1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại việt nam

174 466 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 4 – Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận áp dụng chủ yếu cho việc nghiên cứu luận án là phân tích, giải thích, so sánh, tổng hợp các quy định pháp lý có liên quan đến các hình thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

………

PHAN QUỐC NGUYÊN

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM

Luận án Tiến sĩ Luật học

Hà Nội – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

………

PHAN QUỐC NGUYÊN

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM

Luận án Tiến sĩ Luật học

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 62 38 50 01

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Nguyễn Thị Quế Anh

2 PGS TS Lê Thị Thu Thủy

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Phan Quốc Nguyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của các giáo sư, các nhà khoa học và các cán bộ làm việc tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Những người tôi muốn đặc biệt cảm ơn là hai người thầy, hai nhà khoa học đầy tâm huyết, PGS TS Nguyễn Thị Quế Anh và PGS TS Lê Thị Thu Thủy đã hướng dẫn tôi rất tận tình trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này Các Cô không những góp ý sâu sắc, chỉ dẫn tận tình cho tôi mà còn cổ vũ, khích lệ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án

Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình tôi những tình cảm biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

Trang 5

1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC……… 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……….4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU……… 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN……….12

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài……… 12

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về sáng chế…………13

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế……….16

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế……… ……… 21

1.2 Những vấn đề kế thừa, nghiên cứu sâu hơn, nghiên cứu mới trong luận án và các câu hỏi nghiên cứu ……… 31

1.2.1 Những vấn đề Luận án cần kế thừa……… 33

1.2.2 Những vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn và nghiên cứu mới trong Luận án…33 1.2.3 Các câu hỏi nghiên cứu……… 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1………36

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ……….37

2.1 Khát quát về sáng chế ……… 37

2.1.1 Khái niệm sáng chế……….37

2.1.2 Tầm quan trọng của sáng chế và khai thác thương mại đối với sáng chế……40

2.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế……… 44

Trang 6

2

2.2.1 Xác định chủ sở hữu sáng chế……… ……… 45

2.2.2 Quyền của chủ sở hữu sáng chế……… ……… 45

2.2.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế ………50

2.2.4 Giới hạn quyền của chủ sở hữu sáng chế……….……….51

2.3 Các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế……… 54

2.4 Khung pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam……… 58

2.4.1 Pháp luật Việt Nam có liên quan………58

2.4.2 Các điều ước quốc tế có liên quan……… 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2………67

CHƯƠNG 3 - THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM ……… 69

3.1 Thực trạng pháp luật về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế………71

3.1.1 Quy định hiện hành về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế………71

3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định hiện hành về hình thức chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại đối với sáng chế………79

3.2 Thực trạng pháp luật về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế……… 84

3.2.1 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế……….85

3.2.2 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sử dụng sáng chế……… 91

3.2.3 Thực tiễn áp dụng quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế………104

Trang 7

3

3.3 Thực trạng pháp luật về khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp

vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế………… 107

3.3.1 Quy định hiện hành về khai thác thương mại dưới hình thức thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế………107

3.3.2 Thực trạng thế chấp, góp vốn để kinh doanh bằng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế tại Việt Nam……….121

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… 124

CHƯƠNG 4 – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ TẠI VIỆT NAM… ……….127

4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam… ………127

4.2 Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam……… 131

4.2.1 Giải pháp tổng thể……… 131

4.2.2 Các giải pháp cụ thể……… 135

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4……… 147

KẾT LUẬN……….149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 153

Trang 8

4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CGCN Chuyển giao công nghệ

CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

GDBĐ Giao dịch bảo đảm

KHCN Khoa học và công nghệ

KT-XH Kinh tế-xã hội

NCKH Nghiên cứu khoa học

NCPT Nghiên cứu và phát triển

TPP Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương

TRIPS Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của

quyền SHTT TSTT Tài sản trí tuệ

TSVH Tài sản vô hình

UNCITRAL Uỷ ban Luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc

WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Số lượng VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp cho người Việt

Nam và người nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014……… 80 Bảng 2: Số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế

đăng ký tại Cục SHTT giai đoạn 2003-2014……… 106

Trang 10

6

MỞ ĐẦU

1 - Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam đã coi sáng chế là một trong những đối tượng quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) Sáng chế là một dạng tài sản trí tuệ (TSTT) đặc biệt, thuộc loại tài sản vô hình (TSVH) và đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới và phát triển Bằng sáng chế không những tạo động lực cho nghiên cứu khoa học (NCKH) và đổi mới sáng tạo mà còn góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư và thúc đẩy chuyển giao công nghệ (CGCN) Sử dụng và khai thác thương mại hợp lý loại tài sản này sẽ làm gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHTT theo các chuẩn mực của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành sự quan tâm lớn việc khai thác thương mại đối với sáng chế

Cụ thể, pháp luật về SHTT, CGCN, thương mại, đầu tư, doanh nghiệp và giao dịch bảo đảm (GDBĐ) đã có những quy định tích cực như: khuyến khích chủ sở hữu khai thác thương mại đối với sáng chế; khuyến khích chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế từ trường đại học, viện nghiên cứu cho doanh nghiệp; khuyến khích các tổ chức, cá nhân thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KHCN); tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đổi mới công nghệ, v.v

Tuy nhiên, vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế còn tương đối mới trong thực tiễn khai thác thương mại các loại TSTT của Việt Nam Hơn nữa, theo truyền thống và thực tiễn đời sống pháp lý Việt Nam, quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng hiện nay chủ yếu được đề cập dưới góc độ dân sự Sáng chế mới chỉ được đề cập trong các văn bản pháp luật của Việt Nam chủ yếu nghiêng về hướng bảo

Trang 11

7

hộ quyền SHCN đối với sáng chế, tức là mới chỉ đề cập đến sáng chế ở trạng thái

“tĩnh” hơn là các quy định về khai thác, thương mại hóa (TMH) sáng chế - đề cập đến sáng chế ở trạng thái “động” Do vậy, pháp luật của nước ta vẫn còn khá nhiều hạn chế

và bất cập trong việc cụ thể hóa các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy hoạt động này

Xác định được tầm quan trọng của việc khai thác TSTT, đặc biệt là sáng chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, coi đó là điều kiện sống còn đối với sự phát triển của nước nhà trong thời gian tới, Việt Nam đang nhanh chóng tiến hành hoàn tất các thủ tục, sửa đổi hệ thống pháp lý có liên quan, đặc biệt là pháp luật về SHTT để sớm đưa Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực và tiếp tục thực hiện các cam kết đã ký đồng thời đảm bảo phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) Cụ thể, chúng ta cần tiến hành sửa đổi Luật SHTT, Luật CGCN và các văn bản pháp quy có liên quan theo hướng tăng cường bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế hơn nữa nhằm đáp ứng các cam kết của Việt Nam khi gia nhập TPP đồng thời cần đưa ra các quy định pháp lý phù hợp để tăng khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học và công nghệ (KHCN) của người dân nhằm đảm bảo sự phát triển KT-XH của nước nhà

Nhằm đáp ứng các mục tiêu trên, chúng ta cần hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, qua đó khuyến khích việc khai thác thương mại đối với sáng chế Do vậy, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia khác cũng là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm

hoàn thiện pháp luật Việt Nam Đề tài luận án tiến sĩ “Pháp luật về các hình thức khai

thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam” được thực hiện nhằm đáp ứng các

yêu cầu trên

2 - Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Luận án sẽ nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện của chủ sở hữu sáng chế tại Việt Nam Trên thực tế, các hình thức khai

Trang 12

8

thác thương mại mang tính tự nguyện của chủ sở hữu sáng chế bao gồm nhiều hình thức khác nhau như chủ sở hữu tự mình khai thác thương mại sáng chế, chủ sở hữu chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế bao gồm chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế và li-xăng sáng chế, chủ sở hữu thế chấp, góp vốn để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHCN đối với sáng chế

