1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MÃ, NGƯỜI TIÊU DÙNG

29 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 121,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường "Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

5 Nguyễn Kim Sen

6 Nguyễn Thông Quang

Trang 3

I TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Điều 624 Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

"Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi."

1.Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Căn cứ vào Điều 4 của LBVMT 2014 và Điều 624 Bộ luật Dân sự 2005,chúng ta có thể hiểu chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễmmôi trường là những cá nhân, tổ chức

Các tổ chức từ khi thành lập đã có năng lực pháp luật, có năng lực chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại Các tổ chức khi tham gia vào các quan hệ pháp luậtmôi trường mà có hành vi làm ô nhiễm môi trường dẫn tới gây thiệt hại thì phảichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình Các tổ chức có thể làpháp nhân (chẳng hạn, doanh nghiệp Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công

ty cổ phần, hợp tác xã, các viện nghiên cứu…) hoặc tổ chức khác không phải làpháp nhân (hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh…)

Đối với cá nhân, những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủthì tự mình phải bồi thường thiệt hại Trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tàisản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của họ.Người dưới 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường thiệt

Trang 4

hại toàn bộ Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sảnriêng thì lấy tài sản riêng đó để bồi thường phần còn thiếu cho người bị hại.

Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà

có cá nhân, tổ chức giám hộ thì cá nhân đó được dùng tài sản của người được giám

hộ để bồi thường Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản

để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình.Nhưngngười giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì khôngphải lấy tài sản của mình để bồi thường

Trong thực tế đời sống, các chủ thể gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là cácdoanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình do không có thiết bị

xử lý chất thải, hoặc không tuân thủ các quy định khác về bảo vệ môi trường… các

cơ sở sản xuất, kinh doanh đã làm suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cốmôi trường gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác Như vậy, chủ thể “tiềm tàng”chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trước hết là các cơ sở kinh doanh, các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

2 Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại

Về bản chất tranh chấp trong vấn đề đòi bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môitrường là tranh chấp ngoài hợp đồng, là tranh chấp giữa chủ thể có hành vi gây tổnhại đến môi trường , gây ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe tài sản của chủ thểkhác Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là chủ thể bị xâm hại lợi ích hợppháp

+ Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại là nhà nước ( Hiến pháp và BLDS cóquy định các thành phần môi trường trong đó có nguồn nước , đất đai… thuộc sởhữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý )

Trang 5

+ Chủ thể có quyền đồi bồi thường thiệt hại thứ hai là tổ chức cá nhân bị thiệt hại

về tính mạng sức khỏe tài sản là lợi ích hợp pháp

3 Vấn đề xác định thiệt hại :

Điều 165 LBVMT quy định :

4 Việc tính chi phí thiệt hại về môi trường được quy định như sau:

a) Chi phí thiệt hại trước mắt và lâu dài do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích củacác thành phần môi trường;

b) Chi phí xử lý, cải tạo, phục hồi môi trường;

c) Chi phí giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại;

d) Thăm dò ý kiến các đối tượng liên quan;

đ) Tùy điều kiện cụ thể có thể áp dụng một trong những biện pháp quy định tại cácđiểm a, b, c và d khoản này để tính chi phí thiệt hại về môi trường, làm căn cứ đểbồi thường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường

Việc xác định thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường được thực hiệntheo quy định của pháp luật

BLDS năm 2005 đã có các quy định làm căn cứ để xác định tách nhiệm cũng nhưmức độ bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra Cụ thể :Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm( Điều 608)

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm ( Điều 609)

Thiệt hại do tính mạng bị xâm pạm ( Điều 610)

Trang 6

4 Điều 624 BLDS năm 2005 quy định bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

+ Làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại về tài sản của cá nhân tổ chức thì phảibồi thường thiệt hại đó

+ Nếu làm ô nhiễm môi tường và không khắc phục hậu quả mà người bị thiệthại hoặc người bị đe dọa gây thiệt hại chi phí khắc phục thì phải bồi thường chiphí đó

Mục II Nghị quyết số 03/2006/ NQ- HĐTP ngày 8/07/2006 của hộ đồng thẩmphán tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng , trong đó có những quy định cụ thể vềxác định thiệt hại làm cơ sở để tính mức độ bồi thường thiệt hại do hành vi làm

