nội dung cơ bản của thuế GTGT ở Indonesia:
* Đối tượng chịu thuế và cách tính thuế:
- Thuế GTGT ở Indonesia thu đối với tất cả các hoạt động sản xuất, lưu thônghàng hoá và dịch vụ
- Cách tính thuế: Doanh thu tính thuế nhân (X) với thuế suất Khi nộp thuếđược khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước nếu có chứng từ hợp pháp Chứng từ hợppháp để khấu trừ thuế đã nộp ở khâu trước là các biên lai nộp thuế đã được nganghàng hoặc bưu điện hành tự[40]
+ Doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu bán hàng (bao gồm cả thuếGTGT)
+ Thuế suất: Thuế GTGT ở Indonesia có 2 thuế suát 0% và 10% (0%: áp dụngđối với hàng xuất khẩu, 10%: áp dụng đối với tất cả các hàng hoá, dịch vụ khác).Riêng các mặt hàng xa xỉ như: ô tô, vô tuyến, radio, bia, rượu ngoài thuế GTGT cònphải chịu thuế hàng hoá với mức thuế suất 35%
Đối tượng không chịu thuế GTGT: Về nguyên tắc thuế GTGT ở Indonesiakhông áp dụng đối với:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38- Hàng hoá không nhìn thấy (Không có hình dạng cụ thể): Điện, khí đốt.
- Hàng hoá là sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến: cá tươi, hoa quả Các dịch vụ sau đây không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT: Dịch vụ tìmkiếm dầu khí, y tế, dịch vụ xã hội; dịch vụ liên quan đến bưu điện, hàng không, tôngiáo, giáo dục; dịch vụ sân kháu không mang tính kinh doanh; dịch vụ đài phátthanh và vô tuyến; vận tải đường bộ và đường biển; vạn tải hàng không quốc tế;dịch vụ khách sạn[40]
Các hộ kinh doanh nhỏ, có doanh số dưới 60.000USD/năm không phải thựchiện nộp thuế GTGT
* Đối tượng nộp thuế: Người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người bán hàng) có
trách nhiệm nọp thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước Trường hợp người nhận hànghoá, dịch vụ (người mua hàng) là DN Nhà nước thì người mua hàng phải nộp thuếGTGT Ở trường hợp này người mua hàng chi trả cho người bán hàng, giá muahàng không có thuế, người mua hàng giữ lại phần thuế GTGT phải nộp để nộp vàokho bạc Nhà nước
* Kê khai nộp thuế:
- Đăng ký nộp thuế: Các chủ DN căn cứ quy định của Luật thuế GTGT, nếuthuộc đối tượng nộp thuế GTGT phải đến cơ quan thuế huyện đăng ký nộp thuế
- Nộp thuế: Đến định kỳ nộp thuế, người nộp thuế đến ngân hàng hoặc bưuđiện lập biên lai thu thuế và nộp thuế cho ngân hàng hoặc bưu điện Ngân hànghoặc bưu điện sẽ chuyển số thuế nộp cho kho bạc Nhà nước[40]
- Quyết toán thuế: đến kỳ quyết toán thuế, người nộp thuế phải làm báo cáoquyết toán thuế gửi cơ quan thuế, trong đó nêu rõ: số thuế phải nộp, số thuế đã nộp(kèm theo các biên lai nộp thuế), số thuế còn phải nộp hoặc thoái trả Nếu là thoáitrả thì ghi rõ hình thức thoái trả (trả bằng tiền mặt, cấn trừ vào số thuế phải nộp của
kỳ sau hoặc ủng hộ Nhà nước )
* Thực hiện chế độ sổ sách kế toán và hoá đơn: ở Indonesia, hoá đơn bán
hàng do các DN tự phát hành Các DN thực hiện thuế GTGT đều phải có sổ sách kếtoán rõ ràng, đầy đủ Riêng các DN nhỏ có doanh thu dưới 60.000 USD/ năm thì chỉcần theo dõi sổ doanh thu bán hàng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39Những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng thuế GTGT ở các nước.
