Chính vì những lí do đó, bệnh dịch hạch luôn luôn được xem như là một căn bệnh nguy hiểm nhất đối với con người thời cổ đại và trung đại khi nó được nhắc đến ngay trong những thời kỳ đầu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận, em đã nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử, các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử Thế giới, sự đóng góp của các bạn sinh viên Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Nguyễn Văn Vinh đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Văn Trung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài khóa luận này là do sự cố gắng, nỗ lực, tìm hiểu nghiên cứu của bản thân em cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo ThS.Nguyễn Văn Vinh
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận
Nguyễn Văn Trung
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Nội dung, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
3.1 Nội dung, nhiệm vụ 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục của khoá luận 7
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH LÂY LAN BỆNH DỊCH HẠCH Ở NƯỚC ANH THẾ KỶ XIV – XVII 8
1.1 Bối cảnh lịch sử 8
1.1.1 Về chính trị 8
1.1.2 Về kinh tế 12
1.1.3 Về xã hội 16
1.2 Nguồn gốc và quá trình lây lan của bệnh dịch hạch ở nước Anh thế kỷ XIV - XVII 21
1.2.1 Bệnh dịch hạch 21
1.2.2 Nguồn gốc, quá trình lây lan bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV– XVII 26
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH DỊCH HẠCH ĐỐI VỚI LỊCH SỬ NƯỚC ANH THẾ KỶ XIV – XVII 37
2.1 Ảnh hưởng về chính trị 37
2.2 Ảnh hưởng về kinh tế 49
2.3 Ảnh hưởng về xã hội 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68
Trang 5KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 6Khoảng 8.000 năm TCN loài người đã bắt đầu biết trồng trọt và chăn nuôi Những người nông dân thuở sơ khai đã định cư sống cùng nhau trong những làng nhỏ sau này phát triển lên các thị trấn và các thành phố Vào khoảng thời gian 4000 – 3500 TCN tại lưu vực các con sông lớn như: sông Nile, Tigris và Euphrates đã lần lượt xuất hiện xã hội có giai cấp và nhà nước đó chính là những nhà nước cổ đại đầu tiên trong buổi bình minh của loài người là Ai Cập và Lưỡng Hà, muộn hơn một chút vào khoảng 3200 TCN tại lưu vực sông Indus và sông Ganges bắt đầu nền văn minh của người Arian, nhà Hạ cũng được thiết lập ở lưu vực sông Hoàng Hà vào khoảng thế kỷ XXI TCN … loài người đã chính thức bước vào thời kì cổ đại
Trong tiến trình lịch sử nhân loại, châu Âu có một quá trình xây dựng văn hoá và kinh tế tương đối lâu đời Chiều dài lịch sử văn minh châu Âu bắt đầu vào khoảng 4.500 năm TCN trên đảo Crete cho đến thời đại ngày nay đã trải qua vô vàn những biến cố, thăng trầm mà trong số đó chúng ta có thể kể đến những nền văn minh Hy Lạp cổ đại phát triển rực rỡ, sự vĩ đại của đế chế La Mã Thời trung cổ bắt
đầu bằng những cuộc xâm lăng và thống trị của những người “man tộc”, những
Trang 7cuộc thập tự đông chinh thần thánh, sự tàn phá của “Cái chết đen”, sự xuất hiện của
phong trào văn hoá Phục hưng, những cuộc cải cách và chiến tranh tôn giáo Sự xuất hiện của các cuộc cách mạng tư sản cũng đánh dấu thời cận đại,theo sau nó là những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng công nghiệp, sự tàn khốc của cuộc chiến thế giới thứ nhất qua đó nó cũng đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ cận đại Thời hiện đại đánh dấu bằng cuộc cách mạng tháng 10 Nga, sự huỷ diệt của cuộc chiến tranh thế giới thứ 2, cuộc chiến tranh lạnh giữa Liên Xô và Mỹ … đó là những dấu mốc không thể phai nhoà trong tiến trình lịch sử của khu vực này Có lẽ
“Cái chết đen” là một thước phim hấp dẫn nhất trong tiến trình lịch sử lâu dài đó
“Cái chết đen”là một thuật ngữ nhằm chỉ bệnh dịch hạch một bệnh dịch mang
tính huỷ diệt đi qua các nước ở nước châu Âu trong khoảng thời gian 1348 – 1353, đây là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại Bệnh dịch hạch là căn bệnh truyền nhiễm vô cùng nguy hiểm được gây ra bởi những con bọ chét từ loài chuột, sau đó lây lan sang con người với tỷ lệ tử vong rất cao, tốc độ lan truyền vô cùng đáng sợ Chính vì những lí do đó, bệnh dịch hạch luôn luôn được xem như là một căn bệnh nguy hiểm nhất đối với con người thời cổ đại và trung đại khi nó được nhắc đến ngay trong những thời kỳ đầu tiên của lịch sử, từ những mô tả sớm nhất của nhà sử học Hy Lạp Thucydides đã cung cấp cho chúng ta khá đầy đủ
về bệnh dịch hạch ở Athens trong những năm 430 – 426 TCN, trong buổi đầu thời
kỳ trung cổ bệnh dịch hạch lại một lần nữa bùng phát ở các nước Bắc Phi sau đó lan sang các nước ở khu vực Trung Cận Đông và toàn bộ khu vực Địa Trung Hải mà các nhà sử học thường gọi là bệnh dịch hạch Justinian Có lẽ đáng sợ nhất trong lịch
sử bệnh dịch của nhân loại là sự bùng phát của bệnh dịch hạch thường được với
thuật ngữ “Cái chết đen” ở thế kỷ XIV, nó đã ảnh hưởng trên một phạm vi tương
đối rộng cả ở phương Đông và phương Tây Vào thời kì cận đại, bệnh dịch hạch liên tiếp tái phát và bùng nổ mà đại dịch năm 1665 và 1894 là những ví dụ tiêu biểu Khả năng bùng phát một lần nữa của bệnh dịch hạch là rất cao và luôn là một nguy
cơ tiềm ẩn đối với nhân loại
Bệnh dịch hạch luôn là một vấn đề được cả xã hội quan tâm và luôn là một
đề tài thu hút nhiều sự chú ý của các nhà sử học
Trang 8Sau đợt thăm viếng lần đầu tiên của bệnh dịch hạch, từ thế kỷ XIV đến thế
kỷ XVII cứ theo chu kỳ từ 10 đến 20 năm thì bệnh dịch hạch lại bùng phát ở nước Anh một lần và chu kỳ đó chỉ kết thúc vào năm 1664 – 1665 khi trận Đại dịch hạch
ở London chấm dứt Bệnh dịch hạch là phần không thể thiếu trong lịch sử nước Anh giai đoạn từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, căn bệnh này đã gây ra sự hỗn loạn về chính trị, một xã hội đầy rẫy sự chết chóc, không ổn định và tâm lý dễ bị tổn thương trong cộng đồng Tuy nhiên bệnh dịch hạch cũng đem lại nhiều điểm tích cực về kinh tế và việc đổi mới công nghệ cũng như việc thay đổi phong tục tập quán của người dân Anh để đến thế kỷ XVII nước Anh trở thành một cường quốc hàng đầu châu Âu
Do đó nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử
nước Anh thế kỷ XIV – XVII” sẽ cung cấp cho chúng ta có một cái nhìn đầy đủ về
những đợt bùng phát của bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII cũng như ảnh hưởng của nó đến lịch sử nước Anh Đồng thời đề tài này cũng cung cấp cho chúng ta những kiến thức cần thiết về bệnh dịch hạch, sự nguy hiểm của bệnh dịch đối với nhân loại Ngày nay con người đang phải đối mặt với nhiều bệnh dịch nguy hiểm chúng ta phải có những biện pháp thích hợp để ngăn ngừa và phòng tránh
Lịch sử châu Âu thời kì trung đại là một chương quan trọng trong chương trình lịch sử lớp 10 trung học phổ thông Vì vậy đề tài này có khả năng đóng góp trong việc thực hiện những chức năng giáo dưỡng, giáo dục tốt nhất cho thầy và trò
ở trường trung học phổ thông sau này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu tìm hiểu về đề tài khoá luận Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối
với lịch sử nước Anh thế kỷ XIV – XVII là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn Đã có không ít những công trình khoa học nổi tiếng của các nhà sử học nước
ngoài nghiên cứu về “Cái chết đen”và những đợt bùng phát của bệnh dịch hạch ở
nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII đầu tiên chúng ta phải kể đến tác phẩm:
“Plague in London: A Case Study of the Biological and Social Pressures Exerted
by 300 Years of Yersinia pestis” của Alice Hall đã cung cấp cho chúng ta được
Trang 9những bức tranh khá sinh động về những đợt bùng phát và những ảnh hưởng của
bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII Tác phẩm “The Black
Death in Egypt and England A Comparative Study” của Stusart J Borch, cũng đã
cung cấp cho chúng ta những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch ở Anh và ở Ai Cập sau
Cái chết đen Tác phẩm “The Burdens of Disease Epidemics and Human Response
in Western History” của J.N.Hays, đã đề cập khá kỹ đến những ảnh hưởng của bệnh
dịch hạch đối với các nước Tây Âu và trong đó có đề cập đến những ảnh hưởng của
bệnh đối với nước Anh Tác phẩm “Plagues and Peoples” của William H Mc Neill
đã có những mô tả khá ngắn gọn về lịc sử của bệnh dịch hạch cùng với các loại dịch
bệnh mà nhân loại đã từng trải qua trong lịch sử Cuốn sách“Plagues in World
History” của John Aberth, có những mô tả khá tỉ mỉ về bệnh dịch trong lịch sử thế
giới trong đó cũng đã cung cấp cho chúng ta biết nhiều điều về bệnh dịch hạch ở châu Âu cũng như ở nước Anh thế kỷ XIV Hay một số tác phẩm cũng đề cập đến
bệnh dịch hạch như: “Biology of Plagues Evidence from Historical Popheclations”
của Susan Scott & Christopher J.Duncan, cũng có mô tả nhiều điều thú vị và những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ
XVII Hay tác phẩm cũng khá nổi tiếng là: “Daily Life during the Black Death” của
Joseph P Byrne, đã đề cập đến khá chi tiết và tỉ mỉ về những vấn đề về bệnh dịch hạch và những thống kê rất chi tiết về bệnh dịch hạch thế kỷ XIV ở các khu vực mà
bệnh đã đi qua Tác phẩm “Plague and poxes The Impact of Human History on
Epidemic Disease” của Alfred Jay Bollet M.D, cũng đã đề cập đến nhiều vần đề về
bệnh dịch hạch Ngoài ra còn nhiều cuốn giáo trình về lịch sử thế giới có đề cập đến bệnh dịch hạch ở châu Âu cũng như ở nước Anh thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII đây là những nguồn tư liệu vô cùng quý giá để tham khảo
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến lớn trong việc nghiên cứu chuyên ngành lịch sử thế giới, bằng một loạt các tác phẩm sử học nổi tiếng được ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của việc dạy và học lịch sử Tuy nhiên do thời lượng của chương trình quá ngắn mà lượng kiến thức lịch sử lại không giới hạn lên các sự kiện lớn của lịch sử nhân loại chỉ được trình bày ngắn gọn, xúc tích chưa đi sâu được vào các sự kiện Sự xuất hiện của bệnh dịch hạch ở
Trang 10nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII cũng đã được nhắc đến trong một số cuốn
sách tiêu biểu nhất là tác phẩm “Lược sử nước Anh” của Bùi Đức Mãn, NXB Tổng
Hợp thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 đã cung cấp cho chúng ta một số nét chính
về Cái chết đen và trận Đại dịch hạch năm 1664 – 1665 Những cuốn giáo trình hay
một số tác phẩm về lịch sử châu Âu đã được các dịch giả Việt Nam dịch sang tiếng Việt với những mô tả đơn giản, ngắn gọn hơn về bệnh dịch hạch trong số đó chúng
ta phải nhắc tới các tác phẩm: “Lịch sử thế giới trung đại” do Nguyễn Gia Phu (chủ
biên) Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La, NXB Giáo dục, Hà Nội năm
2010 “ Những mẩu chuyện về lịch sử thế giới tập I” do Đặng Đức Anh (chủ biên),
Đặng Thanh Tịnh, Đặng Thanh Toán, Lại Bích Ngọc, NXB Giáo Dục, Hà Nội năm
2010 hay các tác phẩm chuyên về lịch sử châu Âu như: “Lịch sử châu Âu” của tác
giả Norman Davies đã được Lê Thành dịch sang tiếng Việt, NXB Từ Điển Bách
Khoa năm 2012 Hai cuốn sách “Văn minh phương Tây lịch sử và văn hoá” của
Edward Mc Nallburns do trung tâm dịch thuật TP HCM dịch sang tiếng Việt, NXB
Từ Điển Bách Khoa năm 2008, “Văn minh phương Tây lịch sử phát triển văn minh
nhân loại” của tập thể Giáo sư Crane Brinton, John B Christopher, Robert Lef
Wolff Cuốn “Lược sử thế giới” của Patricia S Daniels – Stephen G Hyslop do tập
thể dịch giả Nguyễn Hiếu Nghĩa, Trần Văn Việt, Đoàn Hải Yến, Lâm Chí Cương,
NXB Từ Điển Bách Khoa năm 2007 Hai tác phẩm “Lịch sử văn minh phương Tây”
của tập thể các tác giả Mortimer Chanber, Barbara Hanwalt, David Herlihy, Theodore K.Rabb, Isser Woloch, Raymond Grew do tập thể dịch giả Lưu Văn Hy,
Nguyễn Đức Phú và nhóm Trí Tri,NXB Văn hoá Thông tin năm 2004 và cuốn “Nền
tảng văn minh phương Tây” của các học giả Mark Kishlasky, Patrich Geary,
Patricia O’Brien do Lê Thanh dịch, NXB Văn Hoá – Thông tin năm 2005 …
Nhìn chung chưa có tác phẩm nào đi sâu vào tìm hiểu Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh thế kỷ XIV – XVII Vì vậy tác giả quyết định
chọn đề tài: “Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh thế kỷ XIV –
XVII” làm đề tài khoá luận của mình
Trang 113.Nội dung, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Nội dung, nhiệm vụ
Tìm hiểu về đề tài “Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh
thế kỷ XIV – XVII” bắt đầu từ việc nghiên cứu về nguồn gốc và quá trình lây lan
của bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII và những ảnh hưởng cụ thể của bệnh dịch hạch trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ở nước Anh trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
Tìm hiểu về bối cảnh lịch sử nước Anh trước khi bệnh dịch hạch bùng phát Tìm hiểu về bệnh dịch hạch
Tìm hiểu về nguồn gốc và quá trình lây lan bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
Tìm hiểu về ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế
kỷ XIV đến thế kỷ XVII cụ thể trên lần lượt các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
– Không gian: do điều kiện nghiên cứu và khối lượng kiến thức có hạn nên tác giả không thể đi sâu vào tìm hiểu một cách tỉ mỉ, sâu sắc về những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra những thông tin, những nét chính và nổi bật nhất về những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
– Thời gian: trong khuôn khổ đề tài khoá luận này, tác giả tập trung nghiên cứu về những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này, tác giả đã sử dụng một số phương pháp:
– Sưu tầm, xử lý tài liệu
– Phương pháp lịch sử, phương pháp logic
– Phương pháp liên ngành: dân tộc học, văn học, địa lý…
Trang 12Qua đó nhằm rút ra những đánh giá, kết luận cần thiết để nêu bật được những ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
5 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: đề tài sẽ giúp chúng ta dựng lại một bức tranh toàn cảnh về bối cảnh lịch sử nước Anh, nguồn gốc và quá trình lây lan của bệnh dịch hạch đến nước Anh, ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII Trên cơ sở đó sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về sự huỷ diệt của bệnh dịch hạch bùng phát ở nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII và những ảnh hưởng tiêu cực lẫn tích cực của bệnh đối với lịch sử nước Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII lần lượt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội
Về mặt thực tiễn để lại bài học kinh nghiệm to lớn trong hoàn cảnh thế giới hiện nay khi chúng ta đã và đang phải đối mặt với một số dịch bệnh mang tính huỷ diệt
Đề tài khoá luận cũng cung cấp tư liệu và kiến thức phong phú khá sâu sắc đối với bản thân tác giả – với tư cách là giáo viên lịch sử trong tương lai để có thể
dạy tốt phần I “Lịch sử thế giới cổ trung đại” trong chương trình lịch sử lớp 10
6 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liêu tham khảo nội dung của khoá luận gồm hai chương:
– Chương 1: Nguồn gốc, quá trình lây lan bệnh dịch hạch ở nước Anh thế kỷ XIV – kỷ XVII
– Chương 2: Ảnh hưởng của bệnh dịch hạch đối với lịch sử nước Anh từ thế
kỷ XIV – XVII
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH LÂY LAN BỆNH DỊCH HẠCH Ở NƯỚC ANH
THẾ KỶ XIV – XVII
1.1 Bối cảnh lịch sử
1.1.1 Về chính trị
Theo các nhà sử học vào thời kỳ đồ đá mới ở nước Anh đã xuất hiện những
cư dân đầu tiên sống có lẽ là người Picts có tục vẽ và xăm mình Về sau có những đợt di cư của người Celts đến đất Anh họ là những người thuộc chủng tộc Aryen, cư trú trên những vùng đất rộng lớn ở phía bắc biển Caxpi, vùng đồng bằng sông Đanuýp Sáu thế kỷ sau có những đợt người di cư tếp theo, họ là những người Britons [4, tr 12 – 14]
Năm 54 và 55 TCN Cesar đưa quân đến đảo Anh và buộc các thủ lĩnh người Britons phải cống nạp và sự việc này chấm dứt vào năm 52 TCN Một thế kỷ sau, năm 43 quân đội La Mã theo lệnh của Cadius với 50.000 chiến binh đã quay trở lại
và chinh phục đất Anh một cách có hệ thống Mặc dù người La Mã đã cai trị miền nam nước Anh trong suốt 400 năm (43 TCN – 410 CN) nhưng họ không bao giờ khuất phục được các bộ tộc ở 1/3 phía bắc của hòn đảo này, một vùng mà họ gọi là Caledolia [57]
Sau khi người La Mã rút lui khỏi Anh, thì người Saxons đã chinh phục được những người Britons Đến năm 500 phần lớn lãnh thổ nằm dưới quyền kiểm soát của người Saxons và hơn 100 năm sau công cuộc chinh phục đã được hoàn tất Các cuộc xâm lăng từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI của người Saxons đã chia nước Anh thành các và vương quốc nhỏ với hơn hai mươi triều đại [4, tr 12 – 29]
Quân Norsemen hay Vikings là tên gọi những người cướp biển Bắc Âu xuất phát từ Đan Mạch và Thuỵ Điển Họ đến Anh lần đầu tiên vào năm 787, đến năm
851 thì họ đã hoàn toàn đã chiếm được Northumbria Sau đó họ đã nhiều lần quay trở lại xâm lược nước Anh vào các năm 979, 1016 trong số đó một số người quyết
Trang 14định ở lại và đã cộng cư rồi sau đó đã bị các cư dân bản điạ đồng hoá [4, tr 42 – 48;
39, tr 270, 271, 277]
Năm 911, vua Pháp Charlers le Simple ký hoà ước với một thủ lĩnh hải tặc là Rollo Theo hoà ước đó Rollo được phong tước quận công cai trị xứ Normandy Vào thế kỷ XI họ được coi là sắc tộc táo bạo nhất châu Âu và nổi tiếng và khả năng quân sự cũng như sự mộ đạo về sự ham thích học hỏi Năm 1051 William xứ Normandy sang thăm vua Anh Edward vì Edward không có con nối dõi, William đã lan truyền rằng Edward đã có lời hứa truyền ngôi lại cho ông sau khi qua đời Nhưng lời hứa không được Hội đồng Witan công nhận Sau đó tháng 9 năm 1056 quân Normandy đã tấn công và tiến vào nước Anh khi chiến thắng trận Hasting quyết định William lên ngôi vua Anh lấy hiệu là William I Phải đợi đến năm 1070 cuộc chinh phục của người Norman mới được hoàn tất [4, tr 52 – 58; 39 tr 300, 301]
Các vua Norman đã thay đổi hệ thống cầm quyền của người Saxons hơn là huỷ bỏ chúng và thêm vào vương quyền của người Saxons chế độ lãnh chúa và kiểm soát hành chính của người Norman Sau William (1066 – 1087) là các thời vua William I (1087 – 1100), Henry I (1110 – 1135), Hery II (1154 – 1189) Richard
I (1189 – 1199), Jon (1199 – 1216), Hery III (1216 – 1272), đã đi xa hơn nữa trong việc cải các quyền lực Từ đó nước Anh trở thành một nước có nền quân chủ mạnh hơn nước Pháp hơn 200 năm [36, tr 303; 39, tr 344 – 350]
Cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII, trước khi “Cái chết đen” xảy ra chính trị
nước Anh nằm dưới sự thống trị của 3 triều vua: Edward I (1272 – 1307), Edward II (1307 – 1327) Edward III (1327 – 1377) Dưới thời vua Edward II nhu nhược bị các nịnh thần và hoàng hậu Pháp lung lạc, các lãnh chúa lại nổi loạn dưới thời Hery III
và bắt vua thi hành các điều khoản trong bản hiến trương Oxford Các lãnh chúa nổi loạn lập thành 21 vị chấp hành quan để cai trị nước Anh và mọi việc phong chức và tuyên chiến phải được các vị này chấp thuận Nhưng các lãnh chúa cũng tham lam ích kỷ không kém gì bọn thư lại Hoàng hậu Isabelle dẫn đầu cuộc nổi loạn chống lại vua Edward, nhà vua bị bắt sau đó bị ám sát [12; tr 257]
Trang 15Dưới thời vua Edward III nhà vua đã thực hiện chính sách chống lại nước Pháp và chính sách này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Một trăm năm (1337 – 1453)
Năm 1328 Charles IV (con trai của Phillipe IV) vua nước Pháp sau khi chết không có người thừa kế, vua nước Anh là Edward III lấy tư cách là cháu ngoại Phillipe III (vua của nước Pháp) đòi kế thừa ngôi vua nước Pháp Hội nghị quý tộc nước Pháp lấy lý do theo trực hệ nữ, không có quyền thừa kế, lập Phillipe de Valois (Phillipe VI 1328 – 1350) thuộc nhánh họ Valois làm quốc vương từ đó bắt đầu vương triều Valois (Valoa 1328 – 1589) Năm 1337 thị dân ở Flandre phát động khởi nghĩa đuổi bá tước Flandre vốn chỉ nghe theo lệnh của vua Pháp Vua Pháp là Phillipe VI đã đàn áp cuộc khởi nghĩa và thiết lập sự thống trị trực tiếp lên vùng Flandre Vua Anh là Edward III ra lệnh cấm xuất khẩu lông cừu vào vùng Flandre, Flandre mất nguồn cung cấp nguyên liệu của nước Anh, quy tội cho vua Pháp
Năm 1337 vua nước Anh Edward sai người mang chiếu thư cho vua nước Pháp tiếp tục đòi ngôi vua nước Pháp và phái hạm đội chiếm đảo Cassand mở màn cho cuộc chiến tranh Một trăm năm
Nước Pháp liên minh với quốc vương Castile (Catxtinơ) trên bán đảo Pyrénes (Pinêrê) tổ chức thành hạm đội chuẩn bị xâm lược nước Anh Năm 1340 quân Anh đã thiêu trụi hạm đội Pháp và Castile Năm 1346 quân đội Anh và Pháp
gặp nhau ở Crécy, quân Pháp với đội kỵ binh được mệnh danh là “những đoá hoa
kiêu gạo của nước Pháp”, đã bị những xạ thủ của nước Anh đánh bại (xạ thủ chủ
yếu là nông dân tự do của nước Anh) chiến dịch này đã chứng tỏ chế độ kỵ sỹ đã chìm đắm Năm 1347 quân Anh chiếm thành Calias (Cale) ở hải cảng nước Pháp và
đã chiếm cứ nơi đây 2 thế kỷ
Năm 1355 chiến tranh lại nổ ra “hoàng tử đen” của nước Anh dẫn quân
xâm nhập nước Pháp, giáp chiến với kỵ binh hoàng gia Pháp tại Poities (Poachiê) Quân đội Pháp thất bại Năm 1356, 8.000 quân Anh đã đánh bại được hơn 4 vạn kỵ
binh Pháp, Jean vua Pháp “hiền từ” đã cùng con trai và hàng loạt quý tộc Pháp bị
bắt và trở thành tù binh của quân Anh Năm 1380 vua Pháp Charles V đã thu phục được phần lớn đất đai đã mất Năm 1415 quân Anh lại xâm lược nước Pháp phái Bourgogne (Buốcgônnhơ) đầu hàng, quân Pháp thất bại Năm 1420 hai bên Anh và
