Theo quan niệm tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc FAO vàphân loại của Liên hợp quốc về ngành Lâm nghiệp, đã được nhiều quốc gia thừanhận và căn cứ vào tình hình thực tiễn c
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên rừng phong phú và quy mô lớn(13,119 triệu ha, chiếm 38,7% diện tích tự nhiên)[30] Ngành Lâm nghiệp đã vàđang sử dụng diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên, doviệc quản lý sử dụng chưa bền vững và nhu cầu khai thác lâm sản và khai hoang đấtrừng cho phát triển kinh tế - xã hội lớn nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiềunăm trước đây đã bị suy giảm liên tục Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng,
độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%.Thời kỳ 1980 - 1990, bình quân mỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng bị tàn phá [22].Suy giảm tài nguyên rừng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trườngsinh thái, đặc biệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của 25 triệu người đang sinhsống ở vùng núi [22] Vì vậy, việc phát triển rừng trồng là một vấn đề cấp thiết vàmang tính giải pháp mấu chốt trong việc bảo vệ, phát triển loại tài nguyên quantrọng này đặc biệt cho phát triển kinh tế vùng cao
Sự tiến bộ của kỹ thuật lâm sinh đã tạo ra những giống cây lâm nghiệp có chu
kỳ ngắn, tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng cho sản lượng cao, trong số đó đặcbiệt có cây Keo, nổi bật là giống Keo tai tượng và Keo lai Hơn nữa, thị trường lâmsản có nguồn gốc rừng trồng ngày càng phát triển về quy mô và đa dạng chủng loạisản phẩm Những yếu tố này đã tạo cơ hội cho phát triển trồng rừng sản xuất
Nam Đông là huyện miền núi, đa số dân cư sống dựa vào nông lâm nghiệp, đấtlâm nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn (75,06%) trong tổng diện tích tự nhiên [16] Vì vậy,hoạt động trồng rừng sản xuất ở Nam Đông đang trên đà phát triển và mở ra cơ hộicải thiện thu nhập của các nông hộ và tăng trưởng kinh tế địa phương
Trong bối cảnh đó, việc xác định hiệu quả của trồng rừng sản xuất một cách cụthể đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đang là vấn đề quan trọngnhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản lý định hướng điều hành sản xuất của địa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2phương đồng thời giúp nông dân có thêm các thông tin hữu ích trong việc ra quyếtđịnh sản xuất.
Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh tế rừng
trồng sản xuất của các nông hộ ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm
luận văn Thạc sĩ của mình
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả trồng rừng sản xuất của các nông hộ trên địa bàn huyệnNam Đông Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế củahoạt động trồng rừng Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin hữu ích chongười sản xuất và các nhà hoạch định chính sách trong việc phát triển sản xuất lâmnghiệp bền vững, hiệu quả
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá và bổ sung những lý luận về hiệu quả kinh tế đối với sản xuấtlâm nghiệp nói chung và rừng trồng nói riêng;
- Phân tích hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng rừng sản xuất của các nông hộ
ở Nam Đông; và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng rừng sản xuất;
- Đưa ra định hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả rừng trồng sảnxuất ở Nam Đông
Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Nam Đông, tỉnh ThừaThiên Huế Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ tìm hiểu và tính toán hiệu quảkinh tế các lâm phần trồng các loài cây Keo lai, Keo tai tượng trồng đầu năm 2004
và đã khai thác ở quy mô nông hộ
4.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu
4.1.1 Số liệu thứ cấp
- Các báo cáo của Phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3- Các báo cáo nghiên cứu khoa học, sách, tạp chí;
- Tài liệu kỹ thuật, báo cáo thị trường, báo cáo kết quả kinh doanh của cáccông ty trồng và thu mua chế biến gỗ;
- Tài liệu của các chương trình dự án về lâm nghiệp và của Bộ NN&PTNT, SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong 11 xã và thị trấn trên toàn huyện, chọn 3 xã đại diện cho 3 nhóm có quy
mô diện tích rừng trồng khác nhau Mỗi xã chọn 3 thôn theo quy mô diện tích tương
tự việc chọn xã Ở mỗi thôn được chọn, lập danh sách toàn bộ hộ có rừng trồng đầunăm 2004 đã khai thác rừng trồng thông qua hệ thống trưởng thôn và cán bộ nônglâm xã Danh sách hộ có rừng khai thác được chia thành hai nhóm: hộ người Kinh
và hộ dân tộc ít người Trên cơ sở đó số mẫu điều tra được phân bổ tương ứng với
tỷ lệ hộ người Kinh và dân tộc ít người của tổng thể (toàn thôn)
+ Cách phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
+ Số liệu được xử lý bằng phần mềm MS Excel
+ Sử dụng phương pháp phân tích chiết khấu – tính NPV
+ Và các phương pháp phân tích kinh tế khác như so sánh, chỉ số, phân tích lợinhuận
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4PHẦN 2 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã xuất hiện rất lâu đời, gắn liền với sự tiếnhóa của loài người với những hoạt động ban đầu là khai thác lâm sản bằng săn bắt,hái lượm tới khai thác gỗ làm nhà Đến nay hoạt động của ngành đã phát triển mộtcách đa dạng và đa mục đích như khai thác lâm sản, trồng rừng, sử dụng tài nguyênrừng cho mục đích môi trường Do tính đa dạng của ngành và tùy thuộc vào từngphương diện, mục tiêu nhìn nhận vấn đề, nên hiện có nhiều quan điểm khác nhau vềkhái niệm lâm nghiệp
- Quan điểm thứ nhất: cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất
trong nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng [41].Với quan điểm này, lâm nghiệp chỉ bao gồm các hoạt động về trồng rừng,chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ nhằm cung cấp lâm đặc sản, phòng hộ vàbảo vệ môi trường sống cho xã hội Sản phẩm cuối cùng của hoạt động lâm nghiệp
là tạo ra rừng thành thục công nghệ; đó chỉ là những sản phẩm tiềm năng, chưathành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường
Như vậy, quan điểm thứ nhất đã bộc lộ một số vấn đề tồn tại :
+ Một là khi đã khẳng định lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất nhưngsản phẩm cuối cùng lại chưa được lưu thông, trao đổi, mua bán trên thị trường đểthu hồi vốn tái sản xuất cho chù kỳ tiếp theo Sản phẩm được khai thác từ rừng lạiđược thống kê, hạch toán vào tổng sản phẩm công nghiệp
+ Hai là về phương diện kỹ thuật lâm sinh thì khai thác và tái sinh có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau Khai thác được xem là một trong những giải pháp kỹ thuậtlâm sinh quan trọng trong tái sản xuất tài nguyên rừng
+ Ba là về phương diện kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng của xây dựngrừng là để sử dụng (khai thác) và chỉ có khai thác mới thu hồi được vốn để tái sản
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5+ Bốn là về phương diện quản lý, hiện nay ngành lâm nghiệp đang quản lý cáchoạt động không chỉ thuộc lĩnh vực lâm sinh mà còn cả lĩnh vực khai thác và chếbiến lâm sản.
- Quan điểm thứ hai : cho rằng lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc
biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn có chức năngkhai thác sử dụng rừng [41]
Như vậy, với quan điểm này khái niệm về lâm nghiệp đã được mở rộng Sảnphẩm cuối cùng của lâm nghiệp đã là sản phẩm hàng hoá được mua bán, trao đổitrên thị trường Quan điểm này đã đề cao vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tếquốc dân và đã coi hoạt động xây dựng và sử dụng rừng là hai giai đoạn của quátrình tái sản xuất tài nguyên rừng Từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi để lâm nghiệpphát triển toàn diện
Tuy nhiên, quan điểm này đã lồng ghép hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau vàomột ngành sản xuất cũng có những vấn đề khó khăn về công tác tổ chức, quản lý vàhạch toán kinh tế Mặt khác, khi nhấn mạnh quan điểm này, có thể người ta chỉ tậptrung vào khai thác bóc lột tài nguyên rừng và ít quan tâm đến phát triển lâm nghiệpbền vững Do đó, tài nguyên rừng nhanh chóng bị cạn kiệt, đặc biệt trong thời kỳlâm nghiệp hoạt động trong cơ chế bao cấp
- Quan điểm thứ ba: xuất phát từ thực trạng quản lý ngành lâm nghiệp và đứng
trên giác độ khép kín của quá trình tái sản xuất thì lâm nghiệp là một ngành sản xuấtvật chất ngoài chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác vận chuyểncòn bao gồm cả chế biến lâm sản [41]
Như vậy, quan điểm thứ ba tương đối toàn diện hơn hai quan điểm trên Quanđiểm này vừa đảm bảo tính thống nhất trong quá trình tái sản xuất, vừa đảm bảo chutrình sản xuất khép kín Tuy nhiên, với quan điểm này đã ghép toàn bộ các hoạtđộng có chu kỳ sản xuất, có đối tượng tác động, có công nghệ sản xuất hoàn toànkhác biệt vào một ngành cũng đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết: đầu tư, tổchức sản xuất, áp dụng công nghệ, đánh giá hiệu quả và cơ chế chính sách để pháttriển toàn diện ngành lâm nghiệp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6Mặt khác, hiểu theo nghĩa rộng từ khi ghép bộ, lâm nghiệp là lĩnh vực sản xuấttrong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Tuy nhiên, quan điểm có khácnhau cũng không làm suy giảm vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
và đời sống xã hội
Ngoài ra, có khái niệm về lâm nghiệp khác:
Theo khái niệm và phân loại của Liên hiệp quốc đã được nhiều nước thừa nhận
thì:"Lâm nghiệp là một ngành kinh tế bao gồm tất cả các hoạt động chủ yếu gắn với sản xuất hàng hoá có liên quan đến gỗ (gỗ tròn cho công nghiệp, củi, than củi, gỗ
xẻ, ván nhân tạo, bột giấy, giấy và đồ mộc), sản xuất, chế biến lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ từ rừng" [45].
