BÀI THU HOẠCH LỚP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO HỌC VIÊN ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG Câu hỏi I: Lựa chọn 1: Chứng minh rằng sự ra đời của ĐCSVN ngày 3/2/1930 là một tất yếu khách quan? Đồng chí nãy nêu nhận thức của bản thân về vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với dân tộc và cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Trả lời: I. Sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Tám thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội; mở ra thời đại mới: thời đại Hồ Chí Minh. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả một pho lịch sử bằng vàng. Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là những kinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng đó. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nhìn vào hoàn cảnh trong nước và thế giới lúc bấy giờ, nhìn vào quá trình phát triển của lực lượng cách mạng, ta có thể thấy được sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. 1.Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX a. Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền. Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa. b. Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác -Lênin Vào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Trong hoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác - Lê nin. Chủ nghĩa Mác - Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản. Sự ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) xác định: những người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả của phong trào vô sản. Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật mà chính đảng của giai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới. Đảng phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, mọi chiến lược, sách lược của Đảng đều luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Nhưng, Đảng phải đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động. Bởi vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được giai cấp mình nếu đồng thời giải phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mang Việt Nam, sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. c. Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi. Nhà nước Xôviết dựa trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bonsêvich Nga ra đời. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, đồng thời mở đầu một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungari (năm 1918), Đảng Cộng sản Pháp (năm 1919)… Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn ái Quốc khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỉ nay. Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản. Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”. 2. Hoàn cảnh trong nước a. Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp - Chính sách cai trị của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Sau khi tạm thời dập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam. Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sở công nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngành kinh tế mới...) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tư bản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu. Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu... Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trị thực dân ở Đông Dương: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm... bằng thuốc phiện, bằng rượu... chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do học tập”. - Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam. Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc. Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bức nông dân. Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống tự do. Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân. Giai cấp công nhân Việt Nam bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột. Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung Nam… Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp… Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ.Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư sản Phảp và tư sản người Hoa cạnh tranh, chèn ép, do đó, thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt. Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công. Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làm nghề tự do… Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu tư sản. Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành những người vô sản. Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào. Vì vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị. Được phong trào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị. Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Trong đó đặc biệt là sự ra đời hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nẩy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho nhân dân, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. b. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này là: Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Ngày13/7/1885, Vua Hàm Nghi xuốn
Trang 1BÀI THU HOẠCH LỚP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO HỌC VIÊN ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG
I Sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rènluyện Tám thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cáchmạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lậpnên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam); đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóngdân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợirất vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới trong sự phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc
lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội; mở ra thời đại mới: thời đại Hồ Chí Minh.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cảmột pho lịch sử bằng vàng Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiệnlịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là nhữngkinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam đượctổng kết từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng đó
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Đó là kết quả của sự chuẩn bịđầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩaMác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Nhìn vào hoàn cảnhtrong nước và thế giới lúc bấy giờ, nhìn vào quá trình phát triển của lực lượng cáchmạng, ta có thể thấy được sự ra đời của Đảng là một tất yếu khách quan, đáp ứng nhucầu lịch sử của đất nước ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
1.Hoàn cảnh quốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX
a Sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả của nó
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạnđộc quyền Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao
Trang 2động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa Sự thống trịtàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động các nước trở nêncùng cực Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gaygắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa.
b Ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác -Lênin
Vào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh,đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tưtưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Tronghoàn cảnh đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩaMác - Lê nin
Chủ nghĩa Mác - Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranhthực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản Sự
ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân chống áp bức, bóc lột Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) xác định: nhữngngười cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào; là bộ phận kiênquyết nhất trong các đảng công nhân ở các nước; họ hiểu rõ những điều kiện, tiếntrình và kết quả của phong trào vô sản Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật màchính đảng của giai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền vàxây dựng xã hội mới Đảng phải luôn đứng trên lập trường của giai cấp công nhân,mọi chiến lược, sách lược của Đảng đều luôn xuất phát từ lợi ích của giai cấp côngnhân Nhưng, Đảng phải đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động Bởi
vì giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng được giai cấp mình nếu đồng thời giảiphóng cho các tầng lớp nhân dân lao động khác trong xã hội Chủ nghĩa Mác - Lênin
đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử ưu tú, tích cực ở các nướcthuộc địa vào phong trào cộng sản
