LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài: “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và chưa có ai công bố trongbất kỳ công trình nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Nhà nước, Bộ, ngành chủ quản, cơ
sở đào tạo và Hội đồng đánh giá khoa học của trường Đại học Kinh tế về công trình
và kết quả nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài: “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” Tôi luôn nhận được sự
giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn đến tập thể cán bộ và giáo viên Trường Đại họcKinh tế Huế đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giảng dạy, giúp đỡ động viên trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Tài Phúc, thầy đã nhiệt
tình hướng dẫn dạy bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo sở, cán bộ phòng đào tạo nghề - Sở Lao
động, Thương binh và xã hội tỉnh Quảng Bình, Ban Lãnh đạo, các thầy cô giáo ởcác cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt chotôi được tham gia và hoàn thành khoá đào tạo thạc sỹ kinh tế
Trong quá trình nghiên cứu, dù đã cố gắng thật nhiều, nhưng do khả năng vàkinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.Tác giả mong nhận được sự cảm thông và góp ý của quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp
và những người quan tâm đến đề tài này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên : PHAN NAM
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh; Niên khóa: 2011-2013
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC
Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
1 Tính cấp thiết của đề tài: Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách liên quan đến công tác đào tạo nghề, trong đó ĐTN cho lao động nông
thôn vẫn luôn là một trong những chính sách xã hội lớn và là nhiệm vụ quan trọng.Quảng Bình lĩnh vực nông nghiêp có vai trò đặc biệt quan trọng, tỷ lệ lao độngnông thôn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm trên 65% Tuy nhiên, côngtác dạy nghề nói chung và dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nói riêngcủa tỉnh vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế
Xuất phát từ những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” nghiên cứu làm luận văn thạc
sĩ quản trị kinh doanh của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác ĐTN, xác định
nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng để từ đó đề xuất những giải pháp phát triển côngtác ĐTN nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
3 Phương pháp nghiên cứu: Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp thu thập thông tin và
xử lý số liệu; Phương pháp phân tích đánh giá; Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu.
4 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn: Sau khi
nghiên cứu, đề tài có thể góp phần vào việc hệ thống hóa lý luận và thực tiễn
về công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động cho lao động nông thôn;
Đánh giá đúng thực trạng, xác định nhu cầu và phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình; Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển công tác
đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
trong những năm tới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CBGV Cán bộ giáo viênCBQL Cán bộ quản lý
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hóaCNH Công nghiệp hóa
LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội
MTĐT Mục tiêu đào tạoNNL Nguồn nhân lực
NN Nông nghiệp
NT Nông thôn
QB Quảng BìnhTBDN Thiết bị dạy nghềTTDN Trung tâm dạy nghềXHCN Xã hội chủ nghĩa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng trường học giai đoạn 2010-2012 49
Bảng 2.2: Thống kê số lượng học sinh và giáo viên giai đoạn 2010-2012 50
Bảng 2.3: Thống kê về cơ sở đào tạo, quy mô đào tạo, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất phục vụ cho dạy nghề 52
Bảng 2.4: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tỉnh Quảng Bình 55 Bảng 2.5: Các trung tâm dạy nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (đến 12/2012) 56
Bảng 2.6: Tình hình cán bộ quản lý, giáo viên các trung tâm dạy nghề (tính đến tháng 12/2012) 58
Bảng 2.7: Kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 59
Bảng 2.8: Số lượng học viên phân theo các hình thức đào tạo nghề 63
Bảng 2.9: Số học viên theo học nghề nông nghiệp 65
Bảng 2.10: Tổng kinh phí đào tạo nghề từ năm 2010-2012 66
Bảng 2.11: Nguyện vọng học nghề nông nghiệp của lao động nông thôn năm 2013 73
Bảng 2.12: Đánh giá kết quả công tác quản lý mục tiêu đào tạo 75
Bảng 2.13: Kết quả khảo sát đánh giá nội dung, chương trình dạy nghề 76
Bảng 2.14: Kết quả khảo sát công tác quản lý nội dung, chương trình đào tạo 77
Bảng 2.15: Kết quả khảo sát thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch dạy nghề và việc đổi mới phương pháp dạy nghề 79
Bảng 2.16 Kết quả khảo sát việc quản lý học viên học nghề 81
Bảng 2.17: Kết quả khảo sát công tác quản lý kết quả dạy nghề 82
Bảng 2.18: Kết quả điều tra công tác quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy nghề 83
Bảng 2.19: Đánh giá về trang bị cơ sở vật chất – thiết bị dạy nghề ở các trung tâm dạy nghề 90
Bảng 2.20: Về mức độ áp đáp ứng các cơ sở vật chất – thiết bị dạy nghề ở các trung tâm dạy nghề 90
Bảng 2.21: Về tính đồng bộ của cơ sở vật chất – thiết bị dạy nghề ở các trung tâm dạy nghề 91
Bảng 2.22: Về chất lượng của cơ sở vật chất – thiết bị dạy nghề ở các trung tâm dạy nghề 91
Bảng 2.23: Đánh giá kết quả mục tiêu đào tạo 97
Bảng 2.24: Kết quả đánh giá nội dung, chương trình đào tạo 98
Bảng 2.25: Kết quả khảo sát việc đánh giá học viên học nghề 100
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii
KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC CÁC HỘP v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỤC LỤC vii
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
Phần thứ hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1.1 Một số khái niệm 9
1.1.2 Vai trò của công tác đào tạo nghề 15
1.1.3 Các hình thức đào tạo nghề 22
1.1.4 Nội dung của công tác đào tạo nghề 26
1.1.5 Nhu cầu đào tạo nghề 27
1.1.6 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề 31
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 37
1.2.1 Tình hình đào tạo nghề trên thế giới 37
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 81.2.2 Tình hình đào tạo nghề ở Việt Nam 41
1.2.3 Tổng quan các nghiên cứu mới đây có liên quan đến đào tạo nghề 44
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 47
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO VÀ DẠY NGHỀ CỦA TỈNH QUẢNG BÌNH 47
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 47
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 48
2.1.3 Tình hình về giáo dục đào tạo và dạy nghề ở tỉnh Quảng Bình 49
2.1.4 Tình hình phát triển ngành nông nghiệp ở tỉnh Quảng Bình 54
2.2 HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 56
2.2.1 Mạng lưới, quy mô, ngành nghề và các điều kiện bảo đảm cho đào tạo nghề nông nghiệp của các trung tâm dạy nghề cấp huyện 56
2.2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề 57
