Chúng có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giầu cho người sản xuất chè, không n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐÀO THỊ CÚC
Tên đề tài:
TRƯỞNG GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui Chuyên ngành : Khoa học cây trồng Khoa : Nông học
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐÀO THỊ CÚC
Tên đề tài:
TRƯỞNG GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN TẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Dương Trung Dũng
Thái Nguyên - năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường và thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành” Việc thực tập tốt nghiệp là giai đoạn rất cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường, qua đó giúp sinh viên hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc và năng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong sản xuất, nghiên cứu khoa học
Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa nông học trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng giống chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết
cơ bản tại trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong thời gian thực tập, ngoài sự cố gắng nỗ lực phấn đấu của bản thân tôi còn nhận sự giúp đỡ của các thầy cô và bạn bè Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy
giáo TS.Dương Trung Dũng trong suốt quá trình thực tập
Do thời gian có hạn, lại bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn để bài khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Đào Thị Cúc
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích chè của thế giới và một số nước trồng chè chính 16
Bảng 2.2 Năng suất chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính 17
Bảng 2.3 Sản lượng chè của Thế Giới và một số nước trồng chè chính 18
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của Việt Nam 23
Bảng 4.1: Bảng thời tiết, khí hậu của Thái Nguyên năm 2015 32
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến chiều cao cây 35
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của lượng phân bón đến độ rộng tán chè 36
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của phân bón đến đường kính gốc, độ cao phân cành, số cành, diện tích lá cây chè 37
Bảng 4.4: Thời gian sinh trưởng búp và số lứa hái trong năm 38
Bảng 4.5: Chất lượng phẩm cấp búp chè tươi thời kỳ KTCB 39
Bảng 4.6: Tình hình sâu hại chính trên cây chè 40
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.2 Nguồn gốc, phân loại, sự phân bố cây chè 8
2.2.1 Nguồn gốc cây chè 8
2.2.2 Phân loại cây chè 9
2.3 Vai trò của phân bón 13
2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên Thế giới và Việt Nam 15
2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới 15
2.4.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam 20
PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 27
3.1.2 Thời gian 29
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Dụng cụ nghiên cứu 29
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 phương pháp nghiên cứu 30
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Ảnh hưởng của thời tiết tỉnh Thái nguyên đến cây chè 32
4.1.1 Nhiệt độ 32
4.1.2 Lượng mưa 33
Trang 74.1.3 Ẩm độ 34
4.1.4 Số giờ nắng 34
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến đặc điểm hình thái giống chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản 34
4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây 35
4.1.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến độ rộng tán cây chè 36
4.1.3 Ảnh hưởng của phân bón đến đường kính gốc, độ cao phân cành, số cành, diện tích lá cây chè thời kỳ KTCB 37
4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng giống chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản 38
4.2.1 Thời gian sinh trưởng và số lứa chè 38
4.2.2 Tổng số búp và chất lượng búp trên cây chè 39
4.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học đến tình hình sâu hại 40
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi Chúng có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giầu cho người sản xuất chè, không những thế cây chè còn
có vai tò to lớn trong việc che phủ đất trống, đồi núi trọc và là cây có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai bảo vệ môi trường sinh thái giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền núi Ở Việt Nam cây chè có vị trí quan trọng đối với vùng trung du miền núi, một số tỉnh vùng trung du miền núi phía bắc đã coi cây chè là cây kinh tế mũi nhọn đã từ lâu cây chè được mọi người biết đến với nhiều giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng
Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống Nước chè có tác dụng bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của
cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn Ngày nay nước chè tươi còn được mọi người biết đến với công dụng chống lão hóa làm đẹp cho làn da
Cây chè cho năng xuất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh
tế Vùng chuyên canh cây chè, có trình độ thâm canh cao đòi hỏi năng xuất lớn thì lượng phân bón cần thiết hàng năm rất nhiều Chính vì vậy, việc sử
Trang 9dụng phân bón hữu cơ cho chè là rất cần thiết, đặc biệt là phân hữu cơ vi sinh Phân hữu cơ vi sinh không chỉ cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết thực cho cây chè mà còn có tác dụng tăng hiệu quả của sử dụng phân bón vô cơ, khắc phục được sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất và góp phần vào bảo vệ môi trường Để từng bước thay đổi quan niệm trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng bằng con đường hữu cơ vi sinh, giảm dần và tiến tới thoát ly sự phụ thuộc vào phân hóa học để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững Việc bón phân hữu cơ vi sinh là rất cần thiết Chính vì thế tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ sinh học đến sinh
trưởng giống chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định được lượng phân hữu cơ sinh học thích hợp bón cho cây chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
1.3 Yêu cầu của đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm hình thái cây chè
Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm sinh trưởng cây chè Đánh giá được tình hình sâu hại chính
1.4 Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu
Trang 10
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
Bón phân cho chè kiến thiết cơ bản là biện pháp kĩ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây chè để cây nhanh cho thu hoạch việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ song phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì thực tiễn trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn, các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả Sử dụng phân hữu cơ và giảm lượng phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ tác động đến sinh trưởng và phát triển của cây mà còn cải thiện môi trường sinh thái, cải thiện độ phì cho đất hướng tới một nền nông nghiệp bền vững Qua đây cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè là rất lớn Cây chè liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó Về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm
Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè cần căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh lí của cây và khả năng hấp thu chất khoáng của cây Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như cả đời sống của nó, về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm Trong búp non của chè có 4,5%N,1,5%P2O5 và 1,2-2,5%K2O (Eden1958) Bón phân cho chè
Trang 11kiến thiết cơ bản là biện pháp kĩ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây chè để tăng năng suất và chất lượng chè
Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống
Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp
Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P2O5 và 1,2 - 2,5% K2O Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất
Chè cần nhiều đạm nhất sau đó đến lân và kali, Theo IFA World fertilizer use manual 1992 thì dinh dưỡng tạo ra 100 kg chè thương phẩm như bảng sau:
Bo (Bo) 26 g
Trang 12Từ những tài liệu trên, cho thấy rằng cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn
Từ những tài liệu trên, cho thấy rằng cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn
Vai trò của phân hữu cơ đối với chè:
Đối với chè, phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như: làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng
sự hoạt động của các hệ vi sinh học trong đất, làm tăng các thành phần trong đất:
N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ, song cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho năng xuất nhất định Tuy nhiên muốn nương chè cho năng xuất cao, chất lượng tốt
có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải bón đầy đủ
Bên cạnh phân hữu cơ thì phân NPK cũng có vai trò quan trọng tới sự phát của cây chè giai đoạn kiến thiết cơ bản:
Phân đạm:
Trong chè tập trung chủ yếu ở các bộ phận còn non như búp và lá non
N tham gia vào sự hình thành các a.amin và proten, bón đủ N cho chè, lá chè
có màu xanh, cây quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp và búp
to Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp Tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: N làm tăng năng suất từ 2-2.5 lần so với đối chứng không bón
Theo L.M.Bziava(1973) liều lượng N tăng sản lượng búp sẽ tăng, song