Mặc dù có sự khác biệt khá lớn về chế độ chính trị, về điều kiện, hoàn cảnhkinh tế- xã hội, văn hoá và trình độ quản lý nhưng qua nghiên cứu về xây dựngLuật thuế GTGT ở các nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Namnhư sau:
Thứ nhất: Việc thiết kế, xây dựng một Luật thuế nói chung và Luật thuế GTGTnói riêng ngoài việc phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế, xã hội còn phảiphù hợp với đặc điểm, truyền thống văn hoá của mỗi nước, đồng thời phải tính đếnmối quan hệ tương quan với các nước trong khu vực và trên thế giới trong điều kiệncạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường để có được lợi ích tổng thể của quốc gia.Thứ hai: Việc áp dụng thuế GTGT có thể chia ra từng bước phù hợp với điềukiện kinh tế, xã hội và trình độ quản lý
Thứ ba: Tính công bằng trong các quy định của Luật là điều kiện cơ bản đểđạt được tính tuân thủ Khi tính tự tuân thủ được nâng cao sẽ làm giảm đáng kể chiphí hành chính thuế Như vậy ở một khía cạnh nào đó (xét hiệu quả về chi phí hànhchính thuế) thì tính công bằng trong các quy định của Luật sẽ làm tăng hiệu quả củasắc thuế
Thứ tư: Bảo đảm tính tự tuân thủ có ý nghĩa quan trọng trong công tác hànhchính thuế Để có được điều đó, ngoài các quy định rõ ràng, chi tiết và công bằng vềtrách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế thìLuật phải có chế tài xử phạt một cách nghiêm minh các trường hợp vi phạm[30].Thứ năm: Những bài học kinh nghiệm về các vấn đề kỹ thuật trong thiết kếxây dựng Luật
- Về phạm vi điều chỉnh: Luật thuế GTGT nên điều chỉnh đối với tất cả cáchoạt động sản xuất, lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ, không phân biệt hàngsản xuất trong nước hay hàng nhập khẩu (loại trừ những hàng hoá, dịch vụ mà Nhànước cần ưu đãi và khuyến khích)
- Đối tượng nộp thuế: là tất cả các tổ chức, cá nhân có tiêu thụ hàng hoá hoặccung cấp dịch vụ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40- Cách tính thuế: là doanh thu bán hàng (tính trên giá bán chưa có thuế GTGT)nhân (X)với thuế suất Khi tính thuế phải nộp được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâutrước Nếu số thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào được giải quyết bằng cách: Cấn trừvào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, hoặc Nhà nước hoàn trả lại, hoặc ủng hộ choNhà nước.
- Về thuế suất: Thuế GTGT là một sắc thuế có tính trung lập, không phân biệtngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh, phạm vi áp dụng rộng Do đó nên xâydựng ít mức thuế suất để đảm bảo tính đơn giản, dễ thực hiện Theo thống kê củaquỹ tiền tệ IMF, tính đến tháng 10/1994, trong 100 nước áp dụng thuế GTGT(không tính mức thuế suất 0%) thì chỉ có một nước là Colombia có 5 mức thuế suất
và 5 nước sử dụng 4 mức thuế suất, các nước còn lại sử dụng số thuế suất ít hơn 4.Một số nước như Achentina, Phần Lan, Indonesia khi áp dụng thuế GTGT sửdụng một hoặc hai mức thuế suất nhưng sau này phải có sự điều chỉnh tăng lên Cụthể như Indonesia khi mới áp dụng chỉ có một mức thuế suất là 10%, nhưng tínhđến tháng 3/1999 đã sử dụng đến 4 mức thuế suất: 5%, 10%, 20% và 35% Theotổng kết ở đa số các nước thì phương pháp tốt nhất là áp dụng nhiều thuế suất(không quá 5 mức thuế suất) lúc ban đầu và sau đó giảm dần[40]
- Về kê khai, tính và nộp thuế: Việc kê khai, tính và nộp thuế nên quy địnhcho đối tượng nộp thuế tự thực hiện, có như thế mới bảo đảm gảm bớt chi phí hànhchính thuế Tuy nhiên để thực hiện cơ chế này, cần có các quy định bắt buộc, xử lýnghiêm các vi phạm và đồng thời có giải pháp tổ chức thực hiện trên cơ sở đề caotính tự tuân thủ
1.7.2 Ở Việt Nam
Từ tháng 9 – 1993, chính phủ đã cho phép thực hiện thí điểm chế độ thuếdoanh thu có khấu trừ tương tự thuế GTGT ở 11 xí nghiệp quốc doanh thuộc 3ngành dệt, sản xuất đường, xi măng Qua đó rút kinh nghiệm nghiên cứu xây dựng
dự luật thuế GTGT thay cho thuế doanh thu Trong thời gian họp quốc hội khoá IXlần thứ 11, quốc hội đã dành một số buổi để tập trung thảo luận mọi khía cạnh liênquan tới dự án luật này Hầu hết các đại biểu đều tán thành là điều kiện ban hành
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