Trang 16Pháp đã ký hiệp ước quy định con gái Charles VI vua Pháp phải gả con gái cho Henry V vua của nước Anh, các hậu duệ của ông được kế thừa ngai vàng nước Pháp Năm 1422 vua Hernry V và Charles VI đều chết Phía nước Anh tuyên bố đứa con chưa đầy một tuổi của Henry V và con gái của Charles VI làm vua nước Pháp và nước Anh, nhiếp chính ở miền bắc của nước Pháp Thái tử Charles VII (1422 – 1461) làm con Charles VI nước Pháp cự tuyệt việc thừa nhận Henry VI, ông mang theo một bộ phận quý tộc Pháp lui về phía nam lấy thành Bourges (Buốcgôngiơ) làm căn cứ chống cự lại quân Anh
Nữ anh hùng Jeanne d’ Arc lúc đó mới 17 tuổi đứng lên tuyên bố rằng cô
đã nghe được tiếng của thượng đế bảo cô đi gặp Charles Cô đã thuyết phục lãnh chúa trong làng, sau đó được mấy người cùng cô đi lặn lội từ miền đông đến miền trung nước Pháp để yết kiến Thái tử Charles Mùa xuân năm 1429 Jeanne d’ Arc khắc phục được bao khó khăn và gặp được Thái tử Ngày 29 tháng 4 năm 1429 Jeanne d’ Arc khoác áo giáp xuất hiện dưới thành Onléans quân giữ thành Pháp bật lên sĩ khí, còn người Anh thì hoang mang lúng túng Ngày 8 tháng 5 năm 1429 quân Anh đã thất bại Onléans được giải cứu, cả nước Pháp biết được sự kiện này mọi
người đều gọi Jeanne d’ Arc là “cô gái Onléans”
Sau đó Jeanne d’ Arc đã chiến đấu và trở thành biểu tượng của dân tộc Pháp, không lâu sau đó phái Bourgogne đã bắt được Jeanne d’ Arc trước sự thờ ơ của triều đình và nhà vua Charles VII, và giao bán cho quân Anh với giá 1 vạn bảng
Anh, trước khi chết Jeanne d’ Arc đã nói “vì nước Pháp tôi coi cái chết là ngày trở
về” Người anh hùng của dân tộc Pháp đã bị toà án Rouen (Ruăng) kết tội là một
mụ phù thuỷ, đã sử tử người anh hùng dân tộc Jeanne d’ Arc ngày 30 tháng 5 năm
1431 khi ấy cô mới 19 tuổi Chính người Anh cũng phải thốt lên rằng “chúng ta đã
thiêu sống một nữ thánh”, còn ở Pháp đến năm 1920 Jeanne d’ Arc đã được phong
thánh, hằng năm ngày lễ kỷ niệm của Jeanne d’ Arc trở thành một ngày lễ của dân tộc Pháp Năm 1449 quân Pháp đã chiếm được Rouen nơi Jeanne d’ Arc bị sát hại, năm 1453 nước Pháp đã thu phục được toàn bộ đất đai nước Pháp, cuộc chiến tranh Một trăm năm đẫm máu giữa Anh và Pháp đến đây kết thúc (1337 – 1453) [2, tr 439 – 450; 18, tr 321, 313; 12, tr 257]
Trang 17Như vậy trước khi bệnh dịch hạch xuất hiện ở nước Anh từ thế XIV – XVII
về chính trị là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến khi nước Anh đã thống nhất được đảo Anh (trừ Xcốtlen) không những vậy nước Anh còn tìm cách mở rộng lãnh thổ ra bên ngoài để chứng tỏ sức mạnh của mình
1.1.2 Về kinh tế
Nền kinh tế nước Anh cũng giống như các nước ở khu vực Tây Âu thời kỳ trung đại là sự tồn tại của những lãnh địa phong kiến Lãnh địa thuộc quyền sở hữu của các lãnh chúa, không ai biết rõ quy mô trung bình của những đơn vị kinh tế này
là bao nhiêu nhưng con số ít nhất cũng từ 300 đến 400 acres Mỗi lãnh địa gồm một hay nhiều làng, đất đai do nông dân canh tác, đất và đồng cỏ là của chung, đất thuộc
về giáo xứ, và ruộng đất là của lãnh chúa bao gồm đất nông nghiệp phì nhiêu nhất trong lãnh địa Với một ngoại lệ nhỏ, đất nông nghiệp có thể canh tác đều được chia thành 3 khối chính: đất trồng trọt vào mùa xuân, đất trồng trọt vào mùa hè, và đất
bỏ hoang Những khối đất này được luân canh từ năm này sang năm khác sao cho đất trồng trọt và mùa xuân năm nay sẽ trở thành đất trồng trọt vào mùa thu năm tới
và cứ thế tiếp diễn Hệ thống như thế được gọi là hệ thống luân canh ba mảnh nổi tiếng có vẻ xuất xứ ở nước Anh vào thế kỉ VIII
Nông nghiệp trong lãnh địa cũng được tiến hành trên diện rộng trong hệ thống khối mở, quyền sở hữu phân phối cho mỗi nông dân không phải là diện tích trong cùng một khối mà gồm nhiều dải đất nằm một trong ba khối đất có thể canh tác Những dải đất này trung bình có diện tích 1 acer, thường được tách riêng bằng một dải đất hẹp là lớp mặt chưa cày Khi canh tác những dải đất này nông dân thường hợp tác với nhau, chủ yếu là vì đất họ sở hữu nằm rải rác, do đó thật lôgic đối với những người cùng nhau hợp sức để canh tác tất cả diện tích trên một dải đất
cụ thể, ngoài ra không có nông dân nào có đủ kéo cày làm bằng gỗ Lãnh địa phong kiến là những đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp ngoài việc sản xuất nông nghiệp, trong lãnh địa còn sản xuất thủ công nghiệp như một số nghề: mộc, rèn, diệt vải, … Như vậy các lãnh địa về cơ bản có thể thoả mãn được nhu cầu về lương thực và thực phẩm cũng như các đồ dùng hàng ngày của lãnh chúa và nông nô Chỉ có những thứ không sản xuất được như muối, sắt và những thứ xa xỉ như lụa, hương liệu, vũ khí
Trang 18… sản xuất từ các nước phương Đông mới phải mua từ các lái buôn Ảrập [18, tr 300; 5, tr 24, 25]
Đến thế kỉ XI nền kinh tế nước Anh cũng như một số nước Tây Âu khác có một bước tiến quan trọng mà biểu hiện ở sự phát triển phát triển thủ công nghiệp và nông nghiệp
Trong thủ công nghiệp nhiều nghề mới đã ra đời với trình độ kĩ thuật ngày càng hoàn thiện Đó là các nghề khai mỏ luyện kim chế tạo vũ khí, thuộc da, diệt, len dạ, làm đồ gốm bằng bàn xoay… Sự tiến bộ ấy của thủ công nghiệp đòi hỏi phải có những người thợ thủ công chuyên môn hóa, đồng thời phải biến thủ công nghiệp từ một nghề phụ của nông nghiệp trở thành một ngành độc lập
Trong nông nghiệp cũng có nhiều tiến bộ như cách sử dụng cày nặng có bánh Vào thời Crolingian (Pháp), người nông dân đã biết đến những cách tân, nhưng chỉ rời rạc và rồi đều đó đã trở thành chuẩn mực ở thế kỷ XII và XIII Theo lối cổ truyền thì người nông dân ở châu Âu và ở nước Anh thời trung cổđều cày xới bằng loại cày đơn giản, chỉ có thể làm vỡ những loại đất nhẹ nhưng không thể cày xới loại đất xét nặng nề dày và cứng Với chiếc cày được cải tiến thì cổ chiếc cày gồm một con dao bằng kim loại gắn trên lưỡi cày để xẻ đất góp phần rất lớn vào việc sản xuất nông nghiệp Không những vậy lối dùng ngựa kéo
và những cối xay gió bắt đầu xuất hiện ở đồng ruộng châu Âu và nước Anh, nhất
là ở những miền đất phẳng tại các quốc gia vùng thấp, nơi không có thác để chạy máy xay nước Dần dần những nhà phát minh vô danh thời trung cổ đã đưa những cối xay đến chỗ hoàn bị bằng hệ thống số (giúp đá xay chạy nhanh hơn, xay được nhanh và nhiều hơn), nông cụ được cải tiến diện tích canh tác không ngừng được
mở rộng năng suất lao động không ngừng được nâng cao sản lượng, chủng loại tăng lên nhiều [5, tr 29, 36, tr 276]
Thời kỳ 1210 – 1300 được coi là giai đoạn tăng trưởng kinh tế đáng kể, dựa trên những số liệu dân số Sự tăng trưởng này thường được quy cho những cải tiến trong công nghệ và thương mại [23, p.3]
Cùng với sự phát triển các ngành nghề, nhu cầu sản xuất cũng gia tăng Hàng công nghiệp chủ yếu là dạ (nỉ) Những đồng lúa biến thành những đồng cỏ
Trang 19nuôi cừu để lấy len Ở châu Âu lúc thuở ấy có hai xứ nổi tiếng nghề diệt len dạ và Flandes và Toscana Flandes nằm ở một vị trí thuận lợi giữa Anh, Pháp và Đức Người thợ Flandes có nhiều kinh nghiệm về nghề dệt dạ và họ đến định cư tại Anh, dạy nghề cho cư dân Anh Nghề dệt len dạ ở Anh đã dần đi đến chỗ sử dụng một lực lượng lao động lớn, được đa dạng hoá, lực lượng lao động này chế biến được các nguyên vật liệu mang đi khắp thế giới Thậm chí ở Anh nghề dệt len dạ