Kể từ khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêunước và phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cách mạng vôsản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã vậndụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mang Việt Nam,sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng củaĐảng Cộng sản Việt Nam
c Tác động của Cách mạng Tháng Mười Nga và Quốc tế Cộng sản
Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi Nhà nước Xôviếtdựa trên nền tảng liên minh công - nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bonsêvich Nga rađời Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đãtrở thành hiện thực, đồng thời mở đầu một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đếquốc, thời đại giải phóng dân tộc” Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong tràođấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực
Trang 3thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungari(năm 1918), Đảng Cộng sản Pháp (năm 1919)…
Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười nêu tấm gương sáng trongviệc giải phóng các dân tộc bị áp bức Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười,Nguyễn ái Quốc khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhândân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỉ nay Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằngmuốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phảibền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc
Tư và Lênin”
Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản
có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa củaLênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phươnghướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng cácdân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản
Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền báchủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốckhông những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cáchmạng thế giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng ViệtNam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”
2 Hoàn cảnh trong nước
a Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp
- Chính sách cai trị của thực dân Pháp
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam Sau khi tạm thờidập tắt được các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp từng bước thiếtlập bộ máy thống trị ở Việt Nam
Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực
đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam ra thành
ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.Đồng thời với chính sách nham hiểm này, thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủtrong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam
Về kinh tế, thực dân Pháp thực hiện chính sách bóc lột về kinh tế: tiến hành cướp
đoạt ruộng đất để lập đồn điền; đầu tư khai thác tài nguyên; xây dựng một số cơ sởcông nghiệp; xây dựng hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ cho chính sáchkhai thác thuộc địa của thực dân Pháp Chính sách khai thác thuộc địa của thực dânPháp đã tạo nên sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam (hình thành một số ngànhkinh tế mới ) nhưng cũng dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc vào tưbản Pháp, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu
Trang 4Về văn hóa, thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa, giáo dục thực dân; dung
túng, duy trì các hủ tục lạc hậu Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chế độ cai trịthực dân ở Đông Dương: “Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhụcnhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm bằng thuốc phiện, bằngrượu chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự
do học tập”
- Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam
Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thựcdân, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc
Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột,
áp bức nông dân Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa,một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấutranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau
Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt
Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề Tình cảnh khốn khổ, bầncùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc vàphong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giànhlại ruộng đất và quyền sống tự do
Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của
thực dân Pháp Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân,nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam
Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân.Giai cấp công nhân Việt Nam bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột Đặc điểm nổibật của giai cấp công nhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam,
và vừa lớn lên nó đã sớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin,nhanh chóng trở thành một lực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc TrungNam…
Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp…
Trong giai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ.Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sảnViệt Nam đã bị tư sản Phảp và tư sản người Hoa cạnh tranh, chèn ép, do đó, thế lựckinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé và yếu ớt Vì vậy, giaicấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ
đi đến thành công
Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những
người làm nghề tự do… Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng củatầng lớp tiểu tư sản Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trởthành những người vô sản Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc,thực dân, lại chịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào Vì
Trang 5vậy, đây là lực lượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị Được phongtrào cách mạng rầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cáchmạng ngày càng đông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh củanhân dân, nhất là ở thành thị.
Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hộiViệt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Trong đó đặc biệt là sự ra đời haigiai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ViệtNam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau,đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn
cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nẩysinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc,
đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giànhđộc lập cho nhân dân, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lạidân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân Trong đó, chống đế quốc,giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu
b Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộctheo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ Những phong trào tiêubiểu diễn ra trong thời kỳ này là:
Phong trào Cần Vương (1885 – 1896): Ngày13/7/1885, Vua Hàm Nghi xuống
chiếu Cần Vương Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc
Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Ngày 01/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phongtrào Cần Vương vẫn tiếp tục đến năm 1896
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từ năm 1884, nghĩa quân Yên Thế
đã đánh thắng Pháp nhiều trận và gây cho chúng nhiều khó khăn, thiệt hại Cuộc chiếnđấu của nghĩa quân Yên Thế kéo dài đến năm 1913 thì bị dập tắt
Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918): các cuộc khởi nghĩa vũtrang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vẫn tiếp diễn, nhưng đều không thành công.Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởngphong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước, giải quyết thànhcông nhiệm vụ dân tộc ở Việt Nam
Bên cạnh các cuộc khởi nghĩa nêu trên, đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước dưới
sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sảndiễn ra sôi nổi Về mặt phương pháp, tầng lớp sĩ phu lãnh đạo phong trào giải phóngdân tộc đầu thế kỉ XX có sự phân hóa thành hai xu hướng Một bộ phận chủ trươngđánh đổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia bằngbiện pháp bạo động; một bộ phận khác lại coi cải cách là giải pháp để tiến tới khôiphục độc lập
Trang 6Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu ( 1867-1941) - quê Nghệ An