2.3 HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 59
2.3.1 Kết quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 59
2.3.2 Chất lượng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn của các trung tâm dạy nghề theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương 61
2.3.3 Các hình thức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 62
2.3.4 Nội dung của đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 64
2.3.5 Các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề 66
2.3.6 Nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp của lao động nông thôn 72
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 92.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO
ĐỘNG NÔNG NGHIỆP THEO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ
DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 752.4.1 Đánh giá của cán bộ, giáo viên và học sinh về công tác đào tạo nghề nông
nghiệp cho lao động nông thôn 752.4.2 Đánh giá chung về thực trạng công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao
động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề 84
2.5 PHÂN TÍCH NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠONGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 882.5.1 Những yếu tố bên ngoài (Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước) 882.5.2 Những yếu tố bên trong 90
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐÀO TẠO
NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO CHƯƠNG
TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH 1013.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG
NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊUQUỐC GIA VỀ DẠY NGHỀ 1013.1.1 Căn cứ để định hướng phát triển 1013.1.2 Định hướng phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1023.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐÀO
TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO CHƯƠNGTRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ DẠY NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG BÌNH 1043.2.1 Giải pháp tổ chức thực hiện công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao độngnông thôn 1043.2.2 Giải pháp về đầu tư đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 1063.2.3 Giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị dạy nghề 108
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 103.2.4 Giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy
nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 109
3.2.5 Giải pháp về phát triển, đổi mới nội dung, chương trình và hình thức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 112
3.2.6 Giải pháp về hỗ trợ kinh phí cho lao động nông thôn học nghề nông nghiệp 113
3.2.7 Giải pháp về gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau học nghề 114
3.2.8 Giải pháp về kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 115
Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
1 KẾT LUẬN 117
2 KIẾN NGHỊ 119
2.1 Đối với Bộ LĐ-TB&XH, Tổng cục Dạy nghề 119
2.2 Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Bình 119
2.3 Đối với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Bình 120
2.4 Đối với các TTDN cấp huyện, tỉnh Quảng Bình 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách liên quan đến công tác đào tạo nghề (ĐTN), trong đó ĐTN cho lao động
nông thôn (LĐNT) vẫn luôn là một trong những chính sách xã hội lớn và là nhiệm
vụ quan trọng Chính vì vậy, ĐTN cho người LĐNT luôn được các cấp, các ngành
quan tâm và xác định rõ nhiệm vụ Mặt khác, nó là một trong những nội dung chủ
yếu để tạo ra nguồn nhân lực (NNL) kỹ thuật thúc đẩy nền kinh tế - xã hội (KT-XH)phát triển Việt Nam nói chung và Quảng Bình (QB) nói riêng lĩnh vực nông nghiêp(NN) có vai trò đặc biệt quan trọng, tỷ lệ LĐNT hoạt động trong lĩnh vực NN chiếmtrên 65% Vì vậy, ĐTN NN cho LĐNT là nhiệm vụ không thể thiếu trong công tác
ĐTN cho lao động
Nhận thức được vai trò của phát triển NNL nói chung và ĐTN nói riêngtrong sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, tư tưởng chỉ
đạo đó được bắt đầu từ Nghị quyết Trung ương II khoá VIII vào cuối năm 1996 đã
chỉ ra thiếu sót trên và xác định phải chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệptrong thời gian tới nên Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách mới tương
đối đồng bộ và phù hợp với điều kiện của đất nước về dạy nghề cho LĐNT Tỉnh
QB cũng đã ban hành một số chính sách thuận lợi và đã xây dựng thành công một
số mô hình dạy nghề cho LĐNT làm cơ sở để triển khai nhân rộng trong toàn tỉnh;
số LĐNT được học nghề ngày càng tăng Một số bộ phận LĐNT sau khi học nghề
đã có việc làm mới ở các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩulao động hoặc chuyển đổi nghề Qua đó, đã góp phần hình thành nhiều mô hình sản
xuất NN, công nghiệp, dịch vụ có hiệu quả, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo,phát triển KT-XH ở nông thôn (NT) và xây dựng NT mới
Tuy nhiên, công tác dạy nghề nói chung và dạy nghề NN cho LĐNT nóiriêng của tỉnh vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-
HĐH) NN, NT trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) và hội nhập quốc tế Việc triển khai công tác này còn chậm, thiếu đồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12bộ, chưa phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, ngành kinh tế; thiếu định
hướng dài hạn, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch
NT mới, nhất là quy hoạch sản xuất NN, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ và thị trường Một số nơi, dạy nghề còn chạy theo số lượng; chất lượng thấp,
chưa phù hợp với nhu cầu của người học và người sử dụng lao động Tư vấn,hướng nghiệp học nghề với điều kiện, khả năng của mình và nhu cầu của xã hội
Mạng lưới cơ sở dạy nghề (CSDN) còn nhiều bất cập, CSVC, thiết bị chưa đáp
ứng yêu cầu; đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) nhà nước về dạy nghề thiếu về sốlượng và yếu về nghiệp vụ Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế Công tác
tuyên truyền, phổ biến về dạy nghề cho LĐNT chưa sát thực tế, chưa phong phú
về hình thức Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm tăng cường
năng lực hoạt động các CSDN, nâng cao chất lượng ĐTN NN cho LĐNT, tạo
việc làm ổn định lâu dài là rất cần thiết và quan trọng
Xuất phát từ những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” nghiên cứu làm luận văn thạc
sĩ quản trị kinh doanh của mình
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng công tác ĐTN NN cho cho LĐNT theo chương trình mục tiêuquốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh QB hiện nay như thế nào?
- Chất lượng của công tác ĐTN NN cho LĐNT ra sao?
- Nhu cầu ĐTN của LĐNT trên địa bàn tỉnh QB là những nghề gì?
- Có những hạn chế, bất cập gì trong công tác ĐTN NN cho LĐNT trên địabàn tỉnh?
- Những yếu tố nào tác động và ảnh hưởng đến công tác ĐTN NN cho
LĐNT?
- Cần đưa ra những giải pháp nào nhằm giải quyết những tồn tại, bất cập để pháttriển công tác ĐTN NN cho LĐNT theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề
trên địa bàn tỉnh QB trong những năm tới?
