hộ nông dân trên địa bàn huyện đã có bước phát triển mới về quy mô, tính chất vàhiệu quả, ngày càng xuất hiện nhiều hộ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệpgiỏi theo mô hình trang
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Cao học này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các dữ liệu, kết quả nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Phạm Xuân Đình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến
TS Phan Văn Hòa, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quátrình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học vàquý Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế đã quan tâm, nhiệt tình giảng dạy,giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Quảng Ninh, các phòng banchuyên môn của huyện đặc biệt là phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chicục Thống kê huyện Quảng Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp tài liệu và các
số liệu liên quan Cảm ơn sự giúp đỡ của các HTXNN và bà con xã viên trên địabàn huyện Quảng Ninh
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ những tình cảm đến gia đình, những ngườithân của tôi và Lãnh đạo, cán bộ Sở Tài chính nơi tôi công tác đã tạo điều kiện,động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Huế, tháng 6 năm 2015 Tác giả luận văn
Phạm Xuân Đình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: PHẠM XUÂN ĐÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Niên khóa: 2013-2015
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN VĂN HÒA
Tên đề tài: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ của cácHTX nông nghiệp, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của các HTXnông nghiệp ở địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu: các HTXNN và xã viên trên địa bàn huyện QuảngNinh, tỉnh Quảng Bình
2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm; phương pháp chọn mẫu và thangđo; phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu; phương pháp tổng hợp và xử lý điều tra
3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Chỉ ra những khó khăn ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của các hợp tác xãnông nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Đánh giá chất lượng dịch vụ của cácHTXNN trên địa bàn huyện
Đưa ra được hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của cácHTXNN ở huyện Quảng Ninh
Bên cạnh các kết quả đạt được, các HTXNN cần mạnh dạn, sáng tạo hơnnữa trong việc tìm hướng đi mới sao cho phát huy được những nguồn lực hiện cócủa mình để chất lượng dịch vụ nông nghiệp ngày càng nâng cao
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG ix
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 5
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTX NÔNG NGHIỆP 6
1.1 DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 6
1.1.1 Tổng quan về dịch vụ 6
1.1.1.1 Khái niệm về dịch vụ 6
1.1.1.2 Tính chất của dịch vụ 7
1.1.2 Chất lượng dịch vụ 9
1.1.2.1 Định nghĩa chất lượng 9
1.1.2.2 Chất lượng dịch vụ 10
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ 13
1.1.3.1 Nhóm yếu tố bên ngoài 14
1.1 3.2 Nhóm nhân tố bên trong 16
1.1.4 Vai trò của chất lượng dịch vụ 17
1.2 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HTX VÀ DỊCH VỤ CỦA HTXNN 19
1.2.1 Tổng quan về HTX 19
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các loại hình HTX 19
1.2.2 Sự cần thiết và vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp 25
1.2.2.1 Sự cần thiết của dịch vụ HTX trong nông nghiệp 25
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 61.2.2.2 Vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp 26
1.2.3 Mô hình HTXNN ở Việt Nam 28
1.2.3.1 HTX dịch vụ nông nghiệp 28
1.2.3.2 HTXNN sản xuất - kinh doanh – dịch vụ tổng hợp 30
1.2.4 Mối quan hệ giữa kinh tế nông hộ với kinh tế HTX trong nông nghiệp, nông thôn 31
1.2.5 Khái quát về phát triển các HTXNN ở tỉnh Quảng Bình 32
1.3 CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA HTXNN 34
1.3.1 Chất lượng dịch vụ của HTXNN 34
1.3.2 Những nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ của các HTXNN 37
1.4 KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA HTXNN TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 39
1.4.1 Kinh nghiệm của các HTXNN của một số nước trên thế giới 39
1.4.2 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dịch vụ ở một số HTXNN điển hình của Việt Nam 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTX NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 46
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ HTXNN HUYỆN QUẢNG NINH 46
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Quảng Ninh 46
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 46
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 50
2.1.1.3 Đánh giá chung tình hình cơ bản của huyện ảnh hưởng đến phát triển HTX NN và chất lượng dịch vụ của các HTX nông nghiệp 53
2.1.2 Tình hình cơ bản của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh 55
2.1.2.1 Tình hình phát triển HTXNN ở huyện Quảng Ninh 55
2.1.2.2 Tình hình bộ máy tổ chức quản lý các HTXNN ở huyện Quảng Ninh 56
2.1.2.3 Tình hình lao động của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh 58
2.1.2.4 Tình hình đất đai của các HTX NN ở huyện Quảng Ninh 59
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTXNN Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 60
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 72.2.1 Thực trạng dịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh 60
2.2.1.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ của các HTX NN ở huyện Quảng Ninh 60
2.2.1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ của các HTX NN ở huyện Quảng Ninh 63
2.2.1.3 Các loại hình dịch vụ của HTXNN ở huyện Quảng Ninh 64
2.2.1.4 Tình hình thực hiện dịch vụ của HTXNN ở huyện Quảng Ninh 65
2.2.1.5 Tình hình tài chính, tài sản và đầu tư cơ sở vật chất kinh doanh dịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh 69
2.2.1.6 Kết quả kinh doanh dịch vụ của một số dịch vụ chủ yếu của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh năm 2014 70
2.2.1.7 Đánh giá của của xã viên về chất lượng dịch vụ của các HTXNN được điều tra ở huyện Quảng Ninh 91
2.2.1.8 Đánh giá của xã viên về sự cần thiết của HTX đối với hoạt động sản xuất của nông hộ 96
2.2.1.9 Tinh thần hợp tác của xã viên đối với dịch vụ của các HTXNN 96
2.2.2 Đánh giá chung về chất lượng dịch vụ của HTXNN 97
2.2.2.1 Những kết quả đạt được 97
2.2.2.2 Những tồn tại, khó khăn 98
2.2.2.3 Nguyên nhân tồn tại 100
2.2.2.4 Những bài học kinh nghiệm 101
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH .103
3.1 MỘT SỐ YÊU CẦU CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTXNN Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 103
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTXNN Ở HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH 105
3.2.1 Giải pháp về nguồn vốn 105
3.2.3 Giải pháp quản lý HTX 107
3.2.4 Giải pháp về sự phối hợp hoạt động giữa các HTXNN trong từng vùng của huyện 108
3.2.5 Củng cố lại các hoạt động dịch vụ kinh doanh hiện tại 109
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 83.2.6 Mở rộng, bổ sung thêm loại hình dịch vụ hợp lý 111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113
1 Kết luận 113
2 Kiến nghị 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1 VÀ 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Quảng Ninh
giai đoạn 2012-2014 50Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Quảng Ninh năm 2014 51Bảng 2.3 Tình hình phát triển HTX ở huyện Quảng Ninh
giai đoạn 2012-2014 55Bảng 2.4 Tình hình chung về xã viên và cán bộ quản lý của các HTXNN ở
huyện Quảng Ninh giai đoạn 2012 -2014 56Bảng 2.5: Tình hình cán bộ quản lý của các HTXNN huyện Quảng Ninh
năm 2014 56Bảng 2.6 Tình hình cán bộ và xã viên của các HTX ở huyện Quảng Ninh giai
đoạn 2012- 2014 58Bảng 2.7 Tình hình đất đai của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh
giai đoạn 2012- 2014 60Bảng 2.8 Tình hình chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các HTX qua 3
năm 2012- 2014 61Bảng 2.9a Tình hình đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ quản lý các HTX
giai đoạn 2012 - 2014 63Bảng 2.9b Các loại hình dịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh giai đoạn
2012-2014 64Bảng 2.10 Tình hình thực hiện dịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh giai
đoạn 2012-2014 65Bảng 2.11 Tình hình vốn SXKD của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh g
iai đoạn 2012-2014 69Bảng 2.12 Tình hình kinh doanh dịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh
được điều tra 72Bảng 2.13: Biến động kết quả hoạt động dịch vụ bảo vệ thực vật của các HTXNN
được điều tra thuộc huyện Quảng Ninh năm 2014 73Bảng 2.14: Kết quả hoạt động dịch vụ bảo vệ thực vật của các HTXNN được điều
tra năm 2014 77ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10Bảng 2.15: Kết quả hoạt động dịch vụ tưới tiêu và thủy lợi nội đồng của các
HTXNN được điều tra ở huyện Quảng Ninh năm 2014 78Bảng 2.16: Kết quả hoạt động dịch vụ tưới tiêu và thủy lợi nội đồng của các
HTXNN được điều tra ở huyện Quảng Ninh năm 2014 81Bảng 2.17: Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp của các
HTXNN được điều tra ở huyện Quảng Ninh năm 2014 84Bảng 2.18: Kết quả hoạt động dịch vụ bảo vệ đồng của các HTXNN được điều tra ở
huyện Quảng Ninh năm 2014 86Bảng 2.19: Kết quả hoạt động dịch vụ làm đất của các HTXNN được điều tra ở
huyện Quảng Ninh năm 2014 87Bảng 2.20: Kết quả hoạt động dịch vụ cung ứng giống lúa của các HTXNN được
điều tra ở huyện Quảng Ninh năm 2014 90Bảng 2.21: Số lượng phiếu điều tra xã viên 92Bảng 2.22: Đánh giá của xã viên về chất lượng dịch vụ của các HTXNN ở huyện
Quảng Ninh năm 2014 93Bảng 2.23: Nhận xét của xã viên về giá cả dịch vụ của các HTXNN Ở huyện Quảng
Ninh năm 2014 94Bảng 2.24: Đánh giá của xã viên về năng lực quản lý của cán bộ các HTXNN ở
huyện Quảng Ninh năm 2014 95Bảng 2.25: Đánh giá của xã viên về sự cần thiết của HTXNN đối với hoạt động sản
xuất của hộ xã viên ở huyện Quảng Ninh năm 2014 96
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bản đồ 2.1: Bản đồ hành chính huyện Quảng Ninh 47
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức ở một số HTX NN điển hình ở
huyện Quảng Ninh 57
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 12PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 ra đời, các Hợp tác xã nông nghiệp(HTXNN) ở huyện Quảng Ninh, Quảng Bình đã có sự chuyển biến quan trọng cả vềnhận thức và chất lượng hoạt động dịch vụ, đáp ứng một phần nhu cầu của nhữngngười lao động, hộ xã viên Các Hợp tác xã (HTX) hoạt động theo mô hình HTXkiểu mới cơ bản đã thay đổi cung cách quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động Nhờ
đó, số HTX hoạt động khá có xu hướng ngày càng tăng lên, một số HTX năngđộng, nhạy bén trong cơ chế thị trường, xây dựng được phương án sản xuất kinhdoanh hợp lý, từng bước hoạt động có hiệu quả
Các HTXNN ở huyện Quảng Ninh đã góp phần không nhỏ trong việc trợgiúp nông hộ về dịch vụ như: cung ứng vật tư, phân bón; giống cây trồng; thuỷ lợi(tưới tiêu và thuỷ lợi nội đồng); dịch vụ bảo vệ thực vật; dịch vụ làm đất; dịch vụbảo vệ đồng…Nhờ làm tốt dịch vụ nên kết quả đạt được của nông nghiệp huyệnQuảng Ninh không thể phủ nhận sự đóng góp của các hợp tác xã nông nghiệp
Tuy vậy, các HTXNN ở huyện Quảng Ninh hiện nay vẫn còn nhiều mặt yếukém; số HTX làm ăn có hiệu quả còn ít, lợi ích đem lại cho xã viên chưa nhiều,chưa đóng góp nhiều vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương; tínhhình thức trong chuyển đổi HTX theo Luật Hợp tác xã chưa được khắc phục cănbản; nhiều HTX quy mô nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, khả năng cạnh tranh thấp, chậmđổi mới Những tồn tại và khó khăn này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạtđộng của khu vực HTX: số lượng HTX khá giỏi tăng chưa nhiều, nhiều HTX hoạtđộng cầm chừng và yếu kém đi; không ít HTX mới chỉ làm được dịch vụ đầu vào,còn bỏ trống khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp tín dụng cho xã viên, chưamạnh dạn thực hiện liên doanh, liên kết để mở thêm nhiều ngành nghề mới
Nguyên nhân chính là do chất lượng dịch vụ của HTX chưa cao, dẫn đến khảnăng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần còn gặp nhiều hạn chế, một bộ phận khôngnhỏ hộ nông dân không mặn mà với cách thức làm dịch vụ của HTX; bên cạnh đónguồn vốn hoạt động, trình độ quản lý, điều hành còn hạn chế Trong khi đó, kinh tế
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13hộ nông dân trên địa bàn huyện đã có bước phát triển mới về quy mô, tính chất vàhiệu quả, ngày càng xuất hiện nhiều hộ sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệpgiỏi theo mô hình trang trại, bắt đầu chuyển sang xu hướng sản xuất hàng hóa và cónhu cầu liên kết, hợp tác với nhau để tự bảo vệ và phát triển kinh tế của mình, nângcao năng lực sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa trong cơ chế thị trường;mặt khác một số tổ chức, tư thương vùng lân cận luôn mở rộng, phát triển thị phầncung ứng một số dịch vụ do HTX đảm trách như các loại vật tư, phân bón, thuốc trừsâu, giống cây trồng, máy làm đất…
Chất lượng dịch vụ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnhtranh của HTXNN trong môi trường kinh doanh đang diễn biến ngày càng phức tạp.Thực tiễn cho thấy, một HTXNN có chất lượng dịch vụ được người sử dụng đánh giácao sẽ giúp HTX khác biệt hóa được hình ảnh thương hiệu của mình trong tâm tríngười sử dụng, duy trì khách hàng hiện có, gia tăng khách hàng trung thành, thu hútkhách hàng tiềm năng và giảm chi phí kinh doanh cho HTX Nâng cao chất lượngdịch vụ là hoạt động then chốt trong Marketing nông nghiệp nhằm hướng các hoạtđộng quản lý HTX vào khách hàng mục tiêu, đem lại sự thỏa mãn cho khách hàngkhi sử dụng dịch vụ với chất lượng tốt nhất
Vì vậy, để tháo gỡ khó khăn cho HTXNN, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăngkhả năng cạnh tranh các dịch vụ nông nghiệp đáp ứng nhu cầu thúc đẩy kinh tế hộphát triển, đồng thời góp phần thay đổi các quan hệ kinh tế giữa hộ - HTX trong bốicảnh mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải cấp bách đổimới và nâng cao chất lượng dịch vụ của HTXNN trên địa bàn huyện
Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” làm luận
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của các HTXNN
ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến chất lượngdịch vụ của các HTXNN ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu
+ Số liệu sơ cấp:
Phỏng vấn xã viên và các HTXNN thông qua bảng hỏi để thu thập số liệu sơcấp phục vụ cho nghiên cứu
+ Số liệu thứ cấp được tham khảo từ các tài liệu sau:
- Tạp chí, Báo điện tử và các kết quả nghiên cứu về chất lượng dịch vụ củacác HTX trong và ngoài nước;
- Niên giám thống kê huyện Quảng Ninh các năm 2012, 2013, 2014;
- Các báo cáo về hoạt động của các HTXNN trên địa bàn huyện Quảng Ninhcủa Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện qua từ 2012 đến 2014;
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15- Báo cáo của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quảng ninh
về Xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể;
- Báo cáo của Huyện uỷ Quảng Ninh về Tổng kết thực hiện Nghị quyết Hộinghị Trung ương 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảkinh tế tập thể;
- Báo cáo của Liên minh HTX tỉnh Quảng Bình về HTX; báo cáo của Chicục phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình về HTX nông nghiệp;
- Kế hoạch của UBND huyện Quảng Ninh về Đổi mới phát triển các hìnhthức tổ chức kinh tế HTx trong nông nghiệp;
- Kế hoạch của UBND tỉnh Quảng Bình về Tổ chức lại HTX theo Luật Hợptác xã năm 2012
4.2 Phương pháp chọn mẫu và thang đo
+ Thang đo: Sử dụng thang đo likert