có ảnh hưởng đến việc đặt các tên, họ Ví dụ Weber có nghĩa là người thợ dệt, Fuller người chội và hồ vải, Shearer người cắt tuyết, và Dyer hay thợ nhuộm và Tailor thì quá rõ ràng Nhờ vậy dân Anh dùng chính len dạ từ những đàn cừu mà
họ đã chăn nuôi để dệt dạ, không như trước khi chỉ xuất khẩu len của họ [39, tr
374, 375; 36, tr 287, 288]
Thương mại ở nước Anh có những bước phát triển mạnh từ sau các cuộc Thập Tự Chinh Trước kia nền thương mại chỉ hạn hẹp trong từng vùng hay giữa những miền gần nhau mà còn đi xa hơn, trên những con tàu buồm viễn dương từ nước Anh đến Ấn Độ Dương hay Địa Trung Hải Tàu nước Anh chở len dạ ra nước ngoài và mang về Anh các mặt hàng như: rượu nho từ Bordeaux, tơ lụa từ phương Đông và các hương liệu và đồ gia vị Các hải cảng thuộc miền nam nước Anh như: Dover, Sandwich, Hastings, Romney và Hythe tấp nập tàu bè buôn bán với những hải cảng lớn của Địa Trung Hải như Venice, Genoa [4, tr 96 – 98]
Sự phát đạt của kinh tế nước Anh còn thể hiện trong sự xuất hiện của thành thị trung đại ở nước Anh, London là thành phố đông dân thứ hai châu Âu (sau Pari), vào đầu thế kỷ XIII có 60.000 người [39, tr 372] Thành phố quan trọng nhất trong miền bắc nước Anh, là York có lẽ đã có khoảng 10.000 người trong năm 1300 Các cảng hưng thịnh như Norwich và Bristol có thể đã có 500 ngàn dân Hầu hết các thành phố ở nước Anh đều có đặc điểm giống những thành thị châu Âu thời trung cổ khi các thành thị đó phát triển nhanh đến mức hầu như không thể đưa ra một tiêu chuẩn tối ưu về sự có lợi cho sức khỏe và tiện nghi đối với cư dân cho dù đã có đủ kiến thức, hiểu biết và thiên hướng muốn đưa ra một tiêu chuẩn như thế Họ sống chen chúc nhau tệ hại đến mức đôi khi có đến 16
Trang 20người ở trong 3 phòng, điều này kém xa tiêu chuẩn vệ sinh trong thành phố của
đế chế La Mã thời kỳ cổ đại
Nhà cửa được xây dựng, các tầng trên nhô ra ngoài phố, đường sá hẹp, quanh
co và nói chung trong nhiều thế kỷ vẫn chưa lát đá Không gian trong thành phố quá
tù túng, đường sá làm sân chơi cho đám con trai và thanh niên Nhìn chung các thành thị nước Anh đầu thế kỷ XIII, bấy giờ rất thô sơ, xung quanh thành phố có thành xây bằng đá bằng gạch, thậm chí bằng gỗ, có hào sâu có tháp canh, có cổng thành chắc chắn cứ đến tối thì đóng lại Những công trình ấy dùng để bảo vệ dân cư thành phố đề phòng sự tấn công của kẻ thù Khi cư dân tăng lên, trong thành phố không còn chỗ để ở thì người ta phải sinh sống ở ngoài thành Ở phía ngoài khu cư trú mới này, người ta lại xây dựng một vòng thành những công trình phòng vệ mới
và tình hình ấy có thể diễn lại một vài lần nữa cùng với sự tăng lên không ngừng của cư dân thành thị
Trong thành phố, đường phố ngang dọc chằng chịt, nhưng chật hẹp và đầy rác rưởi Những người thợ thủ công cùng nghề thường sống tập trung thành một khu vực, do đó tên phố được gọi theo tên nghề nghiệp như phố thợ rèn, phố thợ mộc phố thợ dệt, … Nhà cửa tuy phần lớn làm bằng gỗ nhưng có nhiều tầng, tầng trên thường nhô ra ngoài mà đường phố thì hẹp, nên các tầng trên của các nhà lầu hai bên phố gần chạm vào nhau, do đó có những đường phố hầu như không bao giờ có ánh nắng [5, tr 30, 31]
Tiêu chuẩn vệ sinh trong các thành phố Anh thời kỳ thế kỷ XII và đầu thế
kỷ XIII rất mất vệ sinh Đa số thành phố phải lệ thuộc vào giếng nước hay sông ngòi là nguồn cung cấp nước, mặc dù vài thành phố có cống ngầm nhưng có vẻ như chưa có quy định về việc thu gom rác để cuối cùng được nước mưa hay bầy heo, bầy chó tha đi Về nguyên tắc nhà nào chịu trách nhiệm giữ sạch trước cửa nhà người ấy, trước hết không bày bẩn, không được đổ rác vật liệu, đất đá, sau đó luôn được quét sạch, thực tế khi mà nhà cửa san sát chiếm hết chỗ của sân vườn, thì phải vứt ra trước cửa rồi thả các loại gia súc nhỏ như dê, lợn, cừu thường thả
ăn trong nội thành nhất là lợn thường kiếm thức ăn ở các đống rác đổ bừa bãi trên các đường phố [18, tr 322; 39 tr 372, 373]
Trang 21Thời kỳ này những người nghèo thì đi tắm ở những nơi công cộng nơi đây
là nơi tắm chung của mọi người, con người thời trung cổ tắm không chỉ vì mục đích làm sạch cơ thể mà theo họ đó còn là niềm vui vì nhục dục [24, pp 36] Chính vì điều này đã làm giảm đáng kể tuổi thọ của chính họ, nhưng sự không sạch sẽ này còn tạo cơ hội cho một số bệnh lây lan trong đó phải kể đến một số bệnh thường xuyên bùng phát trong các thành thị nước Anh như: tiêu chảy, kiết
lỵ, sốt thương hàn, lao cúm, đậu mùa, sởi, và đặc biệt là dịch hạch
1.1.3 Về xã hội
Từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến ở nước Anh, trong thời kì này chế độ nông nô ngày càng vững chắc thế lực giai cấp ngày càng phát triển
Đời sống của giới quý tộc phong kiến hầu như không phải là cuộc sống điền viên như thường được mô tả trong các tiểu thuyết lãng mạn Vào mùa đông và mùa thu dinh thự của các nhà quý tộc Anh là trung tâm của những buổi yến tiệc, rượu chè Tại đây những người quý tộc thế lực tập hợp những người ủng hộ mình họ mời nhau ăn uống thoả thích Ngoài ra tại những dinh thự này họ tiếp đón những đối thủ của họ, trù tính chuyện liên minh và giải quyết những bất đồng Cũng trong khoảng thời gian quý báu này các nhà quý tộc phần lớn giành thời gian để đi săn nai và heo rừng trong những khu rừng của họ Săn bắn không chỉ đơn giản chỉ là một trò thể thao mà chủ yếu chuẩn bị cho việc chinh chiến, một hoạt động của những tháng mùa hè Ngay sau khi tuyết mùa đông bắt đầu tan và đường sá thông suốt các nhà quý tộc tập hợp tuỳ tùng của họ và ra trận Kẻ thù của họ gồm nhiều hạng khác nhau Có thể là những dòng họ thù địch mà hận thù nhau qua nhiều thế hệ [36, tr 255]
Trong khi chắc chắn có rất nhiều sự hứng thú từ cuộc sống của những người quý tộc, nhưng cũng có nhiều sự đau khổ và họ thường bị chết non Từ một công trình nghiên cứu tỉ mỉ bộ xương của người trung cổ, một nhà khoa học hiện đại phỏng đoán rằng tỉ lệ tử vong cao nhất trong thời phong kiến thường xảy ra ở tuổi
42, trong khi hiện nay là ở tuổi 75 [18, tr 303] Ngoài ra, điều kiện sống thậm chí đối với các nhà quý tộc giàu nhất cũng tương đối nghèo khổ Thời kỳ này lâu đài
Trang 22phong kiến không gì khác hơn là một tòa nhà thô sơ bằng gỗ Thậm chí các lâu đài bằng đá đồ sộ vào cuối thời trung cổ cũng chưa phải là những nơi ở tiện nghi, thoải mái Phòng ốc tối đen, ẩm ướt, tường đá thô trần trụi, lạnh lẽo, ảm đạm Cho đến sau khi phục hồi thương mại với phương Đông mới dẫn đến du nhập thảm, thời kỳ này sàn nhà thường được phủ bằng rơm rạ, người ta phủ lớp rơm mới lên theo từng thời điểm trong khi lớp rơm cũ trở thành ổ của đám chó săn Thức ăn của những người quý tộc và gia đình, mặc dù phong phú và thừa thãi nhưng không đa dạng và cũng chẳng ngon miệng Thịt cá, pho mát, cải bắp, củ cải, cà rốt, hành tây, đậu là những món ăn kiêng thông dụng, loại trái cây duy nhất thừa thãi là táo và lê Cà phê, trà, gia vị, đường,… luôn được xem là những mặt hàng xa lạ [18, tr 303, 304]
