1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình

170 388 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vốn đầu tư phát triển qua kênh NSNN được thể hiện qua hai phần: Một phầnvốn đầu tư xây dựng công trình tập trung của Nhà nước, một phần từ nguồn kinhphí sự nghiệp kinh tế hàng năm.- Nguồ

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trọng của giao thông vận tải nóiriêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, nó có vai trò rấtquan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là huyết mạch của nền kinh tế, đóng góp

to lớn vào quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá; cho phép

mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá giữa các vùng trong cả nước; khai thác sử dụnghợp lý mọi tiềm năng của đất nước; xoá đi khoảng cách về địa lý; chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng hợp lý; phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương,từng ngành; xoá đói giảm nghèo; cũng cố quốc phòng - an ninh …

Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ của nước ta trong thời gianqua còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản trở nhiều tới mục tiêu phát triển chung củađất nước, làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là cácnguốn vốn nước ngoài và giảm tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cảntrở tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới

Trong thời gian qua vốn ngân sách nhà nước dành cho phát triển giao thôngđường bộ luôn chiếm tỷ trọng cao so với những ngành khác, nguồn vốn ngân sáchnhà nước cũng đã phát huy được những hiệu quả nhất định và vẫn luôn là một trongnhững nguồn vốn quan trọng nhất trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ.Tuy nhiên, công tác sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong thời gian qua cũng cònbộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục nhằm tránh lãng phí nguồn vốn ngân sáchtrong điều kiện nước ta còn là nước đang phát triển, còn rất nhiều mục tiêu cần thựchiện và ngân sách nhà nước cũng tương đối hạn hẹp Để giải quyết vấn đề trên,đồng thời cũng là một chuyên viên của Sở Giao thông Vận tải Quảng Bình, tôi

quyết định chọn nội dung nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư

xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.

2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

- Các vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao

thông đường bộ, nguồn vốn đầu tư, vốn NSNN, quản lý vốn đầu tư và quản lý vốnđầu tư từ NSNN?

- Những kinh nghiệm nào từ thực tế để quản lý vốn đầu tư nói chung? Quản lývốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN nói riêng? ở cácđịa phương trong nước và trong tỉnh?

- Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có ảnh hưởng đếncông tác đầu tư và quản lý vốn đầu tư?

- Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

từ NSNN tại tỉnh Quảng Bình như thế nào?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư nóichung và từ NSNN nói riêng?

- Những giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Quảng Bình?

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mục tiêu chung của đề tài: Trên cơ sở tổng quan lý luận và thực tiễn, phântích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từNSNN, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Quảng Bình

- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN

+ Đánh giá thực trạng về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầnggiao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn2013-2020

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động đầu tư và công tác quản lý vốn đầu tư,Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

đi sâu nghiên cứu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNNtại tỉnh Quảng Bình.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từnguồn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình do Sở GTVT Quảng Bình làm Chủ đầu tư.+ Thời gian đánh giá thực trạng từ năm 2008-2012

+ Các giải pháp đề xuất từ năm 2013-2020

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

Đầu tiên là thu thập nguồn số liệu thứ cấp, sau đó thu thập số liệu sơ cấp thôngqua điều tra

+ Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập ở các văn bản, chính sách của Trung ương vàđịa phương ban hành, các báo cáo tổng kết, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hộicủa tỉnh và của ngành GTVT, nguồn số liệu thống kê về vốn đầu tư trên địa bàn tỉnhQuảng Bình (Cục Thống kê; các phòng, Ban QLDA xây dựng công trình thuộc SởGTVT Quảng Bình)

+ Nguồn số liệu sơ cấp: Thông qua điều tra, phỏng vấn các doanh nghiệp xâydựng, các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, các đơn vị hưởng lợi trênđịa bàn như: UBND các huyện, thành phố trên địa bàn, các chuyên gia, các cán bộquản lý công tác trong lĩnh vực đầu tư nói chung trên địa bàn tỉnh, thông qua phiếuđiều tra Nguồn tài liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu được thực hiện với 150phiếu điều tra phát ra cho 30 đơn vị cơ sở là các đơn vị đã thực hiện các dự án đầu

tư xây dựng, quản lý dự án và hưởng lợi từ các dự án

5.2 Sử dụng các công cụ toán kinh tế

Sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để tập hợp dữ liệu điều tra Thông qua các sốliệu đã được tổng hợp, tiến hành phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy,phân tích nhân tố, phân tích hồi quy và so sánh ý kiến đánh giá của các đối tượngđược điều tra nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vốn đầu tư

từ NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

5.3 Phương pháp phân tích thống kê

Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, tỷtrọng, số bình quân, phương pháp so sánh, phương pháp mô tả, hệ thống phươngpháp luận cho nghiên cứu cả lý luận thực tiễn để xác định mối quan hệ giữa các nộidung nghiên cứu Các nội dung về vốn đầu tư, số lao động, hình thức đầu tư, ngànhnghề và lĩnh vực đầu tư

5.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài những phương pháp kể trên, bảnthân đã thu thập ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý trong lĩnh vực đầu tưnhư: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Giao thông Vận tải, Kho bạcNhà nước, để làm căn cứ cho việc đưa ra các kết luận một cách chính xác, có căn

cứ khoa học và thực tiễn; làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp có tính thực tiễn,

có khả năng thực thi và có sức thuyết phục cao nhằm hoàn thiện công tác sử dụngvốn đầu tư xây dựng từ NSNN có hiệu quả hơn

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giaothông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình trong thời kỳ 2008-2012.Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện côngtác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ NSNN tạitỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013-2020

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU

TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ NGÂN

SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Lý luận về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông

đường bộ từ Ngân sách Nhà nước

1.1.1 Đầu tư và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

1.1.1.1 Khái ni ệm đầu tư

Có rất nhiều quan niệm về đầu tư trên nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau nhưng

hiểu một cách chung nhất: “Đầu tư là quá trình bỏ vốn ở thời điểm hiện tại liên quan

đến việc tính toán hiệu quả về các mặt kinh tế, xã hội do quá trình hoạt động đầu tư

mang lại” Theo phương diện hoạch định tài chính thì: “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất

định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó” [15]

Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Đầu tư: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt

động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên

quan” Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của

pháp luật Việt Nam [21]

Như vậy: Đầu tư là từ để chỉ việc đem công sức, trí tuệ, tiền bạc làm một việc

gì nhằm đem lại kết quả, lợi ích nhất định Mục tiêu của các công cuộc đầu tư là đạtđược các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phảigánh chịu khi tiến hành đầu tư

Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động

Trang 6

điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội.

Những kết quả đạt được nói trên không chỉ nhà đầu tư mà cả nền kinh tế xãhội được thụ hưởng

Theo những khái niệm trên thì bất kỳ một hoạt động bỏ vốn nào nhằm mục đíchthu được hiệu quả như: Bỏ tiền mua cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiết kiệm hoặc để cải tạo,bảo vệ môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, được gọi là đầu tư

1.1.1.2 Khái ni ệm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

Đầu tư phát triển giao thông đường bộ (GTĐB) là một phần của đầu tư pháttriển cơ sở hạ tầng (CSHT), vì vậy trước khi tìm hiểu hiểu về khái niệm của GTĐBchúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về CSHT

CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xãhội, là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch

vụ sản xuất, đời sống của dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợpgiản đơn giữa 3 yếu tố là: lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Nhưngkhi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự thamgia của CSHT mới tạo ra được sự phát triển tối ưu nhất, bởi lẽ CSHT có vai tròquyết định đến kiến trúc thượng tầng hay tác động trực tiếp đến sự phát triển củanền kinh tế, CSHT chỉ thực sự phát triển sau cuộc cách mạng khoa học công nghệvào Thế kỉ thứ 19

CSHT được chia làm 3 nhóm chính: CSHT kỹ thuật, CSHT xã hội và CSHTmôi trường:

+ CSHT kỹ thuật bao gồm các công trình và phương tiện vật chất phục vụ chosản suất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, hệ thống điện, bưuchính viễn thông, …

+ CSHT xã hội là các công trình và phương tiện để duy trì và phát triển cácnguồn lực như các cơ sở giáo dục đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, các cơ sởđảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống công viên, cáccông trình đảm bảo an ninh xã hội

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

+ CSHT môi trường bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trườngsinh thái của đất nước cũng như môi trường sống của con người như các công trình

xử lý nước thải, rác thải…

GTĐB là một bộ phận của CSHT kỹ thuật bao gồm toàn bộ hệ thống cầu,đường phục vụ cho nhu cầu đi lại của người dân cũng như nhu cầu giao lưu kinh tế,văn hoá, xã hội giữa những người dân trong cùng một vùng hay giữa vùng này vớivùng khác hoặc giữa nước này với nước khác

1.1.1.3 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

GTĐB là các kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó mang đặc điểmcủa hoạt động đầu tư phát triển là :

- GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồivốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn Do

đó, vốn đầu tư chủ yếu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốn NSNN

- Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện

dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thờigian kéo dài hàng chục năm

- Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian này được tính từ khicông trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình

- Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi

Trang 8

GTĐB đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng củahoạt động đầu tư: Bất kì sai lầm nào từ khâu kế hoạch hoá hệ thống GTĐB đếnkhâu lập dự án hay thẩm định các dự án đường bộ… cũng sẽ ảnh hưởng đến quátrình vận hành của toàn bộ hệ thống đường bộ và gây ra những thiệt hại lớn khôngchỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội Tính hệ thống và đồng bộ không nhữngchi phối đến các thiết kế, quy hoạch mà còn được thể hiện ở cả cách thức tổ chứcquản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ Chính đặc điểm này đã đòi hỏi khi lập kếhoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển GTĐB không được xem xét tới lợi ích riêng

lẽ của từng dự án mà phải xét trong mối quan hệ tổng thể của toàn bộ hệ thống đểđảm bảo được tính đồng bộ và hệ thống của toàn bộ mạng lướí GTĐB, tránh tìnhtrạng có một vài dự án làm ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ hệ thống

