1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế

84 418 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 502,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với yêu cầu vừa phát triển quy mô, vừa đảm bảo chất lượngđào tạo, đồng thời phải huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính phục vụ chomục tiêu đào tạo, các cơ sở giáo dục nước ta đ

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn CNH, HĐH với mục tiêu đến năm 2020Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp, theo hướng hiện đại hội nhập vớicộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hộinhập quốc tế là con người, là nguồn nhân lực Việt Nam được phát triển cả về sốlượng, chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Vì vậy, phải chăm lođến nguồn lực con người, chuẩn bị lực lượng lao động có những phẩm chất và nănglực đáp ứng đòi hỏi của đất nước

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội thời kỳ CNH, HĐH trong những năm qua chi ngân sách nhànước cho hoạt động giáo dục đã không ngừng tăng lên góp phần quan trọng vào quátrình phát triển giáo dục Với yêu cầu vừa phát triển quy mô, vừa đảm bảo chất lượngđào tạo, đồng thời phải huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính phục vụ chomục tiêu đào tạo, các cơ sở giáo dục nước ta đang đứng trước những cơ hội mới, bêncạnh đó khó khăn, thách thức mà các đơn vị gặp phải ngày càng trở nên gay gắt đòihỏi các đơn vị sự nghiệp GDĐT cần quan tâm, chú trọng đến công tác quản lý tàichính của đơn vị Nghị định 43/2006/NĐ-CP ra đời là bước ngoặc trong sự đổi mới

về cơ chế tài chính, các cơ sở giáo dục được tự chủ trong quản lý và sử dụng tài chínhnhằm hoạt động có hiệu quả, khuyến khích tăng thu và tiết kiệm chi

Tuy nhiên trong khi nền kinh tế đất nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trườngđịnh hướng XHCN được hơn 20 năm thì cơ chế tài chính của giáo dục thực tế vẫnchưa có sự thay đổi về chất so với thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Địnhmức phân bổ ngân sách cho giáo dục THPT công lập chưa gắn chặt với các tiêu chíđảm bảo chất lượng đào tạo: đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, hoạt độngchuyên môn…, chưa làm rõ trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữa nhà nước vàngười học; việc xây dựng định mức chi và phân bổ ngân sách cho giáo dục chủ yếudựa trên kinh nghiệm; Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 2

máy và tài chính trong các cơ sở giáo dục công lập nhìn chung còn hạn chế về tácdụng Với nguồn ngân sách cấp hàng năm còn hạn hẹp, các trường không thể tiếtkiệm để thu nhập tăng thêm cho giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất nhằm nângcao chất lượng giáo dục.

Xuất phát từ những yêu cầu, trên tác giả chọn vấn đề: “Hoàn thiện công tácquản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn ThànhPhố Huế” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế với mong muốn tìm hiểuthực trạng công tác quản lý tài chính tại các trường THPT công lập và đề ra một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các trường THPT công lậptrên địa bàn thành phố Huế, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước nhằmphát huy tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất,thiết bị…

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài chính tại các Trường THPT công lậptrên địa bàn Thành Phố Huế trong thời gian qua, nghiên cứu đề xuất một số giảipháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính của các trường THPTcông lập trên địa bàn trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính trong cáctrường THPT công lập làm cơ sở khoa học để phân tích công tác quản lý tài chínhtại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về công tác công tác quản lý tài chính tại cáctrường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế giai đoạn 2009-2012 nhằm chỉ ra nhữngkết quả đã đạt được, những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của chúng

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lýtài chính tại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế nhằm đáp ứng ngày càngtốt hơn yêu cầu phát triển của các trường THPT trong thời gian tới

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 3

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợpvới những nguyên lý cơ bản của khoa học kinh tế, nghiên cứu những vấn đề lýluận liên quan đến công tác quản lý tài chính trong các trường THPT Đồng thờivận dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh

và chứng minh; phương pháp điều tra, thu thập thông tin; phương pháp chuyêngia, tổng kết kinh nghiệm để phân tích thực tiễn công tác quản lý tài chính tạicác trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế

Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:

Thứ nhất, bằng việc tổng hợp, phân loại và đi sâu nghiên cứu các văn bảnquy phạm pháp luật, văn bản quản lý, công trình khoa học và các tài liệu có liênquan để nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về quản lý tài chính trong cáctrường THPT: làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và các nội dung

cơ bản về công tác quản lý tài chính… từ đó thống nhất khung lý thuyết làm cơ

sở cho việc phân tích công tác quản lý tài chính tại các trường THPT

Thứ hai, sử dụng khung lý thuyết đã chọn để thống nhất các thông tin cầnthu thập, đối tượng cung cấp thông tin, địa điểm, thời gian và phương pháp thuthập thông tin

Thứ ba, tiến hành thu thập thông tin, số liệu cơ bản, bao gồm:

* Số liệu thứ cấp

- Số liệu từ website, phòng kế hoạch tài chính Sở Giáo dục và Đào tạo ThừaThiên Huế để đánh giá tình hình cơ bản của các trường THPT Số liệu thống kê từphòng Kế hoạch Tài chính và một số đơn vị liên quan để đánh giá thực trạng côngquản lý tài chính tại các trường THPT trên địa bàn Thành Phố Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 4

- Thứ tư, trên cơ sở các thông tin đã thu thập, tiến hành tổng hợp, phân tíchcác nhân tố ảnh hưởng, đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại vànguyên nhân hạn chế của công tác quản lý tài chính tại các trường THPT trên địabàn Thành Phố Huế từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tàichính ở các trường THPT giai đoạn 2013-2015.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về công tác quản lý tài chính ở các trường THPT công lập

và thực tiễn vấn đề này tại các trường THPT công lập trên địa bàn Thành Phố Huế

5 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệu thamkhảo, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các biểu bảng, luận văn gồm 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý tài chính

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính ở các trường THPT trên địabàn thành phố Huế

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường THPTcông lập trên địa bàn thành phố Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 5

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

1.1 Lý luận chung về các trường THPT công lập

1.1.1 Khái ni ệm, nhiệm vụ, quyền hạn của các trường THPT công lập

Khái niệm: Trường trung học phổ thông là một trường tiếp nối của trườngTHCS đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 Trường THPTcông lập gồm các khối học: lớp 10, lớp 11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp trường,cấp họcnày, học sinh được nhận bằng Tốt nghiệp trung học phổ thông Trường được sự quản

lý trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) Hệthống các trường THPT bao gồm hai loại trường:

-Trường THPT công lập là những trường do ngân sách nhà nước đầu tư, đảmbảo cơ bản các điều kiện dạy và học theo quy chế hoạt động do Bộ Giáo Dục và ĐàoTạo ban hành

-Trường THPT ngoài công lập (trường tư thục) là những trường do tư nhân đầu

tư vốn thành lập Hoạt động theo quy chế, quy định của các cấp có thẩm quyền.Những trường ngoài công lập được thành lập là để huy động tốt các nguồn lực xã hộiđóng góp cho phát triển GDĐT theo chủ trương xã hội hóa của Đảng và nhà nước

Trường THPT công lập có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây[22,19-20]:

- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu,chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáodục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục

- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật

- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý họcsinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợpvới gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 6

- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định củaNhà nước.

Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội

- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.1.2 Đặc điểm của giáo dục THPT

- Vị trí, vai trò của giáo dục THPT [ 22, 18]

Để thực hiện các mục tiêu giáo dục của mình, mỗi nước có một hệ thống giáodục quốc dân đặc trưng Hệ thống giáo dục quốc dân là toàn bộ các thiết chế GD -

ĐT của một quốc gia do Nhà nước thiết lập quản lý dưới hình thức cụ thể khác nhau

và được cấu trúc theo bậc, cấp, ngành phương thức giảng dạy và quản lý Trong hệthống giáo dục quốc dân hiện đại, các bậc học được phân ngành: Giáo dục tiền họcđường, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, giáodục đại học và sau đại học Trong giáo dục phổ thông có bậc tiểu học, bậc trunghọc Bậc trung học có cấp THCS và cấp THPT

Giáo dục cấp trung học phổ thông dành cho trẻ em đã hoàn thành và tốt nghiệpTHCS, ở độ tuổi 15, được thực hiện trong 3 năm từ lớp 10 đến lớp 12, tương ứngvới cấp học giáo dục trung học phổ thông là các trường trung học phổ thông

Theo cách hiểu chung nhất thì giáo dục trung học phổ thông là một bộ phậncấu thành quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò hình thành nhâncách cho thế hệ trẻ, trang bị những tri thức và kỹ năng phổ thông cơ bản nhất vềkhoa học, văn hóa, nghệ thuật hay đi vào cuộc sống lao động sản xuất, thực hiệnnghĩa vụ công dân

Mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục trung học phổ thông nói riêng của mỗiquốc gia tùy thuộc vào quan điểm phát triển giáo dục và chế độ chính trị của quốcgia đó Do vậy, mỗi quốc gia có thể lựa chọn mục tiêu phát triển giáo dục trung họcphổ thông theo các định hướng phát triển nguồn nhân lực phù hợp với từng hoàncảnh cụ thể của đất nước Trên cơ sở đó, mỗi quốc gia có một hệ thống giáo dụcriêng phản ánh quan điểm giáo dục của quốc gia mình Đối với Việt Nam giáo dụcTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 7

phổ thông nói chung giáo dục trung học phổ thông nói riêng là nền tảng văn hóa củamột đất nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc Nó đặt cơ sở vững chắc cho

sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam XHCN, đồng thời chuẩn bị lựclượng lao động dự trữ và nguồn tuyển chọn để đào tạo công nhân và cán bộ cầnthiết cho sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và tăng cường quốc phòng.Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thànhlập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ở ViệtNam Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thốnggiáo dục quốc dân

1.1.3 Đầu tư và tài chính cho phát triển giáo dục - đào tạo

* Đặc điểm đầu tư vào giáo dục

Một là, đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển con người

Ở một mức độ khái quát nhất, mục đích phát triển của bất kỳ quốc gia nàocũng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Con người trở thànhtrung tâm của sự phát triển, là nhân tố chi phối quyết định chính sách của mỗiquốc gia

Chiến lược phát triển của mỗi quốc gia cần hướng trọng tâm vào giáo dục, coiđây là nhân tố chính thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, ngược lại sự phát triển kinh

tế - xã hội nhằm đảm bảo nâng cao cuộc sống của con người Như vậy, có thể nói,đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư vào con người, vì con người và cho sự phát triểncủa con người