Do vậy, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích và so sánh lần lượt pháp luật

về các hình thức khai thác thương mại tự nguyện nói trên nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm rõ về mặt cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn pháp luật của Việt Nam về các hình thức khai thác thương mại mang tính tự nguyện đối với sáng chế Từ đó đề xuất các phương hướng, tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận, kiến nghị những giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế trong phạm vi những vấn đề nghiên cứu đã được xác định

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra và giải quyết cụ thể là:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Thứ hai, nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế (trong đó có pháp luật quốc tế và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới)

Thứ ba, nghiên cứu thực trạng các quy định hiện hành về khai thác thương mại đối với sáng chế theo pháp luật của Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Trang 13

9

4 – Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận áp dụng chủ yếu cho việc nghiên cứu luận án là phân tích, giải thích, so sánh, tổng hợp các quy định pháp lý có liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng như các giới hạn quyền khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam, của pháp luật quốc tế, của một số nước trên thế giới để chỉ rõ những điểm giống nhau, khác nhau và những điểm cần khắc phục trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Phương pháp so sánh còn được sử dụng để so sánh các điều kiện ra đời của các quy định trong nước và quốc tế này Từ đó có thể rút ra giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng

Để thực hiện tốt các phương pháp trên, tác giả sẽ sử dụng các tài liệu pháp luật, văn bản pháp quy, bài báo khoa học, công trình nghiên cứu chuyên khảo, tài liệu chuyên môn từ quá trình tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học cũng như các số liệu thống kê của các cơ quan chức năng trong và ngoài nước có liên quan

Phương pháp phân tích, tổng hợp, giải thích pháp luật chủ yếu được sử dụng để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề mang tính lý luận về sáng chế, các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế, pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Hơn nữa, phương pháp thống kê, dự báo cũng sẽ được sử dụng trong luận án khi

xử lý các số liệu từ các báo cáo tổng hợp về hoạt động khai thác sáng chế trong và ngoài nước để cho thấy vai trò của khai thác thương mại đối với sáng chế, đưa ra thực trạng pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Ngoài ra, tác giả sẽ sử dụng phương pháp phân tích pháp lý để phân tích các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế cũng như để phân tích các tài liệu chuyên khảo, các bài viết trong các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước

5 - Những đóng góp mới của luận án

Tình hình nghiên cứu về khai thác thương mại đối với sáng chế nói chung và các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nói riêng tại Việt Nam còn rất khiêm

Trang 14

10

tốn Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào của Việt Nam hoặc trên thế giới nghiên cứu về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam Do

vậy, luận án tiến sĩ “Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng

chế tại Việt Nam” là một đề tài hoàn toàn mới

Luận án cũng là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ, toàn diện, có hệ thống các quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trong các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng như của pháp luật quốc tế

Dù đã có một vài nghiên cứu đề cập một cách rải rác về khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nhưng luận án đã có những phát hiện, phương pháp nghiên cứu, cách sắp xếp mới mở ra hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với các đối tượng quyền SHTT khác

Một điểm mới của Luận án là phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án không chỉ được áp dụng để so sánh các quy định pháp luật hiện hành về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với pháp luật quốc tế cũng như quy định của một số quốc gia khác có liên quan mà còn được áp dụng để so sánh điều kiện ra đời của các quy định trong nước và quốc tế này

Nội dung nghiên cứu của luận án còn có một số đóng góp mới trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với

sáng chế của Việt Nam, cụ thể như:

Thứ nhất, nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam từ đó chỉ ra những nguyên nhân hạn chế trong lĩnh vực này ở Việt Nam

Thứ hai, so sánh, đối chiếu các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với các quy định pháp lý có liên quan trong một số công ước quốc tế quan trọng, trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam trong thời gian tới

Trang 15

11

Thứ ba, nêu ra những kiến nghị, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhằm thúc đẩy việc khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

6 – Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận án có ý nghĩa quan trọng, góp phần nhất định vào việc bổ sung, phát triển cơ sở lý luận, hoàn thiện các quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam nói chung nhằm đáp ứng các yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Những kết quả nghiên cứu và phân tích của luận án có thể được dùng để tham khảo, bổ sung, sửa đổi cho các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo hộ sáng chế cũng như những quy định pháp lý về giới hạn quyền đối với sáng chế tại Việt Nam

Luận án này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực SHTT, CGCN trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về SHTT và CGCN trong thời gian tới

7 – Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận

án, tài liệu tham khảo, Luận án được cấu trúc bao gồm 4 chương như sau:

- Chương 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Chương 2 – Cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

- Chương 3 – Thực trạng pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

- Chương 4 - Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Trang 16

12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, khái niệm SHTT nói chung và sáng chế nói riêng không phải là những khái niệm còn quá mới mẻ ở Việt Nam Nhận thức chung của các giới về vai trò của SHTT và sáng chế đã ngày càng được cải thiện, số lượng đơn đăng ký xác lập quyền đã tăng hơn so với trước Tuy nhiên, mức độ nhận thức này vẫn chưa cao Đã có một số công trình chuyên khảo, bài báo khoa học tại Việt Nam đề cập về sáng chế dưới nhiều góc độ khác nhau như pháp luật, kinh tế, kỹ thuật nhưng chủ yếu các tài liệu này mới chỉ đề cập đến các khái niệm cơ bản về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế Khái niệm khai thác thương mại đối với sáng chế và hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã được nhắc đến ở một vài tài liệu nhưng hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và hệ thống về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý

Hơn nữa, trên thế giới, khái niệm và pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế đã được đề cập trong khá nhiều công trình, tài liệu nhưng chủ yếu các tài liệu này chỉ đề cập cụ thể đến pháp luật riêng rẽ của một số quốc gia hoặc những quy định pháp lý của một số điều ước quốc tế có liên quan mà chưa hề có một tài liệu nào đề cập toàn diện, sâu sắc đến pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam Do vậy, luận án một mặt sẽ kế thừa các nghiên cứu

đã có đồng thời sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu và rộng hơn pháp luật

về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế theo hướng tập trung vào giải quyết các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn

Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án hiện đang tập trung vào ba nhóm chính:

- Nhóm công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về sáng chế

- Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế

Trang 17

13

- Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu mang tính lý luận chung về sáng chế

Sáng chế là một đối tượng quan trọng của quyền SHTT Do vậy, trong hầu hết các tài liệu nói chung về SHTT ở trong và ngoài nước, đối tượng sáng chế đều được nhắc đến Tuy nhiên, do tầm quan trọng đặc biệt của sáng chế, có một số công trình, tài liệu trên thế giới đã đề cập riêng đến sáng chế

Qua tìm hiểu một số công trình, tài liệu theo các kênh hiện có, việc nghiên cứu

lý luận chung về sáng chế dưới góc độ pháp lý luôn được các tác giả, các nhà khoa học

quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý nhất là các công trình: “Patents and

Development” (Sáng chế và Phát triển) của TS Patricia Kameri-Mbote (1994)1;

“Brevets et sous-développement-La protection des inventions dans le Tiers-monde”

(Sáng chế và sự kém phát triển-Bảo hộ sáng chế tại Thế giới thứ ba) của các tác giả Martine Hiance và Yves Plasseraud (1972), Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Sở hữu

Công nghiệp, Khoa Luật và Khoa học Kinh tế-Chính trị Strasbourg; “Industrial

Property Rights Standard Textbook-Patents” (Sách Chuẩn về Quyền Sở hữu công

nghiệp-Sáng chế), Viện Sáng chế và Đổi mới Sáng tạo của Nhật Bản (2003); “Brevet,

innovation et intérêt général-Le Brevet: pourquoi et pourquoi faire?” (Sáng chế, đổi

mới sáng tạo và lợi ích chung-Sáng chế: tại sao và tại sao phải có?), Nhà xuất bản (NXB) Larcier, 2007

Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra được các góc nhìn khác nhau trả lời cho câu hỏi Sáng chế là gì?; Bản chất pháp lý của sáng chế; Sáng chế có những đặc điểm giống và khác biệt như thế nào so với các loại TSTT khác?; Các nội dung quyền tài sản đối với sáng chế; Các học thuyết đối với sáng chế; Một số loại hình sáng chế, đối tượng và điều kiện bảo hộ sáng chế; Ý nghĩa của việc bảo hộ và khai thác sáng chế; Vai trò, tầm quan trọng của sáng chế đối với việc tăng sức cạnh tranh của doanh