+ Kích thước mẫu: Để tính chất đại biểu của mẫu cao, chúng tôi sử dụngphương pháp chọn mẫu kết hợp, chọn điều tra 10 HTXNN (trong tổng số 30HTXNN năm 2014, thuộc 9/15 xã, thị trấn của huyện Quảng Ninh) và điều tra ngẫunhiên 150 xã viên của 10 HTXNN thuộc 9/15 xã của huyện, bao gồm 125 phiếutheo nguyên tắc: likert x likert x 5, và 25 phiếu theo nguyên tắc điều tra thêm 20%
đề phòng một số xã viên không trả lời Tổng số phiếu thu hồi được là 145, đảm bảođiều kiện Trong số 10 HTX thì 5 HTX thực hiện dưới 5 khâu dịch vụ (chủ yếu 3-5khâu) và 5 HTX xã thực hiện từ 5 khâu dịch vụ trở lên (chủ yếu 5-7 khâu) nhằm tìm
ra nguyên nhân tại sao trên cùng địa bàn, cùng cơ hội và thách thức, nhưng lại có sựkhác biệt về chất lượng dịch vụ Từ đó làm rõ được sự linh hoạt cũng như hạn chế
về chất lượng dịch vụ của các HTX
4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
+ Phương pháp phân tổ thống kê:
Phương pháp này được sử dụng để xác định điều tra các HTX và các xã viên
về cung cấp và sử dụng các loại dịch vụ, sau đó tiếp tục được sử dụng để phân tổcác mẫu điều tra theo các chỉ tiêu, phục vụ cho phân tích định lượng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16+ Phương pháp thống kê mô tả, so sánh và hạch toán kinh tế:
Kết quả chất lượng dịch vụ của HTXNN được phân tích bằng cách lượnghóa và so sánh các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, lợi nhuận…
+ Phương pháp toán kinh tế:
Kết quả điều tra xã viên được xử lý dựa trên phần mềm SPSS,
Tính toán cronbach alpha: Phương pháp này cho phép người phân tích loại
bỏ các biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánhgiá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số thông qua hệ số cronbach alpha Thang đo có hệ
số cronbach alpha từ 0,6 trở lên là có thể sử dụng được
4.4 Công cụ tổng hợp và xử lý số liệu
Số liệu sau khi điều tra được phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS vàMicrosoft Excel
5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn có kết cấu 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch vụ của HTXNN;
- Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ của các HTXNN ở huyện QuảngNinh, Quảng Bình;
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ củacác HTXNN ở huyện Quảng Ninh, Quảng Bình
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HTX NÔNG NGHIỆP
Đã có nhiều khái niệm và định nghĩa về dịch vụ, theo từ điển tiếng Việt (2004):
“Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông,
Tác giả Nguyễn Văn Thanh cho rằng:“Dịch vụ là một hoạt động lao động
sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [26]
Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là những
hoạt động lao động tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật thế, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào cũng đều hình thành những hệĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18các dịch vụ Mỗi loại dịch vụ cụ thể đều gắn liền với mỗi hệ thống cung ứng nhấtđịnh Hệ thống này lại gắn kết với những ý tưởng, chất lượng dịch vụ của doanhnghiệp và mức độ cung ứng dịch vụ cho khách hàng Chính vì vậy khi đề cập đếndịch vụ không thể không nói đến hệ thống cung cấp dịch vụ Hệ thống cung ứngdịch vụ bao gồm các yếu tố vật chất và con người được tổ chức chặt chẽ theo một
hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cungcấp và sử dụng dịch vụ một cách có hiệu quả Các yếu tố trong hệ thống bao gồm:khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, người cung ứng dịch
vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ Các yếu tố này có mối quan hệchặt chẽ với nhau trong hệ thống Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn tới sựthay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ Hệ thống bao hàm quá trìnhhoạt động có định hướng, bao gồm các yếu tố vô hình và hữu hình, các yếu tố vậtchất và tâm lý tình cảm đan xen nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ
Vì vậy dịch vụ có các nguyên tắc sau:
+ Dịch vụ có tính cá nhân phải đúng đối tượng người được phục vụ thì dịch
vụ mới có giá trị
+ Dịch vụ phải có tính khác biệt (bất ngờ, thuận lợi, hợp lý)
+ Dịch vụ phải đi tiên phong để từng bước tạo sự khát vọng trong tâm tríngười tiêu dùng
1.1.1.2 Tính chất của dịch vụ
Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có một số đặc thù, tính chất giúp ta phânbiệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, và chính những đặc điểm này làm chodịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận thấy bằng mắt thường được.peter & angela (2006) cho rằng dịch vụ có bốn đặc trưng cơ bản: tính vô hình, tínhkhông đồng nhất, tính không lưu trữ và tính không thể chia tách
+ Tính vô hình: không tồn tại dưới dạng vật chất, dịch vụ không có hình hài.
Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trước khi được sử dụng Dịch vụ không thểcấp bằng sáng chế và dịch vụ không thể trưng bày hay quảng bá
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19+Tính không chia cắt được (không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ
thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất
và quá trình tiêu dùng phải đồng thời diễn ra Thiếu mặt này thì không có mặt kia,
do vậy dịch vụ không thể chuyển giao quyền sở hữu
+ Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất,
điều này cũng có nghĩa hầu hết người cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với người tiêudùng ở một mức độ nào đó và được khách hàng cảm nhận đó như là một phầnkhông thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó Vì tính chất này nên rất khó để đánhgiá được chất lượng dịch vụ
+ Tính không lưu trữ được: Dịch vụ không được lập kho để lưu trữ như
hàng hóa được Hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian
và không gian và có một công suất phục vụ được ấn định trong ngày Công suất chỉtrở nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ.Mỗi dịch vụ chỉ được tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại Dịch vụ bị giới hạnbởi thời gian và không gian
Ngoài các tính chất trên, dịch vụ có thể được mô tả với các thuộc tính như sau:+ Thiếu tính chất có thể chuyên chở được: Dịch vụ phải được tiêu thụ tại nơi
“sản xuất” dịch vụ
+ Thiếu tính đồng nhất: Dịch vụ thường được sửa đổi để phù hợp cho mỗikhách hàng Việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ Cả việc nhập và xuấtcủa quá trình cung cấp dịch vụ thì rất dễ biến đổi cũng như các mối quan hệ của quátrình này nên rất khó duy trì chất lượng đồng nhất
+ Yếu tố nhân lực: Dịch vụ bao gồm đáng kể các hoạt động của con người,hơn là các quá trình được định ra một cách chính xác Vì vậy quản trị nhân lựctrong kinh doanh dịch vụ là rất quan trọng, nhân tố con người thường là nhân tốthen chốt mang lại sự thành công trong ngành dịch vụ
+ Biến động nhu cầu: Rất khó để dự đoán nhu cầu, nhu cầu dịch vụ có thểthay đổi theo mùa, thời gian trong ngày, chu kỳ kinh doanh
+ Phải có mặt người mua dịch vụ: Hầu hết việc kinh doanh dịch vụ đều đòiĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 201.1.2 Chất lượng dịch vụ
1.1.2.1 Định nghĩa chất lượng
Nói đến “chất lượng” ta thường nghĩ đến sản phẩm, dịch vụ có giá trị bằnghoặc cao hơn điều mong đợi của người mua Điều mong đợi này dựa trên mức độ sửdụng mong muốn và giá bán Khi một sản phẩm đáp ứng và vượt quá điều mongđợi thì sản phẩm hay dịch vụ đó được coi là có chất lượng Như vậy, chất lượng làmột phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp những nội dung về kỹ thuật,kinh tế và xã hội Tùy theo đối tượng sử dụng “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau.Người sản xuất coi chất lượng là điều phải làm để đáp ứng quy định và yêu cầu dokhách hàng đặt ra Chất lượng được so với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đikèm các chi phí, giá cả Do con người và các nền văn hóa trên thế giới khác nhaunên có nhiều cách hiểu về chất lượng cũng khác nhau
Theo Deming, một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ về chất
lượng, định nghĩa chất lượng như sau: Chất lượng là mức độ dự đoán trước về
tính đồng nhất (đồng dạng) và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và thị trường chấp nhận [4].