- Đầu tư phát triển GTĐB mang tính định hướng: Đây là đặc điểm xuất phát từchức năng và vai trò của hệ thống GTĐB Chức năng chủ yếu của GTĐB là thỏa mãnnhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của người dân cũng như của các doanh nghiệp,GTĐB được coi là huyết mạch của nền kinh tế, đảm bảo giao thương giữa các vùngmiền và mở đường cho các hoạt động kinh doanh phát triển hơn nữa Hoạt động đầu

tư phát triển GTĐB cũng cần phải có một lượng vốn lớn cũng như cần thực hiệntrong khoảng thời gian dài, do đó để đảm bảo đầu tư được hiệu quả và loại trừ đượccác rủi ro thì cần phải có những định hướng lâu dài GTĐB cần mang tính địnhhướng vì nó là ngành đi tiên phong thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển

- Đầu tư phát triển GTĐB mang tính chất vùng và địa phương: Việc xây dựng

và phát triển GTĐB phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Đặc điểm địa hình; phongtục tập quán của từng vùng, từng địa phương; trình độ phát triển kinh tế của mỗi nơi

và quan trọng nhất là chính sách phát triển của Nhà nước… Do đó, đầu tư phát triểnGTĐB mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho mỗi vùng và địa phươngphát huy được thế mạnh của mình, đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của cảnước Vì vậy, trong kế hoạch đầu tư phát triển GTĐB không chỉ chủ yếu đến mụctiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý cả đến điều kiện, đặc điểm tự nhiêncũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

- Đầu tư phát triển GTĐB mang tính xã hội hoá cao và có nhiều đặc điểmgiống với hàng hoá công cộng: Các công trình GTĐB là những hàng hoá công cộng

vì mục đích sử dụng của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống, làtổng hòa mục đích của nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xãhội Điều đó cho thấy đầu tư phát triển GTĐB cần phải giải quyết cả mục tiêu pháttriển kinh tế và mục tiêu cộng đồng mang tính chất phúc lợi xã hội Điều này là rấtquan trọng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, trong điềukiện NSNN còn hạn hẹn cùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nênkhông thể đáp ứng hết nhu cầu đầu tư phát triển GTĐB

1.1.1.4 Vai trò đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

Việt Nam là quốc gia nằm ở cực Đông Nam của bán đảo Đông Dương, có diệntích khoảng 330.991 km2 nằm trải dài từ Bắc tới Nam với chiều dài khoảng 1.650

km, do đó hệ thống đường bộ có một vị trí rất quan trọng Giao thông vận tải bằngđường bộ là loại hình vận tải có chi phí thấp và thuận lợi, đặc biệt là trong nền kinh

tế thị trường, nhu cầu lưu thông hàng hoá và đi lại của con người rất lớn Xây dựng

hạ tầng GTĐB tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển, giao lưu văn hoá, hội nhậpquốc tế và bảo vệ an ninh quốc phòng

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế: Những đóng góp tích cực của hệ thống giao thôngđường bộ vào sự phát triển kinh tế là rất rõ ràng và được thế hiện ở các vai trò sau:

+ GTĐB góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, rútngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước, do đó làm chuyểndịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế giữa các địa phương,tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và thúc đẩy các địaphương phát triển kinh tế Hệ thống GTĐB phát triển sẽ tạo điều kiện cho các hoạtđộng giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng và địa phương với nhau, giữaquốc gia này với quốc gia khác, từ đó sẽ tìm ra được những cơ hội đầu tư tốt và tiếnhành đầu tư, các hoạt động xúc tiến thương mại phát triển, cùng với đó là thu hútcác nguồn vốn trong nước và ngoài nước cho mục tiêu phát triển kinh tế

+ GTĐB góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông quaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động Sự phát triển của hạ tầng GTĐB

đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong thời gian qua.Các công trình GTĐB sẽ thu hút một lượng lớn lao động, do đó góp phần giải quyếtvấn đề thất nghiệp cho quốc gia Mặt khác, khi vốn đầu tư cho hệ thống GTĐB lớn sẽkích thích thu hút vốn đầu tư cho các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm phục vụ cho

sự phát triển của các công trình giao thông như sắt, thép, xi măng, gạch …

+ Hạ tầng GTĐB phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí vàthời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêudùng và phát triển của các ngành khác Trong các loại hình vận tải ở Việt Nam thìvận tải bằng đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất, do đó nếu hạ tầng GTĐB tốt sẽ tiếtkiệm được rất nhiều chi phí và có thể lấy số chi phí tiết kiệm được để thực hiện pháttriển các ngành khác

- Phát triển văn hoá - xã hội:

Phát triển văn hoá xã hội là phát triển đời sống tinh thần của người dân, điềunay góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của quốc gia Dân số Việt Namtính đến năm 2012 là khoảng gần 90 triệu người đến từ các dân tộc khác nhau vàsống trong các vùng không đồng đều về lịch sự, địa lý…, do đó đời sống tinh thầncũng khác nhau, đặc biệt là giữa thành thị với nông thôn và các vùng xa xôi hẻolánh Nhờ có hạ tầng GTĐB phát triển mà khoảng cách đó ngày càng được xoá bỏ,

sự giao lưu văn hoá giữa các vùng ngày càng đuợc tăng cường và làm phong phúthêm đời sống của người dân Việt, từ đó kích thích người dân hăng say lao động,đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước

Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sảnxuất mới phát triển, từ đó tạo cơ hội việc làm và giảm được sự phát triển khôngđồng đều giữa các vùng, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành thị,hạn chế được sự phân hoá giàu nghèo, giảm được các tệ nạn xã hội, góp phần tíchcực vào bảo vệ môi trường sinh thái

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Mục tiêu quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng đềuTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

là lợi nhuận Có nhiều cách để doanh nghiệp áp dụng nhằm có được lợi nhuận tối đa

và một trong những cách đó là giảm chi phí một cách tối thiểu Hạ tầng GTĐB sẽđóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp có chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn Khi hạ tầng GTĐB phát triển thìcác doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoátới nơi tiêu thụ, chi phí nhập nguyên liệu Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiếtkiệm được một số chi phí khác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phílưu trữ hàng tồn kho… Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm vànâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Hệ thống GTĐB phát triển cũng sẽ giúp cácdoanh nghiệp giao hàng đúng nơi và đúng thời gian, tạo được uy tín cho doanhnghiệp, đây là điều rất quan trọng trong kinh doanh Mặt khác khi GTĐB phát triểnthì sản phẩm dễ dàng đến tay người tiêu dùng, do đó hàng hóa sẽ được tiêu thụnhanh hơn, rút ngắn thời gian quay vòng vốn và làm tăng hiệu quả sử dụng vốncũng như tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp

- Bảo đảm quốc phòng - an ninh:

Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh - xã hội vàbảo vệ quốc phòng Với hạ tầng GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc tình trạng ùn tắcgiao thông đang xảy ra trong thời gian qua, đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tainạn giao thông, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Đây là một trong những vấn đề màĐảng và Chính phủ đang rất quan tâm Hơn nữa, hệ thống GTĐB phát triển sẽ gópphần bảo vệ biên giới của đất nước, GTĐB phát triển góp phần nâng cao trình độhiểu biết và ý thức của người dân, đặc biệt là các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, từ đóđảm bảo sự ổn định về chính trị quốc gia

- Đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế:

Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽgiữa các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới và Việt Nam cũng khôngnằm ngoài xu hướng đó Hiện nay, hạ tầng GTĐB của nước ta còn ở mức yếu so vớicác nước trong khu vực nên ảnh hưởng lớn tới khả năng hội nhập và giao lưu vớicác nước Chính vì vậy mà Việt Nam đang xúc tiến để xây dựng các hệ thống đuờngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

xuyên quốc gia góp phần mở rộng giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các nước.

1.1.2 Nguồn vốn đầu tư

1.1.2.1 Khái ni ệm nguồn vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư của xã hội là nguồn được hình thành trên cơ sở huy độngcác nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế,luật pháp Nguồn vốn trong nước bao gồm: Nguồn vốn từ NSNN; nguồn vốn tíndụng (tín dụng Nhà nước, tín dụng Ngân hàng); các nguồn vốn khác (vốn đầu tư củacác doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư) Nguồn vốn ngoài nước gồm có: Đầu tưtrực tiếp nước ngoài; nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác

1.1.2.2 Phân lo ại nguồn vốn đầu tư

Điều kiện cần cho hoạt động đầu tư là phải có vốn, đặc biệt trong điều kiệnkinh tế hội nhập, nền kinh tế còn gặp khó khăn, vốn đầu tư được huy động bằngnhiều nguồn khác nhau và được phân loại như sau:

a Nguồn vốn đầu tư trong nước

- Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước:

Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông

qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà

nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong

một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” [19]

Nguồn vốn đầu tư từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự ánkhông có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung chonền kinh tế - xã hội; các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc khôngmuốn tham gia đầu tư Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tínhchất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ

Nguồn vốn NSNN được hình thành từ tiết kiệm của NSNN, đó là khoản chênhlệch giữa thu và chi của NSNN Thu của NSNN được thực hiện chủ yếu là từ thuế

và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ phí và thu khác Chi của NSNN baogồm: Chi cho đầu tư phát triển và chi thường xuyên cho quản lý hành chính, quốcphòng - an ninh, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, chi các sự nghiệpTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

kinh tế Muốn tăng nguồn tích lũy của NSNN phải phấn đấu tăng thu và tiết kiệmchi Vốn đầu tư phát triển qua kênh NSNN được thể hiện qua hai phần: Một phầnvốn đầu tư xây dựng công trình tập trung của Nhà nước, một phần từ nguồn kinhphí sự nghiệp kinh tế hàng năm.