1 Patricia Kameri-Mbote (1994), “Patents and Development” (Sáng chế và Phát triển), Tạp chí Law and Development in the Third World, Khoa Luật, Đại học Nairobi, trang 412-425,

Trang 18

14

nghiệp cũng như hỗ trợ sự phát triển KHCN và KT-XH của quốc gia; Hệ thống sáng chế quốc tế, khu vực và của một số quốc gia trên thế giới; Quan điểm của quốc gia đang phát triển về hệ thống sáng chế; các điều khoản chính về sáng chế trong Công ước Paris, trong Hiệp định Khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia đang phát triển

Ngoài ra, một số cuốn sách chuyên khảo còn đi sâu hơn vào một vài khía cạnh

quan trọng liên quan đến sáng chế Cuốn sách “Brevets et sous-développement-La

protection des inventions dans le Tiers-monde” của các tác giả Martine Hiance và

Yves Plasseraud đã đề cập đến lợi ích của sáng chế đối với các quốc gia kém phát triển, cái giá phải trả cho vấn đề phát triển sáng chế tại các quốc gia này, định hướng mới về pháp lý và thể chế liên quan đến sáng chế, cách thức tận dụng lợi thế sáng chế

của các nước kém phát triển Cuốn “Industrial Property Rights Standard

Textbook-Patents” của Viện Sáng chế và Đổi mới Sáng tạo của Nhật Bản lại nghiên cứu một

cách chuyên sâu sự khác biệt giữa sáng chế và các đối tượng SHCN khác

Tại Việt Nam, nhất là vào những năm cuối của quá trình đàm phán gia nhập WTO trở lại đây, vấn đề SHTT nói chung và sáng chế nói riêng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu về sáng chế đề cập đến các khía cạnh khác nhau và dưới nhiều góc độ khác nhau về sáng chế Tuy nhiên, phần lớn các công trình, tài liệu nghiên cứu về SHTT đều đề cập đến vấn

đề tổng quan về quyền SHTT, bảo hộ và thực thi quyền SHTT

Có thể kể đến một số bài báo tiêu biểu như: “Tổng quan về pháp luật sở hữu trí

tuệ của Hoa Kỳ trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam” của PGS TS

Phạm Duy Nghĩa (2001), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật; “Pháp luật sở hữu trí tuệ

của Việt Nam” của PGS TS Đinh Văn Thanh (2004), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật;

“Pháp luật về Sở hữu công nghiệp trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” của

TS Nguyễn Thanh Tâm (2007), Tạp chí Luật học, số 1/2007; “Quyền sở hữu trí tuệ

Trang 19

15

trong Hiến pháp Việt Nam” của TS Lê Mai Thanh (2012), Tạp chí Nhà nước và Pháp

luật, v.v

Một số cuốn sách chuyên khảo tiêu biểu về SHTT có thể kể đến là: “Các yếu tố

của quyền sở hữu trí tuệ” của PGS TS Phùng Trung Tập (2004); “Quyền sở hữu trí tuệ” của TS Lê Nết (2006), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; “Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ” của TS Phạm Văn Tuyết và ThS Lê Kim Giang

(2008), NXB Tư pháp; “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc

tế-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS TS Nguyễn Bá Diến (2010), NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội; “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”

của TS Kiều Thị Thanh (2013), NXB Chính trị-Hành chính

Liên quan đến các luận án tiến sĩ luật học về sáng chế, điển hình có thể kể đến là

“How to Comply with the TRIPS and WTO Law: The New Challenges to Vietnam’s

Patent Legislation from WTO Dispute Settlement Practice” (Làm thế nào để tương

thích với Hiệp định TRIPS và quy định của WTO: Những thách thức mới đối với pháp

luật về sáng chế từ thực tiễn giải quyết tranh chấp của WTO), Trường Đại học Nagoya,

Nhật Bản của nghiên cứu sinh Phạm Hồng Quất (2007)

Từ các công trình đã dẫn ở trên, có thể thấy rằng có nhiều công trình nghiên cứu

về SHTT dưới góc độ pháp lý đã đi sâu vào nghiên cứu một số đối tượng SHCN nhưng lại tập trung chủ yếu vào nhãn hiệu Rất ít công trình đề cập chuyên sâu về sáng chế Hơn nữa, sáng chế là sự sáng tạo mang tính chất kỹ thuật, nên có một số bài viết chuyên sâu về sáng chế được đăng trên các tạp chí của Bộ KHCN hơn là được đăng trên các tạp chí luật học Phần lớn các đề tài chuyên sâu nghiên cứu về lĩnh vực này đều do Bộ KHCN chứ không do Bộ Tư pháp cấp kinh phí thực hiện Trong số các công trình đề cập chuyên về sáng chế đăng trên tạp chí của Bộ KHCN có thể kể đến

bài viết “Bàn về các thuật ngữ “phát minh”, “phát hiện”, “sáng chế” của PGS TS

Trần Văn Hải (2007), Tạp chí Hoạt động khoa học, số 6/2007 (577) Bài báo đã giải thích được khái niệm sáng chế là giải pháp mang tính kỹ thuật và được cấp văn bằng

Trang 20

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trước những yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn của việc bảo hộ quyền SHTT, ngoài những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về sáng chế nói trên, qua tìm hiểu một số tài liệu hiện có, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến lý luận

về bảo hộ sáng chế Có thể nói rằng vấn đề bảo hộ sáng chế là vấn đề trọng tâm được

nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Nhóm công trình nghiên cứu về tiêu chí và vai trò của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Trong số các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận chung về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế của nước ngoài có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

“How Does Patent Protection Help Developing Countries?” (Bảo hộ sáng chế có lợi

ích gì cho các quốc gia đang phát triển?) của Ali M Imam (2006)2; “WIPO Intellectual

Property Handbook: Policy, Law and Use” (Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách,

2 Ali M Imam (2006), “How Does Patent Protection Help Developing Countries?” (Bảo hộ sáng chế có lợi ích gì cho các quốc gia đang phát triển?), International Review of Intellectual Property and Competition Law (IIC), Volume 37, No

3/2006, trang 245-259

Trang 21

17

Pháp luật và Sử dụng) của WIPO (2001) Các công trình này đã đề cập đến vai trò và tác động của việc bảo hộ sáng chế trong việc hỗ trợ các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, thúc đẩy công nghệ nội sinh, phát triển KT-XH Có thể nói rằng, cuốn

cẩm nang “WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” của WIPO

(2001) là công trình nghiên cứu tổng quan, căn bản nhất về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế trong số các công trình nghiên cứu chuyên khảo của nước ngoài Tác phẩm đã đề cập một cách tổng quát pháp luật quốc tế về bảo hộ sáng chế, ví

dụ như các điều kiện cấp bằng, việc soạn thảo và nộp đơn xin cấp bằng, quy trình thẩm định đơn đăng ký sáng chế

Ở Việt Nam, cần phải kể đến một số công trình tiêu biểu có liên quan như các

bài báo: “Tính mới trong việc bảo hộ sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền của Việt

Nam” của PGS TS Trần Văn Hải (2013)3 và “Thị trường độc quyền sáng chế và sự

can thiệp của Nhà nước” của Th.S Nguyễn Hữu Cẩn (2013)4 Bài báo “Tính mới trong

việc bảo hộ sáng chế đối với bài thuốc cổ truyền của Việt Nam” của PGS TS Trần

Văn Hải (2013) đã nghiên cứu điều kiện bảo hộ sáng chế trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật của Việt Nam, đồng thời đề cập kinh nghiệm của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Mê-hi-cô về bảo hộ quyền SHTT đối với y học

cổ truyền cũng như đề xuất ra một số giải pháp bảo hộ bài thuốc y học cổ truyền của

Việt Nam Bài báo “Thị trường độc quyền sáng chế và sự can thiệp của Nhà nước” của