Như vậy, theo khái niệm trên, lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng vớicác đóng góp cho nền kinh tế quốc dân bằng các sản phẩm được sản xuất và chếbiến từ rừng và dịch vụ môi trường
Theo quan niệm tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO ) vàphân loại của Liên hợp quốc về ngành Lâm nghiệp, đã được nhiều quốc gia thừanhận và căn cứ vào tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, cần phải có một định
nghĩa đầy đủ về ngành lâm nghiệp như sau:“Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch
vụ từ rừng như các hoạt động gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến nguyên liệu lâm sản và cung cấp các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp cũng gắn bó mật thiết đến bảo vệ môi trường, bảo tồn
đa dạng sinh học, góp phần xoá đói giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng”[22].
Thông qua các quan điểm và khái niệm trên cho thấy, khái niệm về lâm nghiệpđều được xem xét ở các góc cạnh khác nhau của quá trình sản xuất Tuy nhiên, kháiniệm về lâm nghiệp sau cùng được đề cập tương đối hoàn thiện hơn, nó vừa đảmbảo tính thống nhất của quá trình sản xuất, vừa đảm bảo chu trình sản xuất khép kín.Như vậy, sản xuất lâm nghiệp là toàn bộ quá trình sản xuất từ tạo rừng, khai thácvận chuyển và chế biến lâm sản, phát huy các chức năng phòng hộ, văn hóa, xã hội
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 71.2 KHÁI NIỆM TÀI NGUYÊN RỪNG
Hiểu theo nghĩa rộng, tài nguyên rừng là bộ phận của tài nguyên thiên nhiên hữuhạn có khả năng tự phục hồi trong những giới hạn sinh khối nhất định, là quần thểsinh vật (động vật, thực vật, vi sinh vật) và các yếu tố môi trường sinh thái (đất, nước,thời tiết), trong đó thực vật rừng đóng vai trò chủ đạo và mang đặc trưng khác biệtvới các loại thực vật khác (chu kỳ sống, khả năng cung cấp và bảo vệ môi trường);Đất rừng trong tài nguyên rừng được hiểu bao gồm đất có rừng và đất chưa córừng nhưng được quy hoạch để phát triển rừng Đất có rừng bao gồm đất có rừngtrồng và đất có rừng tự nhiên
Mặt khác, tài nguyên rừng là một loại tài sản đặc biệt của quốc gia nên để hiểutài nguyên rừng cần phải hiểu qua các góc độ khác nhau như:
Dưới góc độ pháp lý: tài nguyên rừng tài sản quốc gia do Nhà nước thống nhấtquản lý và sử dụng Hiện nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 được coi làcông cụ quan trọng việc quản lý tài nguyên rừng ở nước ta Theo đó, Nhà nước sẽgiao, cho thuê rừng và đất rừng cho các tổ chức, cá nhân để bảo vệ, phát triển và sửdụng lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước
Dưới gốc độ kinh tế: tài nguyên rừng là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếucủa ngành lâm nghiệp Tài nguyên rừng là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là tưliệu lao động vừa là đối tượng lao động Với tư cách là tư liệu lao động khi tàinguyên rừng phát huy các chức năng phòng hộ, sinh thái và môi trường như: chốngxói mòn, giữ đất, giữ nước, điều hoà dòng chảy, chống cát bay, điều hoà không khí.Với tư cách là đối tượng lao động, tài nguyên rừng là đối tượng tác động của conngười thông qua việc trồng, khai thác lâm sản phục vụ nhu cầu của xã hội
1.3 PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN RỪNG
Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên với hệ động thực vật rừng phong phú
và đa dạng Do đó, để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên này cần có
Trang 8- Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng được chia thành hai loại:
+ Rừng tự nhiên: là rừng có nguồn gốc tự nhiên bao gồm các loại rừng nguyênsinh, rừng thứ sinh (hệ quả của rừng nguyên sinh bị tác động), rừng thứ sinh đượclàm giàu bằng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo
+ Rừng trồng: là rừng do con người tạo nên bằng cách trồng mới trên đất chưa
có rừng hoặc trồng lại rừng trên đất trước đây đã có rừng
- Nếu căn cứ vào tổ thành rừng, dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài màngười ta chia ra thành rừng thuần loài và rừng hỗn loài
+ Về nguyên tắc, rừng thuần loài là rừng chỉ có một loài Tuy nhiên trên thực
tế, rừng có một số loài khác nhưng số lượng các loài khác này không vượt quá 10%thì vẫn được coi là rừng thuần loài (rừng thuần loài tương đối)
+ Với rừng hỗn loài, để biểu thị mức độ tham gia của các loài người ta dùngcông thức tổ thành Thành phần cây gỗ là bộ phận chính và chủ yếu tạo nên độ khéptán (được biểu diễn thông qua độ tán che), độ đầy và trữ lượng lâm phần
- Nếu căn cứ vào đặc tính sử dụng rừng, rừng được chia thành 3 loại: rừng đặcdụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất
+ Rừng đặc dụng: Được xác định nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, mẫuchuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen thực vật và động vật rừng, nghiên cứukhoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉngơi, du lịch
+ Rừng phòng hộ: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng chomục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống cát bay,sóng biển, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, đảm bảo cân bằng sinh thái và anninh môi trường
+ Rừng sản xuất: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng chomục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các loại đặc sảnrừng) và kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái [3]
1.4 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH RỪNG TRỒNG
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập trong nền kinh tế quốc dân
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9các đặc tính của ngành Những đặc thù này ảnh hưởng quan trọng đến việc tổ chứcsản xuất, quản lý sử dụng các nguồn lực của ngành Nghiên cứu các đặc điểm sảnxuất để hoạch định chiến lược phát triển và qua đó đề ra những các giải pháp quản
lý, khai thác triệt để các nguồn lực nhằm hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế-xã hộicao nhất
Hoạt động kinh doanh rừng trồng mang đặc điểm cụ thể như sau:
1.4.1 Chu kỳ sản xuất dài
Đây là đặc điểm quan trọng, mang tính đặc thù của ngành
Chu kỳ sản xuất được tính là khoảng thời gian kể từ khi chuẩn bị đưa các yếu
tố vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng tiêu thụ
Chu kỳ sản xuất là tiêu thức phản ảnh đặc điểm sản xuất của các ngành sảnxuất và chủ yếu là do đối tượng sản xuất quyết định
Đối với lâm nghiệp, đối tượng sản xuất là tài nguyên rừng, trong đó quần xãcây rừng đóng vai trò chủ đạo và chúng khác biệt với các loài thực vật khác là chu
kỳ sinh trưởng dài và phát triển chậm
Do đặc điểm sản xuất dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tổ chức sảnxuất, tình hình quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong lâm nghiệp Trước hết làvốn đầu tư lớn, vốn bị ứ đọng ở sản phẩm dở dang nằm tại rừng, dưới dạng rừngnon, rừng chưa thành thục công nghệ, do đó tốc độ chu chuyển chậm, thời hạn thuhồi dài, có nguy cơ gánh chịu rủi ro do biến động thị trường
Mặt khác, sản xuất lâm nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên lạidiễn ra trong thời gian dài, chắc chắn sẽ có nhiều rủi ro, khó bảo vệ thành quả laođộng Đây cũng là điểm kém hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh rừng.Đặc biệt là sản xuất lâm nghiệp diễn ra trong cơ chế thị trường, giá cả luôn luôn bịtác động bởi yếu tố thời gian, chi phí cơ hội lớn, người đầu tư khó có thể dự đoánđược kết quả đầu ra
Từ những khó khăn cản trở trên, vấn đề cần đặt ra là:
Trước hết về phía Nhà nước phải có chính sách đầu tư, hỗ trợ về vốn cho pháttriển lâm nghiệp, bằng các chương trình dự án và có chính sách cho vay vốn dài hạnvới lãi suất ưu đãi cho kinh doanh và phát triển rừng, phải quy hoạch tổng thể đồng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10bộ và ổn định, đồng thời cần phải có chính sách bảo hiểm cho người làm rừng khigặp phải rủi ro.
