Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện công tác về bình đẳng giới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; đặc biệt đốivới
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sửdụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn
Trang 2Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thểnhững người đã giúp đỡ tôi suốt quá trình điều tra phỏng vấn, thu thập số liệu, hoànthành luận văn trong thời gian vừa qua.
Bản thân tôi đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên, luận văn vẫn không tránh khỏinhững hạn chế và thiếu sót nhất định Tôi mong muốn nhận được sự góp ý của QuýThầy, Cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và những người quan tâm đến đề tài để luậnvăn ngày càng được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 15 tháng 7 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Mỹ Liên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: PHẠM THỊ MỸ LIÊN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Niên khóa: 2011 – 2013
Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS TRỊNH VĂN SƠN Tên đề tài: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN.
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện công tác về bình đẳng giới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạtđộng của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; đặc biệt đốivới lực lượng Nữ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở - nơi đóng vaitrò quan trọng trong việc tổ chức tuyên truyền các chủ trương, chính sách và thựchiện quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống nhân dân; việcnghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện đề tài theohướng “Nâng cao chất lượng đội ngũ Nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã ở thànhphố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” đang đáp ứng và phù hợp với tình hình thực tiễn ở địaphương cũng như cả nước hiện nay
2 Phương pháp nghiên cứu
Trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận
và phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ Nữ cán bộ, công chức phường, xã ởthành phố Tuy Hòa, kết hợp phương pháp thu thập, tổng hợp, thống kê và xử lý sốliệu thứ cấp, sơ cấp bằng phần mềm SPSS, qua đó tiến hành phân tích và kiểm địnhcác giả thiết để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới công việc, cũng như sự nhận xét,đánh giá của Nam cán bộ, công chức bên cạnh ý kiến của người dân đối với Nữ cán
bộ, công chức ở địa phương
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn:
Với kết quả nghiên cứu, mong muốn đề tài sẽ có sự đóng góp nhất định vào việcnâng cao chất lượng đội ngũ Nữ cán bộ, công chức phường, xã ở TP Tuy Hòa, tỉnh PhúYên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ILO Tổ chức lao động quốc tếKH&CN Khoa học và công nghệ
WTO Tổ chức thương mại thế giớiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc điểm khí hậu của TP.Tuy Hòa giai đoạn 2005 – 2011 41Bảng 2.2: Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng KT-XH hàng năm (2008 – 2012) 43Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình xã hội ở TP.Tuy Hòa (2008 -2012)44Bảng 2.4: Số lớp học, Giáo viên và Học sinh phổ thông của TP.Tuy Hòa 44Bảng 2.5: Quy mô, cơ cấu giới tính theo vị trí công tác cán bộ, công chức
phường, xã TP.Tuy Hòa giai đoạn 2010- 2012 48Bảng 2.6: Cơ cấu nam, nữ cán bộ, công chức phường, xã
theo chức danh của TP.Tuy Hòa (thời điểm 01/11/2012) 50Bảng 2.7: Độ tuổi và thời gian công tác của Nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã
ở TP.Tuy Hòa giai đoạn (2010-2012) 52Bảng 2.8: Trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học của Nữ CBCC phường, xã ở
TP.Tuy Hòa Giai đoạn 2010-2012 55Bảng 2.9: Trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính của Nữ cán bộ, công
chức cấp phường, xã ở TP.Tuy Hòa giai đoạn 2010-2012 57Bảng 2.10: Bảng Quy hoạch Nữ Đảng ủy viên, Ban Thường vụ và các chức danh
chủ chốt cấp phường, xã ở TP Tuy Hòa 62Bảng 2.11: Đánh giá tỷ lệ đạt chuẩn của Nữ cán bộ, công chức phường, xã ở
TP.Tuy Hòa giai đoạn 2007-2012 64Bảng 2.12: Công tác đào tạo cán bộ nữ cấp phường, xã ở TP.Tuy Hòa
giai đoạn 2007 - 2012 66Bảng 2.13: Điểm trung bình về mức độ thỏa mãn của Nữ cán bộ, công chức
phường, xã ở TP.Tuy Hòa đối với công việc 73Bảng 2.14: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra về ảnh hưởng của yếu tố
đến chất lượng của Nữ cán bộ, công chức phường, xã ở TP.Tuy Hòađối với công việc 76Bảng 2.15: KMO and Bartlett's Test 77Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6Bảng 2.16: Kết quả phân tích nhân tố với các biến điều tra
Rotated Component Matrixa 78Bảng 2.17: Phân tích và so sánh ý kiến đánh giá của Nữ cán bộ địa bàn phường với
Nữ cán bộ địa bàn xã về các biến điều tra 85Bảng 2.18: Phân tích và so sánh ý kiến đánh giá giữa Nữ cán bộ chuyên trách
và Nữ cán bộ công chức qua các nội dung điều tra 87Bảng 2.19: Kết quả mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của Nữ
cán bộ, công chức đối với công việc 89Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy tương quan các nhân tố tác động
đến chất lượng của Nữ cán bộ, công chức đối với công việc 89Bảng 2.21: Ý kiến đánh giá về hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước 92Bảng 2.22: Ý kiến đánh giá của Nữ cán bộ, công chức về mô hình đào tạo, bồi
dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lýnhà nước 93Bảng 2.23: Ý kiến đánh giá của Nữ cán bộ, công chức về việc đào tạo nâng cao
kiến thức tác động đến công việc 94Bảng 2.24: Ý kiến nhận xét của Nam cán bộ, công chức đối với Nữ đồng nghiệp
trong mối quan hệ công tác 97Bảng 2.25: Nhận xét của Nam cán bộ, công chức phường, xã đối với Nữ
đồng nghiệp 98Bảng 2.26: Ý kiến nhận xét của người dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống
đối với Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 100Bảng 2.27: Ý kiến nhận xét của người dân về thái độ, tinh thần phục vụ và trách
nhiệm giải quyết công việc của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 101Bảng 2.28: Ý kiến nhận xét của người dân về Mức độ quan tâm giải quyết các sự
vụ của dân và mối quan hệ với dân của Nữ cán bộ, công chức ởđịa phương 102
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7Bảng 2.29: Ý kiến nhận xét của người dân về kết quả giải quyết công việc
của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 102Bảng 2.30: Ý kiến nhận xét của người dân về khả năng thích ứng môi trường công
tác của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 103Bảng 2.31: Ý kiến nhận xét của người dân về năng lực công tác và trình độ
của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 104Bảng 2.32: Ý kiến của người dân khi so sánh ưu điểm trội hơn
giữa Nam và Nữ cán bộ, công chức phường, xã 105
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
MỤC LỤC viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu luận văn 5
6 Đóng góp của đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC, CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC 6
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm về nguồn nhân lực 6
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực 8
1.1.3 Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội 9
1.2 CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 11
1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực 11
1.2.2 Tiêu chí đo lường chất lượng nguồn nhân lực 12
1.3 VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ NỮ CÁN BỘ CÔNG CHỨC NÓI RIÊNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ 17
1.3.1 Khái niệm chung về hệ thống chính trị 17 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 91.3.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và Nữ cán bộ, công chức nói riêng
trong hệ thống chính trị ở cơ sở 17
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã 19
1.4 BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ TIÊU CHUẨN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ 20
1.4.1 Bộ máy tổ chức đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã 20
1.4.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp phường, xã 21
1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ VÀ NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ 22
1.5.1 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở 22
