Trong các đối tượng chịuthuế, doanh nghiệp là đối tượng có số thuế phải thu chiếm tỷ trọng cao trong ngânsách Nhà nước, được xem là thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và linh hoạt.Mặc
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực, chính xác và chưa bao giờ sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xincam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn vàcác thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 3 năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Hải
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợpvới kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bảnthân
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, côgiáo trường Đại học kinh tế Huế và các thầy cô giáo khác đã từng giảng dạy, đãnhiệt tình giúp đỡ cho tôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầygiáo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Hòa là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và
đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo, cán bộ công chức Chi cục thuếThị xã Bỉm Sơn, các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn Thị xã Bỉm Sơn đã giúp đỡtạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi động viên,khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếmkhuyết, tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, các cánhân có quan tâm đến vấn đề này để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 28 tháng 3 năm 2015
Nguyễn Hải
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên: Nguyễn Hải
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh mã số: 60 34 01 02 Niên khoá: 2013 -2015
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Hòa
Tên đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng các doanh
nghiệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá”
1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiệnquản lý thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn Thị xãBỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá;
Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lýthuế GTGT đối với các DN; Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuthuế GTGT các DN trên địa bàn Thị xã Bỉm Sơn giai đoạn 2011 - 2013; Đề xuấtđịnh hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế GTGT các DN trênđịa bàn Thị xã Bỉm Sơn đến năm 2020
Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ công chức thuế Chi cục thuế Thị xã Bỉm Sơn vàcác DN đăng ký kê khai, nộp thuế GTGT trên địa bàn Thị xã Bỉm Sơn
2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Phương pháp chung gồm phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;phương pháp thu thập số liệu; phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu dựa vào cácphần mềm trên máy tính Excel, SPSS; phương pháp phân tích ANOVA
3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Luận văn đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận về thuế GTGT và quản lýthu thuế GTGT Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế GTGT các DN,đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế GTGTcác DN trên địa bàn Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4GTGT Giá trị gia tăng
HC-NS-TV-AC Hành chính - Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉHHDV Hàng hóa dịch vụ
HSKT Hồ sơ khai thuế
LĐ Lao động
NNT Người nộp thuế
NSNN Ngân sách Nhà nước
SXKD Sản xuất kinh doanh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Diện tích, dân số, lao động Bỉm Sơn giai đoạn 2011 - 2013 42
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của Bỉm Sơn giai đoạn 2011 - 2013 43
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Thị xã Bỉm Sơn 445
Bảng 2 3 Tình hình cán bộ công chức của Chi cục thuế giai đoạn 2011 - 2013 47
Bảng 2.4 Số lượng doanh nghiệp theo loại hình DN năm 2011 - 2013 49
Bảng 2.5 Số lượng doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh năm 2011 - 2013 50
Bảng 2.6 Tình hình doanh nghiệp được cấp mã số thuế, kê khai thuế giai đoạn 2011-2013 51
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện dự toán thu NSNN của Chi cục thuế giai đoạn 52
2011 - 2013 52
Bảng 2.8 Tình hình nộp ngân sách của DN giai đoạn 2011 - 2013 52
Bảng 2.9 Tình hình nộp thuế GTGT của các DN theo ngành nghề kinh doanh giai đoạn 2011-2013 53
Bảng 2.10 Tình hình nợ thuế GTGT của các DN 55
Bảng 2.11 Tình hình hoàn thuế GTGT của các DN giai đoạn 2011 - 2013 55
Bảng 2.12 Tình hình kiểm tra hồ sơ khai thuế GTGT các DN giai đoạn năm 2011 -2013 .57
Bảng 2.13 Tình hình kiểm tra tại trụ sở DN giai đoạn 2011 - 2013 58
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỤC LỤC vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ 5
GIÁ TRỊ GIA TĂNG 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ 5
1.1.1 Khái niệm về thuế 5
1.1.2 Đặc điểm của thuế 6
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 7
1.1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước 8
1.1.3.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế 8
1.1.3.3 Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội 9
1.1.3.4 Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh 9
1.1.4 Bản chất, chức năng của thuế 10
1.1.4.1 Bản chất của thuế 10
1.1.4.2 Chức năng của thuế 10
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 71.1.5 Phân loại thuế 12
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 14
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng 14
1.2.1.1 Khái niệm 14
1.2.1.2 Đặc điểm 14
1.2.1.3 Vai trò 15
1.2.2 Nội dung cơ bản Luật thuế giá trị gia tăng 16
1.2.2.1 Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng 16
1.2.2.2 Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế 17
1.2.2.3 Quy định về hóa đơn khi mua bán hàng hóa, dịch vụ 19
1.3 QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Nội dung quản lý thu thuế giá trị gia tăng 20
1.3.2.1 Đăng ký, kê khai, nộp thuế, ấn định thuế 21
1.3.2.2 Khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng 26
1.3.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế 30
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ .31
1.4.1 Hệ thống chính sách, pháp luật thuế 31
1.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế 32
1.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin 32
1.4.4 Công tác tuyên truyền chính sách thuế 33
1.4.5 Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng 33
1.4.6 Sự tuân thủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, quan hệ thanh toán 34
1.4.7 Công tác kiểm tra, thanh tra của các cơ quan quản lý Nhà nước 34
1.5 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ GTGT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 34
1.5 1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới 34
1.5.1.1 Một số nước áp dụng thuế GTGT 34
1.5.1.2 Một số nước kinh tế phát triển chưa áp dụng thuế GTGT 38