Đối với các nhà quản lý, trong sản xuất lâm nghiệp phải xây dựng kế hoạch dàihạn, thận trọng chọn loại cây trồng phủ hợp với từng vùng sinh thái Xây dựng các
mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm sản xuất chu kỳ sản xuất dài Cần có chínhsách đầu tư thoả đáng cho công tác nghiên cứu khoa học và cần tập trung nghiên cứu
để tạo ra các loài cây cho năng xuất cao, có khả năng rút ngắn được chu kỳ thành thụccông nghệ để hạn chế sự ảnh hưởng của yếu tố thời gian đối với sản xuất
1.4.2 Quá trình tái sản xuất tự nhiên xen kẽ với quá trình tái sản xuất kinh tế, trong đó quá tình tái sản xuất tự nhiên đóng vai trò quan trọng và quyết định
Tái sản xuất tự nhiên là quá trình sinh trưởng, phát triển của cây rừng bắt đầu
từ quá trình gieo hạt tự nhiên, cây rừng nẩy mầm, lớn lên, ra hoa kết quả theo quyluật sinh học (quá trình tái sinh tự nhiên) Như vậy quá trình tái sản xuất tự nhiên làquá trình tái sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tuân theo quyluật sinh học mà không cần sự can thiệp của con người
Tái sản xuất kinh tế được hiểu là quá trình tăng trưởng và phát triển cây rừngdưới sự tác động của con người như bón phân, làm cỏ (thâm canh rừng, làm giầurừng) nhằm thoả mãn mục đích nào đó của con người
Do cây rừng luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc vào điều kiện tự nhiên nên quátrình tái sản xuất tự nhiên luôn giữ vai trò quan trọng và quyết định Điều này đặt racho công tác quản lý và kỹ thuật phải tôn trọng tự nhiên, phải hiểu biết quy luật tựnhiên khi quyết định các phương án sản xuất để lợi dụng tối đa những ưu thế của tựnhiên đồng thời cũng phải biết né tránh những bất lợi của tự nhiên đem lại gây cảntrở cho sản xuất kinh doanh Mặt khác, cũng không thể trông chờ hoàn toàn vào sự
ưu đãi của tự nhiên mà cần phải tuỳ điều kiện cụ thể để có sự tác động kỹ thuật đểđẩy nhanh quá trình phát triển của tài nguyên rừng
1.4.3 Tái sinh và khai thác rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Tái sinh rừng là quá trình xây dựng rừng (có hai hình thức tái sinh là tái sinh tựnhiên và tái sinh nhân tạo)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11Khai thác rừng là quá trình lợi dụng rừng, quá trình thu hoạch thành quả củaquá trình xây dựng rừng.
Xét về hình thức thì đây là hai mặt đối lập nhau, song lại thống nhất và liênquan chặt chẽ với nhau Mục đích xây dựng là để lợi dụng và có lợi dụng, khai thácmới thu hồi được vốn để tái sản xuất cho các chu kỳ tiếp theo Nếu đứng trên góc độ
kỹ thuật thì khai thác còn được coi là một trong những giải pháp kỹ thuật quantrọng của tái sinh rừng
Từ đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý và các nhà kỹ thuật lâm nghiệp phải
có giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng cân đối giữa khai thác và tái sinh để khỏilạm dụng vào vốn rừng và sử dụng công cụ khai thác hiệu quả trong công tác táisinh rừng
1.4.4 Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên quy mô rộng, chủ yếu hoạt động ngoài trời và trên những địa bàn có những điều kiện tự nhiên phức tạp, điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn
Đây là đặc thù rất rõ nét của sản xuất lâm nghiệp Hiện nay diện tích đất ngànhlâm nghiệp quản lý trên 19 triệu ha chiếm gần 60% diện tích tự nhiên toàn quốc, với75% diện tích là đồi núi, dốc cao, địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở, đất đaithường bị xói mòn và ngay ở vùng ven biển thì đất lâm nghiệp cũng là những loạiđất cát hoặc đất chua mặn không có khả năng canh tác nông nghiệp [33] Trên cácđiều kiện tự nhiên đó, hoạt động sản xuất lâm nghiệp lại chủ yếu tiến hành ở ngoàitrời, cự ly hoạt động ngày một xa nên điều kiện làm việc của người làm nghề rừnggặp rất nhiều khó khăn
Mặt khác, nguồn lao động lâm nghiệp ít được đào tạo chuyên môn, kỷ thuật,
đã ảnh hưởng lớn đến phát triển lâm nghiệp Đồng thời trên điều kiện địa bàn rộnglớn như vậy rất khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ thành quả lao động, vì vậytính rủi ro trong sản xuất lâm nghiệp rất cao
Xuất phát từ đặc thù này, cần phải có sự đầu tư thích đáng cho phát triển lâmnghiệp và phải nhận thức việc đầu tư cho phát triển lâm nghiệp là đầu tư cho pháttriển kinh tế xã hội vùng trung miền núi, một nhiệm vụ chiến lược quan trọng củađất nước [39]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 121.4.5 Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ
Tính thời vụ được hiểu là tình hình sản xuất được tập trung vào một khoảngthời gian nào đó trong năm và lặp đi lặp lại có tính quy luật
Trong sản xuất lâm nghiệp, tính thời vụ là đặc trưng của ngành sản xuất sinhhọc, do đặc tính sinh lý, sinh thái của cây rừng, do đòi hỏi của công nghệ (đặc biệt
là công nghệ khai thác, vận chuyển) mà tình hình sản xuất diễn ra tập trung vào một
số tháng trong năm, hiện tượng đó gọi là tính thời vụ
Điều kiện sản xuất phải tập trung vào một số tháng trong năm nên tình hình tổchức sản xuất, đặc biệt là tổ chức về lao động gặp khó nhăn Việc loại bỏ tính thời
vụ là không thể thực hiện được, trong thực tế chúng ta chỉ có thể tìm các giải phápnhằm hạn chế sự ảnh hưởng của nó bằng cách chủ động bố trí lao động, vốn, máymóc thiết bị phù hợp, phát triển sản xuất tổng hợp, đa dạng hoá ngành nghề hoặc ápdụng tiến bộ khoa học công nghệ để tuyển chọn, lai tạo các giống cây trồng mới cókhả năng thích nghi cao
1.4.6 Hoạt động sản xuất lâm nghiệp vừa mang mục tiêu kinh tế vừa mang mục tiêu xã hội, bảo vệ môi trường
Xuất phát từ đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là rừng, mà sản phẩm của rừng
có tác dụng nhiều mặt
Trước hết về mục tiêu kinh tế của sản xuất lâm nghiệp nhằm mục tiêu cungcấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, cung cấp lâm sản, đặc sảnphục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Về mục tiêu xã hội, trong sản xuất lâm nghiệp còn nhằm mục tiêu phòng hộ,bảo vệ môi trường sống, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hoá và các danh lamthắng cảnh Mặc dầu hiện nay người ta đã quan tâm nhiều hơn tới giá trị gián tiếpcủa rừng song vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý là phải nhận thức đúng đắn vàđầy đủ giá trị của rừng mà quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho phát triển lâmnghiệp Đây cũng là vấn đề thực thi chiến lược phát triển bền vững của Đảng và
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13Với địa bàn hoạt động gần 60% diện tích tự nhiên toàn quốc là nơi sinh sốngcủa các cộng đồng cư dân mà đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người, nên mọihoạt động của cư dân địa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển lâm nghiệp
và ngược lại các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đều ảnh hưởng lớn đến đời sốngcủa cư dân địa phương Hơn nữa, đây cũng là hoạt động tạo ra các ngoại ứng tíchcực đối với đại bộ phận dân cư trong xã hội thông qua chức năng phòng hộ, bảo vệmôi trường [39]
1.5 HIỆU QUẢ SẢN XUẤT RỪNG TRỒNG TRONG CÁC NÔNG HỘ
1.5.1 Khái niệm
Hiệu quả sản xuất (hiệu quả kinh tế) là phạm trù kinh tế trong đó sản xuất đạt
cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân Điều này có nghĩa, cả hai yếu tố giá trị vàhiện vật đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong lâm Nhưvậy, hiệu quả kinh tế không chỉ đạt được khi đáp ứng cả hai chỉ tiêu về hiệu quả kỹthuật và hiệu quả phân phối
Hiệu quả kỹ thuật là số lượng đầu ra có thể đạt được trên mỗi đơn vị chi phíđầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹthuật hay công nghệ áp dụng trong lâm nghiệp Theo đó, một đơn vị nguồn lực dùngvào sản xuất sẽ đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm [24]
Hiệu quả phân phối là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá bán sản phẩm vàgiá đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chiphí chi thêm về đầu tư hay nguồn lực Về bản chất, hiệu quả phân phối là hiệu quả kỹthuật có tính đến các yếu tố về giá các yếu tố đầu vào và giá của đầu ra Bởi vậy, hiệuquả phân phối còn được gọi là hiệu quả giá Như vậy, xác định hiệu quả này giốngnhư xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi nhuận Tức giá trị biêncủa sản phẩm phải bằng chi phí biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
Tóm lại, việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp có ý nghĩarất to lớn trong hoạt động sản xuất kinh Thông qua đó, xác định mức hiệu quả củaviệc sử dụng nguồn lực trong sản xuất, xây dựng được giải pháp thích hợp từ cácnguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Ngoài ra, hiệu quả kinh tế được coi làcăn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất lâm nghiệp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14Nếu hiệu quả thấp, sản lượng có thể nhờ các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế,muốn tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ.