1.5.2 Những đặc thù của cán bộ, công chức cấp phường, xã 24
1.6 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ 26
1.6.1 Vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 26
1.6.2 Giới và vấn đề bình đẳng giới trong công tác cán bộ 28
1.6.3 Các chính sách về công tác cán bộ nữ 29
1.6.4 Những đặc trưng cơ bản của Nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã 33
1.6.5 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng Nữ cán bộ, công chức 34
1.7 QUÁ TRÌNH BAN HÀNH, HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ VỀ QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ 36
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 39
2.1 TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ TUY HÒA 39
2.1.1 Lịch sử hình thành 39
2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên 39
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế ở TP.Tuy Hòa từ năm 2006 đến nay 41
2.1.4 Tình hình phát triển xã hội ở thành phố Tuy Hòa 43 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 102.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ Ở TP TUY HÒA 46
2.2.1 Đánh giá về quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực nữ cấp phường, xã 46
2.2.2 Đánh giá chất lượng đội ngũ Nữ CBCC phường, xã ở TP.Tuy Hòa……… 52
2.2.3 Đánh giá công tác quy hoạch quản lý Nữ CBCC phường, xã 59
2.2.4 Đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã ở TP.Tuy Hòa 63
2.2.5 Nhận xét chung chất lượng đội ngũ nữ cán bộ, công chức phường, xã 67
2.2.6 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 70
2.3 ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ Ở TP TUY HÒA QUA SỐ LIỆU ĐIỀU TRA 71
2.3.1 Mẫu điều tra 71
2.3.2 Ý kiến của Nữ cán bộ, công chức theo các yếu tố được khảo sát 72
2.3.3 Kiểm định độ tin cậy của các biến số phân tích với hệ số Cronbach’Alpha 74
2.3.4 Phân tích nhân tố (Factor Analyis) 77
2.3.5 Phân tích và so sánh ý kiến đánh giá giữa Nữ cán bộ, công chức địa bàn phường và địa bàn xã về các nội dung điều tra 84
2.3.6 Phân tích và so sánh ý kiến đánh giá giữa Nữ cán bộ chuyên trách và Nữ cán bộ công chức 86
2.3.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ Nữ cán bộ, công chức phường, xã bằng hồi quy tương quan 88
2.3.8 Đánh giá về hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước của Nữ cán bộ, công chức phường, xã 91
2.3.9 Nhận xét chung của Nữ cán bộ, công chức phường, xã TP Tuy Hòa đối với chất lượng công tác 95
2.4.Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA NAM CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHƯỜNG, XÃ TP TUY HÒA ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ NỮ ĐỒNG NGHIỆP 95
2.4.1 Mẫu phiếu điều tra 95
2.4.2.Đánh giá của Nam cán bộ, công chức đối với Nữ đồng nghiệp trong mối quan hệ công tác 96 Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 112.4.3 Ý kiến đánh giá của Nam cán bộ, công chức về phẩm chất, đạo đức, lối sống,thái độ trách nhiệm và kết quả giải quyết công việc của Nữ đồng nghiệp……… 972.5 Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI NỮ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ Ở TP TUY HÒA 982.5.1 Đánh giá của người dân về phẩm chất đạo đức, lối sống của Nữ cán bộ,
Công chức ở địa phương 992.5.2 Đánh giá của người dân về thái độ, tinh thần phục vụ và trách nhiệm giải quyếtcông việc của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 1012.5.3 Đánh giá của người dân về Mức độ quan tâm giải quyết các sự vụ của dân vàmối quan hệ với dân của Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 1012.5.4 Đánh giá của người dân về kết quả giải quyết công việc của Nữ cán bộ, côngchức ở địa phương 1022.5.5 Đánh giá của người dân về khả năng thích ứng môi trường công tác của Nữcán bộ, công chức ở địa phương 1032.5.6 Đánh giá của người dân về năng lực công tác và trình độ của Nữ cán bộ, côngchức ở địa phương 1032.5.7 Ý kiến nhận xét của người dân khi so sánh ưu điểm nổi trội hơn giữa Nam và
Nữ cán bộ, công chức ở địa phương 104Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC PHƯỜNG, XÃ Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA 1073.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ
SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TP TUY HÒA GIAI ĐOẠN 2014 - 2020 1073.1.1 Mục tiêu chung 1073.1.2 Mục tiêu cụ thể 1073.2 CÁC CĂN CỨ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC THỰC HIỆN GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở CƠ SỞ 1083.2.1 Quan điểm và định hướng 1083.2.2 Cơ sở pháp lý và thực tiễn 108
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 123.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ Ở TP TUY HÒA 109
3.3.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Nữ cán bộ, công chức 110
3.3.2 Nhóm giải pháp tăng cường công tác tuyển dụng, quản lý, bố trí đội ngũ Nữ cán bộ, công chức ở cơ sở 113
3.3.3 Nhóm giải pháp gắn với việc thực hiện chính sách xã hội, thu hút, đãi ngộ với phát triển đội ngũ Nữ cán bộ, công chức phường, xã 114
3.3.4 Nhóm giải pháp về tiền lương và môi trường lao động, làm việc 114
3.3.5 Nhóm giải pháp về đánh giá khen thưởng, khuyến khích động viên, kỷ luật đối với Nữ cán bộ, công chức cấp xã 116
3.3.6 Một giải pháp khác 117
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
1.KẾT LUẬN 118
2 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 124
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hòa nhập thế giới, nhân tố con người - chủ thể của mọi sáng tạo
- luôn được coi là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất đối với sự phát triển của mỗiquốc gia; quyết định vị thế tồn tại và phát huy lợi thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực
Nguồn nhân lực chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồnlực và thực sự có tầm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗiđịa phương Nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đềcấp thiết, là thách thức đối với hầu hết các tổ chức hiện nay
Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhànước là một trong những nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính.Ngày 17/12/2012, tại Hà Nội, Bộ Nội vụ đã tổ chức lễ công bố Chỉ số cải cách hànhchính - PAR Index - là công cụ quan trọng để theo dõi, đánh giá hoạt động cải cáchhành chính được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: Cải cách thể chế, cải cách tổchức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức;cải cách hành chính công và hiện đại hóa nền hành chính trong giai đoạn hiện nay
và lâu dài
Đặc biệt, đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã có vị trí đặc biệt,
“gần dân, sát dân, hiểu dân”, là cấp cơ sở trong hệ thống hành chính 4 cấp củaNhà nước, là nền tảng của hệ thống chính trị; chịu trách nhiệm thực hiện, điềuhành mọi hoạt động bộ máy Nhà nước tại địa phương và trực tiếp đưa chủtrương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhândân, là cầu nối giữa nhân dân với Nhà nước Bởi vậy, chất lượng đội ngũ cán bộcủa hệ thống chính trị tại cấp cơ sở là một trong những nhân tố quan trọng, quyếtđịnh chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, có ý nghĩa chiếnlược quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, gópphần ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân cũng như bảo
vệ toàn vẹn tổ quốc
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14Phụ nữ chiếm phân nửa xã hội, đã từng bị hạn chế và loại trừ khỏi nhữngquyền cơ bản bởi những tư tưởng lạc hậu, do chế độ phong kiến, những tập tục,những định kiến giới, sự ràng buộc giai cấp và điều kiện lịch sử của nhiều nước trênthế giới Bình đẳng giới là vấn đề chung của toàn cầu, trở thành một mục tiêu hoạtđộng quan trọng của Liên Hiệp quốc và các quốc gia Phụ nữ Việt Nam có truyềnthống đấu tranh bất khuất, với lòng yêu nước nồng nàn, là một lực lượng quan trọngtrong sự nghiệp cách mạng, dũng cảm tham gia trong các phong trào đấu tranhgiành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ Trong giai đoạnhiện nay, với nền kinh tế nước ta đang chuyển mình trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế và trong quá trình hộinhập để phát triển, chị em phụ nữ đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tích cực họctập không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khẳngđịnh được vai trò, vị trí trong xã hội.