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH
THANH HÓA 42
2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH CƠ BẢN THỊ XÃ BỈM SƠN 42
2.1.1 Vị trí địa lý 42
2.1.2 Dân số và lao động 42
2.1.3 Kinh tế 43
2.2 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ BỈM SƠN 44
2.2.1 Quá trình hình thành 44
2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 44
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của các đội thuế 45
2.2.4 Tình hình cán bộ thuế tại chi cục thuế 46
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ BỈM SƠN 48
2.3.1 Khái quát tình hình của các doanh nghiệp trên địa bàn 48
2.3.2 Vấn đề phân cấp quản lý doanh nghiệp 50
2.3.3 Công tác quản lý thu thuế GTGT các DN tại Chi cục thuế Thị xã Bỉm Sơn 50
2.3.3.1 Tình hình đăng ký, kê khai thuế của các DN 50
2.3.3.2 Tình hình nộp ngân sách của DN trên địa bàn 51
2.3.3.3 Công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 54
2.3.3.4 Công tác hoàn thuế GTGT 55
2.3.3.5 Công tác kiểm tra thuế 56
2.4 ĐÁNH GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT CÁC DN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN 58
2.4.1 Đánh giá của các doanh nghiệp về công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 59
2.4.2 Đánh giá của các doanh nghiệp về công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế 63
2.4.3 Đánh giá của các doanh nghiệp về công tác hoàn thuế GTGT 64
2.4.4 Đánh giá của các doanh nghiệp về việc kiểm tra thuế 66
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 92.5 ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC THUẾ VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT CÁC DN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM
SƠN 69
2.5.1 Đánh giá của cán bộ công chức thuế về công tác đăng ký, kê khai, nộp thuế 69
2.5.2 Đánh giá của cán bộ công chức thuế về hành vi không tuân thủ pháp luật thuế 71
2.5.3 Đánh giá cán bộ công chức thuế về việc kiểm tra thuế tại doanh nghiệp 74
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN 77
3.1 ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT CÁC DN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN 77
3.1.1 Định hướng chung 77
3.1.2 Định hướng cụ thể 78
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT CÁC DN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN 79
3.2.1 Giải pháp chung 79
3.2.1.1 Tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng 79
3.2.1.2 Tăng cường công tác quản lý hóa đơn, chứng từ 80
3.2.1.3 Về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng 80
3.2.1.4 Hiện đại hoá công nghệ thông tin ngành thuế 81
3.2.1.5 Tăng cường đào tạo đội ngũ công chức thuế 82
3.2.2 Giải pháp cụ thể 82
3.2.2.1 Quản lý chặt chẽ doanh nghiệp kê khai đăng ký thuế, nộp thuế 82
3.2.2.2 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại doanh nghiệp 83
3.2.2.3 Tăng cường công tác quản lý hóa đơn, chứng từ 85
3.2.2.4 Tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế 85
3.2.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 KẾT LUẬN 89
2 KIẾN NGHỊ 91
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 102.2 Đối với Cục thuế và Chi cục thuế 92
2.3 Đối với chính quyền địa phương, ban ngành liên quan: 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96 BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1 VÀ 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, thuế ra đời gắn liền với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cầnphải có nguồn tài chính để chi tiêu, nguồn tài chính này được huy động dưới bahình thức đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắtbuộc dân phải đóng góp Trong đó, hình thức dùng quyền lực Nhà nước bắt buộcdân phải đóng góp một phần thu nhập của mình, là hình thức ổn định và lâu dàinhất, hình thức này chính là thuế Do vậy, thuế là một khoản đóng góp mang tínhbắt buộc, cưỡng chế, có tính pháp lý cao
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một sắc thuế lớn, chủ đạo trong hệ thống thuếhiện nay của của nước ta Nguồn thu từ thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấuthu ngân sách Đây là một sắc thuế gián thu có sự tác động lớn và bao trùm tới hầuhết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Trong các đối tượng chịuthuế, doanh nghiệp là đối tượng có số thuế phải thu chiếm tỷ trọng cao trong ngânsách Nhà nước, được xem là thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ và linh hoạt.Mặc dù đã trải qua cải cách thuế các bước nhưng hiện tại hệ thống chính sách thuếnói chung, Luật thuế giá trị gia tăng nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợpvới một số đối tượng nộp thuế, một số quy định còn chưa khả thi, chưa phù hợp với
cơ chế quản lý thuế theo phương thức tự khai, tự nộp thuế Bên cạnh đó trình độnăng lực của một bộ phận cán bộ công chức thuế còn chưa đáp ứng được yêu cầutrong công cuộc cải cách hành chính, hiện đại hoá ngành thuế
Công tác quản lý thu thuế GTGT trong những năm qua của thị xã Bỉm Sơn đãđạt nhiều kết quả Tuy nhiên, công tác quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệpcòn chưa hoàn thiện như: việc tổ chức quản lý còn chưa phù hợp, lĩnh vực tuyêntruyền hỗ trợ người nộp thuế còn chưa sâu rộng, chưa phù hợp với từng nhóm đốitượng nộp thuế, nội dung và hình thức còn đơn điệu chưa thiết thực; ý thức chấphành của một số doanh nghiệp còn chưa cao nên còn hiện tượng thất thu thuế, kêkhai thuế còn nhiều sai sót, nợ đọng thuế còn cao và kéo dài; công tác thanh tra,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12kiểm tra thuế còn hạn chế Vì vậy hoàn thiện quản lý thu thuế GTGT sẽ góp phầnđảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế GTGT, tạo hành lang pháp lýthuận lợi, ổn định giúp các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế và tăng thu choNSNN Trong thời gian qua, quản lý thuế GTGT đã thu hút được sự quan tâmnghiên cứu của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chínhsách, đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý thu thuế GTGT trên địa bàntỉnh Thanh Hoá Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống và toàndiện về thuế GTGT trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác
quản lý thu thuế giá trị gia tăng các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuếGTGT các doanh nghiệp đăng ký kê khai, nộp thuế trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn,tỉnh Thanh Hoá Trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiệnquản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp để tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhànước
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn
- Thời gian nghiên cứu: Trong giai đoạn 2011-2013