- Nguồn vốn tín dụng Nhà nước:

Là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước, được thựchiện chủ yếu bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành.Trong trường hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn nhưng nguồn thu lạikhông thể đáp ứng được, để thỏa mãn nhu cầu này, Chính phủ thường cân đối ngânsách bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ Ở nước ta hiện nay, Trái phiếuChính phủ có các hình thức sau đây: Tín phiếu, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầutư… Đối với vốn đầu tư phát triển, hình thức tín dụng nhà nước có thể tác động lênhai mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạchđầu tư phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tư cho một số dự án nào đó,nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng

- Nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước:

Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước vì nhiều lý do khácnhau: Bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh doanh ở những lĩnhvực mà tư nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu quả kinh tế thấp,nhất là ở những lĩnh vực như giao thông, thủy lợi, năng lượng, dịch vụ công cộng

Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước được hình thành từ rất nhiềunguồn khác nhau: Là nguồn vốn do NSNN cấp cho các tập đoàn, công ty nhà nướcnắm 100% vốn hoặc cổ phần chi phối, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hướng giảmđáng kể cả về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành tráiphiếu, cổ phiếu (đối với các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa); tiềnkhấu hao cơ bản của tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để lại doanh nghiệp

- Nguồn vốn tín dụng ngân hàng:

Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công tytài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm có vai trò rất quan trọng trongTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

việc huy động vốn đầu tư phát triển Các tổ chức này có ưu điểm là có thể thỏa mãnđược mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu nhữngđối tượng vay vốn chấp hành đầy đủ những quy chế tín dụng Sở dĩ các tổ chức này

có thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khốilượng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử dụng dưới nhiều hình thức huy động khácnhau rất phong phú và đa dạng Mặt khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (baogồm vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn), tùy thuộc vào nhu cầu của người đi vay

- Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh:

Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh được hình thành từ nguồn tiết kiệmcủa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiết kiệm của dân cư

b Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Những nước đang phát triển như nước ta, dù có huy động tối đa nguồn vốntrong nước cũng chưa thể thỏa mãn nhu cầu cho đầu tư phát triển, nhất là trong điềukiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp như hiện nay Với tình hình thực tế ở nước tacho thấy, đầu tư nước ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêutrên, đồng thời với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội,quan hệ giao thương kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã trở thànhnhu cầu bức xúc của tất cả các nước trên thế giới Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau:

- Viện trợ phát triển chính thức (ODA):

Là nguồn vốn do Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế viện trợ khônghoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi Nguồn này thườngđược tập trung vào Ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay.Hình thức viện trợ phát triển chính thức ngoài vốn ngoại tệ thường được đầu tưdưới dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia

- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI):

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa “Đầu tư trực tiếp

nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được

một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trongphần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài làcác cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là

"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" [17]

- Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO):

Trước đây, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu là cho các nhu cầunhân đạo như nhu cầu cung cấp thuốc men, lương thực, quần áo cho nạn nhân bị thiêntai, dịch bệnh, dịch họa Những năm gần đây tính chất của những khoản viện trợ này

đã có sự thay đổi, chuyển dần từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc đầu tư pháttriển các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ Nếu chúng ta biết tranh thủ,khai thác các dự án của NGO thì có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa

và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp ở nông thôn phát triển

1.1.2.3 V ốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

a Vốn đầu tư

Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là một trong những yếu tố đầu vào cơbản của mọi quá trình sản xuất Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang pháttriển và đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện nay Vốn là toàn bộ giá trị của đầu

tư để tạo ra các tài sản nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai; các nguồn lực được

sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư, nếu quy đổi ra thành tiền thìvốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư

Vốn đầu tư là toàn bộ các chi phí bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư Như vậy theoquan điểm kinh tế vĩ mô, vốn đầu tư trong kinh tế bao gồm ba nội dung chính là: Vốnđầu tư làm tăng tài sản cố định; Vốn đầu tư tài sản lưu động và Vốn đầu tư vào nhà ở

Theo Khoản 9, Điều 3, Luật Đầu tư: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp

pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp” [21]

Theo Khoản 1, Điều 2, Nghị định 108/2006/NĐ-CP: “Vốn đầu tư là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện hoạt động

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp Tài sản hợp pháp gồm:

- Cổ phần, cổ phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác;

- Trái phiếu, khoản nợ và các hình thức vay nợ khác;

- Các quyền theo hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng chìa khóa trao tay, hợp

đồng xây dựng, hợp đồng quản lý, hợp đồng phân chia sản phẩm hoặc doanh thu;

- Các quyền đòi nợ và quyền có giá trị kinh tế theo hợp đồng;

- Công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, tên thương mại, nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ;

- Các quyền chuyển nhượng, bao gồm cả các quyền đối với thăm dò và khai thác tài nguyên;

- Bất động sản; quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh;

- Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận, lãi

cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí;

- Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật và

điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.”[5]

b Vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

Theo Điều 2, Thông tư số 86/2011/TT-BTC: “Vốn NSNN cho đầu tư phát triển và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư bao gồm:

- Vốn trong nước của các cấp NSNN;

- Vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước (phần ngân sách nhà nước) Các nguồn lực thuộc quyền sở hữu và chi phối toàn diện của Nhà nước được

sử dụng cho hoạt động đầu tư được gọi là vốn đầu tư từ NSNN.

NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia

huy động và phân phối vốn đầu tư thông qua hoạt động thu chi của ngân sách”.[3]

- Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, vốn đầu tư từ NSNNđược hình thành từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ bán, khoảnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác).

+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồnviện trợ phi Chính phủ)

- Theo phân cấp quản lý ngân sách vốn đầu tư từ NSNN chia thành:

+ Vốn đầu tư của Ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thucủa Ngân sách Trung ương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia.Nguồn vốn này được giao cho các Bộ, ngành quản lý sử dụng

+ Vốn đầu tư của Ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu củaNgân sách địa phương nhằm đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địaphương đó; nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương(tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện

- Theo mức độ kế hoạch hoá, vốn đầu tư từ NSNN được phân thành:

+ Vốn đầu tư xây dựng công trình tập trung: Nguồn vốn này được hình thànhtheo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết địnhgiao cho từng Bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

+ Vốn đầu tư xây dựng công trình từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyếtcủa Quốc hội: Thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thucấp đất, chuyển quyền sử dụng đất…

+ Vốn đầu tư phát triển theo chương trình dự án quốc gia

+ Vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tưtăng cường cơ sở vật chất như: truyền hình, thu học phí…

- Vốn đầu tư từ NSNN được đầu tư cho các dự án sau: Các dự án kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu

tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chicho công tác điều tra, khảo sát lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng,lãnh thổ; quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Chính phủ cho phép

1.1.2.4 Đặc điểm vốn Ngân sách Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

Hạ tầng GTĐB là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng giao thông vậnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

tải nói riêng và của kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nói chung Sự phát triểncủa hạ tầng GTĐB góp phần nâng cao năng lực của nền kinh tế, là tiền đề thúc đẩycác ngành khác phát triển, do đó vốn đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB cũng cónhững đặc điểm riêng so với vốn đầu tư phát triển các ngành khác:

- Vốn đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB phải đảm bảo về mặt vật chất nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác, đặc biệt là các ngành kinh tế mũinhọn, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, tiết kiệm chi phí cho xã hội và tài nguyêncủa đất nước

- Vốn đầu tư để thực hiện phát triển GTĐB được cân đối trong phạm vi ngânsách, do đó cần phải chú ý đến những đặc điểm nào nhằm tăng cường hạ tầngGTĐB đạt hiệu quả tối đa mà không ảnh hưởng đến nguồn vốn từ NSNN để pháttriển các ngành khác

- Hạ tầng GTĐB có vị trí cố định, phân bổ khắp các vùng miền của đất nước

và có giá trị rất lớn Vì vậy, vốn đầu tư phát triển GTĐB từ NSNN không chỉ chútrọng tới nhu cầu đi lại hiện tại mà còn phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hoángày càng tăng trong tương lai, cho nên cần phải có kế hoạch sử dụng vốn một cáchhiệu quả: Cần xem xét các ngành mũi nhọn, tính toán lựa chọn các tuyến đường…

- Vốn đầu tư cho xây dựng các công trình hạ tầng GTĐB thường phát sinhtrong thời gian dài, nhiều công trình phải đầu tư trong 10 năm mới có thể đưa vàokhai thác, sử dụng, nhiều loại công việc có tính chất, đặc điểm khác nhau Chính vìvậy cần phải có các biện pháp quản lý và sử dụng vốn thích hợp để tránh thất thoátlãng phí nguồn vốn NSNN

- Hiệu quả sử dụng vốn NSNN để đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB gồm cảhiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả xã hội còn được đánh giá caohơn ở nhiều công trình như các công trình xây dựng giao thông nông thôn… Hiệuquả sử dụng vốn là rất khó đo lường trực tiếp và thường được đo lường thông quahiệu quả của các ngành kinh tế khác

1.1.2.5 Vai trò v ốn Ngân sách Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

gi ao thông đường bộ

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Trong bất cứ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào thì vốn NSNN cũng đềuđóng một vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầngGTĐB là lĩnh vực đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, do đó đây là lĩnh vực mà tư nhânrất hạn chế tham gia đầu tư Vì vậy, nguồn vốn nhà nước càng có một vị trí đặc biệttrong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:

Trước hết, vốn NSNN đóng vai trò nền tảng, quyết định đến sự hình thành hệ

thống hạ tầng GTĐB Đây là nhiệm vụ nền tảng của bất cứ quốc gia nào xuất phát

từ nhiệm vụ và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công cộng

Hơn nữa, chỉ có Nhà nước mới có đầy đủ về mặt pháp lý và vốn để có thể đảmđương vai trò chính trong lĩnh vực này

Thứ hai, vốn đầu tư từ NSNN đóng vai trò chủ đạo để thu hút các nguồn vốn

khác thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB bao gồm cả vốn đầu tư trong nước

và ngoài nước Chỉ khi có nguồn vốn Nhà nước tham gia vào trong các dự án mớitạo được niềm tin tối đa cho các nhà đầu tư để từ đó họ bỏ vốn ra đầu tư, đặc biệtvới nguồn vốn nước ngoài, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của vốn NSNN trongviệc thu hút vốn ODA khi mà vốn NSNN là một nguồn vốn đối ứng quan trọngtrong công tác chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng…

Thứ ba, NSNN đóng vai trò điều phối trong việc hình thành hệ thống hạ tầng

GTĐB một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất NSNN sẽ tập trung đầu tư vào các dự

án trọng điểm tạo điều kiện giao lưu giữa các vùng và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Thứ tư, vốn NSNN khi đầu tư vào phát triển hạ tầng GTĐB sẽ là công cụ kích

cầu rất hiệu quả, bằng chứng là các công trình GTĐB ảnh hưởng trực tiếp đến cácngành sản xuất khác như sắt, thép… từ đó tăng đóng góp vào GDP và tạo thêm việclàm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho một bộ phận người lao động

Như vậy, vốn đầu tư từ NSNN vào phát triển hạ tầng giao thông đường bộđóng vai trò cực kì quan trọng trong sự phát triển của bất cứ quốc gia nào

1.1.3 Các loại đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ

1.1.3.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ theo chu kỳ dự án

Chu kì của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải quaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động.