Theo Russell: “ Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng hóa và dịch vụ, đặc
biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và làm hài lòng khách hàng ”[4].
Theo Ishikawa: “ Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường” [4].
Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) định nghĩa: Chất lượng là mức
độ thỏa mãn một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu Ở đây yêu cầu là các
nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán[28]
Như vậy, chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ
thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan.
Từ định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc điểm sau về khái niệm chất lượng:(1) Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phầm vì lý donào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, dùtrình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21(2) Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến độngnên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng.
(3) Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xem xét đến mọi đặctính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầunày không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêucầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
(4) Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩnnhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thểcảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng
(5) Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà tavẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
1.1.2.2 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi, các nhànghiên cứu đã gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượngdịch vụ mà không hề có sự thống nhất nào (Wisniewski, 2001)[28].
Khác với chất lượng hàng hóa có thể quan sát bằng kiểu dáng, hình thức bênngoài trước khi khách hàng quyết định mua, chất lượng dịch vụ chỉ có thể đượcđánh giá sau khi đã mua và sử dụng dịch vụ Như vậy chất lượng dịch vụ là những
gì khách hàng cảm nhận được Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thứchay cảm nhận của khách hàng liên quan đến cá nhân nhu cầu của chính họ Trênthực tế có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy theo góc độ củangười quan sát
Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa và đolường chất lượng dịch vụ Theo Lehtinen và Lehtinen (1982) cho rằng chất lượngdịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2)kết quả của dịch vụ Gronroos (2001) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượngdịch vụ đó là (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì khách hàng cảm nhận được và (2)chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào Tuy nhiên khi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 22Parasuraman & ctg (1988, 1991) Parasuraman & ctg (1988) định nghĩa chất lượngdịch vụ là “ mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ vànhận thức của họ về kết quả của dịch vụ” Nghiên cứu của Parasuraman cho rằngChất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họđang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hưởng thụ Như vậy, theoParasuraman thì sự cảm nhận chất lượng của khách hàng là việc đánh giá có tínhkhách quan nhất về chất lượng dịch vụ[5].
Theo Hurbert (1995) thì trước khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hìnhthành một “kịch bản” về dịch vụ đó Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấpkhông giống nhau, khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng về chất lượng dịch vụ.Dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình Khách hàng nhận được sản phẩm này thôngqua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận Đặc điểm nổi bật là kháchhàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sửdụng chúng Khách hàng phải thuê phòng ở trong khách sạn mới biết chất lượngphục vụ của các nhân viên dọn phòng hay giặt ủi áo quần Khách hàng chỉ biết vềchất lượng đào tạo hay chất lượng tư vấn của đơn vị đào tạo, tư vấn bên ngoài saukhi họ hoàn tất hợp đồng Một đặc điểm khác là chất lượng dịch vụ rất dễ bị ảnhhưởng bởi các yếu tố bên ngoài và dễ bị nhầm lẫn
Như vậy, qua các quan điểm về chất lượng dịch vụ trên chúng ta có một định
nghĩa chung về chất lượng dịch vụ như sau: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách
giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ” Tìm hiểu chất lượng
dịch vụ là cơ sở cho việc thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chấtlượng cung ứng các dịch vụ nông nghiệp Vì vậy nó không chỉ quan trọng trongviệc xây dựng mục tiêu phát triển mà còn định hướng cho HTX kinh doanh dịch vụnông nghiệp phát triển thế mạnh của mình một cách tốt nhất Mặc dù có nhiều cáchhiểu và sử dụng khác nhau về chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào mục đích nghiêncứu hay hoàn cảnh sử dụng thì nhìn chung chất lượng dịch vụ cũng bao gồm 5 đặctrưng cơ bản sau:
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 23Tính vượt trội
Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượttrội “ưu việt” của mình so với khi khcáh hàng không sử dụng dịch vụ Chính sự ưuviệt này làm cho chất lượng dịch vụ trở thành thế mạnh cạnh tranh của đơn vị cungcấp Sự đánh giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ nông nghiệp chịu ảnhhưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía xã viên sử dụng dịch vụ Điều này có ý nghĩarất lớn đối với việc nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ nông nghiệp từ phía xãviên trong các hoạt động Marketing nông nghiệp của HTX nông nghiệp
Tính đặc trưng của sản phẩm
Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinhtrong sản phẩm dịch vụ, tạo nên đặc tính của dịch vụ Vì vậy, dịch vụ có chất lượngcao sẽ hàm chứa nhiều đặc trưng vượt trội hơn so với các dịch vụ cấp thấp Sự phânbiệt này gắn liền với việc xác định các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình củacác sản phẩm dịch vụ Chính nhờ đặc điểm này mà hộ xã viên có thể nhận biết chấtlượng dịch vụ của HTX so với việc không sử dụng dịch vụ của HTX và đối thủcạnh tranh khác trong lĩnh vực cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp Tuynhiên, trong thực tế rất khó xác định các đặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách đầy
đủ và chính xác Vì vậy đặc trưng này không có giá trị tuyệt đối mà chỉ mang tínhtương đối giúp cho việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể dễdàng hơn mà thôi
Tính cung ứng
Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình cung ứng dịch vụ đến khách hàng
Do đó, việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽquyết định chất lượng dịch vụ tốt hay xấu Đây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sựbiểu hiện của đơn vị cung cấp dịch vụ Vì vậy để nâng cao chất lượng dịch vụ, đơn
vị cung cấp trước tiên cần phải biết cải thiện yếu tố nội tại này để tạo ra thế mạnhlâu dài của chính đơn vị mình trong quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24Tính thỏa mãn nhu cầu
Dịch vụ tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của khác hàng, do đó chất lượng dịch vụnhất thiết phải thỏa mãn nhu cầu khách hàng và lấy yêu cầu của khác hàng làm căn
cứ để cải thiện chất lượng dịch vụ Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không đápứng được nhu cầu của mình thì họ sẽ không hài lòng với chất lượng dịch vụ mà họnhận được Trong môi trường kinh doanh hiện đại thì đặc điểm này càng trở nên quantrọng hơn bao giờ hết vì các đơn vị cung cấp dịch vụ phải luôn hướng đến nhu cầukhách hàng và cố gắng hết mình để đáp ứng các nhu cầu đó Sẽ là vô ích và không cóchất lượng nếu cung cấp dịch vụ mà khách hàng đánh giá là không có giá trị
Tính tạo ra giá trị
Chất lượng dịch vụ được gắn liều với các giá trị được tạo ra nhằm phục vụkhác hàng Doanh nghiệp tạo ra giá trị và khách hàng là đối tượng tiếp nhận nhữnggiá trị đó Vì vậy, việc xem xét chất lượng dịch vụ hay các giá trị đem lại cho kháchhàng phụ thuộc vào đánh giá của khách hàng chứ không phải của doanh nghiệp.Thông thường, khách hàng đón nhận những giá trị dịch vụ mang lại và so sánhchúng với những gì họ mong đợi sẽ nhận được
Như vậy, Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhậncủa khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ Chất lượng dịch vụ thườngkhó đánh giá hơn chất lượng hàng hóa hữu hình Nhận thức về chất lượng dịch vụ làquá trình so sánh giữa mong đợi của khách hàng và những hoạt động cụ thể của nhàcung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những mong đợi đó Những đánh giá của chấtlượng không chỉ được tạo ra từ dịch vụ mà còn bao gồm những đánh giá về quátrình thực thi dịch vụ