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 133 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác ĐTN, xác định nhu cầu và các yếu tốảnh hưởng đến ĐTN NN cho LĐNT để từ đó đề xuất những giải pháp phát triển
công tác ĐTN NN trên địa bàn tỉnh QB
3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về công tác ĐTN NN cho LĐNT;
- Đánh giá thực trạng, xác định nhu cầu và phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến công tác ĐTN NN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh QB;
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển công tác ĐTN NN cho LĐNT trên
địa bàn tỉnh QB trong những năm tới
4 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các trung tâm dạy nghề (TTDN) cấp huyện ở tỉnh QB có tham gia dạy nghề
NN cho LĐNT
- LĐNT đã, đang và sẽ học nghề NN trên địa bàn tỉnh
4.2 Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Kết quả ĐTN NN cho LĐNT theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạynghề của các TTDN trên địa bàn tỉnh QB
- Thực trạng công tác ĐTN NN và các loại hình ĐTN NN cho LĐNT
- Khảo sát nhu cầu học nghề NN của LĐNT trên địa bàn tỉnh
- Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác ĐTN NN cho LĐNT
trên địa bàn tỉnh QB giai đoạn 2010-2012
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề NN
cho lao đông NT theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh.Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 144.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi về không gian
- Nghiên cứu này được thực hiện trên phạm vi tỉnh QB
- Một số nội dung được thực hiện ở một số TTDN cấp huyện ở tỉnh QB
4.3.2 Về thời gian
- Các số liệu phục vụ cho việc đánh giá thực trạng công tác ĐTN, các loạihình đào tạo của các CSDN được thu thập từ năm 2010 đến 2012
- Thời gian để thực hiện đề tài: Tháng 12/2012 đến tháng 5/2013
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, các chương, kết luận và kiến nghị, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác ĐTN NN cho LĐNT Chương 2: Đánh giá công tác ĐTN NN cho LĐNT theo chương trình mục
tiêu quốc gia về dạy nghề trên địa bàn tỉnh QB
Chương 3: Định hướng phát triển và một số giải pháp nhằm thực hiện tốt
công tác ĐTN NN cho LĐNT theo chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề trên
địa bàn tỉnh QB
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Thực hiện trên phạm vi tỉnh QB
- Trong hệ thống các cơ sở ĐTN trên địa bàn tỉnh QB bao gồm 25 cơ sở;
trong đó có: 02 trường Trung cấp nghề, 06 TTDN cấp huyện và 17 CSDN khác
Với giới hạn nội dung nghiên cứu tập trung vào công tác ĐTN NN cho LĐNT theo
chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề Tôi lựa chọn 06 TTDN cấp huyệnđược giao chỉ tiêu ĐTN NN cho LĐNT đại diện cho nghiên cứu
6.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp sẽ được thu thập, xử lý phân nhóm, từ đó làm cơ sở lý luận
và thực tiễn về công tác ĐTN NN cho LĐNT
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15Số liệu thứ cấp về công tác ĐTN NN cho LĐNT bao gồm: Các chính sáchliên quan, báo cáo tổng kết của tỉnh sẽ được tổng hợp qua sách, báo, tạp chí, niêngiám thống kê, báo cáo của các Bộ, như: Bộ NN và Phát triển NT, Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020 của
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh QB, báo cáo của các CSDN,
6.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp sẽ được tiến hành thu thập qua điều tra, điều tra điển hình qua
các đối tượng tham gia, liên quan đến công tác ĐTN Công cụ PRA (điều tra, đánh
giá có sự tham gia) được phối hợp sử dụng khi tiến hành điều tra Số liệu sơ cấp sẽ
được tính toán phân tích để làm rõ thực trạng ĐTN NN cho cho LĐNT tại địa bàn
nghiên cứu
Với đặc thù của nghiên cứu đánh giá công tác ĐTN NN cho cho LĐNT, nêncác thông tin cần thu thập chủ yếu là dữ liệu sơ cấp, được thu thập từ nhiều nguồn,nhiều đối tượng khác nhau Các hình thức thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn trựctiếp bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa, thảo luận nhóm, hội thảo có sự tham giacủa các nhóm đối tượng khác nhau
Tiến hành điều tra với số lượng phiếu như sau:
- Đối với học viên:
N = 22.469 học viên (đây là số HV đã được đào tạo trong 3 năm 2010-2012), sốmẫu điều tra là 393 (số mẫu điều tra đối với HV)
- Đối với GV và CBQL: N = 70 GV và CBQL (đây là số GV và CBQL tại thời
điểm điều tra), số mẫu điều tra là 60 (số mẫu điều tra đối với GV và CBQL)
Lý do để chon mẫu điều tra như trên, áp dụng công thức điều tra chon mẫunhư sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Phương pháp chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên phi xác xuất.
Phiếu phỏng vấn được thiết kế tập trung thành 03 loại: (1) Phiếu điều tradành cho CBQL tại các TTDN; (2) Phiếu điều tra dành cho GV dạy nghề tại cácTTDN; (3) Phiếu điều tra dành cho các học viên (HV) học nghề tại các TTDN
Các dữ liệu thứ cấp về tình hình chung của địa bàn, tình hình ĐTN trên thếgiới và ở Việt Nam, kết quả ĐTN trên địa bàn tỉnh QB, các chủ trương chính sách
có liên quan đến ĐTN,… được thu thập từ những tài liệu có sẵn trên sách, báo, cácvăn bản quy phạm… đã được các cơ quan chức năng thẩm định, kiểm tra và xuất
bản Các tài liệu này được tìm, đọc và trích dẫn đầy đủ
Ngoài ra, tôi còn tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các cán bộ GV(cán bộ GV) dạy nghề, ý kiến của các nhà quản lý công tác ĐTN ở địa phương vềcông tác ĐTN để thu thập và phân tích đánh giá vấn đề được khách quan
6.2.3 Phương pháp tổng hợp xử lý các tài liệu thu thập
Các dữ liệu được thu thập, được kiểm tra và hiệu chỉnh theo 3 yêu cầu (đầy
6.3 Phương pháp phân tích đánh giá
6.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Dùng phương pháp thống kê mô tả để phân tích đánh giá mức độ về từngnhu cầu đào tạo của từng đối tượng học, từng loại nghề và về từng lĩnh vực kiếnthức, kỹ năng… thông qua các chỉ tiêu tổng hợp như số tuyệt đối, số tương đối, bìnhquân Ngoài mô tả mức độ, phương pháp thống kê còn dùng để phân tích biến động
và mối quan hệ giữa các hình thức đào tạo và giữa kết quả dạy và học nghề
6.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được dùng để so sánh nhu cầu đào tạo và kết quả đào
tạo, giữa thực tế với kế hoạch, giữa các cơ sở đào tạo, giữa các năm, giữa các đơn vị
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17tương đương, so sánh chất lượng sản phẩm (người được học nghề, người được bổ
túc nâng cao trình độ… giữa các trường và TTDN) từ đó tìm ra mô hình hiệu quảnhất và đề xuất những giải pháp trước mắt và lâu dài để nâng cao hiệu quả hoạt
động của các TTDN cấp huyện
6.3.3 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia (PRA)
Đây là phương pháp mà gần đây được các tác giả sử dụng rộng rãi nghiên
cứu về NN, NT thu được kết quả tốt Mục đích của PRA là nhằm giúp cho ngườinghiên cứu nắm được các thông tin về địa bàn nghiên cứu để thực hiện các mục tiêunghiên cứu PRA mang tính thăm dò được sử dụng ở giai đoạn đầu nghiên cứu lên
kế hoạch nhằm đưa ra hướng giải quyết sơ bộ sau đó kiểm ngiệm bằng việc nghiêncứu tiếp theo PRA bao gồm một loạt cách tiếp cận và phương pháp khuyến khíchlôi cuốn người LĐNT cùng tham gia chia sẻ thảo luận Phương pháp này được ápdụng trong nghiên cứu đề tài này ở việc phân tích nguyên nhân, mục đích từ đó xâydựng cây vấn đề, cây mục tiêu, cây giải pháp
6.3.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Là phương pháp dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia qua đó
nắm được thực trạng tình hình, nắm được đánh giá, nhận xét, kết luận của cácchuyện gia từ đó đi đến kết luận khoa học Để đề tài có tính chính xác và đi đúng
hướng, tôi dùng phương pháp này nhằm thu thập chon lọc ý kiến người đại diện
trong từng lĩnh vực như: Phòng ĐTN Sở LĐ-TB&XH, phòng Đào tạo của cácTTDN, các CBQL, chuyên gia của các CSDN
6.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
6.4.1 Các chỉ tiêu thể hiện thực trạng ĐTN
- Số lượng CBGV theo trình độ, …
- Diện tích phòng học lý thuyết, thực hành
- Giá trị TSCĐ dùng cho ĐTN
- Số đầu sách tham khảo, giáo trình, bài giảng
- Số lượng chuyên ngành, khóa, lớp ĐTN
- Thời gian đào tạo trung bình 1 khóa theo hệ đào tạo
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18- Số lượng học sinh đã được ĐTN
6.4.2 Các chỉ tiêu thể hiện nhu cầu đào tạo
* Đối với CBGV
- Số người có nhu cầu bồi dưỡng kiến thức theo từng lĩnh vực
- Số người có nhu cầu bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp
* Đối với học sinh
- Số người có nhu cầu học từng loại nghề
- Số nghề được thích học nhiều nhất
- Số năm học cần thiết
- Số môn học cần thiết
6.4.3 Các chỉ tiêu thể hiện quy mô ĐTN trong tương lai