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các nguồn: Tổng cục thuế, Cục thuế tỉnhThanh Hoá, Chi cục thuế thị xã Bỉm Sơn; niên giám thống kê, các báo cáo tài liệucủa các ngành ở thị xã Bỉm Sơn; các thông tin đã được công bố trên báo chí, tạp chí,Website của ngành thuế, các số liệu từ báo cáo khoa học đã được công bố, các côngtrình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả về lĩnh vực liên quan đến đề tài
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng cách khảo sát phỏng vấn các doanhnghiệp dựa trên số lượng doanh nghiệp mà Chi cục đang quản lý và số lượng cán bộcông chức thuế thuộc Chi cục thuế thị xã Bỉm Sơn Về doanh nghiệp năm 2011 sốlượng doanh nghiệp là 267 đơn vị, năm 2012 số lượng doanh nghiệp là 286 đơn vị,năm 2013 số lượng doanh nghiệp là 300 đơn vị Tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫunghiên với số lượng 80 đơn vị căn cứ tiêu thức ngành nghề kinh doanh: xây dựng;sản xuất; thương mại; dịch vụ; vận tải, khác
Về cán bộ: Số lượng cán bộ công chức năm 2011 là 45 người, năm 2012 là 44người, năm 2013 là 44 người, chọn ngẫu nhiên 35 cán bộ công chức thuế tiến hànhđiều tra
Phương pháp điều tra bằng cách phát phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn, nhằmđánh giá các quy định về việc kê khai đăng ký thuế, kế toán thuế, mức độ hài lòng củangười nộp thuế và cán bộ công chức thuế về công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộpthuế, công tác hoàn thuế, kiểm tra thuế tại doanh nghiệp của cơ quan thuế
Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn khảo sát cán bộ công chức thuế thuộc Chicục thuế nhằm thu nhập các dữ liệu quan trọng về tính hiệu quả của hệ thống quản
lý thuế nói chung và các chức năng quản lý thuế nói riêng
Số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp được thu thập và xử lý trên các phần mềmthông dụng như Microsoft Excel, SPSS
4.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê là phương pháp chủ yếu được sửdụng trong đề tài, cụ thể gồm phân tích các chỉ tiêu tương đối, tuyệt đối và số bìnhquân để đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu phân tích khi có sự thống nhất về
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14Phương pháp phân tích ANOVA
Phương pháp phân tích phương sai ANOVA được dùng để kiểm định sự khácnhau về trị trung bình các ý kiến đánh giá loại hình doanh nghiệp với nhau (của cáccán bộ công chức thuế) về công tác quản lý thu thuế GTGT và giữa các loại hìnhdoanh nghiệp (các cán bộ công chức thuế) với trung bình chung của tổng thể điều tra.Giả thiết được sử dụng để kiểm định:
H0;1 = 2= 3 = 4 - Không có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác
quản lý thu thuế GTGT trong mỗi loại hình DN và từngloại hình doanh nghiệp với trung bình chung của tổng thểnghiên cứu
- Không có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tácquản lý thu thuế GTGT trong mỗi nhóm cán bộ công chức
và giữa các nhóm với trung bình chung của tổng thể nghiêncứu
DN với trung bình chung của tổng thể nghiên cứu
- Có sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác quản lýthu thuế GTGT trong mỗi loại nhóm cán bộ công chức vàgiữa các nhóm với trung bình chung của tổng thể nghiêncứu
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quản lý thu thuế GTGT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT các doanh nghiệp trênđại bàn Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế GTGT cácdoanh nghiệp trên đại bàn Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm về thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là mộttất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Tronglịch sử, khi nghiên cứu về thuế C.Mác cho rằng: “ Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máyNhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu tiền hay sản vật mà người dân phảiđóng góp để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước”[20] Ăng Ghen cũng đã viết: “Đểduy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước,
đó là thuế”[20] Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, nhànước dùng quyền lực chính trị buộc người dân phải đóng góp một phần thu nhậpcủa mình cho ngân sách nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy độngtập trung nguồn tài chính cho nhà nước, hình thức đóng góp đó chính là thuế
Như vậy, thuế luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Bảnchất của Nhà nước quy định bản chất giai cấp của thuế [19]
Cho đến nay trong các tài liệu sách báo kinh tế trên thế giới viết về thuế vớikhái niệm về thuế khác nhau và vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế.Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhauthì có định nghĩa về thuế khác nhau
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn giáo trình tài chính công đưa ramột định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền,
có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhànước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”.Trên góc độ phân phối thu nhập người ta đưa ra khái niệm: “Thuế là hình thứcphân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu choviệc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”
Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổchức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứngnhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”[12]Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêulên khái niệm tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và phápnhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định Khoản chuyển giao thunhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu công cộng Nguồn thu về thuếkhông được sử dụng cho mục tiêu cá nhân[12]
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển vàbiểu hiện thành những đặc trưng riêng của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với cáccông cụ khác
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Phương pháp đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc thuế là mộtkhoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, trong trường hợp không có tiền thì phải quyđổi những tài sản, hiện vật của mình ra tiền để thanh toán nợ thuế bằng tiền, khithanh toán hết nợ thuế mới được xem là hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ củamình đối với nhà nước
- Tính cưỡng chế và tính pháp lý cao
Đặc điểm này được thể chế hóa trong Hiến pháp của mỗi quốc gia Trong cácquốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắtbuộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước Các tổ chức kinh tế vàcông dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các Luật thuế cụ thể được cơ quan quyền lựctối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các hoạt động và thu nhập của từng tổchức kinh tế và công dân Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện nghĩa vụ thuếcủa mình, tức là họ đã vi phạm Luật pháp của quốc gia đó[12]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản đóng góp mangtính tự nguyện cho NSNN.
Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng thuế là biện pháp tài chính mang tính chấtbắt buộc của Nhà nước, nhưng sự bắt buộc đó luôn được xác lập dựa trên nền tảngcủa các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế thế giới
- Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp
Nhà nước thu thuế từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân nhưng không phảihoàn trả lại trực tiếp cho người nộp thuế sau một khoảng thời gian với một khoảntiền mà họ đã nộp vào NSNN
Số tiền thuế thu được, Nhà nước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng, phục
vụ cho nhu cầu của Nhà nước và mỗi cá nhân trong xã hội Mọi cá nhân, người nộpthuế cho Nhà nước cũng như người không nộp thuế, người nộp thuế nhiều cũng nhưngười nộp thuế ít, đều bình đẳng trong việc nhận được các phúc lợi công cộng từphía Nhà nước, được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận
mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ
1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhànước và đời sống xã hội Bởi trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nướctập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên quỹ ngân sáchNhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thông quaviệc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉquy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể,các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế Pháp luật thuế là sự thể chế hoá cácchính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tốquyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và có vai trò quan trọng đối với nềnkinh tế và đời sống xã hội
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong nhữngđiều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vaitrò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuếđược thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
1.1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hìnhthành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó làngân sách nhà nước NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảmbảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thôngthường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN Đây lànguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềmnăng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêucủa NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội có trách nhiệmphải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góptài chính cho nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp
1.1.3.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, thể hiện việc xây dựngđúng đắn cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa các sắc thuế, việc xác định hợp
lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm thuế, chínhsách thuế đã tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các cơ sở sản xuất kinhdoanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào chính sách thuế
mà nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư và tiêu dùng xã hội
Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đếncung - cầu, điều chỉnh cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác động lớnđến sự ổn định, tăng trưởng kinh tế và trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưuthông đến tiêu dùng
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt động quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tếthị trường Nhà nước có thể khuyến khích hoặc hạn chế việc tiêu dùng đối với một
số hàng hóa, dịch vụ, như tăng hoặc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuấtnhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…đối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùngnhững loại hàng hóa đó
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19Khuyến khích, bảo hộ những hoạt động sản xuất kinh doanh các mặt hàng thiếtyếu cho nhu cầu của đời sống xã hội; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề,mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí.Thuế còn khuyến khích việc đầu tư phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinhdoanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong việc tranh thủvốn hợp tác của nước ngoài để phát triển kinh tế hàng hóa, không ngừng nâng cao khảnăng tích lũy, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước.Thuế thúc đẩy mở rộng thị trường một cách lành mạnh, vừa khuyến khích giaolưu văn hóa, vừa đấu tranh hạn chế mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian,đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệch giá
1.1.3.3 Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phầnkinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội vềquyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân và pháp nhân Sự bình đẳng và côngbằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau (thuế suất) giữa các
tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực,bảo đảm sự công bằng và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ với công dân, không
có những đặc quyền, đặc lợi cho bất cứ đối tượng nào Thuế kích thích mọi côngdân, doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và cóthu nhập cao một cách chính đáng
1.1.3.4 Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh
Qua công tác quản lý thu thuế trong thực tế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểmsoát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh Qua công tácquản lý thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện những việc làm sai trái, vi phạm Luậtcủa các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoặc nhận ra những khó khăn,vướng mắc mà họ gặp phải để giúp họ tìm biện pháp tháo gỡ Như vậy, từ công tácquản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hàng, cáchoạt động của các cơ sở kinh doanh đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 201.1.4 Bản chất, chức năng của thuế
1.1.4.1 Bản chất của thuế
Bản chất của nhà nước quy định bản chất của thuế Về mặt lý luận, bản chấtcủa nhà nước vốn mang tính giai cấp, vì vậy bản chất thuế cũng mang tính giai cấp.Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế.Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước Thuế là nghĩa vụ cơ bản củacông dân đã được quy định trong Hiến pháp; thuế là một phần thu nhập của các tầnglớp dân cư bắt buộc phải nộp thuế cho Nhà nước; thuế là một hình thức chuyển giaothu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhà nướcthu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để chi cho phát triển cơ sở hạtầng, chi cho phúc lợi công cộng, chi cho văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, an ninh,quốc phòng…
Hiến pháp nước ta năm 1992, Điều 80 ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụ đóngthuế và lao động công ích theo quy định pháp luật” Tuy nhiên, Nhà nước cần phảithu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế thườngmuốn nộp thuế càng ít càng tốt Khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật của ngườidân còn chưa cao thì tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ thuế là điều không thểtránh khỏi, dẫn đến công tác quản lý thu thuế luôn gặp những khó khăn nhất định
Có thể nói bản chất của thuế là thể hiện tính quyền lực của Nhà nước dựa trên cácvăn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý và cưỡng chế cao
1.1.4.2 Chức năng của thuế
Chức năng của thuế là sự thể hiện công dụng vốn có của thuế, nó có tính ổnđịnh tương đối Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển, thuế luôn thực hiện cácchức năng sau:
- Chức năng huy động nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập
Là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiệndùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểuNhà nước) Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế Thông qua chức năng này, các quỹtiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sựhoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước Bằng chính chức năng này, Nhànước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thunhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập là sựhuy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào Ngân sách Nhànước Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sửdụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau đó lạiđược Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, tạo ra tính côngbằng tương đối cho xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngàycàng quan trọng Điều này được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năngcủa Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc canthiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế.
- Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy địnhcác hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đốitượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năngcủa người nộp thuế, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn giảm thuế
Chức năng điều tiết của thuế được thể hiện qua việc nhà nước kích thích cáchoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích xã hội Bằng cách sử dụng
nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu đi sựtích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư.Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tếquốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong điều kiện chuyển sang cơ chếthị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao Nhànước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nềnkinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tínhchất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Giữa các chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau,chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sựvận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuếcũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập.
Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của
sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất củaNhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện
để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mởrộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại, đồng thời cũngthực hiện tốt chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâuthuẫn nội tại trong mỗi chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phânphối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Điều đó có nghĩa là mở rộngkhả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội.Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách quámức làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm động lực phát triển kinh tế,trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Đó là tínhhai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tíchcực nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tácđộng đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định,xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từnggiai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định
1.1.5 Phân loại thuế
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luậtthuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Để định hướng xây dựng và quản lý hệthống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khácnhau, gọi là phân loại thuế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuếthành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tùy thuộc vào mụctiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dungcủa Luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thôngthường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
+ Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhànước, thuế được phân làm hai loại: Thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần
thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đốivới người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗngười nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một
bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất,kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là những người phải chịuthuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt [19]
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các
pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quyđịnh của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên, điềutiết thu nhập của người chịu thuế Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: thuế thunhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp…[19]
Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọngtrong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
+ Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Theo cách phân loại này thuế được chiathành: Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng,thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt.Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Thuếđánh vào tài sản như thuế nhà đất (Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp), thuế đánh vàoviệc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa pháthuy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiệnmột cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò hệ thống pháp luật thuế.