để đạt năng suất 10 tấn/ha bón 200kg N là hiệu quả nhất
Trang 13Về chất lượng: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc đơn độc ) làm giảm chất lượng chè đặc biệt là sản xuất chè đen
Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm (Đỗ Ngọc
Qũy-Trồng chè - NXB Nông nghiệp, 1980) làm protein tăng, protein sẽ kết hợp với
tanin thành hợp chất không tan vì thế lượng tanin lại càng bị giảm Hơn nữa bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng
Những nghiên cứu của C.M Gabanli về ảnh hưởng của phân đạm tới chất lượng chè cho thấy: Nếu bón N quá nhiều sẽ làm giảm lượng các chất hòa tan và tanin đồng thời làm tăng đáng kể lượng N không hòa tan và cafein
Theo tài liệu của Trung Quốc: Nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha cần phải cung cấp N = 37,5KG, P2O5 = 75kg, K2O = 112 - 150kg
Phân lân: Có trong búp non của chè Búp non của chè có 1,5% P2O5
(Eden,1958) Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lương cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè ( cả chè nguyên liệu và chè giống ), làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ năng suất thấp
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm khả năng hoạt động của các men, làm tăng sự tích lũy gluxit và a.amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng xuất, chất lượng búp làm tăng khả năng chống bệnh chịu rét cho chè, thiếu kali rìa lá có vết nâu, rụng lá nhiều, búp nhỏ, lá nhỏ
Theo báo cáo khoa học của Đại học Nông – Lâm Thái Nguyên, tác giả Phạm Văn Ngọc, Giảng viên khoa Nông học và cộng sự đã nghiên cứu,
Trang 14sản xuất, khảo nghiệm thành công phân hữu cơ sinh học và vi lượng đất hiếm NTT, bước đầu đánh giá hiệu quả của phân bón trên khía cạnh năng suất, chất lượng chè cho thấy: chỉ sau một thời gian sử dụng phân hữu cơ sinh học NTT, cây chè phát triển tốt, búp nhiều, lá chè xanh non, búp mập, năng suất tăng cao và ít sâu bệnh hơn; sử dụng loại phân này không ảnh hưởng đến môi trường, sản phẩm chè sản xuất ra an toàn, chất lượng tốt, trung bình một tháng cho thu hoạch 1 lứa, năng suất tăng từ 10 đến 15%
Theo Võ Thị Hạnh (2004), nghiên cứu xử lý nguồn phân chuồng, biến phế thải này thành phân hữu cơ vi sinh khi sử dụng Bio-F, chế phẩm chứa các vi sinh vật như xạ khuẩn Stetomyces sp…, nấm mốc Trichoderma
sp Và vi khuẩn Bacillus sp Những vi sinh vật trên có tác dụng phân hủy nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò gây mùi hôi phân lợn,
gà sau khi được thải xử lý ẩm độ, sau đó ủ với chế phẩm Bio-F Sau 3 ngày các vi sinh vật hữu ích phát triển mạnh phân giải và làm mất mùi phân Nhiệt độ trong khối ủ tăng lên tới 60 – 700C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7 – 10 ngày, giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ chất lượng cao, có tác dụng phòng chống nấm gây hại cây trồng
Trang 15Năm 1998 - 2000 Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nôi đã nghiên cứu thử nghiệm và tiếp thu công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM) trong nông nghiệp và
vệ sinh môi trường, xác định hỗn hợp các vi sinh vật đặc hiệu có tác dụng tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm không khí của bãi rác, rác thải sinh hoạt và
ô nhiễm nước do các chế phế thải hữu cơ gây nên và xác định các vi sinh vật hữu hiệu có tác dụng ức chế một số vi sinh vật gây bệnh đường ruột ở động vật Sử dụng EM hoặc sản phẩm thứ cấp từ EM (Bocashi) có thể giảm thiểu mùi hôi của các chuồng trại chăn nuôi
2.2 Nguồn gốc, phân loại, sự phân bố cây chè
2.2.1 Nguồn gốc cây chè
Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc), nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống Cũng theo các nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới [1]
Năm 1823 R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải là ở Trung Quốc Trong tất cả các tài liệu gần đây hầu như không thấy có sự nhất quán nêu lên về nơi xuất xứ của cây chè Chúng ta biết rằng muốn xác định vùng nguyên sản của một cây trồng cần căn
cứ vào những điều kiện tổng hợp, trong đó cây chè hoang dại chỉ là một điều kiện mà chủ yếu là cần xét đến tập quán sử dụng, lịch sử trồng trọt và tình hình phân bố các loại hình có quan hệ tới cây trồng đó
Những công trình nghiên cứu của Djemukhatele (1961 - 1976) về phức catechin của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu
Trang 16lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè Djemukhatele kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa, tổng hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và cheettit(-) - epicatechin galat, ở chúng phát triển chậm khả năng tổng hợp (-) epigalo catechin và các galat của nó để tạo thành (+) galocatechin Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là cheettit(-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin) Khi di thực những cây chè dại này lên phía Bắc, với các điều kiện khắc nghiệt hơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng dần với các điều kiện sinh thái bằng cách có thành phần catechin phức tạp hơn, cùng với sự tạo thành (-) epigalocatechin và các galat của nó Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hiđroxin hóa và galin hóa Từ những biến đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới "Nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam"
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản Chè được trồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837 - 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940
Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một số nước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong những điều kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp trồng chè trên thế giới
2.2.2 Phân loại cây chè
Cơ sở khoa học của phân loại chè
Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
Trang 17Ngành hạt kín Angiospermae Lớp song tử diệp Dicotyledonae
Bộ chè Theales
Họ chè Theaceae Chi chè Camellia (Thea) Loài Camellia (Thea) sinensis
Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận
là: Camellia sinensis (L) O Kuntze và có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis L
Chú thích: Năm 1753 Linê đặt tên khoa học cho cây chè là Thea sinensis, sau đó lại đặt là Camellia sinensis Sau Linê có nhà thực vật học xếp cây chè thuộc chi Thea, có người lại xếp cây chè thuộc chi Camellia sinensis Tên khoa học của cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis
Hơn một trăm năm, tên khoa học của cây chè vẫn là một vấn đề tranh luận
Trước sau có 20 cách đặt tên khoa học cho cây chè Diễn biến chủ yếu như sau:
Năm 1807 f Sims Thea sinensis Sims
1822 H.F Link Camellia sinensis Link
1854 W Griffim Camellia theifera Griff
1874 D Brandis Camellia thea Brandis
1874 W T T Dyer Camellia theifera Dyer
1908 G Watt Camellia thea (Link) Brandis
1919 C P Cohen Stuart Camellia thiefera (Griff) Dyer
1933 C R Harler Thea sinensis (L) Sims
1956 C R Harler Camellia sinensis (L) O Kuntze
Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi Thea và Camellia làm một và
gọi là chi Camellia Vì vậy tên khoa học của cây chè được nhiều người thường gọi là Camellia sinensis (L) O Kuntze
Trang 18Cơ sở của việc phân loại chè thường dựa vào:
- Cơ quan dinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của các loại lá, số đôi gân lá
- Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhị cái
- Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống chè đều có hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định
Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919) Cách phân loại
này được nhiều người chấp nhận Tác giả chia Camellia sinensis L làm 4 thứ
(varietas):
2.2.2.1 Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea):
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12oC đến -15o
C
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một
số vùng khác Ở Việt Nam chè Trung Quốc lá nhỏ có thể tìm thấy ở Lạng Sơn, Phú Hộ (Phú Thọ) (dưới dạng thí nghiệm, tập đoàn)
2.2.2.2 Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla):
Đặc điểm:
- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên
- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ
- Năng suất cao Phẩm chất tốt
Trang 19Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc) Ở Việt Nam chè Trung Quốc lá to phân bố nhiều ở vùng trung du: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang và phía Nam Yên Bái Do được trồng chủ yếu ở vùng trung du, chè Trung Quốc lá to còn gọi là chè trung du
2.2.2.3 Chè Shan (Camellia sinensis var Shan):
- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m
- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày
- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi
là chè tuyết
- Có khoảng 10 đôi gân lá
- Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng suất cao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất
Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc), miền bắc của Miến Điện và Việt Nam Ở Việt Nam chè Shan được trồng nhiều ở vùng Tây Bắc, vùng Tây Nguyên (Lâm Đồng) Mỗi điạ phương có các giống khác nhau như Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Chấn Ninh đều cho năng suất khá từ 7 - 8 tấn/ha
2.2.2.4 Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica):
- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa
- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài
- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá
- Rất ít hoa quả
- Không chịu được rét hạn