- Quy mô đào tạo hàng năm
Trang 19Phần thứ hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm
a Khái niệm nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khácnhau Dưới đây là một số khái niệm về nghề
Chung nhất, nghề là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệthống phân công lao động xã hội; là tổng hợp những kiến thức (hiểu biết) và kỹ
năng trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên môn
và tích lũy kinh nghiệm trong công việc
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con
người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất
hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
- Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: “Là một loại hoạt động lao động
đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”
- Khái niệm nghề ở Pháp: “Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹxảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”
- Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: “Là công việc chuyên môn đòi hỏimột sự đào tạo trong khoa học nghề thuật”
- Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: “Là hoạt động cần thiết cho xã hội
ở một lĩnh vực hoạt động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”.Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sựTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20phân công lao động, với tiến bộ khoa học, kỹ thuật, và văn minh nhân loại Bởi vậyđược nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
- Ở Việt Nam, có nhiều khái niệm nghề được đưa ra song chưa được thốngnhất, chẳng hạn có khái niệm được nêu: “Nghề là một tập hợp lao động do sự phân
công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tínhtương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu
cầu xã hội Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, songchúng tôi thấy đều thống nhất ở một số nét đặc trưng nhất định như sau:
+ Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.+ Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội
+ Là phương tiện để sinh sống
b Khái niệm đào tạo nghề
Có rất nhiều định nghĩa về ĐTN, sau đây xin được nêu một số định nghĩa đó:Tác giả William Mc Gehee (1979) cho rằng: ĐTN là những quy trình mànhững công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi
đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty
Ông Max Forter (1979) cũng đưa ra khái niệm ĐTN phải đáp ứng việc hoàn
thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học; phát triển tri thức, kỹ năng
và thái độ; tạo ra sự thay đổi trong hành vi; đạt được những mục tiêu chuyên biệt
Theo tác giả Tack Soo Chung (1982) thì: ĐTN là hoạt động đào tạo pháttriển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảmnhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắptrở thành người lao động
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho
người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới
công việc, nghề nghiệp được giao
Tác giả Nguyễn Viết Sự đưa ra khái niệm: "ĐTN là một quá trình hoạt động
có mục đích có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ
năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đờiTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21hành nghề có năng suất và hiệu quả cao Thông thường sau khi đào tạo người lao
động kỹ thuật được cấp bằng, chứng chỉ nghề"[16]
Theo Luật dạy nghề (2006) “ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bịkiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thểtìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”[20]
ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là:
- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để các HV có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thànhthục nhất định về nghề nghiệp
- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hànhcủa người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
Như vậy, dạy nghề giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹnăng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin được việc làm trong các cơ quan,
doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra các công việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chobản thân
Nguyên lý và phương châm của dạy nghề: Học đi đôi với hành; lấy thựchành, thực tập kỹ năng nghề làm chính; coi trọng giáo dục đạo đức, lương tâm nghềnghiệp, rèn luyện ý thức tổ chức kỹ luật, tác phong công nghiệp cho người học, đảmbảo tính giáo dục toàn diện
ĐTN trình độ sơ cấp: Nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành
một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo
đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỹ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ,
tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tựtạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn CSDN trình độ sơ cấp: TTDN;
trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp;
doanh nghiệp, hợp tác xã, CSSX, kinh doanh, dịch vụ khác, trường trung cấpchuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng kýdạy nghề trình độ sơ cấp Người học nghề học hết chương trình sơ cấp nghề có đủ
điều kiện thì được dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được người đứng đầu CSDN
chứng chỉ sơ cấp nghề theo qui định[20]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22ĐTN đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thứcliên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thíchnghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Có nhiềudạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và ĐTN,
đào tạo lại, đào tạo từ xa và tự đào tạo, v.v
c Khái niệm nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư: NN là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm,
thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những câytrồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà) Công việc NN cũng đượcbiết đến bởi những người LĐNT, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phátminh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năngsuất cây trồng và vật nuôi
NN theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phảidựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lươngthực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của mình NN theo nghĩa rộng còn baogồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp
Như vậy, NN là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Nhữngđiều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời trực
tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi NN cũng là ngành sảnxuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiềuvào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặprất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất NN ở nước ta thường gắn liền với những
phương pháp canh tác, lề thói, tập quán đã có từ hàng nghìn năm nay
Ở các nước nghèo, NN thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và thu hút
một bộ phận quan trọng lao động xã hội
Trong NN cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất NN thuộc dạng nàocũng rất quan trọng:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23- NN thuần nông hay NN sinh nhai: là lĩnh vực sản xuất NN có đầu vào hạnchế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người LĐNT.Không có sự cơ giới hóa trong NN sinh nhai.
- NN chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất NN được chuyên môn hóa trong tất cảcác khâu sản xuất NN, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi,hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm NN NN chuyên sâu có nguồn đầu vào sảnxuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lạitạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu rachủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hayxuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất NN chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi
cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế
biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
NN hiện đại vượt ra khỏi sản xuất NN truyền thống, loại sản xuất nôn nghiệpchủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sảnphẩm NN hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho
con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt
(mê tan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinhbột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợppháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine…)
d Khái niệm lao động nông thôn
Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chínhphủ: LĐNT là lao động trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phùhợp với nghề cần học LĐNT, gồm:
- Người lao động có hộ khầu thường trú tại các xã;
