1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên

64 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 702,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây cẩm đỏ và cây cẩm tím là 2 trong số những loài thực vật được sử dụng để nhuộm màu thực phẩm phổ biến tại vùng núi phía Bắc, tuy nhiên loài cây này chỉ được trồng theo kinh nghiệm ở c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG THỊ TRỤ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY CẨM NHUỘM MÀU TÍM

TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Trồng trọt Khoa : Nông học Khoá học : 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG THỊ TRỤ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY CẨM NHUỘM MÀU TÍM

TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Trồng trọt Khoa : Nông học

Khoá học : 2011 - 2015 Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Luân Thị Đẹp

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 4 năm học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên với

sự quan tâm, giúp đỡ của các quý thầy cô, gia đình và bạn bè em đã hoàn thành chương trình học của mình và tham gia vào thực tập tốt nghiệp, đó là một trong những giai đoạn quan trọng để em được vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tiễn sản xuất, giúp em có cơ hội được học tập kinh nghiệm trong nghiên cứu ngoài thực tiễn, từ đó rút ra những kinh nghiệm của riêng mình, nâng cao kiến thức chuyên môn, rèn luyện tay nghề

Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Nông học - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và toàn thể các thầy cô giáo

đã giảng dạy cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt em xin cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Luân Thị Đẹp đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành đề tài tốt nghiệp:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây Cẩm nhuộm màu tím tại Thái Nguyên”, đến nay em đã hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp của mình

Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể bạn bè, người thân, gia đình những người đã luôn bên cạnh em, cổ vũ tinh thần lớn lao và đã ủng hộ em trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn, trình độ, kỹ năng của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khóa luận tốt nghiệp này của em không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, rất mong được sự đóng góp quý báu, chỉ bảo, bổ sung thêm của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được đầy đủ hơn, và hoàn thiện hơn Tạo hành trang tri thức vững vàng cho em trong quá trình công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Sinh Viên Đặng Thị Trụ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu được điều tra thu thập khách quan và trung thực Kết quả nghiên cứu chưa được sử dụng công bố trên tài liệu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!

Thái Nguyên, ngày 26 tháng 5 năm 2015

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Đặc điểm hình thái của cây Cẩm tím 4 Bảng 2.2: Danh mục các chất màu thực phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam 18 Bảng 4.1: Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao của cây Cẩm nhuộm màu tím 30 Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của cây Cẩm tím 32 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm hình thái thời điểm thu hoạch của cây Cẩm tím 34 Bảng 4.4: Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây Cẩm tím 36 Bảng 4.5: Hiệu quả kinh tế 38 Bảng 4.6: Khả năng tái sinh của cây Cẩm tím sau thu hoạch 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Đồ thị biễu diễn động thái tăng trưởng chiều cao của cây Cẩm nhuộm màu tím 31 Hình 4.2: Đồ thị biễu diễn động thái ra lá của cây Cẩm tím 33 Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện sự ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm hình thái cây Cẩm tím thời kì thu hoạch 35 Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện năng suất của cây Cẩm tím 37

Trang 8

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Khái quát về cây Cẩm và chất nhuộm màu thực phẩm 4

2.1.1 Đặc điểm thực vật học 4

2.1.2 Phân bố của cây Cẩm 5

2.1.3 Công dụng của cây Cẩm 6

2.1.4 Sơ lược về chất nhuộm màu thực phẩm 7

2.1.5 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch 9

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cây nhuộm màu thực phẩm trên thế giới và ở Việt Nam 10

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới 10

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cây có chất màu ở Việt Nam 17

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng 25

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 25

Trang 9

3.3.2 Phương pháp trồng cây Cẩm 26

3.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 28

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30

4.1 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng của cây Cẩm nhuộm màu tím 30

4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây Cẩm nhuộm màu tím 30

4.1.2 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của cây Cẩm tím 32

4.1.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm hình thái của cây Cẩm nhuộm màu tím thời kỳ thu hoạch 33

4.2 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất thân lá của cây Cẩm nhuộm màu tím 36

4.3 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tái sinh sau thu hoạch 38

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trước sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, các loại thực phẩm ngày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, các loại thực phẩm nói chung đặc biệt là các loại thực phẩm nhuộm màu không an toàn vẫn tồn tại trên thị trường, do đó việc lựa chọn loại thực phẩm an toàn là vấn đề khó khăn Chính vì vậy, việc sử dụng các loại chất nhuộm màu thực phẩm sạch có nguồn gốc từ thực vật là rất cần thiết

Chất màu thực phẩm là một phụ gia thực phẩm (PGTP) quan trọng, được

sử dụng không chỉ trong chế biến thực phẩm, mà cả trong công nghiệp mỹ phẩm (kem trang điểm, thuốc nhuộm tóc…), dược phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác Nhu cầu về chất màu thực phẩm rất lớn và không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Các cây dùng để nhuộm màu thực phẩm gồm tất cả các loài thực vật có thể dùng trực tiếp hoặc được chế biến thành các sản phẩm dùng để nhuộm màu cho các loại thực phẩm (Lưu Đàm Cư, 2005) [4]

Trong tình hình hiện nay số vụ bị ngộ độc thực phẩm do lạm dụng chất màu tổng hợp ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của con người Vì vậy mà xu hướng chung của thế giới là tìm kiếm và chiết tách các chất màu tự nhiên có thể sử dụng trong công nghiệp thực phẩm từ nguyên liệu thực vật hoặc bán tổng hợp

Theo Lưu Đàm Cư và Trần Minh Hợi (1995) [2], Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện KH - CN Việt Nam) và Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) cho thấy, hệ thực vật Việt Nam có trên 12.000 loài, trong đó nhóm cây nhuộm màu có khoảng 200 loài Hiện nay, ở Việt Nam, có tới 112 loài cây được người dân sử dụng trực tiếp làm chất nhuộm màu thực phẩm Trong đó có

Trang 11

18 loài cho màu nhuộm xanh, 57 loài cho màu nhuộm đỏ, 6 loài cho màu nhuộm tím, 28 loài cho màu nhuộm vàng và 2 loài cho màu nhuộm đen