với chủ trương dùng biện pháp bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp khôi phục nềnđộc lập cho dân tộc Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu trải qua nhiều bướcthăng trầm, đi từ lập trường quân chủ lập hiến đến lập trường dân chủ tư sản, nhưngđều bị thất bại Vào nửa đầu của thế kỉ XX, Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng của Cáchmạng Tháng Mười Nga Nguyễn Ái Quốc đánh giá “Phan Bội Châu là tiêu biểu chochủ nghĩa quốc gia”.Việc cụ dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác nào đuổi hổ cửatrước rước beo cửa sau”
Đại diện cho khuynh hướng cải cách là Phan Châu Trinh, với chủ trương vận
động cải cách văn hóa, xã hội; động viên lòng yêu nước cho nhân dân; đả kích bọnvua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dântrí, chấn dân trí, hậu dân sinh, mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang cầuviện nước ngoài Hoạt động cách mạng của Phan Châu Trinh đã góp phần làm thứctỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, về phương pháp, “Cụ PhanChâu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương… điều đó là sai lầm, chẳngkhác gì đến xin giặc rủ lòng thương”
Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt nam còn nhiều phong trào đấu tranh khác như:Phong trào Đông Kinh nghĩa thục(1907); Phong trào “tẩy chay Khách trú”(1919);Phong trào chống độc quyền xuất nhập ở cảng Sài Gòn (1923); đấu tranh trong cáchội đồng quản hạt, hội đồng thành phố… đòi cải cách tự do dân chủ…
Từ trong phong trào đấu tranh, các tổ chức đảng phái ra đời: Đảng lập hiến(năm1923); Đảng Thanh niên ( tháng 3 – 1926); Đảng thanh niên cao vọng (năm1926); Việt Nam nghĩa đoàn (năm 1925), sau nhiều lần đổi tên, tháng 7 -1928 lấy tên
là Tân Việt cách mạng Đảng; Việt Nam quốc dân Đảng (tháng 12-1927) Các đảngphái chính trị tư sản và tiểu tư sản trên đây đã góp phần thúc đẩy phong trào yêu nướcchống Pháp, đặc biệt là Tân Việt cách mạng Đảng và Việt Nam quốc dân Đảng
Tân Việt cách mạng Đảng ra đời và hoạt động trong bối cảnh Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên phát triển mạnh, đã tác động mạnh mẽ đến Đảng này Trong nội bộĐảng diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng: tư tưởng cách mạng vô sản và tưtưởng cải lương Cuối cùng khuynh hướng cách mạng theo quan điểm vô sản thắngthế Một số đảng viên của Tân Việt chuyển sang Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
Số đảng viên tiên tiến còn lại trong Tân Việt tích cực chuẩn bị để tiến tới thành lậpmột chính đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin
Việt Nam quốc dân Đảng là một đảng chính trị theo xu hướng dân chủ tư sản Điều
lệ Đảng ghi mục tiêu hoạt động là: trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giớicách mạng; đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập nền dân quyền Sau vụ
ám sát Ba Danh, trùm mộ phu đồn điền cao su của Pháp (tháng 2-1929), Đảng bịkhủng bố dữ dội, tổ chức đảng bị vỡ ở nhiều nơi Trước tình thế nguy cấp, lãnh đạoViệt Nam quốc dân Đảng đã quyết định dốc hết lực lượng vào trận đấu tranh sống mái
Trang 7với kẻ thù Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng bắt đầu từ đêm ngày 9- 2 –
1930 ở Yên Bái, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình… trong tình thế hoàn toàn bị độngnên đã bị thực dân Pháp nhanh chóng dập tắt
Trước yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống Phápdiễn ra sôi nổi Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giànhđộc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấp khác nhau nhằm khôi phục chế
độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế
độ cộng hòa tư sản Các phong trào đấu tranh diễn ra với các phương thức và biệnpháp khác nhau: bạo động hoặc cải cách; với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoàikhác nhau; dựa vào Pháp để thực hiện cái cách, hoặc dựa vào ngoại viện để đánhPháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại
Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vaitrò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ Nhưng các phongtrào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổchức thiếu chặt chẽ; chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng xã hội cơ bản (công nhân
và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công Sự thất bại của các phòng trào yêunước theo lập trường quốc gia tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã phản ánh địa vịkinh tế và chính trị yếu kém của giai cấp này trong tiến trình cách mạng dân tộc, phảnánh sự bất lực của họ trước những nhiệm vụ do lịch sử dân tộc Việt Nam đặt ra
Mặc dù bị thất bại, nhưng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX có ý nghĩa rất quan trọng Nó là sự tiếp nối truyền thống yêunước, kiên cường bất khuất vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và chính sự pháttriển của phong trào yêu nước đã tạo cơ sở xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận chủnghĩa Mác - Lênin, quan điểm cách mạng Hồ Chí Minh Phong trào yêu nước trởthành một trong ba nhân tố dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX đầuthế kỉ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tưtưởng tư sản đã bế tắc Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc
về đường lối, về giai cấp lãnh đạo Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đườngcách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, củanhân dân có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đi đếnthành công
c Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức choviệc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Trong quá trình tìmđường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các
Trang 8cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), Cách mạng Pháp (1789)
… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản Từ đó,Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập
và hạnh phúc cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng
Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917 Người rút ra kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thànhcông, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do,bình đẳng thật”
Tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo Người tìmthấy trong Luận cương của Lênin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dânViệt Nam: về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thếgiới… Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác –Lênin
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việcgia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện nàyđánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người - từ người yêunước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứunước phải giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vôsản”
Từ đây cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế,Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, vạch phương hướng chiếnlược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam
Quá trình Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng được đánh dấubằng việc Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - LêNin vào Việt Nam thông quanhững bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và đặcbiệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925) Tác phẩm này đã vạch rõnhững âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc che dấu tội ác dưới cái vỏ bọc
“khai hóa văn minh”, từ đó khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, thức tỉnh tinh thầndân tộc nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược Mùa hè 1923 từ Pháp sang Liên Xô,Người tham gia nhiều Đại hội quốc tế và học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê nin.Với tư cách là đại diện của quốc tế cộng sản, tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đếnQuảng Châu (Trung Quốc) Tháng 6-1925, người thành lập Hội Việt Nam cách mạngthanh niên Chương trình và Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích là: làm cách mạng dântộc và cách mạng thế giới Sau khi cách mạng thành công Hội chủ trương thành lậpChính phủ nhân dân; mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân; tiến lên xây dựng xã hội cộngsản chủ nghĩa; thực hiện đoàn kết với giai cấp vô sản các nước, với phong trào cáchmạng thế giới
Trang 9Từ năm 1925 - 1927, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mở các lớp huấnluyện chính trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam Hội đã xây dựng được nhiều cơ sở ởcác trung tâm kinh tế, chính trị trong nước Năm 1928, Hội thực hiện chủ trương “vôsản hóa”, đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện lập trường, quanđiểm giai cấp công nhân; để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải phóngdân tộc nhằm thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam.