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố nên việc xác định chínhxác các yếu tố đó phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứudịch vụ đó
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 251.1.3.1 Nhóm yếu tố bên ngoài
* Điều kiện tự nhiên - cơ sở hạ tầng
Điều kiện tự nhiên - cơ sở hạ tầng có tác động rất lớn đến hoạt động kinhdoanh dịch vụ, thường tác động bất lợi đối với các hoạt động dịch vụ, đặc biệt là sảnxuất nông phẩm, thực phẩm theo mùa vụ, để chủ động đối phó với các tác động củayếu tố tự nhiên, các đơn vị cung ứng dịch vụ phải tính đến các yếu tố tự nhiên cóliên quan thông qua các hoạt động phân tích, dự báo của bản thân đơn vị và đánhgiá của các cơ quan chuyên môn
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết định sự phát triển của nền kinh tếcũng như sự phát triển của các đơn vị cung ứng dịch vụ Hệ thống đường xá, giaothông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điệnquốc gia ảnh hưởng tới doanh thu, chi phí kinh doanh dịch vụ, khả năng cung ứngcác loại dịch vụ, nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả nănggiao dịch thanh toán của các đơn vị cung ứng dịch vụ do đó ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả kinh doanh dịch vụ và theo đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cung ứngdịch vụ
* Nhân tố kinh tế vĩ mô
Kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nềnkinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái…tất cả cácyếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của đơn vị cung ứngdịch vụ Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả nhữngthách thức với đơn vị cung ứng dịch vụ Để đảm bảo thành công trong hoạt độngkinh doanh dịch vụ trước biến động về kinh tế, các đơn vị cung ứng dịch vụ phảitheo dõi, phân tích dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, cácchính sách tương ứng trong cùng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng khai thác những
cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa Khi phân tích dự báo sự biến độngcủa các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các đơn vị cung ứng dịch vụ cầndựa vào một số căn cứ quan trọng đó là: các số liệu tổng hợp của kỳ trước, các diễnbiến thực tế của kỳ nghiên cứu, các dự báo của nhà kinh tế lớn
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26Các biến động về kính tế, chính trị, xã hội có tác động rất lớn đến sự tồn tại
và phát triển của các đơn vị cung ứng dịch vụ Đáng kể đến là cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu năm 2008 là căn bệnh tài chính mà các quốc gia trên thế giới đều bịtác động Việt Nam cũng không ngoài các quốc gia bị tác động
* Nhân tố Văn hóa - xã hội
Văn hóa xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanhcủa một đơn vị cung ứng dịch vụ Đơn vị cung ứng dịch vụ cần phải phân tích cácyếu tố văn hóa - xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Mỗimột sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một loại dịch vụ mới nhưngcũng có thể xóa đi một loại dịch vụ hiện có
* Nhân tố ổn định chính trị
Môi trường chính trị ổn định là nhân tố rất quan trọng trong phát triển kinh
tế, bởi vì nếu tình hình chính trị thiếu ổn định sẽ tạo ra rủi ro và như vậy các đơn vịcung ứng dịch vụ sẽ rất khó huy động vốn và bản thân họ cũng không muốn đầu tư,
mở thêm loại hình dịch vụ mới Do vậy, để phát triển kinh tế, các nước đều chútrọng tạo lập một môi trường chính trị ổn định, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư trong
và ngoài nước
* Nhân tố chính sách thuế của Nhà nước
Thuế là công cụ góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế vừa kíchthích vừa định hướng phát triển, đồng thời nó góp phần thực hiện công bằng và bìnhđẳng xã hội Chính sách thuế phải thực sự là động lực, góp phần thực hiện các cânđối lớn trong nền kinh tế quốc dân, giữa tích luỹ và tiêu dùng để thúc đẩy quá trìnhtái sản xuất mở rộng Mặt khác chính sách thuế phải ổn định, các thủ tục phải đơngiản, dễ thực hiện để đơn vị cung ứng dịch vụ yên tâm kinh doanh dịch vụ
Năm 2009 nhà nước việt nam đã có nhiều chính sách thuê giúp doanh nghiệpnói chung, đơn vị cung ứng dịch vụ nói riêng cải thiện tình hình sau đợt khủnghoảng trầm trọng 2008 như: Sự thay đổi quan trọng và nhìn chung có lợi choHTXNN trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là việc giảm thuếsuất thuế TNDN từ 28% xuống 25% Các DN và nhà đầu tư coi việc giảm thuế suất
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27là hết sức tích cực, nhờ chính sách thuế hợp lý đã khuyến khích đơn vị cung ứngdịch vụ quyết định đầu tư và mở rộng thêm loại hình dịch vụ hơn.
Vào đầu năm 2013, Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ ban hành đầu năm
2013 với giải pháp giãn, giảm, miễn thuế cho doanh nghiệp nói chúng, trogn đó cóHTXNN nói riêng là một trong những hỗ trợ thiết thực, giúp cộng đồng doanhnghiệp vượt qua khó khăn, giúp giải cứu nhiều DN khỏi phá sản, thêm vốn phục hồisản xuất, kinh doanh Nói về việc giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn theo Nghịquyết 02 của Chính phủ
1.1 3.2 Nhóm nhân tố bên trong
* Nhân tố vốn
Thị trường vốn là nơi mà người thừa vốn (nhà đầu tư) có thể mua và bánchứng khoán bất kỳ lúc nào có nhu cầu mà không bị giới hạn về thời gian và thủ tụcmua bán Thông qua thị trường vốn các đơn vị cung ứng dịch vụ sẽ huy động đượckhoản vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình sản xuất - kinh doanh
Thị trường vốn hoạt động hoàn hảo sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị cung ứngdịch vụ trong nền kinh tế huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển Dovai trò và vị trí quan trọng của thị trường vốn, nên tất cả các nước phát triển kinh tếthị trường đều chú ý phát triển và hoàn thiện thị trường vốn, coi đó là tiền đề đểphát triển kinh tế
Vốn là một nhân tố cơ bản không thể thiếu của quá trình sản xuất kinhdoanh Nhờ có vốn mới kết hợp được lao động với những tiềm năng kinh tế hiệnthực để tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh Điều này đã được nhiều học giả nghiêncứu và đã được thực tế chứng minh Vì vậy, các đơn vị cung ứng dịch vụ cần cóchính sách về vốn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển vànâng cao chất lượng dịch vụ ổn định và hiệu quả
Về cơ cấu vốn cần từng bước tăng cường vốn chủ sở hữu để đảm bảo chủđộng trong sản xuất kinh doanh, giảm chi phí nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh dịch vụ của đơn vị cung ứng dịch vụ
* Nhân tố nguồn nhân lực và trình độ tổ chức quản lý kinh doanh dịch vụ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển nềnkinh tế - xã hội nói chung và đơn vị cung ứng dịch vụ nói riêng Nhân lực trong đơn
vị cung ứng dịch vụ có tác động trước hết đến năng suất và hiệu quả lao động Hiệnnay, nguồn nhân lực cho đơn vị cung ứng dịch vụ rất dồi dào nhưng chất lượngchưa cao, việc sử dụng nhân lực chưa được hợp lý và hiệu quả không cao Cơ chế
sử dụng lao động còn nhiều bất cập Đặc biệt là công tác đào tạo lao động ở các đơn
vị cung ứng dịch vụ ít được chú trọng, nhất là đào tạo theo chiều sâu
Vốn quý nhất của đơn vị dịch vụ là vốn nhân sự, một đội ngũ lao động đượcđào tạo gắn kết cùng đồng lòng chia sẻ thuận lợi và vượt qua những thử thách gay
go của quá trình kinh doanh nhất là lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp là điều rất quantrọng Do đó, các đơn vị cung ứng dịch vụ cần phải xây dựng cho mình một nguồnnhân lực có chất lượng đáp ứng được với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Song song với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải tổchức đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý của đơn vị cung ứng dịch vụ, đảm bảo tổchức cung ứng dịch vụ khoa học, đúng pháp luật và đem lại hiệu quả kinh tế caohơn, ổn định hơn, tạo ra sự phát triển cao và bền vững
* Nhân tố khoa học và công nghệ
Ngày nay công nghệ được hiểu là “tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giảipháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất” bao gồm trang thiết bị, kỹ năng tay nghề,kinh nghiệm của người lao động, các thông tin, dữ liệu, bí quyết sản xuất và cả yếu