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng
GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra vớitổng trị giá HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế:
Tổng giá trị HHDV bán ra
-Tổng giá trị HHDV mua vào tương ứng
Thực chất thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùnghàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế giánthu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm dưới đây của thuế GTGT
1.2.1.2 Đặc điểm
Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT Là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, làkhoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá
cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT
Số thuế GTGT =
GTGT của HHDV chịu thuế
X Thuế suất thuế GTGT của
HHDV đó
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong đó Tổng số thuếGTGT thu được ở các giai đoạn sẽ bằng thuế của GTGT tính trên giá bán cho ngườitiêu dùng cuối cùng
Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, tính trung lập biểu hiện ởhai khía cạnh:
Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh củangười nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộkhoản thuế này vào NSNN Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sảnxuất mà chỉ đơn thuần là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấphàng hoá dịch vụ
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chiaquá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng sốthuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít
Về phạm vi đánh thuế: Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ratrong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ
1.2.1.3 Vai trò
Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ
mô đối với nền kinh tế Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất quantrọng và được thể hiện như sau:
Một là, thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu
dùng HHDV chịu thuế GTGT
Hai là, thuế GTGT là khoản thu quan trọng của Ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT tạo nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước
Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm tỷ trọng khoảng 20-23% trong tổngthu từ thuế, phí và lệ phí
Thuế GTGT không trùng lắp, do thuế GTGT chỉ tính vào giá trị tăng thêm củaHHDV qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, không tính vào phần giá trị đã chịu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trước được tính khấu trừ ở khâusau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinhdoanh, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế,phù hợp với phát triển kinh tế thị trường.
Ba là, khuyến khích xuất khẩu HHDV thông qua áp dụng thuế suất 0%,
doanh nghiệp xuất khẩu HHDV không những không phải chịu thuế GTGT ở khâuxuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tácdụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá HHDVxuất khẩu trên thị trường quốc tế
Bốn là, thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng
từ và thanh toán qua ngân hàng
Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT khắcphục nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là “thuế chồng lên thuế”; thuếGTGT có nhiều ưu điểm, tác dụng tích cực tới khuyến khích sản xuất kinh doanh,xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN
1.2.2 Nội dung cơ bản Luật thuế giá trị gia tăng
1.2.2.1Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
- Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cánhân ở nước ngoài)
- Đối tượng không chịu thuế GTGT
Bao gồm 26 loại hàng hóa dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.Gồm các nhóm hàng hoá, dịch vụ mang tính chất thiết yếu phục vụ nhu cầu đờisống xã hội, không mang tính chất kinh doanh; nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc cáchoạt động ưu đãi vì mục tiêu xã hội, nhân đạo; nhóm hàng hoá, dịch vụ của một sốngành sản xuất còn gặp nhiều khó khăn cần khuyến khích phát triển; nhóm hànghoá, dịch vụ xác định theo yêu cầu, mục tiêu từng giai đoạn phát triển kinh tế - xãhội của nhà nước; nhóm hàng nhập khẩu nhưng thực chất không phục vụ cho hoạtđộng SXKD và tiêu dùng tại Việt Nam; nhóm hàng hoá mang tính chất phục vụ nhucầu đặc biệt của nhà nước hoặc cần bảo mật; nhóm hàng hoá, dịch vụ của cá nhân
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27kinh doanh có mức thu nhập thấp; nhóm hàng hoá, dịch vụ khó xác định được thuếGTGT; nhóm hàng hoá, dịch vụ khác [18].
- Đối tượng nộp thuế GTGT
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịuthuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh
và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài chịu thuếGTGT đều là đối tượng nộp thuế GTGT [18]
1.2.2.2 Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế
* Căn cứ tính thuế
Là giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT
- Giá tính thuế giá trị gia tăng
+ Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ màngười mua đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho người bán.Thông thường giátính thuế là giá bán chưa có thuế GTGT được xác định trên hoá đơn của người bán
+ Thời điểm để xác định giá tính thuế GTGT là thời điểm cơ sở kinh doanh
đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ (đối với trường hợpxây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục côngtrình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành), không phân biệt đã thu được tiềnhay chưa thu được tiền
- Thuế suất thuế giá trị gia tăng
Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi Luật thuế, thể hiện quan điểmmức động viên của Nhà nước với đối tượng chịu thuế Việc quy định thuế suất hợp
lý có ý nghĩa quan trọng
Luật thuế GTGT của Việt Nam có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 quy định bốnmức thuế suất (0%, 5%, 10%, 20%); sau một thời gian áp dụng và để hoàn thiện Luật
đã được điều chỉnh, hiện nay chỉ còn ba mức thuế suất là 0%, 5% và 10%
*Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:
Luật thuế GTGT hiện hành quy định 2 phương pháp tính thuế GTGT bao gồm:phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28Áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn,chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộpthuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
Số thuế GTGT phải nộp theo
phương pháp khấu trừ thuế =
Thuế GTGTđầu ra -
Thuế GTGT đầuvào được khấu trừ
Trong đó:
Thuế GTGT
đầu ra
=Giá tính thuế của hàng hoá,dịch vụ chịu thuế bán ra
xThuế suất thuế GTGT của
HHDVThuế GTGT đầu vào bằng (=) Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGTmua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho SXKD hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa nhậpkhẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nhà thầu nước ngoài theo hướngdẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cáchpháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinhtại Việt Nam
Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
Áp dụng cho cá nhân, hộ kinh doanh, cơ sở SXKD chưa đáp ứng được đầy đủchế độ kế toán, hoá đơn chứng từ; Cơ sở kinh doanh mua, bán ngoại tệ, vàng, bạc,
đá quý
Số thuế GTGT
phải nộp =
GTGT của hàng hoá,dịch vụ chịu thuế x
Thuế suất thuế GTGTcủa hàng hoá, dịch vụ đó
Có 3 cách xác định GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế:
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch
vụ có hóa đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán:
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ bán ra =
Doanh số của hànghoá, dịch vụ bán ra -
Giá vốn của hàng hoá,dịch vụ bán ra
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29Trường hợp cơ sở SXKD không hạch toán được giá trị vật tư, hàng hoá, dịch
vụ mua vào dùng cho sản xuất kinh doanh đối với số hàng hoá, dịch vụ bán ra thìgiá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra xác định như sau:
Giá vốn hàng
bán ra =
Giá trị tồnđầu kỳ +
Giá trị muatrong kỳ -
Giá trị tồncuối kỳ
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hànghóa, dịch vụ, xác định được đúng doanh số bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bánhàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ:
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ = Doanh số x
Tỷ lệ (%) GTGTtính trên doanh số
- Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hóađơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ thì cơ quan thuế ấn định mức doanh số tính thuế:
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ =
Doanh số do cơquan thuế ấn định x
Tỷ lệ(%) GTGTtính trên doanh số
1.2.2.3 Quy định về hóa đơn khi mua bán hàng hóa, dịch vụ.
Trách nhiệm của cá nhân, cơ sở kinh doanh khi bán hàng hóa, dịch vụ:
- Khi bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh phải lập và giao hoáđơn cho khách hàng
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừthuế khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hóa đơnGTGT (trừ trường hợp được dùng hóa đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán làgiá đã có thuế GTGT)
Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bánhàng hóa, dịch vụ phải sử dụng hóa đơn bán hàng thông thường
- Các trường hợp bán hàng hoá, dịch vụ sau đây không bắt buộc phải lập hoáđơn GTGT: Bán lẻ hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng có giá trị dưới 200.000đồng mỗi lần bán, nếu người mua không yêu cầu lập và giao hoá đơn Nếu ngườimua hàng yêu cầu lập và giao hoá đơn thì người bán hàng vẫn phải lập và giao hoá
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30đơn đúng quy định Cuối ngày phải lập bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ theo quyđịnh để làm căn cứ tính thuế.
- Khi lập hóa đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quyđịnh trên hóa đơn, những chỉ tiêu không sử dụng phải gạch bỏ và thống nhất nộidung giữa các liên; hoá đơn phải ghi đúng số lượng, chủng loại, giá bán hàng hoá,dịch vụ; phải bảo quản, lưu giữ hoá đơn đúng quy định của pháp luật Đối với hóađơn GTGT phải ghi rõ giá bán chưa có thuế GTGT, phụ thu và phí tính ngoài giábán (nếu có), thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu không ghi tách riênggiá bán chưa có thuế và thuế GTGT, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế GTGTđầu ra phải tính trên giá thanh toán
1.3 QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.3.1 Khái niệm
Quản lý thuế là quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện nhữngquy định trong Luật thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào ngânsách Nhà nước theo luật định [19]
Quản lý thuế là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan thuế Nhà nướccác cấp trên cơ sở của Luật và để thi hành Luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức,quản lý, điều hành các hoạt động thu thuế của Nhà nước Nói cách khác, quản lýthuế chính là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, được thực hiện bởi ít nhấtmột bên có thẩm quyền hành chính Nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành.Quản lý thuế là hoạt động đảm bảo thực thi chính sách thuế trong thực tế, trong đóvai trò của cơ quan thuế rất quan trọng khi tác động lên NNT để đảm bảo tính hiệulực đáp ứng mục đích thu cho NSNN Quản lý thuế chủ yếu được thực hiện bởi hệthống cơ quan thuế Nhà nước: Tổng cục thuế ở Trung ương, Cục thuế, chi cục thuế
ở các địa phương [21]
1.3.2 Nội dung quản lý thu thuế giá trị gia tăng
Để huy động các khoản thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cần thiết,nhà nước cần ban hành các chính sách thuế và để đưa được các chính sách thuế vàocuộc sống thì phải có hệ thống quản lý thuế để tổ chức thực thi chính sách thuế.Giữa hai nội dung này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hệ thống chính sách thuế là
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31cơ sở tiền đề để hình thành hệ thống quản lý thuế và ngược lại hệ thống quản lýthuế là nơi tổ chức thực hiện chính cách thuế.
Theo Điều 3 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội khoá XIthông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 22/11/2006, nội dung quản lý thuế gồm:
- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
- Quản lý thông tin về người nộp thuế
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Các quy định của Luật quản lý thuế đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chếquản lý thuế mới, cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước phápluật của NNT Cơ quan thuế chuyển sang mô hình quản lý theo chức năng
Các nội dung trên đã được Tổng cục thuế cụ thể hóa bằng các quy trình đểquản lý thu thuế theo mô hình chức năng: Quản lý đăng ký thuế; Quản lý khai thuế,nộp thuế và kế toán thuế (theo quyết định số 1864/QĐ-TCT ngày 21 tháng 12 năm
2011 của Tổng cục trưởng tổng cục thuế); Kiểm tra (theo quyết định số TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng tổng cục thuế); Miễn giảmthuế (theo quyết định số 1444/QĐ-TCT ngày 24 tháng 10 năm 2011 của Tổng cụctrưởng tổng cục thuế); Hoàn thuế (theo quyết định số 905/QĐ-TCT ngày 1 tháng 7năm 2011 của Tổng cục trưởng tổng cục thuế); Quản lý nợ thuế (theo quyết định số1395/QĐ-TCT ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng tổng cục thuế)
528/QĐ-1.3.2.1 Đăng ký, kê khai, nộp thuế, ấn định thuế
+ Đăng ký thuế
Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký thuế chậm nhất là mười ngày
kể từ ngày được cấp phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32hợp cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng cóhoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở phải đăng ký thuế trước khi kinh doanh.
Cơ sở kinh doanh, kể cả các chi nhánh, cửa hàng trực thuộc cơ sở kinh doanhchính phải đăng ký thuế với cơ quan thuế về địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinhdoanh, lao động, tiền vốn, nơi đăng ký nộp thuế và các chỉ tiêu liên quan khác theomẫu đăng ký thuế và theo hướng dẫn của cơ quan thuế
Các cơ sở đã đăng ký thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển trụ
sở kinh doanh sang địa điểm khác, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản, hợp nhấthay thành lập các công ty, chi nhánh, cửa hàng mới… phải đăng ký bổ sung với cơquan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sự thay đổi đó [19]
Cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương (tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương) nhưng có các cơ sở hạch toán phụ thuộc, nhưcông ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực tiếp bán hàng hoá, dịch vụ ởmột địa phương khác thì cơ sở kinh doanh phải đăng kí nộp thuế với cơ quan thuếnơi đóng trụ sở, các cơ sở hạch toán phụ thuộc cũng phải đăng ký nộp thuế GTGTvới cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở hạch toán phụ thuộc đóng trụ sở [19]
+ Kê khai thuế GTGT
Khai thuế GTGT là loại khai thuế theo tháng (trừ một số trường hợp khác).NNT nộp hồ sơ khai thuế GTGT cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp Thời gian gửi
hồ sơ khai thuế của tháng cho cơ quan thuế chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếptheo NNT phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu quy định và chịu trách nhiệm về tínhchính xác trong hồ sơ khai thuế gửi cho cơ quan thuế Trường hợp sau khi hết hạnnộp hồ sơ khai thuế theo quy định, NNT phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơquan thuế có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổsung hồ sơ khai thuế Hồ sơ khai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất
cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lầntiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyếtđịnh kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở NNT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33Trường hợp NNT có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương cùng nơi NNT có trụ sở chính thì thực hiện khaithuế GTGT chung cho cả đơn vị trực thuộc Nếu đơn vị trực thuộc có con dấu, tàikhoản tiền gửi ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuếGTGT đầu vào, đầu ra có nhu cầu kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuếriêng và sử dụng hóa đơn riêng.