ô nhiễm môi trường gây ra

Cũng theo Nghị quyết trên , việc bồi thường thiệt hại về tinh thần trong trườnghợp sức khỏe bị xâm hại cao nhất không quá 30 tháng lương tối thiểu và bồithường thiệt hại về tinh thần cho người thân thích của người bị thiệt hại về tínhmạng do ô nhiễm môi trường là cao nhất không quấ 60 tháng lương tối thiểu

5 Giám định thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra

Tổ chức cá nhân bị thiệt hại hoặc cơ quan giải quyết việc bồi thường thiệthại về môi trường có quyền yêu cầu giám định Việc lựa chọn tổ chức giámđịnh phải được sự đồng thuận của bên đòi bồi thường thiệt hại và bên phải bồithường Trường hợp các bên không thống nhất thì việc chon tổ chức giám địnhthiệt hại do cơ quan được giao trách nhiệm giải quyết việc bồi thường quyếtđịnh ( Ví dụ : tòa án …) ( Điều 166 LBVMT )

6 Trình tự thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại

Trang 7

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 06/01/2015quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường thì các bên có thể thỏa thuậnviệc bồi thường hoặc yêu cầu trọng tài giải quyết hoặc khởi kiện ra tòa án Tuynhiên cho tới nay phương thức giải quyết thông qua trọng tài chưa được xáclập.vì vậy đối với nững thiệt hại về tài sản của người dân , tổ chức thì chỉ có thểgiải quyết thông qua thỏa thuận giữa các bên và trong trường hợp không thỏathuận được thì khởi kiện tại toàn án

Đối với thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Điều 181

bộ luật tố tụng dân sự quy định không được hòa giải trong trường hợp yêu cầuđòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước

7.Xử lý vi phạm pháp luật về môi trường

Luật bảo vệ môi trường 2014 không quy định chế tài cụ thể đối với từnghành vi vi phạm, tùy theo tính chất của hành vi vi phạm pháp luật môi trường màngười vi phạm bị xử lý kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự nếu gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổchức, cá nhân khác thì còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồithường thiệt hại theo qui định của luật này và các quy định khác của pháp luật cóliên quan Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạngây phiền hà, nhũng nhiễu trong tổ chức, công dân, bao che cho người vi phạmpháp luật về bảo vệ môi trường hoặc thiếu trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm, sự cốmôi trường nghiêm trọng thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luậthoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì còn phải bồithường theo quy định của pháp luật (Điều 127 Luật bảo vệ môi trường)

Trách nhiệm kỷ luật

Trang 8

Trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với người đứng đầu tổ chức, cán bộ, côngchức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường trách nhiệm kỷ luật được quy địnhtrong pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản pháp luật chuyên ngành

Trách nhiệm hành chính

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường là những hành vi vi phạm cácquy định quản lý của nhà nước trong lĩnh vực môi trường do cá nhân, tổ chức thựchiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm về môi trường Hiện nay,

vi phạm hành chính về môi trường là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổbiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính về môi trườngcần căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý của nó Vi phạm hành chính về môi trường làmột dạng cụ thể vi phạm hành chính, do vậy nó cũng có đầy đủ các dấu hiệu của viphạm hành chính nói chung Do đó vi phạm hành chính về môi trường có nhữngđặc điểm sau đây:

- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường là việc cá nhân, tổ chức thựchiện hành vi trái với quy tắc quản lý của nhà nước về môi trường với lỗi cố ý hoặc

vô ý, có tính chất và mức độ thấp hơn tội phạm về môi trường

- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hành vi trái phápluật được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động

- Hậu quả của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngthường khó xác định ngay khi hành vi phạm được thực hiện mà phải có một quátrình chuyển hóa rất lâu

- Phần lớn, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được thựchiện bởi cá nhân, tổ chức gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh có gây hạiđối với môi trường

Trang 9

- Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được phát hiện thôngqua hoạt động thanh tra, kiểm tra bởi những chủ thể có trình độ chuyên môn nghềnghiệp về quản lý môi trường

- Các tội phạm về môi trường có thể được thự hiện bằng hành động hoặc khônghành động vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý, khai thác và bảo vệ môitrường