ThS Nguyễn Thị Thanh Hương (2010) [7] cho biết, thực phẩm được nhuộm từ lá cẩm có ánh đẹp tinh tế, tự nhiên, bền màu, cường độ rất mạnh nên chỉ cần lượng nhỏ cũng đủ làm tăng màu sắc, chưa thấy có hiện tượng gây mùi vị lạ và đặc biệt là chưa có hiện tượng độc

Nhuộm màu thực phẩm bằng thực vật là tri thức và kinh nghiệm truyền thống lâu đời của các dân tộc Việt Nam, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số Hơn thế, với phong tục tập quán khác nhau, cư trú trên các vùng lãnh thổ có điều kiện tự nhiên riêng biệt, mỗi dân tộc có kinh nghiệm và tri thức độc đáo mang tính bản địa và văn hóa truyền thống Cây cẩm đỏ và cây cẩm tím là 2 trong số những loài thực vật được sử dụng để nhuộm màu thực phẩm phổ biến tại vùng núi phía Bắc, tuy nhiên loài cây này chỉ được trồng theo kinh nghiệm

ở cấp hộ gia đình hoặc khai thác tự nhiên Cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về các biện pháp kỹ thuật như mật độ, thời vụ, phân bón… đối với cây cẩm nhuộm màu thực phẩm của Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng

của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây Cẩm nhuộm màu tím tại Thái Nguyên”

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp có hiệu quả đối với cây Cẩm tím tại Thái Nguyên làm cơ sở cho các nghiên cứu phát triển sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm an toàn có nguồn gốc thực vật với quy mô công nghiệp

Trang 12

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng của cây Cẩm nhuộm màu tím

- Theo dõi ảnh hưởng của phân bón đến năng suất cây Cẩm tím

- Theo dõi ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tái sinh sau thu hoạch của cây Cẩm tím

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Biết triển khai 1 đề tài nghiên cứu và viết báo cáo khoa học

- Giúp sinh viên tiếp cận và học tập các phương pháp nghiên cứu khoa học đối với một cây trồng mới

- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và chỉ đạo sản xuất cây nhuộm màu thực phẩm nói chung và cây cẩm nói riêng

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái quát về cây Cẩm và chất nhuộm màu thực phẩm

2.1.1 Đặc điểm thực vật học

Loài Cẩm (Peristrophe bivalvis (L.) Merr., syn P roxburghiana) thuộc

họ Ô rô (Acanthaceae) - mọc hoang ở những nơi ẩm ướt, là cây cỏ thân thảo, lâu năm, cao khoảng 30 - 60cm, cành non có lông về sau nhẵn, thân thường 4 cạnh, có rãnh dọc sâu Lá đơn, mọc đối; hình bầu dục hay trứng hoặc thuôn mũi giáo, thường có bớt màu trắng ở dọc gân; kích thước 2 - 10cm x 1,2 - 3,6cm; hai mặt có lông hay không, gốc lá thuôn nhọn; chóp lá nhọn hay có khi có mũi hay hơi tù tròn Cụm hoa chùm ở ngọn hay nách lá, chùm ngắn; lá bắc cụm hoa thường hình trứng Đài 5 răng đều dính nhau ở nửa dưới, kích thước ngắn hơn lá bắc hoa Tràng màu tím hay hồng, phân 2 môi, môi dưới có

3 thuỳ cạn, ống hẹp kéo dài Nhị 2, thò ra khỏi ống tràng Bầu 2 ô, mỗi ô 2 - nhiều noãn Hàng năm, Cẩm ra hoa vào tháng 10 - 11 (Nguyễn Thị Phương Thảo, Hà Tuấn Anh, Lý Xuân Trung, 2010)[8]

Bảng 2.1: Đặc điểm hình thái của cây Cẩm tím

Thân Thân thảo, lâu năm, cao khoảng 30 - 60cm, cành non có

lông về sau nhẵn, thân thường 4 - 6 cạnh, có rãnh dọc sâu

Lá đơn, mọc đối; lá hình trứng, gốc lá tròn, chóp lá hơi

tù tròn, màu xanh nhạt, thường có bớt màu trắng ở dọc gân; kích thước lá 2 - 10cm x 1,2 - 3,6cm; hai mặt không có lông

Trang 14

Hoa Cụm hoa chùm ở ngọn hay nách lá, chùm ngắn; bao chung

của cụm hoa có lá bắc không đều, lá bắc cụm hoa thường hình trứng, có khoảng 10 hoa nằm lẫn giữa những lá bắc con hình tam giác nhọn, nhỏ hơn lá đài Đài 5 răng đều, dính nhau ở nửa dưới, kích thước ngắn hơn lá bắc hoa Tràng màu tím hay hồng, phân 2 môi, môi dưới hơi khía,

có 3 thuỳ, ống hẹp kéo dài Nhị 2, bao phấn tù thò ra khỏi ống tràng Bầu 2 ô, mỗi ô 2 noãn Hàng năm, hoa nở vào mùa Thu, Đông

Đặc điểm sinh thái của cây Cẩm

Cẩm thuộc loại cây ưa ẩm và ưa bóng, nhưng không chịu được úng, cây thường mọc ở ven rừng núi đá vôi ẩm, gần bờ suối và được trồng dưới tán các cây ăn quả, bên cạnh các nguồn nước Cây sinh trưởng mạnh vào Xuân Hè, có hoa vào mùa Thu, Đông Vào cuối mùa thu khi nhiệt độ xuống thấp và ít mưa cây bắt đầu bị rụng lá và vào mùa đông thì cây hầu như không còn lá

2.1.2 Phân bố của cây Cẩm

Ở Việt Nam cây Cẩm có vùng phân bố tương đối rộng, phân bố rải rác

ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta như: Lạng Sơn, Tuyên Quang,

Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Hoà Bình… Hiện nay hiếm khi gặp cây Cẩm mọc hoang dại, để thuận tiện cho việc sử dụng, mỗi hộ dân ở các địa phương nói trên chỉ trồng 1 - 2 m2

ngay trong vườn nhà hoặc trên nương rẫy ( Nguyễn Thị Phương Thảo, Hà Tuấn Anh, Lý Xuân Trung, 2010) [8]