Chu kì dự án dự án đầu tư có thể được minh họa bằng sơ đồ:

Hình 1.1: Sơ đồ chu kì dự án đầu tư.

Cũng như các dự án đầu tư phát triển thông thường thì chu kì của dự án đầu tưphát triển hạ tầng GTĐB cũng trải qua các giai đoạn như trong sơ đồ chu kì dự án:

- Ý đồ về dự án đầu tư: Đây là bước rất quan trọng vì là sự khởi đầu cho bất

cứ một dự án đầu tư nào đặc biệt là đối với các dự án có mục tiêu xã hội cao nhưcác dự án hạ tầng GTĐB, xác định ý đồ cho dự án phải được dựa trên các cơ chếchính sách phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vận tải của cả nước nói chung vàcủa hệ thống hạ tầng GTĐB nói riêng cũng như nhu cầu cấp thiết của dự án

- Chuẩn bị đầu tư:

+ Soạn thảo dự án: trên cơ sở có ý đồ đầu tư thì nhà đầu tư sẽ tiến hành lập dự áncũng như tiến hành nghiên cứu khả thi và nghiên cứu tiền khả thi Sau giai đoạn này sẽ

có một dự án hoàn chỉnh để trình lên cơ quan có thẩm quyền xin cấp vốn NSNN

+ Thẩm định dự án: Sau khi dự án đã được lập hoàn chỉnh, để dự án có thể đượccấp vốn đầu tư thì cần phải tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án vì NSNN là cóhạn không thể đầu tư dàn trải được Mục tiêu quan trọng nhất của giai đoạn này làphải tiến hành thẩm định khía cạnh tài chính kết hợp với thẩm định khía cạnh xã hộicủa dự án, không thể xem nhẹ khía cạnh xã hội như đối với các dự án tư nhân

- Thực hiện đầu tư: Các dự án sau khi được tiến hành thẩm định nếu có tínhkhả thi sẽ được cấp vốn đầu tư và tiến hành thực hiện đầu tư Trong quá trình thicông công trình cần phải thường xuyên giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện xâydựng công trình và phải báo cáo tiến độ thường xuyên cho các cơ quan quản lý cóthẩm quyền nhằm đảm bảo cho công trình hoàn thành đúng theo kế hoạch phát triển

Ý đồ về

dự án

đầu tư

Chuẩn bịđầu tư

Thựchiện đầutư

Vậnhành cáckết quảđầu tư

Ý đồ về

dự ánđầu tư

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

chung của cả nước cũng như đảm bảo cho công trình được hoàn thành với chấtlượng tốt nhất có thể nhưng với chi phí thấp nhất Kết thúc giai đoạn này thì côngtrình đã được hoàn thành và có thể bắt đầu được đưa vào sử dụng Sản phẩm ở đây

là các con đường mới, cây cầu mới…

- Vận hành kết quả đầu tư: Đây là giai đoạn cuối cùng của bất kì dự án đầu tưnào, sau khi công trình đã được hoàn thành sẽ được bàn giao cho các cơ quan cótrách nhiệm khai thác công trình Trong giai đoạn này ở một số công trình có thểtiến hành thu phí sử dụng công trình đối với các phương tiện sử dụng nhằm bù đắpmột phần chi phí cho nhà nước

- Ý đồ về dự án mới: Nền kinh tế phát triển không ngừng và hạ tầng GTĐB cũngphải phát triển cùng với nền kinh tế để có thể hỗ trợ tối đa cho nhau trong mục tiêu pháttriển chung của quốc gia, do đó sau mỗi một công trình hoàn thành thì lại xuất hiện các

kế hoạch chiến lược phát triển nhằm hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển chung

1.1.3.2 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ theo lĩnh vực đầu tư

- Đầu tư và xây dựng mới đường bộ: Đây là nội dung chủ yếu của đầu tư pháttriển hạ tầng GTĐB và nó chiếm một tỷ trọng vốn lớn trong tổng số vốn Nhà nướcđầu tư cho phát triển hạ tầng GTĐB, thông thường nó chiếm trên 80% tổng số vốnhàng năm Đầu tư mới và xây dựng mới nhằm nâng cao tài sản cố định của nền kinh

tế quốc dân cũng như nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế vànhu cầu đi lại của người dân Đầu tư xây dựng mới hạ tầng GTĐB là chiến lược pháttriển trong nhiều năm để có thể là tiền đề và động lực cho việc phát triển các ngànhkhác, phát triển mỗi vùng và địa phương, nâng cao đời sống của các địa phương

- Đầu tư nâng cấp và duy tu bảo dưỡng đường bộ: Đây là công việc xuất phát từthực trạng GTĐB của nước ta Sau nhiều năm sử dụng, các công trình GTĐB đã bị

hư hỏng nhiều nhưng vẫn còn có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu trước mắt, cùng với

đó là do sự thiếu vốn đầu tư của Nhà nước nên không thể xây dựng mới trong mộtthời gian ngắn, do đó hàng năm Nhà nước cần phải chi một lượng vốn nhất định để

có thể duy trì hoạt động của hệ thống hạ tầng GTĐB Đây là một giải pháp tốt đối vớimột nước đang phát triển như Việt Nam để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động củaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

hệ thống GTĐB nhưng vẫn tiết kiệm được các nguồn lực, điều này là rất quan trọngtrong tình trạng thiếu vốn nhưng vẫn còn có quá nhiều mục tiêu đầu tư cấp bách khác.

1.1.3.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ theo khu vực đầu tư

- Đầu tư vào giao thông nông thôn: Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng vàNhà nước ta nhằm xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, thực hiện côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Giao thông đi lại chủ yếu của nông thôn là giaothông đường bộ bao gồm các con đường bên trong các xã nối liền với các đườngquốc lộ; các con đường liên huyện, liên xã, liên thôn Đầu tư phát triển hạ tầngGTĐB nông thôn nhằm xây dựng một hệ thống hạ tầng đường bộ liên hoàn, pháttriển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá và nâng cao dân trí của khu vựcnông thôn Trên cơ sở Nhà nước và nhân dân cùng làm thì đây là chủ trương thíchhợp của Đảng trong điều kiện nước ta vẫn đang là một nước nông nghiệp và chủyếu người dân sống bằng nghề nông

- Đầu tư vào giao thông đường bộ đô thị: Song song với đầu tư vào phát triểnvào khu vực nông thôn nhằm mục đích xã hội là chủ yếu thì đầu tư vào hệ thống hạtầng giao thông đô thị lại nhằm phát triển kinh tế văn hoá ở khu vực đô thị, đặc biệt

là ở các thành phố lớn, vì đây là những đầu tàu trong nền kinh tế, hàng năm ở cáckhu vực đô thị đóng góp vào GDP của cả nước cao hơn nhiều so với khu vực nôngthôn Hơn nữa khu vực đô thị cũng là bộ mặt của đất nước nhằm thu hút các nguồnvốn cả trong nước lẫn ngoài nước Thực trạng hạ tầng giao thông đô thị của nước tatrong thời gian qua chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển là do một số nguyên nhânnhư tỷ lệ đất để xây dựng hạ tầng giao thông đô thị là thấp, dân cư ở các đô thị tăngquá nhanh do sự di dân từ các vùng khác, sự phát triển quá nhanh của các phươngtiện giao thông do đời sống của người dân ngày càng cao… Do vậy, đầu tư vào hạtầng giao thông đô thị cần phải được Nhà nước quan tâm hơn nữa

1.1 3.4 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ theo vùng lãnh thổ

Địa lý nước ta trải dài từ Bắc tới Nam, mỗi một vùng lãnh thổ lại có nhữngđiều kiện về địa hình, tự nhiên, khí hậu … khác nhau, do đó mục tiêu phát triểncũng là khác nhau Vì vậy hàng năm nhà nước cũng sẽ có sự ưu tiên khác nhau vớiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

mỗi vùng lãnh thổ nhưng vẫn đảm bảo sự công bằng xã hội và đảm bảo mục tiêuphát triển chung của xã hội Ví dụ như các vùng gần biên giới hay gần biển sẽ được

ưu tiên đầu tư trước để có thể tận dụng tối đa lợi thế về mặt địa lý trong phát triểnkinh tế Nước ta được chia thành các vùng sau:

- Vùng trung du và miền núi phía Bắc

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long

1.1.4 Quản lý vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

1.1.4.1 Khái ni ệm quản lý vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

Quản lý vốn đầu tư từ NSNN là hoạt động tác động của chủ thể quản lý (Nhànước) lên các đối tượng quản lý (vốn đầu tư, hoạt động sử dụng vốn đầu tư) trongđiều kiện biến động của môi trường để nhằm đạt được các mục tiêu nhất định

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 2, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP: “Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập

dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng.”[8]

1.1.4.2 Nguyên t ắc quản lý vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP: “Việc đầu

tư xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và an

toàn môi trường, phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật

khác có liên quan” [8] Do đó việc quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình phải

tuân thủ theo các nguyên tắc:

Thứ nhất: Nhà nước ban hành các chính sách; các định mức chi phí trong hoạt

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

động xây dựng để lập, thẩm định và phê duyệt tổng mức đầu tư, dự toán và quyếttoán thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình; định mức kinh tế - kỹ thuật trongthi công xây dựng; các nguyên tắc, phương pháp lập điều chỉnh đơn giá, dự toán đồng thời hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các vấn đề trên.