Hai là, đầu tư giáo dục là đầu tư phát triển

Giáo dục không chỉ là mục đích mà còn là điều kiện cho sự phát triển kinh tế

-xã hội Giáo dục được xem như là một bộ phận của cơ sở hạ tầng -xã hội, nền tảngquan trọng và điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế nhanh và bềnvững Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng trở nênquan trọng hơn trong bối cảnh thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, trong

đó tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên vôgiá cho sự phát triển

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 8

Kinh nghiệm thực tiễn của thế giới cho thấy, những nước nghèo muốn tăngtrưởng kinh tế nhanh và rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần đặc biệtchú trọng nâng cao trình độ học vấn của người dân Tổ chức UNESCO đã rút ranhận định với nội dung: Không có sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách rời sự tiến

bộ và thành đạt trong giáo dục Quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ trithức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì tụt hậu so với

sự phát triển của thế giới là điều khó tránh khỏi

Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã

hội Đảng và Nhà nước ta đã sớm có quan điểm coi “Giáo dục là quốc sách hàngđầu” và “Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọngthúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huynguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững”

Ba là, đầu tư phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội

Giáo dục là quyền được thụ hưởng của con người, nhưng mỗi người đều tráchnhiệm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục chung của quốc gia Giáo dụcngày nay không còn là khu vực chỉ có một chủ thể cung cấp duy nhất là Nhà nước.Giáo dục cũng không còn bó hẹp trong độ tuổi đến trường, mà được mở rộng, diễn

ra trong suốt cuộc đời con người Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể

và không nên đảm bảo toàn bộ kinh phí cho hoạt động giáo dục, mà cần xác địnhnhiệm vụ chi của mình ở mức độ thích hợp sao cho đảm bảo được sự công bằngtrong giáo dục và tạo động lực, định hướng cho các chủ thể khác cùng tham giaphát triển giáo dục Nhà nước thông qua chủ trương xã hôi hóa giáo dục huy động,khuyến khích sự tham gia của các tổ chức kinh tế, xã hôi, cá nhân trong và ngoàinước đóng góp một phần chi phí cho giáo dục bằng các khoản thu dưới dạng phí,cho phép các cá nhân, tổ chức đủ điều kiện thành lập cơ sở giáo dục, kêu gọi sựđóng góp của cộng đồng nhằm giảm tải chi ngân sách

Ngày nay, chính sách và quan điểm về giáo dục của thế giới đang có sự thayđổi sâu sắc khi mà hầu hết các quốc gia đều mong muốn xây dựng một xã hội họctập, phát động tư tưởng học tập suốt đời và thực thi cam kết giáo dục cho mọiTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 9

người Những đổi mới trong chính sách phát triển giáo dục đã từng bước biến một

số khía cạnh của giáo dục từ lĩnh vực phúc lợi sang lĩnh vực đầu tư Giáo dục trởthành một ngành dịch vụ mà mọi chủ thể trong xã hội đều có quyền tham gia (ởmức độ nhất định), trong đó Nhà nước với vai trò đặc biệt của mình điều tiết vàđịnh hướng sự phát triển của cả hệ thống giáo dục theo chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội đã đề ra

* Tài chính đối với sự phát triển của giáo dục

Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong

xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối cácnguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đápứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội

Tài chính có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát triển của một ngành haymột lĩnh vực Đối với giáo dục, tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng, tài chính tácđộng đến quy mô, mục tiêu và chất lượng sự chuẩn hóa,hiện đại hóa, đồng bộ hóacủa hệ thống giáo dục Điều này được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, nguồn lực tài chính đảm bảo duy trì hoạt động của hệ thống giáo dục

Để duy trì hoạt động giáo dục, phải có những trang thiết bị phục vụ cho quátrình dạy học như trường, lớp, thư viện, phòng thí nghiệm hệ thống sách giáo khoa,giáo trình…phải trả lương cho đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục Chiếnlược phát triển giáo dục của mỗi quốc gia trong những thời kỳ nhất định phải đượcxây dựng dựa trên cơ sở khả năng cung ứng tài chính Thiếu yếu tố tài chính, những

đề xuất, cải tiến khó có thể thực hiện được Các hoạt động chuyên môn, hoạt độngngoại khóa, hỗ trợ lúng túng

Nguồn lực tài chính ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến sự phát triển giáodục Thông thường, những quốc gia có cơ chế, chính sách huy động được nhiềunguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục thì hệ thống giáo dục của quốc gia đó cóđiều kiện phát triển sản phẩm giáo dục có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu ngàycàng cao của thị trường lao động Ngược lại, những quốc gia có nguồn lực tàichính không đáp ứng đủ nhu cầu của giáo dục, nền giáo dục thường lạc hậu, chấtTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 10

lượng thấp hơn một cách tương đối do với những nước có nguồn tài chính dồi dào.Điều này đúng cả về lý thuyết và thực tiễn Chính vì lẽ đó, hầu hết các quốc giatrên thế giới hiện nay ngoài việc ngày càng dành nhiều nguồn lực hơn cho giáodục còn tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực từ các chủ thể khác ởtrong nước cũng như ngoài nước.

Thứ hai, chính sách tài chính góp phần điều phối hoạt động giáo dục

Giáo dục được xem là một bộ phận của kết cấu hạ tầng xã hội, có ảnh hưởnglớn đến sự phát triển của một quốc gia Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có hướngđích và phải đạt được những yêu cầu cụ thể nào đó Ở mỗi giai đoạn phát triểnkhác nhau, mục đích, yêu cầu đặt ra cho giáo dục không giống nhau

Với chức năng phân phối vốn có của mình, tài chính phân bổ hợp lý các nguồnlực, đảm bảo cung cấp đủ nhân lực và vật lực cho hoạt động giáo dục Điều phốihay tăng cường nguồn lực tài chính cho ngành học hay cấp học nào sẽ giúp chongành học hay cấp học đó phát triển, từ đó tạo nên hợp lực thúc đẩy sự phát triểncủa toàn hệ thống giáo dục

Tài chính còn góp phần thực hiện công bằng trong giáo dục, đảm bảo cho “aicũng được học hành” Công bằng trong giáo dục đang là yêu cầu đặt ra đối với cácquốc gia, khi mà sự phân bố của cải trong xã hội ngày càng có xu hướng tập trungvào một bộ phận nhỏ dân cư, khiến cơ hội hưởng thụ giáo dục không đồng đều giữangười dân sống trong cùng một nước Nhờ có chức năng phân phối của tài chính,Nhà nước có thể tăng cường đầu tư hoặc ban hành những cơ chế, chính sách tạođiều kiện thuận lợi cho người nghèo được tiếp cận giáo dục Từ đó, giảm sự mấtcông bằng trong giáo dục, góp phần quan trọng tạo lập sự công bằng trong xã hội.Công bằng trong giáo dục thường được thực hiện ở các cấp học thấp, nơi màhầu hết nhân dân đều có khả năng tiếp cận; ở nước ta giáo dục tiểu học được phổcập, do đó không thu học phí Ở nhiều nước khác trên thế giới: giáo dục tiểu học vàgiáo dục trung học cơ sở là bắt buộc, nhà nước đảm bảo chi tiêu 100%

Thứ ba, tài chính kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục, hướng hoạt động giáo

dục đến những mục tiêu đã định một cách hiệu quả nhất

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 11

Kiểm tra, giám sát tài chính là kiểm tra, giám sát việc huy động và sử dụngtiền cho giáo dục Người ta có thể tiến hành kiểm tra, giám sát cơ sở giáo dục mộtcách thường xuyên, liên tục và trên một bình diện rộng Thông qua công tác kiểmtra, giám sát, có thể nắm bắt nhanh chóng tình hình hoạt động của cơ sở giáo dục.Giáo dục là vấn đề lớn của quốc gia, cũng là vấn đề nhạy cảm được xã hộiquan tâm Những biểu hiện sai lệch trong đầu tư phát triển giáo dục để lại hậu quảnghiêm trọng về kinh tế - xã hội mà công tác khắc phục tiêu tốn nhiều thời gian vàtiền của Kiểm tra, giám sát tài chính, với những đặc tính ưu việt của nó, giúp các cơ

sở giáo dục đề xuất những giải pháp tình huống, cũng như chiến lược nhằm sử dụngcác nguồn lực đầu tư phát triển giáo dục một cách hợp lý, vì sự tiến bộ của con

người và sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.

* Các nguồn vốn đầu tư phát triển giáo dục

Muốn cho giáo dục phát triển thì cần phải được đầu tư thích đáng, đầu tư càngnhiều thì giáo dục càng có điều kiện thuận lợi phát triển Ngược lại, nếu đầu tư ít,

cơ cấu phân bổ và sử dụng không hợp lý, dẫn đến giáo dục chậm phát triển, ảnhhưởng đến sự tăng trưởng kinh tế và như vậy tiếp tục sự nghèo nàn lạc hậu Đâychính là cái vòng kìm hãm sự phát triển của đất nước

Sự chuyển đổi nền kinh tế đã làm thay đổi một cách căn bản quan điểm đầu tưcho giáo dục Đầu tư cho giáo dục không chỉ là một nguồn gần như là duy nhất làngân sách nhà nước như trước đây, mà một xã hội học tập, nhất thiết đầu tư chogiáo dục phải bao gồm tổng thể nhiều nguồn khác nhau như Luật giáo dục (2005)

đã khẳng định:

"Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển"[ 22, 4] Nhà nước ưu tiên đầu tưgiáo dục, khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nướcngoài đầu tư cho giáo dục NSNN phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lựcđầu tư cho giáo dục

Với quan điểm trên, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục trong giai đoạn hiệnnay bao gồm:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 12

- Nguồn ngân sách nhà nước

Giáo dục luôn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗiquốc gia Do đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt giáo dục ở vị trí hàng đầutrong các ưu tiên, phát triển kinh tế xã hội Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục làquốc sách hàng đầu; vì vậy việc đầu tư cho giáo dục cũng được ưu tiên hàng đầu

Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi nhằm đảm bảo duy trì và pháttriển các hoạt động sự nghiệp giáo dục trong cả nước, do các đơn vị sự nghiệp giáodục đảm nhận Các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục tập trung chủ yếu ở cáctrường công lập và các khoản chi thực hiện các chương trình trọng điểm của ngànhgiáo dục Hiện nay, nguồn vốn NSNN chiếm vị trí chủ đạo trong các nguồn vốn đầu

tư cho giáo dục, thể hiện ở các mặt sau:

+ Đây là nguồn chính cơ bản, to lớn và ổn định nhằm duy trì và phát triển hệthống giáo dục - đào tạo theo định hướng, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ratrong từng thời kỳ

+ Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội, công bằng trong giáodục - đào tạo, mà đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện như vấn đề quyền lợi đượchưởng giáo dục của mọi người dân, ưu tiên cho con em gia đình chính sách, giađình có hoàn cảnh khó khăn…

+ Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo ở tầnglớp quốc gia như thực hiện chương trình mục tiêu chương trình quốc gia như xóanạn mù chữ, phổ cập giáo dục… và những vấn đề ở tầm khu vực mà các thành phầnkinh tế khác chưa đủ khả năng thực hiện hoặc chưa quan tâm đầu tư

- Nguồn ngoài ngân sách nhà nước

Trong điều kiện NSNN có hạn, nhu cầu chi tiêu cho các lĩnh vực kinh tế, xãhội, an ninh, quốc phòng hàng năm ngày càng lớn thì việc khuyến khích huy độngcác nguồn ngoài NSNN cho sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trung họcphổ thông nói riêng đang trở thành vấn đề cấp thiết Mặt khác, giáo dục là sự nghiệpcủa toàn dân do dân và vì dân Do đó, quan tâm đến giáo dục là trách nhiệm củatoàn xã hội với định hướng phát triển giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục, đaTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 13

dạng hóa các hình thức huy động vốn cho giáo dục cho phép huy động mọi nguồnlực trong xã hội cho phát triển giáo dục nhằm chia sẻ bớt gánh nặng đối với Nhànước Đó là những nguồn sau:

- Học phí, lệ phí tuyển sinh, tiền đóng góp xây dựng trường: là khoản tiềnđóng góp của gia đình hoặc bản thân học sinh để cùng với Nhà nước đảm bảo cáchoạt động giáo dục Nguồn thu này ngày càng trở thành nguồn tài chính quantrọng đóng góp cho sự phát triển của giáo dục nhưng đồng thời cũng là một ràocản đối với người nghèo đến với giáo dục Vì vậy, việc xóa bỏ thu học phí ở giáodục tiểu học và trung học cơ sở đang là mục tiêu của các nước

- Nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn và kinh doanh dịch vụ.Công tác nghiên cứu khoa học, tư vấn và kinh doanh dịch vụ tập trung chủ yếutrong các cơ sở đào tạo, hiện chiếm 3% - 4% tổng số kinh phí nghiên cứu khoa họccủa cả nước Đây là một tỷ lệ rất thấp Các sản phẩm nghiên cứu lại không đượctiếp thị nên nhiều đề tài rất có ý nghĩa đối với cuộc sống nhưng không được ápdụng Cơ chế đầu tư cho nghiên cứu khoa học nói chung còn bị phân tán, hiệu quảthấp, chậm đổi mới

- Nguồn đầu tư đóng góp tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

Để tăng cường nguồn đầu tư cho phát triển giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loạihình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện

để các tổ chức, các nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục cần thiết phải tranhthủ nguồn tài chính vay với lãi suất ưu đãi cho giáo dục từ Ngân hàng thế giới,Ngân hàng phát triển Châu Á, các tổ chức quốc tế và các nước

1.2 Công tác quản lý tài chính trong các trường THPT công lập

1.2.1 Khái ni ệm, nguyên tắc và mô hình quản lý tài chính trong các trường THPT công l ập

Quản lý tài chính theo nghĩa rộng được hiểu là việc sử dụng tài chính làmcông cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn cócủa nó Quản lý tài chính theo nghĩa hẹp là việc sử dụng các thông tin phản ánhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 14

chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của

nó và lập kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản, đội ngũ với mục tiêu là đạtđược hiệu quả cao nhất

Quản lý tài chính trong trường THPT Công lập là hệ thống các nguyên tắc, cácquy định, chế độ của Nhà nước mà hình thức biểu hiện là những văn bản pháp luật,pháp lệnh, Nghị định…; ngoài ra nó còn thể hiện qua các quy chế, quy định củatrường THPT công lập đối với các hoạt động tài chính, các quy định này phải tuântheo các văn bản pháp quy của Nhà nước liên quan đến hoạt động tài chính củatrường THPT công lập

1.2.2 Nguyên t ắc quản lý tài chính

QLTC trong các trường THPT phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau[ 23,29-30]

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: là nguyên tắc hàng đầu trong QLTC, thông

qua việc QLTC đối với trường THPT, các khoản thu - chi trong QLTC phải đượccông khai, minh bạch, có sự tham gia của cán bộ, công chức trong cơ quan nhằmđáp ứng mục tiêu chung của đơn vị;

- Nguyên tắc hiệu quả: Hiệu quả trong QLTC được thể hiện khi thực hiện các

khoản chi tiêu Hiệu quả kinh tế tiết kiệm và hiệu quả xã hội là hai nội dung quantrọng cần được xem xét đồng thời khi quyết định chính sách tài chính;

- Nguyên tắc thống nhất: Thống nhất QLTC là việc tuân thủ theo một quy

định chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, quyết toán, xử lý nhữngvướng mắc trong quá trình thực hiện Thực hiện nguyên tắc quản lý thống nhất sẽđảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo hiệu quả và hạn chế những tiêu cực,rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu;

- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Minh bạch trong QLTC là nguyên tắc

quan trọng nhằm đảm bảo QLTC thống nhất và hiệu quả Thực hiện công khai,minh bạch trong QLTC sẽ tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, giám sát các hoạtđộng thu - chi của đơn vị, hạn chế những thất thoát, lãng phí và đảm bảo tính hiệuquả của quản lý tài chính

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 15

1.2.3 Nguyên t ắc quản lý tài chính ở các trường THPT công lập

Các trường THPT công lập là loại hình trường do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quyết định thành lập và quản lý, cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị

sự nghiệp có thu, đơn vị sự nghiệp công lập được xác định bởi các tiêu thức cơ bản:

Thứ nhất, là các đơn vị công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành

lập, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục

Thứ hai, được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động

thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao

Thứ ba, đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí,

được tiến hành hoạt động cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động tăng thunhập cho cán bộ, viên chức

Thứ tư, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, các trường THPT công lập được phân loạithực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:

Một là, đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động thường

xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)

Hai là, đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động,

phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chiphí hoạt động)

Ba là, đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn

thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảmtoàn bộ chi phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộchi phí hoạt động)

Công tác quản lý tài chính đối với các trường THPT công lập căn cứ vào Nghịđịnh 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ áp dụng đối với đơn vị sựnghiệp có thu và tiếp tục được đổi mới, thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CPngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,

tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp theo

đó là các văn bản hướng dẫn của Nhà nước có liên quan: Thông tư Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 16

71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định số43/2006/NĐ-CP; Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 của Bộ Tài chínhhướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiệnquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

và tài chính, đảm bảo tính đồng bộ với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tàichính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Nguồn tài chính của các trường THPT công lập

Trong các trường THPT công lập, nguồn tài chính của nhà trường bao gồmchủ yếu từ nguồn từ NSNN và các nguồn khác đối với nguồn kinh phí do NSNNcấp bao gồm:

+ Kinh phí thường xuyên

Đây là khoản chi tiêu công nằm trong tổng thể nguồn tài chính công và khôngmang tính bồi hoàn trực tiếp Việc phân bổ NSNN cho các trường THPT công lậpdựa trên cơ sở Nhà nước giao ổn định trong thời gian 3 năm, mức tăng hàng năm doThủ tướng chính phủ quyết định Ngoài ra căn cứ vào các chương trình mục tiêu,nhiệm vụ khác mà Nhà nước giao ngân sách

+ Kinh phí đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị

Là các khoản chi được quản lý theo quy định của vốn đầu tư xây dựng cơ bảnthuộc ngân sách nhà nước: chi đầu tư cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, trang thiết bịmáy móc phục vụ trực tiếp cho giảng dạy và học tập

+ Thu học phí do học sinh đóng góp: Học phí thu theo nguyên tắc là không thuđối với bậc tiểu học; Học phí ở thành thị thu cao hơn ở nông thôn; Học phí đượcquy định tăng lên theo mỗi lớp; Một số đối tượng học sinh được miễn toàn bộ hoặcmột phần chi phí (như con thương binh, liệt sĩ, mồ côi, dân tộc thiểu số, gia đìnhnghèo…) Mức thu cụ thể do HĐND cấp tỉnh quyết định trong khung do Nghị địnhChính phủ quy định Nguồn thu từ học phí có đóng góp quan trọng cho GDĐT.Trong nguồn thu này,có một phần dùng để cấp bù học phí cho những học sinh cóđiều kiện khó khăn (những học sinh khó khăn ở THCS,THPT chẳng những khôngđóng học phí mà được cấp bù-theo Nghị định 49 của Chính phủ)

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 17

+ Thu từ hoạt động dịch vụ do nhà trường tổ chức, quản lý.

+ Các khoản thu khác của nhà trường: như thu do tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước viện trợ, biếu tặng

Ngoài ra, các cơ sở giáo dục công lập được vay tín dụng ngân hàng hoặc Quỹ

hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, nhưng phải

tự chịu trách nhiệm trả nợ theo quy định của Pháp luật

Quy trình lập dự toán, điều hành và cấp phát NSNN

Việc lập dự toán ngân sách giáo dục THPT hiện nay được thực hiện quy trình

từ cấp thấp lên cấp cao (trường - Sở Giáo dục và đào tạo) Cụ thể các đơn vị trườngtiến hành lập dự toán thu, chi thuộc nhiệm vụ được giao, gửi cơ quan quản lý giáodục cấp trên trực tiếp, tiếp theo cơ quan quản lý giáo dục cấp trên tổng hợp, xemxét, điều chỉnh để hoàn thiện, sau đó phối hợp với cơ quan tài chính và cơ quan kếhoạch - đầu tư cùng cấp dự thảo kế hoạch ngân sách và trình UBND tỉnh phê duyệt.Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngânsách cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Sở Tài chính có trách nhiệmgiúp UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sáchtỉnh, phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnhcho ngân sách cấp dưới.(Cấp Sở,ngành,huyện,thành phố)

Căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách do Thủ tướng Chính phủ quyết địnhUBDN các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dựa vào khả năng tài chính ngânsách và đặc điểm tình hình ở địa phương, trình HĐND ban hành định mức phân bổchi ngân sách giáo dục để làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách giáodục địa phương Mỗi địa phương khi phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các

cơ sở giáo dục thường sử dụng một hoặc kết hợp hai hoặc ba trong các tiêu chí sau:

học sinh, giáo viên, lớp, vùng, loại trường, chi con người và các chi khác (ngoài chi

con người).

Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, Sở Tài chính trình UBNDquyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách giáo dục từng cơ quan, đơn vị trựcthuộc tỉnh Các cơ quan quản lý về giáo dục (Sở Giáo dục - Đào tạo, phòng giáoTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 18

dục) sau khi nhận được dự toán thu, chi ngân sách giáo dục được cơ quan cóthẩm quyền giao tiến hành phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách cho từng

cơ sở giáo dục trực thuộc

Sơ đồ 1.1: Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục phổ thông

1.2.3.1 Về sử dụng kinh phí

Các trường công lập được tự chủ về tài chính, được chủ động bố trí kinh phítrên cơ sở chế độ, định mức chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảothực hiện nhiệm vụ giảng dạy, học tập và phù hợp với đặc điểm của nhà trường Đốivới các khoản chi quản lý hành chính (công tác phí, hội nghị, điện thoại,…), chi hoạtđộng nghiệp vụ giảng dạy, học tập thường xuyên, nếu thấy cần thiết, nhà trường đượcquyết định mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do nhà nước quy định trong phạm vinguồn thu được sử dụng Việc tự chủ về sử dụng kinh phí phải được thực hiện thôngqua quy chế chi tiêu nội bộ Hàng năm hoặc định kỳ hội đồng sư phạm nhà trường sẽthông qua quy chế chi tiêu nội bộ để giải quyết những vấn đề bổ sung, những nộidung mới, yêu cầu mới, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển

Các trường trực thuộc Sở giáo dục

và Đào tạo quản lý

Phòng giáo dục

Ngân sách tỉnh

Sở Giáo dục

Các trường trực thuộc

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 19

Đối với chi trả tiền lương, tiền công cho số cán bộ, giáo viên được cấp cóthẩm quyền giao và đối với các hoạt động dịch vụ (nếu có); hoạt động thu phí, lệphí thì tiền lương, tiền công của người lao động, đơn vị tính theo tiền lương cấp bậc,chức vụ do nhà nước quy định.

Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộpkhác theo quy định; phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạtđộng dịch vụ (nếu có), đơn vị được sử dụng: Trích lập quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp; trả thu nhập tăng thêm cho người lao động; trích quỹ khen thưởng, Quỹphúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập theo quy định

1.2.3.2 Về lập, chấp hành và cấp phát kinh phí từ ngân sách Nhà nước

- Quản lý quá trình lập dự toán

Đây là công việc khởi đầu của một chu trình quản lý tài chính của các trườngtrung học phổ thông công lập Dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên, dự toánthu, chi năm đầu tiên thời kỳ ổn định 3 năm là cơ sở để cơ quan chủ quản có căn cứxem xét, quyết định phân loại đơn vị sự nghiệp đối với các trường THPT công lập

và xác định mức kinh phí NSNN hỗ trợ hoạt động thường xuyên Lập dự toán mộtcách đúng đắn, có cơ sở khoa học, thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kếhoạch hoạt động giáo dục của các trường THPT công lập Lập dự toán thu, chiquyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính; nó cũng là căn cứquan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi phí phát sinh hàng năm của NSNN

Vì vậy, để phát huy vai trò tích cực của công tác lập dự toán của các trườngTHPT công lập, lập dự toán phải đáp ứng các yêu cầu nhất định và dựa vào nhữngcăn cứ nhất định với những phương pháp và trình tự có tính khoa học và thực tiễnđáp ứng yêu cầu cơ bản sau:

+ Đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các trường THPT công lập dựa trên

hệ thống chế độ, chính sách, tiêu chuẩn định mức được cấp có thẩm quyền phê duyệt.+ Đảm bảo việc xây dựng dự toán thu, chi của các trường THPT công lậpđược thực hiện đúng với trình tự và thời gian quy định

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 20

+ Dự toán thu, chi phải bao quát được toàn bộ hoạt động của trường THPTcông lập, phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi của trường.

Thực chất dự toán của các trường THPT công lập phản ánh sự phân phối sửdụng các nguồn lực tài chính để đáp ứng nhiệm vụ hoạt động của trường Vì vậytrước khi lập dự toán phải dựa trên các căn cứ sau:

+ Dựa vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháttriển giáo dục trong năm kế hoạch; Hệ thống chính sách, chế độ, các định mức, tiêuchuẩn thu, chi của Nhà nước; Chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biên chế giáo viên,

số lượng giáo viên, số lượng học sinh, sinh viên ; Khả năng bố trí chi thườngxuyên ngân sách cho giáo dục đào tạo trên cơ sở cân đối tổng thể chi ngân sách nhànước năm kế hoạch ngoài ra việc lập dự toán cần phải căn cứ vào kết quả phân tíchviệc thực hiện dự toán thu, chi của trường trong năm tài chính trước Đây là căn cứquan trọng bổ sung cho những kinh nghiệm cần thiết cho việc lập dự toán trong kỳ

kế hoạch

- Quản lý quá trình chấp hành dự toán ngân sách nhà nước

Trong quản lý chi NSNN, khâu chấp hành kế hoạch chi là nội dung quan trọngbởi đây là giai đoạn đồng vốn NSNN được cấp phát, chi trả trực tiếp ra khỏi quỹNSNN Để có thể quản lý tốt quá trình thực hiện dự toán phải thực hiện được cácnội dung sau:

- Đối với các đơn vị, cơ sở giáo dục:

+ Phải chấp hành nghiêm túc những định mức, tiêu chuẩn của từng khoản chi

đã được giao trong dự toán

+ Phải lập đầy đủ các chứng từ hợp lệ trước khi gửi cơ quan tài chính xinchuẩn chi

- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước:

+ Phải quy định cụ thể trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của các cơquan (tài chính, kho bạc, cơ sở giáo dục ) Nghiêm túc điều hành theo dự toán đãđược lập, xoá bỏ cơ chế xin cho, thực hiện nghiêm túc các chỉ tiêu, định mức đã đềTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 21

ra Sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến cácchỉ tiêu chi trong kế hoạch NSNN trở thành hiện thực.

+ Cơ quan Tài chính phải chủ động đảm bảo kinh phí cho giáo dục - đàotạo; trong trường hợp nguồn thu không đảm bảo nhu cầu chi phải phối hợp với

cơ quan giáo dục điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép

+ Cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước phối hợp kiểm tra tình hình quản lý

và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước ở các đơn vị, cơ sở giáo dục nhằm nângcao hiệu quả của đồng vốn ngân sách

* Qu ản lý theo các nhóm mục chi

+ Quản lý các khoản chi cho con người

Quản lý các khoản chi thuộc nhóm này bao gồm: Quản lý các khoản chilương, phụ cấp, tiền thưởng, các khoản đóng góp, phúc lợi xã hội Đây là nhóm chibắt buộc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi thường xuyên NSNN cho sựnghiệp giáo dục đào tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người làmcông tác giáo dục nên việc quản lý nhóm mục chi này phải được thực hiện nghiêmtúc, công bằng, đúng chính sách chế độ

+ Quản lý các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn

Nhóm chi này bao gồm các khoản chi chủ yếu: Mua sắm trang thiết bị, đồdùng giảng dạy, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, thí nghiệm; Thanh toán dịch vụcông cộng (Tiền điện, tiền nước), vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc,hội nghị, công tác phí, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa,

đồ dùng học tập, thí nghiệm Đây là khoản chi rất cần thiết, ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng giáo dục đào tạo Quản lý tiết kiệm, tránh lãng phí trong chi tiêu cáckhoản chi này sẽ giúp các trường có thêm nguồn kinh phí nâng cao chất lượng dạy

và học

+ Quản lý các khoản chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, xây dựng nhỏ

Hàng năm, do nhu cầu hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học,

do sự xuống cấp của các tài sản cố định dùng cho các hoạt động nên phát sinh nhuTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 22

cầu về kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị của tài sản cố định.Thuộc nhóm chi này bao gồm các khoản chi như: Chi mua sắm, bổ sung tài sản,máy móc, chi sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà cửa Quản lý các khoản chi này phảiđáp ứng được các yêu cầu quản lý: đầu tư có trọng điểm, sử dụng đúng mục đích,thực hiện sửa chữa, xây dựng nhỏ theo đúng các quy định của pháp luật

+ Quản lý các khoản chi khác: Đây là khoản chi nhằm đảm bảo cho công tácquản lý hành chính phục vụ cho hoạt động của các cơ sở giáo dục Mức độ chi tiêunhiều hay ít của nhóm này phụ thuộc vào quy mô của các trường, định mức và mức

độ sử dụng của các đơn vị: Chi tiếp khách, chi tổ chức Đại hội Đảng, Chi lập các quỹkhen thưởng, phúc lợi, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, chi bảo hiểm tài sản

1.2.3.3 Về quản lý, sử dụng các nguồn thu

Đối với nguồn thu sự nghiệp, các trường thực hiện quản lý như nguồn kinh phíngân sách cấp, các khoản chi của trường thực hiện theo dự toán được duyệt Sau đó,phản ánh thu, chi NSNN theo hình thức ghi thu, ghi chi Số thu được để lại nếuchưa chi hết được chuyển sang năm sau sử dụng

Với nguồn thu từ học phí, theo quy định các trường dành tối thiểu 40% số thuhọc phí để bổ sung quỹ lương theo chế độ, số còn lại chi công tác quản lý thu, chi,chi nghiệp vụ chuyên môn, chi tăng cường cơ sở vật chất,cấp bù học phí Số thu đểlại, nếu chưa chi hết được chuyển sang năm sau sử dụng

1.2.3.4 Kiểm tra, kiểm soát tài chính

Báo cáo tài chính của các trường THPT công lập chủ yếu phản ánh tình hìnhtiếp nhận các nguồn kinh phí và việc sử dụng nguồn kinh phí đó phục vụ cho hoạtđộng của trường học Báo cáo tài chính hàng năm của các trường là cơ sở để cấpchủ quản thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính, cơ quan chủ quản và các cơquan chức năng khác có thể thấy rõ toàn bộ các hoạt động của trường học Từ đó rút

ra những kinh nghiệm cần thiết trong công tác quản lý Nếu lập dự toán thu, chi làkhâu đầu của hoạt động tài chính trong các trường THPT công lập, thì lập báo cáoquyết toán và phê duyệt quyết toán tài chính năm là khâu cuối của hoạt động tàichính trong các trường THPT công lập Quản lý quá trình quyết toán các khoản chiphải thực hiện được một số nội dung sau:

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 23

+ Phải đảm bảo tính chính xác của số liệu quyết toán

Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối năm, số liệu trên sổ sách kếtoán của đơn vị, cơ sở giáo dục phải được đối chiếu, đảm bảo cân đối và khớpđúng với số liệu của cơ quan tài chính và Kho bạc nhà nước cả về tổng số và chitiết Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quyết toán năm

Ngoài ra, để đảm bảo được yêu cầu quản lý chi các đơn vị cơ sở giáo dục phảilập đầy đủ các biểu mẫu quyết toán theo quy định của Nhà nước gửi cơ quan tàichính đồng cấp theo đúng thời gian quy định