ThS Nguyễn Hữu Cẩn (2013) đã thừa nhận cơ chế bảo hộ độc quyền đối với sáng chế

có thể đem lại lợi ích nhất định nhưng việc lạm dụng độc quyền một cách thái quá cũng tạo ra những khuyết tật của thị trường và gây nên những tác động tiêu cực với xã hội ví dụ như chủ sở hữu có thể ngăn chặn việc gia nhập thị trường của đối thủ, ngăn chặn sự đổi mới, cải tiến của đối thủ, cấp li-xăng một cách thiên vị để tạo nên độc quyền nhóm, v.v

Trang 22

18

Ngoài ra, cũng có thể kể đến một số công trình chuyên khảo, luận án tiến sĩ luật học, luận văn thạc sĩ luật học đề cập về vai trò của bảo hộ quyền SHCN đối với sáng

chế và điều kiện cấp bằng sáng chế như “Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ và

chuyển giao công nghệ” của TS Đinh Thị Mai Phương (chủ biên) (2004), NXB Chính

trị Quốc gia; “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực

tiễn”, của GS TS Lê Hồng Hạnh (chủ biên) (2005), NXB Chính trị Quốc gia; “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của nghiên cứu sinh Lê Xuân Thảo (1996), Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng

chế theo pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp” của học viên cao học Điêu Ngọc

Tuấn (2004), Trường Đại học Luật Hà Nội; “Điều kiện về bảo hộ sáng chế trong pháp

luật Việt Nam” của học viên cao học Trần Trung Kiên (2007), Khoa Luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội; “Cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với

sáng chế” của học viên cao học Nguyễn Văn Bảy (2012), Khoa Luật, Đại học Quốc

hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại các quốc gia phát triển không chỉ đề cập đến cơ

sở lý luận chung về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế mà đã gắn kết, nghiên cứu chuyên sâu pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế trong một số lĩnh vực nhất định Trong đó nổi bật có thể kể đến là bài báo: “American Patent Policy,

Biotechnology, and African Agriculture: the Case for Policy Change” (Chính sách bảo

hộ sáng chế của Hoa Kỳ, Công nghệ sinh học và Nông nghiệp Châu Phi: Vụ việc làm

Trang 23

19

thay đổi chính sách) của Michael R Taylor và Jerry Cayford (2004)5 Công trình này

đã đề cập đến ảnh hưởng của chính sách và pháp luật về bảo hộ sáng chế trong việc giải quyết các vấn đề về an ninh lương thực, đổi mới nền nông nghiệp, bảo hộ sáng chế

liên quan đến phần mềm máy tính và công nghệ sinh học

Cũng có một số công trình chuyên khảo khác đề cập một cách hệ thống, toàn diện về các đối tượng và hình thức bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại một số vùng và quốc gia trên thế giới Tại các quốc gia Châu Âu, có thể kể đến một số cuốn

sách nổi bật như “Intellectual Property Law in Europe” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Châu Âu), Guy Tritton (chủ biên) (2002), NXB London Sweet & Maxwell và “A

concise guide to European Patents: Law and Practice” (Hướng dẫn cụ thể về sáng chế

Châu Âu: Pháp luật và Thực tiễn) của Gerald Paterson M.A (1995), NXB London Sweet&Maxwell Các công trình này đã thành công trong việc phân tích các quy định pháp lý về bảo hộ sáng chế trong các công ước quốc tế và khu vực như Công ước Paris, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước PCT và đặc biệt là Công ước Sáng chế Châu Âu nói chung cũng như của nhiều nước trong khu vực nói riêng Ngoài ra, có một số công

trình khác cần kể đến như “Droit des Brevets d’Invention et protection du

savoir-faire” (Luật Sáng chế và bảo vệ bí quyết công nghệ) của Mireille Buydens (1999);

“Droit de la Propriété Industrielle” (Quyền Sở hữu công nghiệp) của Frédéric Pollaud-Dulian (1999) và “Droit de la Propriété Industrielle” (Quyền Sở hữu công

nghiệp) của Jacques Azéma và Jean-Christophe Galloux (2006) Các cuốn sách chuyên khảo này còn đề cập đến các nguồn luật của Pháp cũng như quốc tế về sáng chế, một

số đối tượng và hình thức sáng chế được bảo hộ như giống cây trồng, giống động vật, sáng chế công vụ

Tại khu vực Châu Á, cùng cách tiếp cận như một số cuốn sách đã nêu ở trên, có

thể kể đến các công trình nghiên cứu như “Intellectual Property Law in Asia” (Pháp

Trang 24

20

luật Sở hữu trí tuệ tại Châu Á), Christopher Heath (chủ biên) (2003); “Intellectual

Property Law in China” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc), Christopher Heath

(Biên tập) (2005); “Intellectual Property Law in Korea” (Pháp luật Sở hữu trí tuệ tại Hàn Quốc), Christopher Heath (Biên tập) (2003) Các tài liệu này cũng thành công

trong việc đề cập một cách tổng quát đến pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế của nhiều quốc gia Châu Á trong đó có Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam

Tại Hoa Kỳ, có thể kể đến cuốn sách chuyên khảo “Le Brevet Américain –

Protéger et Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo vệ và Gia

tăng giá trị của Đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Bouju (1988) Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại Hoa Kỳ

Các công trình kể trên cho thấy pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế tại các quốc gia này khá đồng nhất với quy định của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, khác với Châu Âu, các quốc gia Châu Á vẫn chưa có một hiệp ước chung mang tính khu vực về SHTT nói chung và sáng chế nói riêng

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số công trình đề cập đến các đối tượng và hình

thức bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế, ví dụ như “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối

với công nghệ sinh học-Pháp luật và thực tiễn của Châu Âu và Hoa Kỳ” của TS

Nguyễn Như Quỳnh (2006)6 Bài báo này đã đề cập đến vấn đề pháp lý cơ bản về bảo

hộ quyền SHTT đối với công nghệ sinh học bao gồm cơ sở pháp lý và thực tiễn bảo hộ công nghệ sinh học dựa trên quy định pháp lý cũng như án lệ của Châu Âu, Hoa Kỳ Bài báo cũng đề cập đến các sáng chế công nghệ sinh học và việc bảo hộ các sáng chế này tại Châu Âu và Hoa Kỳ

Tóm lại, đã có nhiều công trình chuyên khảo khái quát những vấn đề lý luận về pháp luật bảo hộ quyền SHCN nói chung và pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ tập trung vào phân tích vai

6 Nguyễn Như Quỳnh (2006), “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ sinh học-Pháp luật và thực tiễn của Châu

Âu và Hoa Kỳ”, Tạp chí Luật học, số 7/2006, trang 72-78

Trang 25

21

trò, các điều kiện, đối tượng, hình thức bảo hộ sáng chế; quy trình nộp đơn, xử lý, thẩm định đơn đăng ký xác lập quyền SHCN đối với sáng chế Hơn nữa, các nghiên cứu này chưa gắn vấn đề bảo hộ sáng chế với hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế

1.1.3 Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Nhóm đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận về khai thác thương mại sáng chế

Khai thác thương mại đối sáng chế là các đề tài đã được nghiên cứu từ lâu, dưới nhiều góc độ khác nhau tại các quốc gia phát triển Số lượng các công trình, tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực này bắt đầu tăng lên từ những năm 1970 của thế kỷ trước do luồng CGCN từ các quốc gia công nghiệp phát triển sang các quốc gia đang phát triển bắt đầu rộ lên

Trong lĩnh vực pháp lý, có thể kể đến một số công trình như: “Licensing and

exploitation of patents” (Li-xăng và khai thác sáng chế) của Holloway H (1968)7;

“Emerging restriction on the transfer of technology” (Hạn chế nổi cộm về chuyển giao

công nghệ) của John C Green (1971)8; “Patents and the Transfer of Technology to

Developing Countries”(Sáng chế và Chuyển giao Công nghệ tới các Quốc gia đang

phát triển) của GS John Barton9 (George E Osborne Professor of Law, Emeritus), Đại

học Luật Stanford trình bày tại Hội thảo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(OECD) về Quyền Sở hữu trí tuệ, Đổi mới Sáng tạo và Phát triển Kinh tế, Paris, 29/08/2003 Ngoài ra, có thể kể đến các cuốn sách chuyên khảo của GS Michael Blackeney: “Legal Aspects of the Transfer of Technology to Developing Countries”