Tuyệt đại bộ phận tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất được quyđịnh trong chương XVII, Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung ngày19/6/2009) từ Điều 182 đến Điều 191a Để khẳng định tội phạm hoàn thành cầnchứng minh được những hành vi vi phạm gây hậu quả cụ thể Bên cạnh đó, cấuthành của phần lớn các tội phạm về môi trường đòi hỏi phải có dấu hiệu bắt buộc

về việc đã bị xử phạt vi phạm hành chính

-Hình phạt đối với các tội phạm về môi trường rất nghiêm khắc, cótộikhunghình phạt cao nhất đến 15 năm Ngoài hình phạt chính thì các tội phạm vềmôi trường còn chịu hình phạt bổ sung (phạt tiền, người phạm tội còn có thể bịcấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một nămđến năm năm…)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường có mối quan hệ nhất địnhvới trách nhiệm khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm.Thông thường, trongcác quan hệ pháp lý khác có liên quan đến bồi thường thiệt hại, người gây thiệt hạichỉ phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra và được giải phóng khỏi quan

Trang 10

hệ với người bị hại.Nhưng trong lĩnh vực môi trường, người làm ô nhiễm môitrường gây thiệt hại thường phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp: i) Khắcphục tình trạng môi trường bị ô nhiễm; và ii) Bồi thường thiệt hại về môi trường.Tác dụng chính của biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường là hạn chế, ngănchặn phạm vi ảnh hưởng, khả năng lây lan ô nhiễm môi trường, đồng thời làmgiảm nhẹ những thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra Tác dụng của bồi thườngthiệt hại là bù đắp những tổn thất về người, tài sản và những giá trị sinh thái đã bịmất Trách nhiệm áp dụng các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường mang tínhchất là một biện pháp cưỡng chế hành chính, do người có thẩm quyền xử phạt viphạm hành chính quyết định, còn bồi thường thiệt hại lại là một loại trách nhiệmdân sự có thể thỏa thuận

8 Các ví dụ thực tiễn về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

8.1 Cty Vedan

Bình quân mỗi tháng Cty Vedan xả ra sông Thị Vải 105.600 m3 nước.Làmmôi trường nước bị ô nhiễm nghiêm trọng

=>Hướng xử lý của cơ quan chức năng đối với Vedan

- Đình chỉ giấy phép xả nước thải của Vedan vào nguồn nước

- Không khởi tố vụ án hình sự với Vedan

- Xử phạt hành chính đối với công ty Vedan

8.2 Nhà máy xử lý nước thải của Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành

Nhà máy xử lý nước thải của Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành xả thảivượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 5 đến dưới 10 lần trong trườnghợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày đến dưới 10.000 m3/ngày (24 giờ)

Hình thức phạt chính:Phạt tiền với tổng số tiền phạt là 405.000.000 đồng

Trang 11

- Biện pháp khắc phục hậu quả:

+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định pháp luật; vận hànhthường xuyên và đúng quy trình hệ thống xử lý nước thải tập trung, đảm bảo nướcthải sau xử lý trước khi thải ra môi trường phải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vềnước thải công nghiệp

+ Thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môitrường đã được phê duyệt

+ Lắp đặt thiết bị quan trắc tự động tại cửa xả trước khi xả vào hồ sinh thái củaKCN Long Thành để quan trắc liên tục đối với các thông số: COD, độ màu, pH,

Do, TSS và lưu lượng nước thải Thiết bị quan trắc tự động và thiết bị đo lưu lượngnước thải này phải được kiểm chuẩn theo quy định của pháp luật hiện hành

8.3 Công ty cổ phần Thuộc da Hào Dương

Trong thời gian dài, từ năm 2008, Công ty cổ phần Thuộc da Hào Dương bị pháthiện nhiều lần xả thải gây ô nhiễm môi trường ở kênh Đông Điền, huyện Nhà Bè,

TP Hồ Chí Minh, với lượng chất thải vượt 10 lần quy chuẩn kỹ thuật

Năm 2014, công ty bị đình chỉ hoạt động và phải nộp phạt 6,39 tỷ đồng Dochây ỳ thực hiện nghĩa vụ, đơn xin hoạt động trở lại của công ty này vào tháng12/2015 đã bị cơ quan chức năng từ chối

8.4 Mía đường Hòa Bình

Tháng 5/2016, cá chết hàng loạt trên sông Bưởi, tỉnh Hòa Bình gây ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và kinh tế của người dân hai huyện ThạchThành, Vĩnh Lộc và vùng hạ lưu Thủ phạm được xác định là công ty mía đườngHòa Bình, đơn vị xả thẳng nước thải chưa qua xử lý của nhà máy ra sông Bưởi, vớilưu lượng 250 – 300m3/ngày đêm

Sông Bưởi là nguồn cung cấp nước thô cho nhà máy nước Kim Tân, phục vụnước sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Tân, huyện Thạch Thành Công ty mía

Trang 12

đường Hòa Bình sau đó bị tạm đình chỉ hoạt động 6 tháng, phạt 480 triệu đồng vềhành vi xả thải gây ô nhiễm môi trường đồng thời bị buộc phải bồi thường cho các

hộ nuôi cá lồng ven sông

9.Thực tiễn áp dụng.