Hồ Chí Minh, người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đã nói: “Đảng vàChính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc để ngày càng có thêmnhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc, kể cả công việc lãnh đạo” Nhằm tạo điềukiện để phụ nữ vừa thực hiện thiên chức “Người mẹ, người vợ, người thầy đầu tiêncủa con người” vừa phấn đấu học tập, vươn lên khẳng định vị trí, trọng trách trong
xã hội, vừa phát huy vai trò phụ nữ trong lãnh đạo và quản lý Chỉ thị 37-CT/TWngày 16/5/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêu rõ: “Nâng cao tỉ lệ cán bộ nữtham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng
để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tàinăng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ” Từ thực tiễn tỷ lệ nữ giới luônchiếm trên 50% dân số, công tác ở cơ sở rất cần đến vai trò nữ cán bộ, công chức -vừa đại diện tiếng nói, vừa bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho chị em -trong việc hòa giải, tiếp dân, thực thi công vụ cũng như tuyên truyền, phổ biến, vậnđộng phụ nữ thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của NhàNước Với bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ, khả năng tổ chức lãnhđạo phong trào và năng lực công tác kết hợp với sự khéo léo, nhẹ nhàng, thích ứngcông việc, nên cán bộ nữ thực hiện công việc đạt hiệu quả và thành công khá cao.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Thành phố Tuy Hòa (TP Tuy Hòa) là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóacủa tỉnh Phú Yên, nổi tiếng là vựa lúa Miền Trung, đang đứng trước nhiều thử tháchmới trong quá trình xây dựng theo đề án đã được phê duyệt để trở thành một cửangõ mới ra hướng đông cho vùng Tây Nguyên, là trung tâm du lịch, dịch vụ lớntrong khu vực và cả nước vào năm 2020 [9] Nhận thức tầm quan trọng trong việcquản lý và sử dụng hợp lý các nguồn lực, tỉnh Phú Yên đã có những quyết sáchtrong việc sử dụng đội ngũ cán bộ nữ, đặc biệt trong đội ngũ cán bộ cấp phường, xãnhằm tăng cường, phát huy trí tuệ, tài năng và tạo cơ hội để phụ nữ đóng góp vàocông cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; hướng tới bình đẳng, công bằng, tăng phúclợi nhiều hơn cho mọi người và toàn xã hội.
Từ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ Nữ cán bộ, công chức ở TP.TuyHòa tôi đã chọn hướng nghiên cứu theo đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ Nữ
cán b ộ, công chức cấp phường, xã ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” Hy
vọng đề tài sẽ có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn, là một trong những vấn đề cần thiết
và cấp bách đối với sự phát triển của thành phố cũng như sự nghiệp đổi mới đấtnước hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 M ục tiêu tổng quát
Thông qua việc đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ Nữ cán
bộ, công chức cấp phường, xã ở TP Tuy Hòa và phân tích các nhân tố tác động,những nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở đề xuất phương hướng và một số giảipháp cơ bản, hữu hiệu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ, côngchức phường, xã ở TP.Tuy Hòa trong thời gian tới
2.2 M ục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân
lực, chất lượng nguồn nhân lực của cán bộ, công chức nữ cấp phường, xã trong hệthống chính trị ở địa phương
- Đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ nữcán bộ, công chức cấp phường, xã tại TP.Tuy Hòa, Phú Yên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực cán bộ nữ ở cấp phường, xã.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng
+ Nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã trên địa bàn TP.Tuy Hòa: bao gồm cán
bộ chuyên trách và cán bộ công chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở
+ Nghiên cứu chính sách, chương trình đào tạo có ảnh hưởng đến chất lượngnguồn nhân lực nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã
*Ph ạm vi nghiên cứu
+ Không gian: Trên địa bàn TP.Tuy Hòa và các vấn đề liên quan đến đội ngũ nữcán bộ, công chức cấp phường, xã
+ Thời gian: Nghiên cứu giai đoạn 2007-2012 và tầm nhìn đến 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập ở Ban Tổ chứcThành ủy Tuy Hòa, văn phòng UBND, phòng Nội vụ, phòng Lao động, Thươngbinh – xã hội, Hội Liên Hiệp Phụ nữ TP.Tuy Hòa, các ngành có liên quan và quasách báo, tạp chí, Internet…
+ Điều tra thu thập số liệu sơ cấp: Bằng phương pháp sử dụng 75 PhiếuKhảo sát Nữ cán bộ, công chức phường, xã ở TP.Tuy Hòa về những vấn đề liênquan đến chuyên môn, sự quan tâm tạo điều kiện công tác, việc học tập nâng caotrình độ…và 70 Phiếu Khảo sát điều tra nhận xét của nam cán bộ, công chức đối vớilực lượng nữ cán bộ, công chức Sử dụng 125 Phiếu Khảo sát nhận xét của ngườidân ở 16 phường, xã trên toàn TP.Tuy Hòa về đội ngũ Nữ cán bộ, công chức và sosánh Nam - Nữ cán bộ, công chức ở địa phương
Trang 174.3 P hương pháp chuyên gia tham khảo
Trong quá trình thực hiện luận văn có dựa trên ý kiến của các chuyên gia,trao đổi trực tiếp với lãnh đạo Thành ủy, Q.Chủ tịch UBND TP.Tuy Hòa - Trưởngban Vì Sự Tiến bộ Phụ nữ, Phó Ban tổ chức Thành Ủy, Trưởng phòng Nội Vụ, Chủtịch Hội LHPN TP.Tuy Hòa về công tác cán bộ nữ ở TP.Tuy Hòa, tham khảo cáccông trình đã được công bố, nhiều tài liệu từ các đề tài nghiên cứu liên quan đếnnguồn nhân lực và nữ cán bộ, công chức
4.4 M ột số phương pháp khác
- Công cụ xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm ứng dụng SPSS 16.0 để tínhtoán phân tích số liệu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về nguồn nhân lực, chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức tại chính quyền cơ sở
- Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ nữ cán bộ, công chức cấp
phường, xã ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ nữ cán bộ, công chức cấp phường, xã ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Dùng làm tư liệu cho các cá nhân hoặc tổ chức quan tâm đến vấn đề nguồnnhân lực nữ trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC,
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1 Một số khái niệm và quan điểm về nguồn nhân lực
1.1.1.1 Ngu ồn nhân lực
Hiện nay có khá nhiều quan điểm về Nguồn lực con người: “Nguồn lực conngười” hay “Nguồn nhân lực” là phạm trù chỉ dân số, cơ cấu dân số, đặc biệt là chấtlượng con người với những tiềm năng, năng lực, phẩm chất làm nên sức mạnh trong
sự phát triển kinh tế - xã hội
- Theo Giáo trình kinh tế lao động: Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là
nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triểnkinh tế - xã hội, trong quá trình vận động, NNL chịu tác động của yếu tố tự nhiên(sinh, tử…) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp )
-Theo thuyết lao động xã hội: NNL cung cấp sức lao động cho nền sản xuất,
thúc đẩy sự phát triển xã hội; bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, cókhả năng và sẵn sàng tham gia vào nền sản xuất xã hội, là tổng thể các yếu tố thểlực, trí lực được huy động vào quá trình lao động
- Quan điểm của Ngân hàng thế giới (World Bank): NNL là toàn bộ vốn con
người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,…mà mỗi cá nhân sở hữu Ở đâynguồn lực con người được coi như một nguồn vốn trung tâm bên cạnh các loại vốn vậtchất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,… Do đó đầu tư cho conngười là đầu tư quan trọng nhất, là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững
- Theo Liên Hiệp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng,
kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triểncủa mỗi cá nhân và của đất nước”, xem xét nguồn lực con người chủ yếu ở phươngdiện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19Ngoài ra còn một số quan điểm của nhiều tác giả khác về NNL, nhưng nhìnchung các quan niệm đều thống nhất một số nội dung cơ bản như sau:
- Nguồn lực con người là sự kết hợp sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩmchất có khả năng sáng tạo tạo nên chất lượng - hiệu quả hoạt động, triển vọng mớiphát triển con người và sự kết hợp các yếu tố đó tạo thành năng lực sáng tạo của conngười trong quá trình cải tạo tự nhiên
- NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lựclượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốcgia; đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng và sẵn sàng tham gia vàocác quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động