Thứ hai: Lập và quản lý chi phí phải rõ ràng đơn giản dễ thực hiện, đảm bảo

hiệu quả và mục tiêu của dự án đầu tư xây dựng cơ bản; ghi theo đúng nguyên lệtrong tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán quyết toán đối với các công trình, dự

án có sử dụng ngoại tệ để việc quy đổi vốn đầu tư được thực hiện một cách có cơ sở

và để tính toán chính xác tổng mức đầu tư, dự toán công trình theo giá nội tệ

Thứ ba: Chủ thể đứng ra quản lý toàn bộ quá trình đầu tư (từ xác định chủ

trương đầu tư, lập, thẩm định, phê duyệt đến khi nghiệm thu bàn giao công trình

để đưa vào sử dụng) là Nhà nước Tuy nhiên cần lưu ý đối với người quyết định đầu

tư là bố trí đủ vốn để đảm bảo tiến độ của dự án (không quá 4 năm đối với dự ánnhóm B, không quá 2 năm đối với dự án nhóm C)

Thứ tư: Chi phí của dự án xây dựng công trình phải phù hợp với các bước thiết

kế và biểu hiện bằng tổng mức đầu tư, tổng dự toán quyết toán khi kết thúc xâydựng và đưa công trình vào sử dụng

Thứ năm: Căn cứ vào khối lượng công việc, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh

tế - kỹ thuật và các chế độ chính sách của Nhà nước để thực hiện quá trình quản lývốn đầu tư xây dựng công trình phù hợp với yếu tố khách quan của thị trường trongtừng thời kỳ

Thứ sáu: Bộ Tài chính hướng dẫn việc cấp vốn cho các dự án đầu tư xây dựng

công trình sử dụng vốn NSNN, Bộ Xây dựng có trách nghiệm hướng dẫn việc lập

và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình

Thứ bảy: Đối với các công trình ở địa phương, Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh

căn cứ vào các nguyên tắc quản lý vốn để chỉ đạo Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với các

Sở liên quan lập các bảng giá vật liệu, nhân công và chi phí sử dụng máy thi công xâydựng phù hợp với điều kiện cụ thể của thị trường địa phương để ban hành và hướng dẫn

1.1.4.3 N ội dung quản lý vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

a Tổ chức bộ máy quản lý

Quản lý vốn đầu tư xây dựng công trình có nhiều chủ thể tham gia từ Trungương tới địa phương:

i- Quốc hội: Ban hành các văn bản pháp luật về quy hoạch, xây dựng, quản lý

đầu tư, quản lý NSNN và các lĩnh vực khác liên quan đến đầu tư (Luật NSNN, LuậtĐầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng, Luật Đất đai ); đưa ra các quyết định vềthu chi NSNN, phân bổ ngân sách Trung ương, giám sát việc thực hiện, phê chuẩncác quyết toán theo quy mô và tính chất; dự án quan trọng quốc gia do Quốc hộixem xét, quyết định về chủ trương đầu tư

ii- Chính phủ: Ban hành các dự án luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp

luật, dự toán NSNN và phương án phân bổ ngân sách Trung ương, báo cáo tình hìnhthực hiện NSNN, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án công trình quantrọng cho Quốc hội Thủ tướng ra các quyết định đầu tư đối với các dự án đã đượcQuốc hội thông qua, chỉ định các gói thầu đối với các dự án mang tính chất bí mậtquốc gia, cấp bách, an ninh và an toàn năng lượng, Chính phủ phân cấp cho cácchính quyền địa phương, ban hành các quy định về định mức phân bổ, tiêu chuẩn,định mức chi NSNN

iii- Bộ Xây dựng: Đưa ra các cơ chế chính sách về xây dựng, quản lý xây

dựng, quy hoạch xây dựng Quyết định đầu tư với các dự án nhóm A, B, C, kiểmtra, phát hiện và kiến nghị xử lý chất lượng các công trình

iv- Bộ Tài chính: Xem xét các chế độ chính sách về huy động quản lý các

nguồn vốn đầu tư để trình Thủ tướng Chính phủ, chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh,ban hành văn bản pháp luật của các dự án về tài chính - ngân sách, phối hợp với Bộ

Kế hoạch và Đầu tư tiến hành phân bổ vốn đầu tư cho các Bộ, các địa phương vàcác dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn NSNN Kiểm tra, quyết toán vốn đầu tưcác dự án, hướng dẫn cho quá trình cấp phát vốn cho các dự án NSNN, phê duyệtquyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành

v- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng cơ chế chính sách về đầu tư, quản lý Nhà

nước về đầu tư, trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh liên quan đến đầu tư, kếTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

hoạch đầu tư phát triển hàng năm và 5 năm, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán NSNN, phương án phân bổ NSNN, hướngdẫn nội dung trình tự lập, thẩm định và quản lý các dự án quy hoạch tổng thể kinh tế

- xã hội, quy hoạch phát triển ngành, phối hợp với các bộ, ngành kiểm tra đánh giáhiệu quả vốn đầu tư

vi- Các bộ ngành khác có liên quan: Góp phần vào quá trình quản lý nhà nước

theo chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình

vii- Hội đồng nhân dân các cấp: Quyết toán thu chi NSNN, phân bổ dự toán

ngân sách, quyết định các chủ trương và biện pháp thực hiện các dự án đầu tư trênđịa bàn mình

viii- UBND các cấp: Lập dự toán NSNN, danh mục đầu tư, phương án phân bổ

điều chỉnh ngân sách đối với các dự án thuộc cấp mình quản lý, kiểm tra nghị quyếtcủa HĐND cấp dưới và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc

ix- Chủ đầu tư: Là người sở hữu vốn được giao có nhiệm vụ thẩm định phê

duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình thanh toán cho các nhà thầu, nghiệm thucông trình, quản lý chất lượng, khối lượng, chi phí đầu tư xây dựng, tiến độ, an toàn

và vệ sinh môi trường của các công trình cụ thể

b Xây dựng quy hoạch, kế hoạch

Đảm bảo quy hoạch đầu tư: Quy hoạch đầu tư là nội dung hết sức quan trọng,nhằm xác định lĩnh vực cần đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư…; đảm bảo mối liên kết giữacác dự án đầu tư và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia

Nội dung này cũng xác định các nguồn vốn đầu tư, trên cơ sở đó phân định lĩnhvực đầu tư thuộc phần vốn nhà nước (trong đó có vốn ngân sách và các nguồn vốnkhác) Từ đó, có cơ sở hướng các nguồn lực bên ngoài vào các lĩnh vực cần ưu tiên.Đồng thời, hỗ trợ công tác quản lý tài chính công nói chung trong việc cân đối giữa cáccam kết và nguồn lực trong dài hạn Thiết lập một khuôn khổ cho việc chuẩn bị, thựchiện và giám sát các dự án đầu tư

c Chủ đầu tư xây dựng công trình và công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu

Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giaoTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định

12/2009/NĐ-CP quy định ”Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ

đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách Nhà nước”[ 8 ].

i- Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là một

trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơquan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và doanh nghiệp nhà nước;

ii- Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch UBND

các cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình

Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn

vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyếtđịnh đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư Trong trườnghợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn

vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tưtrong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưacông trình vào khai thác, sử dụng;

iii- Trường hợp không xác định được chủ đầu tư theo quy định tại Điểm b

khoản này thì người quyết định đầu tư có thể ủy thác cho đơn vị khác có đủ điềukiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư [8]

d Xây dựng cơ chế quản lý vốn và tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng công trình

Sử dụng các công cụ như các kế hoạch, chính sách với một số các yếu tố đặcthù: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và một số bộ, ngành chức năng khác xâydựng các chính sách huy động và sử dụng vốn, được cụ thể hóa bằng các quy định,chỉ tiêu và các định mức Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về quyết toán vốn đầu tư,hướng dẫn chi tiết quyết toán, đồng thời kiểm tra công tác quyết toán vốn đầu tư,định kỳ thẩm định các dự án Bộ Xây dựng hướng dẫn phương pháp quy đổi chi phíxây dựng, lập hồ sơ quyết toán vốn Cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng côngtrình gồm những quy định về quản lý chi phí dự án, thanh quyết toán vốn đầu tư;Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

xây dựng các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn về đầu tư, qua đó có thể cụ thể hóachủ trương, định hướng đầu tư trong cả nước Dự báo các nhu cầu vốn, cơ sở xácđịnh và xây dựng gắn với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế, từ đó xác định

rõ nguồn vốn huy động và phương thức phân phối nâng cao hiệu quả sử sụng vốn

e Công tác kiểm tra, giám sát công trình

Giám sát xây dựng là chỉ các công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo và đánh giácông việc những người tham gia công trình Nó lấy hoạt động của hạng mục côngtrình xây dựng làm đối tượng; lấy pháp luật, quy định, chính sách và tiêu chuẩn kỹthuật có liên quan, văn bản hợp đồng công trình làm chỗ dựa, lấy quy phạm thựchiện công việc, lấy nâng cao hiệu quả xây dựng làm mục đích Trong mọi hoạt độngxây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình,khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giámsát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựachọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đếnxây dựng công trình đều cần có sự giám sát

Giám sát thi công xây dựng công trình là một trong hoạt động giám sát xâydựng để theo dõi, kiểm tra về chất lượng, khối lượng, tiến độ xây dựng, an toàn laođộng và vệ sinh môi trường trong thi công xây dựng công trình theo đúng hợp đồngkinh tế, thiết kế được duyệt và các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành, các điều kiện kỹthuật của công trình Giám sát thi công xây dựng giúp phòng ngừa các sai sót dẫnđến hư hỏng hay sự cố Giám sát thi công xây dựng công trình có nhiệm vụ theo dõi

- kiểm tra - xử lý - nghiệm thu - báo cáo các công việc liên quan tại công trường

f Kiểm tra, giám sát về vốn

Đây là chức năng cơ bản và rất quan trọng, qua đó đảm bảo được sử dụng vốnđầu tư hiệu quả cao nhất và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, kiểm tra giámsát gắn với các biện pháp xử phạt thích đáng đối với các vi phạm các quy định vềđiều kiện năng lực hành nghề, các hoạt động tư vấn công trình theo dõi kiểm tracác kết quả đạt được tiến hành đối chiếu với các yêu cầu của quá trình đầu tư, đảmbảo phù hợp với mục tiêu định hướng phát triển trong phạm vi cả nước Quá trìnhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

giám sát tức là giám sát đánh giá tổng thể đầu tư, dự án đầu tư, thực hiện các chứcnăng thanh tra chuyên ngành xây dựng, thanh tra tài chính và cuối cùng là ngănngừa và xử lý các vi phạm.