Trường hợp NNT có đơn vị trực thuộc kinh doanh ở địa phương cấp tỉnh khácnơi NNT có trụ sở chính thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế GTGT cho cơquan thuế quản lý trực tiếp của đơn vị trực thuộc; nếu đơn vị trực thuộc không trựctiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu thì thực hiện khai thuế tập trung tại trụ sởchính của NNT
Trường hợp NNT kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có cơ sở sảnxuất trực thuộc (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) không trực tiếp bán hàng,không phát sinh doanh thu đóng trên địa bàn cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính thì:
Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc có hạch toán kế toán thì phải đăng ký nộpthuế theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi sản xuất, khi điều chuyển bánthành phẩm hoặc thành phẩm, kể cả xuất cho trụ sở chính phải sử dụng hoá đơnGTGT làm căn cứ kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi sản xuất [24]
Nếu cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán thì thực hiệnkhai thuế tại trụ sở chính và nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trựcthuộc Số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộcđược xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặctheo tỷ lệ 1% (đối với hàng hoá chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theogiá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địaphương nơi có cơ sở sản xuất [24]
Trường hợp tổng số thuế GTGT phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sảnxuất trực thuộc do NNT xác định theo nguyên tắc nêu trên lớn hơn số thuế GTGT
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc như sau: Số thuế GTGT phải nộp cho địaphương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định bằng (=) số thuế GTGT phảinộp của người nộp thuế tại trụ sở chính nhân (x) với tỷ lệ (%) giữa doanh thu theogiá chưa có thuế GTGT của sản phẩm do cơ sở trực thuộc sản xuất ra hoặc sảnphẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên tổng doanh thutheo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra của toàn doanh nghiệp NếuNNT không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở chính thì không phải nộp thuế chocác địa phương nơi có cơ sở sản xuất [24].
NNT phải lập và gửi “Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ
sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiệnhạch toán kế toán” theo mẫu số 01-6/GTGT cùng với hồ sơ khai thuế tới cơ quanthuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi một bản Bảng phân bổ mẫu số 01-6/GTGT nêutrên tới các cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất trực thuộc
Căn cứ số thuế GTGT được phân bổ giữa địa phương nơi đóng trụ sở chínhcủa NNT và các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên Bảng phân bổtheo mẫu số 01-6/GTGT nêu trên, NNT lập chứng từ nộp thuế GTGT cho địaphương nơi có trụ sở chính và từng địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tạiKho bạc nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi trụ sở chính đăng ký kê khai thuế
và địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc [24]
Trường hợp NNT có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãnglai mà không thành lập đơn vị trực thuộc tại địa phương cấp tỉnh khác nơi ngườinộp thuế có trụ sở chính thì phải nộp hồ sơ khai thuế cho Chi cục Thuế quản lý tạiđịa phương có hoạt động xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai đó
Trường hợp NNT có công trình xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnh liên quan tới nhiềuđịa phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn nước,dẫn dầu, dẫn khí v.v., không xác định được doanh thu của công trình ở từng địaphương cấp huyện thì khai thuế GTGT của doanh thu xây dựng, lắp đặt ngoại tỉnhchung với hồ sơ khai thuế GTGT tại trụ sở chính [24]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35Các trường hợp khai thuế GTGT khác: Khai thuế GTGT tạm tính theo từng lầnphát sinh đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai ngoạitỉnh; Khai thuế GTGT theo từng lần phát sinh đối với thuế GTGT theo phương pháptrực tiếp trên doanh số của người kinh doanh không thường xuyên.