Ngoài việc trực tiếp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niênNguyễn Ái Quốc còn lựa chọn những thanh niên Việt Nam ưu tú gửi đi học tại trườngĐại học Phương Đông và trường Lục quân Hoàng Phố nhằm đào tạo cán bộ cho cáchmạng Việt Nam
Cùng với việc đào tạo cán bộ, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra các tờ báo Thanhniên, Công nông, lính cách mệnh, Tiền phong nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lêninvào Việt Nam Quan điểm cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh và giác ngộquần chúng, thúc đẩy phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân phát triển theo conđường cách mạng vô sản
Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tácphẩm Đường cách mệnh đề cập đến những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chínhtrị, chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,Đường cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với cách mạng Việt Nam
Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
Từ đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tưsản, phong trào công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của tư sản thực dân cũng diễn
ra dưới các hình thức đình công, bãi công, tiêu biểu như các cuộc bãi công của côngnhân Ba Son (Sài Gòn) do Tôn Đức Thắng tổ chức (1925) và cuộc bãi công của côngnhân nhà máy sợi Nam Định ngày 30/4/1925, đòi chủ tư bản phải tăng lương, phải bỏđánh đập, giảm đuổi thợ…
Nhìn chung, phong trào công nhân những năm 1919- 1925 đã có bước phát triểnmới so với trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất Hình thức bãi công đã trở nên phổbiến, diễn ra trên quy mô lớn hơn và thời gian dài hơn
Trong những năm 1926 - 1929, phong trào công nhân đã có sự lãnh đạo của các tổchức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Công hội đỏ và các tổ chức cộng sản
ra đời từ năm 1929 Từ năm 1928 đến năm 1929, có khoảng 40 cuộc đấu tranh củacông nhân diễn ra trong toàn quốc
Các cuộc đấu tranh của công nhân Việt Nam trong những năm 1926 - 1929 mangtính chất chính trị rõ rệt Mỗi cuộc đấu tranh đã có sự liên kết giữa các nhà máy, cácngành và các địa phương Phong trào công nhân có sức lôi cuốn phong trào dân tộctheo con đường cách mạng vô sản
Trang 10Cũng vào thời gian này, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt làphong trào nông dân diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước, dân cày cũng đã tỉnh dậy,chống đế quốc và địa chủ rất kịch liệt Năm 1927, nông dân làng Ninh Thanh Lợi( Rạch Giá) đấu tranh chống bọn thực dân và địa chủ cướp đất, đòi chia ruộng công…Phong trào nông dân và công nhân đã hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống thựcdân, phong kiến.
Sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam:
Trước sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước, cuối tháng3- 1929, tại 5D Hàm Long- Hà Nội, một số hội viên tiên tiến của tổ chức Thanh niên
ở Bắc Kỳ đã lập ra Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam gồm 7 đồng chí do đồng chíTrần Văn Cung làm Bí thư Chi bộ
Tại Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (5/1929) đã xảy
ra bất đồng giữa các đoàn đại biểu về vấn đề thành lập đảng Cộng sản, mà thực chất là
sự khác nhau giữa những đại biểu muốn thành lập ngay một đảng cộng sản và giải thể
tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, với những đại biểu cũng muốn thành lậpđảng cộng sản, nhưng “không muốn tổ chức đảng ở giữa Đại hội thanh niên và cũngkhông muốn phá thanh niên trước khi lập được đảng” Trong bối cảnh đó, các tổ chứccộng sản ở Việt Nam ra đời
Đông Dương Cộng sản Đảng: Ngày 17-6-1929, tại 312 Khâm Thiên- Hà Nội, đạibiểu các tổ chức cộng sản ở Bắc Kỳ họp Đại hội quyết định thành lập Đông DươngCộng sản Đảng Tuyên ngôn của Đảng nêu rõ: Đảng Cộng sản Đông dương tổ chứcđại đa số và thực hành công nông liên hiệp mục đích để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa;đánh đổ tư bản chủ nghĩa; diệt trừ chế độ phong kiến; giải phóng công nông; thực hiện
xã hội bình đẳng, tự do, bác ái, tức là hội cộng sản
An Nam Cộng sản Đảng: Trước sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và đểđáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng, mùa thu năm 1929, các đồng chí trongHội Việt Nam cách mạng thanh niên hoạt động ở Trung Quốc và Nam Kỳ đã thànhlập An Nam Cộng sản Đảng về điều kiện kết nạp đảng viên, Điều lệ của Đảng viết
“Ai tin theo chương trình của Quốc tế Cộng sản, hăng hái phấn đấu trong một bộ phậnđảng, phục tùng mệnh lệnh đảng và góp nguyệt phí, có thể cho vào đảng được”
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn: Việc ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng và
An Nam Cộng sản Đảng đã làm cho nội bộ Đảng Tân Việt phân hóa mạnh mẽ, nhữngđảng viên tiên tiến của Tân Việt đã thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.Tuyên đạt của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn( 9/1929), nêu rõ : “Đông DươngCộng sản Liên Đoàn lấy chủ nghĩa Cộng sản làm nền móng, lấy công, nông, binh liênhiệp làm đối tượng vận động cách mệnh cộng sản trong xứ Đông Dương, làm cho xứ
sở của chúng ta hoàn toàn độc lập, xóa nạn bóc lột áp bức người, xây dựng chế độcộng sản chủ nghĩa trong toàn xứ Đông Dương”
Trang 11Mặc dù giương cao ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến, xây dựng chủ nghĩa cộngsản Việt Nam, nhưng ba tổ chức cộng sản trên đây hoạt động phân tán, chia rẽ đã ảnhhưởng xấu đến phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc này Vì vậy, việc khắc phục sựchia rẽ, phân tán giữa các tổ chức cộng sản là yêu cầu khẩn thiết của cách mạng nước
ta, là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng sản Việt Nam
Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản
đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một đảng cộng sản thốngnhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào cộng sản ở Việt Nam Điều này phản ánhquá trình tự ý thức của những người cộng sản Việt Nam về nhu cầu phải thống nhấtcác tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất
Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tàiliệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương, yêu cầu những người cộngsản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm cộng sản và thành lậpmột đảng giai cấp vô sản Quốc tế Cộng sản chỉ rõ phương thức để tiến tới thành lậpĐảng là phải bắt đầu từ việc xây dựng các chi bộ trong các nhà máy, xí nghiệp: chỉ rõmối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Đông Dương với phong trào cộng sản quốc tế.Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn ÁiQuốc rời Xiêm đến Trung Quốc Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại HươngCảng, Trung Quốc Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản (18/2/1930) Nguyễn ÁiQuốc viết: “Chúng tôi họp vào ngày 6-1… Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2”.Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao Động Việt Nam(10/9/1960) quyết định lấy ngày 3-2 dương lịch hàng năm làm ngày kỉ niệm thành lậpĐảng
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhânViệt Nam và hệ tư tưởng Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam Sự kiện ĐảngCộng sản Việt Nam ra đời là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cáchmạng Việt Nam ta, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnhđạo cách mạng”, đưa cách mạng Việt Nam từng bước thắng lợi trên con đường xâydựng xã hội chủ nghĩa
II Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong giai đoạn hiện nay.
Từ khi ra đời đến nay, với vai trò là một đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộngsản Việt Nam đã hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân Trong lịch sử Đảng ta,mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân luôn luôn được củng cố, tăng cường
và trở thành một yếu tố đóng vai trò quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta.Nhân dân gắn bó với Đảng, thừa nhận một cách tự giác vai trò lãnh đạo của Đảng,theo Đảng làm cách mạng Trong những thời kỳ đen tối nhất của cách mạng ViệtNam, nhân dân ta đã dũng cảm chịu đựng hy sinh để bảo vệ Đảng, vượt mọi khókhăn, gian khổ, mất mát để thực hiện mục tiêu cao cả: Độc lập dân tộc gắn liền với
Trang 12chủ nghĩa xã hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân Việt Nam là quyền thiêngliêng và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam; là sự lựa chọn lịch sử được nhândân thừa nhận, là sự ủy quyền, tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng Hơn nữa cònphù hợp với truyền thống lập hiến và công ước quốc tế.