Trang 15

2.1.3 Công dụng của cây Cẩm

Trong y học cổ truyền, Cẩm được dùng chữa ho, ho nhiều đờm, ho ra máu, nôn ra máu, chữa vết thương sưng bầm tím Ở Trung Quốc, Cẩm là dược liệu có vị đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ huyết, chữa viêm họng, thấp khớp, nhiễm trùng đường tiết niệu, kinh phong ở trẻ em, lao hạch, mụn nhọt Trong dịp lễ tết đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc thường sử dụng cành lá Cẩm để nhuộm xôi nhiều màu, để có được các màu tím, tím hồng, tím đen v.v… người dân thường sử dụng nước tro để điều tiết màu sắc

Hiện nay vào những ngày lễ tết, đa số các dân tộc thiểu số ở huyện Mường Khương thường sử dụng các cây cỏ khác nhau để nhuộm xôi nhiều màu Vào buổi sáng ở chợ Mường Khương, chúng ta có thể gặp một vài người bán xôi có màu tím hồng, tím thẫm (nhuộm bằng Cẩm tím), xôi màu đỏ nhuộm bằng quả Gấc hay Cẩm đỏ Vào ngày mồng 1 hay ngày rằm lượng xôi bán ra tăng hơn với nhiều màu sắc khác nhau Chỉ có người Nùng và người Giáy ở Mường Khương nhuộm đũa mới bằng Cẩm đỏ vào dịp Tết nguyên đán

và ngày rằm tháng 7 Đũa nhuộm đỏ trước tiên được đặt vào mâm để cúng, sau đó mới được đem ra dùng quanh năm (Nguyễn Thị Phương Thảo, Hà Tuấn Anh, Lý Xuân Trung, 2010) [8]

Sử dụng lá cẩm nhuộm màu cho thực phẩm không có độc tính, tan tốt trong nước và có độ bền màu đảm bảo an toàn cho sức khỏe người sử dụng, đa dạng màu sắc cho các bữa ăn, tạo ra được nhiều màu sắc khác nhau từ mỗi loại cây nhờ các cách chế biến khác nhau, an toàn mà tiết kiệm, bảo vệ môi trường

(Nguyễn Thị Phương Thảo, Hà Tuấn Anh, Lý Xuân Trung, 2010) [8]

Trang 16

2.1.4 Sơ lược về chất nhuộm màu thực phẩm

Phẩm màu là chất phụ gia thực phẩm được sử dụng rất nhiều trong chế biến thực phẩm, dùng để nhuộm màu cho các loại thực phẩm làm thay đổi màu sắc vốn có của thực phẩm phù hợp với nhu cầu của người sử dụng Là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cảm quan thực phẩm và góp phần làm tăng cảm giác ngon miệng, kích thích sự thèm ăn

Phẩm nhuộm (thường gọi: thuốc nhuộm), những hợp chất hữu cơ có màu,

có khả năng nhuộm màu các vật liệu như vải, giấy, nhựa, da,… Những thức ăn có chứa phẩm màu trong danh mục được phép sử dụng làm phụ gia thực phẩm của

Bộ Y tế, dưới mức giới hạn dư lượng cho phép thì không gây ảnh hưởng độc hại cho sức khoẻ người tiêu dùng Tuy nhiên nếu quá lạm dụng phẩm màu, hoặc chạy theo lợi nhuận, sử dụng các phẩm màu ngoài danh mục cho phép sử dụng để chế biến thực phẩm (đặc biệt là các phẩm màu tổng hợp) sẽ rất có hại đến sức khoẻ, có thể gây ngộ độc cấp tính và sử dụng lâu dài tích luỹ cao có thể gây hại cho sức khỏe con người

Khi chất màu nhuộm công nghiệp được đem vào sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt của nhân dân thì người ta đã phát hiện ra các nhược điểm của sản phẩm chất màu công nghiệp vì chúng có thể gây nên các tác dụng phụ (chúng

có thể là tác nhân gây ung thư, rối loạn thần kinh, tiêu hoá hoặc ngộ độc gây

tử vong ) Vì vậy trong những năm gần đây con người càng thấy được tính

ưu việt của các sản phẩm tự nhiên và đã quan tâm nghiên cứu các chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật để sử dụng chúng nhất là trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm

Khác với chất màu tổng hợp, chất màu tự nhiên là những chất màu sẵn có trong thực vật tự nhiên và không gây độc Chất màu tự nhiên dễ kiếm, giá thành rẻ, cách sử dụng không phức tạp và không gây ra những

Trang 17

mùi vị lạ cho sản phẩm, các chất màu thực phẩm tự nhiên còn chứa các thành phần hoạt tính sinh học khác như: các vitamin, các axit hữu cơ, glycozit, các chất thơm, các nguyên tố vi lượng Do vậy, khi sử dụng chất màu tự nhiên để nhuộm màu không chỉ cải thiện được hình thức bên ngoài

mà còn làm tăng giá trị đinh dưỡng của thực phẩm

Nhờ những ưu điểm của các chất nhuộm màu tự nhiên, hiện nay, đã có nhiều nước trên thế giới đã chiết tách và sử dụng các chế phẩm tự nhiên trong nhuộm màu thực phẩm Trong đó cây cẩm nhuộm màu là cây đang được sử dụng phổ biến và cho màu tự nhiên đẹp Chất màu trong cây Cẩm chủ yếu phân bố ở trong lá

Theo kinh nghiệm lâu đời của nhân dân thì cách đơn giản nhất để sử dụng cây nhuộm màu cho thực phẩm là đun nóng với một lượng nước để chiết ra chất màu ngâm cho thực phẩm hoặc dã nát vắt lấy dịch màu Những cách này áp dụng cho quy mô nhỏ, hộ gia đình Ngoài ra qua công trình “nghiên cứu về cây cẩm” Nguyễn Thị Phương Thảo (2010) [10] đã khảo sát về 2 cách chiết màu từ cây cẩm tím như sau:

Cách lấy mẫu: Cành lá Cẩm tươi thu về đem loại bỏ phần cành và các

lá vàng, trộn đều trước khi cân mẫu Cân 500g lá tươi và chiết bằng nước ở các chế độ nhiệt khác nhau (chiết nóng và chiết lạnh) Mặt khác đem chính mẫu Cẩm này đi phơi hoặc sấy khô để nghiên cứu khả năng chiết chất màu từ nguyên liệu Cẩm khô

+ Quy trình chiết tách phẩm màu tím từ nguyên liệu Cẩm tươi:

Chiết nóng: Cân 500g lá Cẩm tươi, rửa sạch, đổ 1 lít nước sạch (pH = 7), đun sôi trong khoảng 20 phút, chắt dịch chiết lần 1, vắt kiệt phần nước còn lại trong lá, đổ tiếp 1 lít nước vào phần bã và đun sôi 20 phút, chắt dịch chiết lần 2 và vắt kiệt phần nước còn lại trong lá Tất cả phần dịch chiết đem lọc

Trang 18

qua vải phin thô Dịch lọc được đem cô trên bếp cách thuỷ tới dạng cao mềm Chú ý giữ nhiệt độ của dịch chiết khi cô trong khoảng 60 - 650C Sấy cao mềm trong tủ sấy chân không, nghiền cao khô thành bột thu phẩm màu tím (PMT) Bảo quản PMT trong 2 - 3 lần túi nilon + silicagel

Chiết lạnh: Cân 500g lá Cẩm tươi, rửa sạch, giã sống, đổ 1 lít nước sạch (pH = 7), khuấy đều, chắt dịch chiết lần 1, vắt kiệt phần nước còn lại trong lá, đổ 1 lít nước vào phần bã và khuấy đều, chắt dịch chiết lần 2, vắt kiệt phần nước còn lại trong lá Tất cả phần dịch chiết đem lọc qua vải phin thô Dịch lọc được đem cô trên bếp cách thuỷ tới dạng cao mềm Chú ý giữ nhiệt

độ của dịch chiết khi cô trong khoảng 60 - 650C Sấy cao mềm trong tủ sấy chân không, nghiền cao khô thành bột thu phẩm màu tím (PMT) Bảo quản PMT trong 2 - 3 lần túi nilon + silicagel

2.1.5 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch

Cây Cẩm sẽ sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao trên loại đất đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Đất có hàm lượng mùn cao, tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, giàu dinh dưỡng

- Đất có độ ẩm cao, dễ thoát nước

- Đất có độ che bóng (chú ý là cây Cẩm sẽ tổng hợp rất ít chất màu trong điều kiện nhiệt độ cao và chiếu sáng mạnh)

Đất được cầy bừa kỹ, dọn sạch cỏ và lên luống cao 20cm, rộng 1,0 - 1,2m Vào mùa xuân, tháng 2 - 3 chọn các cành Cẩm bánh tẻ khoẻ mạnh, cắt

bỏ bớt lá để giảm bớt sự bay hơi nước, cắt phần thân thành những đoạn hom dài khoảng 15 - 20cm, mỗi hom có 2 - 3 mắt, sau đó đem đi trồng với khoảng cách hố cách hố 30 - 40cm, hàng cách hàng 30 - 40cm

Trang 19

Để cây sinh trưởng tốt ta nên bón lót 8 - 10 tấn phân chuồng đã ủ hoai cho 1 ha, đối với các khu vực nương rẫy, đất dốc có thể bón thêm 100 - 150

kg lân và 50 kg kali Sau khi bón lót phân chuồng, phân lân và phân kali, lấp một lớp đất mỏng rồi đặt từ 3 - 5 hom giống/hố, lấp đất, chỉ để 1 - 2 mắt ló trên mặt đất, nén chặt gốc Sau đó tưới nước và duy trì độ ẩm của đất trong vòng 7 - 10 ngày đầu để hom ra rễ và đâm chồi mới Trong thời gian đầu, cần chú ý giữ sạch cỏ dại và thường xuyên duy trì độ ẩm Cây Cẩm có thể trồng dưới tán cây ăn quả, trồng xen với ngô, đỗ tương hay các cây rau khác

Sau khi trồng khoảng 3 - 4 tháng, có thể thu lứa 1 (vào tháng 6 - 7 hàng năm) Khi cây cao khoảng 40 - 50cm có thể cắt phần cành mang lá dài 30 - 40cm để làm nguyên liệu chiết chất màu Nếu gặp thời tiết thuận lợi và chăm sóc tốt, thì có thể thu hái 2 - 3 lứa Cẩm/năm Sau mỗi lứa thu hoạch cần làm

cỏ, xới xáo mặt luống, bón phân và vun gốc để cây tiếp tục sinh trưởng tốt

Để lứa cắt sau có năng suất cao, lứa thu trước nên cắt cây ở độ cao cách mặt đất khoảng 10 - 15cm Nếu chăm sóc tốt, trồng một lần cây Cẩm có thể cho thu hoạch liên tục trong 3 - 4 năm

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cây nhuộm màu thực phẩm trên thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới

Chất nhuộm màu nói chung và chất nhuộm màu thực phẩm nói riêng

đã được người dân các nước trên thế giới sử dụng trong cuộc sống từ thời xa xưa Một chất màu được sử dụng cho thực phẩm nhất thiết phải hội đủ ba tiêu chuẩn về mặt y tế của chất phụ gia thực phẩm:

+ Nhuộm thực phẩm thành màu theo mục đích, phù hợp với công nghiệp chế biến thực phẩm

+ Không có độc tính (gồm cả độc tính cấp, bán cấp và trường diễn)

Trang 20

+ Không là nguyên nhân hoặc tác nhân gây bệnh

Ngoài ra, do yêu cầu riêng của thực phẩm, các chất nhuộm màu dùng trong lĩnh vực này không gây mùi lạ và làm thay đổi chất lượng thực phẩm

Hiện nay, nghiên cứu các chất nhuộm màu cho thực phẩm trên thế giới được tập trung vào các hướng chủ yếu sau đây:

- Điều tra, phát hiện và nghiên cứu chiết tách các chất nhuộm màu thực phẩm từ nguyên liệu tự nhiên, nhưng chủ yếu từ thực vật Đây là hướng nghiên cứu được đặc biệt quan tâm, bởi chất màu thu được thường có tính an toàn cao, giá thành hạ Theo hướng nghiên cứu này nhiều chất màu đã được sản xuất và đưa vào ứng dụng (Chất nhuộm màu tím thu từ vỏ quả Nho, chất nhuộm màu đỏ thu từ hoa của cây Điều nhuộm, chất indigotine nhuộm màu xanh thu từ lá cây Chàm )

- Nghiên cứu bán tổng hợp chất nhuộm màu từ các hợp chất thu nhận từ thực vật Đây là hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng, có thể sản xuất nhiều chất màu khác nhau Tuy nhiên giá thành sản phẩm cao và đòi hỏi công nghệ phức tạp Mặc dù vậy, hiện nay nhiều chất màu đang sử dụng được sản xuất theo hướng này (Beta Carotenal, Beta - apro - carotenal ) Các chất nhuộm màu thực phẩm bán tổng hợp thường thuộc họ Carotene, hoặc nhóm monoazo