tố tổ chức Trình độ công nghệ quyết định tới chất lượng, giá thành dịch vụ, hơnnữa chỉ có công nghệ hiện đại mới tạo ra được những sản phẩm cao cấp Hiện naycông nghệ của đơn vị cung ứng dịch vụ ở nước ta còn rất lạc hậu Để có thể cạnhtranh trên thị trường cần có chính sách đổi mới công nghệ theo hướng chủ yếu làtận dụng lợi thế của người đi sau, tiếp thu những công nghệ hiện đại của thế giớiphù hợp với điều kiện của từng địa phương
1.1.4 Vai trò của chất lượng dịch vụ
Trong môi trường kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành một yếu tốmang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29doanh nghiệp Theo M.E.Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệpđược thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản phẩm, dịch vụ(nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ) và chi phí thấp Vì vậy mà chất lượng sảnphẩm dịch vụ trở thành một trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhậncanh tranh, chịu tác động của quy luật cạnh tranh Sản phẩm dịch vụ muốn có tínhcạnh tranh cao thì chúng phải đạt được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của ngườitiêu dùng, của xã hội về mọi mặt một cách kinh tế nhất (sản phẩm, dịch vụ có chấtlượng cao và giá rẻ nhất) Với chính sách mở cửa, tự do thương mại, các nhà sảnxuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản phẩm, dịch vụ phải có tính cạnh tranh cao,nghĩa là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh về nhiều mặt Quan tâm đến chấtlượng sản phẩm dịch vụ, quản lý chất lượng dịch vụ chính là một trong nhữngphương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranh gaygắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua Khi giai đoạn cạnh tranh về giá thànhsản phẩm không còn là thế mạnh của các doanh nghiệp, người tiêu dùng ngày càng
ý thức cao về chất lượng dịch vụ hơn so với giá cả sản phẩm thì việc tạo nên lợi thếcạnh tranh về giá là vô cùng khó khăn Mỗi sản phẩm có rất nhiều thuộc tính chấtlượng khác nhau Các thuộc tính này được coi là một trong những yếu tố cơ bản tạonên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ngày nay.Khách hàng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có thuộc tính phùhợp với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình Họ so sánh cácsản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuậtthỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn Bởi vậy sản phẩm có thuộc tínhchất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định mua hàng vànâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Nâng cao vị thế và khả năng phát triển lâu dài của doanh nghiệp trên thịtrường Khi dịch vụ có chất lượng cao ổn định, đáp ứng được nhu cầu khách hàng
sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin của khách hàng về nhãn mác của sản
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30phẩm, dịch vụ Nhờ đó mà thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp được nâng cao,
có tác động to lớn đến quyết định mua hàng và sử dụng dịch vụ doanh nghiệp củakhách hàng
Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phốihợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từngthành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đềcủa sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vàlợi ích của mỗi thành viên Kinh tế hợp tác có hai hình thức, đó là tổ hợp tác (hợptác giản đơn) và HTX
HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau Năm 1942, IvanEmelianoff, một nhà nghiên cứu về HTX nhận xét rằng sự đa dạng của HTX là muônmàu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể Ngày nay, HTX
có mặt ở hầu hết các quốc gia và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về HTX
Liên minh HTX quốc tế (International cooperrative alliance - ICA) đượcthành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, đã định nghĩa HTX
như sau: HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp
ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ; Năm 1995, định nghĩa này đã
được hoàn thiện: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình
đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác.
Tổ chức Lao động quốc tế (International Labuor Organization - ILO) định
nghĩa "HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế
giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ,
sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách
sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung"
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng như sự khác nhau vềđặc điểm, cơ chế tổ chức, phương thức hoạt động của các mô hình HTX ở các nướctrên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung, đó là: HTX làmột tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành.Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của cácthành viên tham gia với phương châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chínhmình) Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tương trợ,giúp đỡ cộng đồng Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức vàhoạt động của HTX, Luật HTX năm 1996 ra đời, Luật HTX năm 2003, sau đó được
thay thế bởi Luật HTX năm 2012 (có hiệu lực từ 01/7/2013) Theo đó, "HTX là một
tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung
là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo qui định của pháp luật"
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 321.2.1.1.2 Đặc điểm của HTX
- Thành viên HTX bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, liên kết rộng rãinhững người lao động, hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc cácthành phần kinh tế, cả người có ít vốn và người có nhiều vốn, cùng góp vốn và gópsức trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lýdân chủ; cán bộ công chức được tham gia HTX với tư cách là xã viên HTX khôngthủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, chỉ làm những gì màmỗi thành viên riêng lẻ không làm được, hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ chocác thành viên phát triển
- Sở hữu của HTX là sở hữu đan xen, dựa trên sở hữu của các thành viên và
sở hữu tập thể, HTX không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên, màtôn trọng sở hữu của các thành viên; Sở hữu tập thể bao gồm các loại quỹ khôngchia, các tài sản hình thành do quá trình tích luỹ của HTX tạo nên và tài sản trướcđây được giao lại cho tập thể sử dụng làm tài sản không chia
- Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn quy mô, lĩnh vực và địabàn, trừ một số lĩnh vực có quy định riêng HTX hoàn toàn tự chủ trong hoạt độngsản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường, liên doanh liênkết với các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế
- Về mặt quản lý, có sự phân biệt rõ chức năng quản lý của ban quản trị vàchức năng điều hành của chủ nhiệm Thành viên ban quản trị nhất thiết phải là xãviên HTX, do đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên bầu Chủ nhiệm HTX cóthể là xã viên hoặc người ngoài HTX do ban quản trị thuê, hoạt động như một giámđốc điều hành Đây là điểm quan trọng tạo điều kiện để HTX có thể có đội ngũ cán
bộ điều hành chuyên nghiệp, nhờ đó có thể nâng cao được hiệu quả quản lý củaHTX trong tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình
- Hình thức phân phối trong HTX vừa theo lao động, vừa theo vốn góp cổphần và theo mức độ tham gia dịch vụ
- HTX là một tổ chức kinh tế, hoạt động lấy lợi ích kinh tế làm chính, baogồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội củacác thành viên
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33- Mô hình HTX rất linh hoạt và đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểmcủa từng vùng, từng ngành; với nhiều trình độ phát triển, từ thấp đến cao, từ làmdịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thànhviên, đến mở mang ngành nghề, vươn lên sản xuất kinh doanh tổng hợp và hìnhthành được các doanh nghiệp của HTX; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX.Với những đặc điểm trên, HTX kiểu mới hoàn toàn khác HTX kiểu cũ đượcxây dựng trong thời kỳ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trước đây (có các đặctrưng là tập thể hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, không thừa nhận vai trò của kinh tế hộ,phủ nhận vai trò kinh tế hàng hóa, tổ chức theo địa giới hành chính, sản xuất mangtính chất tập thể hóa, tập trung, phân phối theo ngày công lao động, thực hiện quánhiều nghĩa vụ xã hội và mô hình được thực hiện đồng loạt trong cả nước, ít chú ýđến đặc điểm riêng của từng vùng, từng ngành).