Số phận của nông nô nước Anh trong thời trung cổ là tầng lớp có địa vị thấp nhất trong xã hội, nông nô có xuất thân từ những người nô lệ và nông dân tự do biến thành, họ bị lệ thuộc không ai có quyền tự do, lãnh chúa phong kiến có thể tuỳ
ý đánh chửi, ngược đãi thậm chí có thể đem bán họ cùng với ruộng đất Đối với việc kết hôn của nông nô đêm tân hôn, cô dâu phải phục vụ cho chúa phong kiến mà
người ta thường gọi là “quyền hưởng đêm đầu”, nếu kết hôn với nông nô thuộc lãnh
địa khác phải nộp thuế kết hôn cho lãnh chúa Sau khi nông nô chết, đến đời con trai
kế thừa phần đất đai của cha mình, phải nộp thuế kề thừa mà lãnh chúa gọi là “thuế
người chết” Đa số nông nô chỉ có trang trại với diện tích rất nhỏ bé, năng suất chăn
nuôi thời trung cổ rất hạn hẹp, trang trại của họ chịu sự quản lý của lãnh chúa, họ không được tự chủ,nguồn thu nhập hàng ngày không đủ cho cuộc sống thường ngày
và nông nô buộc phải tìm kiếm nguồn thu nhập khác thay thế Bản thân họ có thể thuê mướn đất từ các lãnh địa láng giềng khi lãnh chúa ở đó có nhiều đất hơn và giàu có hơn lãnh chúa của họ Sau khi thu hoạch xong mùa vụ, một số nông nô tìm thấy việc làm trong các nghề như câu cá hay khai thác mỏ Phụ nữ sẽ tìm được việc làm lâu dài hơn như làm thợ dệt Trong một số vùng của Anh có khoảng 70 % thu nhập của các hộ gia đình nông dân dựa là thêm thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp Điều đó dẫn đến nguồn cung cấp lao động theo ngày mùa là rất cao và tiền lương thường rất thấp Trong các mùa trồng trọt và thu hoạch, ít ra, họ phải lao động quần quật từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn trong khi phần thưởng cho
Trang 23công sức lao động đã bỏ ra thật ít ỏi Ngoài vệc canh tác và trồng trọt ra người nông
nô còn phải làm việc trong các công trình sửa chữa, vận tải, cầu đường, ủ men nấu rượu và nộp những vật tươi sống như gà, vịt, cá trứng với một định lượng nào đó cho lãnh chúa Ngoài việc phải nộp tô lao dịch và tô tiền cho lãnh chúa thì nông nô
còn phải nộp cho giáo hội 1/10 thu nhập gọi là thuế “thập nhất” [2, tr 303]
Trung tâm của đời sống của người nông nô nước Anh thường xoay quanh trong những ngôi làng, căn nhà và đồng ruộng của họ Ngôi làng thời trung cổ trung bình có dân số 500 – 700 người, chủ yếu 90 % dân số của nước Anh sống ở ngôi làng nhỏ và chỉ có khoảng 10 % sống ở khu vực đô thị [15; pp 22] Nhịp sống của
họ bị trói chặt vào chu kỳ nông nghiệp, vào gieo trồng và thu hoạch vốn không mấy thay đổi từ thời cổ đại Tháng giêng và tháng hai là những tháng không hoạt động, khi cả gia đình quây quần để chống cái rét và cố tồn tại bằng cái gì còn lại từ vụ mùa năm trước Sang tháng ba họ cắt tỉa cây nho để chúng cùng nhau lớn mạnh trong mùa tới Bò được đưa ra đồng vào tháng tư Tháng năm là tháng cắt cỏ khô và phơi khô và tháng tám là mùa gặt Tháng chín, tháng mười là tháng thu hoạch nho
và cấy lúa (có lẽ đây là một bước đổi mới từ thế kỷ thứ VIII) Sang tháng mười một, rượu nho mới được đổ vào thùng để ủ, lúa được xay xát và đàn heo (nguồn thịt chủ yếu của người nông nô) được dẫn vào rừng để chúng ăn hạt và củ Tháng mười hai
là tháng mổ thịt và rồi cả gia đình lại phải đương đầu với một mùa đông rét mướt [36, tr 252 – 255]
Nhà ở của người nông nô thường là một nơi tồi tàn, dơ dáy, khốn khổ, làm từ các tấm liếp trát bùn Người ta khoét một lỗ trên mái tranh để có chỗ cho khói thoát Sàn nhà bằng đất thường lạnh lẽo, ẩm ướt những lúc mưa và tuyết rơi Nông nô làm giường ngủ bằng một cái thùng độn đầy rơm, ghế ngồi là chiếc ghế đẩu 3 chân Thức ăn của họ thường rất đơn điệu – bánh mì đen hoặc nâu, một ít rau hái ngoài vườn trong mùa hè và mùa thu, pho mát và súp, thịt và cá muối, thường nấu qua loa, và thường bị thối rữa một nửa Khi mùa màng thất bát, họ bị đói và chết đói không phải là chuyện xa lạ Lẽ đương nhiên, họ mù chữ và thường là nạn nhân của tính bất lương của những người quản lí vô liêm sỉ
Trang 24Những người nông nô ở nước Anh có xu hướng kết hôn rất muộn Đàn ông thường kết hôn ở tuổi 28, trong khi phụ nữ ở tuổi 23 Hoàn cảnh kinh tế và chất lượng cuộc sống đã ảnh hưởng đến số lượng trẻ em trong các gia đình nông dân Gia đình nông dân bình thường chỉ có từ 2 đến 3 người con, đối với những gia đình nông dân khá giả hơn họ thường có 5 người con [32, pp 51 – 52]
Sự cơ cực trong cuộc sinh tồn tẻ nhạt làm tắt ngấm mọi khả năng hiểu biết đạo đức bất kì mà lẻ ra họ phải có Một du khách thời trung cổ miêu tả vào mùa hè
mình “nhìn thấy hầu hết số nông dân trong phiên chợ đang đi bộ trên đường, trên
quảng trường trong làng không hề có mảnh vải khoác người, thậm chí quần dài che thân để cho mát Khi một số thầy tu bị sốc khi nhìn thấy cảnh tượng này, họ phản đối, thì số nông đân gắt gỏng đáp lại: “mắc mớ gì ông? [18, tr 308] Nhưng có lẽ
tình cảnh thảm thương nhất trong đời sống nông nô đó là họ luôn bị coi là một sinh vật bị khinh miệt, bị hạ thấp giá trị Người ta nói rằng tất cả nông nô đều là những
người quỷ quyệt, chậm hiểu, bần tiện, mắt lé, xấu xí, họ “sinh ra từ đống phân
lừa”, và “ quỷ dữ không muốn họ ở địa ngục vì họ hôi hán” Con cái nông nô có rất
ít cơ hội được học hành, có những người nghèo túng quá không nuôi được con cái, đành phải mang đến ở cho nhà thờ, hoặc vứt bỏ trên bãi cỏ, con cái của nông nô lúc nhỏ không có người chăm sóc, sau khi được 5, 6 tuổi phải đi chăn dê, chăn ngỗng, tham gia sản xuất [2, tr 417, 418]
Dân số châu Âu đã tăng gấp đôi từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII [16, pp 22] Từ thế kỷ X – XIII châu Âu đã được hưởng khí hậu ấm áp, nhưng từ cuối thế kỉ XIIIvới những mùa đông kéo dài đặc biệt là năm 1307, đã có một mùa đông lạnh bất thường trong 300 năm điều đó đã ảnh hưởng tới mùa màng Mùa thu năm 1314, mưa lớn liên tục trong vài năm liền đã làm thối rữa, nông sản trên các cánh đồng và khiến người ta không thu hoạch được, nền nông nghiệp vốn đã yếu kém ở đây nay lại càng suy sụp Số lượng cây trồng chết gây ra bởi lạnh và mưa thường xảy ra theo chu kỳ 5 đến 10 năm (1272, 1277, 1283 và 1292) đã gây đến hậu quả sản lượng nông nghiệp bị giảm mạnh [24, pp 41; 32, pp 50] Tình trạng này kéo dài, liên tục trong nhiều năm ở các bộ phận khác nhau của châu Âu 1315 và 1319, các năm
1345, 1348 Những ảnh hưởng của mất mùa là nạn đói 1315 – 1317 Nạn đói trong
Trang 25những năm 1315 – 1317 đã giết chết chừng 10% dân số châu Âu, đây được coi là nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử châu Âu Khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất của sự thiếu hụt lương thực là Bắc Âu, nơi đất đai kém màu mỡ hơn nhiều vùng của khu vực Địa Trung Hải Không dừng lại ở đó năm 1339 và 1440một số vùng Nam
Âu đã bi nạn đói tấn công Trong 5 tháng trong của năm 1316 thị trấn Flemish của Ypres (Bỉ) mất 10 % dân số [24, pp 41, 42]