- NNL bao gồm tổng thể các yếu tố: thể lực, trí lực, trình độ chuyên môn, kỹnăng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, năng lực hiểubiết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người
1.1.1.2 S ố lượng và chất lượng nguồn nhân lực
- NNL được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng:
+ Số lượng NNL của quốc gia hay địa phương chính là lực lượng lao độngtrong độ tuổi và khả năng lao động; được xác định trên các chỉ tiêu về quy mô, cơcấu và tốc độ gia tăng dân số Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng caodẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại
+Về chất lượng NNL là yếu tố quan trọng thể hiện sức mạnh, tiềm năng tolớn trong sự phát triển; được xem xét trên các mặt: thể lực, trình độ văn hóa, chuyênmôn kỹ thuật, năng lực, phẩm chất, tâm lý…
Chất lượng NNL đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra của cải vậtchất cũng như văn hóa cho xã hội và có mối tương quan chặt chẽ NNL nhiều vớichất lượng thấp sẽ là gánh nặng cho xã hội, kìm hãm sự phát triển chung, có nghĩa
là nguồn lao động cần cù và dồi dào chưa thể tạo nên sự phát triển mạnh mẽ; trái lại,NNL ít cũng sẽ gây khó khăn trong quá trình phân công và sử dụng lao động
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 201.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về phát triển nguồn lực conngười: Phát triển “nguồn lực con người” hay phát triển “Nguồn nhân lực” được hiểutheo cụm từ Human Resources Development - HRD dựa theo quan niệm của LiênHiệp Quốc về phát triển và vị trí con người trong phát triển; bao gồm các yếu tố:giáo dục - đào tạo để sử dụng và phát huy tiềm năng của con người, và các yếu tốthiết yếu khác như sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường việc làm và giải phóng conngười nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL Nói chung, NNL vừa
là yếu tố của sản xuất, tăng trưởng kinh tế vừa là mục tiêu của sự phát triển, bởi vậyphát triển NNL thuộc phạm trù “Phát triển con người”
Phát triển con người là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người như y - tế,giáo dục, kỹ năng…để con người có thể làm việc một cách sáng tạo, đạt năng suấtcao đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế, sản phẩm do con người tạo ra được phânphối phù hợp, rộng rãi, tạo điều kiện cho mọi người có điều kiện tham gia vào cáchoạt động đời sống xã hội
Mục tiêu của sự phát triển xã hội chính là phát triển con người, phải tạo ra mộtmôi trường thuận lợi để con người phát huy khả năng sáng tạo, được hưởng cuộcsống khỏe mạnh, được học hành, hạnh phúc và quyền con người được đảm bảo
- Một số quan điểm về phát triển nguồn nhân lực:
Theo tổ chức Giáo dục - khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO): Phát triển NNL là toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp với sự
phát triển của đất nước
Quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Phát triển NNL không chỉ
có sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề của người lao động mà còn là sự phát triển nănglực và sử dụng năng lực ấy sao cho có hiệu quả, thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống
cá nhân Sự lành nghề không chỉ dựa vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng mà còn là sựtích lũy kinh nghiệm từ cuộc sống và qua quá trình làm việc của người lao động
Theo Giáo sư - Viện sĩ - Tiến sĩ Phạm Minh Hạc: “Phát triển NNL được hiểu
là quá trình làm tăng giá trị con người trên các mặt như trí tuệ, kỹ năng, thể lực, đạoTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21đức, tâm hồn…làm cho con người trở thành những người có năng lực, phẩm chấtmới và trình độ cao đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội.” [7,85]
Từ quá trình phân tích khái niệm phát triển NNL hay phát triển nguồn lựccon người thực chất là đề cập đến nâng cao chất lượng NNL và khía cạnh xã hội củaNNL trong quốc gia Phát triển NNL nhìn nhận con người dưới góc độ là một yếu
tố sản xuất, một nguồn lực của xã hội, với mục đích là gia tăng sự đóng góp có hiệuquả cho quá trình sản xuất và tái sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội So sánh vớiquan điểm phát triển con người đã nhìn nhận con người là một chủ thể của tự nhiên
và xã hội, là trung tâm của sự phát triển và hướng tới sự phát triển con người toàndiện, đó là xác lập các quyền và tạo điều kiện thực hiện các quyền con người
Bởi vậy, phát triển nguồn lực con người không chỉ dưới góc độ là nguồn lựcđóng góp cho sự phát triển xã hội mà còn thỏa mãn các nhu cầu để con người cóđiều kiện phát triển toàn diện
1.1.3 Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực hay yếu tố con người còn được coi là “Nguồn tài sản vôhình”, giữ một vị trí đặc biệt trong cơ cấu của một tổ chức, là yếu tố cơ bản và quantrọng để phát triển một cách bền vững, ổn định Quản trị NNL nhằm vào việc khaithác nhân tố con người trong quá trình sản xuất một cách tốt nhất Phát triển NNL làmột chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ của một tổ chức, là yếu tố quyết địnhnăng lực cạnh tranh của quốc gia Đặc biệt với các nước đang phát triển, nền sảnxuất yếu kém nhưng có nguồn nhân lực dồi dào thì việc phát huy lợi thế nguồn lựccon người càng trở nên ý nghĩa và quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển
- Con người – nguồn lực của mọi nguồn lực trong phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồnlực con người), vật lực (nguồn lực vật chất: công nghệ, công cụ lao động, đối tượnglao động, tài nguyên thiên nhiên,lợi thế vị trí địa lý…), tài lực (nguồn lực về tàichính, nguồn vốn, tiền tệ),…song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lựccho sự phát triển Các nguồn lực khác chỉ phát huy tác dụng và thực sự mang lại ýnghĩa xã hội khi thông qua lao động của con người bằng trí tuệ, sự tư duy, ý chí sửTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22dụng nhằm cải tạo, khai thác mọi tác dụng của những khách thể là các nguồn lựckhác tạo nên sức mạnh tổng hợp; nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của conngười Nguồn vốn trở nên thật sự quan trọng khi được nằm trong tay những ngườibiết sử dụng để mang lại hiệu quả cao nhất.
- Con người là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội:
Con người đóng vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, xã hội và hoàn thiện chínhmình để đạt đến giá trị cao nhất với ý nghĩa thúc đẩy sự vận động và phát triển kinh
tế - xã hội Với tư cách là chủ thể, con người tham gia phát triển sản xuất, tạo ra củacải vật chất để phục vụ, thỏa mãn nhu cầu và tái tạo lại sức lao động
Chính con người đã tạo ra những máy móc, công cụ, trang thiết bị hiện đại;nhiều loại máy móc đạt năng suất thay thế cho hàng trăm lao động, những “ngườimáy” có thể thao tác thay thế con người ở một số lĩnh vực mà con người không thểthực hiện được Tuy nhiên, ngay cả đối với máy móc thiết bị tối tân và hiện đại,nhưng nếu thiếu sự tác động, điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng đơnthuần chỉ là dạng vật chất
Vì vậy, nếu xem xét tổng thể những năng lực (cơ năng và trí năng) của conngười được huy động vào quá trình sản xuất, thì năng lực đó là nội lực con người -một trong những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển chung
-Con người là mục tiêu của sự phát triển
Mọi chiến lược phát triển đều dựa vào con người và vì con người; với mụcđích không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống, tăng thể lực, trí lực tạo mọi điềukiện để con người tham gia hoạt động cùng với cộng đồng và Nhà nước giải quyếttốt hơn các vấn đề về giáo dục, y - tế, văn hóa và thực hiện chính sách xã hội vớimục tiêu phát huy, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo của con người với sự thể hiện
và thực hiện đầy đủ vai trò quyết định đối với xã hội
Con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, thểhiện mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng Mặc dù mức độ phát triển của sản xuấtquyết định mức độ tiêu dùng, song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác độngmạnh mẽ tới sản xuất, định hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầuTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23hàng hóa trên thị trường Khi nhu cầu tiêu dùng một loại hàng hóa nào đó trên thịtrường tăng lên, lập tức tác động đến sự thu hút lao động cần thiết để sản xuất rahàng hóa đó và ngược lại.