1.5.2 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
- Phương pháp thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kếtquả thu được và chi phí bỏ ra
C
Q
H
Trong đó, H: hiệu quả kinh tế
Q: khối lượng sản phẩm thu được
Trong đó, ΔQ: khối lượng sản phẩm tăng thêm
ΔC: chi phí tăng thêm
1.5.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Để xác định kết quả và hiệu quả kinh tế trồng rừng sản xuất đề tài tập trungvào các chỉ tiêu tài chính quan trọng, cụ thể như sau:
+Doanh thu: được tính bằng sản lượng nhân với giá đơn vị sản phẩm tươngứng hoặc giá bán trên cây đứng trong trường hợp chủ rừng không tiến hành khaithác mà bán cây đứng theo phương thức bán “bán cáp” hay còn gọi “bán trụm”.+ Thu nhập hỗn hợp (MI):
MI =B - chi phí bằng tiền - De
Chi phí bằng tiền: là toàn bộ chi phí mua thuê ngoài trong quá trình tiến hànhsản xuất của các hộ và lãi tiền vay
De: khấu hao tài sản cố định
+ Giá trị hiện tại ròng (NPV): là hiệu số giữa doanh thu và tổng chi phí hàngnăm của các hoạt động sản xuất trong các mô hình trồng rừng sau khi đã chiết khấu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15
t
r
Ct Bt NPV
) 1 (
Trong đó: - NPV: giá trị hiện tại ròng
- Bt: giá trị thu nhập ở năm thứ t
- Ct: chi phí ở năm thứ t
- r: tỷ lệ chiết khấu
- t: số năm của chu kỳ sản xuất
+ Tỷ suất thu nhập - chi phí (BCR - Benefits to cost Ratio): BCR là tỷ số sinhlãi thực tế, nó phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chiphí sản xuất có tính tới giá trị thời gian của các dòng tiền
Công thức tính:
CPV BPV
r Ct r
Trong đó: - BCR: là tỷ suất thu nhập và chi phí
- BPV: giá trị hiện tại của thu nhập
- CPV: giá trị hiện tại của chi phí
Khi đánh giá hiệu quả đầu tư của các mô hình trồng rừng sản xuất, mô hìnhnào có BCR>1 thì có hiệu quả kinh tế; BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
và ngược lại
+ Suất thu hồi nội bộ (IRR-Internal Rate of Return): IRR là chỉ tiêu đánh giákhả năng thu hồi vốn; IRR là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV =0 tức là:
0)1
thì r = IRR
IRR được tính theo %, mô hình nào có IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao
1.6 TÌNH HÌNH TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TRÊN TOÀN QUỐC VÀ THỪA THIÊN HUẾ
Trang 16Thời kỳ từ năm 1945 đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì nhiệm
vụ chính là kháng chiến cứu quốc giải phóng dân tộc nên hoạt động lâm nghiệp chủyếu là khai thác rừng còn việc trồng rừng chưa được chú trọng Diện tích rừng tựnhiên của Việt Nam bị suy giảm một cách nhanh chóng từ 14,3 triệu ha năm 1945,tương ứng độ che phủ 43%, đến 1995 chỉ còn 8,25 triệu ha rừng tự nhiên và 1,05 triệu
ha rừng trồng, tương ứng với độ che phủ 28% [3] Cùng với diện tích rừng bị mất,chất lượng rừng còn lại cũng giảm sút; trữ lượng rừng thấp, nhiều loài cây gỗ quý trởnên hiếm, nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng; khả năng cung cấp củarừng không đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của xã hội; năng lực phòng hộ củarừng cũng bị hạn chế, thiên tai bão lụt ngày càng nghiêm trọng Trước thực trạng này,việc trồng rừng, phục hồi lại rừng trở thành một mục tiêu quan trọng được Nhà nước,các nhà lâm nghiệp và toàn xã hội quan tâm Nhiều chương trình trồng rừng bằngnguồn vốn nhà nước và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế được thực hiện Diện tích vàchất lượng rừng ngày càng được nâng cao Đến nay thường xuyên có khoảng 2 tỷ câyphân tán, hàng năm có khả năng cung cấp 5 triệu mét khối gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu và
15 triệu mét khối củi phục vụ cho xây dựng nông thôn, làm dăm xuất khẩu, giải quyếtnhu cầu gỗ củi tại chỗ, giảm sức ép đối với rừng tự nhiên [3] Ngoài ra, còn góp phầnphòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái
Tuy vậy hoạt động trồng rừng trong thời gia qua cũng còn bộc lộ một số nhượcđiểm là:
- Tốc độ trồng rừng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu chiến lược đề ra
- Năng suất rừng có được cải thiện nhưng bình quân vẫn còn thấp hơn cácnước trong khu vực và trên thế giới, rừng sản xuất chưa vượt qua mức bình quân 15
m3/ha/năm trên phạm vi toàn quốc Diện tích trồng thâm canh còn ít, nhiều loài câytrồng chưa được nghiên cứu và chưa xây dựng được quy trình gây trồng, một sốgiống trồng rừng chưa bảo đảm chất lượng, việc quản lý giống còn yếu
- Rừng trồng vẫn còn phân tán, manh mún, chưa tạo được những khu rừngcông nghiệp tập trung và các khu rừng phòng hộ lớn ở vùng xung yếu
- Việc giao đất giao rừng cho dân không có kế hoạch đã làm cho đất đai bị xé
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17- Nguồn vốn đầu tư cho trồng rừng hàng năm còn thấp; Vốn vay tín dụng lãisuất còn cao, các thủ tục vay còn khó khăn, không được ứng trước để chuẩn bịgiống cây con, vật tư kịp thời vụ trồng rừng.
- Giá bán gỗ nguyên liệu thấp, qua quá nhiều buôn bán trung gian đã hạn chếngười dân đầu tư cho trồng rừng
- Những chính sách hiện có vẫn chưa đủ để kích thích trồng rừng, Các chínhsách về khai thác, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu gỗ rừng trồng không ổn định, làmcho các nhà đầu tư không yên tâm đầu tư vào trồng rừng
- Trồng cây phân tán có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường, nhưngkhoảng 10 năm trở lại đây ít được ngành và Nhà nước quan tâm đúng mức [3]
1.6.2 Tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong những năm gần đây sản xuất lâm nghiệp đã từng bước cải thiện được vịtrí trong nền kinh tế chung của tỉnh, do nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu cung cấp gỗnguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xây dựng cơ bản và hiệu quả kinh tế thực sựmang lại từ rừng được người dân chấp nhận đã thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp củatỉnh phát triển Việc giao rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh được các cấp cácngành hết sức quan tâm nhằm mục tiêu đất đai phải có chủ thực sự, thực hiện việckhai thác sử dụng tài nguyên rừng và đất đai bền vững
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về rà soát đổi mới các lâm trường quốcdoanh, tính đến nay trên địa bàn tỉnh tất cả các đơn vị lâm nghiệp đã rà soát lại ranhgiới, diện tích đất đai được giao quản lý sử dụng và tiến hành giáo trả lại đất cho địaphương phát triển kinh tế
Hộ gia đình trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp chính quyền
và ngành lâm nghiệp trong đầu tư phát triển trồng rừng sản xuất vì vậy kinh tế hộgia đình phát triển Nguồn thu nhập từ trồng rừng đã mang lại hiệu quả thiết thựccho người dân Đặc biệt, dự án WB3 đã hỗ trợ người dân trong việc thiết kế trồngrừng, cho vay vốn và đặc biệt là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộtham gia trồng rừng dự án Tính đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp được giaocho hộ gia đình quản lý sử dụng theo dự án này là 43.208,8 ha
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18Bảng 1.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp Thừa Thiên Huế
Đơn vị tính: ha
TT Chỉ tiêu
Diện tích %
Diện tích %
Diện tích %
Diện tích %
2007/2006 2008/2007 2009/2008 Bq năm
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
I Theo nguồn gốc hình thành 351.38
3
100, 0
308.23 1
100, 0
314.14 4
100, 0
315.68 4
100, 0
308.23 1
100, 0
314.14 4
100, 0
315.68 4
Trang 19(Nguồn: Báo cáo số liệu hiện trạng rừng năm 2006,2007,2008,2009 của Chi Cục Kiểm Lâm Thừa Thiên Huế)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20Diện tích đất có rừng Tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2006 là 286.541 ha trong thờigian 4 năm tăng lên 294.298 ha vào năm 2009, mỗi năm bình quân 0,9% Trong đó,rừng trồng liên tục tăng trong các năm gần đây, năm 2009 con số này là 90.783 ha
so với 81.663 ha năm 2006, tức là mỗi năm bình quân tăng 3.040 ha Nguyên nhâncủa hiện tượng trên là do chuyển đổi mục đích sử dụng đối với đất chưa sử dụng vàtrồng mới rừng Như vậy chứng tỏ các cấp, các ngành, coi trọng trong việc quyhoạch, giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tập thể, cộng đồng trồng nghề pháttriển rừng
Qua bảng 1.1 chúng ta thấy, diện tích đất lâm nghiệp của hộ gia đình, tập thể,cộng đồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế tăng mạnh trong thời kỳ 2006-2009 từ 37.793 hanăm 2006 lên 90.726 ha năm 2009, bình quân trong những năm qua tăng 17.644ha,tương đương với tỷ lệ tăng là 33.9% năm Điều đó chứng tỏ nghề rừng là một trongnhững nghề quan trọng đối với các vùng dân cư nhất là các huyện miền núi Đồngthời đặt ra vấn đề đồi hỏi các cấp các ngành cần quan tâm hơn nữa trong việc quyhoạch đất đai đối với diện tích chưa sử dụng quy hoạch đất lâm nghiệp giao chocác hộ gia đình, tập thể, cộng đồng nhằm mục đích sử dụng nguồn đất có hiệuquả, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường đồng thời tạo nguồn thunhập đáng kế cho nông hộ trồng rừng, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội
Đối với diện tích rừng phòng hộ có xu hướng giảm liên tục qua các năm, năm
2006 là 158.443 ha so với năm 2009 là 88.499ha, bình quân mỗi năm giảm23.315ha Nguyên nhân của hiện tượng trên là theo kết quả quy hoạch lại 3 loạirừng diện tích đất trống quy hoạch cho lâm nghiệp đến năm 2010 của rừng phòng
hộ không còn [4]
Với diện tích rừng trồng sản xuất tăng đều qua trong các năm trở lại đây Năm
2009 con số này là 141.090 ha so với năm 2006 là 120.589 ha bình quân một nămtăng 6.834 ha Diện tích trồng rừng sản xuất tăng lên chủ yếu là Keo các loại, donhu cầu gỗ nguyên liệu tăng nhanh
Trong những năm trở lại đây, việc giao đất giao rừng lâm nghiệp trên địa bàn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21thực sự, thực hiện việc khai thác sử dụng tài nguyên rừng và đất đai bền vững Đặcbiệt, công tác trồng rừng nhất là trồng rừng sản xuất đang được chính quyền địaphương cũng như ngành lâm nghiệp trong tỉnh coi trọng Nhiều dự án trồng rừngsản xuất được đầu tư vào địa bàn và bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Vì vậy, kinh
tế của các tổ chức kinh tế, các hộ gia đình phát triển, khẳng định được vị trí trongcác thành phần kinh tế Nguồn thu nhập từ hoạt động trồng rừng đã mang lại hiệuquả thiết thực cho người dân
Bảng 1.2 Kết quả hoạt động sản xuất lâm nghiệp Thừa Thiên Huế ( 2007-2009)
STT Hạng mục ĐVT 2007 2008 2009
So sánh 2008/
2007
2009/
2008
BQ năm 1
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp được coi trọng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Diện tích khai thác rừng trồng tăng đều trong những năm gần đây trên địa bàntỉnh Thừa Thiên Huế Năm 2009 con số này là 1.021 ha so với 761 ha vào năm
2007 Nguyên nhân của hiện tượng trên là do nâng cao sức sản xuất và trữ lượng gỗtrên một đơn vị diện tích rừng trồng qua các năm tăng
Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2009 là 251 tỷ đồng, chiếm 8,9% tỷ trọngngành nông nghiệp, trong đó trồng và chăm sóc rừng 37,4 tỷ đồng, khai thác gỗ vàlâm sản 176,9 tỷ đồng, dịch vụ lâm nghiệp và thu khác 36,7 tỷ đồng [14]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì công tác trồng rừng kinh tế củatỉnh trong thời gian qua cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế nhất định:
- Đất quy hoạch cho trồng rừng kinh tế một số vùng không đảm bảo yêu cầu
về lập địa, diện tích manh mún không thành vùng tập trung trọng điểm gây khókhăn cho công tác quản lý và kinh doanh rừng
- Trồng rừng kinh tế còn mang tính chất quảng canh, chưa đi vào thâm canh vàđầu tư đúng mức để khai thác tối đa tiềm năng đất đai
- Một số nơi cây giống đưa vào trồng rừng chất lượng không đảm bảo, trồngrừng không đúng với điều kiện đất đai và thích nghi về sinh thái của loài nên năngsuất thấp, hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao [15]
1.7 KINH NGHIỆM VỀ TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT TRONG CÁC NÔNG HỘ 1.7.1 Tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa Bình đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển nghề trồngrừng, như: cơ chế hưởng lợi từ rừng, chính sách vay và hỗ trợ vốn để trồng rừng,chính sách khuyến lâm Ðặc biệt là chủ trương trồng rừng phải gắn với tiêu thụ, chếbiến lâm sản, từng bước tạo ra thị trường tiêu thụ lâm sản ổn định, tạo sự yên tâm
và niềm tin cho người trồng rừng Cùng với việc trồng rừng, tỉnh đã đầu tư xâydựng các nhà máy ván gỗ ép thanh có công suất lớn, chủ yếu tiêu thụ gỗ nguyênliệu cho người dân trong khu vực, nhờ đó hoạt động sản xuất, kinh doanh của cáccông ty ngày càng hiệu quả hơn, qua đó khẳng định chủ trương "gắn trồng rừng vớichế biến, tiêu thụ lâm sản" của tỉnh là hướng đi đúng Hòa Bình còn có những cơ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23chế biến, tiêu thụ lâm sản tại địa phương, tiếp tục tạo thêm việc làm và thu nhập ổnđịnh cho người dân trong khu vực.
Ðể nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển bền vững rừng cần quan tâm cảithiện đời sống của người dân sống ở khu vực rừng đặc dụng, phòng hộ Tỉnh đã xácđịnh quần chúng là lực lượng bảo vệ rừng tích cực, có hiệu quả nhất và có chế độhợp lý khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng
Hòa Bình quan tâm việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật để thâm canhrừng và chú ý trồng cây bản địa, cây dược liệu, nhằm đa dạng các loại cây trồng vàtạo sự ổn định bền vững cho rừng [2]
1.7.2 Tỉnh Yên Bái
Yên Bái là một trong những tỉnh đi đầu trong trồng rừng kinh tế: đầu năm
2009, Chi cục Lâm nghiệp phối hợp cùng các huyện xây dựng mô hình trồng rừngkinh tế bằng giống Keo lai, Keo hạt nhập nội để chuyển giao những tiến bộ kỹ thuậttrồng, chăm sóc bảo vệ rừng cho nông dân Trước khi triển khai các phần việc ngoàithực địa, Chi cục Lâm nghiệp đã mở hội nghị và các lớp tập huấn kỹ thuật, giớithiệu thông tin cơ bản liên quan đến mô hình và kỹ thuật chăm sóc các loài cây tiến
bộ cho các hộ tham gia dự án và các hộ dân trong vùng có nhu cầu về trồng rừng.Trong quá trình trồng và chăm sóc, cán bộ kỹ thuật của Chi cục Lâm nghiệp đãthường xuyên tổ chức các cuộc trao đổi rút kinh nghiệm cho nhân dân Qua đó,người dân đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của trồng rừng, cũng như nắm vững
kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và phát triển các loại cây trồng mới có năngsuất, chất lượng cao; thấy được hiệu quả của việc thâm canh rừng trồng và thời vụtrồng [27]
1.7.3 Tỉnh Vĩnh Phúc
Chú trọng đặc biệt đến công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhândân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của rừng Công tác tuyên truyền được đưa vàobuổi học ngoại khóa của các trường học trong khu vực có đất lâm nghiệp; vai trònòng cốt trong tuyên truyền là cựu chiến binh, lực lượng kiểm lâm từ đó nâng caochất lượng xã hội hóa công tác trồng và bảo vệ rừng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Thực hiện công tác giao đất, giao rừng sớm cho dân, ngay từ năm 1998 tất cảrừng và đất rừng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có chủ.
Tỉnh trích ngân sách hỗ trợ kỹ thuật, cây giống cho các đơn vị, các nhân làmnghề trồng rừng, tất cả các thành phần tham gia trồng rừng đều được giúp đỡ và đối
xử bình đẳng như nhau [40]
1.7.4 Tỉnh Bắc Cạn
Ðể thu hút đầu tư trồng rừng sản xuất, Bắc Cạn xây dựng ba phương án Một
là, doanh nghiệp thuê đất để trồng rừng đối với đất chưa giao cho ai quản lý Hai là,doanh nghiệp liên kết với dân để trồng rừng và cuối cùng là doanh nghiệp mua đấtcủa dân để trồng rừng sản xuất, trong đó tỉnh khuyến khích phương án một và hai.Thực hiện chủ trương thu hút đầu tư trồng rừng sản xuất của tỉnh và thấy đượclợi ích kinh tế mang lại từ trồng rừng sản xuất, thời gian qua, nhiều doanh nghiệprất quan tâm đến lĩnh vực này Thấy rõ lợi ích từ việc trồng rừng sản xuất mang lại,các cấp chính quyền ở địa phương, các hộ dân tộc thiểu số sẵn sàng đón nhận vàtích cực tham gia
Ngoài ra tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư các cơ sở chế biến gỗđồng thời tỉnh đang tiến hành xúc tiến phê duyệt quy hoạch lâm nghiệp, ban hànhcác quy chế thu hút đầu tư trong lâm và tăng cường đội ngũ cán bộ kỹ thuật về các
cơ sở nhằm tháo gở những khó khăn vướng mắc [43]
1.7.5 Tỉnh Thừa Thiên Huế
Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế, người dân của một số huyện, xã đã tích cựchưởng ứng tham gia chương trình trồng rừng khi có các chính sách ban hành, và cócác chương trình Dự án đầu tư hỗ trợ cho vay với lãi suất thấp như Dự án WB3, Dự
án JBIC, VIJACHIP… Điển hình có các huyện như huyện Phong Điền, huyệnHương Trà, huyện Phú Lộc, Hương Thuỷ, Nam Đông
Mặc dầu đóng góp của ngành lâm nghiệp trong tổng GDP của tỉnh ở mức thấpnhưng nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương nhưgiải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động nông thôn tham gia nghề rừngthông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân có đất trồng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25các sản phẩm từ gỗ rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng là những nỗ lực củangành nhằm xã hội hóa nghề rừng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cải thiện cuộcsống và góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân nông thôn miền núi.
- Nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích to lớn của rừng, góp phần tuyêntruyền vận động nhân dân cùng tham gia quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinhhọc, hạn chế thấp nhất tình trạng khai thác rừng trái phép, đốt phá rừng làm nươngrẫy, săn bắt động vật rừng trái phép
- Về cơ cấu tổ chức quản lý các đơn vị lâm nghiệp đã được rà soát, sắp xếp lại
để được giải quyết ổn định ranh giới quản lý, quy mô và chức năng nhiệm vụ củatừng đơn vị Quỹ đất lâm nghiệp của các đơn vị sau rà soát được giao trả cho địaphương phát triển kinh tế nông lâm nghiệp để phục vụ cho nhu cầu trồng rừng kinh
tế, trồng rừng thâm canh chất lượng cao
- Về công tác kỷ thuật, giống cây trồng: đã có nhiều đổi mới trong việc ứngdụng kỹ thuật tạo giống bằng công nghệ dâm hom cho trồng rừng kinh tế; lựa chọngiống mới phù hợp với lập địa trồng rừng phòng hộ
- Về thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ rừng trong tỉnh đã có các nhà máy chếbiến dăm gỗ xuất khẩu và các xí nghiệp sản xuất đồ mộc đáp ứng nhu cầu đầu vào
là nguyên liệu nhưng cũng chính là đầu ra sản phẩm rừng trồng của người dân, vìvậy đã kích thích được sản xuất lâm nghiệp phát triển nhất là kinh tế hộ gia đình
- Người dân đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lâmnghiệp như trồng rừng theo hướng thâm canh, sử dụng giống đạt chất lượng được
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh cấp giấy chứng nhận đủ quyền xuấtgiống và một số huyện sử dụng giống cây hom để trồng rừng với mục đích rút ngắnthời gian thu hoạch
Qua các công trình nghiên cứu trong nước và địa phương liên quan tới đề tàinghiên cứu cho thấy, các công trình nghiên cứu được triển khai tương đối toàn diện
và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ kỹ thuật cho tới kinh tế xã hội, nhờnhững kết quả nghiên cứu này mà công tác trồng rừng sản xuất ở các tập thể, cánhân quản lý rừng đã phát triển và đi vào sản xuất ổn định từ nhiều năm nay
Ở Việt Nam, nghiên cứu trồng rừng sản xuất mới thực sự quan tâm chú ýtrong những năm gần đây, nhất là khi chúng ta có chủ trương phát triển các nhà máy
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26giấy và các khu công nghiệp lớn Các công trình nghiên cứu tập trung vào chọn, tạocác giống có năng suất và chất lượng cao, biện pháp kỹ thuật gây trồng, lập địa vàcác cơ chế chính sách,… Nhờ vậy mà công tác trồng rừng sản xuất ở trong nhữngnăm qua đã có bước phát triển Tuy vậy các công trình nghiên cứu về thị trường,chính sách và công nghệ chế biến lâm sản còn ít, chưa bắt kịp được với yêu cầu củathực tiễn.
Tóm lại: Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân.
Lâm nghiệp có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như: cung cấp các lâmsản và đặc sản rừng cho nhu cầu xã hội, làm chức năng phòng hộ, có vai trò chứcnăng nghiên cứu khoa học Những đặc điểm của sản xuất Lâm nghiệp bắt nguồn từđối tượng sản xuất Lâm nghiệp, từ mục đích hoạt động của mục đích Lâm nghiệpcần xem xét kỹ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT CỦA CÁC NÔNG HỘ HUYỆN NAM ĐÔNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN HUYỆN NAM ĐÔNG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý địa hình
Nam Đông là một huyện miền núi thuộc phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tổng diện tích tự nhiên 65.194,6 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 53.819,5
ha, đất lâm nghiệp chiếm 48.936,3 ha Dân số 2,3 vạn gồm 2 dân tộc Kinh và Cơ-tu,trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (9.320 người) chiếm 41% Toàn huyện có 11 xã,thị trấn trong đó có 6 xã đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 70% Địa bàn huyệnchỉ có 1 tuyến đường thông thương ra ngoài Địa bàn của huyện nằm trong thunglũng hẹp của các dãy núi: Truồi, Bạch Mã, núi Man và một phần thượng nguồnsông Tả Trạch Địa hình phức tạp, chia cắt nhiều đoạn bởi đồi núi nhấp nhô vàsông, suối dày đặc của thượng nguồn lưu vực sông Hương (nguồn Tả Trạch) Hệthống sông, suối có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và sản xuất của dân cưnơi đây
Là một huyện có dân số ít nhưng là huyện có địa bàn phức tạp, trình độ dân tríthấp, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo có giảm nhưngvẫn đang ở mức cao Trong những năm qua được sự đầu tư của Nhà nước, công tácđịnh canh định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng đi vào thế vững chắc, tỉ
lệ hộ đói nghèo giảm
2.1.1.2 Thời tiết, khí hậu
Nam Đông là địa bàn tiếp giáp giữa hai vùng khí hậu Nam – Bắc, chịu ảnhhưởng của khí hậu của cả vùng núi cao Khí hậu trong năm có hai mùa rõ rệt: mùamưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8 Nhiệt độ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28trung bình là 24,20C, thấp nhất là 16,40C và cao nhất là 28,20C Lượng mưa trungbình lớn (1.900 – 4.200 mm/năm) Độ ẩm không khí cao nhất 96% (tháng 2), vàthấp nhất 83% (tháng 4 và tháng 8).
Qua đây cho thấy, sự đa dạng của khí hậu đã tạo nên sự đa dạng các loài câylâm nghiệp trên địa bàn huyện Bên cạnh đó, do sự biến động của thời tiết, mưanhiều, lũ lớn, gió Tây Nam khô và nóng cũng gây khó khăn trong sản xuất và đờisống của người dân
Thông qua các đặc điểm tự nhiên của huyện ở trên, cho thấy sự thuận lợi trongphát triển sản xuất và đây được coi là nơi hội tụ các điều kiện, tiềm năng và thếmạnh trong khai khai thác tài nguyên đất, mở rộng diện tích đất sản xuất nôngnghiệp, trồng cây có giá trị kinh tế cao
Bên cạnh đó huyện vẫn đối mặt với những khó khăn trong sự biến đổi của thờitiết khắc nghiệt, địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh, môi trường diễn biến theochiều hướng xấu Tài nguyên đất đa dạng, phong phú nhưng diện tích đất tốt khôngnhiều và phân bố trên các địa hình khác nhau Vì vậy, đòi hỏi chính quyền huyện vàcác cơ quan chức năng cần có quy hoạch phát triển tổng thể nhằm đưa huyện trởthành vùng kinh tế phát triển năng động
2.1.1.3 Tài nguyên đất huyện Nam Đông
Nam Đông có 9 loại đất khác nhau, trong đó đất phù sa sông suối phân bố ở độcao 60-80m, tập trung nhiều ở ven Sông Tả Trạch Các loại đất này có độ phì cao,địa hình đồi thấp tương đối bằng phẳng, được hình thành và phát triển trên địa bànkhá phức tạp và có nhiều đá mẹ khác nhau, do đặc điểm thổ nhưỡng khá đa dạngnên thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Tuy nhiên, do tính chất đa dạng
đó đã làm cho việc canh tác phân tán manh mún, điều kiện cơ giới hóa, thủy lợi gặpnhiều khó khăn Sự canh tác không đúng quy trình làm độ phì bị giảm kiệt, hiệntượng sói mòn xảy ra lớn Vì vậy, đòi hỏi có những biện pháp khắc phục kịp thờinhằm bảo vệ tài nguyên đất đai của vùng tốt hơn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29Bảng 2.1 Tình hình các loại đất trên địa bàn huyện Nam Đông
2 Đất nâu vàng trên đá diorit Fu 4.703,0 7,2
3 Đất vàng đỏ trên đá granit Fa 7.643,6 11,7
4 Đất vàng đỏ trên đá phiến thạch sét Fs 48.346,5 74,2
7 Đất phù sa ngòi suối không được bồi P 1.027,8 1,6
8 Đất phù sa ngòi suối được bồi Py 1.288,0 2,0
(Nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH huyện Nam Đông năm 2008)
Qua bảng 2.1 ta thấy đất vàng đỏ trên đá phiến thạch sét chiếm tỷ lệ cao nhấtchiếm 74,2% tổng diện tích của toàn huyện,loại đất này tập trung ở các xã: ThượngQuảng, Thượng Long và Thượng Lộ, là loại đất có tính chất tốt trong các loại đất đồinúi của huyện, hiện đang được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông lâm nghiệpĐất nâu vàng trên phù sa cổ có 383,8ha chiếm 0,6% tổng diện tích tự nhiên.Loại đất này có nơi làm đất thổ cư, có nơi để hoang, có nơi đang được trồng các loàicây như: chè, dứa Tuy diện tích không lớn nhưng có độ phì khá nên còn tận dụngvào sản xuất, những nơi có độ sâu khá trồng các loài cây lâu năm như cây ăn quả,những nơi có tầng đất mỏng trồng các loài cây hoa màu, các loài cây che phủ