- Nghiên cứu sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm bằng công nghệ sinh học: đây là hướng nghiên cứu đang được triển khai ở một số nước có trình độ

kỹ thuật cao Theo hướng nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm thu nhận chất nhuộm màu từ nuôi cấy mô một số loài thực vật (Aralia armata ), hoặc sử dụng một số hệ men, một số loài vi khuẩn để chuyển hoá hợp chất hữu cơ thành chất màu Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cho tới nay chưa đạt được kết quả thực tế

Trang 21

- Tổng hợp các chất vô cơ không có độc tính để nhuộm màu cho thực phẩm Đây là hướng nghiên cứu được tiến hành từ lâu Mặc dù vậy, các chất

vô cơ có thể sử dụng cho thực phẩm còn rất hạn chế Hiện nay các chất vô cơ được phép dùng cho thực phẩm mới chỉ có một số oxít sắt: FeO(OH)xH2O (màu đỏ), FeO.Fe2O3 (màu đen), FeO(OH).xH2O (màu vàng),… Xu hướng hiện nay của thế giới là hạn chế dùng các chất nhuộm màu có nguồn gốc vô

cơ trong công nghiệp thực phẩm

Do những tiêu chuẩn chặt chẽ về mức độ an toàn, cho tới nay thế giới mới chỉ thừa nhận 73 hợp chất (hoặc dịch chiết, phức chất) là chất nhuộm màu cho thực phẩm Trong số này một số hợp chất chỉ được phép sử dụng trong một số quốc gia nhất định

Hiện nay có một số loại cây cho chất nhuộm màu thực phẩm được trồng và khai thác với số lượng lớn ở một số nước Một vài sản phẩm trong số

đó như "Cutch", là nước chiết sấy khô của cây Acacia catechu Lượng sản xuất hàng năm trên thế giới của Cutch khoảng 6.000 - 9.000 tấn/năm trong đó lượng được xuất - nhập khẩu giữa các nước khoảng 1.500 tấn/ năm Nước sản xuất chính là Ấn Độ (các nước cũng sản xuất nhưng với số lượng ít hơn là Pakistan, Bangladesh, Myanmar và Thái lan), nước nhập khẩu chính là Pakistan Trước đây, vào những năm giữa của thập kỷ 70, hàng năm các nhà máy công nghiệp của Ấn Độ đã sử dụng tới 63.000 tấn gỗ nguyên liệu Trong thời gian từ 1988 - 1993, Ấn Độ đã xuất sang Pakistan 1.000 - 1.300 tấn/ năm

Ngoài Cutch ra, còn có một sản phẩm tự nhiên khác cũng được sản xuất

và sử dụng với số lượng lớn, đó là Annatto (được lấy từ cây Điều nhuộm - Bixa orellana) Lượng sản phẩm trên thế giới hàng năm khoảng 10.000 tấn, lượng sản phẩm tham gia mậu dịch khoảng 7.000 tấn Nước xuất khẩu chính

Trang 22

các sản phẩm Annatto là Peru và Kenya, các nước nhập khẩu chính là Mỹ, Nhật và một số nước Đông Âu

Một số cây khác được trồng để làm nguyên liệu sản xuất các chất màu thực phẩm là: Indigofera tinctoria, Tagetes erecta, Lawsonia inermis, Curcuma longa, Crocus sativus, Gardenia jasminoides, Medicago sativa Riêng ở vùng Andhra Pradesh của Ấn Độ các cây sau được trồng với số lượng tương đối nhiều: Bixa orellana (1.200 ha), Indigofera tinctoria (800 ha), Tagetes erecta (120 ha) và Lawsonia inermis (20 ha)

Bên cạnh việc sử dụng các chất màu thu được bằng các cách truyền thống thì ngày nay người ta còn áp dụng các kỹ thuật hiện đại để tăng nhanh quá trình tổng hợp tự nhiên Trên thế giới trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu mới đã áp dụng công nghệ sinh học trong việc nâng cao sản lượng tổng hợp các chất màu tự nhiên Các phương pháp mới chủ yếu dựa vào việc nuôi cấy tế bào các loài thực vật, vi sinh vật đã xác định là có các thành phần sắc tố được dùng trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm

Năm 1995, Ajinomoto [13] đã cho ra một phương pháp điều chế màu

đỏ tự nhiên bằng cách nuôi cây mô sần của các cây thuộc chi Aralia (loài cho kết quả tốt nhất là Aralia cordata) Chất màu này được tổng hợp trong bóng tối, chất màu được tiết ra môi trường nuôi cấy

Năm 1995, Kondo T đưa ra phương pháp sản xuất anthraquinone từ một số cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae) Tế bào được nuôi trong môi trường

có nguồn Cacbon (C), muối vô cơ và muối Canxi (Canxi chloride hoặc Canxi nitrate) với nồng độ 5 - 90 mM/l Lá Rubia akane được cắt thành những mảnh nhỏ và đưa vào một môi trường nuôi cấy có pH 5,8, các muối vô cơ (3mM/l CaCL2), vitamin, 2,4 - D, kinetin, đường mía và thạch Sản lượng lớn anthraquinone được sản xuất ra ở các nồng độ CaCL2 từ 5 - 90 mM/l

Trang 23

Narisu - Keshohin, 1991 đưa ra phương pháp sản xuất chất màu bằng cách nuôi cấy mô của lá cây Oải hương (Lavandula angustifolia) Nuôi tế bào trong điều kiện có ánh sáng thì cho hiệu suất cao hơn Với phương pháp này sản phẩm được tạo ra ở dạng vảy lớn với hiệu suất cao

Phương pháp sản xuất màu đỏ hoa rum bằng nuôi trồng mô sần Hồng hoa (Carthamus tinctorius), Mitsui - Eng Shipbldg được đề xuất vào năm

1990 Màu đỏ hoa rum được điều chế bằng cách nuôi mô sần hoa rum trong môi trường kiềm, chất màu được tiết vào môi trường nuôi cấy Chất màu này

là màu tự nhiên, có màu sắc đẹp và ổn định

Các nghiên cứu về chất màu thực phẩm tự nhiên không chỉ được tiến hành đối với các loài thực vật mà còn được nghiên cứu đối với các tế bào vi sinh vật Một số chi được quan tâm nhiều là Aspergillus, Pseudomonas