Do gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng ta đã kịp thời phát hiện, tổng kết nhữnghoạt động thực tiễn đầy sáng tạo của nhân dân, từng bước bổ sung, hoàn thiện và pháttriển đường lối lãnh đạo của mình Nhiều chủ trương lớn của Đảng đã được nghiêncứu, phát triển trên cơ sở tiếp thu một cách sáng tạo sáng kiến từ thực tiễn xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta
Trong khi nhiều quốc gia còn lúng túng, chưa tìm được lời giải cho vấn đề đảmbảo công bằng xã hội trong phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, giảm thiểukhoảng cách giàu nghèo thì sáng kiến huy động cả xã hội vào công cuộc xoá đói giảmnghèo xuất hịên Đảng ta đã kịp thời phát hiện, nhân rộng, tổng kết sáng kiến đầy tínhnhân văn này, nâng lên thành Chương trình quốc gia và Cuộc vận động lớn trong toànĐảng, toàn dân về xoá đói, giảm nghèo Những thành tựu của công cuộc xoá đói,giảm nghèo ở nước ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao là một minh chứng chokhả năng giải quyết những vấn đề không chỉ mang tính quốc gia mà còn có tính toàncầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
Nghị quyết của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế thắng 12-2001 đã đượcnhân dân ta hiện thực hoá một cách thành công Tổ chức thành công Hội nghị APEC
14 và trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là những mốc sontrên con đường hội nhập thế giới của nước ta đồng thời nâng cao vị thế của nước ViệtNam độc lập, tự chủ trên trường quốc tế Nhờ liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng,Nhà nước ta đã huy động đựoc sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và thực hiệnthành công từng bước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam hiện nay, Đảng và nhân dân tađang đứng trước những đòi hỏi mới và nhiệm vụ mới Đó là nhiệm vụ tiếp tục sựnghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; là yêu cầu giữ vững, tăng cường vai tròlãnh đạo của Đảng trong điều kiện đổi mới hệ thống chính trị, dân chủ hóa, xây dựngNhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa; là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập chủquyền, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địchtrong điều kiện mở cửa, hội nhập quốc tế và khu vực Thế giới đã có nhiều thay đổi vàdiễn biến phức tạp, khó lường Hòa bình, hợp tác, phát triển và hội nhập vẫn là xu thếlớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bốvẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh, các nước lớn dùng mọi thủ đoạn tinh
vi, thậm chí cả hành động quân sự dưới mọi chiêu bài để can thiệp, lấn lướt các quốcgia nhỏ, yếu thế và tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng Những vấn đề toàn cầunhư biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, thiên tai, dịch bệnh, sẽ tiếp tục diễn biếnphức tạp, không chỉ còn là vấn đề của mỗi quốc gia mà muốn giải quyết được phải có
sự chung tay, góp sức của tất cả các nước trên thế giới Song, chế độ chính trị, lợi ích
Trang 13của mỗi nước lại khác nhau, số nước do Đảng Cộng sản là Đảng duy nhất cầm quyền,lãnh đạo không còn nhiều, trong khi sự chia sẻ trên tinh thần đoàn kết, hy sinh giúp đỡcủa các nước có chế độ do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo đối với nước ta cũng
đã thay đổi nhiều Tuy xu hướng hòa bình, hữu nghị vẫn là chính, nhưng việc tínhtoán để bảo vệ quyền lợi của mỗi quốc gia cũng thay đổi Quốc gia nào cũng có toantính riêng trong bối cảnh phức tạp hơn Toàn cầu hóa, hội nhập và cách mạng khoahọc - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, làm cho thời giannhư ngắn lại, không gian như nhỏ đi, thúc đẩy hình thành xã hội thông tin và kinh tếtri thức Quá trình cấu trúc lại nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của mỗi quốc giadiễn ra mạnh mẽ theo chiều sâu, lấy chất lượng tăng trưởng làm mục tiêu Trong khi
đó, cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực, cả ở thị trường tại mỗi quốc gia và thị trườngthế giới, giữa các nước ngày càng gay gắt Đấu tranh giai cấp và dân tộc vẫn diễn biếnphức tạp Khu vực Thái Bình Dương, trong đó có Đông - Nam Á là khu vực phát triểnnăng động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biểnđảo càng nóng bỏng Trong nước, tuy đã có thành tựu và kinh nghiệm của hơn 25 nămđổi mới, tạo ra thế và lực mới cho đất nước, nhưng "nước ta vẫn phải đứng trướcnhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Nguy cơtụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại.Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận khôngnhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Nhữngbiểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có diễnbiến phức tạp Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện "diễn biến hòa bình", gây bạoloạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độchính trị ở nước ta"
Hơn 80 năm chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta đã hoàn thành được một phần sứmệnh lịch sử: đất nước độc lập, thống nhất, đi lên CNXH Song con đường phía trướckhông hoàn toàn bằng phẳng, trơn tru Trong bối cảnh, thời cơ và thách thức đan xennhư hiện nay, vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng càng cực kỳ quan trọng và luôn lànhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, buộc dân tộc ta,Đảng ta và bản thân mỗi người dân Việt Nam chúng ta phải "lớn" hơn ngày hôm qua
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn,tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong để xây dựng Đảng thật sựtrong sạch, vững mạnh, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học Trên
bệ phóng của những thành công rực rỡ mà cha ông đã xây dựng, thế hệ trẻ Việt Namkhát khao được là người kế nghiệp xứng đáng Thiết nghĩ, để khát khao ấy được thắpsáng, điểm xuất phát trước hết của người Đảng viên phải là sự trung thành đối với Tổquốc, với lý tưởng của Đảng và của nhân dân, kiên định lập trường cách mạng, thấmnhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đặc biệt lànhất quyết thực hiện sứ mệnh: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, xây dựng thànhcông CNXH
Trang 14Câu hỏi II:
Phân tích luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Trong quá trình phấn đấu vào ĐCSVN, lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào đối với đồng chí?