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ Ngân sách Nhà nước

1.2.1 Hệ thống các văn bản liên quan đến vốn đầu tư

Nhìn chung, hoạt động đầu tư ở nước ta được quy định bởi nhiều văn bản quyphạm pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương

và địa phương ban hành

1.2.1.1 Văn bản của Quốc hội

Tính từ thời điểm sau khi có Luật Xây dựng, Quốc hội đã ban hành nhiều đạoluật có liên quan tới lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình như: Luật Ngân sách, LuậtĐầu tư 2005; Luật Đấu thầu 2005; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2005;Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Nhà ở 2005; Luật Bảo vệ môi trường 2005; LuậtTiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Luật Kinh doanh bất động sản 2006; LuậtPhòng chống tham nhũng 2005 (sửa đổi 2007); Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhànước 2008

Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành nhiều Nghị quyết có liên quan như: Nghịquyết số 66/2006/QHXI ngày 29/6/2006 về dự án, công trình quan trọng quốc giatrình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; Nghị quyết về kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội và dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm; Nghị quyết về quyhoạch và kế hoạch sử dụng đất và các Nghị quyết về các chương trình mục tiêutrong lĩnh vực giáo dục, y tế

1.2.1.2 Văn bản của Chính phủ và các Bộ, nghành có liên quan

Để thực hiện các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng công trình, Chính phủ

và các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn

Chỉ tính riêng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng, Luật Đầu tư vàLuật Đấu thầu được ban hành từ năm 2006 đến 2010, đã có tới hơn 25 Nghị địnhđược ban hành như: Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006; Nghị định sốTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày15/10/2009 Ngoài ra, còn một số lượng lớn các văn bản có liên quan như:

- Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều Quyết định và Nghị địnhnhư: Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/12/2005; Nghị định số 112/2006/NĐ-

CP ngày 29/9/2006; Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009; Chỉ thị số1315/CT-TTg ngày 03/8/2011

- Bộ Xây dựng ban hành Thông tư, Quyết định, Chỉ thị để hướng dẫn thi hànhLuật Xây dựng và các Nghị định của Chính phủ Các văn bản như: Quyết định số788/QĐ-BXD ngày 26/8/2010; Thông tư số 02/2011/TT-BXD ngày 22/02/2011

- Có rất nhiều văn bản của các Bộ, ngành liên quan (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ

Y tế, Bộ Công thương) như: Thông tư số: 76/TC-ĐTPT ngày 01/11/1997 của BộTài chính; Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính; Thông

tư số 17/2010/TT-BKH ngày 22/7/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Ngoài ra, còn có các văn bản hướng dẫn đối với nguồn vốn trái phiếu củaChính phủ, vốn hỗ trợ phát triển chính thức và các nguồn vốn có tính chất hỗ trợphát triển chính thức

1.2.1.3 Văn bản của địa phương

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố cũng đã ban hành nhiều chỉ thị và quyếtđịnh nhằm cụ thể hóa các quy định của trung ương cho phù hợp với thực tế địaphương Chính quyền địa phương và các cơ quan trực thuộc ban hành nhiều văn bảnhướng dẫn cụ thể về vấn đề phân cấp, lập và thẩm định dự án quy hoạch; phân cấpquản lý đầu tư ở cấp tỉnh, huyện, xã; về quản lý chất lượng xây dựng công trìnhgiao thông nông thôn và công trình quy mô lớn ở đô thị trên địa bàn mình quản lý,

về việc bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư

1.2.1.4 Nh ận xét chung

Các luật và văn bản dưới luật liên quan đến đầu tư xây dựng công trình nhìnchung khá đồng bộ, về cơ bản đảm bảo phục vụ công tác quản lý nhà nước cũngnhư phục vụ cho hoạt động xây dựng của các tổ chức, cá nhân

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

Tuy nhiên, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật này đã khiến cho các chủthể tham gia quá trình đầu tư xây dựng rất lúng túng trong việc triển khai thực hiện.Mặt khác do tính chất phức tạp của lĩnh vực đầu tư xây dựng liên quan đến công tácquản lý của các ngành, các cấp, có tác động nhất định đến sự phát triển của xã hội,hoạt động của các doanh nghiệp, đời sống của nhân dân trong điều kiện chuyển từ

cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập Đồng thời,trước yêu cầu đòi hỏi của thực tế nước ta, việc ban hành các quy định, các chínhsách điều chỉnh lĩnh vực này rất phức tạp, liên quan đến nhiều đạo luật Mặt khác,

do năng lực, kinh nghiệm, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ trực tiếp soạnthảo văn bản quản lý trong các cơ quan chuẩn bị dự thảo, cơ quan thẩm định dự ánluật và phương thức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luậtcòn hình thức, thiếu thực tế

Các văn bản pháp luật liên quan đến xây dựng cơ bản còn chưa kịp thời, chồngchéo, không thống nhất, không phù hợp

Từ hoạt động thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật về đầu tư xây dựng côngtrình được ban hành bởi nhiều cơ quan khác nhau, ở những thời điểm khác nhau,chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, thiếu tính thống nhất về một số nội dung, khái niệm, dẫntới việc hiểu và áp dụng pháp luật còn khác nhau

Việc ra đời hàng loạt của các văn bản quy định về đầu tư xây dựng công trình

ở đủ mọi cấp, ngành cũng là một nguyên nhân trực tiếp gây nên sự chậm trễ khi tiếnhành thủ tục đầu tư

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước

1.2.2.1 Kinh nghi ệm từ trong nước

Hoạt động đầu tư từ Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2008-2012 đã tập trungphát triển hạ tầng cơ sở, nhờ đó góp phần thiết thực vào duy trì tốc độ tăng trưởngkinh tế cao, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường xoá đói giảm nghèo Tốc độ tăngtrưởng GDP của Việt Nam luôn đạt từ 7 - 8%/năm Năm 2012, GDP theo giá thực

tế tính theo đầu người quy ra USD đạt khoảng trên 1.200 USD, đưa nước ta ra khỏinhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, tỷ lệ đói nghèo của cả nước đã giảmTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

mạnh Theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia, đầu năm

2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ trong cả nước; đếncuối năm 2008 số hộ nghèo còn khoảng dưới 7% với 1,1 triệu hộ Bên cạnh nhữngthành tựu đạt được như trên, đầu tư nhà nước những năm qua vần còn tồn tại một sốvấn đề bất cập, đó là:

- Đầu tư còn dàn trải, tùy tiện, chưa thực sự gắn với mục tiêu phát triển lâu dàicủa nền kinh tế, điển hình là hoạt động đầu tư hệ thống cảng biển Miền Trung chỉđảm nhận khoảng 13% tổng khối lượng hàng hoá qua cảng của cả nước nhưng cáccảng biển ở đây lại được xây dựng dày đặc

- Khâu thẩm định đầu tư chưa chặt chẽ; cho tới nay về quy trình chỉ các dự án

quan trọng quốc gia mới được thẩm định bằng công cụ phân tích chi phí - lợi ích.Các dự án nhóm A, được phê chuẩn bởi các bộ, ngành, các địa phương và được đưavào kế hoạch phân bổ ngân sách hàng năm chủ yếu được phân tích, đánh giá thôngqua công cụ giá trị hiện tại thuần

- Kiểm soát chi còn nặng về quản lý tuân thủ; mặc dù đã có những bước tiếndài trong quản lý, kiểm soát chi nguồn vốn NSNN theo hướng tăng quyền tự chủcho các cơ quan, đơn vị sử dụng nguồn NSNN, nguồn đầu tư nhà nước, song cho tớinay công tác quản lý vẫn nghiêng về quản lý tuân thủ, chưa chú trọng đến các kếtquả của các khoản chi tiêu, đầu tư Ở đây có hai vấn đề đặt ra:

- Phân cấp tổ chức thực hiện chưa đồng bộ: Phân cấp cho các bộ, ngành, địaphương nhưng không quan tâm nhiều đến năng lực quản lý của địa phương, khônghình thành hệ thống theo dõi, đánh giá phù hợp và không có các chế tài thưởng phạtđúng mức làm trầm trọng hơn tình trạng yếu kém trong phân bổ và sử dụng nguồn lực

- Không giải quyết và đạt được một số chương trình và mục tiêu lớn mà nhànước đã nêu ra như: Xoá đói giảm nghèo, chống tham nhũng, lãng phí

Những kết quả đạt được cũng như tồn tại trong quản lý vốn đầu tư từ NSNNcủa quốc gia, ta rút ra được những bài học kinh nghiệm quan trọng Để việc quản lývốn đầu tư từ NSNN mang lại hiệu quả thì cần phải tuân thủ các vấn đề sau:

Thứ nhất: Linh hoạt trong điều hành mối quan hệ giữa chi tiêu dùng và chi đầu

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

tư từ NSNN theo hướng “giảm dần chi thường xuyên thông qua xã hội hoá các khoản chi mà các thành phần kinh tế khác mong muốn cung cấp, đồng thời tăng mạnh chi đầu tư phát triển Trường hợp kinh tế xảy ra khủng hoảng, có thể điều chỉnh tăng chi tiêu dùng, tăng đầu tư và chấp nhận tăng bội chi ngân sách Trường hợp kinh tế xảy ra lạm phát, có thể điều chỉnh giảm đồng thời cả tiêu dùng và đầu

tư từ NSNN”.[26]

Thứ hai: Đầu tư từ NSNN tập trung cho cơ sở hạ tầng, công nghệ nguồn, công

nghệ cao, bảo vệ môi trường và đầu tư phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xãhội cho các tỉnh biên giới, các tỉnh đặc biệt khó khăn Trong giáo dục ưu tiên pháttriển hệ thống các trường dạy nghề cơ khí, kỹ thuật công nghệ Tại các tỉnh, thànhphố lớn, đầu tư từ NSNN sẽ giảm dần, Nhà nước chỉ hỗ trợ thông qua cơ chế chínhsách, ít hỗ trợ qua đầu tư trực tiếp từ ngân sách

Thứ ba: Nguồn lực NSNN có hạn, trong khi nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng, công

nghệ nguồn, công nghệ cao là rất lớn; do đó, Nhà nước cần thiết phải thu hồi vốn,tăng nhanh vòng quay của vốn Thu hồi vốn đầu tư của Nhà nước phải thực hiệnđúng theo các nguyên tắc thị trường, như bán lại dự án, thu phí, bán lại công nghệ