Năm 1997, Kasenkov O I [15] Đưa ra một phương pháp điều chế chất nhuộm thực phẩm màu đỏ từ các nguyên liệu thực vật Theo phương pháp này các nguyên liệu thực vật phải được nghiền nát và tẩy trùng, sau đó ngâm trong môi trường lên men bởi Aspergillus, cuối cùng chúng được chọn lọc và cô đặc Nguyên liệu thực vật là thành phần môi trường để nuôi cấy các loài thuộc chi Trichoderma (tốt nhất là Trichoderma koningi và Trichoderma longibrachiatum) Sử dụng phương pháp này, môi trường được đơn giản hoá và hiệu suất chất màu được tăng lên đáng kể Cùng sử dụng Pseudomonas để sản xuất ra các sản phẩm màu, House - Food (1991) đã chỉ ra một số dòng có thể cho ra sản phẩm với hiệu suất cao Các dòng đó là FERM BP - 2933, FERM BP - 2932 Trong dung dịch nuôi cấy Linsmaier - Skoog nếu có thêm một loại thực vật nhất định và muối sắt thì chúng có thể cho tới trên 400 ug sản phẩm/ml Chất màu ferropyrimine có thể thu trực tiếp từ môi trường nuôi cấy Loài thực vật được chọn có thể thuộc các họ như: Liliaceae, Cruciferae, Polygonaceae, Leguminosae, Solanaceae và Gesneriaceae Sử dụng các

Trang 24

chất màu thực phẩm do có quan hệ trực tiếp đến sức khoẻ và tính mạng con người

Vì vậy ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật về sử dụng chất màu trong thực phẩm Trong các Bộ luật về chất màu thực phẩm, các chất màu có nguồn gốc là sắc tố thực vật (chất mầu tự nhiên) được quy định ưu tiên Ví dụ, Điều 26 trong Luật sử dụng chất màu của Ấn Độ

Điều 26: Các chất màu tự nhiên được sử dụng Trừ những trường hợp được quy định cụ thể trong bộ luật này, các yếu tố màu tự nhiên cơ bản sau đây được sử dụng trong các loại thực phẩm

1 Beta-carotene

2 Beta-apo-8-carotenal

3 Axit Methylester of Beta-apo-8’ carotenoic

4 Axit Ethylester of Beta-apo-8’ carotenoic

11 Curcumin (or turmeric)

Danh mục các chất nhuộm màu thực phẩm trên thế giới được quy đinh chặt chẽ về mã số và giới hạn sử dụng Theo quy định của Liên minh Châu

Âu (EU), các chất màu thực phẩm (CMTP) có mã số từ E100 đến E172 Đây

là quy chế được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, Australia và một vài nước thuộc khu vực Thái Bình Dương sử dụng hệ thống mã số với chữ đầu là A, nhưng ít được sử dụng

Trang 25

Luật sử dụng chất màu thực phẩm ở châu Âu cũng quy định rõ các sản phẩm màu được sử dụng trong chế biến thực phẩm Tuy vậy, mỗi quốc gia có thể có quy định riêng cho từng chất cụ thể Vì thế, có một số chất màu ở đây không được sử dụng trên tất cả các nước trong cộng đồng châu Âu (E 128 red 2F, E129 allura red, E133 brilliant blue FCF, E154 brown FK, E155 brown

HT) Theo báo chuyên san Proceedings of the National Academy of Sciences,

Giới khoa học đã khám phá được cách tự nhiên tạo ra màu sắc chẳng bao giờ

bị phai mờ, từ đó rút ra kỹ thuật mới dùng trong màu thực phẩm và ứng dụng nhằm tránh tiền giả từ một loại quả đặc thù ở châu Phi có màu đậm đặc và óng ánh hơn bất cứ loại vật chất sinh học nào từng được biết trước đó Cấu tạo màu ấn tượng như vậy là do cấu trúc đặc biệt bên trong mỗi tế bào của cây chứ không chỉ dựa trên sắc tố bình thường, gọi là màu cấu trúc Các nhà nghiên cứu của Đại học Cambridge (Anh) phát hiện các tế bào trong quả Pollia condensata có thành phần làm từ sợi cellulose phản xạ ánh sáng Những khoảng cách khác nhau giữa các sợi trong mỗi tế bào phản xạ những bước sóng khác nhau của ánh sáng, tạo nên màu sắc xanh biếc Màu cấu trúc từng được phát hiện ở động vật, như lông công, vỏ bọ hung và cánh bướm, nhưng chúng sử dụng những cấu trúc và vật liệu khác nhau để đạt được hiệu ứng riêng biệt Và quả Pollia condensata là trường hợp đầu tiên được phát hiện ở thực vật

Không giống như sắc tố, màu cấu trúc chẳng phai mờ theo thời gian, do cấu trúc không thể bị phá hủy dù hấp thu ánh sáng Phạm vi ứng dụng của màu cấu trúc rất rộng, từ in tiền, nhuộm màu thực phẩm, mỹ phẩm đến ứng dụng trong nhãn dán an ninh Kỹ thuật nhuộm màu của tự nhiên bằng chiết xuất từ thực vật có thể thay thế những phẩm màu dùng trong công nghiệp

Trang 26

Tóm lại, hiện nay nghiên cứu chất màu thực phẩm trên thế giới được quan tâm rất lớn ở nhiều quốc gia với nhiều hướng nghiên cứu mới Trong các hướng nghiên cứu đó, tìm kiếm và chiết tách chất màu từ thực vật vẫn được ưu tiên hàng đầu trong các nghiên cứu

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cây có chất màu ở Việt Nam

Kinh nghiệm sử dụng tài nguyên thực vật của nhân dân ta rất phong phú và đa dạng dưới nhiều hình thức vào các mục đích khác nhau như: làm lương thực, thực phẩm, xây dựng, chăm sóc sức khoẻ, thẩm mỹ, làm cảnh Đặc biệt phải kể đến mục đích nhuộm màu thực phẩm, các cây dùng để nhuộm màu gồm tất cả các loài thực vật có thể dùng trực tiếp hoặc được chế biến thành các sản phẩm dùng để nhuộm màu cho các loại thực phẩm