Trong các nạn đói những người chết đói không những đã ăn lượng lương thực dự trữ mà còn ăn gần hết hạt giống để trồng trọt, thậm chí ở một số tài liệu còn nhắc tới việc ăn thịt người Chỉ có một mùa thu hoạch thật tốt mới có thể bù lại cho lượng lương thực vừa dùng làm thức ăn và đủ dùng làm giống để cấy các vụ khác trong tương lai Khi mất mùa, các tu viện và những cơ quan từ thiện cũng không thu hoạch được vụ mùa của họ nên không thể cứu trợ nạn đói Cũng như những nước khác nước Anh cũng chịu ảnh hưởng do nạn đói và mất mùa ví dụ như khu vực Halesowen, 15% dân số đã chết.Vua nước Anh đã cố gắng nhập một số tàu lương thực để phân phối trong những năm này, nhưng lượng thóc lúa lúc này đã rơi vào tay những tên cướp trước khi đến được Anh quốc [39, tr 409, 410] Hầu như tất cả các loại lương thực chính đều không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, kéo theo
đó là tình trạng suy dinh dưỡng và giảm sức đề kháng, đây sẽ là những điều kiện vô cùng lý tưởng để bệnh dịch lây lan
Một đợt dịch sốt thương hàn đã xảy ra như điềm báo trước cho đại dịch sắp tới, hàng nghìn người đã chết tại các khu đô thi đông đúc, đặc biệt là ở Ypres Năm
1318, tới lượt một đợt dịch không rõ nguồn gốc đã bùng phát, đôi khi được cho là bệnh than, đã tấn công các đàn gia súc nước Anh như cừu, bò, khiến cho sản lượng lương thực càng sụt giảm Trước khi bệnh dịch hạch xảy ra người dânở Anh thường thiếu hụt dinh dưỡng (protein, sắt, vitamin), ăn các loại thực phẩm hư hỏng, và họ thường mắc bệnh còi xương
Đó là bức tranh xã hội nước Anh trước khi bệnh dịch hạch bùng phát, cuộc sống không mấy hạnh phúc của lãnh chúa và quý tộc phong kiến và một cuộc sống
vô cùng cơ cực của những người nông nô Chính cuộc sống cực khổ và chế độ ăn uống không đảm bảo của người nông nô càng làm cho dịch bệnh dễ dàng lây lan và
Trang 26ảnh hưởng lớn Không những vậy trước bệnh dịch hạch nước Anh còn xảy ra nạn đói vô cùng nghiêm trọng trong những năm 1315 – 1317 đã khiến tình hình nước Anh thêm rối ren trước bệnh dịch hạch, nước Anh đã trở lên vô cùng yếu ớt trước trận đại dịch mang tính lịch sử này
1.2.Nguồn gốc và quá trình lây lan của bệnh dịch hạch ở nước Anh thế kỷ XIV
- XVII
1.2.1 Bệnh dịch hạch
Các tài liệu thời Trung cổ trung cổ nói về “ôn dịch”, “bệnh dịch” (từ chữ Latin là “plaga” có nghĩa là “một đòn”hoặc “một cơn hoạn nạn” Thuật ngữ
“Black Death” lần đầu tiên được đặt ra trong thế kỷ XVI và được sử dụng phổ biến
rộng rãi trong thế kỷ XIX [26, p.1]
Các trường hợp xuất hiện của bệnh dịch hạch ở con người đã được biết đến
từ những thời kỳ lịch sử xa xưa Mặc dù việc xác định nó là vô cùng khó khăn trên
cơ sở các thông tin còn lại từ quá khứ xa xôi để phân biệt bệnh dịch hạch từ những dịch bệnh lan truyền cấp tính khác, những gì còn lại cung cấp cho chúng ta rằng có thể đã xuất hiện một trận dịch hạch có nguồn gốc ở một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại ở Tây Á Các trường hợp đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của bệnh dịch hạch được ghi nhận ở Philistines vào năm 1320 TCN, đã được mô tả trongKinh Thánh (I Samuel, V và VI) [51, pp.12]
Một trận dịch bệnh có quy mô lớn đầu tiên của nhân loại đã xảy ra trong những năm 430 – 426 TCN, đã tấn công các thành phố của Athens trong cuộc chiến tranh Peloponnesian giữa thành bang Athens với thành bang Sparta Đa số các học giả đều cho đó là một trận dịch hạch và nó từ lâu đã được các sử gia Hy Lạp quan tâm, đầu tiên chúng ta phải kể đến nhà sử học lỗi lạc Thucydides1
người đã tham gia
và chứng kiến trận dịch hạch này và tất cả những gì diễn ra đã được ông mô tả
trong một phần của tác phẩm sử học “Peloponnesian War” [48, p 2 – 5; 50, pp
161, 162]
1 Thucydides (460 – 395 TCN) là một sử gia cổ đại Hy Lạp
Trang 27Sự bùng phát của bệnh dịch là tất nhiên, không có gì mới trong lịch sử đế chế
La Mã Livy ghi chép được ít nhất là 11 trường hợp thảm họa thuộc về bệnh dịch hạch trong thời kỳ Cộng Hòa, sớm nhất vào năm 387 TCN Một trận dịch khác tấn công thành phố Rome vào năm 65 CN và nó lại bùng phát một lần nữa ở nơi đây năm 165 CN mà người ta thường gọi là bệnh dịch hạch Antonine Một đợt dịch hạch đã tiếp tục xảy ra vào năm 251 – 266 [50, pp 175, 176; 6, pp 18 – 19]
Liên tục từ năm 542 đến 750 đã nổ ra nhiều trận dịch hạch mà theo một mô
tả dài dòng và chính xác bởi Procopius2đợt dịch bệnh này được gọi là gọi là bệnh dịch hạchcủa Justinian Đợt cao điểm của bệnh dịch hạch lần này theo Procopius giết chết 10.000 người mỗi ngày ở Constantinople [25, pp 23, 24; 50, pp 184 – 189]
Đối với bệnh dịch hạch, những mô tả chính thức ở Trung Quốc sớm nhất về căn bệnh này là từ những năm 161 – 162 và những năm 310 đến 312, một trận ôn dịch lớn có lẽ đó là bệnh dịch hạch, đã bùng phát trong quân đội Trung Quốc ở các tỉnh tây bắc của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh chống lại các dân tộc du mục miền bắc, và điều này lại lặp lại một lần nữa vào năm 312 Tiếp đó một số người viết nhắc đến một trận dịch hạch xảy ra vào năm 542, đợt dịch bệnh này đều bùng phát ở tỉnh Quảng Đông Một loạt các dịch bệnh bùng phát trong tỉnh ven biển của
Trung Quốc, bắt đầu vào những năm 762 khi “hơn một nửa dân số của tỉnh Sơn
Đông chết” và nó liên tục xuất hiện lặp đi lặp lại đến năm 806 và đã gây ra tỉ lệ tử
vong rất cao ở tỉnh Chiết Giang [50, pp 195 – 198]
Đại dịch bệnh dịch hạch nổi tiếng nhất mang tên “Cái chết đen”của thế kỷ
XIV (1347 – 1350) Đại dịch này đã làm 50 triệu người chết, tức một nửa dân số châu Á và ở 1/3 dân số châu Âu, và một phần dân số ở châu Phi.Đây chính là sự khởi đầu của một số đợt sự bùng phát của bệnh dịch hạch, tàn phá châu Âu và châu Phi trong những thế kỷ tiếp theo
Đại dịch lớn gần chúng ta nhất bắt đầu tại Quảng Châu và Hồng Kông vào năm 1894 và nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, bởi chuột trên chiếc tàu hơi nước
2
Procopius hay còn gọi là Procopius Caesarea (500 – 560) ông trở thành nhà sử học tiêu biểu của thế kỷ thứ VI, ông thường viết về các cuộc chiến tranh của Justinian
Trang 28mau lẹ Trong thời gian 10 năm (1894 – 1903) bệnh dịch đã ghé thăm 77 cảng trên
5 châu lục Bệnh dịch hạch trở nên phổ biến trong một số quốc gia Tại Ấn Độ, đã
có hơn 6 triệu người chết 1898 – 1908 [52, pp 26; 50, pp 223 – 225]
Ngày nay các ổ dịch hạch tự nhiên của bệnh dịch hạch tồn tại ở Bắc và Nam
Mỹ, châu Phi và châu Á, và trong chừng mực nào đó ở đông nam châu Âu [51, pp.14, 15]
Bệnh dịch hạch được gây ra bởi một loại vi sinh vật, vi khuẩn Yersinia
pestis(trước đây gọi là Pasteurella pestin hoặc Bacterium pestis) một loại ký sinh ở
những loài gặm và nhấm đào hang khác nhau Được một sinh viên tên là Alexandre Yersin3 đã áp dụng nhiều thành tựu tiên tiến của khoa học cùng với những thành tựu
mà 2 trường phái nghiên cứu về bệnh dịch hạch tiêu biểu đầu thế kỷ XIX là Louis Pasteur và Robert Koch đồng thời cũng là người thầy của mình đã khám phá ra vi khuẩn gây bệnh dịch hạch ở cả động vật gặm nhấm và con người vào năm 1894
Lúc đầu nó mang tên là Pasteurella pestis tuy nhiên sau đó vào năm 1970 được đổi tên là Yersinia pestis, để tưởng nhớ công lao của Alexandre Yersin [50, pp 222]