(Các khía cạnh pháp lý của Chuyển giao công nghệ đối với các quốc gia đang phát

triển), NXB Oxford: ESC Publishing, 1989; “Trade Related Aspects of Intellectual

7 Holloway H (1968), “Licensing and exploitation of patents” (Li-xăng và khai thác sáng chế), J.P.O.T.S., Vol 2, No 1,

trang 96-100

8 John C Green (1971), “Emerging restriction on the transfer of technology” (Hạn chế nổi cộm về chuyển giao công

nghệ), IDEA, Summer 1971, trang 274

9 John Barton (George E Osborne Professor of Law, Emeritus) (2003), “Patents and the Transfer of Technology to Developing Countries”, Đại học Luật Stanford, báo cáo trình bày tại Hội thảo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

(OECD) về Quyền Sở hữu trí tuệ, Đổi mới Sáng tạo và Phát triển Kinh tế, Paris, 29/08/2003

Trang 26

22

Property Rights: A Concise Guide to the TRIPS Agreement”(Các khía cạnh thương

mại của quyền sở hữu trí tuệ: Hướng dẫn cụ thể đối với Hiệp định TRIPS), NXB Sweet&Maxwell, London, 1996 Các công trình nói trên đã đề cập nhiều đến khía cạnh thương mại của sáng chế, khái quát được tầm quan trọng của việc khai thác sáng chế đối với việc CGCN, phát triển kinh tế của quốc gia và doanh nghiệp

Khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, các công trình nghiên cứu về sáng chế nói chung và khai thác sáng chế nói riêng đã được nghiên cứu một cách chuyên sâu, gắn liền với hoạt động đổi mới sáng tạo Có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu

về lĩnh vực này nhưng phần lớn đều dưới góc độ kinh tế, quản lý Trong số các bài viết chuyên sâu về việc khai thác thương mại sáng chế dưới góc độ pháp lý hoặc chính

sách, có thể kể đến một số công trình quan trọng như “ “How Do Patent Laws

Influence Innovation: Evidence from Nineteenth Century World Fairs” (Pháp luật về

sáng chế ảnh hưởng như thế nào đến Đổi mới Sáng tạo: Bằng chứng từ các hội chợ thế giới từ thế kỷ 19) của Moser, P (2003)10; “Patent Scope and Innovation in the Software

Industry” (Phạm vi sáng chế và Đổi mới sáng tạo trong nền Công nghiệp phần mềm)

của Cohen, J and Lemley, M (2001)11 Các bài viết này đã cho thấy đổi mới sáng tạo cần được hiểu là việc khai thác, TMH sáng chế một cách thành công trên thị trường Sáng chế không những cần được đăng ký để được bảo hộ dưới dạng quyền tài sản là VBBH độc quyền mà quan trọng hơn chúng còn cần phải được khai thác, ứng dụng vào sản xuất kinh doanh để đem lại lợi nhuận cho chủ sở hữu Do vậy, việc khai thác thành công về mặt thương mại đối với sáng chế là điều rất cần thiết

Tại Việt Nam, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về khai thác sáng chế

như: “Khai thác sáng chế của Việt Nam từ thuốc cai nghiện ma túy Cedemex” của

Nguyễn Kim Na (2006), Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo, Hội Sở hữu trí tuệ Việt

Nam, số 55 (tháng 4/2006); “Kinh nghiệm khai thác các sáng chế nước ngoài của các

10 Moser, P (2003), How Do Patent Laws Influence Innovation: Evidence from Nineteenth Century World Fairs (Pháp

luật về sáng chế ảnh hưởng như thế nào đến Đổi mới Sáng tạo: Bằng chứng từ các hội chợ thế giới từ thế kỷ 19), NBER Working Paper No w9909

11 Cohen, J and Lemley, M (2001), “Patent Scope and Innovation in the Software Industry” (Phạm vi sáng chế và Đổi

mới sáng tạo trong nền Công nghiệp phần mềm), California Law Review, số 89, trang 1-58

Trang 27

23

doanh nghiệp Nhật Bản” của ThS Nguyễn Trần Tuyên (2006), Tạp chí Sở hữu trí tuệ

và Sáng tạo, Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam, số 56&57 (tháng 5-6/2006); “Thương mại

hóa sản phẩm KH&CN trong trường đại học: nên chọn mô hình nào?” của PGS TS

Nguyễn Ngọc Điện (2013), Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 8 năm 2013 Các bài viết ở góc độ rộng này đã nêu được khái quát cơ sở lý luận, kinh nghiệm và thực trạng TMH kết quả nghiên cứu trong đó có sáng chế tại một số quốc gia như Nhật

quốc phòng, sức khỏe người dân mà không cần phải xin phép chủ sở hữu, v.v

Liên quan đến vấn đề này có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu dưới góc độ

pháp lý như “Patents and the Progress of Science: Exclusive Rights and Experimental

Use” (Sáng chế và sự tiến bộ của khoa học: Quyền độc quyền và Sử dụng thí nghiệm)

của Eisenberg, R (1989)12; “Toward a Doctrine of Fair Use in Patent Law” (Hướng

tới một Học thuyết về Sử dụng Công bằng trong Pháp luật về Sáng chế) của O’Rourke,

M (2000)13; “Compulsory Licensing: How to Gain Access to Patented Technology”

(Li-xăng cưỡng bức: Tiếp cận với công nghệ được bảo hộ sáng chế như thế nào) của Carlos Maria Correa (2007), Khoa Luật, Đại học Buenos Aires, Ác-hen-ti-na, trích từ

Tuyển tập Intellectual Property Management in Health and Agricultural Innovation: a

hand book for best practices, MIHR and PIPRA (2007) Các bài viết đã đưa ra quan

12 Eisenberg, R (1989), “Patents and the Progress of Science: Exclusive Rights and Experimental Use” (Sáng chế và sự

tiến bộ của khoa học: Quyền độc quyền và Sử dụng thí nghiệm), University of Chicago Law Review, số 56, trang

1017-1086

13 O’Rourke, M (2000), “Toward a Doctrine of Fair Use in Patent Law” (Hướng tới một Học thuyết về Sử dụng Công

bằng trong Pháp luật về Sáng chế), Columbia Law Review 100(5), trang 1177-1250

Trang 28

24

điểm, chính sách và quy định pháp luật quốc tế cũng như của hầu hết các quốc gia trên thế giới về một số ngoại lệ quan trọng trong việc sử dụng các sáng chế mà không phải xin phép hoặc trả tiền cho chủ sở hữu sáng chế như li-xăng cưỡng bức, khai thác hết quyền, nhập khẩu song song Các giới hạn quyền này đã ảnh hưởng phần nào đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế của chủ sở hữu

Tại Việt Nam, liên quan đến giới hạn quyền khai thác sáng chế, có thể kể đến

một số công trình nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ pháp lý như “Pháp luật về hết

quyền SHTT và nhập khẩu song song ở một số quốc gia ASEAN” của TS Nguyễn Như

Quỳnh (2009)14; “Pháp luật quốc tế về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế

của TS Lê Thị Nam Giang (2011)15; “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc

chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế” luận án

tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Lê Thị Nam Giang (2011), Trường Đại học Luật

Thành phố Hồ Chí Minh; “Quyền sử dụng sáng chế và những giới hạn của quyền sử

dụng sáng chế theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học của

học viên Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2014), Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài báo của TS Nguyễn Như Quỳnh đã khái quát cơ sở lý luận về thuyết hết quyền và nhập khẩu song song, theo đó thuyết hết quyền là cơ sở pháp lý cho nhập khẩu song song Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa

ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối

và thương mại sản phẩm Nhập khẩu song song là việc nhập khẩu những hàng hóa chính hiệu đã được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác đưa ra thị trường nước ngoài với sự đồng ý của chủ sở hữu Bài báo còn nêu điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định pháp luật của 04 quốc gia trong khu vực ASEAN (Singapore, Malaixia, Philipin và Việt Nam) về nhập khẩu song song đối với sáng chế trong đó