Ở những vùng khác nhau, cấu tạo phẫu diện có những nét khác nhau khá rõ.Nhìn chung nó vẫn mang tính chất của đất phù sa, tầng đất khá dày (0,8 - 1m) Đất
đã được trồng trọt lâu đời, tầng đất mặt bị rửa trôi nhiều các chất dinh dưỡng Đất
có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng cấp hạt sét ở tầng dưới cao hơn tầng mặt
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30Đặc điểm của nhóm đất phù sa cổ mức độ kết von và đá ong hóa xảy ra khámạnh do xói mòn và rữa trôi mạnh nên nghèo chất dinh dưỡng Loại đất này phù hợpcho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng sản xuất và cây công nghiệp dài ngày.Đất phù sa được bồi hàng năm: Được phân bổ sát hai bên bờ suối các xã
tích đất tự nhiên Đất được hình thành do lắng đọng phù sa sông, nhưng do các sông
ở Nam Đông đều có vận tốc dòng chảy lớn, nên lắng đọng được các sản phẩm thô,
vì vậy đất có thành phần cơ giới nhẹ, hình thái phẫu diện tương đối đồng nhất về
những ưu điểm như: thành phần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp, tầng đất dày, thoát nướctốt, nên thích hợp với nhiều loại cây trồng trong nông nghiệp như: lúa, ngô, khoai,đậu đỗ
tổng điện tích tự nhiên Đất cũng có nguồn gốc hình thành như đất phù sa được bồihàng năm nhưng do phân bố ở xa sông hoặc ở địa hình cao, nên rất ít được bồi đắpphù sa Hầu hết, đất có độ phì tự nhiên khá, được sử dụng trồng các loài cây hoamàu như ngô, khoai, sắn
Như vậy, với điều kiện thổ nhưỡng ở Nam Đông phong phú, đa dạng, đất đaimàu mở rất thuận tiện cho sinh trưởng và phát triển nhiều loại cây trồng Tàinguyên khoán sản phong phú, trữ lượng một số khoán sản lớn đủ để đầu tư khaithác công nghiệp như: pirit, cao lanh, đá vôi, đá granit Đặc biệt là trữ lượng đá vôithuận tiện cho việc phát triển công nghiệp sản xuất ximăng Vơi tiền năng khoánsản phong phú như vậy sẽ góp phần tạo thêm ngành nghề mới tăng thu nhập chongười dân
Nam Đông là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhưng diện tích đất sản xuấtnông nghiệp lại nhỏ, độ dốc cao Đất đai hình thành và phát triển trên địa hình phứctạp và nhiều loại đá mẹ khác nhau Theo báo cáo kết quả hiện trạng đất đai củahuyện Nam Đông và số liệu thu thập từ phòng Thống kê (bảng 2.2)
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nam Đông
lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ % Tổng diện tích đất
Trang 32Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sử dụng đất tự nhiêntrên địa bàn: chiếm 81,9% (năm 2006), 82,4% (năm 2007), 82,6% (năm 2008) và82,6% (năm 2009), tỷ lệ tăng bình quân qua các năm là 0,4% Trong đó, diện tíchđất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất, chiếm 90,9% diện tích đất nông nghiệp và75,1% diện tích đất tự nhiên (năm 2009) Do đó, tiềm năng phát triển lâm nghiệptrên địa bàn là rất lớn Nếu so sánh sự biến động diện tích đất nông nghiệp từ 2006đến 2009, chúng ta thấy sự biến động theo xu hướng tăng dần Cụ thể, diện tích đấtnông nghiệp năm 2007 so với 2006 tăng 454 ha tương đương tăng 0,9%, năm 2008
so với năm 2007 tăng 119 ha tương đương 0,2% Nguyên nhân chủ yếu của nhữngthay đổi này tập trung chủ yếu vào sự thay đổi của diện tích đất bằng chưa sử dụng
và đất đồi núi chưa sử dụng Cụ thể, diện tích đất bằng chưa sử dụng năm 2006 là
825 ha, năm 2009 so với năm 2006 giảm xuống còn 698ha; bình quân năm giảm63ha tương đương giảm 5,4% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất đồi núi chưa sửdụng năm năm 2006 là 9.212 ha, năm 2009 giảm xuống là 8.676 ha, bình quân nămgiảm 268 tương đương 2% so với diện tích đất tự nhiên Qua tìm hiểu sự thay đổinày là do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Tương tự đất nông nghiệp diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng gia tăngtrong thời kỳ 2006-2009 Năm 2007 so với năm 2006 tăng 226ha, tăng 12,8%, năm
2008 so với năm 2007 tăng 8 ha, tăng 0,4%; Mức tăng bình quân là 117ha, tươngđương tăng 4,2% sự thay đổi này phù hợp với chủ trương mở rộng các khu côngnghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến… Đồng thời, đáp ứng việc quyhoạch cơ sở hạ tầng cho các vùng dân cư
Bên cạnh đó, diện tích đất chưa sử dụng lớn (9.375ha) chiếm 14,4% diện tíchđất tự nhiên (năm 2009) Diện tích này phân bố chủ yếu ở các vùng có điều kiệnkhó khăn về giao thông, các vùng núi, đồi khó tiếp cận Tuy nhiên, nếu có chiếnlược sử dụng, quy hoạch hợp lý và được đầu tư đúng mức, đa phần diện tích nàyhoàn toàn có thể đưa vào sử dụng cho mục đích phát triển lâm nghiệp Đặc biệt làphát triển trồng rừng sản xuất, không những đáp ứng mục tiêu phủ xanh đất trốngđồi núi trọc mà còn cải thiện sinh kế cho người dân
Như vậy, chiến lược mở rộng và phát triển lâm nghiệp vẫn là xu hướng đem
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33nó cũng phù hợp đặc điểm là huyện miền núi, và sinh kế người dân chủ yếu dựa vàonông – lâm nghiệp.
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số - lao động
Huyện Nam Đông có hai dân tộc chính là dân tộc Kinh và dân tộc Katu, trong
đó dân tộc Kinh chiếm 56,8% tổng số nhân khẩu trên toàn huyện Dân số bình quântoàn huyện trung bình đến năm 2009 là 23.362 người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên14,1%0, đồng bào dân tộc ít người có 10.292 nhân khẩu, phân bổ chủ yếu ở 4 xã:Thượng Lộ, Hương Hữu, Thượng Long, Thượng Quảng Dân số nông thôn củahuyện trong năm 2009 là 19.937 người, chiếm 85% tổng dân số, dân số thành thị là3.425 người chiếm 15% tổng dân số của huyện
Mật độ dân số trung bình của huyện là 36,4 người/km2 là một trong số nhữnghuyện có mật độ dân sô thấp nhất trên toàn tỉnh Mật độ dân dân số phân bổ khôngđều giữa các xã của huyện, tập trung cao nhất ở thị trấn Khe Tre với mật độ 848,6người/km2, xã Thượng Lộ có mật độ dân số thấp nhất 10,6 người/km2 Sở dĩ có sựchênh lệch này là do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, điều kiện sống cũng nhưđiều kiện sản xuất ở mỗi vùng khác nhau
Về lao động, toàn huyện đến năm 2009 có tỷ lệ lao động khá lớn: 13.426 laođộng, chiếm 57% dân số lao động của huyện, bình quân một năm tăng 1,8% Trong
đó, số người trong độ tuổi lao động chiếm 88,9%, lao động có khả năng lao độngchiếm 98,6% , mất khả năng lao động chiếm 1,4% số người trong độ tuổi lao động
Số người trong độ tuổi lao động không có việc làm chiếm 0,77% số lao động trong
độ tuổi có khả năng lao động [16]
Toàn huyện trong năm 2009 có 5.209 hộ, trong đó hộ trong nông nghiệp có 3.855
hộ, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 9,58%, bình quân mỗi năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,07%.Bình quân lao động nông nghiệp/tổng lao động giảm 2,03% và có xu hướngchuyển dịch từ lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác Do đặc điểm sảnxuất nông nghiệp theo mùa vụ, ngành nghề phụ kém phát triển nên thời gian nhànrỗi trong nông nghiệp còn nhiều Số người thiếu việc làm thường xuyên khá phổbiến, đặc biệt là các vùng xa trung tâm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34Bảng 2.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Nam Đông (2006-2009)
TT Chỉ tiêu ĐVT 2006 2007 2008 2009
So sánh
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ
lệ %
Số lượng
Tỷ lệ tăng dân sô tự
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009 huyện Nam Đông và Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 tỉnh Thừa Thiên Huế -ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35Như vậy, dân số và nguồn nhân lực ở huyện Nam Đông khá dồi dào và thuậntiện cho phát triển kinh tế Tuy nhiên trình độ dân trí còn thấp, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, tay nghề cao còn hạn chế, đa phần là lao động phổ thông, làm việc theomùa vụ có nhiều thời gian nhàn rỗi Mặt khác, sự phân bố dân cư không đều giữacác vùng (thành thị và nông thôn) đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triểnkinh tế xã hội trên địa bàn huyện Do vậy, các cơ quan chức năng cần phải có cácchính sách hỗ trợ, đầu tư như tạo công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, y tế,giáo dục nhằm nâng cao đời sống của người dân, và rút ngắn khoảng chênh lệchgiữa các vùng trên địa bàn huyện