Trả lời:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạođức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng,lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng chocán bộ, đảng viên và nhân dân Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại, có tới gần
50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức Có thể nói, đạo đức là một trong nhữngvấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cáchmạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng phải cóđạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻvang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người viết: “Cũng như sôngthì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không cógốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏimấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh,nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thấtbại, đều do cán bộ tốt hay kém”, Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không
có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài Người cho rằng có tài mà không cóđức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Chonên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cáchmạng, đạo đức là “gốc” của người cách mạng
Theo Hồ Chí Minh những chuẩn mực chung nhất của đạo đức cách mạng ViệtNam gồm những điểm sau:
Một là, trung với nước hiếu với dân.
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chấtkhác
Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức truyền thốngcủa xã hội phong kiến phương Đông, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới,phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân” Đó là mộtcuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức
Trang 15“Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổquốc vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượtqua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hànhđộng, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉtrong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
Hai là, yêu thương con người.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo Hồ ChíMinh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đứccao đẹp nhất Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ.Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi chỉ có một sự ham muốn,ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàntoàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt họ ởmiền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái không phân biệt một ai, khôngtrừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái củaNgười
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyếtđiểm Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi conngười đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi conngười nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của ngườicách mạng Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc
và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong conngười nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời"
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau,nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người
Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kếhoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lườibiếng, không ỷ lại, không dựa dẫm Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, lànguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta"
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộnglại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trươnghình thức, không liên hoan, chè chén lu bù
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâmphạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân" Phải "trong sạch, khôngtham lam" "Không tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung sướng Khôngham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn" Đối với mình: không tự cao,
tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay,sửa đổi điều dở của bản thân mình
Trang 16Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôngiữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc.
Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà
Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, vớiviệc" “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mìnhnên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ"
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, mà
Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều là anh em"; là tinhthần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, mà Hồ ChíMinh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách mạng thực tiễn của bản thân mình vàbằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc
Tuy nhiên Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định:“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” Những
yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ, đảng viên luôn đòi hòi phải được tăng cường rènluyện, tu dưỡng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Có đạo đức cách mạng thì gặp khókhăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Vì lợi ích chung củaĐảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại
hy sinh lợi ích riêng của cá nhân mình Đó là biểu hiện cao quý của đạo đức cáchmạng Bác nói: Có đạo đức thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thầngia khổ, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ chotốt, chứ không tính toán, kèn cưa để hưởng thụ; không công thần không quan liêukhông kiêu ngạo, hủ hoá, rèn luyện đạo đức cách mạng như “rửa mặt hàng ngày” Đểrèn luyện đạo đức cách mạng trong giai đoạn hiện nay, người cán bộ, Đảng viên cầnphải:
a Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, nêu cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Điểm mấu chốt của sự khác biệt căn bản giữa đạo đức cũ và đạo đức mới, nhưChủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, là: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chânchổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửnglên trời” Đạo đức cũ là đạo đức của giai cấp tư sản, của phong kiến, đạo đức áp bức
và bóc lột Còn đạo đức mới là đạo đức cách mạng, đạo đức hướng tới giải phóngnhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, đưa lại cuộc sống ấm no, tự do cho tất cả mọingười Vì vậy, cán bộ, đảng viên cần phải ý thức được sự nghiệp cao cả đó; đưa nhândân từ thân phận nô lệ trở thành người chủ nước nhà, sự nghiệp cách mạng đó là củatoàn dân Người cán bộ, đảng viên phải thấu hiểu và thấm nhuần một cách triệt để:Trung thành với cách mạng chính là trung thành với sự nghiệp của nhân dân Hồ ChíMinh nhắc nhở, dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của nhân dânlên trên hết, trước hết Cán bộ phải ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng,hết sức trung thành phục vụ nhân dân Có trung thành và quyết tâm phấn đấu vì sựnghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc thì mới dám dũng cảm hy sinh quên mình