Trang 29

là người nắm độc quyền sáng chế được phép sử dụng sáng chế mà không cần sự cho phép của người nắm độc quyền sáng chế giới hạn quyền trong khai thác thương mại đối với sáng chế Bài báo đã cho thấy hầu hết các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển coi li-xăng cưỡng bức là một công cụ quan trọng để cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích của cộng động Tuy nhiên, Việt Nam sẽ gặp phải cả cơ hội lẫn thách thức khi vận dụng các quy định của pháp luật quốc tế về li-xăng cưỡng bức Các cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi áp dụng quy định quốc tế về li-xăng cưỡng bức cũng như các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt

Nam trong lĩnh vực này đã được trình bày sâu hơn trong luận án tiến sĩ luật học “Hoàn

thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế” của nghiên cứu sinh Lê Thị Nam Giang (2011),

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Nhóm đề tài nghiên cứu cơ sở pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này, có một số công trình đã nhấn mạnh đến các hình thức khai thác thương mại được sử dụng chủ yếu tại hầu hết các quốc gia trong thời gian qua Trong nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về các hình thức khai thác thương mại sáng chế, có một số công trình tiêu biểu dưới góc độ pháp lý cần phải kể đến ví dụ

như: “Licensing as a means of penetrating foreign markets” (Li-xăng là một hình thức

Trang 30

26

thâm nhập thị trường nước ngoài) của Zenoff David B (1970)16; “Le Brevet Américain

– Protéger et Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo hộ và gia

tăng giá trị của đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Boujou (1988), NXB Jupiter

Précis; “Intellectual Property in Europe” (Sở hữu trí tuệ ở Châu Âu), Guy Tritton (chủ biên) (2002), NXB London Sweet & Maxwell; “Legal rules of Technology transfer in

Asia” (Các quy định pháp lý về chuyển giao công nghệ ở Châu Á), Christopher Heath

and Kung-Chung Liu (chủ biên) (2002), NXB Kluwer Law International

Các công trình nói trên đã ghi nhận các hình thức khai thác thương mại căn bản, chính yếu của chủ sở hữu sáng chế tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á (trong đó có Việt Nam) là chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, đặc biệt là li-xăng sáng chế Thực tiễn cho thấy chủ sở hữu ít có khả năng tự mình khai thác hoàn toàn sáng chế của mình

do thiếu các nguồn lực cần thiết nên việc chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế được coi là hình thức chủ yếu để khai thác thương mại đối với sáng chế trong thời gian qua

Ngoài các hình thức trên, cuốn sách “WIPO Intellectual Property Handbook:

Policy, Law and Use” (Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, Pháp luật và Sử dụng),

WIPO (2001) còn đề cập đến một hình thức khai thác thương mại khác đối với sáng chế cũng như một hình thức CGCN khác, đó là việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh và thành lập doanh nghiệp Công trình này còn đề cập đến vấn đề định giá sáng chế

Hơn nữa, tuyển tập “International Technology Transfer-The Origins and

Aftermath of the United Nations Negotiations on a Draft Code of Conduct” (Chuyển

giao công nghệ quốc tế-Nguồn gốc và kết quả các cuộc đàm phán của Liên hợp quốc

về Dự thảo bộ luật hành xử trong hoạt động chuyển giao công nghệ), của các tác giả Surendra J Patel, Pedro Roffe và Abdulqawi Yusuf (2001), NXB Kluwer Law

16 Zenoff David B (1970), “Licensing as a means of penetrating foreign markets” (Li-xăng là một hình thức thâm nhập

thị trường nước ngoài), IDEA, vol 14, No 2, Summer 1970

Trang 31

đang phát triển như “Breveté et licencié-Leurs rapports juridiques dans le contrat de

licence” (Người chuyển giao và người nhận chuyển giao li-xăng sáng chế-Mối quan hệ

pháp lý trong hợp đồng li-xăng), Jean-Jacques Burst (1970), Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Sở hữu Công nghiệp, Khoa Luật và Khoa học Kinh tế-Chính trị Strasbourg;

“Patent and Know-how Licensing in Japan and the United States” (Li-xăng sáng chế

và bí quyết kỹ thuật tại Nhật Bản và Hoa Kỳ), Teruo Doi và Warren L Shattuck (chủ

biên) (1977), NXB Đại học Washington; “Licensing Guide for developing countries” (Hướng dẫn li-xăng cho các quốc gia đang phát triển), WIPO (1977); “Les contrats de

licence en Droit Socialiste” (Hợp đồng li-xăng trong pháp luật xã hội chủ nghĩa) của

Alexandre VIDA (1978), Librairies Techniques; “Le Brevet Américain – Protéger et

Valoriser l’Innovation aux États-Unis” (Sáng chế Hoa Kỳ-Bảo hộ và gia tăng giá trị

của đổi mới sáng tạo tại Hoa Kỳ) của André Boujou (1988), NXB JUPITER PRÉCIS;

“Contrats Internationaux et Pays en Développement” (Các hợp đồng quốc tế và các quốc gia đang phát triển) của Hervé Cassan (1989), NXB Economica; “Droit Européen

des Licences Exclusives de Brevets” (Pháp luật Châu Âu về li-xăng độc quyền sáng

chế) của Isabelle Roudard (1989), NXB Novelles Editions Fiduciaires

Các cuốn sách trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận và một số vấn đề cơ bản về chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế như: Tầm quan trọng của các hình thức chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, đặc biệt là li-xăng sáng chế, đối với hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế; Một số loại hình li-xăng sáng chế; Các vấn đề pháp lý căn bản liên quan hợp đồng li-xăng sáng chế theo pháp luật của Hoa

Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, các nước phe xã hội chủ nghĩa, một số quốc gia đang phát

Trang 32

28

triển; Nội dung quyền và nghĩa vụ của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao xăng trong hợp đồng li-xăng sáng chế theo quan điểm một số quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới; Thủ tục, quy trình xét xử tranh chấp về li-xăng sáng chế tại Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản; Thanh toán phí li-xăng và thuế li-xăng sáng chế tại các quốc gia phát triển này

li-Một số công trình nghiên cứu khác lại chỉ đề cập đến những vấn đề chuyên biệt

có liên quan đến các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế Cuốn sách “Le

contrôle administratif des contrats de licence et de transfert de technologie” (Kiểm

soát hành chính các hợp đồng li-xăng và chuyển giao công nghệ) của Bernard Dutoit et Peter Mock (1993), Librairie Droz SA, Genève chỉ tập trụng đề cập đến các vấn đề về kiểm soát hành chính, thủ tục đăng ký các hợp đồng li-xăng sáng chế và hợp đồng

CGCN tại các cơ quan có thẩm quyền của nhiều quốc gia trên thế giới Cuốn sách “The

Transfer Pricing of Intangibles” (Chuyển giá các tài sản vô hình) của Michelle

Markham (2005), NXB Kluwer Law International lại chủ yếu đề cập đến vấn đề chuyển giá, thuế chuyển giá và định giá sáng chế

Cũng có một vài bài báo trên các tạp chí quốc tế chuyên sâu về vấn đề khai thác thương mại đối với sáng chế hoặc rộng hơn là CGCN đề cập đến pháp luật về khai thác

thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam Bài báo “Industrial Property Protection in

Vietnam” (Bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam) của Christopher Heath (1999)17,

đã phác họa lịch sử hệ thống SHTT của Việt Nam, điểm qua tình hình đăng ký một số đối tượng SHCN như sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, tên gọi xuất xứ (tính đến năm 1997), đề cập đến pháp luật về li-xăng sáng chế và CGCN tại Việt Nam Bài viết cũng nhấn mạnh đến thủ tục hành chính trong việc chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng sáng chế/công nghệ, việc phê duyệt hợp đồng li-xăng sáng chế, hợp đồng CGCN, các điều khoản chống cạnh tranh trong hợp đồng li-xăng sáng chế, hợp đồng CGCN Tuy nhiên, hạn chế của bài viết là mới chỉ đề cập đến vấn đề pháp lý trong hoạt động li-xăng sáng chế, CGCN trước khi có luật SHTT, luật CGCN ra đời