- Người lao động có hộ khẩu thường trú tại các phường, thị trấn nhưng đangtrực tiếp làm NN, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có
đất NN bị thu hồi.[24]
LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống
kinh tế NT Nguồn LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở NT trong
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến
55 tuổi) có khả năng lao động
Lực lượng lao động ở NT là bộ phận của nguồn lao động ở NT bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm vànhững người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở NT mà lực lượng
tham gia sản xuất NN không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn cónhững người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việcphù hợp với mình Từ khái niệm nguồn lao động ở NT mà ta thấy lao động ở NT rấtdồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở NT
Đặc điểm của LĐNT: LĐNT mang tính thời vụ; tăng về số lượng; chấtlượng nguồn lao động chưa cao
e Khái niệm đánh giá
Theo Wattpad: Thuật ngữ đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữkiện đo lường được qua các kỳ kiểm tra/lượng giá trong quá trình và kết thúc bằng
cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó
trong các mục tiêu
- Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình vàkết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả
- Đánh giá là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó
- Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định, xác định giá trị thực trạng về:mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự pháttriển, những kinh nghiệm được hình thành ở thài điểm hiện tại đang xét so với mụctiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập
Đánh giá trong giáo dục: Là việc điều tra, xem xét, xác định chất lượng củađối tượng được đánh giá trên cơ sở thu thập thông tin một cách có hệ thống, nhằm
hỗ trợ cho việc ra quyết định và rút ra bài học kinh nghiệm
Theo Bách khoa toàn thư: Đánh giá là một hoạt động định kỳ của chu trình
quản lý, nhằm thu thập và phân tích các thông tin, tính toán các chỉ số, để đối chiếu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25xem chương trình/hoạt động có đạt được mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn
lực (chi phí) bỏ ra hay không Thông thường, đáng giá nhằm phân tích sự phù hợp,hiệu lực, hiệu quả, tác động và tính bền vững của chương trình
1.1.2 Vai trò của công tác đào tạo nghề
a ĐTN góp phần tăng trưởng kinh tế
Các thuyết kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc
đẩy kinh tế trong dài hạn, mặt khác công nghệ tăng trưởng càng nhanh hơn khi lựclượng lao động có trình độ cao hơn Bởi vậy, tích luỹ vốn con người, đặc biệt là
kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và cũng chính là nguồn duytrì tăng trưởng cho nền kinh tế
Hầu hết các cuộc tranh luận về sự cần thiết, tính hợp lý và hiện đại trong cảicách hệ thống giáo dục đều dựa trên cơ sở lý luận kinh tế giáo dục, trong đó ĐTN
được coi là một nhân tố có vị trí quan trọng, có khả năng quyết định những vấn đề
về phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sức cạnh tranh của tất cả các thị trường trênthế giới Thành công của một quốc gia được xem như kết quả các mối quan hệ giữanội dung và cấu trúc của hệ thống giáo dục với chất lượng của NNL Do đó, sự mấtcân bằng của thị trường lao động và tỷ lệ tăng trưởng đi xuống được quy cho chất
lượng hệ thống ĐTN không đủ đáp ứng nhu cầu và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa
một bên là nội dung giảng dạy và bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc gia với mộtbên là những yêu cầu về chất lượng và yêu cầu công việc của hệ thống tuyển dụng.Nhận thức dù ít hay nhiều về mối qua hệ giữa cấu trúc giáo dục và thành công củanền kinh tế thì các chính sách giáo dục của các nước công nghiệp phát triển thành
công trước đó đã khẳng định vai trò của mình và coi đó như là một giải pháp nhằm
giúp giải quyết các vấn đề của đất nước
Để có được đội ngũ những người lao động giỏi thì phải đầu tư, mà đầu tư
cho giáo dục nói chung và ĐTN nói riêng phải được coi là đầu tư phát triển Việc
đánh giá vai trò của ĐTN đối với tăng trưởng kinh tế qua yếu tố năng suất lao độngđược tính bằng cách so sánh sự khác biệt về lượng sản phẩm hay thu nhập mà ngườilao động làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước và sau khi họ tham gia mộtTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26khoá đào tạo với chi phí nhất định khoá đào tạo đó Kết quả này được gọi là tỷ suất
lợi nhuận ĐTN, các nhà kinh tế giáo dục đã nhận định rằng lợi ích kinh tế thu được
từ đầu tư ĐTN vượt xa các loại đầu tư khác
Nhận thức được vấn đề đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng chỉ rõ:
“Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước,
mở rộng các hình thức ĐTN đa dạng, linh hoạt, năng động”[8] Kết luận của Hộinghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VI, Khoá IV nhận định: “Cơ cấu giáodục còn bất hợp lý, mất cân đối giữa ĐTN và đại học .”, đồng thời khẳng địnhnhiệm vụ: “Hiện đại hoá một số trường dạy nghề nhằm chuẩn bị đội ngũ công nhânbậc cao có trình độ tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và công nghệ cao ”, “Hìnhthành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với nhiều cấp độ”
Như vậy, Đảng ta đã khẳng định phát triển mạnh với ĐTN nhằm đào tạo
nhân lực kỹ thuật có năng lực thực hành đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, chuyểndịch cơ cấu lao động, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; yêu cầu của thị trường lao động và nhất là tăng khả năng cạnh tranh của laođộng Việt Nam trong khu vực, trên thế giới
b ĐTN là giải pháp để nâng cao chất lượng NNL
Giáo dục đào tạo nói chung và ĐTN nói riêng là hoạt động hết sức cần thiết
đối với sự nghiệp phát triển KT-XH của các quốc gia Muốn có một nền kinh tế
phát triển, một xã hội văn minh đòi hỏi phải có một NNL phát triển cả về thể chấtlẫn trí tuệ Sản phẩm của giáo dục – đào tạo (GD-ĐT) là con người, là yếu tố đặcbiệt quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội Kỹ năngcủa con người có tác động đến năng suất lao động, việc hình thành kỹ năng phảithông qua giáo dục và phải được đào tạo Vì vậy, dù ở góc độ nào giáo dục đào tạocũng giữ vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển tiềm năng của con người Trongquá trình phát triển KT-XH, giáo dục đào tạo luôn luôn có mối liên hệ mật thiết vớinhau Giáo dục là nền tảng để phát triển đào tạo, là cơ sở quan trọng nhất để xâydựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Giáo dục cung cấpmột vồn học vấn đủ rộng và vững chắc như một giấy thông hành để con người học
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27tập suốt đời, cung cấp một kỹ năng nghề nghiệp nhất định cùng với khả năng thích
ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, cách thức làm việc trong đội ngũ và sống chung
với cộng đồng, tạo khả năng làm việc có suy nghĩ, chủ động và có trách nhiệm Đàotạo (trong đó có ĐTN) là hoạt động tiếp tục của giáo dục, là động lực của quá trìnhphát triển KT-XH, giúp cho người lao động có kiến thức, ý thức kỷ luật, tác phongcông nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìmviệc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Ngày nay, khi khoa học công nghệ và tri thức trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì vai trò củaNNL có chất lượng ngày càng trở nên quan trọng hơn Năng lực trí tuệ, yếu tố chủyếu chất lượng NNL, là kết quả trực tiếp của hoạt động giáo dục đào tạo nói chung
và ĐTN nói riêng, do đó có thể nói ĐTN đóng vai trò quyết định tới chất lượngNNL Nhận thức được tầm quan trọng ccủa ĐTN, Chính phủ các nước trên thế giới
đều rất quan tâm đến vần đề này, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi phát triển
kinh tế tri thức đang là xu hướng có tính toàn cầu và cùng với quá trình toàn cầuhoá là quá trình tri thức hoá nền kinh tế
Trong quá trình toàn cầu hoá và tri thức hoá nền kinh tế, để không bị tụt hậu,ngay cả các quốc gia phát triển cũng phải tăng cường nâng cao chất lượng NNL, cácquốc gia đang phát triển muốn đi tắt, đón đầu, tranh thủ được cơ hội do tri thức hoá
đem lại để phát triển kinh tế nhanh chóng, kịp thời cải cách hệ thống ĐTN, trên cơ
sở tạo điều kiện nâng cao chất lượng NNL của quốc gia Bởi lẽ, NNL có chất lượngkhông phải tự nhiên mà có được, muốn có phải thông qua quá trình ĐTN nhằm đáp
ứng yêu cầu của tiến bộ khoa học ĐTN giúp cho mỗi người lao động thực hiện và
vận dụng năng lực, tài năng của mình để làm tăng năng suất lao động, cải thiện sứckhoẻ và dinh dưỡng
Để thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ĐTN, Chính phủ các nước đã không
ngừng tăng chi ngân sách đầu tư cho ĐTN Thông thường các nước trên thế giới,
đầu tư cho giáo dục đào tạo khoảng 10 -12% tổng chi ngân sách Nhà nước trong
mỗi giai đoạn Bên cạnh nguồn vốn từ Nhà nước, các quốc gia rất coi trọng việc huy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28động vốn, CSVC từ mọi nguồn để phục vụ cho hoạt động này (đặc biệt là vốn tư
nhân) Vì đầu tư cho ĐTN được coi là đầu tư cho phát triển và đầu tư mang lại lợinhuận cao hơn so với đầu tư vật chất
Mặt khác, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì chất lượngNNL trở thành tài nguyên quan trọng hơn mọi tài nguyên Muốn phát triển và sửdụng nó một cách có hiệu quả, không còn con đường nào khác ngoài con đường họchành, từ đó xuất hiện khái niệm “xã hội học tập” Học tập là điều kiện của sự pháttriển, học không ngừng và học suốt đời Người ta có thể học ở trường học, họcngoài xã hội, học lẫn nhau để không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo
Do đó, cần phải có hệ thống giáo dục nói chung và ĐTN nói riêng phù hợp để có
thể học ở bất cứ nơi đâu và bất cư lúc nào, coi trọng mọi cấp học
Hơn nữa, quá trình toàn cầu hoá hiện nay đang là xu thế khách quan, sự cạnh
tranh giữa các quốc gia về kinh tế, thương mại, kỹ thuật - công nghệ ngày càngquyết liệt, lợi thế cạnh tranh thuộc về quốc gia có NNL chất lượng cao Việt Nam
đã là thành viên chính thức của WTO, cạnh tranh về lao động ngay ở thị trườngtrong nước và khu vực cũng là một thách thức lớn Điều đó đòi hỏi ĐTN phải đổi
mới cơ chế, chính sách và pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động ĐTN sẽ tạo ra NNL trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, có tay nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước
và hội nhập quốc tế Phát triển ĐTN thực chất là phát triển nguồn lực con người,phát triển lực lượng lao động có trình độ chuyên môn để xây dựng đất nước giàumạnh Tại Đại hội VIII (1996) Đảng ta đã khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồnlực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”[10]
NNL (lao động) có trình độ chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề không chỉ làvốn quý của bản thân mỗi con người mà còn là vốn quý của quốc gia vì sản phẩm
được tạo ra từ họ mang lại lợi ích to lớn cho bản thân, cho xã hội, thậm chí cho cả
thế giới; đồng thời, nó có tác động to lớn đến đời sống, sản xuất của con người
Đào tạo NNL trình độ chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề là nhằm phát triển lựclượng sản xuất, là động lực quan trọng của sự phát triển KT-XH, bởi một quốc giaTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29giàu mạnh, văn minh thì phải có nhiều lao động đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật,
có tay nghề Mặt khác, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mang tính cạnh chanhcao; do vậy, để đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh tất yếu phải coi trọng việc
đảm bảo về chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ lao động
Việc đổi mới toàn diện hoạt động ĐTN nhằm đào tạo và trang bị kỹ năngnghề nghiệp, tay nghề cho người lao động Con người muốn lập nghiệp tất yếu phải
có nghề; muốn có nghề thì phải học và phải được đào tạo Tuy nhiên, để đáp ứng
được yêu cầu đổi mới, ĐTN phải thực sự coi con người là nhân tố trung tâm; là hạt
nhân trong quá trình đào tạo; phải biến tri thức trở thành kỹ năng, trí tuệ thành trílực Tri thức của con người, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức là nhữngyếu tố của kiến thức và cần được xem xét khi nói đến việc nâng cao chất lượngNNL Mặt khác, hoạt động ĐTN sẽ phát triển năng lực vật chất và năng lực trí tuệtồn tại trong mỗi con người Nguồn lực con người có thể được coi như nguồn lực tựnhiên, nếu có phương pháp (dạy và học) và điều kiện giáo dục tốt, được trang bị đầy
đủ các máy móc thiết bị để thực hành nghề, biết phát huy sử dụng tiềm năng sáng
tạo của con người thì chất lượng ĐTN sẽ thực sự phát huy được hiệu quả
c ĐTN để có cơ hội việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và góp phần xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư
ĐTN là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình thành và phát
triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn như vậy mới có thể có được việc làm tốt,
có thu nhập cao, đảm bảo cuộc sống Người lao động có trình độ ĐTN càng cao thìkhả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao Phát triển ĐTN là biện pháp để
xoá đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của mỗi con người để họ
tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, tạo ra thu nhập đảm bảo cuộc sống của chínhbản thân và gia đình họ Như vậy có thể khẳng định rằng phát triển ĐTN là biệnpháp tích cực và bền vững trong việc giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống nhân dân
Qua nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB) về tác động của sự phát triểnGD-ĐT đến giải quyết vấn đề nghèo đói đã khẳng định rõ: tỷ lệ nghèo đói giảm đicùng với sự tăng lên về trình độ học vấn cao nhất của người lao động (Biểu đồ: 1.1)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nghèo đói theo trình độ học vấn
Phát triển ĐTN không chỉ tiến đến công bằng về xã hội về thu nhập mà cóthể đạt tới công bằng xã hội nói chung bởi lẽ con người có được học vấn cao thì họkhông những tham gia vào thị trường lao động, tự tạo việc làm để có thu nhập cao
mà họ còn có vốn kiến thức để tham gia và hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động kháccủa đời sống KT-XH: chính trị, văn hoá, y tế, thể dục thể thao Nghiên cứu kinhnghiệm của các nước trên thế giới trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội các nhà kinh tế đã khẳng định rằng: “GD-ĐT phát triển tác động rất lớn đến công bằng xã hội” [14] Mặt khác, khi nghiên cứu
mối quan hệ giữa trình độ học vấn và thu nhập của người lao động, chúng ta cũngthấy rằng: thu nhập của người lao động tăng lên cùng với sự tăng lên của trình độhọc vấn (Biểu đồ 1.1)
Nhận thức được vai trò to lớn của GD-ĐT không chỉ đối với tăng trưởngkinh tế mà còn đối với phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Pháttriển GD-ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH,
HĐH là điều kiện phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [8]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Thu nhập (1000đ/tháng)
Thất học Tiểu học THPT Dạy nghề Đại học
Trình độ học vấn
Biểu đồ 1.2: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến mức thu
nhập của người lao động
Chúng ta biết rằng, người Việt Nam có tư chất thông minh, sáng tạo, có khả
năng vận dụng và thích ứng nhanh, đó là ưu thế nổi trội của NNL nước ta Những
phẩm chất này khẳng định năng lực trí tuệ của người Việt Nam có thể theo kịp tốc
độ phát triển của công nghệ hiện đại Nếu được đào tạo và sử dụng hợp lý, ngườilao động có khả năng làm chủ được các loại hình công nghệ từ đơn giản đến phức
tạp và hiện đại Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài, người
lao động Việt Nam nhanh nhạy hơn nhiều so với người lao động của các nước khác
không quan tâm đến vấn đề phát triển giáo dục đào tạo nói chung và ĐTN nói riêng
thì khó có thể giảm bớt được sự bất công bằng trong xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Ở Việt Nam, HDI có xu hướng gia tăng: năm 1985, trước đổi mới đạt 0,562điểm; năm 1990 đạt 0,620; năm 1995 đạt 0,672; năm 2000 đạt 0,688; năm 2005 đạt0,704; năm 2006 đạt 0,709; năm 2007 đạt 0,733 điểm Về thứ tự xếp hạng: Việt
Nam xếp thứ 117/174 nước (năm 1993) lên xếp thứ 109/174 nước (năm 2000),
riêng năm 2004 lại tụt xuống thứ 112/177 nước Năm 2005, tình hình có cải thiện và
ở mức 108/177 Năm 2006, chỉ số HDI lại giảm một bậc, tụt xuống 109/177, xếpsau Indonesia Năm 2007, chỉ số HDI của nước ta tăng 4 bậc, từ 109 lên 105 trong
tổng số 177 nước được xếp hạng [18] Qua những số liệu trên đây, chứng tỏ côngbằng xã hội ở nước ta đã có nhiều tiến bộ, đó là nhờ chính sách đúng đắn của Nhà
nước trong việc ưu tiên cho đầu tư phát triển GD-ĐT nói chung và ĐTN nói riêng
Ngoài ra, sự phát triển của ĐTN cả quy mô và chất lượng với một cơ cấu hợp
lý cả về trình độ, ngành nghề đào tạo sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quátrình hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực, phù hợp với xuthế phát triển của xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế
1.1.3 Các hình thức đào tạo nghề
ĐTN là quá trình trang bị cho người học một cách có hệ thống về kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp ĐTN là nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp
và hoạt động xã hội Mục tiêu của ĐTN là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến
trên cơ sở yêu cầu phát triển KT-XH và được hiểu chất lượng cần đạt tới với người học
sau quá trình đào tạo Hiện nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới đang tồn tại nhiều
định nghĩa về ĐTN, có thể nêu một số định nghĩa cụ thể như sau:
- Dưới hình thức ĐTN là CSSX, William Mc.Gehee (1979) cho rằng: ĐTN
là quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các
hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty
- Theo Max Forter (1979) cho rằng: ĐTN phải đáp ứng và hoàn thành 4 điều kiện:+ Gợi ra những giải pháp ở người học
+ Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ
+ Tạo ra sự thay đổi trong hành vi
+ Đạt được những mục tiêu chuyên biệt
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33- Tack Soo Chung (1982): ĐTN là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao
động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc,được áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắp trở thànhngười lao động ĐTN được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trường
dạy nghề, các lớp học không chính qui nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng
cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị cho người lao động, nâng cao năng suấtlao động của các doanh nghiệp, góp phần phát triển KT-XH
- Leconnard Nadler (1984): ĐTN là để học được những điều nhằm cải thiệnviệc thực hiện những công việc hiện tại
- Roger James (1995): ĐTN là cách thức giúp người ta làm những điều mà
họ không thể làm được trước khi họ được học
- Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ĐTN là nhằm cung cấp cho ngườihọc những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả nhiệm vụ liên quan tới công việc,nghề nghiệp được giao
- Theo Luật giáo dục (2005), tại Điều 12 quy định: ĐTN được thực hiện dưới
1 năm đối với trình độ sơ cấp, từ 1 đến 3 năm đối với ĐTN trình độ trung cấp, trình
độ cao đẳng
- Theo Luật Dạy nghề đã được Quốc hội nước CHXH Việt Nam khoá XI, kỳhọp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006: ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bịkiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thểtìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi học khoá học [20]
Tiếp cận dưới góc độ quản lý, đây là định nghĩa đầy đủ hơn cả bởi lẽ nó đã đềcập đến nội dung quan trọng nhất, đó là đào tạo nhân lực gắn với việc làm
a Sơ cấp nghề
- Mục tiêu: ĐTN trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lựcthực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của mộtnghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, cósức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việclàm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34- Thời gian: Thực hiện từ 3 đến dưới 1 năm
- Đối tượng tuyển sinh: đầu vào ở tất cả các trình độ, cần gì học đó, theo nhucầu người học và nhu cầu của thị trường lao động
- Cơ sở ĐTN trình độ sơ cấp bao gồm:
+ TTDN
+ Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã, CSSX, kinh doanh, dịch vụ khác (gọichung là doanh nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng,
trường đại học và cơ sở giáo dục khác có đăng ký ĐTN trình độ sơ cấp
b Trung cấp nghề
- Mục tiêu: ĐTN trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả nănglàm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lươngtâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện
cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm
hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
- Thời gian, đối tượng:
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sơ, thời gian đào tạo từ 3đến 4 năm
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp trung học cơ sở và có chứng chỉ nghề
cùng nghề đào tạo, đã tham gia sản xuất từ ba năm trở lên, thời gian đào tạo từ 1,5
+ Trường cao đẳng nghề có đăng ký ĐTN trình độ trung cấp
+ Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng
ký ĐTN trình độ trung cấp tại Sở LĐ-TB&XH
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35c Cao đẳng nghề
- Mục tiêu: ĐTN trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiếnthức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả nănglàm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹthuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thựctế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, cósức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việclàm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn
- Thời gian, đối tượng:
+ Đối tượng tuyển sinh đã tốt nghiệp trung học phổ thông, thời gian đào tạo
từ 2 đến 3 năm
+ Đối tượng tuyển sinh có bằng đã tốt nghiệp trung cấp nghề hoặc trung cấp
chuyên nghiệp, thời gian đào tạo từ 1 đến 1,5 năm
+ Đối tượng tuyển sinh đã có bằng trung cấp nghề, đã tham gia sản xuấtđúng nghề đã học từ 3 năm trở lên thời gian đào tạo từ 1 năm
Phát triển hệ thống ĐTN với 3 cấp trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu lao động
kỹ thuật theo cơ cấu hợp lý và sự thay đổi kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và đẩy nhanh quá trình hội nhập trong lĩnhvực phát triển NNL với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 361.1.4 Nội dung của công tác đào tạo nghề
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã nêu “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội
dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chấtlượng cao, đặc biệt là trong các nghành kinh tế; phát triển nhanh và phân bố hợp lý
hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức ĐTN đadạng, linh hoạt, năng động ”
Chương I, Điều 4 Luật Giáo dục có ghi “Nội dung giáo dục phải bảo đảmtính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống, coi trọng giáo dục tưtưởng và ý thức công dân, bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lýlứa tuổi người học”[21] Ngoài ra, đối với nội dung ĐTN nói riêng còn cấn phải
đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo để đáp ứng được những nhu cầu không ngừngthay đổi của thị trường lao động và nội dung cũng cần phải được liên tục cập nhật,
bổ sung kiến thức mới, loại bỏ những kiến thức lạc hậu, cân đối giữa lý thuyết vàthực hành cho phù hợp với yêu cầu riêng của từng loại hình đào tạo Với những yêucầu như vậy, có thể nói nội dung đào tạo chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tế Hệ thốnggiáo dục là một bộ phận của hệ thống xã hội tổng thể, nội dung giáo dục được quy
định bởi nội dung sự phát triển của xã hội, xã hội thế nào sẽ có nội dung giáo dục
thế ấy Trong giai đoạn hiện nay, thời đại của “Trật tự lao động mới”, nội dung đàotạo cũng phải được thay đổi cho phù hợp với những đòi hỏi ngày càng cao của thị
trường, nhưng với hệ thống ĐTN nước ta thì “Chúng ta mới chỉ dạy những gì chúng
ta có chứ không phải những gì thị trường cần, nội dung đào tạo của chúng ta chậm
đổi mới, chưa phù hợp với thực tế sản xuất và xu thế phát triển của xã hội” Điềunày đã để lại hậu quả rõ rệt trên những sản phẩm đào tạo của chúng ta mà người
gánh chịu trước hết là những người được đào tạo, những người sử dụng lao động và
sau đó là toàn xã hội
Luật Dạy nghề đã chỉ rõ ĐTN là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiếnthức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm
được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [20] Trong hệTrường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37thống giáo dục quốc dân Việt Nam, ĐTN bao hàm hệ thống các trường, các CSDN
và các trường trung học chuyên nghiệp, cụ thể hơn, với công tác ĐTN xem là một
thiết chế gồm nhiều bộ phận cấu thành, vận hành dựa trên sự phối hợp của các bộphận ấy vì một mục tiêu đào tạo (MTĐT) chung Nội dung công tác ĐTN bao gồmcác yếu tố chủ yếu sau:
1.1.5 Nhu cầu đào tạo nghề
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu của con người có các đặc
trưng là không ổn định, biến đổi; năng động; biến đổi theo quy luật, không bao giờ
thoả mãn cùng một lúc mọi nhu cầu; ham muốn không có giới hạn
Nhu cầu của con người thường chia thành 3 loại:
- Nhu cầu về vật chất: nhu cầu thông thường (ăn, uống, không khí, bài tiết…)
- Nhu cầu cảm xúc: tình thương yêu, tán thành, kính trọng, thừa nhận…
- Nhu cầu xã hội: giáo dục, tôn giáo, giải trí
Mức độ của nhu cầu được chia thành 3 cấp: lòng mong muốn, tham và đam mê.Nhu cầu ĐTN là mong muốn được tham gia khoá học, được hiểu biết và thựchành về một hay một số nghề phù hợp với điều kiện của cá nhân mỗi người
Đánh giá nhu cầu đào tạo là xác định một cách hiệu quả những khoảng trống
giữa các kiến thức, kỹ năng mà người sử dụng lao động cần và những kiến thức và
kỹ năng mà người học hiện có
Làm thế nào để đánh giá các nhu cầu đào tạo?
Đánh giá nhu cầu đào tạo là một quy trình để xác định ai cần được đào tạo,
và đào tạo về cái gì Quy trình này thường được tiến hành theo các bước:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38Bước 1: Rà soát lại năng lực của người cần đào tạo và cơ sở ĐTN;
Bước 2: Xác định ra những lỗ hổng năng lực, những kỹ năng và kiến thức bổ
sung mà họ cần;
Bước 3: Tập hợp và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các mong muốn cần đào tạo
Song song với các bước, cần thu thập các thông tin để xác định những lĩnhvực mà người học có thể nâng cao năng lực thực thi Người ta có thể sử dụng cáccuộc điều tra từ người có nhu cầu học, những quan sát từ phía nhà quản lý và nhữngnhận xét của người sử dụng lao động, thông qua các cuộc họp của các cơ sở đào tạo,doanh nghiệp và việc tự kiểm tra để thu thập thông tin
Đánh giá nhu cầu đào tạo có thể giúp các cơ sở đào tạo phân loại các mục
tiêu trong việc thực hiện công tác đào tạo cho người học
Để tiến hành đánh giá nhu cầu đào tạo cần dựa trên các căn cứ sau:
- Phân tích mục tiêu làm việc của từng đơn vị cần lao động và những yêu cầu
về kiến thức, kỹ năng để đáp ứng mục tiêu đó
- Xác định những đối tượng nào sẽ là cần thiết để đạt được hiệu quả trongcông việc
- Đánh giá xem bạn muốn đào tạo những đối tượng nào và cách nào để đạthiệu quả tối đa
- Xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp học được ưa thích
- Đánh giá xem nhà tư vấn nào hoặc nhà cung cấp dịch vụ đào tạo nào có thể
đào tạo xuất hiện ở những nơi có khoảng trống giữa kiến thức, kỹ năng yêu cầu với
những kiến thức và kỹ năng mà người lao động hiện đang có Khoảng trống được
xác định thông qua quá trình phân tích nhu cầu đào tạo Người quản lý cũng có thể
thực hiện đào tạo để đáp ứng nhu cầu hiện tại và trong tương lai của chương trình,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39hoặc tuyển dụng và thuê những người có kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm cầnthiết đặc biệt.
Phương pháp đánh giá nhu cầu ĐTN trong một tổ chức cần được dựa trên 3
yếu tố: phân tích tổ chức, phân tích công việc và phân tích con người Việc xây
dựng chương trình đào tạo (CTĐT) cho người lao động trong tổ chức cần bắt đầu từphân tích nhu cầu đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo Những bước quan trọng là
xác định đối tượng ĐTN, lựa chọn phương pháp và thiết kế sự đánh giá chất lượngđào tạo
(1) Phân tích tổ chứcViệc ĐTN cho người lao động trong một tổ chức phải căn cứ vào quy môcủa tổ chức, nhu cầu ĐTN trong tổ chức và thời điểm ĐTN Đối với một doanhnghiệp mới được thành lập, đại đa số người lao động chưa qua ĐTN hay chỉ được
ĐTN bước đầu như nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp mới ở nước ta
hiện nay thì vấn đề ĐTN cho người lao động trở nên bức xúc và ở mức độ lớn hơncác doanh nghiệp đã thành lập sau một số năm, đã đi vào hoạt động ổn định
Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc ĐTN cho người
lao động là đào tạo cho họ các kỹ năng nghề nghiệp
(2) Phân tích công việc của người lao độngPhân tích công việc của người lao động được qui định bởi đối tượng ĐTN
(người lao động) Sự phân tích nay liên quan tới việc thực hiện các hoạt động laođộng và các thao tác nghề trong thực tế của người lao động Phân tích công việc củangười lao động gồm 4 bước cơ bản:
a Phát triển các ý tưởng về công việc
Bước đầu tiên của phân tích công việc là việc xác định một cách chính xác
các công việc được thực hiện trong hoạt động nghề của người lao động Điều này cónghĩa là làm sáng tỏ các vấn đề: Người lao động làm gì? Người lao động thực hiện
nó như thế nào? Anh ta cần phải trở thành một người như thế nào? Tại sao anh ta lại
làm công việc đó?
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40b Phát triển các nhóm vấn đề về công việc
Sau khi thực hiện bước đầu tiên là người lao động trình bày các ý tưởng vềcông việc của mình, chúng ta tập hợp các ý tưởng đó thành các nhóm vấn đề theocông việc và theo các loại công việc Chẳng hạn, công việc của một thư ký thì cónhững nhóm ý tưởng nào
c Chuẩn bị phân tích về kiến thức, kỹ năng và năng lực
Một cách thức có hiệu quả để xác định tiềm năng của con người đối với việcthực hiện nhiệm vụ được giao là tìm hiểu kiến thức, kỹ năng và năng lực cần thiết.Mục đích của sự phân tích này là xác định các kiến thức, kỹ năng và năng lực của
người lao động cho phù hợp với các công việc mà họ được giao Khi giao một công
việc cho người lao động cần chú ý một số điểm sau:
- Chỉ ra những nét tính cách tích cực và những hạn chế của người lao động
(trên cơ sở so sánh với công việc dự định giao cho họ)
- Xem xét xem ai là người phù hợp nhất để giao cho công việc đó Nhữngnguyên nhân nào giúp cho anh ta có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt?
- Những ai hiểu được việc thực hiện nhiệm vụ đó?
d Thiết kế môi trường đào tạo từ sự kết hợp các kiến thức, kỹ năng và công việc
Sự kết nối giữa kiến thức, kỹ năng và năng lực của người lao động với côngviệc được giao là cơ sở để ĐTN cho người lao động Việc ĐTN cho người lao độngliên hệ mật thiết với kiến thức và năng lực của họ Người lãnh đạo cần chú ý là chúng
ta có thể giúp cho người lao động có được những kiến thức mới, nhưng không dễ
dàng đào tạo cho họ năng lực sử dụng các kiến thức hay có được những kỹ năng để
thực hiện công việc được giao
(3) Phân tích con ngườiPhân tích con người để tìm lời giải cho hai câu hỏi: Ai là những người cầnđào tạo trong tổ chức? Loại hình đào tạo nào cần cho họ? Hầu hết những nội dungliên quan đến đánh giá con người đều dựa trên cơ sở của hệ thống phân tích việc
thực hiện các công việc của tổ chức
Trường Đại học Kinh tế Huế