+ Phải xác định được thẩm quyền xét duyệt quyết toán

Đối với đơn vị dự toán: đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán của đơn

vị dự toán cấp dưới Sau đó đơn vị dự toán cấp 1 có nhiệm vụ tổng hợp và lập báocáo quyết toán năm gửi cơ quan tài chính đồng cấp

Các cấp ngân sách địa phương có trách nhiệm xét duyệt báo cáo quyết toánnăm của các đơn vị dự toán trực thuộc và thẩm tra báo cáo quyết toán chi cho giáodục đào tạo của ngân sách cấp dưới Sau đó, tổng hợp thành báo cáo chi ngân sáchđịa phương cho giáo dục đào tạo gửi Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấpđồng thời gửi cho cơ quan tài chính cấp trên

Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán các cấp và báo cáo quyết toánngân sách các cấp chính quyền trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phêchuẩn, theo yêu cầu của Luật NSNN phải được cơ quan kiểm toán Nhà nước kiểmtoán xác nhận

Việc quyết toán tài chính cho giáo dục đào tạo được thực hiện cùng với quyếttoán ngân sách Nhà nước hàng năm của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phươngtheo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành

1.2.4 S ự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính đối

v ới các trường THPT công lập

1.2.4.1 Sự cần thiết hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các trường THPT công lập

Hiện nay cả nước nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng có nhiều loại hìnhTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 24

trường khác nhau, trong đó trường công lập vẫn giữ vai trò chủ đạo Cùng với quátrình cải cách hành chính thì việc đổi mới phương thức hoạt động và công tác tàichính đối với các trường công lập là một nhu cầu cấp thiết với xã hội:

Một là, cơ chế quản lý tài chính hiện hành về cơ bản vẫn là cơ chế của thời

kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, không còn phù hợp với cơ chế thị trường vàhội nhập quốc tế Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế không những tác độngđến mục tiêu, nội dung và phương pháp của giáo dục - đào tạo mà còn đòi hỏi sựđổi mới của quản lý giáo dục - đào tạo Trong cơ chế thị trường, các cơ sở giáo

dục - đào tạo phải có tính tự chủ cao, kể cả tự chủ tài chính để thực hiện chức

năng nhiệm vụ Ngay cả với nguồn kinh phí từ NSNN thì cơ sở giáo dục vẫn phảiđược chủ động sử dụng Cơ chế tài chính cũ với những quy định quá chi tiết vàcứng nhắc đã hạn chế, cản trở sự chủ động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, sửdụng kinh phí kém hiệu quả và đôi khi phải “làm phép” để qua mặt cơ quan quản

lý, thậm chí sinh ra tiêu cực

Hai là, cơ chế thị trường đòi hỏi phải xã hội hóa mãnh mẽ lĩnh vực giáo dục

-đào tạo Giáo dục - -đào tạo không còn là việc riêng của Nhà nước mà là của toàn xãhội, của nhiều thành phần kinh tế Xã hội hóa giáo dục mới có khả năng đáp ứngđược yêu cầu học tập tăng lên nhanh chóng của xã hội và mới có đủ nguồn kinh phí

để đáp ứng yêu cầu đó Trong cơ chế thị trường và giáo dục - đào tạo được xã hộihóa, người học mới có nhiều cơ hội chọn nơi học, ngành học, những kiến thức cầnthiết mà công việc, nghề nghiệp đòi hỏi và tất nhiên người học có nghĩa vụ đónggóp kinh phí để thực hiện quá trình đào tạo Cơ sở giáo dục - đào tạo phải được chủđộng sử dụng huy động nguồn kinh phí hợp pháp để hoàn thành nhiệm vụ của mình

Ba là, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, sản phẩm giáo dục - đào tạo

ở một số khía cạnh nhất định phải được xem như là hàng hóa dịch vụ Hàng hóadịch vụ này cũng có chi phí và giá cả Người sản xuất đỏi hỏi phải bù đắp được chiphí và có lãi cần thiết để tồn tại và phát triển Người mua hàng hóa dịch vụ phải trảđúng giá cả của hàng hóa Đối với các trường ngoài công lập thì đây là cơ sở để xácđịnh mức học phí, lệ phí Còn đối với các trường công lập thì nguồn kinh phí chủTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 25

yếu vẫn từ ngân sách nhà nước Song, do yêu cầu phát triển nhanh chóng của giáodục - đào tạo, đặc biệt trong thời đại bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệhiện đại đòi hỏi phải đầu tư cho giáo dục - đào tạo cơ sở vật chất, thiết bị hiện đạităng rất lớn thì ngân sách nhà nước không thể đáp ứng Nhà nước cần huy độngthêm kinh phí từ phía người học Cần có chế độ học phí phù hợp với từng ngànhhọc và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội ở từng vùng Các đơn vị phảiđược quyền quyết định linh hoạt mức học phí với từng cấp học, ngành học phù hợpvới quy định khung của Nhà nước và được quyền tự chủ sử dụng nguồn thu để thựchiện nhiệm vụ Nhà nước không nên can thiệp quá sâu, quy định quá chi tiết cáckhoản thu chi của đơn vị Tuy nhiên, nhà nước cần có chế độ thanh tra, kiểm tra tàichính một cách khoa học, đảm bảo hoạt động tài chính công khai, minh bạch, đúngmục đích và sử lý nghiêm minh những vi phạm.

Bốn là, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, giáo dục - đào tạo cũng

diễn ra sự cạnh tranh Các cơ sở giáo dục - đào tạo từng bước xây dựng thương hiệu cho mình Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong giáo dục - đào tạo không phải về giá cả

mà chủ yếu về chất lượng, chính chất lượng giáo dục - đào tạo làm nên thương hiệu

các trường Ở các thành phố lớn và một số tỉnh hiện nay, việc học sinh đua nhau thivào các trường THPT có uy tín chính là khẳng định thương hiệu các trường đó.Trong kinh tế thị trường thì thương hiệu là tài sản vô hình, là một yếu tố tạo nên giátrị hàng hoá Như vậy cần nghiên cứu để áp dụng chế độ học phí khác nhau, khôngnên đặt ra mức thu bình quân như hiện nay

Năm là, nhu cầu chi tiêu tài chính của các nhà trường THPT công lập trongcác vùng dân cư khác nhau, vì vậy chúng ta cần phải có một cơ chế thu chi tài chínhphù hợp Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có một cơ chế quản lý chi tiêu phù hợp

đủ để kiểm soát sự năng động, đảm bảo hiệu quả, hợp lý, chống thất thoát, tiêu cực

Vì vậy cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trườngTHPT công lập

Giáo dục - đào tạo luôn luôn là sự kết hợp, giáo dục - đào tạo để nâng cao dân

trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là yêu cầu khách quan Nhà nước có

trách nhiệm phát triển giáo dục đào tạo và đảm bảo cung ứng dịch vụ giáo dục

-Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 26

đào tạo cho toàn xã hội một cách công bằng Còn đối với cá nhân thì học để có kiếnthức, kỹ năng, tay nghề nhằm ổn định cuộc sống, có việc làm và thu nhập hoặc có

cơ hội để thăng tiến tức là đáp ứng yêu cầu cá nhân

Trong cơ chế thị trường, sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng thường

không đều nhau, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng khác nhau Vì vậy, kinh phí

tư NSNN đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo vào các vùng, các khu vực phảikhác nhau không thể dàn trải và mức thu học phí, lệ phí cũng cần có mức khác nhauđối với từng khu vực và tầng lớp dân cư Đó cũng là yêu cầu công bằng xã hội của

giáo dục - đào tạo trong cơ chế thị trường.

Tóm lại, cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mớiđối với giáo dục - đào tạo và những đòi hỏi phải hoàn thiện công tác quản lý tàichính đối với giáo dục - đào tạo nói chung và các trường THPT công lập nóiriêng Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với cáctrường THPT công lập không thể tách rời quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng XHCN

Vì vậy, có thể nói hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các trườngcông lập nói chung, đối với các trường THPT công lập nói riêng là một đòi hỏi cótính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng như đối với bất kỳ một địaphương, đơn vị nào

1.2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính đối với các trường THPT công lập

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính đối với các trườngTHPT công lập, có thể nêu một số nhân tố chính sau:

* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo:

-Giáo dục - đào tạo có tầm quan trọng bậc nhất đối với sự phát triển kinh tế, xãhội và cá nhân Sự phát triển của giáo dục và Đào tạo có ảnh hưởng đến hầu hết cáclĩnh vực trong xã hội, đặc biệt là việc phát triển kinh tế Nhằm phục vụ mục tiêucông nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển, Đảng vàTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 27

Nhà nước ta coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Xuất phát từ chủ trương,chính sách ấy mà Nhà nước ta dần có sự thay đổi về phương thức quản lý, đặc biệt

là quản lý tài chính đối với sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo Bước ngoặtlớn đầu tiên trong sự nghiệp đổi mới chung và đổi mới tài chính cho các cơ sở làNghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002, đơn vị sự nghiệp có thu được traoquyền tự chủ về tài chính giúp tháo gỡ cho đơn vị những khó khăn vướng mắc trongđiều hành ngân sách, tự chủ trong chi tiêu, từ đó hạn chế những tiêu cực lãng phí,làm tăng thu, tiết kiệm chi nâng cao thu nhập cho cán bộ, nhân viên làm việc tronglĩnh vực giáo dục Tiếp đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 thay thếcho Nghị định 10/2002/ NĐ-Cp Theo đó đơn vị sự nghiệp công lập không nhữngđược giao quyền tự chủ tài chính mà còn được trao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế Cơ chế quản lý tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo là mộtbước cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nhằm tháo gỡ khókhăn tạo điều kiện cho cơ sở hoạt động theo mục tiêu, chất lượng, hiệu quả nângcao hơn nữa chất lượng của các đơn vị sự nghiệp Rõ ràng các chính sách, quy địnhchung về quản lý tài chính của nhà nước đã là một nhân tố quan trọng bậc nhất tácđộng đến QLTC các trường

* Trình độ tổ chức bộ máy kế toán trong đơn vị:

Mỗi đơn vị sự nghiệp là một chủ thể tài chính độc lập Để phản ánh các nghiệp

vụ kinh tế, tài chính phát sinh, đơn vị phải tổ chức thực hiện công tác kế toán Kếtoán là việc thu thập, xử lý, cung cấp phân tích thông tin về hoạt động kinh tế tàichính diễn ra trong đơn vị Một cơ chế quản lý tài chính hiệu quả hay kém hiệu quả

sẽ được phản ánh rõ nét nhất qua những kết quả, số liệu của công tác kế toán, thống

kê Các đơn vị sự nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước hiện đang hạch toán kếtoán theo quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính Quyếtđịnh này ban hàmh chế độ kế toán hành chính sự nghiệp Công tác quản lý tài chính

và tổ chức công tác kế toán có tác động qua lại lẫn nhau Từ kết quả của công việc

kế toán, thủ trưởng đơn vị và các cán bộ quản lý có liên quan có thể rút ra nhữngTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 28

kinh nghiệm, bài học để quản lý tài chính ngày càng tốt hơn Ngược lại việc quản

lý tài chính tốt hay chưa tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phản ánh thông tin trênbáo cáo kế toán

* Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị như: thanh tra tàichính, kiểm tra tài chính, kiểm toán, kiểm soát nội bộ, thuế… Với bất kỳ công tácquản lý nào đều phải được giám sát thực hiện bởi một hệ thống kiểm tra, kiểm soát.Đây có thể là công tác kiểm tra nội bộ trong đơn vị hay là sự giám sát của các cơquan khác ngoài đơn vị như cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán… Việc kiểm tragiám sát luôn luôn cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý tài chính.Bởi trong quá trình điều hành ngân sách, thực thi các nhiệm vụ của mình, đơn vị cóthể vấp phải những sai sót Việc kiểm tra, kiểm soát sẽ tìm ra những thiếu sót trongcông tác quản lý tài chính từ đó kịp thời đưa ra biện pháp khắc phục Đặc biệt là khi

có người cố tình lợi dụng kẽ hở của quản lý tài chính để tham ô, tham nhũng Khi

đó, việc kiểm tra, kiểm soát sẽ vấp phải những khó khăn song nó sẽ giúp công tácquản lý tài chính ngày càng hoàn thiện hơn

* Trình độ cán bộ quản lý:

Có thể nói con người là trung tâm của mọi hoạt động trong xã hội Công tácquản lý tài chính sẽ khuyến khích hay hạn chế sự phát triển của đơn vị sự nghiệptuỳ thuộc vào năng lực trình độ của người vận dụng nó Trước hết, ở tầm vĩ mô,những nhà hoạch định chính sách, những nhà xây dựng luật pháp phải có sự hiểubiết, kiến thức chuyên sâu đầy đủ Để đạt được điều đó phải trải qua một quá trìnhthực tế để rồi được con người nhận thức và điều chỉnh cho phù hợp Đối với đơn vị

là nơi được trực tiếp sử dụng nguồn tài chính thì yếu tố con người lại càng đặt ramột yêu cầu cấp thiết Người sử dụng ngân sách từ lãnh đạo cho đến cán bộ quản lýcần thiết phải có trình độ chuyên môn kể cả phẩm chất đạo đức, tính tuân thủ cácnguyên tắc, quy định của nhà nước để quản lý tài chính một cách chặt chẽ, đảm bảođúng pháp luật và phát huy tối đa hiệu quả của nguồn tài chính

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC TRƯỜNG THPT CÔNG LẬP

2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế-xã hội và quy mô, chất lượng và mạng lưới cơ

sở vật chất các trường trung học phổ thông công lập ở TP Huế

Là một thiết chế văn hóa giáo dục tại các đơn vị hành chính, trường THPTchịu ảnh hưởng lớn của các điều kiện tự nhiên, KT-XH nơi trường đóng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của thành phố Huế

Thành phố Huế ở toạ độ địa lý: 107o31‘45‘‘-107o38' kinh Ðông và16o30'‘45‘‘-16o24' vĩ Bắc Nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc -Nam của các tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gầntuyến hành lang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á Cách Hà Nội 675 km vềphía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.060 km, nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm Trung bộ với các trung tâm kinh tế đang phát triển nhanh như khu khuyếnkhích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Thành phố Đà Nẵng, khu kinh tế

mở Chu Lai, khu công nghiệp Dung Quất

Thành phố Huế có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú vàdiện mạo Riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gianphong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh, Thànhphố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một khônggian cảnh quan thiên nhiên-đô thị-văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival

và các hoạt động du lịch thể thao khác nhau

Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyềnthống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta có được

và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm ở vị trí trung tâm của các disản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng) vàgần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu vực

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 30

Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạođến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc vàmiền Nam nước ta.

Chế độ nhiệt: Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt độtrung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C

+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nênkhô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C - 29°C, thángnóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C

+ Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồngbằng là 20°C - 22°C

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu

từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình 85%-86%

- Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sangTây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễgây lũ lụt, xói lở

- Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:

+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơimạnh gây khô hạn kéo dài

+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thườngkèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt

+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10

Đặc điểm tự nhiên này đã tác động rất lớn đến công tác điều hành, quản lý tàichính của các trường THPT Nóng lạnh, mưa nhiều, lũ lụt, bão là thường xuyênnhưng theo mức độ khác nhau Vì vậy, cần có phương pháp quản lý tài chính đểứng phó có hiệu quả với các tình huống của tự nhiên

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 31

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội

2.1.2.1 Du Lịch - Dịch vụ - Thương mại

Du lịch dịch vụ là yếu tố chính trong cơ cấu phát triển kinh tế của thành phốHuế Đã tổ chức nhiều hoạt động, lễ hội văn hoá, văn nghệ, triển lãm với quy mô,chất lượng thu hút lượng lớn nhân dân và du khách trong ngoài nước đến Huế Cáckhách sạn, cơ sở lưu trú, các loại hình dịch vụ du lịch tiếp tục được đầu tư nâng cấp

để phục vụ du khách; các tour, tuyến du lịch tiếp tục được củng cố, tăng cường khaithác có hiệu quả Doanh thu du lich năm 2012 ước đạt 1.215,1 tỷ đồng, tăng 21,1%

so cùng kỳ; Tổng lượt khách du lịch đến Huế ước đạt: 1.732 nghìn lượt khách, tăng12,1% so với cùng kỳ.Trong đó: khách quốc tế đạt: 723.100 lượt khách, tăng10,6%, khách trong nước đạt: 1.009.200 lượt khách, tăng 13,3% Tổng ngày kháchước đạt: 3.461 nghìn ngày khách, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.Trong đó:ngày khách quốc tế đạt: 1.462.400 ngày, tăng 10,7%; khách trong nước đạt:1.999.400 ngày, tăng 10,1%

Thương mại – dịch vụ tiếp tục giữ được mức phát triển ổn định và đạt mứctăng trưởng khá Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2012 ước đạt: 16.400 tỷđồng tăng 25,1% so với cùng kỳ Thương nghiệp và cơ sỏ sản xuất bán lẻ: 11.714,5

tỷ đồng tăng 25,2 %; Doanh thu từ các hoạt động dịch vụ khác trên địa bàn ước đạt:962,5 tỷ đồng, tăng 21,2%

Hệ thống các siêu thị, chợ trên địa bàn tiếp tục được đầu tư nâng cấp, công tácbảo vệ được tăng cường và đảm bảo an toàn không để xảy ra tình trạng cháy, nổ.Công tác xúc tiến thương mại và đầu tư trên địa bàn tiếp tục được quan tâm, quản lýnhà nước về các hoạt động thương mại được tăng cường

Hoạt động xuất khẩu tăng trưởng khá, tổng trị giá xuất khẩu ước đạt trên 60triệu USD đạt 100% kế hoạch năm (kể cả xuất khẩu tại chỗ)

Các loại hình dịch vụ bưu chính, viễn thông và thông tin liên lạc liên tục đượcđổi mới về công nghệ phục vụ tốt nhu cầu sử dụng của khách hàng Hoạt động tíndụng ngân hàng ngày càng phát triển, chính sách giảm lãi suất, tăng nguồn vốn chovay đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 32

Hoạt động giao thông vận tải phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng khá, đápứng nhu cầu giao thương cũng như đi lại của người dân Tổng doanh thu ngành ướcđạt 542,285 tỷ đồng, tăng 16% so cùng kỳ Trong đó: vận tải đường bộ: 535,31 tỷđồng, tăng 16%; vận tải đường sông: 6,975 tỷ đồng, tăng 16,4%.

2.1.2.2 Công nghiệp - TTCN

Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Thành phố năm 2012vẫn còn gặp nhiều khó khăn do giá cả một số vật tư nguyên, nhiên liệu sản xuất tăngảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp.Tuy nhiên sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố chủ yếu nhỏ lẻ nên ít bị tácđộng, tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục giữ được ổn định Nhiều mặt hàng xuất khẩuvẫn tiếp tục duy trì mức tiêu thụ khá như may mặc, chế biến thực phẩm đặc sản,nước giải khát đồ uống, hàng thủ công mỹ nghệ và văn hoá phẩm phục vụ khách dulịch, cơ khí tiêu dùng, vật liệu xây dựng trang trí nội thất….giá trị sản xuất côngnghiệp-tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn ước đạt 4.250 tỷ đồng (giá hiện hành) tăng13,2%; giá trị sản xuất công nghiệp Trong đó: Kinh tế hợp tác xã ước đạt 28,997 tỷđồng, tăng 7,87%; Kinh tế tư nhân và hỗn hợp ước đạt 548,531 tỷ đồng tăng13,98%; Kinh tế cá thể ước đạt 365,725 tỷ đồng tăng 12,88%

2.1.2.3 Sản xuất nông nghiệp

Bước sang năm 2012, tình hình thời tiết diễn biến thuận lợi đã tạo điều kiệncho cây lúa và các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt Năng suất lúađạt khá cao (bình quân ước đạt 57 tạ/ha, sản lượng 11.000 tấn, tăng so với năm

2011 là 9 tấn) Trong chăn nuôi, công tác tiêm phòng cho gia súc thực hiện tốt; cácloại dịch bệnh như: lở mồm long móng, tai xanh, dịch cúm gia cầm được giám sátchặt chẽ, cho đến nay chưa phát hiện trường hợp nào bị bệnh Thường xuyên tiếnhành kiểm tra, hướng dẫn công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm tra giết mổ giasúc, gia cầm, xử lý tiêu độc…Triển khai nạo vét hệ thống kênh mương để phục vụcho sản xuất, đảm bảo nước phục vụ tưới tiêu và chống hạn mặn, thực hiện tốt côngtác chi trả và quyết toán tiền hỗ trợ thuỷ lợi phí cho nông dân

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 33

2.1.2.4 Thu chi Ngân sách

Dự toán thu ngân sách năm 2012 tỉnh giao: 711,922 tỷ đồng, thực hiện657,275 tỷ đồng đạt 92,32% so với kế hoạch tỉnh giao, thực hiện không đạt dự toán.Các khoản thu ngoài quốc doanh, thuế thu nhập cá nhân, thu tiền sử dụng đất, thutiền nhà thuộc sở hữu nhà nước, lệ phí trước bạ không đạt kế hoạch giao Ngay từđầu năm Thành phố đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 18/01/2012 về việctăng cường các giải pháp phấn đấu tăng thu ngân sách nhà nước năm 2012 trong đó