Thứ tư: Triệt để tiết kiệm, chống dàn trải, lãng phí trong đầu tư từ NSNN Cần

quản lý vĩ mô tốt hơn việc sử dụng nguồn vốn nhà nước đầu tư cho xây dựng công trình

vì sự phát triển có chất lượng và bền vững; sử dụng vốn đúng trọng tâm và trọng điểmhơn, có lộ trình thực hiện theo thứ tự ưu tiên Cần quy định việc đánh giá hiệu quả củamỗi dự án đầu tư xây dựng công trình là khâu cuối cùng của việc thực hiện dự án đó

Thứ năm: Không “cào bằng” trong đầu tư phát triển từ NSNN, tức là Nhà

nước sẽ thực hiện đầu tư tập trung vào những ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế có ưuthế để thu được giá trị gia tăng cao nhất, sau đó sẽ điều tiết một phần giá trị gia tăng

để đầu tư cho những vùng khó khăn

Thứ sáu: Không coi thành phần kinh tế nhà nước là kênh dẫn vốn duy nhất của

Nhà nước khi đầu tư vào nền kinh tế, bởi vì hiệu quả đầu tư rất thấp, khả năng thuhồi vốn không cao Trong thời gian tới cần đa dạng hoá các kênh dẫn vốn của Nhànước nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vốn Nhà nước

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

Thứ bảy: Đa dạng hóa hình thức đầu tư, trong bối cảnh nền kinh tế đang ngày

càng phát triển, yêu cầu về vốn đầu tư ngày càng lớn trong khi vốn ngân sách cóhạn thì ngoài hình thức đầu tư trực tiếp 100% vốn từ NSNN, cần thiết phải đa dạnghóa các hình thức đầu tư từ NSNN, nhằm thu hút và khuyến khích các thành phầnkinh tế ngoài Nhà nước tham gia vào các dự án xây dựng cơ bản Sự tham gia củacác đơn vị ngoài Nhà nước cũng làm cho hoạt động đầu tư được quản lý chặt hơn,hạn chế tình trạng “bao cấp” trong các dự án cơ sở hạ tầng Sử dụng tối ưu nguồnvốn NSNN còn có nghĩa cần và biết huy động các nguồn vốn khác, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài, vốn ODA, vốn của các thành phần kinh tế khác vào các công trìnhkết cấu hạ tầng thích hợp bằng các chính sách và hình thức thích hợp

Thứ tám: Cần làm rõ trách nhiệm và quyền hạn của tập thể và cá nhân trong

công tác quy hoạch, thẩm định và quyết định phê duyệt dự án công trình Phân cấpnhiều hơn cho địa phương là đúng, nhưng kèm theo là kỷ cương, tinh thần liên kết,phối hợp, tránh nếp tư duy sản xuất nhỏ, cá thể Khen thưởng và kỷ luật nghiêmminh Cần đổi mới những cơ chế quản lý làm phát sinh tư tưởng cục bộ trong quyhoạch, khiến các địa phương - cho dù không có cơ sở - vẫn xin Trung ương cơ chếchính sách “đặc thù” cho mình, thay vì khuyến khích các địa phương liên kết, hợptác với nhau để phát huy thế mạnh của vùng và để cùng phát triển Chính các cơ chếnày là nhân tố nội sinh của sự dàn trải trong đầu tư xây dựng cơ bản

Thứ chín: Trước mắt, mọi dự án đều phải đưa ra đấu thầu công khai và ngay

từ khâu lựa chọn đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế lập dự án; hạn chế tối đa sự khépkín trong cùng một bộ, ngành chủ quản Mọi công trình đều phải được nghiệm thutừng giai đoạn và nghiệm thu cuối cùng với đầy đủ trách nhiệm của các bên, và mọisai phạm phải có chế tài xử lý nghiêm minh theo pháp luật

Thứ mười: Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính thực

hiện đúng Luật Ngân sách, cụ thể là hai dòng ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản vàchi thường xuyên cần được quản lý thống nhất, quy định rõ bộ nào chịu trách nhiệmcuối cùng trước Chính phủ và trước Quốc hội về hiệu quả sử dụng vốn nhà nước chicho xây dựng cơ bản

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

1.2.2.2 Kinh nghi ệm của tỉnh Quảng Bình

Trong những năm qua, do có nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trong

đó các cơ quan, ban, ngành đã có chú trọng đến công tác nâng cao hiệu quả quản lývốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tập trung đầu tư trọng điểm đã góp phần đáng kểvào phát triển kinh tế của địa phương, cụ thể:

- Tăng trưởng kinh tế cao, năm 2012 tăng trưởng 12,1% (cả nước tăng khoảng6,9%/năm); GDP bình quân đầu người năm 2012 ước đạt 14,65 triệu đồng (bằngkhoảng 54% của cả nước)

- Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch đúng hướng, năng suất lao độngtăng cao

- Thu NSNN tăng khá, huy động vốn đầu tư phát triển xã hội tăng nhanh, quản

lý ngân sách và đầu tư phát triển ngày càng hiệu quả hơn Đã đẩy mạnh phân cấpnguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách; thực hiện tốt công khai, minh bạch và kiểmtra, kiểm soát trong thu, chi ngân sách

- Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có bước tiến bộ rõ nét, môi trường đầu tư đượccải thiện đáng kể Hệ thống giao thông được nâng cấp, mở rộng, giao thông nông thônđược kiên cố hoá trên 32% tổng số chiều dài; 100% xã có đường ô tô về đến trung tâm.Bên cạnh những thành tựu đạt được, 5 năm qua sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, trong đó đáng chú ý là:

- Quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, chất lượng tăng trưởng chưa cao, thiếu bềnvững, tính cạnh tranh yếu; tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp; cân đối ngân sách còngặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Trung ương

- Việc phân bổ vốn đầu tư cho các dự án vẫn chưa hợp lý: Việc phân bổ vốncho công trình chưa tính đến công tác GPMB và tái định cư, đến khi khai triển đầu

tư xây dựng bị vướng thì mới bắt đầu tính đến; đa số các dự án đều vượt thời giancân đối vốn theo quy định (nhóm A, B là 4 năm, nhóm C là 2 năm) Từ đó làm ảnhhưởng đến tiến độ thi công, tiến độ giải ngân vốn đầu tư, kéo dài thời gian đầu tưcủa dự án, gây lãng phí và kém hiệu quả

Từ phân tích tình hình phát triển kinh tế xã hội và quản lý vốn đầu tư từ ngânTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

sách, để hoạt động đầu tư từ nguồn NSNN đạt hiệu quả, tác giả rút ra các bài họckinh nghiệm:

Thứ nhất, về cơ chế chính sách và thủ tục đầu tư: Việc ban hành nhiều văn

bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bảnnhằm tạo cơ sở pháp lý trong điều hành và quản lý dự án Tuy nhiên, các văn bảnhướng dẫn còn chồng chéo, chưa có sự thống nhất, chưa phù hợp với tình hình thực

tế, dẫn đến việc áp dụng rất khác nhau, gây khó khăn cho việc hoàn chỉnh các thủtục để triển khai dự án, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án Công tác chỉ địnhthầu đơn vị tư vấn thực hiện các bước phải thực hiện đúng quy trình, quy định củaLuật, mất nhiều thời gian Cơ chế, chính sách về tiền lương, nhân công, ca máy thayđổi liên tục đã ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện dự án

Thứ hai, về công tác quy hoạch: Triển khai chưa kịp thời, chưa theo kịp với

quá trình thay đổi của các yếu tố khách quan Một số quy hoạch ngành, sản phẩmquan trọng còn chưa được tiến hành xây dựng hoặc đang trong quá trình nghiêncứu; chất lượng một số dự án quy hoạch chưa cao, chưa có tầm nhìn xa, một sốcông trình đề ra trong quy hoạch còn mang tính giải quyết tình thế Việc đưa quyhoạch từ đồ án ra thực địa chậm trễ, thiếu đồng bộ, còn nhiều hạn chế trong tổ chứctriển khai công bố rộng rãi các đồ án quy hoạch tới cộng đồng, người dân Năng lựcđội ngũ cán bộ làm công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa được đào tạo bàibản và chưa có cán bộ chuyên trách về quy hoạch

Thứ ba, về công tác đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư: Thực hiện còn

chậm là một tồn tại trong nhiều năm qua nhưng chưa được khắc phục triệt để, nhiều

dự án đã tổ chức đấu thầu xong nhưng chưa có phương án đền bù và tái định cưhoặc chưa chuẩn bị đầy đủ quỹ đất cho công tác tái định cư, có dự án đã có vốnnhưng không giải ngân được Nguyên nhân là do cơ chế, chính sách thay đổi liêntục; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chưa được quan tâm đúng mức;nguồn vốn bố trí cho lĩnh vực này còn hạn chế,

Thứ tư, về tiến độ giải ngân vốn đầu tư: Thực hiện còn chậm cho dù có sự

quan tâm và chỉ đạo của các cấp, sự cải cách và đôn đốc của các phòng, ban, ngànhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

chuyên môn Nguyên nhân chậm trễ đã được tập trung phân tích ở các tồn tại nêutrên như: Cơ chế chính sách, thủ tục đầu tư chưa đảm bảo; việc phân bổ vốn đầu tưcho các dự án vẫn chưa hợp lý…Các công trình thuộc Chương trình mục tiêu có giátrị nhỏ nên các chủ đầu tư thường đợi khi công trình hoàn thành, quyết toán vốncông trình xong mới tiến hành lập thủ tục giải ngân vốn cho công trình.