HTX kiểu mới cũng khác với công ty cổ phần HTX được thành lập do cácthành viên tự nguyện tập hợp, liên kết nhau lại để cùng kinh doanh hoặc hỗ trợ nhaukinh doanh; mỗi thành viên, dù góp ít hay nhiều vốn đều bình đẳng với nhau trongquyết định các vấn đề chung của HTX, với nguyên tắc cơ bản là mỗi người một láphiếu (nguyên tắc đối nhân) Trong khi đó, công ty cổ phần do các nhà đầu tư đứng
ra thành lập, tổ chức hoạt động lấy mục tiêu là lợi nhuận, các thành viên của công ty(các cổ đông) chỉ có quyền tham gia quyết định các vấn đề của công ty theo mức độgóp vốn (nguyên tắc đối vốn) Phân phối trong các công ty cổ phần là theo tỷ lệ vốngóp; còn HTX thì vừa phân phối theo vốn góp, vừa phân phối theo lao động và theomức độ tham gia các dịch vụ Nếu công ty cổ phần chỉ chịu tác động của thiết chếnhà nước và cơ chế thị trường, thì HTX còn chịu tác động của thiết chế cộng đồng
1.2.1.1.3 Phân loại HTX dịch vụ
Tuỳ đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn cụ thể và nhu cầu của nhữngngười tham gia mà HTX được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra Có thể nói,không có mô hình chung áp dụng cho mọi nơi Tuỳ điều kiện, đặc điểm để lựa chọn
mô hình HTX phù hợp Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, để phân loại HTX,thường căn cứ vào chức năng hoạt động, tính chất trình độ xã hội hóa, quy mô và
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34* HTX dịch vụ: bao gồm ba loại: HTX dịch vụ từng khâu; HTX dịch vụ tổng
hợp đa chức năng và HTX dịch vụ đơn mục đích hay HTX chuyên ngành
- HTX dịch vụ từng khâu còn gọi là HTX dịch vụ chuyên khâu có nội dunghoạt động tập trung ở từng lĩnh vực trong quá trình tái sản xuất hoặc từng khâu côngviệc trong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất, như HTX tín dụng, HTX muabán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới tiêu,HTX chuyên phòng trừ sâu bệnh
- HTX dịch vụ tổng hợp - đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồmnhiều khâu dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra),dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu, làm đất, bảo vệ đồng Tuỳ thuộc đặcđiểm, điều kiện, trình độ phát triển sản xuất và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu củanông hộ đối với từng loại hình dịch vụ có khác nhau Ở nước ta, trong điều kiện pháttriển nền nông nghiệp hàng hóa, một số loại hình dịch vụ là nhu cầu cần thiết đối vớitất cả các vùng trong cả nước Đó là dịch vụ tín dụng mà trước hết là cung cấp vốncho nông dân vay, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, thủy lợi, điện, khoa học kỹ thuật
- HTX dịch vụ đơn mục đích được hình thành từ nhu cầu của các hộ thànhviên cùng sản xuất - kinh doanh một loại hàng hoá tập trung, hoặc cùng làm mộtnghề giống nhau (HTX trồng rừng, HTX trồng mía ) HTX thực hiện các khâudịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹthuật, dịch vụ vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệvới cơ sở chế biến, ngân hàng
* HTX sản xuất kết hợp với dịch vụ: Đối với HTX loại này thì hoạt động sản
xuất là chủ yếu, dịch vụ là kết hợp, phù hợp trong các ngành tiểu thủ công nghiệp,xây dựng, nghề đánh cá, nghề làm muối (trừ ngành trồng trọt và chăn nuôi)
* HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện:
HTX loại này có cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế
độ hạch toán, kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của HTX kiểu mới vàtương tự một doanh nghiệp tập thể; Sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần: sở hữutập thể và sở hữu cổ phần Xã viên HTX tham gia lao động trong HTX được hưởng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 35lương theo nguyên tắc phân phối lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tậpthể) của HTX; HTX hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằmphát triển kinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên.
1.2.1.1.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX
* Tự nguyện
Mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của LuậtHTX, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia nhập HTX; không ai, không tổ chứcnào có thể bắt buộc người dân tham gia HTX; xã viên có quyền ra HTX theo quiđịnh của Điều lệ HTX Tự nguyện là nguyên tắc đầu tiên của HTX Xã viên khôngchịu bất kỳ áp buộc nào
* Dân chủ, bình đẳng và công khai
Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyềnngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khai kết quả hoạt động, phương hướngsản xuất, kinh doanh, việc trích lập các quỹ; chia lãi theo vốn góp, theo mức độ sửdụng dịch vụ của HTX; các đóng góp xã hội; các quyền lợi, nghĩa vụ của từng xãviên, trừ những vấn đề thuộc về bí mật kinh doanh, bí quyết công nghệ sản xuất doĐại hội xã viên quy định
Ở HTX, trước khi thành lập, tất cả xã viên đều hiểu biết rõ ràng nhu cầuchung của mình về kinh tế, văn hóa, xã hội; HTX đáp ứng nhu cầu chung đó (thôngqua cung cấp sản phẩm hay dịch vụ chung) có hiệu quả hơn so với từng xã viên tựmình đáp ứng Phương án hoạt động kinh doanh dịch vụ của HTX chính là phương
án tổ chức hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ chung cho mọi xã viên Mọi xãviên đều có quyền như nhau bàn bạc về việc thực hiện phương án sao cho có hiệuquả nhất Đến khi thành lập HTX, mọi xã viên phải góp vốn dù ít hay nhiều Khi sửdụng dịch vụ của HTX, xã viên có thể tiêu dùng nhiều ít khác nhau, nhưng xã viênnào cũng được lợi Phần thu nhập còn lại được đưa vào quỹ phúc lợi và quỹ pháttriển của HTX mang lại lợi ích chung cho cộng đồng xã viên và mỗi xã viên đềuđược hưởng một cách bình đẳng Với cách thức như vậy, rõ ràng HTX được quản lý
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36một cách dân chủ bởi tất cả xã viên; mỗi xã viên có một phiếu biểu quyết như nhau;mọi vấn đề của HTX đều được công khai, minh bạch trước xã viên.
* Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi
HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinhdoanh; tự quyết định về phân phối thu nhập; lập và mức trích lập các quỹ; mức tiềncông, tiền lương đối với những người làm việc cho HTX; Sau khi thực hiện xongnghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vàocác quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên,phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX
Xét cho cùng, HTX là tổ chức kinh tế tự quản của xã viên, mang lại lợi íchcho xã viên, tự chủ về tài chính thì đương nhiên tự chủ về hoạt động và trong mọiquyết định của mình Không cá nhân, tổ chức nào có thể can thiệp vào công việc nội
bộ của HTX Ngay cả khi Chính phủ hoặc các tổ chức khác hỗ trợ HTX thì vẫn phảitôn trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự quyết định của HTX Một khinguyên tắc này bị phá vỡ thì HTX không thể tồn tại, nếu có thì chỉ tồn tại về mặthình thức
1.2.2 Sự cần thiết và vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp
1.2.2.1 Sự cần thiết của dịch vụ HTX trong nông nghiệp
Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khókhăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bệnh phá hoại.Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác mang tínhchất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm đáp ứngyêu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng
hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng lẻ không có hiệu quả
Khi nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình táisản xuất ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, như dịch vụ về giống,phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thủy lợi Nếu từng hộ nông dân
tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp hơn so với hợp tác Từ đó nảy sinhnhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, dẫn đến hình thành dịch vụ HTX.
Ở nước ta, sau khi hộ nông dân được xác định là hộ kinh tế tự chủ, giờ đây,
họ đang đứng trước nhu cầu phải tổ chức lại để tạo nên sức mạnh mới trong điềukiện mới là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nói cách khác, họ
đã và đang cần những hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết kinh tế phù hợp, cóhiệu quả nhằm tự bảo vệ và phát triển kinh tế của mình, nâng cao năng lực sản xuấtkinh doanh nông nghiệp hàng hóa Bởi vì, khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, dotính phức tạp của sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi phải có sự liên kết, hợp tác để cùngtồn tại và phát triển Trong sản xuất hàng hóa, tuy đã là hộ tự chủ nhưng bản thânnông hộ luôn đứng trước những giới hạn trong việc góp sức, góp vốn kinh doanh,tìm hiểu thị trường và tiêu thụ sản phẩm, nghĩa là họ cần được hỗ trợ cả các dịch vụđầu vào và đầu ra Mặt khác, phát triển nông nghiệp hàng hóa trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và mở cửa nền kinh tế, đòi hỏi phải có sự hợptác, liên doanh, liên kết của nhiều lực lượng tham gia hoạt động sản xuất kinhdoanh, từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ, từ nghiên cứu - ứng dụng, triển khai cácthành tựu, quy trình khoa học và công nghệ, biến người nông dân không chỉ lànhững ông chủ nhỏ với lợi ích nhiều hơn mà còn kết hợp được hài hòa với lợi íchcủa các thành phần kinh tế, với lợi ích kinh tế của Nhà nước
Như vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dânđều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đangành Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan
hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển cáchình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn
1.2.2.2 Vai trò của dịch vụ HTX trong nông nghiệp
Bên cạnh khu vực kinh tế nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, một lực lượnglớn cư dân và người lao động nhỏ lẻ vì nhiều lý do họ không thể tham gia, khôngthể cạnh tranh với hai khu vực nêu trên Do đó, họ tự tổ chức sản xuất kinh doanhtheo mô hình hộ cá thể Dưới tác động của quy luật cạnh tranh và tiến bộ khoa học
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38kỹ thuật, họ phải liên kết lại với nhau, một mặt nhằm tăng năng lực cạnh tranh, mặtkhác giảm chi phí nhờ hiệu ứng quy mô.