+ Nộp thuế
NNT có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn thuế GTGT vào NSNN Trường hợpNNT tự tính, tự khai thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thờihạn nộp hồ sơ khai thuế Trường hợp cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định thuế thìthời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế
NNT nộp thuế vào NSNN bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản Cơ quan thuế, Khobạc nhà nước, ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng nơi thu tiền thuế cótrách nhiệm hướng dẫn cách lập chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước, NNTphải ghi đầy đủ, chi tiết các thông tin trên chứng từ nộp tiền thuế do Bộ Tài chínhquy định
Đối với NNT nộp thuế bằng tiền mặt thì ngày đã nộp thuế được xác định làngày Kho bạc nhà nước hoặc cơ quan thuế xác nhận việc thu tiền trên chứng từ thuthuế bằng tiền mặt Đối với NNT nộp thuế bằng chuyển khoản, NNT làm thủ tụcnộp thuế bằng giấy nộp tiền vào NSNN, thời gian nộp tiền thuế vào NSNN đượctính từ ngày Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng nhận và làm thủ tục trích chuyểntiền từ tài khoản của NNT vào NSNN và được Kho bạc nhà nước hoặc ngân hàngxác nhận trên giấy nộp tiền [24]
+ Ấn định thuế: Đối với trường hợp NNT nộp thuế theo phương pháp kê khai
vi phạm pháp luật thuế
- Không đăng ký thuế theo quy định tại Điều 22 của Luật Quản lý thuế;
- Không nộp hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thờihạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuếtheo quy định;
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36- Không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế hoặc
đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung thực, chính xác các căn cứtính thuế để xác định số thuế phải nộp;
- Không xuất trình tài liệu kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu liên quanđến việc xác định các yếu tố làm căn cứ tính thuế khi đã hết thời hạn kiểm tra thuế,thanh tra thuế tại trụ sở của NNT;
- Trường hợp kiểm tra thuế, thanh tra thuế, có căn cứ chứng minh NNT hạchtoán kế toán không đúng quy định, số liệu trên sổ kế toán không đầy đủ, khôngchính xác, trung thực dẫn đến không xác định đúng các yếu tố làm căn cứ tính sốthuế phải nộp;
- Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thuế;
- Đã nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan quản lý thuế nhưng không tự tính được
số thuế phải nộp [24]
1.3.2.2 Khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng
+ Khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không đượcbồi thường của hàng hoá chịu thuế GTGT bị tổn thất Trường hợp hàng hoá có hao hụt
tự nhiên do tính chất lý hoá trong quá trình vận chuyển, bơm rót như xăng, dầu… thìđược kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hoá thực tế hao hụt tựnhiên không vượt quá định mức hao hụt theo quy định Số thuế GTGT đầu vào của sốlượng hàng hoá hao hụt vượt định mức không được khấu trừ, hoàn thuế;
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất,kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ đượckhấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT CSKD phải hạch toán riêng thuế GTGTđầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh số chịu thuế GTGT
so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra;
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho SXKD hànghoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ;Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá (kể cả hàng hoá mua ngoài hoặc hàng hoá
do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyếnmại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuếGTGT thì được khấu trừ;
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh mua vào để SXKDhàng hoá, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế đểviện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ toàn bộ;
Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khixác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn đểtrong kho;
Trường hợp CSKD phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừcòn sót hoá đơn chưa kê khai, khấu trừ thì được kê khai, khấu trừ bổ sung [35]
Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
Có hoá đơn GTGT hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từnộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nướcngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính;
Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (baogồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giátrị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theogiá đã có thuế GTGT Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu thì phải có hợp đồng kívới bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hoá, cung ứng dịch vụ; hoá đơn bánhàng hoá, dịch vụ; chứng từ thanh toán qua ngân hàng; tờ khai hải quan đối vớihàng hoá xuất khẩu Việc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu với hàng hoá,dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng [25]
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38+Hoàn thuế giá trị gia tăng:
Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT:
CSKD nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn thuế GTGT nếutrong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết Sốthuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoànthuế Trường hợp này áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGTtheo phương pháp khấu trừ thuế có dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng
CSKD mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuếGTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏdầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ
01 năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tưtheo từng năm Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ muavào sử dụng cho đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT
Trường hợp CSKD đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theophương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cơ sở sản xuất mới tại địa bàn tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang tronggiai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng kýthuế, nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ
200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư Cơ sở kinhdoanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với trường hợp này Trường hợp
có ban quản lý dự án thì ban quản lý dự án thực hiện đăng ký, kê khai lập hồ sơhoàn thuế riêng với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký thuế Khi dự án đầu tưthành lập doanh nghiệp mới đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinhdoanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp sốthuế GTGT phát sinh, số thuế GTGT đã hoàn, số thuế GTGT chưa được hoàn của
dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện
kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế GTGT theo quy định với cơ quan thuế quản
lý trực tiếp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39CSKD trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu thuế GTGT đầu vàocủa hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồngtrở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng CSKD trong tháng vừa có hàng hoá, dịch
vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, có số thuế GTGT đầu vàocủa hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200triệu đồng trở lên, nhưng sau khi bù trừ với số thuế GTGT đầu ra của hàng hoá,dịch vụ bán trong nước trên tờ khai của tháng phát sinh, nếu số thuế GTGT đầu vàocủa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ
sở kinh doanh không được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào củahàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì cơ sởkinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu.Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, là cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu;đối với gia công chuyển tiếp, là cơ sở ký hợp đồng gia công xuất khẩu với phíanước ngoài; đối với hàng hoá xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nướcngoài, là doanh nghiệp có hàng hoá, vật tư xuất khẩu thực hiện công trình xây dựng
ở nước ngoài; đối với hàng hoá xuất khẩu tại chỗ là cơ sở kinh doanh có hàng hoáxuất khẩu tại chỗ
CSKD quyết toán thuế khi chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu;giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có số thuế GTGT đầu vào chưađược khấu trừ hết hoặc có số thuế GTGT nộp thừa Trường hợp CSKD trong giaiđoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh giải thể không phát sinhthuế GTGT đầu ra của hoạt động kinh doanh chính theo dự án đầu tư thì khôngthuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT Trường hợp CSKD đã được hoàn thuế cho
dự án đầu tư thì phải truy hoàn số thuế đã được hoàn
Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợphát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợnhân đạo: Đối với dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại: chủ chương trình, dự ánhoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40mua ở Việt Nam để sử dụng cho chương trình, dự án; Tổ chức ở Việt Nam sử dụngtiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá, dịch vụphục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại ViệtNam thì được hoàn thuế GTGT đã trả của hàng hoá, dịch vụ đó.
Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháplệnh về Ưu đãi miền trừ ngoại giao mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụngđược hoàn thuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toánghi giá thanh toán đã có thuế GTGT
CSKD có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật
1.3.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Nguyên tắc chung về thanh tra, kiểm tra thuế: Thanh tra, kiểm tra thuế phảitrên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT; đánh giá việc chấp hànhpháp luật của NNT; xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạmpháp luật về thuế; không cản trở hoạt động bình thường của của cơ quan, tổ chức, cánhân là người nộp thuế; trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế phải tuân thủ theoquy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan,đảm bảo tính đúng đắn khách quan, công khai, dân chủ
Mục đích của công tác thanh tra, kiểm tra thuế là nhằm phát hiện những saisót để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuếnhằm hạn chế mức thấp nhất tình trạng thất thu cho NSNN, nâng cao ý thức chấphành pháp luật thuế cho NNT và cho người thực thi công vụ trong ngành thuế;phát hiện nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thựctiễn nhằm kiến nghị với các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoànthiện hệ thống thuế
Nội dung của công tác thanh tra, kiểm tra thuế tập trung vào việc chấp hànhnhững quy định về đăng ký thuế, kê khai nộp thuế, chế độ kế toán, hoá đơn chứngtừ; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