17 Christopher Heath (1999), “Industrial Property Protection in Vietnam” (Bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Việt Nam),

International Review of Intellectual Property and Competition Law (IIC), Volume 30, No 4/1999, trang 419-441

Trang 33

29

Bài viết “Echoes of Bay-Dole? A survey of IP and Technology Transfer Policies

in Emerging and Developing Economies” (Tác động của đạo luật Bay-Dole? Một cuộc

điều tra về chính sách sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại các quốc gia đang

phát triển và mới nổi) của Gregory D Graff, trích từ Tuyển tập Intellectual Property

Management in Health and Agricultural Innovation: a hand book for best practices,

MIHR and PIPRA (2007), đã đề cập khái quát đến hệ thống pháp luật SHTT và CGCN của Việt Nam trong giai đoạn gia nhập WTO Bài viết cho rằng các quy định pháp lý

về SHTT của Việt Nam tương thích với các tiêu chuẩn, quy định của pháp luật quốc tế ghi nhận trong Hiệp định TRIPS Bài viết cũng nêu qua thực trạng yếu kém trong việc đăng ký sáng chế tại Việt Nam, chỉ ra được những điểm yếu trong cơ chế thực thi quyền SHTT, những bất cập trong các quy định pháp lý về quyền sở hữu đối với sáng chế, đặc biệt với các tổ chức NCPT Tuy nhiên, bài viết cũng chưa nêu được các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này

Tại Việt Nam, đã có một số bài báo, sách chuyên khảo, giáo trình, đề tài, dự án, luận văn đề cập ít nhiều đến việc khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý nhưng có thể khẳng định rằng hiện chưa có luận án tiến sĩ luật nào đề cập đến pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Trước tiên, liên quan đến đề tài này dưới góc độ pháp lý, có thể kể đến bài viết

"Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa

Kỳ dưới góc nhìn so sánh" của TS Hồ Thúy Ngọc (2014)18 Bài viết đã so sánh một cách tổng quan pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN nói chung của Việt Nam và Hoa Kỳ theo các khía cạnh như hình thức, đối tượng, nội dung, xử lý hậu quả khi chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, việc so sánh này chỉ mang tính khái quát chung chung về các đối tượng của quyền SHCN và mới chỉ nhấn mạnh một vài điểm khác biệt nổi cộm về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN chứ chưa tập trung phân tích chuyên sâu cũng như chưa so

18 Hồ Thúy Ngọc (2014), “Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới

góc nhìn so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2014, trang 67-74

Trang 34

30

sánh một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế giữa hai quốc gia

Một số công trình chuyên khảo cũng đã đề cập đến hình thức khai thác sáng chế

dưới dạng hợp đồng xăng sáng chế như các luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng

li-xăng trong pháp luật dân sự Việt Nam” của học viên Phạm Văn Khánh (2005), Trường

Đại học Luật Hà Nội; “Contrat de Licence de Brevet en droit Francais et en

Vietnamien” (Hợp đồng li-xăng sáng chế theo pháp luật của Pháp và Việt Nam) của

học viên Nguyễn Xuân Bách (2009), chương trình đào tạo thạc sĩ liên kết giữa Trường Đại học Ngoại thương và Đại học Tours, Cộng hòa Pháp, v.v Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số loại hình li-xăng và so sánh các điều kiện về hình thức, nội dung của hợp đồng li-xăng theo pháp luật của Việt Nam với pháp luật có liên quan của Cộng hòa Pháp mà không khái quát được pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Liên quan đến hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế thông qua việc góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế, đã có một số luận văn thạc sĩ luật học

nghiên cứu về vấn đề này trong đó có thể kể đến luận văn “Góp vốn thành lập doanh

nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của học viên Đoàn Thu Hồng (2012),

Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Công trình này đã làm nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận khoa học pháp lý đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT qua đó

đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền SHTT ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này cũng chưa tập trung vào đối tượng sáng chế và không khái quát được pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Công trình nghiên cứu một cách toàn diện nhất về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế và pháp luật điều chỉnh các hình thức này của Việt Nam

so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới từ trước đến nay phải kể đến

cuốn sách chuyên khảo “Quyền SHCN trong hoạt động thương mại” của TS Nguyễn

Trang 35

31

Thanh Tâm (2006), NXB Tư pháp Công trình thành công ở chỗ đã đề cập đến các đối tượng quyền SHCN (sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bí mật thương mại) trong trạng thái “động” với tư cách là quan hệ hàng hóa-tiền tệ như là một yếu tố lợi thế trong thương mại Hơn nữa, công trình đã nêu được khái quát về pháp luật điều chỉnh một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, thế chấp, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế Tuy nhiên, do cuốn sách chuyên khảo này đề cập ở một phổ rộng các đối tượng của quyền SHCN nên không đề cập được một cách tập trung, chuyên sâu về đối tượng sáng chế Ngoài ra, cuốn sách mới chỉ nói qua một số hình thức khai thác sáng chế một cách chung chung nhưng vẫn chưa khái quát hóa được nền tảng cơ sở lý luận cũng như chưa nghiên cứu một cách có hệ thống, chưa phân tích một cách sâu sắc nội dung pháp luật

về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Tóm lại, các công trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan đã tập trung nêu được khái niệm về khai thác thương mại đối với sáng chế; một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế, góp vốn bằng quyền SHCN đối với sáng chế để kinh doanh, thành lập doanh nghiệp; pháp luật điều chỉnh một số hình thức này; quyền, nghĩa vụ của bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao li-xăng sáng chế cũng như một số giới hạn quyền đối với khai thác thương mại sáng chế Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nêu được các nội dung cơ bản về khai thác thương mại đối với sáng chế một cách rời rạc, thiếu hệ thống, thiếu tập trung mà chưa khái quát hóa cao cơ sở lý luận, chưa nêu được một cách có hệ thống pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

1.2 Những vấn đề kế thừa, nghiên cứu sâu hơn, nghiên cứu mới trong luận án và các câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về bảo hộ quyền SHTT nói chung, vai trò của sáng chế, khai thác và bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế nói riêng đối với sự phát triển KT-XH của quốc gia đã được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu

từ rất sớm

Trang 36

32

Vấn đề pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng

đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, chủ yếu là các nhà khoa học nước ngoài đến từ các quốc gia phát triển dưới nhiều cấp độ khác nhau Có thể thấy rằng, đa số các bài viết, công trình nghiên cứu về sáng chế của các tác giả nước ngoài đã phần nào đề cập đến khía cạnh thương mại của sáng chế, một số công trình đã đi chuyên sâu vào một hoặc một vài hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế nhưng chưa công trình nào hệ thống hóa các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế dưới góc độ pháp lý

Khai thác thương mại đối với sáng chế cũng đã bắt đầu được nghiên cứu và đề cập tại nước ta từ chục năm trở lại đây nhưng nghiên cứu cơ sở pháp lý về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế vẫn còn chưa thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học nước nhà trong khi vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn phát triển KHCN, KT-XH, CNH-HĐH và hội nhập quốc tế như hiện nay Phần lớn các công trình nghiên cứu về sáng chế của các tác giả nước ta trong thời gian qua đã thành công trong việc đề cập đến hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với sáng chế Có một số tác giả đã thành công trong việc nghiên cứu dưới góc độ so sánh pháp luật về bảo hộ quyền SHCN và khai thác thương mại đối với sáng chế với một số quốc gia trên thế giới, các điều ước quốc tế có liên quan thông qua việc phân tích, đánh giá mức độ phù hợp, tương thích cũng như khác biệt trong quy định pháp luật của nước nhà so với pháp luật của một số quốc gia phát triển như Hoa

Kỳ, Liên minh Châu Âu, ASEAN, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, v.v Do vậy, các kết quả nghiên cứu nêu trên là cơ sở lý luận và kinh nghiệm quý báu để tác giả tham khảo, kế thừa, nối tiếp và học hỏi trong quá trình hoàn thành luận án của

mình

Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu các công trình của tác giả nước nhà có thể thấy rằng mặc dù các nhà khoa học của chúng ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về khai thác thương mại đối với sáng chế nhưng phần lớn các công trình này vẫn chưa đề cập một cách hệ thống, toàn diện các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế cũng