- Năng suất, phẩm chất tốt
Trang 20Trồng ở Ấn Độ, Miến Điện, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác Ở Việt Nam, đại biểu của nó là giống PH1, giống chè có năng suất cao nhất Việt Nam hiện nay
Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam,
nhưng phổ biến nhất là hai thứ chè đó là Camellia
sinensis var macrophylla và Camellia sinensis var Shan
- Camellia sinensis var macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh
trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung
du lá xanh, Trung du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắc đạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5 tấn/ha
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: Rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung du thường để chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt
- Camellisa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền
bắc và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhau như: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thường đạt 6 - 7 tấn/ha Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn
2.3 Vai trò của phân bón
Năng suất cây trồng là kết quả tổng hợp của tất cả các yếu tố sinh trưởng nội tại bên trong và các yếu tố ngoại cảnh tác động trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Bón phân cho chè là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng sự sinh trưởng của cây chè, tăng năng suất và chất lượng chè Cây chè có khả năng hút dinh dưỡng liên tục trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như chu kỳ phát
Trang 21dục cả đời sống của cây Hơn nữa hằng năm cũng có một lượng dinh dưỡng bị xói mòn rửa trôi vì thế chúng ta cần xây dựng một chế độ bón phân hợp lý cho chè Ngay cả trong điều kiện mùa đông độ thấp, khô hạn, cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định Vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho chè phải tiến hành thường xuyên trong năm Quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một trong quá trình mâu thuẫn thống nhất vì vậy cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh trưởng sinh thực và khống chế sinh trưởng sinh dưỡng đối với chè thu hoạch hạt giống
Các tài liêu của Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng nếu bón N.P.K không cân đối thì cây chè sẽ cho năng suất thấp và phẩm chất thấp [1]
Thay vì bón phân vô cơ, việc bón phân hữu cơ vi sinh đối với cây chè
có vai trò rất quan trọng Bón phân khoáng quá mức dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất và chất lượng giảm Đồng thời với các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng phân khoáng như: ure, kaliclorua … với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả
sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, nước Đối với cây chè phân hữu cơ rất quan trọng Không những cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính của đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng hoạt động của các vi sinh vật trong đất… những giải pháp làm tăng chất hữu cơ cho chè là làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, bón phân hữu cơ cho chè, trồng cây họ đậu, việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay từ khi bón lót trước khi trồng Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ Khi thay thế phân hóa học bằng phân hữu cơ làm cho năng suất chè không giảm, chất lượng chè được cải thiện Ngoài ra phân
Trang 22hữu cơ còn giúp cải tạo đất, không gây ô nhiễm môi trường hướng tới một nền nông nghiệp bền vững
2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên Thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm) Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dưỡng, thưởng thức chè ở nhiều nước đã được nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo
Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ, quốc gia đầu tiên trên Thế Giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm
805 sau Công Nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, vào Malaixia năm 1914, đến năm 1920 thì tiến tới các nước Châu Phi như: Kenia, Malavi, Ghine,
Trên Thế Giới cây chè được phát triển với tốc độ rất nhanh, đặc biệt là từ đầu thế kỷ 18 trở lại đây Đến năm 2000, đã có hơn 100 nước trồng và xuất khẩu chè Sản lượng chè Thế Giới năm 2000 đạt hơn 2,8 triệu tấn
Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước trồng chè lớn nhất ( chiếm hơn nửa tổng sản lượng) và cũng là hai nước tiêu thụ chè lớn nhất Thế Giới Chè được xuất khẩu trên Thế Giới dưới hai dạng chính là chè đen và chè xanh, trong đó, chè đen chiếm phần lớn lượng chè xuất khẩu (84%) Shrilanka và Kenya là hai nước xuất khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 27,88% và 20,63% thị phần xuất khẩu