Dịch vụ HTXNN có vai trò vô cùng quan trọng đối với sản xuất nói chung vàsản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ nói riêng trong quá trình phát triển nền kinh tế củađất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò đó thể hiện ở những mặt sau:
Một là, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp trong tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Các HTXNN có tác động tích cực đến việc hỗ trợ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển,tạo ra mối liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ, tăng cường sức cạnh tranhtrong cơ chế thị trường, khai thác các tiềm năng về vốn, kỹ thuật, để phát triển cácngành nghề, đa dạng hóa kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá,thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ nông dân, xã viên với nhà nước và các tổchức kinh tế nhà nước, tăng cường mối quan hệ liên minh công nông về kinh tế
Mặt khác, hiện nay sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ,phân tán, các hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp còn nhiều bất cập, bởi vậy pháthuy vai trò hỗ trợ, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tín dụng nội bộ của HTX nôngnghiệp để giúp đỡ các hộ nông dân sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá, đáp ứngnhu cầu thị trường
Hai là, góp phần mở rộng thị trường nông sản Cùng với quá trình phát triển
sản xuất hàng hoá của các ngành trong nền kinh tế quốc dân, nông sản hàng hoá ởnông thôn, nhất là các vùng chuyên canh và các hộ trang trại ngày càng tăng lên đòihỏi tăng cường khâu tổ chức sản xuất, chế biến nông lâm sản để tăng thêm giá trịkinh tế, nâng cao chất lượng, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, giảm thiểu rủi ro và sựchèn ép của tư thương, không những chiếm lĩnh thị trường trong nước mà cònhướng ra xuất khẩu
Ba là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động trên địa
bàn nông thôn Phát triển các HTXNN sẽ góp phần phát triển các ngành nghề nôngthôn, bao gồm các ngành nghề nông lâm thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ, đan lát gốmsứ; Khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí nông thôn, dịch vụ thương mại,cung ứng vật tư hàng hoá phục vụ sản xuất đời sống, tiêu thụ sản phẩm của nông
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39dân Trong quá trình hình thành và phát triển các ngành nghề nông thôn sẽ sử dụngmột số lượng nông dân đáng kể, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá, góp phần giải quyếtcông ăn việc làm cho người nông dân vùng nông thôn.
Bốn là, góp phần tiếp nhận khoa học công nghệ, thiết bị hiện đại vào các
khâu sản xuất nông nghiệp Khoa học công nghệ là nhân tố có vai trò quan trọngquyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng kinh tế hộgia đình, các cá nhân xét về cơ sở vật chất kĩ thuật ở khu vực nông thôn còn rất nhỏ
bé, chỉ có thành lập HTXNN mới tập hợp được sự đóng góp của đông đảo xã viên,khai thác mọi tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, cácHTXNN còn là nơi tổ chức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học công nghệ vàthông tin thị trường đến các hộ nông dân, xã viên
Năm là, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảm
nghèo cho người dân nông thôn Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sáchnhằm giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân nông thôn nóiriêng, nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn chiếm tỷ lệ khá cao Vì vậy, phát triểnHTXNN phù hợp với những đặc điểm cụ thể của từng nơi sẽ có vai trò từng bướcgiải quyết mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ở nông thôn
Mô hình HTX ở Việt Nam đã trải qua hơn 54 năm hình thành và phát triểnvới nhiều lần tìm tòi, thử nghiệm, sửa đổi nhằm phù hợp với từng giai đoạn pháttriển khác nhau cũng như tìm kiếm mô hình phù hợp, hiệu quả Không thể phủ nhậnnhững đóng góp của các HTX trong mỗi giai đoạn nhất định nhưng cũng cần thẳngthắn nhìn nhận, vai trò của các HTX hiện nay còn mờ nhạt trong xu thế phát triểnmạnh của các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế như mô hìnhtập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân,công ty cổ phần…
1.2.3 Mô hình HTXNN ở Việt Nam
1.2.3.1 HTX dịch vụ nông nghiệp
* Dịch vụ nông nghiệp (DVNN) là những điều kiện, những yếu tố cần thiếthoặc cần có cho một quá trình sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trongnông nghiệp (ví dụ cung cấp giống cây trồng, con gia súc, làm đất, tưới, tiêu nước,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40bảo vệ và phòng trừ sâu bệnh ), mà người sản xuất không có sẵn, không thể làmhoặc tạo ra được, hoặc nếu tự làm cũng không có hiệu quả, cho nên họ phải tiếpnhận các điều kiện, các yếu tố đó từ bên ngoài bằng các cách thức khác nhau như:mua, bán, trao đổi, thuê và nhờ… [27] DVNN có các đặc điểm sau:
- Tính thời vụ: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ, vì vậyhoạt động DVNN cũng mang tính thời vụ rõ nét Nghĩa là việc cung ứng, sử dụngcác DVNN chỉ xuất hiện vào những khoảng thời gian nhất định trong năm, đặc biệt
là những dịch vụ cho ngành trồng trọt
Trong thị trường dịch vụ nông thôn, các thành phần kinh tế khác nhau thamgia dịch vụ ngày càng đông đảo Do đó, cạnh tranh giành giật khách hàng, chiếmlĩnh thị trường ngày càng khốc liệt HTX muốn mở rộng dịch vụ có hiệu quả, không
có cách nào khác là phải tìm mọi cách cạnh tranh thắng lợi, phù hợp với thế mạnhcủa mình như nâng cao chất lượng, hạ giá dịch vụ, cung cấp kịp thời, thuận tiện và
có cách tiếp thị phù hợp v.v
-Tính có thể tự thực hiện: Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp là loại sản xuất
đơn giản, ít đòi hỏi trình độ cao về chuyên môn Những dịch vụ có tính lao vụ nhưlàm đất, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh người sản xuất đều có thể tự làm lấy được
DVNN chỉ có hiệu quả cao khi được thực hiện đồng thời và trên phạm virộng lớn Những loại dịch vụ này đòi hỏi sự hợp tác của cả bên cung cấp dịch vụ vàbên sử sử dụng dịch vụ Cho nên, những loại dịch vụ này cần ưu tiên được trong lựachọn và tổ chức hoạt động, đồng thời, cần khuyến khích xã viên sử dụng dịch vụcủa HTX để giảm thấp chi phí sản xuất của hộ
Nhiều DVNN còn mang tính chất định tính cao như dịch vụ tưới tiêu, bảo vệthực vật, khuyến nông… làm cho việc xác định nhu cầu, lập kế hoạch, ký kết hợpđồng giao khoán và đặc biệt là hạch toán, thanh toán hợp đồng rất khó khăn, thậmchí không thực hiện được Hệ quả là thiệt thòi cho người sử dụng dịch vụ và sự mấtcông bằng giữa xã viên với nhau Việc tính đơn giá dịch vụ tưới, tiêu căn cứ vàodiện tích (đầu sào) như hiện nay không còn hợp lý, vì nó không tính đến chất lượngcủa dịch vụ mà HTX cung cấp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