Nhu cầu của con người về tinh thần và vật chất vô cùng phong phú vàthường xuyên tăng lên, cả về số lượng và chủng loại hàng hóa càng ngày càng đadạng, điều đó tác động rất lớn tới quá trình phát triển KT-XH
1.2 CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bảnchất bên trong của NNL; Phát triển NNL sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tưcách không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình
độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển về mặt đời sống, thể hiện mức độ văn minhcủa xã hội Trong xu thế phát triển của thời đại, phát triển NNL thường gắn chất lượngcao với sự hoàn thiện con người, là yêu cầu cơ bản, lâu dài của tất cả các quốc gia Đốivới nước ta, phát triển NNL chất lượng trở thành vấn đề hệ trọng, vừa cơ bản, vừa cấpbách; là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sựtăng trưởng về số lượng và chất lượng NNL cao; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng để đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững
Để nâng cao chất lượng NNL cần nhiều biện pháp khác nhau trong đó cóviệc nghiên cứu đánh giá NNL với các nội dung như chất lượng, cơ cấu, kết quả laođộng…Nội dung phản ánh chất lượng NNL gồm:
- Phát triển về số lượng - được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độtuổi; về mặt chất lượng - thể hiện ở sự phát triển cả về: thể lực, trí lực và nhân cách; vànâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng NNL
- Phát triển thể lực là gia tăng chiều cao, trọng lượng cơ thể, tuổi thọ, sức mạnh
cơ bắp và thần kinh
- Phát triển trí lực là phát triển năng lực trí tuệ; trong đó bao gồm việc nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức sáng tạo, kinh nghiệm, kỹ năng các sáng tạoTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24khoa học và công nghệ sẽ tác động rất lớn đến năng suất lao động, đem lại hiệu quảrất lớn Phát triển nhân cách là phát triển những phẩm chất chính trị, đạo đức, tácphong, lối sống lành mạnh, tính tích cực hoạt động, tinh thần trách nhiệm công dân.
- Tăng cường công tác đào tạo: Người lao động phải tự rèn luyện, học tập và
tự nâng cao trên các phương diện về thể lực, trí lực và cả về tâm lý, phẩm chất đạođức; phải có một nền tảng kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên môn chuyên sâunhờ quá trình học tập và đào tạo bài bản qua trường lớp Làm tốt công tác đào tạođược coi là khâu đột phá quan trọng
- Sử dụng lao động: Một cơ chế sử dụng lao động hợp lý từ chế độ tuyểnchọn, bố trí, đánh giá đến đãi ngộ đúng đắn và sự chú ý đúng mức giải quyết nhữngvấn đề xã hội của lao động là nhân tố nâng cao tính tích cực, sự sáng tạo, tạo nênđộng lực cho sự phát triển
Phát triển NNL theo hướng chất lượng, giúp người lao động nâng cao nhậnthức, tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc, tạođiều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh
Nhiều năm qua, nước ta đã chú trọng đề ra chiến lược về phát triển NNL theodiện rộng lẫn chiều sâu, đến nay trình độ dân trí đã được nâng lên đáng kể, đó chính
là khâu đột phá giúp Việt Nam tiếp nhận, ứng dụng những thành tựu khoa học vàcông nghệ tiên tiến, học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến để vươn lên, tránhđược nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về kinh tế, tạo ra sự phát triển nhanh và bềnvững Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực thì trình độ, chất lượng của lựclượng lao động nước ta nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triểnmới Vì vậy, đã đến lúc cần phải tập trung vào việc phát triển tổng thể và đầu tưtăng chất lượng của NNL, coi đây là vấn đề mấu chốt cho sự tăng trưởng kinh tế
1.2.2 Tiêu chí đo lường chất lượng nguồn nhân lực
Những mục tiêu cụ thể về phát triển NNL ở Việt Nam trong những năm gần đâyphản ánh khá toàn diện các tiêu chí đo lường chất lượng, gồm những nội dung chủ yếu:
1.2.2.1 Tiêu chí ph ản ánh năng lực về thể chất
Thể lực là năng lực về thể chất cũng như tình trạng sức khỏe của NNL, là sựphát triển hài hòa của con người về cả thể chất lẫn tinh thần, là điều kiện đầu tiênTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức vào hoạt độngthực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất phát triển kinh tế - xã hội Do đó,sức khỏe là yếu tố quan trọng, trở thành một chỉ tiêu quan trọng đầu tiên trong việc
đo lường chất lượng NNL, bên cạnh sức khỏe và thể lực cường tráng, đáp ứng cácthông số nhân chủng học, người lao động còn phải có sức chịu đựng dẻo dai đápứng những quá trình sản xuất liên tục, kéo dài với sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần
Tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bảnnhư: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về
cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Thể lực của NNLđược hình thành, duy trì và phát triển bởi chế độ nuôi dưỡng, chế độ chăm sóc sứckhỏe…Vì thế, thể chất của NNL phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,thu nhập, cũng như chính sách xã hội trước mắt và lâu dài của mỗi quốc gia Tăngcường thể lực cùng với cải thiện nhanh về hình thể, nâng cao tầm vóc của người laođộng vừa đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, vừatăng cường trạng thái sức khỏe chung, đặc biệt là sự phát triển hài hòa về tố chất thểlực cần thiết (sức bền, sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho người laođộng và các hoạt động bình thường khác là nội dung thật sự cần thiết
1.2.2.2 Tiêu chí ph ản ánh trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa của con người chính là những kiến thức phổ thông đối với
sự hiểu biết về tự nhiên và xã hội Trình độ học vấn là chỉ tiêu đầu tiên biểu hiện trílực của NNL, là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức
cơ bản, đặc biệt trong điều kiện trí tuệ hóa lao động hiện nay và thực hiện nhữngviệc đơn giản để duy trì cuộc sống
Chất lượng NNL được phản ánh thông qua các chỉ số: dân trí, trình độ vănhóa, học vấn trung bình của người dân; số lao động đã qua đào tạo, trình độ và chấtlượng đào tạo; mức độ lành nghề (kỹ năng, kỹ xảo…); trình độ tổ chức quản lý sảnxuất kinh doanh; phương pháp quản lý tiên tiến; năng suất, chất lượng hiệu quả laođộng biểu hiện ở năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích nghicủa người lao động trong nắm bắt, điều khiển và phát triển với công nghệ hiện đại.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy,không chính quy, qua quá trình học tập lâu dài của mỗi cá nhân, là một chỉ tiêu rấtquan trọng để đánh giá chất lượng NNL Trình độ học vấn cao là điều kiện, tạo khảnăng tiếp thu, vận dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn,trong tất cả các lĩnh vực, là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng củanguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2.3 Tiêu chí ph ản ánh trình độ chuyên môn của người lao động
Chất lượng của NNL không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, quan trọng hơn
là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và chất lượng của lao động đãđược đào tạo Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyênmôn nào đó, được biểu hiện bằng trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyênnghiệp(THCN), cao đẳng(CĐ), đại học(ĐH) và sau đại học Trong mỗi chuyên môn
có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ…
- Trình độ chuyên môn của NNL được đo bằng: Tỷ lệ số người - tốt nghiệp
trung cấp; tốt nghiệp cao đẳng, đại học; được đào tạo trên đại học
- Trình độ kỹ thuật của người lao động: Là trình độ của người được đào tạo
ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành
về công việc nhất định, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu: Số lao động đượcđào tạo và lao động phổ thông - Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng -Trình độ tay nghề theo bậc thợ
- Trình độ chuyên môn - kỹ thuật: Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức
và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và cáchoạt động nghề nghiệp, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc mộtchuyên môn nhất định Lao động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm những côngnhân từ bậc 3 trở lên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những người có trình độtrên đại học và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh như sau:
+ Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc (từ
sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) Chỉ tiêu này dùng để đánh giá kháiquát trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động đượcđào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng vùng,từng ngành.