Từ chỗ đồng bào dân tộc thiểu số hầu hết dùng nước khe suối đến nay có trên 98 %
hộ dùng nước hợp vệ sinh [37]
2.1.2.3 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế huyện Nam Đông
Kinh tế của huyện trong những năm qua phát triển nhanh, năm sau cao hơnnăm trước từng bước ổn định và bắt nhịp với sản xuất hàng hóa Tốc độ tăng trưởngkinh tế bình quân trong những năm qua là 14% [38] Năm 2006 tổng giá trị sản xuất
là 232.913 triệu đồng, năm 2009 tăng lên 411.742 triệu đồng, bình quân các nămtăng 59.610 triệu đồng, tương đương 20,9% Cụ thể (bảng 2.4):
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36Bảng 2.4 Cơ cấu kinh tế của huyện Nam Đông
CC (%) GT
CC (%)
2007/2006 2008/2007 2009/2008
Bình quân năm Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Trang 37Về thương nghiệp - dịch vụ: Giá trị sản xuất của ngành không ngừng tăng với
mức tăng trung bình 14.826 triệu đồng/năm, tương ứng với tỷ lệ tăng bình quân quacác năm là 20,8% luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất của huyện.Lĩnh vực du lịch thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư, phát triển
về cơ sở vật chất, hạ tầng Lĩnh vực dịch vụ du lịch sinh thái có tốc độ tăng trưởngkhá, tuy nhiên chỉ mới dừng lại ở mức độ khai thác các tiềm năng tự nhiên, sẵn có,việc đầu tư còn hạn chế, môi trường cảnh quan ở các điểm du lịch sinh thái chưađược chú ý đúng mức Các điểm du lịch, dịch vụ còn nghèo nàn chưa thu hút đượcnhiều khách đến tham quan nghỉ dưỡng, người dân chưa mạnh dạn bỏ vốn đầu tư
mở rộng các dịch vụ
Về công nghiệp – xây dựng: Hoạt động này có tốc độ tăng trưởng lớn nhất so
với các ngành khác ở huyện Năm 2009, giá trị sản xuất đạt 161.000 triệu đồng,chiếm 39,1% trong tổng giá trị sản xuất của huyện, bình quân mỗi năm tăng 28.107triệu đồng/năm, tương ứng với 27,9% mỗi năm Xây dựng cơ bản được chú trọngđầu tư, các dự án lớn đang triển khai và thực hiện như dự án: Thủy điện ThượngNhật, Thủy điện Thượng Lộ, nhà máy xi măng Nam Đông
Mặc dù ngành nghề công nghiệp-xây dựng có phát triển nhưng chưa phát huyhết công suất; các dự án lớn chậm khởi công làm ảnh hưởng đến tư tưởng của nhândân; công tác duy tu bảo dưỡng công trình chưa được quan tâm đúng mức
Về nông, lâm, ngư nghiệp: Do bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, giá cả
biến động bất thường làm cho diện tích sản xuất nông nghiệp giảm mạnh Tuynhiên, giá trị sản xuất ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng đều qua các năm, năm
2009 con số này là 147.873 triệu đồng so với 97.573 triệu đồng năm 2006, bìnhquân mỗi năm tăng 16.767 triệu đồng, tương ứng với 14,9% Mức tăng này có được
là nhờ sự đầu tư, chuyển đổi cây trồng vật nuôi theo hướng công nghiệp hóa nôngnghiệp nông thôn
Từ đó cho thấy, chính sách phát triển kinh tế của huyện đang chuyển dần sanghướng tập trung mạnh vào công nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện cho các thành phầnkinh tế phát triển năng động, phát huy các thế mạnh tiền năng của vùng Bên cạnh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38đó, chuyển đổi cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm, sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, kếtcấu hạ tầng chưa đồng bộ Vì vậy, các cấp chính quyền cần tạo môi trường đầu tư
để thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước vào những vùng này nhằm tạo sinh
kế, cải thiện đời sống, và rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng
2.1.3 Tình hình phát triển sản xuất ngành lâm nghiệp huyện Nam Đông
2.1.3.1 Tài nguyên rừng huyện Nam Đông
Một vùng có đặc trưng về khí hậu, địa hình, cơ cấu kinh tế, dân tộc như NamĐông thì rừng không những có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ đất đai, tài nguyênmôi trường, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế, cải thiện sinh
kế theo hướng giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là đồng bàodân tộc ít người
Tài nguyên rừng Nam Đông khá phong phú Với gần 90% diện tích đất tựnhiên, rừng Nam Đông có nhiều loại gỗ quý như Lim, Gõ, Kiền, Kim giao và cácđộng vật hoang dã như sao la, gấu, nai, lợn rừng, chim trĩ
Ngoài ra, do diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu đất đai củahuyện (xem bảng 2.2) cho nên cơ hội trong phát triển ngành lâm nghiệp trên địa bànrất lớn, và có thể đưa lâm nghiệp trở thành một trong những ngành mũi nhọn đónggóp vào sự phát triển kinh tế
Tổng diện tích đất có rừng trong năm 2009 là 49.156 ha chiếm 88,6% diện tích
tự nhiên, trong đó rừng tự nhiên có 45.180 ha chiếm 91,9% diện tích đất có rừng,chủ yếu thuộc đối tượng rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, trữ lượng rừng giàuthuộc đối tượng rừng sản xuất thấp điều đó phù hợp với quy luật tất yếu của việckhai thác lợi dụng tài nguyên rừng dẫn đến giảm diện tích và trữ lượng rừng củatrạng thái rừng giàu Rừng trồng có 3.976 ha chiếm 8,1% diện tích đất có rừng vàchủ yếu thuộc đối tượng rừng sản xuất, đây là nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu chủyếu cho công nghiệp chế biến gỗ rừng trồng, hàng mộc dân dụng Trong năm 2009diện tích rừng trồng có sự biến động hơn năm 2008 một phần do khai thác rừngtrồng và chuyển rừng trồng khu vực đường tỉnh lộ 14B để mở rộng đường La Sơn-
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39Bảng 2.5 Các loại rừng và đất Lâm nghiệp huyện Nam Đông
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Trang 40Qua bảng 2.5 cho thấy diện tích đất lâm nghiệp theo đơn vị quản lý sử dụngthể hiện sự đa dạng hóa thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh nghề rừng.Các thành phần kinh tế như: cộng đồng tập thể, hộ gia đình đã được giao đất và cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp để kinh doanh rừng ổn định.
Đối với diện tích đang do chính quyền địa phương quản lý, cần được đưa vào
kế hoạch giao đất rừng cho các tổ chức, cá nhân để thực hiện mục tiêu đất đai thực
sự có chủ
Trong những năm qua, các cấp chính quyền huyện luôn coi trọng đầu tư, vàthu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển lâm nghiệp Qua bảng 2.5 chothấy, diện tích đất có rừng tăng đều từ năm 2006 đến 2009, từ 48.862 ha lên 49.156
ha, bình quân mỗi năm tăng 98ha, điều đó chứng tỏ huyện đang có chiến lược mởrộng và phát triển rừng trồng, nhất là rừng trồng sản xuất Năm 2006, diện tích rừngtrồng là 3.660 ha tăng lên 3.976 ha vào năm 2009
Diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có thay đổi nhưng không đáng kểqua các năm Tuy nhiên, năm 2007, diện tích hai loại rừng này có xu hướng giảm,
và chuyển sang phát triển rừng trồng sản xuất Điều này cũng phù hợp với chiếnlược phát triển ngành lâm nghiệp của huyện và tỉnh
Bên cạnh đó, diện tích đất trống có khả năng sản xuất lâm nghiệp cũng cầnđưa vào trồng rừng nhằm tăng độ che phủ rừng Đây là điều hết sức quan trọng vừacải thiện môi trường vừa giảm nhẹ áp lực khai thác rừng tự nhiên, tạo thu nhập chongười dân miền núi như Nam Đông
Góc độ phân bố tài nguyên rừng theo vùng địa lí (theo xã) được thể hiện ởbảng 2.6
Số liệu ở bảng 2.6, chúng ta thấy diện tích đất lâm nghiệp các xã tăng trongcác năm, năm 2006 là 15.200 ha và tăng lên 15.355 ha vào năm 2009, trong thờigian 4 năm tăng lên bình quân 52 ha năm Diện tích đất lâm nghiệp tập trung chủyếu ở Thượng Quảng, 6.196 ha, chiếm 40,4%, tiếp đến là Hương Phú, 2.119ha,chiếm 13,8% diện tích rừng sản xuất toàn huyện Trong khi đó, thị trấn Khe Tre có
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