Khó khăn :

• Việc xác định các yếu tố liên quan đến hành vi xâm hại môi trường , thựctrạng pháp luật chưa thể điều chỉnh đầy đủ

• Chưa xác định rõ mức phạt đối với hành vi vi phạm

• Khó khăn trong việc xác định thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trườngkéo dài

• Khó khăn trong xác định chủ thể gây thiệt hại khi người gây ô nhiễm là cộngđồng

Trang 13

II Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể theo quy định mới Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trong quan hệ pháp luật dân sự, thi thể không chỉ là xác chết của cá nhân mà còn

là đối tượng được pháp luật bảo vệ Thi thể là bất khả xâm phạm, thi thể của cánhân phải được đảm bảo sự toàn vẹn Khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại chokhách thể mà pháp luật bảo vệ thì người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường thiệt hại

mà mình gây ra cho người khác

1 Khái niệm về thi thể và xâm phạm thi thể

Định nghĩa về thi thể theo từ điển tiếng Việt thì: “Thi thể là xác của cá nhân khi chết” Về mặt sinh học, thì thi thể là toàn bộ phần thân xác của một người kể từ

thời điểm người đó chết – cái chết sinh học Đó là khi toàn thể các yếu tố tự nhiêncấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất về mặt sinh học dướibất kỳ hình thức nào

Điều 628 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạmthi thể như sau:

"1 Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.

2 Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

3 Người xâm phạm thi thể phải bồi thường một khoản tiền theo quy định tại khoản

2 Ðiều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

Về cơ bản, Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định về bồi thường thiệt hại do xâmphạm thi thể tương tự Bộ luật dân sự năm 2005 Điều 606 Bộ luật dân sự năm

2015 quy định bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể như sau:

"1 Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại.

Trang 14

2 Thiệt hại do xâm phạm thi thể gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại.

3 Người chịu trách nhiệm bồi thường khi thi thể bị xâm phạm phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chết, nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa đối với mỗi thi thể bị xâm phạm không quá ba mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”.

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, chưa có sự nhất quán trong việc phân địnhcác khái niệm thi thể, mồ mả, hài cốt Vì vây, cần làm rõ các khái niệm này nhằmxác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm thi thể hay xâmphạm mồ mả hay xâm phạm hài cốt

Xung quanh vấn đề này có nhiều quan điểm trái chiều nhau Có điểm quan điểm

cho rằng “ Thi thể là xác của cá nhân khi chưa được mai táng, điện táng hay chưa

bị hóa thân dưới các hình thức khác hoặc đã được chôn cất, mai táng chưa bị phân hủy mà không dùng biện pháp hỏa táng, điện táng hay hóa thân dưới hình thức đốt xác Tức là trước thời điểm bị xâm phạm, thi thể cá nhân vẫn đang ở trạng thái nguyên vẹn như khi cá nhân đó chết” Xác của cá nhân sau khi đã được

mai táng mà còn nguyên vẹn, chưa bị phân hủy, chưa bị biến dạng thì hành vi xâmphạm làm biến dạng, làm ảnh hưởng tới sự nguyên vẹn của xác đó là hành vi xâmphạm thi thể Người thực hiện hành vi đó phải bồi thường thiệt hại do xâm phạmthi thể vì khách thể mà hành vi hướng tới là xác của người chết, còn mồ mả củangười đó lúc này chỉ là vỏ bọc vật chất của thi thể chứ không phải là khách thể củahành vi xâm phạm

Ví dụ: Hành vi chiếm đoạt bộ phận của thi thể, cụ thể là phần tay của thi thể củangười bị sét đánh khi thi thể đã được chôn cất bằng cách đào mồ mả của người đólên Như vậy, mục đích của hành vi đó là chiếm đoạt phần tay của thi thể và hậuquả là thi thể không còn được nguyên vẹn như ban đầu

Những người theo quan điểm này cho rằng căn cứ xác định hành vi xâm phạm thithể dựa vào mục đích hành vi hướng tới và hậu quả của hành vi đó gây ra Hành viđược xác định là xâm phạm thi thể nếu đối tượng của hành vi trái pháp luật hướng

Ngày đăng: 08/11/2016, 10:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w