+ Cơ cấu lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và cấpbậc đào tạo thể hiện cơ cấu số lao động có trình độ ĐH,CĐ/số lao động có trình độTCCN/số lao động là công nhân kỹ thuật Chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu đào tạo cócân đối với nhu cầu nhân lực của nền kinh tế hay không, trên cơ sở đó có kế hoạchđiều chỉnh nhu cầu đào tạo cho phù hợp
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL còn được thể hiện ở khía cạnh hiệuquả khai thác và sử dụng lực lượng này qua tỷ lệ lao động được đào tạo có việc làm
và bị thất nghiệp so với tổng số lao động được đào tạo, từ đó tăng cường đào tạoNNL các loại cấp bậc theo tỷ lệ hợp lý Ở nước ta hiện nay đang thiếu nghiêm trọnglực lượng lao động kỹ thuật có trình độ cao
Ngoài ra, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người lao động phụ thuộc trướchết vào khả năng của mỗi người, sự say mê nghề nghiệp, ý thức rèn luyện kỹ năng,cũng được thể hiện qua thông số năng lực hoạt động chuyên môn của người lao
động Đặc biệt là Năng lực sáng tạo, bởi đó là tư duy năng động, sáng tạo, dám mạo
hiểm, sẵn sàng thích ứng trong mọi tình huống; biểu hiện ở tính linh hoạt, nhanhnhẹn, sắc bén trong phát hiện thông tin mới và khả năng thích ứng nhanh để họctập, áp dụng, làm chủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đạicũng như năng lực hoạch định các giải pháp và thực hiện phát triển kinh tế
1.2.2.4 Ch ất lượng nguồn nhân lực thể hiện qua chỉ số phát triển con người - HDI (Human Development Index)
Nếu quan niệm NNL là tổng thể năng lực lao động trong nền kinh tế của mộtquốc gia, tức là lực lượng lao động của đất nước đó, thì khi xét chất lượng NNL, tức
là bộ phận trực tiếp hoạt động và sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thểtách rời những điều kiện phát triển con người trong quốc gia đó Trên ý nghĩa đó,thì chất lượng NNL còn được thể hiện gián tiếp thông qua chỉ số phát triển conngười – HDI Theo Liên Hiệp Quốc, sự phát triển nhân lực của các quốc gia và vùng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28lãnh thổ khác nhau có thể so sánh với nhau bằng một thước đo chung, đó là chỉ số pháttriển con người hay chỉ số phát triển nhân lực HDI là một chỉ tiêu tổng hợp gồm 3tiêu chí cụ thể: 1) Mức độ phát triển kinh tế: Được xác định bằng tổng sản phẩmquốc nội (GDP) bình quân đầu người hằng năm; 2) Chỉ tiêu về phát triển giáo dục(chỉ tiêu học vấn): Được xác định bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đi học củacác cấp giáo dục; và 3) Chỉ tiêu y tế: Tính bằng tuổi thọ bình quân của người dân.
Theo quy ước chung, giá trị HDI của các nước và lãnh thổ trên thế giới nằmtrong khoảng từ 0 đến 1 Nước nào có giá trị HDI càng gần đến 1 thì mức độ pháttriển nguồn nhân lực rất cao, nếu nước nào có giá trị HDI dưới 0,4 thì mức độ pháttriển NNL của nước đó được coi là thấp
Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc - UNDP đã công
bố, chỉ số HDI của Việt Nam năm 2011 là 0,728 xếp thứ 128/187 nước được khảosát; tăng 11,8% so với năm 2001, tăng 37% trong vòng 20 năm (so với năm 1990).Thu nhập bình quân đầu người tăng 288% Nhưng với tỷ lệ chỉ số thu nhập đónggóp 55,7%, chỉ số tuổi thọ 31,8% và chỉ số Giáo dục chỉ đóng góp 12,5%; điều nàynói lên chỉ số phát triển con người của Việt Nam chưa thật sự bền vững
1.2.2.5 Ch ỉ tiêu năng lực phẩm chất đạo đức
Trong các tiêu chí đo lường chất lượng NNL thì ngoài thể lực và trí lực cũngcần đề cập tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức,thái độ, phong cách làm việc của người lao động và khả năng nắm bắt nhu cầu thịtrường của họ Những kinh nghiệm thực tế của con người, trong các mối quan hệ xãhội, môi trường làm việc phù hợp với các phong tục tập quán và quy định chung.Đây là những phẩm chất đạo đức, tinh thần có vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởngđến chất lượng, thúc đẩy tính tích cực và làm gia tăng hiệu quả hoạt động của conngười Do vậy, phát triển NNL trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, đòi hỏingười lao động phải có hàng loạt phẩm chất cần thiết như: có ý thức tổ chức kỷ luật;
tự giác trong lao động, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tác phong làm việcnhanh nhẹn, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29Lực lượng lao động ở nước ta vẫn còn hạn chế về ý thức, tác phong côngnghiệp, thể lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực hành nghề chưa đápứng tốt nhu cầu nhân lực của người sử dụng lao động, nên còn một tỷ lệ đáng kể laođộng không tìm kiếm được việc làm thích hợp hoặc làm không đúng với trình độ vànghề được đào tạo.
So với các nước trong khu vực, thứ bậc xếp hạng về chất lượng NNL củanước ta còn thấp (Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với Trung Quốc là 5,73/10 và TháiLan là 4,04/10)
1.3 VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ NỮ CÁN BỘ CÔNG CHỨC NÓI RIÊNG TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ 1.3.1 Khái niệm chung về hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị: là toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tưcách là hệ thống hoàn chỉnh gồm các tổ chức, chủ thể chính trị, các quan điểm, quan
hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị; Chỉ hệ thống các cơ quan, tổchức, cá nhân thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm nhândân, các tổ chức chính trị, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội cómối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị: trong đó nhân dân là chủthể của quyền lực chính trị và là nền tảng của hệ thống chính trị
Thực chất mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội làquan hệ với nhân dân, với xã hội Tư tưởng lấy dân làm gốc là căn cứ quan trọng nhất
để xác lập và giải quyết quan hệ nội tại giữa các tổ chức chính trị, trước hết là Đảng
và Nhà nước Trong điều kiện Đảng cầm quyền, quan hệ giữa Đảng với nhân dân chủyếu thông qua Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.[26]
1.3.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức và Nữ cán bộ, công chức nói riêng trong hệ thống chính trị ở cơ sở
Cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là một cấp trong hệ thốnghành chính 4 cấp của Nhà nước Việt Nam, là cấp cơ sở - giữ vai trò, vị trí rất quantrọng, là nền tảng trong hệ thống chính trị
Cấp xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thựchiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăngTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30cường khối đại đoàn kết, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức tốt cuộcsống cho cộng đồng dân cư và huy động mọi khả năng để phát triển kinh tế và vănhóa – xã hội Tổ chức Đảng đóng vai trò lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địaphương, UBMT TQVN giữ vai trò trung tâm của các Hội Đoàn thể chính trị - xãhội, là những thành viên của UBMT TQVN - khối đại đoàn kết dân tộc, tổ chứchiệp thương, lấy ý kiến, giới thiệu người ra ứng cử Hội đồng nhân dân (HĐND) cáccấp Chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND HĐND là cơ quan quyền lực Nhànước ở địa phương, đề ra các nghị quyết và UBND là cơ quan chấp hành củaHĐND, kiêm luôn chức năng tư pháp như xét xử, hòa giải…với chức năng thay mặtnhân dân địa phương, dựa vào nguyện vọng của nhân dân đề ra quyết định và tổchức thực hiện những vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng theo hiến pháp, pháp luật và cácquyết định của cấp trên So với cấp Trung ương có sự phân công, phân nhiệm rõràng giữa Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp; cấp tỉnh và huyện cũng có cơ quan tưpháp như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.