đã chỉ đạo các cấp, các ngành, UBND các phường, cơ quan Thuế, Hội đồng tư vấnthuế, tăng cường công tác quản lý thuế, tập trung đẩy mạnh công tác thu ngân sách,bảo đảm thu đúng, thu đủ, kịp thời Triển khai các giải pháp tăng thu, chống thấtthu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp gianlận thuế, trốn thu Tuy nhiên do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, giá cả các loạinguyên nhiên vật liệu tăng cao, thị trường bất động sản đóng băng Ngoài ra Chínhphủ, Bộ Tài chính đã có nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinhdoanh, hỗ trợ thị trường cho các doanh nghiệp như miễn thuế, giản thuế nên cáckhoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách không đạt kế hoạch gây khókhăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ chi

Tổng chi ngân sách 2012 đạt 856,489 tỷ đồng bằng 122,1% kế hoạch năm.Thành phố đã tập trung chi cho đầu tư phát triển, chi hoạt động thường xuyên, ngoài

ra còn đảm bảo nhiều nhiệm vụ chi đột xuất như: Chỉnh trang đô thị, vệ sinh môitrường, chi cho an sinh xã hội, chính sách Tết; các hoạt động hưởng ứng Năm dulịch quốc gia Duyên hải Bắc Trung bộ, Festival Huế 2012, Hội nghị các thành phốlịch sử (LHC) lần thứ 13 tại Huế bổ sung kinh phí xoá nhà tạm cho hộ nghèo,phòng chống dịch,

2.1.2.5 Khoa học công nghệ

Triển khai tốt các hoạt động Khoa học công nghệ năm 2012 theo kế hoạch; tiến hànhkiểm tra các nội dung và tiến độ triển khai thực hiện các dự án KHCN của năm 2012 Tổchức kiểm tra đánh giá định kỳ Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9001:2008 tại các cơ quan thành phố Nhìn chung hoạt động KHCN của Thành phố trongTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 34

năm đã có nhiều đề tài thực hiện thành công và thực sự có hiệu quả trong việc ứng dụngKHCN vào sản xuất và đời sống.

2.1.3 Th ực trạng giáo dục THPT công lập ở thành phố Huế

Trong thời gian qua tình hinh kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, songđược sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh uỷ, HĐND,UBND tỉnh, sự phối hợp có hiệu quả, đồng bộ của các sở, ban, ngành, đoàn thểtrong tỉnh và các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương trong việc đầu tư các nguồnlực cho giáo dục, cơ sở vật chất trường lớp khối THPT công lập đặc biệt là trên địabàn thành phố Huế ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, tỷ lệ phònghọc kiên cố, phòng bộ môn, thư viện tăng; trang thiết bị giáo dục ngày càng đáp ứngtốt hơn quá trình dạy và học…

Tính đến cuối năm 2012, toàn thành phố hiện đang có 08 trường THPT cônglập Trong 8 trường THPT công lập của thành phố Huế có trường THPT chuyênQuốc Học, THPT Hai Bà Trưng, THPT Nguyễn Huệ và THPT Gia Hội là nhữngtrường có lịch sử hình thành lâu đời từ 50 năm đến trên 100 năm Các trường THPTNguyễn Trường Tộ, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Đặng Trần Côn là những trườngmới thành lập từ năm 2009 do chuyển từ các trường THPT bán công thành trườngcông lập Trường THPT Cao Thắng là trường được hình thành từ năm 2007 từ trungtâm kỹ thuật tổng hợp Đống Đa Hiện nay trường đang đảm nhận hai chức năng:dạy học các lớp THPT và tổ chức dạy nghề phổ thông cho học sinh trên địa bànthành phố Huế Toàn thành phố có 294 lớp và 12.554 học sinh, mỗi năm tuyển gần4.200 học sinh vào lớp 10 Số học sinh bình quân/ lớp là 45 em, phù hợp với định

mức nhà nước quy định tại Thông tư số 27/TT-LB ngày 27/8/1998.

Tổng số phòng học là 204 phòng, trong đó số phòng học kiên cố là 197phòng chiếm 96,6%, (trường THPT Nguyễn Huệ còn 07 phòng học tạm đangtrong quá trình xây dựng) Đến nay, cấp THPT công lập trên địa bàn thành phố đã

có đã có 35 phòng học bộ môn Số phòng học được xây mới theo hướng kiên cốhóa, hiện đại hóa đảm bảo phù hợp với quy hoạch theo hướng chuẩn Quốc gia về

cơ sở vật chất; đồng thời, tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu của trường đạt chuẩnTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 35

Quốc gia Tất cả các phòng học, cơ sở vật chất hiện đã và đang khai thác đưa vào

sử dụng phục vụ cho công tác dạy và học trong nhà trường đạt hiệu quả Tổng sốphòng học kiên cố được nâng lên, song cơ sở vật chất trường lớp trên địa bànthành phố chưa đáp ứng yêu cầu Các trường THPT mới được thành lập nhưTHPT Nguyễn Trường Tộ, THPT Bùi Thị Xuân, đặc biệt là THPT Đặng Trần Côn

cơ sở vật chất còn yếu và thiếu nhiều, phần lớn học 2 ca, nhiều đơn vị thiếuphòng học bộ môn; đồ dùng dạy học, thiết bị được đầu tư nhưng chưa có phòng đểtriển khai, sử dụng; cơ sở vật chất phòng học bị xuống cấp chưa được tu bổ kịpthời, nhiều trường học chưa đủ diện tích khuôn viên tối thiểu Do đó, tính đến naytoàn thành phố mới có 3/8 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 37,5% (tỷ lệ nàycủa toàn Tỉnh là 7/41 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 17,1%)

Ba năm trở lại đây, Tỉnh đã có nhiều chính sách quan tâm, đầu tư trong lĩnhvực đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên Năm học 2011-

2012, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được tăng cường về số lượng vàchất lượng ngày càng được nâng lên, cơ bản hoàn thành việc chuẩn hóa trình độchuyên môn, phong trào tự học, tự bồi dưỡng được triển khai thường xuyên; toàn bộgiáo viên chưa đạt chuẩn nhưng đủ điều kiện đều được cử đi đào tạo chuẩn hóa, một

bộ phận đáng kể được thực hiện tinh giản theo Nghị định 132 Việc tuyển dụng viênchức được ưu tiên đối với đối tượng đào tạo chuyên ngành sư phạm, tốt nghiệp cáctrường đại học trọng điểm, đại học Quốc gia hoặc đại học công lập có uy tín

Đến nay, trình độ đạt chuẩn của nhà giáo và cán bộ quản lý toàn ngành đạt98,8% (trên chuẩn đạt 9,5%,) trong đó, tỷ lệ giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩnkhối THPT trên địa bàn Thành phố Huế là 100% (trên chuẩn là 15,3%) Tỷ lệ giáoviên năm 2012 tăng 12% so với năm 2011 Tuy nhiên, nếu xét theo tỷ lệ giáo viênđứng lớp qua các năm từ 2010-2012 so với định mức quy định thì số giáo viênTHPT công lập của TP chưa đồng bộ Cơ cấu giáo viên vẫn ở trong tình trạng mấtcân đối giữa các môn học; đội ngũ giáo viên tuy có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩncao nhưng hiệu quả, chất lượng giảng dạy chưa tăng lên tương xứng, một bộ phậngiáo viên chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt giáo viên ngoại ngữ, tin học

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 36

Chất lượng giáo dục năm học 2011-2012 trên địa bàn toàn tỉnh đã có nhiềuchuyển biến tích cực so với năm học trước: tỉ lệ học sinh THPT có học lực- hạnhkiểm: Tốt 30.015 em, đạt tỷ lệ 68,38%, tăng 1,32% so với năm học trước; Khá10.757 em, đạt tỷ lệ 24,51%, giảm 1.6% so với năm học trước.

- Học lực: Giỏi 2.490 em đạt tỷ lệ 5,67%, tăng 1,21% so với năm học trước;Khá 14393 em, đạt tỷ lệ 32,79%, tăng 1.6% so với năm học trước

Kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT: Có 14.561 học sinh tốt nghiệp, tỷ lệ 99.78%tăng 2,68% so với năm học trước; tỷ lệ tốt nghiệp khá, giỏi 30.53%, tăng 19,19% sovới năm học trước

Trên địa bàn thành phố Huế chất lượng 2 mặt hạnh kiểm và học lực được duytrì ở mức ổn định trong vòng 3 năm 2009-2012

Bảng 2.1: Kết quả xếp loại học lực của học sinh trên địa bàn thành phố Huế

Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TT-Huế

Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh trên địa bàn thành phố Huế

Đơn vị tính:%

Năm học Cấp trung học phổ thông

Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo TT-Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 37

Kết quả các kỳ thi đã phản ánh khá sát với tình hình chất lượng giáo dục đàotạo ở các đơn vị trường học trên địa bàn thành phố:

- Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2011 - 2012: Tỷ lệ tốt nghiệp đạt 100%(cao hơn tỷ lệ chung toàn tỉnh là 0,09%,) Trong đó Giỏi 11,95% ); Khá 40,08%

- Kết quả các kỳ thi chọn học sinh giỏi toàn tỉnh phản ánh một cách chính xác

về thành tích đạt được của các đơn vị và đã động viên khuyến khích được phong tràothi đua dạy tốt, học tốt trong các đơn vị trường học.Đặc biệt là trường THPT chuyênQuốc Học.Trong kỳ thi học sinh giỏi cấp Tỉnh trường THPT chuyên Quốc Học đạt

200 giải(18 giải nhất, 31 giải nhì, 54 giải ba, 97 giải khuyến khíc).THPT Nguyễn Huệđạt 67 giải: 4 giải Nhì (ở bộ môn Sinh, Tiếng Anh, Tiếng Pháp); 16 giải Ba (các mônVăn, Sử, Tiếng Anh, Địa, Tin, Máy tính cầm tay) và 47 giải Khuyến khích Toànđoàn được xếp thứ Ba của Tỉnh

- Kết quả thi Học sinh giỏi Quốc gia lớp 12 trường THPT Quốc Học tham gia

đã đạt 57 giải quốc gia (Trong đó có 01giải nhất môn Hóa, 03 giải nhì, 27 giải ba,

26 giải khuyến khích).năm 2012 là năm có số lượng học sinh đạt giải cao nhất từtrước đến nay,đặc biệt là môn Hóa năm đầu tiên đạt giải nhất quốc gia.hai emNguyễn Tất Thiên Phước giải nhất môn Hóa và em Tô Hữu Quân giải nhì môn Tin

đã tham gia kỳ thi chọn vào đội tuyển dự thi Quốc tế

- Kết quả xếp hạng qua kì thi Đại học năm 2012 TP Huế có 03 trường THPTnằm trong tốp 200 trường có tổng điểm trung bình 3 môn thi cao nhất toàn quốc (trường THPT chuyên Quốc Học; THPT Nguyễn Huệ; THPT Hai Bà Trưng)

2.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính ở các trường THPT công lập trên

địa bàn thành phố Huế và những kết quả, hạn chế của công tác này

Các trường THPT công lập là loại hình trường do cơ quan nhà nước có thẩmquyền quyết định thành lập và quản lý Công tác quản lý tài chính căn cứ vào Nghịđịnh 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ áp dụng đối với đơn vị sựnghiệp có thu và tiếp tục được đổi mới, thay thế bằng Nghị định 43/2006/NĐ-CPngày 24/5/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổchức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tiếp đó là vănTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 38

bản hướng dẫn của Nhà nước: Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tàichính hướng dẫn thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập Theo đó các trường THPT công lập được: Nhà nước đầu tư cơ sởvật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chínhtrị, chuyên môn được giao Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí được tiếnhành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhậpcho cán bộ, viên chức Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.