Các nước Liên Xô cũ là thị trường nhập khẩu chè đen lớn nhất, chiếm 22%, tiếp theo là Anh (13%), Parkistan (11%) và Mỹ (8%) Không như chè đen, chè xanh được sản xuất ít hơn ( chiếm 25% tổng sản lượng) và chủ yếu được tiêu thụ nội địa Trung Quốc, Nhật Bản là các nước sản xuất và tiêu thụ chính
Trang 23Các nước xuất khẩu chè xanh lớn nhất gồm có Trung Quốc (83,4%), Việt Nam (10,16%) và Inđônêsia (4,28%) Chè xanh được xuất khẩu nhiều nhất sang Morocco (18,7%)
Theo FAO (2015) thì tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế Giới tính đến năm 2013 như sau:
Bangladest 59.000 52.236 56.670 57.900 58.300 Châu Á 2.706.078 2.800.228 3.048.509 3.148.877 3.130.454 Thế giới 3.050.639 3.149.609 3.412.539 3.517.384 3.521.221
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2015)
Qua số liệu bảng trên cho thấy:
Tính đến năm 2013 diện tích chè trên thế giới đạt 3.521.221ha tăng 470.572 ha tương đương 13,36% so với năm 2009 Trong đó Trung Quốc
Trang 24là nước có diện tích trồng chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.570.000 ha, chiếm 46,49% tổng diện tích chè toàn thế giới Ấn Độ là nước đứng thứ 2 với diện tích là 563.980ha, chiếm 16,01% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè Việt Nam đạt 121.649 ha chiếm 3,45% tổng diện tích chè toàn thế giới Diện tích chè tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á chiếm 88,902% (3.130.454 ha) diện tích, đây cũng là nơi phát sinh ra cây chè
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2015)
Qua số liệu bảng trên cho thấy:
Tính đến năm 2013, năng suất chè trên Thế Giới đạt 15.180 tạ chè khô/ha tăng 1128.66 tạ chè khô/ha tương đương 7.434% so với năm 2007
Trang 25Kenya là nước có năng suất chè cao nhất đạt 21.772 tạ chè khô/ha, vượt hơn năng suất bình quân của thế giới là 45,18% Mianma là nước có năng suất thấp nhất chỉ đạt 3,967 tạ chè khô/ha tương ứng 26,13% năng suất chè thế giới Việt Nam tính đến năm 2013 đạt năng suất 17,616 tạ chè khô/ha vượt hơn năng suất bình quân của Thế Giới là 25,41%, so với năng suất bình quân Châu Á là 29,41%
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO năm 2015)
Trang 26Qua số liệu bảng trên cho thấy:
Sản lượng chè toàn Thế Giới năm 2013 là 5.345.523 tấn tăng 1.058.699 tấn, tương đương 19,80% so với năm 2009 Trung Quốc là nước
có sản lượng chè lớn nhất Thế Giới đạt 1.924.457 tấn chiếm 36% tổng sản lượng chè toàn Thế Giới,chiếm 42,522% tổng sản lượng chè Châu Á Sản lượng chè thấp nhất là Mianma chỉ đạt 214.300 tấn chiếm 0,593% tổng sản lượng chè toàn Thế Giới Việt Nam đạt sản lượng 206.600 tấn chiếm 4% tổng sản lượng chè toàn Thế Giới
Năm 2010 tổng kim ngạch của 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,78 tỷ USD chiếm trên 52% tổng kim ngạch chè trên thế giới So với cùng kỳ năm 2009, kim ngạch nhập khẩu chè các nước này tăng trung bình 17,39% 5 nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm
2010 là Nga (610,6 triệu USD), Anh 462 triệu USD), Mỹ (317,5 triệu USD), Nhật Bản (162,1 triệu USD) và Đức (151,4 triệu USD)
Trang 27Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), năm
2010 nguồn cung chè thế giới có thể giảm nhẹ so với năm 2009 do ảnh hưởng của thời tiết xấu đã làm giảm sản lượng chè ở một số quốc gia sản xuất chè
Tại thị trường Mỹ mặc dù vẫn ở giai đoạn hậu suy thoái, nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh Người tiêu dùng
Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cafe, nước trái cây, nước ngọt mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình
Tại thì trường Châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè Ngay từ những tháng đầu năm 2010, tại các thị trường này người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt Như tại Nga, (một trong những quốc gia tiêu thụ chè lớn trên thế giới) với mức trung bình hơn 1 kg chè/người/năm
Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Irắc, nhu cầu tiêu dùng chè cũng tăng Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu thụ chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang sản phẩm chè uống liền
và chế biến đặc biệt trong khi ở các nước Tây Á và Châu Á vẫn ưa dùng các sản phẩm chè truyền thống Điều này giúp cho các nước trồng và xuất khẩu chè trên thế giới có phương pháp chế biến chè phù hợp cho từng vùng cũng như định ra được vùng xuất khẩu chè phù hợp cho sản phẩm của mình
2.4.2 Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển, với 3/4 diện tích là đồi núi, điều kiện nhiệt độ nóng ẩm Tuy nhiên,
sản xuất chè ở nước ta chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm 1925
Trước năm 1890, nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng chè dưới dạng chè tươi, chè nụ Sau khi người Pháp chiếm đóng Đông Dương thì cây chè mới