- Đại diện cho tiếng nói của nữ giới, chiếm hơn nửa dân số ở địa phương, độingũ Nữ cán bộ chuyên trách là những người được giới thiệu ứng cử hoặc tự ứng cử
để bầu vào các chức danh, đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trựcHĐND, UBND, Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xãhội ở cấp xã Đang phấn đấu để đạt được tỷ lệ nữ cơ cấu theo quy định 30%
- Nữ cán bộ công chức cấp phường, xã là những người được tuyển dụng, giaogiữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp phường, xã phù hợp vớiđặc điểm giới tính, khả năng chuyên môn, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
Bộ máy tổ chức cấp cơ sở là cấp thấp nhất nhưng lại có tầm quan trọng bậcnhất, nơi mà mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trực tiếp đivào cuộc sống Đồng thời, là nơi tiếp thu những ý kiến của dân để phản ánh lại vớicấp trên, các cơ quan chức năng, Đảng và Nhà nước để kịp thời sửa đổi, bổ sungcho phù hợp Cán bộ, công chức cấp xã hàng ngày vừa phải thi hành các chủ trươngchính sách, pháp luật từ cấp trên, thực thi công vụ, có tính chất quản lý, tự quản mọimặt ở địa phương, phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng vàTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31phức tạp, liên quan đến tất cả mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội, an ninh, quốc phòng và chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân Bởi vậy, nângcao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ này là việc làm cấp thiết và lâu dài, nếu vớinăng lực yếu kém, không giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh có thể gâynên những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt cho địa phương nói riêng và có thểảnh hưởng đến cả nước nói chung.
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã
Nâng cao chất lượng NNL là một đòi hỏi khách quan, phù hợp với quy luậtphát triển xã hội Quyết định sự thành công hay thất bại của sự phát triển đất nướcnói chung là do yếu tố vấn đề con người và công tác cải cách hành chính phụ thuộcphần lớn vào chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức Đăc biệt, năng lực, hiệuquả công tác của cán bộ, công chức cấp phường, xã tác động trực tiếp đến sự việcthúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng của mỗi địaphương Hiện nay, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa tương xứngvới quá trình vận động phát triển, cũng như chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nền kinh
tế và nhu cầu xã hội đang không ngừng nâng lên Thực tiễn cho thấy ở đâu đội ngũnày có đủ năng lực, trình độ và đạo đức tốt thì ở đó mọi việc đều được thuận lợi,phát triển tốt đẹp
Nhiều địa phương đã tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển,
bố trí, sắp xếp cán bộ theo hướng nâng cao chất lượng, nhưng thực hiện chưa đồng
bộ, triệt để Ngày 08/01/2013, cùng với đoàn công tác Ban chỉ đạo xây dựng đề án:
“Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở” tại buổi
làm việc ở phường An Bắc Hải, Đà Nẵng; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát
biểu: “Đã 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” đã làm thay
đổi khá nhiều ở cấp chính quyền này Cơ sở vật chất được đầy đủ, trình độ cán bộ
xã phường nâng cao, nhiều biên chế đã tốt nghiệp đại học, nhưng đi đâu vẫn nghe
than thiếu người, công việc quá tải” (Thanh Hải) [22].
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Từ thực tiễn, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động cho đến đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã đang ngày càng bộc lộ rõ hơn những hạn chế năng lực, yếukém về quản lý hành chính Nhà nước đang đặt ra sự cần thiết phải tập trung đổimới, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức chính quyền cơ sở
1.4 BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ TIÊU CHUẨN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ
1.4.1 Bộ máy tổ chức đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường, xã
1.4.1.1 V ề cơ cấu tổ chức bộ máy cấp xã, phường, thị trấn:
Theo các quy định hiện hành, cơ cấu tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trịcấp cơ sở gồm:
- Văn phòng Đảng ủy
- Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND)
- Ủy ban nhân dân (UBND)
- Và 05 đoàn thể chính trị - xã hội gồm: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc MTTQ), Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN), Hội nông dân (HND), Hội cựu chiến binh(CCB), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCS HCM)
(UB-1.4 1.2 Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức trong bộ máy cấp phường, xã
- Ở cấp xã, phường có sự phân biệt khác nhau giữa cán bộ và công chức;Theo quy định tại điều 4, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010: Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấpxã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thườngtrực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứngđầu tổ chức chính trị - xã hội; Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyểndụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [1, 6]
Một số nơi thực hiện không tổ chức HĐND huyện, quận, phường thì cácchức danh cán bộ trong UBND cấp xã được bổ nhiệm từ cấp huyện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Theo quy tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của Nghị định 92/2009/NĐ – CPngày 22/10/2009 của Chính phủ, thi cán bộ chuyên trách, cán bộ công chức cấpphường, xã, thị trấn (gọi chung là cấp cơ sở) bao gồm các chức danh, chức vụ sau đây:
a Trưởng Công an;
b Chỉ huy trưởng quân sự;
c Văn phòng - Thống kê;
d Địa chính – xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);
e Tài chính - Kế toán;
f Tư pháp - Hộ tịch;
g Văn hóa - Xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý
1.4.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp phường, xã
Tiêu chuẩn cơ bản của cán bộ, công chức: Phải là công dân Việt Nam, mangmột Quốc tịch là Việt nam, đạt độ tuổi quy định từ 18 tuổi trở lên, được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc bầu cử vào vị trí lãnh đạo, quản lý, làm việc trong biên chế chínhthức của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34- Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ chuyên trách cấp xã làm việc trong các tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội ở cấp trung ương quy định
- Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xãphải đáp ứng những tiêu chuẩn chung sau đây:
1 Đối với các công chức Văn phòng - Thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị vàmôi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môitrường (đối với xã), Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội:
a) Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
b) Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệuquả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
c) Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầunhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
d) Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địabàn công tác
2 Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng công an xã:ngoài những tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này còn phải có khả năng phốihợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địabàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụphòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng,chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước
1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ VÀ NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ
1.5.1 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở
Trong hệ thống chính trị nước ta, cấp cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống 4cấp hoàn chỉnh từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35- Các cấp ủy Đảng vừa lãnh đạo hệ thống chính trị cơ sở và đề ra các Nghịquyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninhquốc phòng ở địa phương, vừa lấy công tác dân vận và chăm lo đến lợi ích quầnchúng nhân dân làm nội dung chủ yếu trong hoạt động.