2.2.1 Th ực trạng công tác quản lý tài chính ở các trường THPT công lập tại địa bàn Thành Ph ố Huế trong thời gian qua

2.2.1.1 Bộ máy quản lý tài chính và quy trình lập dự toán

* Bộ máy quản lý tài chính.

- Tại Sở Tài chính: Việc theo dõi, quản lý tài chính đối với các trường đượcphân công cho phòng Hành chính sự nghiệp văn xã

- Tại Sở giáo dục và Đào tạo: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đã được phâncấp toàn bộ công tác theo dõi quản lý tài chính giao cho phòng kế hoạch tài chính

- Tại các đơn vị dự toán: Các đơn vị dự toán trực tiếp nhận kinh phí do cơquan tài chính cấp, chủ tài khoản là hiệu trưởng

* Quy trình lập dự toán

Hàng năm các trường lập dự toán gửi Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục

và đào tổng hợp dự toán của các trường gửi Sở Tài chính Dự toán của Sở Giáodục và đào tạo gửi Sở Tài chính phải chi tiết từng đơn vị, chi tiết nguồn kinh phígiao khoán và không giao khoán Dự toán thu chi ngân sách phải kèm theo bảnthuyết minh chi tiết căn cứ tính toán của từng khoản thu chi

Khi UBND tỉnh thông báo số kiểm tra dự toán Ngân sách năm, các trường xâydựng dự toán và Sở Giáo dục và Đào tạo tổng hợp dự toán của các trường Sở Tàichính tổ chức thảo luận dự toán Ngân sách đối với Sở Giáo dục và Đào tạo, việcthảo luận phải chi tiết kinh phí thu, chi của từng đơn vị dự toán Sở Tài chính tổnghợp kết quả thảo luận, báo cáo UBND tỉnh để trình Hội đồng nhân dân tỉnh phêduyệt dự toán thu chi ngân sách hàng năm

Trường Đại học Kinh tế Huế

Trang 39

Cơ sở để xây dựng dự toán:

Đối với dự toán ngân sách chi thường xuyên

Các trường THPT công lập trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo định mức phân

bổ dự toán chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao theo định mức đối vớiđơn vị trực thuộc sở 41.958.000 đồng/ biên chế/ năm (chưa bao gồm kinh phí để chitrả các khoản phụ cấp ưu đãi của ngành giáo dục theo quy định hiện hành)

Mức chi thường xuyên cho

các trường THPT công lập =

Số cán bộ, viên chứcđược giao trong năm X

Định mức phânbổ/ một cán bộ,viên chức/ năm

Đối với nhóm chi không thường xuyên như: chi sửa chữa lớn; mua sắm tàisản cố định, tăng cường cơ sở vật chất trường học; chi thực hiện các nhiệm vụđột xuất được cấp có thẩm quyền giao… căn cứ vào báo cáo tài chính thực trạngtình hình tài sản, cơ sở vật chất hiện có để từ đó có cơ sở xây dựng kế hoạch

Đối với dự toán các CTMT, hàng năm căn cứ vào chỉ tiêu vốn CTMT củaTrung ương giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và SởGiáo dục và Đào tạo tiến hành phân bổ vốn chi tiết đến từng đơn vị trình UBNDtỉnh xem xét, quyết định

Đối với dự toán thu học phí, được phân bổ căn cứ vào số học sinh bình quânnăm kế hoạch và mức thu học phí đã được UBND tỉnh quy định cho từng vùng,miền Ngoài ra, trừ đi một tỷ lệ học sinh miễn, giảm học phí quy định cho từngvùng, miền Việc quản lý và sử dụng các nguồn thu học phí, lệ phí của các trườngTHPT công lập quản lý các nguồn thu như phần kinh phí NSNN cấp, các thu được

để lại thực hiện theo dự toán được duyệt sau đó được phản ánh thu, chi NSNN theohình thức ghi thu, ghi chi Số thu chưa hết được chuyển sang năm sau sử dụng

2.2.1.2 Quy trình điều hành, cấp phát NSNN cho các trường

Các trường THPT công lập là đơn vị dự toán cấp 2 trực thuộc Sở Giáo dục

và đào tạo Từ năm 2007 trở về trước Sở Tài chính phân bổ kinh phí cho Sở Giáodục và Đào tạo, sau đó Sở giáo dục và Đào tạo tiếp tục phân bổ dự toán cho cácTrường Đại học Kinh tế Huế

Trang 40

trường Dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao cho các trường theobốn nhóm mục chi và được chi theo 4 quý: Chi thanh toán cá nhân; chi nghiệp vụchuyên môn; chi mua sắm, sửa chữa; các khoản chi khác Vì vậy, trong quá trìnhchấp hành dự toán các đơn vị chỉ được chủ động chi tiêu đối với các mục chitrong từng nhóm chi Nếu cần điều chỉnh mức chi tiêu giữa các nhóm chi thì phảiđược sự cho phép của cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan tài chính, điều nàygây thủ tục phiền hà và dễ dẫn đến tiêu cực Mặc khác cấp qua ngành giáo dụctạo nên nhiều cấp trung gian, bộ máy cồng kềnh, dẫn đến chậm trễ Từ năm 2008đến nay dự toán thu chi ngân sách các trường gửi lên Sở giáo dục và đào tạođồng thời gửi Sở Tài chính Sở Tài chính thẩm định và cấp phát trực tiếp đếntừng đơn vị sử dụng ngân sách Đối với các khoản chi thường xuyên Sở Tàichính cấp vào một nhóm duy nhất các trường được chủ động điều chỉnh mức chitiêu theo thực tế phát sinh

Sơ đồ 2.1: Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục của TT Huế

UBND Tỉnh

NS Giáo dục do

GD trực tiếp quản lý

HĐND Tỉnh

Sở Tài chính

Trường Đại học Kinh tế Huế

Ngày đăng: 08/11/2016, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - Chủ trương, thực hiện, đánh giá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới-Chủ trương, thực hiện, đánh giá
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
2. Báo Giáo dục và Thời đại (2010), Cơ chế phát triển giáo dục - đào tạo trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, Số 145,146 tháng 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế phát triển giáo dục - đào tạo trongnền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Tác giả: Báo Giáo dục và Thời đại
Năm: 2010
3. Bộ Tài chính (1998), Thông tư liên tịch số 54/1998/TTLB/GD&ĐT-TC ngày 31/8/1998 của liên Bộ Giáo dục & Đào tạo - Tài chính hướng dẫn thực hiện thu, chi và quản lý học phí ở các cơ sở giáo dục & đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 54/1998/TTLB/GD&ĐT-TC ngày31/8/1998 của liên Bộ Giáo dục & Đào tạo - Tài chính hướng dẫn thực hiệnthu, chi và quản lý học phí ở các cơ sở giáo dục & đào tạo công lập thuộc hệthống giáo dục Quốc dân
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 1998
4. Bộ Tài chính (2002), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Luật Ngân sách Nhànước
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2002
5. Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2003), Thông tư liên tịch số 21/2003/TTLT-BTC-BGD-BNV ngày 24/3, hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với các cơ sở gíáo dục và đào tạo công lập hoạt động có thu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịchsố 21/2003/TTLT-BTC-BGD-BNV ngày 24/3, hướng dẫn chế độ quản lý tàichính đối với các cơ sở gíáo dục và đào tạo công lập hoạt động có thu
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ
Năm: 2003
6. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006, chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006, chế độkế toán hành chính sự nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
7. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006, hướng dẫn thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006, hướng dẫnthực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cônglập
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
8. Bộ Tài chính (2006), Thông tư số 81/2006/TT/BTC ngày 6/9/2006, hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 81/2006/TT/BTC ngày 6/9/2006, hướng dẫnchế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
9. Chính phủ (1998), Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998, về việc thu và sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 70/1998/QĐ-TTg ngày 31/3/1998, về việc thuvà sử dụng học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thốnggiáo dục Quốc dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
10. Chính phủ (1999), Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1998, vể chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế,Trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1998, vể chính sáchkhuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục phổ thông - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Sơ đồ 1.1 Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục phổ thông (Trang 18)
Bảng 2.1: Kết quả xếp loại học lực của học sinh trên địa bàn thành phố Huế - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Bảng 2.1 Kết quả xếp loại học lực của học sinh trên địa bàn thành phố Huế (Trang 36)
Sơ đồ 2.1: Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục của TT Huế - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Sơ đồ 2.1 Mô hình cấp phát ngân sách giáo dục của TT Huế (Trang 40)
Bảng 2.3: Nguồn tài chính của các trường THPT Tp Huế - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Bảng 2.3 Nguồn tài chính của các trường THPT Tp Huế (Trang 41)
Bảng 2.4: Mức thu học phí bậc THPT công lập trên địa bàn thành phố - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Bảng 2.4 Mức thu học phí bậc THPT công lập trên địa bàn thành phố (Trang 43)
Bảng 2.6: Cơ cấu các khoản chi thường xuyên từ nguồn NSNN các trường - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Bảng 2.6 Cơ cấu các khoản chi thường xuyên từ nguồn NSNN các trường (Trang 45)
Bảng 2.7: Phân bổ chi tiêu nguồn thu học phí các trường THPT - Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở các trường trung học phổ thông công lập trên trên địa bàn thành phố huế
Bảng 2.7 Phân bổ chi tiêu nguồn thu học phí các trường THPT (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w