Trang 37

33

như chưa kiến nghị được các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế Hầu hết các công trình này vẫn thiên về nghiên cứu sáng chế ở trạng thái “tĩnh” mà chưa nghiên cứu sáng chế ở trạng thái “động” Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc các quy định pháp

lý về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở Việt Nam là rất cần thiết cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay Có thể khẳng định rằng, công trình luận án là một đề tài độc lập và không trùng lặp các đề tài trên

1.2.1 Những vấn đề Luận án cần kế thừa

Trên cơ sở khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực của đề tài luận án nêu ở phần trên, có thể thấy các công trình nghiên cứu dừng lại ở một số hướng chính Một là nghiên cứu tổng quan về một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế thường được sử dụng như chuyển giao quyền SHCN đối với sáng chế Hai là nghiên cứu các quy định chung của pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở một số quốc gia nhất định Từ các kết quả nghiên cứu của các công trình đã nêu, Luận án có thể kế thừa các nội dung sau:

Thứ nhất, khái niệm và vai trò của sáng chế

Thứ hai, nội dung quyền SHCN đối với sáng chế

Thứ ba, các quyền và cơ sở lý luận của giới hạn quyền trong việc khai thác thương mại đối với sáng chế

Thứ tư, một số hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế căn bản

Thứ năm, thực trạng pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Thứ sáu, pháp luật quốc tế và quy định pháp lý của một số quốc gia về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

1.2.2 Những vấn đề cần nghiên cứu sâu hơn và nghiên cứu mới trong Luận án

Ngoài những vấn đề cần được kế thừa ở trên, Luận án cũng sẽ nghiên cứu mới, một cách chuyên sâu hơn, có hệ thống và toàn diện các vấn đề sau:

Thứ nhất, cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Trang 38

34

Thứ hai, một số hình thức khai thác thương mại tự nguyện đối với sáng chế Thứ ba, khái niệm pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam Khái niệm này cần được nhận diện một cách rõ ràng

Thứ tư, xu thế phát triển của các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế Sự nghiên cứu mới này là rất cần thiết để có những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung trong các quy định pháp lý hiện hành về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế

Thứ năm, thực trạng các quy định pháp lý về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Thứ sáu, các nguyên nhân, tồn tại cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành

Thứ bảy, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật quốc tế có liên quan Việc

so sánh mới, đối chiếu pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia khác và pháp luật quốc tế có liên quan

để chỉ ra các điểm tương thích, ưu điểm trong pháp luật nước nhà đồng thời tìm ra các nhược điểm, nguyên nhân yếu kém, bất cập

Thứ tám, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Thứ chín, phương hướng phát triển và các giải pháp mới nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

1.2.3 Các câu hỏi nghiên cứu

Từ cơ sở lý thuyết nêu trên, luận án được triển khai với các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh: lý luận, thực tiễn pháp lý và đề xuất giải pháp

Câu hỏi nghiên cứu chung được đặt ra là pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam là gì và cần thiết phải có các nội dung nào, các giải pháp nào cần thực hiện để hoàn thiện pháp luật này?

Về lý luận, các câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra: Cơ sở lý luận về quyền và giới hạn quyền khai thác thương mại đối với sáng chế? Các hình thức khai thác thương mại

Trang 39

Về giải pháp, các câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế? Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một đạo luật riêng về sáng chế hay chưa? Nếu có thì các nội dung chủ đạo cần phải có trong bộ luật riêng rẽ này là gì? Các giải pháp cụ thể nào cần phải có để hoàn thiện pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam?

Trang 40

36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ nội dung nghiên cứu ở trên, có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, Chương 1 đã thể hiện được tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước về sáng chế, bảo hộ sáng chế và khai thác thương mại đối với sáng chế Có thể thấy rằng, các khía cạnh pháp lý về sáng chế, bảo hộ quyền SHCN đối với sáng chế và khai thác sáng chế đã được các nhà khoa học trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu tìm được và dựa vào việc tổng hợp các công trình nghiên cứu này, có thể kết luận rằng có một số công trình nghiên cứu đã

ít nhiều đề cập đến hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế ở những cấp độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, sâu sắc pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam

Thứ ba, Chương 1 cũng xác định được những vấn đề cần kế thừa, cần tiếp tục nghiên cứu cũng như cần nghiên cứu mới về cả lý luận và thực tiễn trong Luận án đồng thời đưa ra được các câu hỏi nghiên cứu Những vấn đề đó bao gồm việc thống nhất nhận thức về tính chất thương mại, tầm quan trọng của việc khai thác thương mại sáng chế; cơ sở lý luận về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; xu thế phát triển của các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; nhận diện khái niệm pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế; thực trạng quy định pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này có so sánh với các quy định có liên quan của pháp luật quốc tế; đề xuất, kiến nghị các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế của Việt Nam

Ngày đăng: 07/11/2016, 14:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương (2002), Cẩm nang Chuyển giao công nghệ, NXB Khoa học và Kỹ thuật.3. Bộ Luật dân sự năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang Chuyển giao công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật. 3. Bộ Luật dân sự năm 2005
Năm: 2002
6. Đặng Thị Vân Anh (2013), Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ sáng chế dược phẩm ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Thị Vân Anh
Năm: 2013
7. Điêu Ngọc Tuấn (2004), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế theo pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp
Tác giả: Điêu Ngọc Tuấn
Năm: 2004
8. Đinh Thị Mai Phương (2009), Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và Pháp Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Mai Phương
Năm: 2009
9. Đoàn Đức Lương (2005), Giáo trình Pháp luật Sở hữu trí tuệ, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
10. Đoàn Thu Hồng (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thu Hồng
Năm: 2012
13. Hồ Thúy Ngọc (2014), “Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (7/2014), trang 67-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Hồ Thúy Ngọc
Năm: 2014
15. Japan Patent Office (2001), Sách giáo khoa chuẩn về quyền sở hữu công nghiệp – Yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent) tại Nhật Bản, Japan Patent Office và Cục Sở hữu công nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa chuẩn về quyền sở hữu công nghiệp – Yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent) tại Nhật Bản
Tác giả: Japan Patent Office
Năm: 2001
16. Kamil Idris (2010), Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
Tác giả: Kamil Idris
Năm: 2010
17. Kiều Thị Thanh (2013), Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, NXB Chính trị-Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Tác giả: Kiều Thị Thanh
Nhà XB: NXB Chính trị-Hành chính
Năm: 2013
18. Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật về SHCN trong tiến trình 20 năm hội nhập quốc tế - Những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác đào tạo luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, 17/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về SHCN trong tiến trình 20 năm hội nhập quốc tế - Những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác đào tạo luật
19. Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến (2009), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Lê Đình Nghị và Vũ Thị Hải Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
20. Lê Hồng Hạnh (chủ biên) (2005), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Hồng Hạnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. Lê Nết (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Lê Nết
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
22. Lê Nết (chủ biên) (2012), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Lê Nết (chủ biên)
Năm: 2012
23. Lê Thị Anh Đào (2004), Vấn đề thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ sáng chế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Anh Đào
Năm: 2004
24. Lê Thị Bích Thủy (2012), Bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ sáng chế liên quan đến dược phẩm theo quy định của Hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Bích Thủy
Năm: 2012
25. Lê Thị Nam Giang (2011), Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong điều kiện hội nhập quốc tế
Tác giả: Lê Thị Nam Giang
Năm: 2011
26. Lê Thị Thu Thủy (2002), Giáo trình Luật Tài chính, Chương V: Pháp luật về tài chính doanh nghiệp, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tài chính, Chương V: Pháp luật về tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Lê Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
27. Lê Xuân Thảo (1996), Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Thảo
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp cho người Việt Nam và - Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại việt nam
Bảng 1 Số lượng VBBH sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp cho người Việt Nam và (Trang 84)
Bảng 2: Số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế đăng ký - Pháp luật về các hình thức khai thác thương mại đối với sáng chế tại việt nam
Bảng 2 Số lượng hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu và li-xăng sáng chế đăng ký (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w