Thứ năm, về công tác quyết toán vốn đầu tư: Tuy có sự quan tâm và sự nỗ lực

của các đơn vị, nhưng số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng từ lâu vẫn chưa đượccác chủ đầu tư nộp báo cáo quyết toán còn khá nhiều Nguyên nhân là do Ban quản

lý dự án (BQLDA) chưa đủ điều kiện, năng lực theo quy định, chưa nắm hết cácquy định của Nhà nước nên khi lập hồ sơ quyết toán gặp không ít khó khăn, các nhàthầu không hợp tác với chủ đầu tư để hoàn chỉnh hồ sơ,

Thứ sáu, về công tác quản lý nợ khối lượng xây dựng cơ bản: Chưa được quan

tâm đúng mức, đa số các ngành, các địa phương vẫn chưa có phương án quản lý nợ,

kế hoạch trả nợ cho các công trình, chưa tập trung thanh toán dứt điểm đối với cáccông trình đã có quyết toán vốn đầu tư, trong lúc vẫn triển khai nhiều công trìnhmới, đầu tư manh mún mặc dù nguồn vốn đầu tư còn hạn chế

Thứ bảy, về điều kiện năng lực hoạt động, năng lực quản lý của một số chủ

đầu tư, Ban quản lý: Chưa phù hợp với các quy định của Nhà nước và còn hạn chế,

việc quản lý chưa thường xuyên, chưa kiên quyết, còn nể nang, chưa cập nhật hoặcnắm bắt hết các quy định mới của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng, sự kiểmtra giám sát của các ngành chức năng chưa được thường xuyên liên tục, dẫn đếncông tác tham mưu, điều hành chưa sát với thực tế, chưa phát hiện những sai sóttrong quá trình đầu tư để có biện pháp xử lý kịp thời

Thứ tám, về năng lực một số đơn vị tư vấn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu: công tác

khảo sát thiếu chính xác, không đầy đủ các yếu tố ban đầu, sau khi đưa vào thực hiệnphải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần; năng lực tài chính, kinh nghiệm thi công của một

số nhà thầu còn hạn chế, sau khi trúng thầu không thể thi công hoàn thành công trìnhđúng tiến độ, gây ảnh hưởng và kéo dài thời gian thực hiện của dự án

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY

DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ NSNN.

2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 V ị trí địa lý

Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý của tỉnh Quảng Bình

Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích tự nhiên 8.065 km2,

ở vào vị trí trung độ của cả nước, nơi giao thoa của các trục Quốc lộ 1, đường HồChí Minh (2 nhánh Đông và Tây), đường sắt Bắc Nam xuyên suốt chiều dài củatỉnh Phía Tây Quảng Bình tiếp giáp với Nước CHDCND Lào, có cửa khẩu Cha Lo.Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông giáp với Biển Đông, phía Nam giáp với tỉnhQuảng Trị Toạ độ địa lý phần đất liền là:

- Điểm cực Bắc: 18005' 12" vĩ độ Bắc

- Điểm cực Nam: 17005' 02" vĩ độ Bắc

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

- Điểm cực Đông: 106059' 37" kinh độ Đông

- Điểm cực Tây: 105036' 55" kinh độ Đông

Quảng Bình có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào201,87 km ở phía Tây Có cảng biển Hòn La, Quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh, đườngsắt Bắc Nam, Quốc lộ 12A, Quốc lộ 12C và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây quacửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác (Cà Roòng - Noọng Ma; ChútMút - Lã Vơn) nối liền với Nước CHDCND Lào Đây chính là tiền đề tạo điều kiệnphát triển kinh tế và thương mại vùng biên, gắn bó sự trao đổi hàng hòa và dịch vụ giữaven biển và vùng đồi núi thông qua hành lanh kinh tế đường 12 Mặt khác, Quảng Bình

là một tỉnh ven biển, địa hình hướng ra biển trong phát triển và giao lưu kinh tế, đó làmột lợi thế lớn mà tỉnh Quảng Bình chưa phát huy hết tiềm năng

Có 6 huyện và 1 thành phố được phân bố theo đơn vị hành chính như sau:

Bảng 2.1: Đơn vị hành chính và diện tích của các huyện, thành phố thuộc

tỉnh Quảng Bình năm 2013

STT Đơn vị hành chính

(huyện/ thành phố)

Tổng số đơn vị hành chính (xã, thị trấn, phường)

Chia ra

Diện tích (km 2 )

Trang 40

ranh giới 2 huyện Bố Trạch - Quảng Ninh giáp tỉnh Khăm Muộn Nước CHDCNDLào đến cửa biển Nhật Lệ dài 40,3 km.

Toàn bộ diện tích chia thành 4 vùng sinh thái cơ bản: Vùng cao, vùng đồi núi

và trung du, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển Địa hình gồm nhiều núi cao dokiến tạo tự nhiên, các núi được hình thành sau vận động Hecxini muôn, nhưng đếnvận động Kainozo được nâng lên mạnh Các khối granit xâm nhập thường có độdốc lớn, đỉnh nhọn và cao nhất vùng Địa hình núi đá vôi nhiều phân bố chủ yếu ởhuyện Bố Trạch, còn các huyện khác như Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Ninh, LệThủy cũng có nhưng không nhiều

Vùng đồng bằng Quảng Bình nằm chủ yếu ở hạ lưu các con sông và dọc theoven biển với độ cao trung bình 5m uốn lượn theo mức độ thấp dần ra biển từ vùngđồi núi phía Tây Dọc theo ven biển ở Quảng Bình còn có những cồn cát và dải cátdài, độ cao lên đến hàng chục mét

2.1.1.3 Điều kiện khí hậu

Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu củaphía Bắc và phía Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt:

- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau; lượng mưa trung bình hàng năm2.000 - 2.300mm/năm; thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11 hàng năm

- Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC - 25oC; batháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8

Là một trong những tỉnh nằm trong vùng có thời tiết khí hậu khắc nghiệt, vànhiều cơn bão đi qua, trung bình hàng năm có khoảng 1 - 1,8 cơn bão trực tiếp ảnhhưởng đến vùng đất ven biển Bão thường xuyên xuất hiện vào các tháng cuối năm,gây nhiều hậu quả xấu đến sản xuất và giao thông vận tải

Chế độ gió mùa Đông Bắc cũng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến QuảngBình từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Gió mùa Tây Nam khô nóng từ dãy áp thấpkhô nóng từ phía Tây trước khi đi vào Quảng Bình đều trải qua dải núi cao TrườngSơn, tại đây xảy ra hiện tượng “phơn” nghĩa là phần nhiều hơi nước giữ lại ở phíaTây Trường Sơn, khi sang đến Đông Trường Sơn trở nên khô nóng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 08/11/2016, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ kinh tế - kế hoạch (2010), Bài giảng nghiệp vụ kế hoạch và đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nghiệp vụ kế hoạch và đầu tư
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ kinh tế - kế hoạch
Năm: 2010
2. Bộ Tài chính (2007), Đầu tư xây dựng cơ bản: 4 thách thức lớn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư xây dựng cơ bản: 4 thách thức lớn
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
3. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
4. Chính phủ (2005), Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/12/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 7/12/2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
5. Chính phủ (2006), Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/1998
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính Phủ (2009), Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2009
9. Chính phủ (2009), Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
13. Nguyễn Trung Dũng (1993), Tính toán và đánh giá dự án đầu tư trong nền kinh tế thị trường, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán và đánh giá dự án đầu tư trong nền kinhtế thị trường
Tác giả: Nguyễn Trung Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1993
14. Nguyễn Ái Đoàn (2004), Kinh tế học vĩ mô, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: Nguyễn Ái Đoàn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
15. Trần Thu Hà (2005), Bài giảng môn quản lý dự án, Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn quản lý dự án
Tác giả: Trần Thu Hà
Năm: 2005
17. Nguyễn Ngọc Mai (1998), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Năm: 1998
18. Nguyễn Ngọc Mai (1995), Phân tích và quản lý dự án đầu tư, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và quản lý dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Nhà XB: NXB Khoa họckỹ thuật
Năm: 1995
19. Quốc hội ( 2002), Luật Ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: LuậtNgân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002
20. Quốc hội (2003), Luật Xây dựng số 11/2003/QH11 ngày 26/11/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Xây dựng số 11/2003/QH11 ngày 26/11/2003
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
21. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 22/9/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 22/9/2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
22. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp, Số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005.Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp, Số 60/2005/QH11ngày 29/11/2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
10. Cục thống kê tỉnh Quảng Bình (2011), Niên giám thống kê năm 2010 Khác
11. Cục thống kê tỉnh Quảng Bình (2012), Niên giám thống kê năm 2011 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ chu kì dự án đầu tư. - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Hình 1.1 Sơ đồ chu kì dự án đầu tư (Trang 20)
Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý của tỉnh Quảng Bình - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Hình 2.1 Bản đồ vị trí địa lý của tỉnh Quảng Bình (Trang 38)
Bảng 2.1: Đơn vị hành chính và diện tích của các huyện, thành phố thuộc - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.1 Đơn vị hành chính và diện tích của các huyện, thành phố thuộc (Trang 39)
Bảng 2.2: Tình hình dân số và mật độ dân cư 7 huyện, thành phố - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.2 Tình hình dân số và mật độ dân cư 7 huyện, thành phố (Trang 41)
Bảng 2.3: Tình hình sử dụng lao động tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng lao động tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 (Trang 42)
Bảng 2.4: GDP tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.4 GDP tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 (Trang 43)
Hình 2.2: Bản đồ mạng lưới GTVT của tỉnh Quảng Bình Bảng 2.6: Các loại giao thông đường bộ tỉnh Quảng Bình năm 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Hình 2.2 Bản đồ mạng lưới GTVT của tỉnh Quảng Bình Bảng 2.6: Các loại giao thông đường bộ tỉnh Quảng Bình năm 2012 (Trang 44)
Bảng 2.7: Các tuyến quốc lộ tỉnh Quảng Bình năm 2012 - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.7 Các tuyến quốc lộ tỉnh Quảng Bình năm 2012 (Trang 45)
Bảng 2.9: Các tuyến đường huyện và đường nội thành, nội thị - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.9 Các tuyến đường huyện và đường nội thành, nội thị (Trang 46)
Bảng 2.11: So sánh mật độ mạng lưới đường bộ của tỉnh Quảng Bình - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.11 So sánh mật độ mạng lưới đường bộ của tỉnh Quảng Bình (Trang 48)
Bảng 2.12: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.12 Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012 (Trang 49)
Bảng 2.17: Đặc điểm chung về đối tượng điều tra - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.17 Đặc điểm chung về đối tượng điều tra (Trang 63)
Bảng 2.18. Cronbach Alpha của các nhân tố hình thành - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.18. Cronbach Alpha của các nhân tố hình thành (Trang 65)
Bảng 2.22: Ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.22 Ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra về công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ (Trang 73)
Bảng 2.23: Đánh giá về Công tác chuẩn bị đầu tư - Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh quảng bình
Bảng 2.23 Đánh giá về Công tác chuẩn bị đầu tư (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm