Điều này đòi hỏi người sản xuất phải áp dụng các tiến bộ kỹthuật TBKT vào hoạt động chăn nuôi cũng như yêu cầu đặt ra cho người làm côngtác chuyển giao TBKT phải giới thiệu những kỹ thuậ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với lợi thế về điều kiện địa hình và đất đai đồi núi chiếm phần lớn (70,6%),Thừa Thiên Huế là tỉnh có tiềm năng trong phát triển chăn nuôi đại gia súc, đặc biệt
là chăn nuôi bò Việc sử dụng hợp lý, hữu hiệu nguồn tài nguyên thiên nhiên vàđiều kiện của địa phương để phát triển chăn nuôi bò sẽ đem lại nguồn lợi đáng kểcho người dân, nhất là các hộ nghèo ở vùng trung du và miền núi
Để hoạt động chăn nuôi bò thực sự đem lại nguồn thu nhập đáng kể chongười dân ở địa phương, việc thay đổi từ phương thức chăn nuôi mang tính tận
dụng, quảng canh sang phương thức mới có đầu tư tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất là
điều hết sức quan trọng và cần thiết Phương thức chăn nuôi mới này phải theohướng sản suất hàng hóa, thỏa mãn được nhu cầu của thị trường và đem lại lợi
nhuận cho người dân Điều này đòi hỏi người sản xuất phải áp dụng các tiến bộ kỹthuật (TBKT) vào hoạt động chăn nuôi cũng như yêu cầu đặt ra cho người làm côngtác chuyển giao TBKT phải giới thiệu những kỹ thuật phù hợp để người dân có thể
áp dụng vào hoạt động sản xuất
Trong thời gian qua, có nhiều hoạt động chuyển giao TBKT trong chăn nuôi
bò đã được triển khai ở địa phương và thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ, việc chuyển giao TBKT cho chăn nuôi bòvẫn còn nhiều hạn chế Nhiều TBKT đã chuyển giao không có tính bền vững, khôngphù hợp với điều kiện địa phương và trình độ năng lực của người dân Thậm chí, cómột số TBKT không được người dân chấp nhận sử dụng hoặc chỉ thực hiện trongthời gian tham gia dự án và không còn được duy trì sau khi dự án kết thúc Chínhnhững vấn đề này đã tạo nên khoảng cách lớn giữa các nhà nghiên cứu, chuyển giao
và người nông dân, không phục vụ thiết thực cho nhu cầu và thực tiễn sản xuất Đã
gây nên phí tổn nhiều công sức, tiền của và nhân lực của các bên đồng thời làmgiảm sụt niềm tin và động lực thực hiện của người chuyển giao và tiếp nhận
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2Vì vậy, để có thể tìm hiểu nguyên nhân và tìm ra các giải pháp thiết thựcnhằm khắc phục tình trạng này, chúng tôi đã chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò cho nông hộ ở tỉnh
Th ừa Thiên Huế” để nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả của công tác chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò cho nông hộ
3 Câu hỏi nghiên cứu
3.1 Câu hỏi tổng quát
Tại sao các TBKT trong chăn nuôi bò thời gian qua đã được nhiều cơ quanchuyển giao nhưng tỷ lệ hộ áp dụng không cao hoặc chỉ áp dụng một thời gian rồilại bỏ?
Tại sao vẫn còn một khoảng cách giữa các nhà khoa học và người nông dântrong việc chuyển giao TBKT vào sản xuất? Làm thế nào để thu hẹp khoảng cáchnày?
3.2 Câu hỏi cụ thể
- Tình hình chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò cho nông hộ ở tỉnh ThừaThiên Huế đang diễn ra như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc chuyển giao và tiếp nhận các TBKT
trong chăn nuôi bò? Làm thế nào để hạn chế các yếu tố bất lợi để thực hiện thànhcông các chương trình chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò?
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3- Những giải pháp nào là có thể nhằm làm tăng hiệu quả của công tác chuyển
giao TBKT trong chăn nuôi bò cho nông hộ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu tìm hiểu thực trạng việc chuyển giao các TBKT cho nông hộchăn nuôi bò ở địa phương từ đó xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả
của công tác chuyển giao và tiếp nhận TBKT cho nông hộ Đối tượng nghiên cứuchủ yếu của đề tài là các nông hộ có chăn nuôi bò và được chuyển giao các TBKTtrong sản xuất
4.2 Phạm vi nghiên cứu
1 Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tình hình chuyển giao TBKT chonông hộ chăn nuôi bò tại 2 huyện Nam Đông và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Đây
là 2 huyện miền núi có số lượng bò lớn nhất tỉnh và là nơi tập trung chủ yếu của các
chương trình chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò thời gian qua
2 Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2004 đến 2008, trong
đó các số liệu được khảo sát chủ yếu vào năm 2008 ở cấp hộ và xã, huyện
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục, danh mục các bảng biểu và danh mụctài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương II: Đặc điểm vùng nghiên cứu, nội dung và phương pháp nghiên cứuChương III: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản
1.1.1 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Theo từ điển Việt - Việt [44], kỹ thuật là toàn thể những phương tiện lao động
và những phương pháp chế tạo ra những giá trị vật chất Còn tiến bộ là trở nên giỏi
hơn, hay hơn trước
Theo định nghĩa về công tác khoa học công nghệ của Đại học Cần Thơ [39],
tiến bộ kỹ thuật (TBKT) là các phương pháp, các qui trình (công nghệ, cơ khí hóa,
tự động hóa); các phương pháp tổ chức sản xuất; các cơ cấu (máy, tổ hợp máy); cácnguyên vật liệu mới, các giống cây con mới có lợi đã được kiểm nghiệm và đánhgiá trong điều kiện sản xuất được hội đồng khoa học, các cơ quan quản lý khoa học
có thẩm quyền quyết định Kỹ thuật tiến bộ (KTTB) là kết quả của công trìnhnghiên cứu triển khai, các kỹ thuật mới của nước ngoài áp dụng có hiệu quả trong
điều kiện cụ thể của nước ta
Hiện nay có rất nhiều ý kiến tranh luận về ngữ nghĩa của 2 cụm từ TBKT và
KTTB, có người cho rằng 2 cụm từ trên chỉ là một, đều nói đến quy trình chuyển
giao các kỹ thuật mới, tiên tiến cho người nông dân song cũng có không ít ý kiếnphản đối khi cho rằng 2 cụm từ này mang ý nghĩa hoàn tòan khác biệt Đỗ KimChung [10] là một trong những người ủng hộ ý kiến đó Theo ông, “Tiến bộ kỹthuật là một danh từ mang tính trừu tượng và bao quát TBKT thể hiện những nétmới và “tiến bộ” của một yếu tố kỹ thuật nào đó nhưng chưa thật đồng bộ, chưa thậtkhả thi ở thực tiễn sản xuất, nhất là bên ngoài cơ quan nghiên cứu” Ông cho rằng,
“chuyển giao TBKT tức là chỉ chuyển giao một yếu tố kỹ thuật nào đó, chưa đồng
bộ, chưa hoàn thiện, chưa được kiểm định tính thích nghi về sinh thái, kinh tế và xãhội của yếu tố kỹ thuật đó ở đồng ruộng của nông dân” Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
chưa có một sự công nhận chính thức nào hay sự thống nhất chung nào về cách gọi
của 2 cụm từ này cũng như chưa có quy định nào phủ định tên gọi và bản chất củacụm từ TBKT cả
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5Đứng ở góc độ kinh tế, chúng tôi đồng ý với Fred Davis [48] khi cho rằng, một
kỹ thuật được xem là tiến bộ khi cùng 1 mức chi phí có thể đem lại hiệu quả cao
hơn, cho nhiều sản lượng hơn hay cùng một mức sản lượng đạt được nhưng tốn ít
chi phí hơn so với những kỹ thuật trước đó
a) Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đề cập đến một tiến trình, bằng tiến trình đónhững kỷ thuật đã được cải tiến sẽ được chuyển giao đến những ai có thể hưởng lợihoặc họ có thể hưởng lợi từ những kỷ thuật đó Theo Swanson và Cloor [55] thìchuyển giao tiến bộ kỹ thuật hay công nghệ là một quá trình tiếp diễn nhằm tiếpnhận thông tin có ích cho con người và từ đó giúp đỡ họ tiếp thu những kỹ năng,kiến thức và quan điểm cần thiết để sử dụng có hiệu quả lượng thông tin hoặc côngnghệ đó Theo Maunder [50] cho rằng đó là một dịch vụ hay hệ thống nhằm thông
qua các phương pháp đào tạo để giúp đỡ người dân cải thiện các phương thức, kỷ
thuật canh tác, làm tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, tăng mức sống và nâng caotrình độ giáo dục xã hội của cuộc sống nông thôn
Theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia [47], chuyển
giao kỹ thuật lại là quá trình chia sẽ các kỹ năng, kiến thức, kỹ thuật, những phươngpháp sản xuất, mô hình sản xuất hay chế tạo giữa các ngành công nghiệp, các
trường đại học, các tổ chức hay chính phủ nhằm đảm bảo những tiến bộ khoa học
kỹ thuật sẽ được chuyển giao rộng rãi cho nhiều đối tượng sử dụng để phục vụ choviệc khai thác và ứng dụng những TBKT này vào quy trình sản xuất, chế tạo ra cácsản phẩm dịch vụ mới
Còn theo Đỗ Kim Chung [10], chuyển giao tiến bộ kỹ thuật là quá trình đưacác kỹ thuật tiến bộ đã được khẳng định là đúng đắn trong thực tiễn vào áp dụngtrên diện rộng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống của con người
Thông thường, quá trình phát triển kỹ thuật và công nghệ bao gồm các hoạtđộng nghiên cứu, chuyển giao thử nghiệm và chuyển giao ở diện rộng Trong giaiđoạn nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra do đòi hỏi của thực tiễn sản
xuất và đời sống và được giải quyết tập trung chủ yếu ở trong phạm vi cơ quan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6nghiên cứu Sau khi được đánh giá là thành công ở cơ quan nghiên cứu, các kết quảnghiên cứu này cần kiểm định về tính thích ứng của chúng về sinh thái, kinh tế và
xã hội ở từng vùng kinh tế-sinh thái khác nhau Sau khi thử nghiệm ở các vùng sinhthái thành công, các kỹ thuật đó được chuyển giao trên diện rộng Giai đoạn chuyểngiao bao gồm việc nhân rộng các kỹ thuật đã được khẳng định là đúng đắn khôngnhững của cơ quan nghiên cứu mà còn là do nông dân tổng kết và đúc rút kinhnghiệm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, phạm trù “chuyển giao tiến bộ kỹthuật” sẽ dừng lại ở giai đoạn thứ ba của phát triển công nghệ
TBKT trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là phù hợp vàkhả thi về sinh thái, kinh tế và xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp phần nâng
cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền
vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn Tính từ “tiếnbộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có TBKT gópphần nâng cao năng suất hiệu quả kinh doanh và cải thiện đời sống của nông dân và
cư dân nông thôn TBKT phải mang tính “tiến bộ” và phải phù hợp với nhu cầu củađịa bàn để chuyển giao Theo các tác giả Nguyễn Văn Thu và Bùi Mạnh Hải [18],
khi xem xét khả năng ứng dụng và phổ cập của một TBKT vào thực tiễn cần phải
tính đến “sức đẩy của công nghệ” và “sức kéo của nhu cầu” của TBKT đó Sự phổ
cập của một TBKT phụ thuộc rất nhiều vào sức kéo của nhu cầu Vì thế, vẫn theo 2tác giả trên khi lựa chọn TBKT để chuyển giao không những cần xem xét “tính tiếnbộ” mà quan trọng hơn là làm rõ được “nhu cầu” thật của địa bàn tiếp thu côngnghệ
TBKT mang tính tương đối, TBKT có thể là mới với cộng đồng nông dân này,
vùng này và quốc gia này mà có thể là không “mới” với cộng đồng nông dân khác,vùng khác và quốc gia khác TBKT có thể là sản phẩm của cơ quan nghiên cứu vàchuyển giao, cũng có thể là kết quả của quá trình tự đánh giá, lựa chọn và đổi mớicủa nông dân cho phù hợp hơn với nhu cầu của sản xuất và đời sống của họ.Chuyển giao TBKT trong nông nghiệp là quá trình giúp nông dân áp dụng được các
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7TBKT để giải quyết được các khó khăn trong nông nghiệp và nâng cao đời sống, lợi
ích của nông dân
Bản chất của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật là:
- Sự phân phát thông tin: Dòng chảy thông tin thông qua nhiều kênh giao tiếp
từ dịch vụ khuyến nông đến khách hàng Những thông tin đó bao gồm chính sách
Nhà nước, các dịch vụ sẵn có từ các nguồn khác nhau cho nông dân
- Phân phối giáo dục, đào tạo: Các chương trình được chuẩn bị và phân phốibởi các chuyên gia khuyến nông và các đại lý để nâng cấp kiến thức, kỹ năng và
năng lực của khách hàng
- Giải quyết vấn đề: Giúp nông dân có những kiến thức và kỷ năng cần thiết
để giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất và cuộc sống của họ
b) Các khái niệm về áp dụng TBKT
Áp dụng TBKT là thuật ngữ được khái niệm theo nhiều cách khác nhau.Theo Fred Davis [48], áp dụng TBKT là việc chấp nhận và duy trì sử dụng một kỹthuật mới, kỹ thuật tiên tiến hơn so với những kỹ thuật hộ thường sử dụng trước đây.Fred cho rằng, mỗi khi đứng trước sự lựa chọn áp dụng hay không áp dụng một loại
kỹ thuật mới, người nông dân thường phải cân nhắc xem xét nhiều yếu tố đặc biệt là
tính hữu ích (Perceived usefulness PU) và dễ sử dụng (Perceived easeofuse
-PEOU) mà kỹ thuật đó mang lại Hay nói cách khác, những kỹ thuật đó phải lànhững kỹ thuật đem lại năng suất, hiệu quả cao hơn nhưng lại đỡ tốn công sức hơn
so với những kỹ thuật khác
Tuy nhiên một số tác giả như Rogers và Shoemaker [53], Mbaga-Semgalawe
và Folmer [51] lại cho rằng áp dụng TBKT là một quá trình bao gồm ba giai đoạn,
giai đoạn tiếp cận các nguồn thông tin, các TBKT và nhận thức vai trò của cácTBKT đó; giai đoạn chấp nhận và ứng dụng TBKT, và giai đoạn duy trì TBKT và
mở rộng quy mô áp dụng Như vậy những hộ đã chấp nhận nhưng không áp dụngTBKT hoặc những hộ đã chấp nhận, ứng dụng nhưng không còn duy trì thì chỉ đượcxem là một giai đoạn của quá trình áp dụng TBKT Cả ba giai đoạn này đều đóngvai trò rất quan trọng trong việc áp dụng TBKT
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò của nước ta, có rất nhiều TBKTđược giới thiệu và khuyến cáo đến người chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả nuôi
bò Tùy tính chất của từng loại TBKT, một số TBKT được áp dụng thường xuyên
như trồng cỏ, nuôi dưỡng, chăm sóc cho bò nhưng cũng có không ít TBKT cách
một thời gian mới ứng dụng một lần như chọn giống, thậm chí có TBKT chỉ ứngdụng một lần nhưng có thời gian sử dụng lâu dài như đầu tư xây dựng chuồng trại,
vì vậy sẽ rất khó để đánh giá quá trình áp dụng TBKT này theo như khái niệm trên.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, những hộ áp dụng TBKT sẽ là những hộ đã
áp dụng và vẫn đang duy trì việc thực hiện những kỹ thuật đã được chuyển giao vàotrong hoạt động chăn nuôi bò của gia đình
1.1.2 Mục đích của chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Công tác chuyển giao TBKT nhằm giúp nông dân có khả năng tự giải quyếtcác vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống
và dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thànhcông TBKT bao gồm cả những kiến thức và kỹ năng về quản lý, thông tin và thị
trường, các chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn Chuyển giao
TBKT còn phải giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng và chống thiên tai, tiêuthụ sản phẩm, phát triển ngành nghề, xúc tiến thương mại, giúp nông dân phát triểnkhả năng tự quản lý điều hành và tổ chức các hoạt động xã hội nông thôn ngày càngtốt hơn [5] Như vậy, mục đích của chuyển giao TBKT là:
i) Đẩy mạnh sản xuất hàng hóa một cách bền vững, góp phần xây dựng
nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hợp tác hóa,
ii) Nâng cao thu nhập của nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng
được các nhu cầu cơ bản của họ, thực hiện xóa đói giảm nghèo,
iii) Nâng cao dân trí trong nông thôn,iv) Phát hiện các vấn đề mới nảy sinh, thầm định các kết quả nghiên cứu đểhình thành chiến lược nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9Công tác chuyển giao TBKT chỉ có thể có hiệu quả khi kết quả chuyển giao
được nông dân chấp nhận, tồn tại bền vững trong nông dân và cộng đồng, góp phần
cải thiện cuộc sống của nông dân
1.1.3 Phương pháp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật
Phương pháp chuyển giao TBKT trong nông nghiệp là cách thức chuyển
giao thông tin về TBKT bao gồm cả kỹ thuật, tổ chức sản xuất, thị trường tới nông
dân Nói cách khác, phương pháp chuyển giao TBKT là cách truyền bá các thông
tin về TBKT tới nông dân để nông dân áp dụng được TBKT đó trên diện rộng Nhìn
chung, có 3 phương pháp chuyển giao:
- Phương pháp tiếp xúc nhóm: Các cán bộ chuyển giao truyền thông tin vềTBKT qua nhóm nông dân thông qua họp nhóm, hội thảo, trao đổi hội nghị đầu bờ,qua mô hình trình diễn, tập huấn và tham quan Phương pháp này giúp nhiều nôngdân nắm được phương pháp và thông tin, có hiệu quả hơn phương pháp cá nhân
- Phương pháp tiếp xúc cá nhân: là phương pháp cán bộ chuyển giao thăm
và gặp gỡ, tư vấn cho từng nông dân, trao đổi với nông dân qua thư, điện thoại
Phương pháp này giúp các cán bộ chuyển giao giải quyết các vấn đề mang tính cá
biệt cao cho từng nông dân, nên hiệu quả chuyển giao khá tốt Tuy nhiên, do thiếucán bộ chuyển giao nên không thể tiếp xúc hết cộng đồng nông dân Một số cán bộchuyển giao hay tiếp xúc với nông dân giàu, có điều kiện thuận lợi nên dễ bỏ quanông dân nghèo, ở vùng sâu vùng xa
- Phương pháp thông tin đại chúng: là phương pháp chuyển giao TBKT tớiquảng đại nông dân thông qua các phương tiện đại chúng như đài, báo, tivi, tranh
ảnh, áp phích và quảng cáo Phương pháp này có ưu điểm là truyền thông tin tới số
lớn nông dân Nhưng, phương pháp này không giải quyết các vấn đề mang tính cábiệt của nông dân
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
1.1.4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, văn hoá xã hội đến việc chuyển giao và
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
a) Các yếu tố tự nhiên và việc chuyển giao TBKT
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Điều kiện tự nhiên của một vùng chính là môi trường sống của những người
dân ở vùng đó Môi trường sống có thể tác động đến con người, hình thành cho con
người những thói quen, tập quán sinh hoạt thích ứng với môi trường sống Chính vì
thế môi trường tự nhiên cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và ứngdụng các TBKT của người dân
Điều kiện tự nhiên luôn gắn bó với cuộc sống của người dân nông thôn, là môitrường sống của họ từ đời này sang đời khác Nó tác động thường xuyên, gián tiếp
hoặc trực tiếp đến quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt của con người và đối
tượng khác như cây trồng, vật nuôi,… sống trong môi trường đó Những nơi nào cóđiều kiện tự nhiên thuận lợi, gần đường giao thông thì khả năng tiếp cận và áp dụng
các TBKT sẽ thuận lợi hơn so với những vùng có điều kiện khó khăn, xa xôi cáchtrở Khoảng cách về địa lý, sự chia cắt về địa hình, những khó khăn về đất đai, khíhậu, thổ nhưỡng là lý do cản trở người dân ở các vùng sâu vùng xa tiếp cận vớinhững nguồn thông tin, TBKT cũng như bị hạn chế về khả năng áp dụng các TBKT
đó Sanders [54] cho rằng, “nếu chỉ có một cách thoát ra khỏi cộng đồng là đi qua
một cây cầu ọp ẹp thì những giao tiếp bên ngoài bị ngăn cản nhiều hơn trong trườnghợp của một cộng đồng tọa lạc tại vị trí giao thoa của nhiều tuyến đường dẫn đinhiều hướng khác nhau và phục vụ như là huyết mạch của dòng chảy hàng hóa, tiến
định và hưởng thành quả lao động của nam giới và nữ giới, những quan niệm, thái
độ và sự đánh giá của xã hội đối với công việc mà mỗi giới thực hiện Theo báo cáo
của Chương trình phát triển miền núi Việt Nam-Thụy Điển về cân bằng giới vàtruyền thông [28], nhiều chương trình khuyến nông không đến được với số đông
người nghèo do phần lớn họ là phụ nữ Tìm kiếm nguyên nhân để giải thích cho vấn
đề này là do mục đích và nội dung của công tác phổ cập thường không xây dựng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11theo cách nhìn của phụ nữ, hướng phát triển hộ gia đình và kinh tế hộ gia đình Dịch
vụ khuyến nông thường được xem như một biện pháp nhằm giúp nông dân dễ dàng
nâng cao và điều chỉnh sản xuất của họ để có thể tham gia vào nền kinh tế thịtrường Trong khi khuyến nông có xu hướng tập trung vào xuất khẩu, hoa màu, độc
canh,…phụ nữ nghèo thường quan tâm đến nhu cầu cho cuộc sống hàng ngày như
an toàn lương thực, nước, củi đun, điện, kiến thức cho bản thân và con cái mà
không nghĩ đến hoạt động buôn bán
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Anh [1], nhận thức của cộng đồng về vai trò củaphụ nữ trong xã hội cũng như cách ứng xử đối với họ đã hạn chế rất nhiều đến sựtiếp nhận TBKT Cụ thể, trong các khóa tập huấn kỹ thuật nông nghiệp tỷ lệ nữtham gia rất ít Vì vậy, họ đã không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật trồng trọt,
chăn nuôi dẫn đến gia đình đã không thu được năng suất cây trồng, vật nuôi như
mong muốn Phụ nữ ít có cơ hội tham gia các cuộc họp làng, xã hay tham gia cáccông việc mang tính chất quyết định, nắm bắt các thông tin quan trọng Họ ít được
được tiếp cận các vấn đề khuyến nông và tham gia vào dịch vụ khuyến nông
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Mai và ccs [26], “thông
thường nam giới hay được tham gia các khóa tập huấn trong khi người phụ nữ làngười thực hiện chính các hoạt động sản xuất, đầu tư liên quan đến các kiến thứcđược tập huấn” Thậm chí, trong một số chương trình tập huấn chuyển giao theo cơ
chế mở, nếu không khuyến khích phụ nữ hay có cơ chế để ưu tiên phụ nữ tham giathì tỷ lệ nam giới tham gia tập huấn vẫn chiếm ưu thế
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trường hợp đã chỉ ra rằng hầu hết phụ nữ đều
mong muốn có những cây trồng mới, đa dạng, thích hợp với điều kiện địa phương,chất đất, điều kiện khí hậu Họ có hiểu biết khá rõ về các hoạt động sản xuất nôngnghiệp và họ cũng rất cần được trợ giúp đúng lúc, được các cán bộ khuyến nông
hướng dẫn cụ thể rõ ràng [26],[27]
Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đã chỉ ra rằng, phụ nữ là những ngườithực sự làm việc với đồng ruộng, gắn bó với các hoạt động chăn nuôi, phát triển sảnxuất của nông hộ Vì vậy, để đảm bảo cho công tác chuyển giao TBKT được hiệu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12quả và bền vững, trong quá trình chuyền giao đòi hỏi cần phải lưu ý đến vấn đề bình
đẳng giới
- Yếu tố về dân tộc
Việc tìm hiểu những tác động, ảnh hưởng của các yếu tố dân tộc, văn hóatruyền thống ở mỗi vùng, mỗi địa phương đến quá trình chuyển giao TBKT vào sảnxuất đã được rất nhiều tác giả đề cập đến trong các công trình đề án Dù ở khía cạnhkinh tế cổ truyền, tổ chức xã hội truyền thống, tri thức bản địa (kỹ thuật) hay phongtục tập quán (văn hóa) các tác giả đều chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứunhững yếu tố dân tộc (mặt tích cực và tiêu cực) đối với hoạt động chuyển giao [27].Quá trình sinh tồn và phát triển của mỗi dân tộc đã hình thành nên những nét
văn hóa, bản sắc riêng có của mình Chúng được duy trì, gìn giữ qua thời gian và
dần dần trở thành lẽ sống, là niềm tự hào của họ Tuy nhiên, trong quá trình pháttriển chung của xã hội, dưới sự tác động của nhiều yếu tố, một số nét văn hóa đặc
trưng của dân tộc đã dần mất đi tính ưu việt của nó Chúng trở nên lạc hậu, thiếu
phù hợp hay thậm chí trở thành rào cản cho sự phát triển nói chung và công tácchuyển giao TBKT nói riêng trong cộng đồng Chính vì vậy, theo Nguyễn XuânHồng [21], việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc trưng văn hoá truyền thống của cácdân tộc là điều rất cần thiết Nó không những giúp chúng ta giữ gìn và phát huynhững yếu tố tích cực mà còn tìm ra cơ sở vững chắc cho sự du nhập những yếu tố
văn hóa mới hay nói cách khác là chuyển giao TBKT
- Tri thức bản địaTri thức bản địa, hay còn được gọi là kiến thức truyền thống, kiến thức địa
phương, là một kho thông tin quý giá trong hệ thống tri thức dân gian, có giá trị
thực tiễn và khả năng thích ứng cao với sự đa dạng của điều kiện tự nhiên môi
trường ở mỗi vùng miền Tri thức bản địa là sản phẩm của tập thể mang tính cộngđồng cao, tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở một vùng địa lýxác định Nó gắn liền và hài hòa với nền văn hóa, phù hợp với những giá trị phong
tục tập quán của địa phương nên khả năng tiếp thu và ứng dụng tri thức bản địatrong cộng đồng khá dễ dàng, người dân dễ hiểu, dễ thực hiện
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13Việc đánh giá thấp vai trò của tri thức bản địa trong quá trình chuyển giao,theo nhiều công trình nghiên cứu cho biết, chính là nguyên nhân dẫn đến sự thất bạicủa việc chuyển giao TBKT Theo Nguyễn Xuân Hồng [21], cách tiếp cận khoa họccông nghệ không phải khi nào cũng đáp ứng đủ những quan niệm phức tạp và đadạng của con người cũng như môi trường miền núi, “đặc biệt là những điều khôngphù hợp với khía cạnh văn hóa, nếp nghĩ của đồng bào nên càng khó được chấpnhận, khó tìm được sự đồng lòng ủng hộ của đồng bào.”
Không ai có thể hiểu rõ mảnh đất họ đang gắn bó hơn chính bản thân họ Vìvậy, việc đánh giá thấp hay bỏ qua các ý kiến của người dân thổ cư đồng nghĩa vớiviệc đánh mất đi một kho tàng kiến thức vô cùng quý giá của người dân bản địa Rấtnhiều trường hợp, các cán bộ từ các nơi khác đến “mang trong mình một khối lượnglớn kiến thức hàn lâm”, họ luôn cho rằng những kiến thức đó là đúng, là tiến bộ, là
có thể giải quyết được tất cả các vấn đề của người dân nên chỉ chú trọng đến việcchuyển tải kiến thức mà quên mất đi việc tìm hiểu những đặc điểm khác biệt, nhữngtri thức kinh nghiệm của người dân trong vùng Kiến thức hàn lâm chỉ đúng khi xéttrong bối cảnh chung, nhưng đối với từng trường hợp cụ thể, sự rập khuôn và áp đặt
sẽ dẫn đến kết quả ngược lại Trong trường hợp đó, kiến thức hàn lâm để có thể
được tiếp nhận và áp dụng, cần thiết phải kết hợp với tri thức bản địa Hay nói cách
khác, nhà khoa học và người nông dân cần phải ngồi lại bàn bạc với nhau để tháo
gỡ vấn đề hơn là áp đặt kiến thức khoa học lên người dân Làm theo cách này, mộtmặt vừa có thể khai thác được nguồn tri thức bản địa quý giá, mặt khác vừa làm cho
người dân có thể tiếp thu kiến thức mới một cách chủ động, sáng tạo
Cũng với ý kiến trên, trong bài báo cáo tại hội thảo Mô hình phát triển bềnvững vùng gò đồi Bắc Trung Bộ của Nguyễn Khắc Thái Sơn [36], ông chỉ ra rằng
“để các tiến bộ kỹ thuật khi chuyển giao vào nông thôn vùng cao phát triển bền
vững và ít rủi ro thì trước hết chúng ta cần xem xét đến các vấn đề bản địa Từ đóphân tích những vấn đề bản địa này để xem xét cái nào hiện tại đang tốt cần nhânrộng ra; cái nào cần sửa chữa, bổ sung một số khâu, một số phần cho tốt hơn và sữachữa, bổ sung như thế nào cho hợp lý Chỉ khi không kết hợp khai thác được vấn đề
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 14bản địa thì cần thiết phải đưa những kỹ thuật mới vào, khi đó nên làm một số môhình điểm trước rồi mới nhân rộng ra Nếu chúng ta biết vận dụng và khai thác vấn
đề bản địa thì không những đầu tư cho việc chuyển giao ít mà tính bền vững của
vấn đề trở nên rất cao.”
Như vậy, để đảm bảo cho công tác chuyển giao TBKT được thành công và
hiệu quả, trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu những đặc điểm, kiến thức kinhnghiệm của người dân trong vùng; xây dựng nội dung, chương trình chuyển giao
trên cơ sở có sự tham gia của người dân địa phương để nắm bắt nhu cầu, những ưu
lợi thế hay những hạn chế tồn tại để có giải pháp phù hợp; có như thế, công tácchuyển giao TBKT mới đảm bảo được kết quả và mục tiêu đề ra
- Trình độ dân tríTrình độ dân trí được xem là một nguồn lực quan trọng thuộc về tài sản của
con người, bao gồm kiến thức, kỹ năng, năng lực và kinh nghiệm của người dân để
họ có thể tiếp cận với các nguồn lực khác như kiến thức về vốn và kỹ thuật Đây là
điều kiện cần để công tác chuyển giao TBKT được nhanh chóng, thuận lợi và khảnăng tiếp thu áp dụng của người dân được dễ dàng và hiệu quả Theo Phan Đức
Duy [14], “việc đầu tư tiềm năng khoa học, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậtnuôi ở một số vùng có đạt được thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào nhậnthức và khả năng thực hiện của cộng đồng dân cư ở vùng đó”
Theo Đỗ Thị Bình [3], sự cách biệt về trình độ phát triển xã hội và tri thức có
quan hệ chặt chẽ với tình trạng đói nghèo Trong nghiên cứu về giới và chươngtrình tín dụng của Phạm Đài [16] cũng chỉ ra rằng trình độ giáo dục ảnh hưởng trựctiếp đến năng suất và khả năng thành công của hoạt động sử dụng vốn Theo tác giả,
“trình độ giáo dục thấp là nguyên nhân cơ bản của đói nghèo và là một yếu tố quyếtđịnh quan trọng để hộ gia đình tham gia vay vốn Các hộ không thể vay vốn thường
bị xem là thiếu trình độ giáo dục để có thể quản lý và trả lại vốn vay”
Một số nghiên cứu về giới cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của trình độ dân trí
đối với nam và nữ khi tham gia các dự án là “những hạn chế về giáo dục, văn hóa,
thời gian đã ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động như tín
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15dụng, ” [16] Do sự hạn chế về kiến thức nên nhiều khi người phụ nữ trước tìnhtrạng sâu bệnh phá hại mùa màng đã không thể xác định đó là loại sâu gì và cầnmua loại thuốc trừ sâu nào cho thích hợp Việc thiếu thông tin và kiến thức khoahọc về trồng trọt và chăn nuôi đã khiến nhiều chị em tỏ ra lúng túng và thụ động khigặp khó khăn [3].
Theo Nguyễn Thị Hồng Mai [27], việc giáo dục không chính thức cũng là mộtyếu tố tác động đến sự tiếp nhận TBKT Nó là sự thu nhận kiến thức bên ngoài nhà
trường và sách vở, bao gồm các kinh nghiệm và sự hiểu biết rộng hơn về xã hội, tựnhiên, con người và cách giải quyết các mối quan hệ Khó có thể định lượng đượctác động của giáo dục không chính thức lên sự tham gia và ứng dụng các TBKT,nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới thường tham gia vào các hoạt độngđào tạo chuyển giao TBKT nhiều hơn nữ giới vì họ cho rằng nam giới nhanh nhẹnhơn, có khả năng nắm bắt kỹ thuật tốt hơn Theo Phạm Đài, lý do cho sự tham gia
của phụ nữ vào các chương trình khuyến nông và tín dụng thường chỉ khi người phụ
nữ đó có trình độ giáo dục cao hơn chồng
- Tổ chức cộng đồng, chính trị- xã hộiCác tổ chức cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ giúp đỡ
người dân trong cộng đồng trong các hoạt động sản xuất Đặc biệt đối với người
dân ở nông thôn, mối quan hệ giữa cộng đồng làng xã, thôn bản càng được thể hiện
rõ Trước đây, các tổ chức này có vai trò giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cộng
đồng, đồng thời là nơi truyền đạt kiến thức kinh nghiệm cho người dân Ngày nay,
khi những phong tục tập quán cũ dần bị mất đi thì các tổ chức cộng đồng truyềnthống cũng bị mai một Thay vào đó, nhiều tổ chức đoàn hội mới như hội nông dân,hội phụ nữ, nhóm sở thích trong sản xuất… lần lượt được thành lập và đang dần dầnthể hiện được vai trò vị trí của mình trong đời sống của người dân Những tổ chức
này đóng vai trò cực kỳ quan trọng và tích cực trong phát triển kinh tế của cộngđồng Thông qua hoạt động của nó, người dân có thể dễ dàng tiếp cận với tín dụnghay các chương trình khuyến nông, các tổ chức và dự án [22]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16Trong báo cáo trình bày tại hội thảo khoa học Mô hình phát triển bền vữngvùng gò đồi Bắc Trung Bộ, tác giả Nguyễn Văn Thông [40] đã nhấn mạnh đến vaitrò của các cấp chính quyền, đoàn thể và cả nhân dân trong việc lãnh đạo hoặc trựctiếp tham gia hoạt động chuyển giao TBKT Đánh giá vai trò của chính quyền cấp
xã, tác giả cho rằng họ “có vai trò trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trực tiếp
là cấp chính quyền gần gũi sát với dân, quản lý tất cả các mặt hoạt động kinh tế xãhội trên địa bàn Nắm chắc tâm tư nguyện vọng của nhân dân, hiểu rõ điều kiện tựnhiên, phong tục tập quán, khó khăn, thuận lợi,… Từ đó có kế hoạch xây dựng
phương án đưa TBKT sát với tình hình thực tế.” Cũng theo tác giả, đối với các vùng
sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số thì vai trò của các tổ chức đoàn thể càng quantrọng trong việc tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ các tập tục lạc hậu, ápdụng TBKT vào sản xuất
1.1.4.2 Các yếu tố kinh tế hộ và sự tiếp nhận, áp dụng TBKT vào sản xuất
Từ sau Nghị quyết 10 BT/TW của Ban bí thư Trung Ương Đảng, cơ chế tậptrung quan liêu, bao cấp trong nông nghiệp và các ngành kinh tế nông thôn dần dần
được xóa bỏ và bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhànước thì hộ nông dân được đối xử với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chủ Hội
nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW khóa V đã xác định “mỗi nông hộ tự làm chủ quátrình sản xuất kinh doanh của mình, trực tiếp đương đầu với thị trường, tự xác định
kế hoạch sản xuất, tổ chức sản xuất, điều chỉnh kế hoạch sản xuất và hạch toán hiệuquả kinh tế”, chính vì vậy kinh tế hộ bước vào một thời kỳ phát triển mới
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp theo nghĩarộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.Thực tế trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt được các hoạt động có
liên quan đến nông nghiệp và các hoạt động không liên quan đến nông nghiệp Vì
thế có thể hiểu “nông dân là các nông hộ chủ yếu sản xuất nông nghiệp, sử dụngchủ yếu lao động của gia đình và có tham gia một phần trong thị trường nhưng hoạt
động với mức độ không thường xuyên.”
Như vậy hộ nông dân có những đặc điểm là:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa làmột đơn vị tiêu dùng;
Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng biểu hiện ở trình độ phát triển từ tự cấp
hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa;
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt độngphi nông nghiệp với các mức độ khác nhau mà khó có giới hạn cụ thể
Sự phát triển kinh tế hộ có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định của hộ có
hay không đầu tư vào các công nghệ, hơn nữa việc quyết định áp dụng những công
nghệ mới thường dựa trên các nguồn lực của chính họ Thật khó thành công khi mộttiến bộ kỷ thuật được chuyển giao cho một hộ nông dân nào đó nếu như họ không
có những điều kiện cần thiết như đất đai, vốn, nhân lực,… ngược lại những hộ có
điều kiện thì việc tiếp nhận và ứng dụng các TBKT vào sản xuất sẽ dễ dàng hơn
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Mai [26] ở dân tộc Ka Tu cho thấy “trong quátrình chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về công cụ lao động sản xuấtnông nghiệp đến người dân thì việc xem xét, đánh giá và phân loại các hộ nông dântheo tiềm lực kinh tế là rất cần thiết, trên cơ sở đó mới có những cách tiếp nhận phùhợp và hiệu quả, nhằm phát huy hiệu quả của công nghệ mới.”
Những thuộc tính kỹ thuật của công nghệ mới có thể ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình xây dựng kế hoạch sản xuất Đổi mới công nghệ có khả năng tăng khối
lượng đầu vào và nâng cao thu nhập, nếu quá trình áp dụng các TBKT không xảy ra
các rủi ro Tuy nhiên, việc chuyển giao và tiếp nhận các TBKT luôn tiềm ẩn nhữngrủi ro, hơn nữa đặc điểm của TBKT trong sản xuất nông nghiệp thì mức độ rủi ro làrất lớn Vì vậy, nếu một công nghệ chia nhỏ được (như giống cây trồng năng suất
cao) người dân có thể tìm cách áp dụng với quy mô nhỏ, nếu công nghệ thuộc loại
“nặng nề” thì không thể làm thử với quy mô nhỏ và nông dân thường không muốn
tiếp thu Hay nói cách khác, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật càng phức tạp thìcàng ít nông dân quan tâm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18Như vậy, việc xem xét sự ảnh hưởng của kinh tế hộ đến quá trình tiếp nhận vàứng dụng các TBKT vào sản xuất là điều cần thiết nhằm đảm bảo cho quá trình
chuyển giao TBKT được thành công
1.1.4.3 Chính sách nhà nước
Vai trò của chính sách nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọngtrong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở
nước ta Sự phát triển nông nghiệp, kinh tế xã hội nông thôn chịu sự tác động của
nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chính sách đóng vai trò bao trùm và có tính chất quyết
định Lịch sử phát triển nông nghiệp, kinh tế, xã hội nông thôn ở nước ta đặc biệt
trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới đã chứng minh điều đó
Chính sách nông nghiệp, nông thôn “là tổng thể các biện pháp kinh tế vànhững biện pháp khác của Nhà nước (từ Trung ương đến địa phương) tác động đếnnông nghiệp, nông thôn và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nôngnghiệp, nông thôn nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, với những điều kiệnthực hiện nhất đinh và trong một thời hạn xác định”[23] Chính sách nông nghiệp,nông thôn không chỉ là chính sách đơn thuần về nông nghiệp, nông thôn mà là cácchính sách, biện pháp tác động vào tất cả các lĩnh vực, các ngành có liên quan đếnnông nghiệp, nông thôn
Trong những năm qua đã có nhiều chính sách trong nông nghiệp, nông thôn
được thực hiện làm cho đời sống người dân thay đổi Các chính sách về ruộng đất,
chính sách về vốn, thị trường, khoa học kỹ thuật đã không ngừng thúc đẩy cho nôngthôn phát triển Các chính sách về chuyển giao TBKT không những giúp người dântiếp cận được các TBKT trong sản xuất nông nghiệp mà còn hỗ trợ tạo điều kiệnthuận lợi cho các hộ ở nông thôn tăng cường phát triển sản xuất, giải quyết khó
khăn, từng bước thoát khỏi nghèo đói, làm cho tỷ lệ nghèo hàng năm được giảm
xuống, bộ mặt nông thôn Việt Nam có nhiều đổi mới
Như vậy, chính sách có vai trò quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp
nông thôn ở nước ta, nếu thực hiện đúng và tốt các chính sách đó Quá trình chuyểngiao tiến bộ kỹ thuật là thực hiện từng hoạt động chuyển giao đến đối tượng chuyển
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19giao thông qua các phương pháp chuyển giao Trong quá trình đó, cả bên chuyển
giao và bên nhận chuyển giao sẽ chịu tác động của các chính sách có thể tác độngtheo chiều thuận hoặc cũng gặp những hạn chế của chính sách nào đó Khi kết thúcmột hoạt động chuyển giao TBKT đến nông dân người ta hy vọng TBKT đó sẽ
được nhân rộng ra cho các hộ nông dân khác ở khu vực nào đó, tuy nhiên việc quyếtđịnh áp dụng các TBKT vào sản xuất của người dân ở khu vực đó lại gặp khó khăn,không được thuận lợi như địa phương, khu vực trước do hạn chế về đất đai, không
có các chính sách hổ trợ như vốn, cơ sở vật chất,…
1.1.4.4 Ảnh hưởng của phương pháp chuyển giao đến hiệu quả của việc ứng dụngcác TBKT
Phương pháp chuyển giao là cách mà người làm công tác chuyển giao sử dụng
để đưa TBKT đến cho người nhận chuyển giao Vấn đề đặt ra cho người làm công
tác chuyển giao TBKT, những cán bộ khuyến nông lâm là ngoài việc có kiến thức,
kỹ năng, thái độ tốt vẫn chưa phải là yếu tố quyết định tạo nên sự thành công củacông tác chuyển giao mà đòi hỏi phải có hệ thống khuyên nông lâm hợp lý, phương
pháp, phương thức tiếp cận và chuyển giao thích hợp để làm sao giải quyết được
mối quan hệ giữa kiến thức “hàn lâm” với kiến thức “bản địa” Bởi vì trong thời đạikhoa học và công nghệ hiện đại, chính sự ra đời của nhiều công nghệ mới và cáchmạng xanh là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái kinh tế và môi trường ở nhiều khuvực Việc kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô cho một quốc gia thường bị thất bại trong quátrình thực thi và quản lý ở cấp địa phương Sự phát triển theo các kế hoạch áp đặt
không có người dân tham gia đã tạo ra những áp lực chưa từng thấy đối với tàinguyên đất, nước, rừng và các tài nguyên khác trên hành tinh chúng ta Một số giảipháp được du nhập thường không có tính khả thi về kinh tế và khó chấp nhận về
mặt văn hóa, do đó dễ bị dân địa phương từ chối áp dụng Ngược lại, rất nhiều kỹthuật truyền thống đã tồn tại và được thử thách qua hàng thế kỷ, rẻ tiền và sẵn có ở
địa phương, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao lại vừa phù hợp với đặc điểm văn hóa
xã hội
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Ngoài ra, trong quá trình chuyển giao TBKT, cần phải lấy người nông dân làmtrung tâm của mọi hoạt động chuyển giao bởi “khuyến nông là chuyển giao kỹ thuật
cho nông dân nhưng nếu nông dân không được tham gia thực sự thì kỹ thuật đó
chuyển giao cho ai”[25] Theo tác giả Trịnh Thị Thường Mại, một chương trìnhkhuyến nông muốn gặt hái được thành công trước hết phải thu hút được người dân
tham gia Đây là điều kiện tiên quyết quyết định sự thành công của các chương trình
ở địa phương Ông cho rằng, chỉ khi người dân thực sự tham gia lựa chọn kế hoạch
và lựa chọn TBKT để áp dụng thì mới xác định được cái họ cần
Cùng quan điểm này, Robert Chamber [52] cho biết nguyên nhân thất bại của
các chương trình chuyển giao TBKT cho nông dân, đặc biệt là những nông dân
vùng sâu vùng xa là do cán bộ chuyển giao chưa xem trọng ý kiến của người nôngdân Theo ý kiến của ông, nông dân cần được xem là chủ thể của quá trình chuyển
giao TBKT, là người trực tiếp triển khai các thí nghiệm chứ không phải là cán bộ
Cán bộ chuyển giao TBKT chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, là tác nhân giúp đỡ
người dân trong quá trình chuyển giao
1.2 Tình hình chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp ở Việt Nam
Việc chuyển giao các TBKT trong nông nghiệp ở Việt Nam gắn bó với sựphát triển của nền nông nghiệp và được chia thành 3 giai đoạn chủ yếu
Trước năm 1988, TBKT được chuyển giao chủ yếu qua các hợp tác xã nông
nghiệp (HTXNN), theo hệ thống sản xuất kế hoạch hóa tập trung Trong giai đoạnnày, các quyết định sản xuất chủ yếu do HTXNN tiến hành, TBKT được chuyểngiao từ cơ quan nghiên cứu tới nông thôn qua các bộ phận chức năng Phòng trồng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21trọt, Chăn nuôi, Thủy sản của UBND huyện Các cán bộ của phòng nông nghiệp
được phân công “tăng cường” xuống các địa phương để chỉ đạo, giúp các HTXNNứng dụng các TBKT Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là xây dựng điểm chỉ đạo,
gắn liền với tổ chức HTXNN Mô hình này phục vụ nền kinh tế tập trung, chưa phát
huy cao độ sự sáng tạo và nguồn lực của địa phương, nhất là nông dân
Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993 gắn liền với sự ra đời của nghị quyết 10
BT/TW của Ban bí thư Trung Ương Đảng về Cải tiến toàn diện công tác quản lýnền nông nghiệp Với nghị quyết 10, kinh tế hộ được hình thành và phát triển Côngtác chuyển giao TBKT ở giai đoạn giao thời từ phục vụ nền nông nghiệp nền kinh tếtập thể sang nông nghiệp kinh tế hộ Tiến bộ kỹ thuật vẫn được đưa về theo kênh cũ.Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, do tính chất hoạt động của HTXNN đã thay đổi nêncông tác chuyển giao TBKT có sự lúng túng trong phương thức, cách làm và biệnpháp chuyển giao trong giai đoạn này
Từ năm 1993 cho đến nay, tình hình chuyển giao TBKT gắn liền với sự hìnhthành hệ thống khuyến nông của nhà nước Trước những bất cập về công tác chuyểngiao TBKT trong một nền nông nghiệp đang quá độ chuyển đổi sang cơ chế kinh tếthị trường Ngày 2 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP vềcông tác khuyến nông, mở đầu hình thành hệ thống khuyến nông Việt Nam Theonghị định này, một hệ thống khuyến nông nhà nước đã được thành lập từ Trung
Ương tới 64 tỉnh thành và hầu hết các huyện trong cả nước [34] Lúc này, phòng
nông nghiệp ở các huyện chỉ làm chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp Mặtkhác do chuyển đổi về chính sách nghiên cứu và chuyển giao, gắn kết giữa nôngnghiệp và nông dân, việc chuyển giao TBKT không những do cán bộ khuyến nông
nhà nước tiến hành mà còn do các viện nghiên cứu, các tổ chức phát triển và các
doanh nghiệp tiến hành Đặc biệt trong thời gian này, nhờ sự tham gia của các tổchức chính phủ và phi chính phủ quốc tế thông qua các chương trình dự án tài trợ,công tác chuyển giao TBKT đã có sự thay đổi cơ bản về cách tiếp cận vốn từ trênxuống sang nghiên cứu từ dưới lên Các TBKT được nghiên cứu và chuyển giao
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22xuất phát từ thực tế và yêu cầu của người dân vì thế đáp ứng được nhu cầu của dân,
được dân hưởng ứng
Nội dung chuyển giao TBKT tập trung chủ yếu vào phổ biến áp dụng giốngcây trồng vật nuôi, phục vụ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Một số nơi đã chuyểngiao TBKT về công nghệ sau thu hoạch, bảo quản phục vụ cho nông dân Trong đótrọng tâm vẫn là giống mới, ưu thế lai trong sản xuất Các cơ quan đã chuyển giaobằng các phương pháp: Tập huấn, xây dựng mô hình, tham quan,…Tuy nhiên
phương pháp trình diễn mô hình và tập huấn vẫn là chính
Các mô hình chuyển giao chủ yếu gồm 1) mô hình khuyến nông-nông dân, 2)
mô hình doanh nghiệp-khuyến nông dân, 3) mô hình ngân hàng-khuyến nông dân và 4) mô hình 3+1 gồm ngân hàng-doanh nghiệp-khuyến nông-nông dân
nông-Từ những mô hình này phát triển thành “liên kết 5 nhà” để sản xuất hàng hóa gồmnhà khoa học và khuyến nông chuyển giao TBKT cho nhà nông, nhà nông làm rahàng hóa nông nghiệp, nhà doanh nghiệp tiêu thụ và chế biến sản phẩm nôngnghiệp, nhà ngân hàng cung cấp vốn cho việc ứng dụng TBKT vào sản xuất và nhà
nước hình thành khung chính sách cho chuyển giao và sản xuất TBKT, chế biến và
tiêu thụ nông sản hàng hóa [8]
1.2.2 Tình hình chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò cho nông hộ ởViệt Nam
1.2.2.1 Các TBKT về giống:
Thời kỳ 1991-1995, do hình thức nuôi bò tập trung không có hiệu quả nên
nông trường Hữu Nghị Việt Nam-Mông Cổ đã chuyển đổi hình thức tổ chức sản
xuất chăn nuôi tập trung sang hình thức nuôi theo cơ chế hộ gia đình Mỗi gia đình
được nhận từ 2-3 con bò cái sinh sản, tuỳ khả năng nếu có điều kiện nuôi từ 5-8 con
Bên cạnh đó nông trường đã tổ chức các dịch vụ để phục vụ cho hộ gia đình như hỗtrợ giống cỏ, phối giống, khám chữa bệnh cho bò, tiêm phòng định kỳ và tẩy giun
sán,… Đến tháng 6/1996 nông trường đã cung cấp được 256 con bò đực và cái cho
các tỉnh từ vùng Nam Trung Bộ đến các tỉnh khu 4 cũ, các tỉnh vùng Đồng Bằng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 23Bắc Bộ, tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái,… Hoạt động đó đã góp phầncải tạo đàn bò Việt Nam theo hướng Sind hoá [11].
Lần đầu tiên dự án cải tạo đàn bò tiến hành từ 1995- 1998 tiến hành trên 27tỉnh và thành phố với 500 bò đực giống được sử dụng Kết quả đạt được là đã sảnxuất ra 350.000 con lai làm tăng thêm 25.000 tấn thịt hơi Do giá bán ngoài thị
trường của bò lai cao hơn bò nội là 1,5-2 lần nên tỷ lệ bò lai tăng từ 15-25%[42].Đến năm 2002, các hoạt động khuyến nông về phát triển chăn nuôi bò đã tiến hành
trên 31 tỉnh với số lượng phối giống 11.400 con Tỷ lệ thụ thai đạt 65% bằng kỹthuật thụ tinh nhân tạo và cho nhảy trực tiếp Hiệu quả, tầm vóc bò được nâng cao
và tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ tham gia chăn nuôi bò[15]
Chính nhờ sự tích cực chuyển giao về giống mà tốc độ tăng đàn của bò laitrong cả nước không ngừng tăng lên Thời kỳ 1995-1998 tốc độ tăng bò lai là 3%,
nhưng sau thời kỳ 1998-2005 tốc độ tăng đàn của bò lai đạt 5% Chính nhờ tốc độ
này mà hiện nay cả nước có tỷ lệ đàn bò lai là 30% Tuy nhiên, theo nhiều nhận
định cho rằng tốc độ tăng đàn này vẫn còn chậm, bình quân cả nước có tốc độ tăngđàn bò lai chỉ đạt 0,7%/năm Trong thời gian qua công tác cải tạo đàn bò nội được
tiến hành bằng các kỹ thuật như thụ tinh nhân tạo trên cơ sở tinh bò đông lạnh ở
trong nước và nhập bên ngoài; dùng đực giống F1, F2 có chất lượng tốt, ngoại hình
đẹp, chủ yếu dùng đực giống Zêbu cho nhảy trực tiếp với bò cái lai trong vùng;
nhập thuần bò ngoại vào để chăn nuôi[15]
Hiện nay cả nước có khoảng 70% là bò vàng và 30% còn lại là giống bò lai
như lai Sind, Brahman trắng, Charolais, Limousin, Sahiwal,… Thực tiễn sản xuất
cho thấy các giống này tỏ ra phù hợp ở nước ta Trong đó, một số tỉnh đã lai tạo và
tăng tỷ lệ bò lai trong tổng đàn như Bình Định lai tạo được 4500 con bò thịt chấtlượng cao gồm các giống Crimuosin (CuBa), Limousin (Mỹ) và Charolais (Pháp)
có ưu điểm thịt mềm, ngon, tỷ lệ thịt sẻ cao, sản lượng bò trưởng thành đạt 6
tạ/con[13]
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 241.2.2.2 Các TBKT về thức ăn, chăm sóc, chuồng trại và thú y
Nước ta là một nước nông nghiệp với nhiều loại cây trồng cho nên có nguồn
phụ phế phẩm phong phú Trong thời gian qua để tăng về số lượng và chất lượngnguồn thức ăn cho chăn nuôi bò Nhà nước đã tiến hành chuyển giao nhiều TBKT vềchế biến các loại thức ăn cho bò như: Chế biến ủ rơm ure, ủ chua thức ăn, chế biến
và sử dụng tảng ure, rỉ mật từ mía, khẩu phần thức ăn bổ sung, bánh dinh
dưỡng,…[41] đã và đang được chuyển giao vào trong chăn nuôi bò trong cả nước
Một số mô hình tiêu biểu như hiệu quả của bổ sung rỉ mật và hạt bông ở ĐăkLăk;Nuôi vỗ béo lai Sind bằng rơm có bổ sung cỏ xanh, ure, bã bia và cho uống dầu lạc;
bã dứa ủ chua, ủ chua thân cây lạc…Cho đến thời điểm hiện tại có nhiều hộ ở các
vùng đã thành công trong áp dụng TBKT này như Quảng Bình, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh và một số tỉnh phía Bắc,…
Bên cạnh quá trình đô thị hoá và sự gia tăng dân số, trong những năm gần đây,phong trào trồng rừng phát triển mạnh và quy định cấm thả rông làm cho diện tích
chăn thả của người dân bị thu hẹp đáng kể Nguồn thức ăn cho đàn gia súc trở nên
khan hiếm, một số hộ do không tìm được bãi chăn phải giảm bớt số lượng đàn hoặc
từ bỏ ý định phát triển đàn Để giải quyết tình trạng này, Chính phủ đã có nhiều
chương trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật trồng cỏ cho người dân Một số
giống cỏ tốt, có năng suất và chất lượng cao như cỏ Sả, cỏ Voi, Paspalum,
Brachiria,… đã được người dân tiếp nhận và nhân rộng Theo số liệu thống kê cho
biết, diện tích trồng cỏ của cả nước đã tăng từ 10.000 ha năm 2004 lên 20.000 ha
năm 2005 Mô hình trồng cỏ phát triển mạnh ở Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc,Sơn La, Bắc Ninh,… Ngoài ra, để khuyến khích việc trồng cỏ, nhiều địa phương đã
có chính sách hỗ trợ giống hay nguồn vốn cho người dân như ở Hà Tây (5 triệu
đồng/ha), Thái Nguyên (2 triệu đồng/ha),…[13]
Theo nhận định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tình hình dịchcúm gia cầm vẫn có nguy cơ bùng phát và kéo dài, do đó Bộ định hướng phát triển
chăn nuôi bò tập trung vào phát triển chăn nuôi bò thịt ở tất cả các vùng gắn với chế
biến và phụ phế phẩm làm thức ăn cho gia súc theo phương thức thâm canh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25Những năm 1996 đến năm 2000 công tác thú y còn hạn chế, chưa được tổchức và quản lý chặt chẽ nên dịch bệnh xảy ra nhiều như dịch tụ huyết trùng năm
1996, dịch lở mồm long móng năm 1999-2000 xảy ra trên diện rộng trong phạm vitoàn quốc Số lượng đàn bò bị giảm đáng kể, người dân bị thua lỗ nặng nề và trởnên dè dặt hơn trong việc đầu tư chăn nuôi Trong những năm trở lại đây, công tác
thú y đã được quan tâm nhiều hơn, việc tuyên truyền được triển khai rộng rãi đến
từng thôn bản Hàng năm, nhà nước triển khai 2 đợt tiêm phòng bệnh lở mồm longmóng và tụ huyết trùng cho tất cả các vùng miền của cả nước Ngoài ra, các TBKT
như bổ sung thuốc bổ, tẩy kí sinh trùng, chữa trị một số bệnh thông thường đã vàđang được chuyển giao cho người dân Nhờ đó mà hiệu quả chăn nuôi không ngừngtăng lên Số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ thú y cũng tăng lên đáng kể
1.3 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc chuyển giao TBKT trong chănnuôi bò như chúng tôi đã trình bày ở trên, có thể thấy rằng:
- TBKT có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và
môi trường cho nông nghiệp và nông thôn
- Chuyển giao TBKT trong nông nghiệp nói chung và chăn nuôi bò nói riêng
là quá trình giúp nông dân áp dụng được các TBKT để giải quyết các khó khăntrong nông nghiệp và nâng cao đời sống, lợi ích của nông dân Vì vậy, công tácchuyển giao TBKT chỉ có thể hiệu quả khi kết quả chuyển giao được nông dân chấpnhận, tồn tại bền vững trong nông dân, góp phần cải thiện cuộc sống của nông dân
và cộng đồng
- Để đảm bảo cho công tác chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò đạt đượckết quả, cần nghiên cứu và nắm rõ đặc điểm của vùng, điều kiện của địa phươngcũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao TBKT để có thể lựa chọn nội
dung và phương pháp chuyển giao phù hợp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế
chính thông thương kinh tế Bắc-Nam của cả nước, đồng thời là một trong những
trung tâm phát triển kinh tế miền trung trong tương lai gần, đây là những tiềm năng
và lợi thế lớn trong phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và ngành nông nghiệp nói
riêng trong đó có chăn nuôi
Thừa Thiên Huế nằm trong tọa độ 16000 - 16022 vĩ độ Bắc, 107022 - 108011 vĩ
độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Đông giáp
biển Đông và Tây giáp nước bạn Lào
2.1.1.2 Điều kiện địa hình
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích đất tự nhiên 505.398,7 ha trong đó vùng núi
và gò đồi chiếm đến 70% diện tích Với địa hình đa dạng gồm rừng núi, gò đồi,
đồng bằng duyên hải, đầm phá và biển, toàn lãnh thổ kéo dài và chạy thấp dần theohướng Tây Bắc - Đông Nam, cả những dãy núi đồi, đồng bằng cũng chạy dọc theohướng này và song song với biển Toàn tỉnh có thể chia thành 4 vùng sinh thái rõ rệt
gồm vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển và đầm phá Trong
đó, vùng núi của tỉnh Thừa Thiên Huế nằm về phía Tây, nơi một đoạn dãy TrườngSơn đi qua với những dãy núi liên tiếp với độ cao từ 500 đến 1000 m và phía Nam
với dãy Bạch Mã đâm ra biển với độ cao trên 100 m Các thung lũng A Lưới, Nam
Đông nằm gọn trong vùng núi này với độ cao từ 150 đến trên 500 m nên có địa hình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27dốc (350), nhiều nơi hiểm trở nhưng khí hậu ôn hoà, đất đai rộng lớn rất thuận lợicho việc phát triển đại gia súc.
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, cóchế độ bức xạ phong phú và nền nhiệt độ cao Địa hình đa dạng đã phân hoá khí hậutheo không gian và chế độ gió mùa đã phân hoá khí hậu theo thời gian, tạo choThừa Thiên Huế có nhiều vùng tiểu khí hậu khác biệt Đây là vùng chuyển tiếp giữakhí hậu miền Bắc và miền Nam nên có mùa đông lạnh giống miền Bắc và nền nhiệt
độ cao giống miền Nam nhưng không hoàn toàn đồng nhất với khí hậu của vùng
nào Ở đây chịu tác động của các luồng không khí xuất phát từ trung tâm các khí ápkhác nhau ở cả 4 hướng nên khí hậu rất phức tạp và có nhiều loại thiên tai, vì vậy có
tác động lớn đến hoạt động sản xuất
Khác với các vùng khác, Thừa Thiên Huế chỉ có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và
mùa khô Mùa mưa thường tập trung vào các tháng 8, 9, 10, 11 với lượng mưa lớn(3.246,8 mm/năm) và tổng số ngày mưa khoảng 143 ngày trong năm Nhờ vậy đã
cung cấp đủ nguồn nước để sản xuất và chăn nuôi, tạo nguồn thức ăn dồi dào chogia súc Tuy nhiên, lượng mưa lớn kéo dài nhiều ngày thường gây tình trạng ngập
úng đất, làm thối rễ,… đặc biệt ở các vùng trũng nên việc dự trữ thức ăn cho gia súcvào mùa đông là điều đặc biệt khó khăn Hơn nữa, với lượng mưa càng lớn thì nhiệt
độ trong năm càng xuống thấp gây tình trạng rét đậm rét hại trên khắp các vùng của
tỉnh, dẫn đến việc trâu bò bị chết hàng loạt gây thiệt hại lớn cho người dân và ngành
chăn nuôi
Mùa khô thường tập trung vào các tháng 3, 4, 5, 6, Với tổng giờ nắng 1.854
giờ, chiếm khoảng 21,26% trong tổng số giờ cả năm Nhiệt độ ở các tháng này
tương đối cao, nhiệt độ cao nhất lên đến 38,50C dẫn đến tình trạng hạn hán xảy ra ởnhiều nơi trong tỉnh Hầu hết diện tích gieo trồng cũng như đồng cỏ tự nhiên hay cỏtrồng đều thiếu nước nhất là các vùng đồi núi - trung du nơi công tác thuỷ lợi chưa
đảm bảo Đây là nguyên nhân của vấn đề thiếu thức ăn vào mùa khô cho chăn nuôigia súc trên địa bàn toàn tỉnh Nhiệt độ cao cùng với mưa bất thường đã làm cho độ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28ẩm tăng đáng kể (87,8%), đây là độ ẩm thích hợp cho nhiều mầm bệnh phát triển
gây hạn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và đàn gia súc nói riêng
Như vậy, điều kiện thời tiết khí hậu có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến việc
trồng trọt chăn nuôi của ngành nông nghiệp Để có thể đảm bảo hiệu quả sản xuất,
năng suất mùa màng và chất lượng đàn gia súc đòi hỏi người nông dân cần phải
nắm bắt diễn biến thời tiết để có phương án bố trí sản xuất chăn nuôi phù hợp
2.1.1.4 Thuỷ văn
Hệ thống sông ngòi ở Thừa Thiên Huế được phân bố tương đối đều Do ảnh
hưởng của địa hình đại bộ phận sông ở Thừa Thiên Huế chảy theo hướng Nam
-Tây Nam, Bắc - Đông Bắc, chiều dài dòng chảy thường ngắn, độ dốc dòng chảy lớnnhất từ vùng trung lưu đến thượng nguồn các dòng sông Lưu vực sông không lớn,
độ dốc địa hình các lưu vực sông ở trung thượng nguồn cao trên 150, lượng mưa tập
trung từ tháng 8 đến tháng 11, cường độ mưa cao có khi đạt đến 400-500mm/ngày
Ở Thừa Thiên Huế từ Bắc vào Nam có các sông chính như sông Ô Lâu, sôngHương, sông Bồ, sông Tả Trạch và Hữu Trạch (bắt nguồn từ vùng rừng núi của 2
huyện Nam Đông và A Lưới), sông Nông, sông Cầu Hai, sông Truồi
Với lượng mưa và hệ thống sông ngòi nói trên là điều kiện thuận lợi cho việcgiải quyết nước ngầm cho chăn nuôi và tưới tiêu đồng cỏ, đồng thời giúp chủ độngtrong việc sản xuất các loại cây trồng phục vụ chăn nuôi cũng như bố trí đa dạng vậtnuôi, tránh ngập úng, lũ lụt và môi trường lây lan của dịch bệnh
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế có 9 huyện 1 thành phố với tổng dân số 1.145.259
người (tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2007) và phân bố không đồng đều giữa
các vùng Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 226,1 người/km2 trong đó có huyện
mật độ dân số rất thấp khoảng 33,8 người/km2 (A Lưới) và có vùng mật độ dân sốđông lên đến 638,2 người/km2 (Phú Vang) Đây là nguồn lao động dồi dào cho tất
Trang 29với tổng dân số 45.799 người chiếm tỉ lệ 4% Trong đó, dân tộc PaKo có 18.157
người (chiếm 1.59%), dân tộc Katu có 14.432 người (chiếm 1,26%), dân tộc Tà Ôi
có 11.245 người (chiếm 0,98%), dân tộc Vân Kiều có 868 người (chiếm 0,07%),
dân tộc PaHy 970 người (chiếm 0,08%) và các dân tộc khác 127 người (chiếm
0,01%) Đồng bào dân tộc sống chủ yếu ở hai huyện miền núi Nam Đông, A Lưới
và một số xã thuộc huyện Hương Trà, Phong Điền Đa số đồng bào dân tộc vẫn còn
lưu giữ những phương thức canh tác lạc hậu của mình, điều này gây không ít khókhăn trong công tác chuyển giao TBKT về sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn
nuôi bò nói riêng
Tính đến năm 2007, toàn tỉnh có 520.645 người trong độ tuổi lao động, trong
đó 206.593 người tham gia sản xuất nông nghiệp, số còn lại tham gia vào các hoạtđộng sản xuất khác như dịch vụ, công nghiệp, thương nghiệp Tổng giá trị sản xuất
của Thừa Thiên Huế năm 2007 đạt 20.016.034 triệu đồng, trong đó nông, lâmnghiệp và thuỷ sản chiếm 19,9%, công nghiệp và xây dựng chiếm 36,2% và dịch vụ43,9%
Dịch vụ Công nghiệp và xây dựng Nông,lâm,ngư nghiệp
43,9%
19,9%
36,2%
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo khu vực kinh tế năm 2007
Cùng với xu thế chung của cả nước, các cấp lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế
đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế, đẩy mạnh giáo dục đào tạo và chăm lo về
vấn đề sức khoẻ cho người dân Nhiều trường học, bệnh viện, các khu, cụm côngnghiệp với nhiều nhà máy, xí nghiệp được quy hoạch xây dựng và không ngừng mở
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30rộng phạm vi, nâng cấp đổi mới thiết bị hạ tầng nhằm nâng cao đời sống cho ngườidân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
2.1.3 Tình hình cơ bản của 2 huyện Nam Đông và A Lưới
Nam Đông và A Lưới là 2 huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế Với địa
hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại không thuận tiện và bị chia cắt với đồngbằng, đời sống của người dân ở đây gặp nhiều khó khăn, mức sống thấp và phụthuộc chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, với đặc điểm là
địa bàn có tỷ lệ dân tộc thiểu số tập trung lớn nhất tỉnh (Nam Đông 42% và A Lưới74%), các phương thức sản xuất và tập quán của mỗi nhóm làm tăng tính phong phú
đa dạng về đời sống văn hoá của vùng Tuy nhiên, đây cũng là một trong những lý
do chính dẫn đến tình trạng khó khăn và kém phát triển của vùng khi so sánh với
các địa bàn khác trong tỉnh
2.1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội
Nam Đông là một huyện rất có thế mạnh về nông nghiệp, giá trị sản xuấtđem lại của ngành chiếm 32% tổng giá trị sản xuất của huyện, dân số sống ở khu
vực nông thôn chiếm 19.914 người và thu hút đến 73% lao động vào lĩnh vực nôngnghiệp (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất các lĩnh vực kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Giá trị sảnxuất
Trang 31Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nam Đông và A Lưới năm 2007
Ngược lại, với số lượng dân đông gấp đôi Nam Đông, mật độ dân số của ALưới ở mức thấp nhất trong toàn tỉnh (chỉ 33,8 người/km2) Địa hình huyện có nhiềuđồi núi cao hiểm trở, lại thường bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên
A Lưới gặp khó khăn hơn trong việc sản xuất nông nghiệp Chiếm 40% giá trị sản
xuất toàn huyện, nông nghiệp A Lưới năm 2007 chỉ đạt 71.907 triệu đồng, trong đóthu từ trồng trọt 54.906 triệu, chăn nuôi 16.960 triệu đồng so với Nam Đông, 29.847triệu đồng từ chăn nuôi và 61.230 triệu đồng từ trồng trọt
2.1.3.2Tình hình sử dụng đất
Xem xét tình hình sử dụng đất đai ở hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới,kết quả thu được từ bảng 2.2 cho thấy, cơ cấu và tỷ lệ sử dụng các loại đất trongnông nghiệp giữa hai huyện khá tương đồng Trong đó, đất sản xuất nông nghiệpchiếm tỷ trọng rất thấp, chỉ đạt 7,21% tổng quỹ đất tự nhiên của Nam Đông và4,53% tổng quỹ đất tự nhiên ở A Lưới
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất của huyện Nam Đông và A Lưới
Các loại đất
Diện tích đất(ha)
Tỷ lệ(%)
Diện tích đất(ha)
Tỷ lệ(%)Tổng diện tích đất tự nhiên 65.194,60 100,00 122.954,92 100,00
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 4.698,90 7,21 5.562,90 4,53
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 321.2 Đất lâm nghiệp 48.948,00 75,08 97.439,00 79,25
Nguồn: Niên giám thông kê huyện Nam Đông và A Lưới năm 2007
Số liệu từ bảng 2.2 cho thể thấy, phần lớn đất đai của A Lưới đều được sửdụng cho mục đích lâm nghiệp (chiếm 79,25% tổng diện tích đất tự nhiên) Đấtdành cho sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ
đạt 4,59 % trong khi đất chưa sử dụng chiếm đến 13,21% tổng diện tích đất tự nhiên
Ngoài ra, với lợi thế địa hình đồi núi, A Lưới có nhiều thung lũng nhỏ và bãi đồi rấtphù hợp cho việc chăn thả đại gia súc
2.1.3.3 Hoạt động chăn nuôi
Kết quả khảo sát về số lượng đàn và tốc độ phát triển đàn gia súc, gia cầmcủa hai huyện miền núi trong khoảng thời gian 4 năm từ 2004 đến 2007 được trìnhbày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Tình hình chăn nuôi của hai huyện trong giai đoạn 2004-2007
Đơn vị tính: Con
Tốc độphát triển
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nam Đông, A Lưới năm 2007
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Số liệu ở bảng 2.3 cho thấy, loại vật nuôi chính của 2 huyện Nam Đông và A
Lưới là trâu, bò, lợn và gia cầm Trong giai đoạn này, cùng với toàn tỉnh, NamĐông và A Lưới chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch cúm gia cầm Ở huyện NamĐông, tổng đàn gia cầm bị giảm sụt mạnh từ 53.000 con năm 2004 xuống 48.000con năm 2005 Và đến năm 2007, tổng đàn gia cầm toàn huyện chỉ còn 33.500 con,
tốc độ giảm đàn bình quân 14%/năm Ở A Lưới, tình hình cũng diễn ra tương tựsong mức độ thiệt hại thấp hơn Nam Đông Số lượng đàn gia cầm chỉ giao động nhẹ
và có dấu hiệu phục hồi đàn trong năm 2007
Với ưu thế về địa hình có nhiều bãi đồi, đồng cỏ thuận lợi cho việc chăn thảgia súc, chỉ trong vòng 4 năm đàn gia súc của 2 huyện đã gia tăng đáng kể Đến
năm 2007, toàn huyện Nam Đông có 1.411 con trâu, 4.376 con bò, tốc độ phát triển
bình quân đàn bò tăng 1,06 lần/năm Huyện A Lưới có 2.338 con trâu, 5.825 con bò
và 8.166 con lợn Tốc độ phát triển bình quân đàn bò của huyện trong giai đoạn này
là 1,07 lần/năm So với toàn tỉnh, tốc độ phát triển đàn bình quân của 2 huyện cònchậm (tốc độ phát triển bình quân toàn tỉnh đạt 1,09 lần/năm) Nhưng nhìn chung,tình hình chăn nuôi đại gia súc trên địa bàn 2 huyện trong thời gian qua phát triểnkhá mạnh, tốc độ tăng đàn nhanh, chất lượng đàn được nâng cao rõ rệt Điều này
được thể hiện rõ qua bảng 2.4
Bảng 2.4 Cơ cấu giống bò của huyện qua các năm
Tỷ lệ(%)
Bò Lai(con)
Tỷ lệ(%)
Tổng
đàn
(con)
Bò vàng(con)
Tỷ lệ(%)
Bò Lai(con)
Tỷ lệ(%)
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Nam Đông, A Lưới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34Quan sát cơ cấu giống bò của 2 huyện qua 4 năm cho ta thấy, tốc độ Sindhoá đàn bò của huyện Nam Đông diễn ra khá nhanh, bình quân mỗi năm tăng11,85% trong đó có năm tỷ lệ bò lai Sind chiếm đến 61% tổng đàn Đến năm 2007,đàn bò lai của huyện được 2.400 con, chiếm 54,84% cơ cấu giống bò toàn huyện.
Có được kết quả này, bên cạnh sự giúp đỡ của các chương trình dự án tuyên truyền
vận động và hỗ trợ về khâu giống, huyện đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học vào
chăn nuôi để nâng cao chất lượng đàn bò bằng các giải pháp thụ tinh và dùng đực
lai F2 nhảy trực tiếp Nhờ vậy, đến cuối năm 2007, đàn bò lai của huyện đã lên đến
2.400 con trong đó có 730 con bò cái lai sind trên 2 tuổi
Xét về tổng đàn, A Lưới có số lượng bò lớn hơn so với Nam Đông (5.825
con năm 2007) song về chất lượng toàn đàn chưa được đảm bảo Tính đến cuối năm
2007, toàn huyện chỉ có 700 bò lai sind, chiếm 12% cơ cấu đàn và chủ yếu là giống
bò do dự án Giảm nghèo và Chương trình 135 cung cấp Phần còn lại chủ yếu là bò
cỏ sinh sản và lấy thịt, nguồn giống do địa phương tự sản xuất hoặc mua từ nơi khác
về Thậm chí ở một số xã gần biên giới, người dân qua mua bò từ Lào về nên chất
lượng nguồn giống không được kiểm định và đảm bảo
+ Hình thức chăn nuôi chủ yếuHiện nay, có nhiều hình thức chăn nuôi bò đang được áp dụng tại địa phương
nhưng chủ yếu là các hình thức thả rông, chăn dắt, chăn dắt có bổ sung thức ăn tại
chuồng hay hình thức nuôi bán thâm canh Trong đó:
Thả rông hoàn toàn là hình thức nuôi giản đơn, sơ khai Với phương thức này
bò được thả tự do trong rừng, trên nương rẫy hay các bãi cỏ tự nhiên Phương thứcnày phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện thời tiết, khí hậu và nguồn thức ăn từ tựnhiên vì vậy có chi phí đầu tư rất ít, người nuôi chỉ mất tiền giống Tuy nhiên từ khi
nhà nước có chính sách giao khoán đất rừng về cho hộ gia đình, các quy định cấm
thả rông trâu bò được đưa ra, làm cho phương thức này không còn phù hợp nữa
Chăn dắt hoàn toàn là hình thức nuôi có tiến bộ hơn so với thả rông, người
nuôi bò đã đầu tư nhiều công lao động hơn cho việc chăn bò Chuồng trại đa số
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35được nuôi bán kiên cố Quy mô nuôi nhỏ và thức ăn chủ yếu là cỏ tự nhiên và một
số phụ phẩm tận dụng của gia đình
Chăn dắt có bổ sung thức ăn tại chuồng, với phương thức này người nuôi đã
chú trọng đầu tư thêm thức ăn tại chuồng cho bò ngoài việc đầu tư công chăn dắthằng ngày Thức ăn bổ sung có thể có là cỏ tự nhiên (đi cắt), rơm khô, muối khoáng
và một số loại thức ăn tinh rẻ tiền mà gia đình tận dụng được như: sắn củ, khoailang, So với hai phương thức trên thì kiểu chăn nuôi này được coi là có sự đầu tưtốt hơn hai phương trên, tuy vẫn có phần lệ thuộc vào thức ăn thiên nhiên
Bán thâm canh là hình thức nuôi được xem là tiến bộ nhất ở địa phương hiệnnay Nuôi theo phương thức này ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nhưng đòi hỏiphải áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như giống lai, thức ăn, chế độ chăm sóc đảm bảo,
Trước xu thế về đồng bãi chăn thả bị thu hẹp, nguồn thức ăn tự nhiên khan hiếm thìphương thức này đang được khuyến khích để duy trì phát triển ngành chăn nuôi bò
Bên cạnh việc lựa chọn hình thức nuôi phù hợp, loại chuồng trại hộ sử dụngcũng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề hiệu quả chăn nuôi và áp dụng kỹ thuật.Hiện nay có 3 loại chuồng trại được sử dụng chủ yếu:
Chuồng xây kiên cố là chuồng được xây theo đúng kỹ thuật (tường xây, cómái che, nền xi măng, hố ủ phân, máng ăn ) Đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín gió
vào mùa đông và dễ dàng kiểm soát, phòng chống thiên tai dịch bệnh Loại chuồngnày đòi hỏi nhiền kinh phí để xây dựng, thích hợp với hình thức nuôi nhốt và đầu tư
kỹ thuật So với điều kiện của người dân địa phương hiện nay, tỷ lệ hộ đầu tư loạichuồng này vẫn còn hạn chế do quy mô nuôi nhỏ, ít vốn, công chăm sóc và khả
năng áp dụng kỹ thuật vào chăn nuôi của gia đình
Chuồng bán kiên cố là chuồng được xây dựng kiên cố hơn so với loại chuồngtạm Đây là loại chuồng cố định, có mái che, nền xi măng theo đúng kỹ thuật, hợp
vệ sinh, vách che bằng phên, nilông hay gỗ tuỳ vào điều kiện từng hộ Đây là loạichuồng được sử dụng khá phổ biến ở địa phương hiện nay
Chuồng tạm tre nứa là loại chuồng có tính chất tạm bợ, không đảm bảo cácyếu tố kỹ thuật như diện tích, kín gió, vệ sinh, Loại chuồng này được dùng trong
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36trường hợp nuôi di động trên nương rẫy để tận dụng nguồn phân và tiết kiệm cônglao động nhưng điều kiện chăm sóc giới hạn, trâu bò dễ bị ốm, bị rét và khó thực
hiện công tác phòng chống dịch bệnh Phần lớn các hộ chăn nuôi sử dụng loạichuồng trại này tập trung vào nhóm hộ nghèo, không có kinh phí để đầu tư xâydựng chuồng trại hay còn giới hạn về nhận thức
Kết quả khảo sát về các hình thức chăn nuôi bò của hộ theo huyện và theodân tộc được trình bày ở bảng 2.5:
Bảng 2.5 Hình thức nuôi bò chủ yếu của các hộ ở Nam Đông và A Lưới
Dân tộcKinh
Nguồn: Số liệu điều tra năm 2008
Số liệu ở bảng 2.6 cho thấy, đa số người dân địa phương chăn nuôi bò theophương thức chăn thả có bổ sung thức ăn tại chuồng, 56.3% chuồng trại được xâybán kiên cố và 10.8% chuồng xây kiên cố Tuy tỷ lệ chuồng tạm tre nứa còn tương
đối cao (chiếm 32.9%) song có thể nhận thấy một điều rằng trong người dân đang
có sự chuyển biến lớn về nhận thức khi chuyển đổi từ phương thức chăn dắt, nuôithả rông sang đầu tư kỹ thuật và chăm sóc chuồng trại Số liệu ở bảng 2.6 cũng chothấy có sự khác biệt giữa 2 yếu tố huyện và dân tộc, trong đó tỷ lệ hộ có chuồng tạm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37tre nứa và chăn nuôi theo phương thức chăn dắt hoàn toàn tập trung ở nhóm ngườidân tộc cao hơn so với nhóm người Kinh và tỷ lệ hộ nuôi bò có chuồng xây kiên cố
và bán kiên cố ở huyện Nam Đông cao hơn so với huyện A Lưới
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật trong chăn nuôi bò cho nông hộ, cụ thể:
- Tình hình chuyển giao các TBKT trong chăn nuôi bò ở Thừa Thiên Huế
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuyển giao TBKT trong
chăn nuôi bò
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và áp dụng các TBKT
trong chăn nuôi bò của hộ
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc chuyển giao các TBKT trong
chăn nuôi bò cho nông hộ
2.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
2.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình chuyển giao và tiếp nhận TBKT trong
chăn nuôi bò ở 2 huyện vùng núi Nam Đông và A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế Căn
cứ vào tỷ lệ dân tộc của mỗi huyện, sau khi tham khảo ý kiến của cán bộ chuyênmôn ở các huyện, chúng tôi đã chọn ra 6 xã đại diện cho 2 huyện để tiến hànhnghiên cứu theo các tiêu chí:
- Điểm nghiên cứu phải thể hiện được tính đại diện cho vùng về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chăn nuôi bò và các hoạt động sản xuất
nông, lâm nghiệp khác
- Điểm nghiên cứu phải có hoạt động chuyển giao TBKT trong chăn nuôi bò
Trang 38- Xã Hương Giang, Hương Phú, Thượng Lộ thuộc huyện Nam Đông (trong
đó Thượng Lộ là xã dân tộc thiểu số, tương ứng với tỷ lệ 42% dân tộc thiểu số trong
toàn huyện)
- Xã Hồng Kim, Hồng Vân, Phú Vinh thuộc huyện A Lưới (trong đó HồngKim, Hồng Vân là 2 xã dân tộc thiểu số, tương ứng với tỷ lệ 74% dân tộc thiểu sốtrong toàn huyện)
Bảng 2.6 Một số thông tin cơ bản về điểm nghiên cứu
HồngVân
PhúVinh1.Diện tích đất
2.3.2.1 Thu thập các số liệu thứ cấp (các số liệu đã công bố)
- Thu thập các số liệu liên quan đến thực trạng nuôi bò của địa phương
- Thu thập các số liệu đã công bố về tình hình chuyển giao và tiếp nhận các
TBKT trong chăn nuôi bò ở địa phương trong các năm qua
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, địa hình.
- Thu thập các số liệu về điều kiện kinh tế xã hội: các chính sách, quy định,
đặc tính văn hoá, tỷ lệ nghèo đói, cơ sở hạ tầng
Nguồn số liệu được thu thập thông qua các tài liệu, văn bản báo cáo, các côngtrình nghiên cứu liên quan; Niên giám thống kê, báo cáo kinh tế xã hội và nhữngbáo cáo liên quan của các xã, huyện thuộc vùng nghiên cứu, các cơ quan thống kê,phòng Nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông-lâm-ngư tỉnh và các trạm khuyếnnông huyện, các cơ quan chuyển giao
2.3.2.2 Các phương pháp thu thập số liệu mới
Để tiến hành thu thập thông tin số liệu về tình hình chuyển giao và tiếp nhận
TBKT về chăn nuôi bò ở địa phương, các phương pháp sau đây đã được sử dụng:
a Phương pháp phỏng vấn sâu: Một số thông tin có tính khái quát và chuyênmôn, thông tin về các chính sách mang tầm chiến lược, kết quả và hiệu quả đượclấy từ việc trao đổi, phỏng vấn cán bộ chuyên trách ở địa phương và những nôngdân am hiểu
b Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Questionare)
Để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra 240
hộ thuộc 6 xã của 2 huyện, trong đó:
- Nam Đông: 120 hộ
- A Lưới: 120 hộ
Các tiêu chí lựa chọn:
Đặc điểm hộ chăn nuôi bò ở 2 huyện Nam Đông và A Lưới bao gồm nhiều
loại hộ khác nhau (khá, trung bình, nghèo) với các điều kiện khác nhau Việc chọn
hộ điều tra cần phải mang tính đại diện cho các loại hộ với điều kiện sản xuất khácnhau Do vậy các tiêu chí chọn hộ điều tra là:
- Hộ có lao động, có tham gia sản xuất nông nghiệp
- Hộ phải có chăn nuôi bò
- Hộ đã được chuyển giao các TBKT chăn nuôi bò (không phân biệt từnguồn nào hay nhờ đâu)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40Loại hộ điều tra:
Về nguyên tắc, hộ điều tra phải đảm bảo đại diện cho các loại hộ khác nhau,
như: khá, trung bình và nghèo (được phân loại theo tiêu chí mới của Bộ Lao độngthương binh và Xã hội) Nhưng qua khảo sát thực tế tại 2 huyện, chúng tôi thấy:
- Tỷ lệ nhóm hộ nghèo và trung bình chiếm đa số trong tất cả các loại hộ ở
địa bàn nghiên cứu (bảng 2.6)
- Đây là nhóm đối tượng được các chương trình dự án chú ý và hướng tớitrong các hoạt động nghiên cứu hỗ trợ và chuyển giao TBKT về nông nghiệp nói
chung và chăn nuôi bò nói riêng
Hơn nữa, do hạn chế về thời gian và nguồn lực thực hiện, trong phạm vi đề
tài này chúng tôi chỉ tập trung vào nhóm hộ nghèo và trung bình mà vẫn đảm bảo
tính đại diện của địa bàn nghiên cứu
Cách chọn mẫu điều tra:
Căn cứ vào các tiêu chí trên, chúng tôi đã tiến hành chọn mẫu theo phương
pháp ngẫu nhiên, không lặp và có định hướng 240 hộ để tiến hành điều tra Số mẫu
điều tra được phân bố cụ thể như sau:
(Hộ)
Dân tộc khác(Hộ)
Tổng cộng(Hộ)
việc chuyển giao, tập huấn các TBKT về chăn nuôi cũng như những khó khăn, nhu
Trường Đại học Kinh tế Huế