Trang 17vì nghĩa lớn Lòng trung thành cao đẹp ấy phải được thể hiện bằng hành động thiếtthực, cụ thể hàng ngày, trong từng công việc phải biến khát vọng làm sao cho “nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành” của Hồ Chí Minh thành hiện thực Chủ tịch Hồ ChíMinh đã dạy mỗi cán bộ rằng: “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục
vụ cho lợi ích của nhân dân” Người khuyên bảo cán bộ: “Việc gì có lợi cho dân thìlàm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,tôn trọng nhân dân và tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, tổ chức tuyên truyền,thuyết phục nhân dân, đồng thời phải lắng nghe, học tập nhân dân Thấm nhuần lờidạy của Người, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Cán
bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhândân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” Trong chế độ chúng ta,địa vị của người dân là cao nhất, dân là chủ: “Tất cả quyền bính trong nước là củatoàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,tôn giáo” Một yêu cầu có tính nguyên tắc mà Hồ Chí Minh đã đặt ra là phải xây dựngpháp luật để bảo đảm các quyền tự do dân chủ và cán bộ phải tuyệt đối trung thànhvới sự nghiệp của nhân dân, cho dù ở bất kỳ tình huống nào cũng phải đặt lợi ích củadân lên trên hết và trước hết Người viết: “Các bạn là viên chức của Chính phủ Dânchủ Cộng hoà mà các bạn đã giúp xây dựng nên Chính thể Dân chủ Cộng hòa của tatuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quảthật là đầy tương lai Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chínhquyền dân chủ” Cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng, với đất nước phải đượcthể hiện trong công việc hàng ngày, đó là: hướng tới phục vụ nhân dân, vì lợi ích củanhân dân Bảo vệ thành quả chính đáng của cách mạng cũng có nghĩa là phải bảo vệquyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Đó là đạo đức chân chính củangười cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp
b Kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu, thực hành dân chủ
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, tham nhũng đang làm cảntrở công cuộc kiến thiết đất nước, cản trở sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đấtnước, là kẻ thù nguy hiểm của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: cáchmạng là để triệt diệt những cái xấu, xây dựng những cái tốt Chúng ta làm cách mạng
là tiêu diệt triệt để chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới “Thực dân,phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhưng cái nọc xấu của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫncòn, thì cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công, vì nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăntrở, ngấm ngầm phá hoại sự nghịêp xây dựng của cách mạng” Với quyết tâm đưa đấtnước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Cương lĩnhchỉ rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là “xây dựng được về
cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tưtưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩangày càng phồn vinh, hạnh phúc” Để thực hiện thành công mục tiêu tổng quát này,
Trang 18Đại hội đặc biệt chú trọng đến việc đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống thamnhũng, lãng phí một cách có hiệu quả Trong cuộc đấu tranh này, cần phải: “Nâng caophẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức; công khai, minh bạch tài sản của cán bộ,công chức Tăng cường công tác giám sát, thực hiện dân chủ, tạo cơ chế để nhân dângiám sát các công việc có liên quan đến ngân sách, tài sản của Nhà nước” Rõ ràng,chống tham nhũng là một quyết tâm chính trị lớn của Đảng Để thực hiện quyết tâm
đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, tự giác “thực hiện chế độ công khai, minhbạch về kinh tế, tài chính…; thực hiện có hiệu quả việc kê khai và công khai tài sản,thu nhập của cán bộ, công chức theo quy định” Mỗi cán bộ, công chức, đảng viên vànhân dân phải sống và làm việc theo pháp luật; sáng tạo, kỷ cương trong lao động; tiếtkiệm trong lối sống và công việc Muốn đạt được mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011 - 2020 mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra,ngoài việc phát huy tốt các yếu tố nội lực và ngoại lực, thực hiện triệt để, đồng bộ cácgiải pháp, thì một yếu tố quan trọng và cần kíp là chống tham nhũng Đi liền với nạntham nhũng là nạn lãng phí, đó cũng là một thứ giặc nội xâm Muốn xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội thì phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Trong thời gianqua, do cách tổ chức quản lý chưa tốt của cán bộ nên có không ít nơi để xảy ra tìnhtrạng lãng phí của công đến mức phải cảnh báo Hồ Chí Minh quan niệm lãng phí củacông tuy không lấy của công cho riêng cá nhân như tham nhũng, song kết quả cũngrất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ, có khi tai hại hơn cả tham nhũng và trộmcướp Lãng phí của công điển hình là các cơ quan công quyền dùng vật liệu, điệnnước một cách phí phạm; các xí nghiệp dùng máy móc và nguyên liệu không đúngmức; các cơ quan dùng xe vào mục đích cá nhân, không tiết kiệm xăng dầu; các dự ánđầu tư dàn trải, không hiệu quả,… Những thứ bệnh đó một phần là do hậu quả của xãhội cũ để lại, do lòng tự tư, tự lợi, ích kỷ, hại dân mà ra Điều này tất yếu sẽ dẫn đếnthâm hụt ngân sách nhà nước, làm khủng hoảng kinh tế - xã hội Cho nên nhiệm vụcủa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước là phải triệt để loại bỏ nhữngcăn bệnh đó và tăng cường thực hành tiết kiệm; có như thế mới thực hiện được đạođức mới, đạo đức cách mạng, mới làm cho dân cường, nước thịnh Khi nói về vai tròcủa việc chống lãng phí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã từng căn dặnchúng ta là phải thông qua pháp luật để nhổ tận gốc tất cả những hiện tượng lãng phí
Hồ Chí Minh còn lưu ý chúng ta là ngoài vai trò của pháp luật, phải phát động tưtưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tham ô, lãng phí, để biến
“hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng” thành những ngọn đèn pha soisáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí còn chỗ ẩn nấp, góp phần làmcho Đảng và Nhà nước ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng thànhcông Để làm được những điều này, dứt khoát phải chống bệnh quan liêu vì quan liêu
đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô và lãng phí Sinh thời Chủ tịch Hồ ChíMinh đã chỉ rõ: “Ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí; nơi nàobệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô” Vì vậy, chống tham
ô, lãng phí phải gắn với chống quan liêu và là việc làm cần thiết, thường xuyên Bệnh