Từ lâu, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách các chất nhuộm màu thực phẩm từ thực vật Tuy nhiên hiện vẫn còn phải sử dụng nhiều chất màu được tổng hợp bằng con đường hoá học Khi chất màu nhuộm công nghiệp được đem vào sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt của nhân dân thì người ta đã phát hiện ra các nhược điểm của sản phẩm chất màu công nghiệp vì chúng có thể gây nên các tác dụng phụ (chúng có thể là tác nhân gây ung thư, rối loạn thần kinh, tiêu hoá hoặc ngộ độc gây tử vong )

Hiện nay các chất nhuộm màu cho thực phẩm ở Việt Nam do đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Do yêu cầu về ATVSTP bộ Y tế nước ta cho phép nhập và sử dụng chất màu thực phẩm có số lượng hạn chế Danh mục các chất màu thực phẩm được phép sử dụng tại Việt Nam được trình bày trong bảng 2.2

Trang 27

Bảng 2.2: Danh mục các chất màu thực phẩm đƣợc phép sử dụng tại Việt Nam

9 Carotenes (Natural extract) Da cam,họ Caroten Tự nhiên

10 Annotto Extract Đỏ,chiết xuất từ Điều

and Potassium salts

Xanh,nhóm Prophirin Tự nhiên

Trang 28

19 Ponceau 4R Đen,nhóm Biao Tổng hợp

acid,Methyl or Ethyl Ester

Trang 29

Như vậy, trong tổng số 35 chất được phép sử dụng cho thực phẩm ở Việt Nam mới chỉ có 10 chất được chiết suất từ tự nhiên (nguyên thủy hoặc phức chất) và hoàn toàn nhập từ nước ngoài

Vì vậy trong những năm gần đây con người càng thấy được tính ưu việt của các sản phẩm tự nhiên và đã quan tâm nghiên cứu các chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật để sử dụng chúng nhất là trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm

Chất nhuộm màu có nguồn gốc thực vật thuộc nhiều nhóm cấu trúc hoá học khác nhau, một số có thể nhìn thấy bằng trực giác, một số khác chỉ biểu hiện màu qua quá trình xử lý (thuỷ phân ) Do vậy, nghiên cứu các loài cây cho màu nhuộm trong hệ thực vật Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu có hệ thống

cả hiện tại và lâu dài

Ở nước ta trong những năm trước đây, do khó khăn về điều kiện và phương tiện nên vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều Một số công trình còn sơ sài với quy mô hẹp, hầu hết các số liệu, thông tin về cây nhuộm màu thực phẩm đều trích dẫn từ tài liệu nước ngoài, nên ít có khả năng ứng dụng

Về điều tra cơ bản mang tính liệt kê các loài thực vật cho màu nhuộm mới chỉ có 2 công trình được tiến hành Lưu Đàm Cư, Trần Minh Hợi (1995) [2] đã

sơ lược đánh giá các cây nhuộm màu nói chung thường gặp ở nước ta, và ghi nhận ở Việt Nam có trên 200 loài cây cho chất nhuộm màu thuộc 57 chi, thuộc

28 họ Gần đây, Lưu Đàm Cư và cộng sự (2003) [3] đã điều tra phát hiện 114 loài cây được hoặc có thể sử dụng để nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam Với

hệ thực vật ở Việt Nam đa dạng và phong phú (ước tính có khoảng 11.000 đến 12.000 loài) Trong đó có 18 loài cho màu nhuộm xanh, 57 loài cho màu nhuộm

đỏ, 6 loài cho màu nhuộm tím, 28 loại cho màu nhuộm vàng và 2 loại cho màu nhuộm đen

Trang 30

Người dân Việt Nam ở một số vùng đã có kinh nghiệm lâu đời trong việc

sự dụng các loại cây nhuộm màu thực phẩm với các nhóm màu như: Mùa xanh

lá cây (gồm lá dứa, lá bồ ngót, lá tre, mây, lá khúc, ); màu nâu (cà phê, ca cao, ); màu vàng, cam, đỏ (hạt điều, gấc, củ dền, củ nghệ, quả dành dành); màu tím (lá cẩm, củ mỡ tím); màu đen (lá gai) (Trần Minh Tâm, 2010) Đặc biệt, có

48 loài thuộc 27 họ được bà con dân tộc miền núi phía Bắc thường dùng để nhuộm màu quần áo, thực phẩm bằng những kinh nghiệm độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc như cây mật mông cho màu vàng; cây chàm mèo cho màu xanh lam; cây cẩm cho màu tím, màu đỏ; lá dứa và rau khúc cho màu xanh lá cây; củ nâu cho màu nâu; mơ leo cho màu xanh rêu… Theo tác giả Trần Minh Tâm (2010), đến nay các nhà chế biến mới chỉ sử dụng chủ yếu các chất màu tổng hợp mà ít quan tâm, tận dụng các chất màu sẵn có trong tự nhiên Một số nghiên cứu đã được triển khai về chiết tách màu trên một số cây như cây Cẩm

(Nguyễn Phương Thảo và cs., 2009), cây dứa thơm (Pandanus amaryllia

Roxb) (Đào Hùng Cường & Nguyễn Thị Thanh Tú, 2010) và cây điều nhuộm

(Bixa orellana L.) (Đào Hùng Cường & Phạm Thảo Thơ, 2009),

Tuy nhiên, so với số lượng 112 loài đã được xác định, phân bố rải rác ở các vùng trong cả nước, những nghiên cứu này chưa khai thác hết được tiềm năng sẵn

có trong tự nhiên ở Việt Nam Đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc, hiện nay đa

số các loài cây này chỉ được trồng theo kinh nghiệm ở cấp hộ gia đình hoặc mọc trong tự nhiên Sơ bộ đánh giá của các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Việt Nam cho biết, có 15 loài dễ chế biến và cho màu sắc đẹp, có

độ an toàn cao Đây là tiềm năng lớn cho công nghiệp sản xuất màu nhuộm thực phẩm ở nước ta (Nguyễn Trọng Quang, 2010) Chắc chắn đây sẽ là nguồn nguyên liệu cho chất nhuộm màu đa dạng và phong phú về chủng loài, vì đây mới chỉ là bước nghiên cứu khởi đầu