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọngtrong việc phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân giữ gìn kỷ cương phépnước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân vớiĐảng và Nhà nước; là nơi trực tiếp tuyên truyền, vận động thực hiện và đảm bảo cácchủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng caomọi mặt đời sống, vừa đại diện cho tiếng nói, quyền và lợi ích chính đáng, hợp phápcủa nhân dân, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp trên
- Chính quyền cấp phường, xã có những đặc điểm:
+ Chính quyền cấp xã khác với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện: Tổ chức bộmáy chính quyền cấp xã chỉ bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND - cơquan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở địa phương và UBND là cơquan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.Không có các cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Bởivậy, UBND cấp xã, phường trong nhiều trường hợp còn phải kiêm nhiệm luôn cảchức năng tư pháp (xét xử, hòa giải) Trong khi tổ chức quyền lực nhà nước ở cấptrung ương có việc phân chia, hoặc phân công phân nhiệm một cách rõ ràng giữalập pháp, hành pháp và tư pháp Cấp tỉnh, cấp huyện cũng có cơ quan tư pháp -Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân
+ Thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời thực hiện nhiệm vụ
cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốcphòng trên địa bàn Có chức năng thay mặt nhân dân địa phương, căn cứ vàonguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn
đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống của nhân dân địaphương Là nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân Chính quyền cấp xã được coi là mộtcấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội,Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36an ninh, quốc phòng ở địa phương HĐND ban hành nội dung các nghị quyết, quyếtđịnh biện pháp, còn UBND tổ chức thực hiện Trong khi đó, tổ chức bộ máy củaHĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa vào bộ máy của UBND đểsoạn thảo các nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ có Chủ tịch, Phó Chủ tịchHĐND thường trực, và vị trí Chủ tịch HĐND thường là do Bí thư hoặc Phó bí thưĐảng ủy kiêm nhiệm, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêmnhiệm nên việc chuẩn bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND và mỗinăm chỉ họp từ 3 - 4 kỳ Trong điều kiện đó, hoạt động của chính quyền cấp xã,giữa HĐND và UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có
ưu thế vượt trội hơn Đối với cấp tỉnh và cấp huyện: có Thường trực Hội đồng nhândân và các ban của Hội đồng nhân dân Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban củaHĐND cấp tỉnh và cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thức hiện chứcnăng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền củaHĐND cấp tỉnh, cấp huyện
- Các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng những địađiểm quần cư, liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất, phân chia theođịa giới hành chính Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau vàđược giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân
cư với nhau Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan quản lý mà còn là cơ quan thểhiện lợi ích chung của dân cư
1.5.2 Những đặc thù của cán bộ, công chức cấp phường, xã
- Trong hệ thống chính trị ở nước ta, cấp Trung ương, tỉnh, huyện, là các cấpchỉ đạo, có trách nhiệm ban hành các Quyết định, Nghị định, chỉ thị, thông tư đểcấp cơ sở làm căn cứ thực hiện theo hướng dẫn trong việc thực thi nhiệm vụ côngtác, chương trình hành động
Đặc thù cấp phường, xã là cấp cuối cùng tổ chức thực hiện mọi chỉ thị, quyếtđịnh, kế hoạch trên giao Cán bộ, công chức cấp phường, xã có vị trí quan trọng, quyếtđịnh mọi công việc liên quan đến người dân, giải quyết các vấn đề liên quan đến đờisống xã hội ở địa phương; được trao thẩm quyền quản lý Nhà nước tại địa phương;Thường xuyên tiếp xúc, giáo dục, tuyên truyền và vận động nhân dân chấp hành luật
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37pháp, chính sách và thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân Nơi phát sinh nhiều vướngmắc và dễ va chạm khi đụng đến lợi ích công dân trong thực hiện chủ trương chung.
Ngoài ra, cán bộ, công chức cấp phường, xã còn có những đặc thù khác vàkhi đề cập tới những đặc thù này cũng chính là nói đến sự khác nhau giữa cán bộ,công chức cấp xã so với cán bộ, công chức nói chung, cụ thể là theo Luật Cán bộ,công chức hiện hành:
- Cán bộ ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện gồm cán bộ trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấptỉnh, cấp huyện Chức vụ, chức danh được xác định theo các quy định của pháp luật
có liên quan như: Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức chính phủ, Luật tổ chức Tòa
án nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
- Công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện bao gồm: Công chức trongcác cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; trong cơ quanNhà nước; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; được bổnhiệm vào các ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, ngạch chuyên viênhoặc tương đương, ngạch cán sự hoặc tương đương và nhân viên Căn cứ vào vị trícông tác công chức được phân loại: giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhân viên
- Riêng ở cấp xã, phường có sự phân biệt khác nhau giữa cán bộ và côngchức, tính ổn định, liên tục công tác của cán bộ, công chức cấp xã không giốngnhư cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên Cán bộ chủ chốt được bầu cử ở xãnhư tổ chức Đảng, Mặt trận tổ quốc, đoàn thể, HĐND hết nhiệm kỳ nếu khôngtrúng cử thì việc sắp xếp, bố trí công tác khác về cơ bản không giống như cán
bộ, công chức khác
- Qua tổng kết thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở cho thấy,nhiều công việc cấp xã rất phức tạp đòi hỏi có một bộ phận chuyên sâu, chuyênnghiệp, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng Sự trong sạch vững mạnh,hoạt động có hiệu quả của cán bộ, công chức cấp phường, xã đóng vai trò rất quantrọng vai trò trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huyTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổchức tốt cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và quá trình cải cách hành chính,quản lý thì cùng với chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạođức, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã; Đảng và Nhànước cần thường xuyên quan tâm việc hoàn thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu
tư cơ sở vật chất đối với cấp cơ sở, điều này thực đóng vai trò quan trọng, thiết thực
và ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường,
xã để đội ngũ này yên tâm công tác, là việc làm cần thiết vì sự phát triển chung hiện nay
1.6 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NỮ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ
1.6.1 Vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, phụ nữ đã nhận thức tráchnhiệm đối với vận mệnh dân tộc và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ, vì sự tiến bộ củanhân loại Ngay trong Bảng Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, năm 1946, đã khẳng định “Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực”, đây là một bước ngoặc to lớn về quyền phụ nữ Phụ nữ Việt Nam ngày càng
có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đónggóp khoảng 50% nhân lực trên thị trường lao động, trong đó có gần một nửa lànhững công nhân có tay nghề trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tham gia rất tích cựcnhiều hoạt động trong phát triển và hội nhập quốc tế, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo
ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Trong công cuộc xây dựng đấtnước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ tiếp tục đóngvai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội
Người phụ nữ có vị trí quan trọng trong gia đình, xây dựng hạnh phúc và bảo
vệ sự ổn định của gia đình, giúp chồng, con luôn yên tâm trong cuộc sống, đónggóp nhiều hơn cho xã hội, là những tấm gương cho con cái noi theo và luôn sẵnsàng giúp đỡ chồng, con vượt qua những khó khăn để sống trong cuộc sống Bên
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia vào cáchoạt động xã hội Ngày càng có nhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa họcnổi tiếng, nhà quản lý năng động …Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ
nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ …
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển củađất nước, chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngànhnhư giáo dục, y tế, và dịch vụ Tổng số giờ làm việc của nữ giới cả việc nhà và cơquan, thường cao hơn nam giới rất nhiều
Tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội liên tiếp trong nhiều nhiệm kỳ gần đây và
tỷ lệ nữ tại các cơ quan dân cử như HĐND tỉnh, huyện, xã luôn tăng và đạt từ 25% Tỷ lệ chưa cao nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữtrong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy Nhà nước từ trungương đến địa phương Phụ nữ còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, tổ chứcnghề nghiệp và đặc biệt tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cảnhững lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới Với hơn 50% tỷ trọng lao độngtrong sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, phụ nữ nông dân đã đóng góp rất lớn vàothành tựu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sự đóng góp của độingũ lao động nữ trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch
20-vụ cũng là động lực để phát triển kinh tế Nhiều chị đã phấn đấu vươn lên, giữcương vị chủ chốt trong hoạt động quản trị doanh nghiệp Đội nữ trí thức Việt Nam
đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, với 36,64% trong khoa học
tự nhiên; 43,42% trong lĩnh vực khoa học nông – lâm – thủy sản; 33% trong khoacông nghệ Ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân khoa học nữ có công trình nghiêncứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật ViệtNam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia [23]
Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của nhữngchính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển
Hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực đượctăng cường, phụ nữ càng có nhiều cơ hội tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vịtrí của mình đối với sự phát triển xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 401.6.2 Gi ới và vấn đề bình đẳng giới trong công tác cán bộ
Theo điều 5 của Luật Bình đẳng giới được Quốc hội ban hành ngày 12/12/2006:
- Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội
- Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ
- Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của giađình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnhvực của đời sống xã hội và gia đình; Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân
Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội nhưnhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực,tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác,
hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Theo điều 11: nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham giahoạt động xã hội Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được
đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan tổ chức Tại khoản 5,quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:
a) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dânphù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;
b) Bảo đảm tỷ lệ trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phùhợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Luật ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 đã mở ra cơ hội để phụ
nữ Việt Nam nói chung và đội ngũ nữ cán bộ nói riêng phấn đấu vươn lên, phát huykhả năng, sự đóng góp trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường côngnghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lựcthúc đẩy sự phát triển chung của xã hội
Tuy nhiên, trên bước đường phấn đấu thực hiện mục tiêu vì sự tiến bộ vàbình đẳng của phụ nữ, cũng còn không ít khó khăn, bất cập Đó là, tình trạng bấtTrường Đại học Kinh tế Huế