Trang 31

Về nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ chiết tách chất màu từ thực vật, đáng lưu ý là công trình “Xây dựng quy trình công nghệ chiết tách và tổng hợp chất màu thực phẩm” (Nguyễn Thị Thuận, 1995) [11], “Xây dựng quy trình công nghệ chiết tách cumarin từ củ nghệ” (Phạm Ðình Tỵ, 2001) [12], “Khả năng chiết tách chất màu thực phẩm từ cây Mật mông” (Nguyễn Thị Phương Thảo, Lưu Đàm Cư, 2003) Ngoài ra, đã có một số công bố về thành phần hóa học của dịch chiết từ cây

Lá diễn và hạt Dành dành (Giang Thị Sơn và cs, 2001)

Kết quả điều tra thu thập cây nhuộm màu thực phẩm tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc là Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Sơn La, Tuyên Quang cho thấy trong số các loài cây nhuộm mầu thực phẩm có đủ 5 nhóm mầu cơ bản và phụ gia chính sau: Nhóm cây cho mầu đỏ 5 loài chiếm 16,13%, mầu vàng 6 loài chiếm 19,35%, mầu xanh 9 loài chiếm 29,03%, mầu đen 8 loài chiếm 25,81%, mầu tím có 2 loài chiếm 6,45% và chất phụ gia (tăng khả năng liên kết của các chất màu) 1 loài chiếm 3,23% (Luan Thi Dep, La Quang Do, Hoang Bich Thao, Nguyen Viet Hung, Vu Thị Hai Anh, Luong Hung Tien, Bui Van Thanh, Nguyen Huu Hai, 2013) [16]

Các loài cây sử dụng trong nhuộm màu phân bố không đông đều trên các khu vực, có một số loài gặp nhiều ở các tỉnh, được dùng phổ biến là những loài được nhắc đến trên 50% số lần phỏng vấn Đây là những loài cây chính, thường được người dân sử dụng nhiều trong thành phần cây nhuộm mầu thực phẩm gồm

15 loài: Riềng (Alpinia officinarum), Gai (Boehmeria nivea), Mật mông hoa (Buddleia officinalis), Tô mộc (vang) (Caesalpinia sappan), Trám đen (Canarium tramdeum), Nghệ đen (Curcuma aeruginosa), Nghệ vàng (Curcuma

longa), Hồng có hạt (Dyospyros roxburghii), Dành dành (Gardenia augusta),

Sau sau (Liquidambar formosana), Gấc (Momordica cochinchinensis), Rơm nếp

hương (Oryza sativa), Dứa thơm (Pandanus amaryllifolius Roxb.), Cẩm đỏ, cẩm

Trang 32

tím, (Peristrophe bivalvis), Gừng (Zingiber officinale)(Luan Thi Dep, La Quang

Do, Hoang Bich Thao, Nguyen Viet Hung, Vu Thị Hai Anh, Luong Hung Tien, Bui Van Thanh, Nguyen Huu Hai, 2013) [16]

Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của các loại hom trong nhân giống cây cẩm nhuộm đỏ và nhuộm tím cho thấy có thể sử dụng các loại hom khác nhau (đoạn gốc, ngọn hoặc cành) để nhân giống đều cho tỷ lệ sống cao (77,3 - 97,3%), năng suất thân lá không có sự chênh lệch giữa các loại hom (Cẩm đỏ: 8,18 - 10,15 tấn/ha, cẩm tím: 6,27 - 6,93 tấn/ha) Trong đó cây cẩm nhuộm màu đỏ sinh trưởng mạnh hơn cây cẩm nhuộm màu tím (Luân Thị Đẹp và cộng sự, 2013) [5]

Khi nghiên cứu về thời vụ trồng cây cẩm ở Bắc Cạn Kết quả cho thấy trồng thời vụ tháng 3, cây Cẩm nhuộm có khả năng sinh trưởng tốt, chiều cao cây, số lá, cành cấp 1 và cành cấp 2 nhiều hơn và đạt năng suất cao hơn khi trồng từ tháng 4 - tháng 10 (Hà Huy Hoàng và cs, 2014) [6]

Các công trình nói trên đã thu được những kết quả rất khả quan, chứng minh một cách khoa học về khả năng thực tế có thể sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm từ nguyên liệu thực vật của nước ta Tuy nhiên các công trình chỉ mới nghiên cứu ở một số đối tượng cụ thể, thường gắn với các nghiên cứu làm thuốc chữa bệnh, do vậy chưa thấy hết tiềm năng của các chất nhuộm màu thực phẩm trong cả hệ thực vật Hơn nữa do tính chất đề tài các công trình tập trung nghiên cứu mộ số chất nhuộm màu đặc biệt (curcumin từ cây nghệ chủ yếu cung cấp cho ngành Y - Dược) nên giá thành rất cao, chưa thể đưa ra phục vụ đời sống hàng ngày của người dân

Có thể nói rằng các nghiên cứu về cây nhuộm màu thực phẩm hiện nay chỉ tập trung vào việc sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm, chưa chú ý đến nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác, bảo tồn và phát triển Do vậy, năng

Ngày đăng: 08/11/2016, 09:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Danh mục các chất màu thực phẩm đƣợc phép sử dụng tại Việt Nam - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 2.2 Danh mục các chất màu thực phẩm đƣợc phép sử dụng tại Việt Nam (Trang 27)
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao (Trang 39)
Hình 4.1: Đồ thị biễu diễn động thái tăng trưởng chiều cao của cây Cẩm - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Hình 4.1 Đồ thị biễu diễn động thái tăng trưởng chiều cao của cây Cẩm (Trang 40)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của cây Cẩm tím - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của cây Cẩm tím (Trang 41)
Hình 4.2: Đồ thị biễu diễn động thái ra lá của cây Cẩm tím - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Hình 4.2 Đồ thị biễu diễn động thái ra lá của cây Cẩm tím (Trang 42)
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện sự ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện sự ảnh hưởng của phân bón đến một số đặc điểm (Trang 44)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 45)
Bảng 4.6: Khả năng tái sinh của cây Cẩm tím sau thu hoạch - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 4.6 Khả năng tái sinh của cây Cẩm tím sau thu hoạch (Trang 47)
Bảng 4.5: Hiệu quả kinh tế - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng và năng suất của cây cẩm nhuộm màu tím tại thái nguyên
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w