Yersinia pestis là các vi sinh vật xuất hiện từ những xác chết của động vật gặm nhấm, bọ chét sẽ cắn động vật gặm nhấm bị nhiễm bệnh và sau đó mang vi khuẩn này tới loài gặm nhấm khác, nhiều động vật gặm nhấm có thể mang bệnh dịch hạch bao gồm: chuột, sóc đất và chó thảo nguyên, nhưng động vật gặm nhấm thường xuyên bị mắc bệnh nhất là những con chuột, mà người ta thường gọi chúng
là chuột đen (Rattus rattus) [24, pp 37; 49, pp 50 – 53] Loài chuột này có khả
năng leo trèo, chúng thường ở trong nhà của con người và thường xuất hiện ở khắp mọi nơi đặc biệt là các bến cảng, chúng có thể leo trèo từ thuyền này sang thuyền khác, chúng thường theo chân các đoàn thủy thủ đi từ nơi này đến nơi khác Chính điều này đã lý giải cho chúng ta hiểu tại sao bệnh dịch hạch có thể lây lan nhanh trong một khu vực lớn và với một tốc độ đáng sợ trong thế kỉ XIV
Dịch hạch có thể tồn tại trong một quần thể của loài gặm nhấm trong một thời gian dài, nếu nó lây sang con người sẽ trở thành dịch bệnh Khi một con bọ
3
Alexandre Yersin (1863 - 1943) là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thụy Sĩ, đã tìm
ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông là Yersinia pestis
Trang 29chét truyền bệnh dịch hạch tới con người, các dạng bệnh dịch hạch này được gọi
là “dịch hạch” Dịch hạch có thể lây lan từ người sang người, một số người tin
rằng các con bọ chét có thể mang trực khuẩn giữa người với người, làm cho sự lây lan của bệnh dịch hạch từ người sang người có thể xảy ra
Trực khuẩn Yersinia pestis, tồn tại trên cơ thể nhiều loài động vật thuộc bộ
gặm nhấm, trong đó có chuột, chúng lây lan từ con vật này sang con vật khác nhờ những con bọ chét Nếu bọ chét hút máu của một con vật nhiễm vi khuẩn rồi lại
hút máu người thì bệnh sẽ lây nhiễm sang người Yersinia pestis là trực khuẩn
ngắn, hình cầu – (tù 2 đầu và có hình ôvan), kích thước là từ 1,5 – 2 × 0,5 – 0,7 micromet [48, pp 51 – 55; 47, pp 2 – 4]
Bệnh dịch hạch có các biểu hiện như: nhiệt độ cơ thể tăng kèm theo sốt cao, đau đầu dữ dội và cơ thể cứng, ớn lạnh hoặc đau cũng có thể kèm theo buồn nôn và táo bón, người bệnh nhạy cảm với ánh sáng, mắt đỏ ngầu, bồn chồn, mê sảng hay sững sờ và mất kiểm soát hành động Nói chung đó là một cảm giác mơ
hồ xen lẫn sự lo lắng, sợ hãi và rõ nét nhất là hạch nổi khắp cơ thể, đó là các vết sưng lớn, cứng, ở vùng bẹn, nách, trên cổ và phía sau tai, khi mạch máu ở các hạch vỡ ra, chúng biến thành những cục máu đen cản trở sự lưu thông máu đi khắp cơ thể Chính do các cục máu đen tụ lại trên cơ thể nạn nhân nên thời đó
người ta gọi căn bệnh này là Cái chết đen [25, pp 19 – 22]
Có 4 đường để lây lan bệnh dịch hạch là: đường máu, đường tiêu hoá, đường
hô hấp và đường da hay qua niên mạc nhưng chủ yếu là lây qua đường máu
Đường máu lây qua vết đốt của côn trùng, chủ yếu là do bọ chét Xenopsylla
cheopis, thứ yếu là qua các loài như: chấy, rận, rệp, bọ chét hút máu làm lan truyền
bệnh trong các giống chuột và từ chuột sang người
Đường tiêu hoá thì chủ yếu qua thực phẩm, nước bị ô nhiễm do chuột trực tiếp reo rắc mầm bệnh vào, đường lây này trên thực tế ít nguy hiểm vì trực khuẩn dịch hạch dễ bị chết trong nhiệt độ cao
Đường hô hấp lây lan từ bệnh nhân dịch hạch thể phổi có thể lây trực tiếp cho người xung quanh qua các giọt đờm, nước bọt bắn ra khi bệnh nhân ho, hắt hơi, nói chuyện
Trang 30Đường da, niêm mạc lây lan nhờ việc tiếp xúc trực tiếp với vùng da tổn thương (hiếm gặp) bọ chét hút máu động vật mang bệnh (chuột, thỏ, nhím…) rồi cắn người, người bị truyền trực tiếp vi khuẩn từ động vật nhiễm bệnh qua da trầy xước hoặc bị động vật mang bệnh cào, cắn hoặc hít trực tiếp vi khuẩn từ không khí
Bệnh dịch hạch là một bệnh cụ thể, nó xảy ra trong bốn hình thức, tùy thuộc
vào cách các vi sinh vật gây bệnh dịch hạch là một loại vi khuẩn gọi là Yersinia
pestis, xâm nhập và lây lan trong cơ thể đó chính là: thể hạch, thể phổi, thể nhiễm
trùng huyết, thể màng não
Thể hạch do các con bọ chét chuột (Nosopsyllus fasciatus ở châu Âu
và Xenopsylla cheopsis ở châu Á) thường lây lan bệnh dịch giữa các động vật gặm nhấm và từ đó truyền sang con người qua các vết cắn, những con chuột đen (Rattus
rattus) đã đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan bệnh dịch hạch sang con người
Chuột đen là loài rất dễ bị bệnh, nhưng một khi động vật gặm nhấm đã chết thì bọ chét sẽ tìm cách lây lan sang các động vật xung quanh và trong số đó có cả con người Mỗi vết cắn của một con bọ chét có tới 25.000 vi khuẩn và mỗi con chuột có thể lưu trữ lên đến 100 con bọ chét trên cơ thể, bọ chét chủ yếu được tiếp cận với con người khi họ đi bộ xung quanh nhà hàng ngày Dấu hiệu nhận biết của bệnh dịch hạch thể hạch bao gồm các triệu chứng: rét run, sốt cao trên 38˚C, nổi hạch ở bẹn, nách, cổ, nếu không được điều trị, dịch hạch thể hạch sẽ biến chuyển thành các thể còn lại có mức độ nguy hiểm hơn [16, pp 26 – 27]
Thể phổi được coi thể đáng sợ nhất, khi vi khuẩn xâm nhập vào phổi sau khi người bệnh tiếp xúc với nạn nhân thông qua sự khạc, nhổ hay cái hắt hơi… bệnh dịch hạch thể phổi bao gồm các triệu chứng như: sốt cao, rét run, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, bứt rứt, khoảng 24 giờ sau bệnh nhân sẽ thấy đau tức ngực, khó thở, thở nhanh Các triệu trứng đó có thể kèm theo ho có đờm nhầy và loãng, sau đặc dần,
có máu hoặc có nước bọt, tỷ lệ tử vong của bệnh dịch hạch trong thể phổi là 100 %
và cái chết xảy ra khá nhanh chóng, thường là trong vòng 2 ngày, trừ khi họ chết đột ngột do suy tim Bệnh nhân bệnh dịch hạch thể phổi có thể bị nguyền rủa với
một cái chết khủng khiếp, thở hổn hển làm cho chúng ta cảm thấy họ như đang “đói
không khí” Bệnh dịch hạch thể phổi được cho là dạng bệnh dịch hạch chủ yếu
Trang 31trong đại dịch năm 1347 và chúng có thể lây lan rất nhanh và nạn nhân có thể tử vong trong vòng chưa đầy 2 đến 3 ngày [24, pp 38; 48, pp 67 – 70]
Hình thức thứ ba và hiếm nhất của bệnh dịch hạch là bệnh dịch hạch thể nhiễm trùng huyết, xảy ra khi những trực khuẩn xâm nhập vào máu trực tiếp Nó luôn luôn tử vong Cái chết xảy ra trong vòng vài giờ, và thường không có triệu chứng đi kèm.Số bệnh nhân mắc dạng bệnh nhiễm trùng huyết này cũng tương đối cao [47, pp 2 – 4]
Cuối cùng là dịch hạch thể màng não, các trường hợp mắc thể này ít gặp, thường xuất hiện kèm sau thể hạch, thể nhiễm trùng huyết Trong bốn thể dịch hạch
mà chúng ta vừa tìm hiểu hay gặp nhất là thể hạch (chiếm 94 – 98% tại Việt Nam trước đây)
1.2.2 Nguồn gốc, quá trình lây lan bệnh dịch hạch ở nước Anh từ thế kỷ XIV– XVII
Thời kỳ cổ đại con người đã đưa ra nhiều cách lý giải để giải thích nguồn gốc của dịch bệnh Nhà y học Hippocrates4
nhà y học cổ đại Hy Lạp nổi tiếng ở thế
kỷ V – IV TCN, và sau đó Galen thế kỷ II đã giả định rằng sự xuất hiện của bệnh dịch chính là sự ô nhiễm của không khí bằng hơi nước hay hơi độc [32, pp 49]
Cái chết đen tràn qua châu Âu trong những năm 1347 – 1353 là một trong
những trận đại dịch khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, vào thời kỳ trung cổ
đã có rất nhiều tranh luận xoay quanh về nguồn gốc của căn bệnh này
Về tôn giáo, Kinh Thánh dùng từ “bệnh dịch” như một dấu hiệu của sự
không hài lòng của Chúa Khi hầu hết mọi người thời kỳ trung cổ đều tin rằng bệnh dịch hạch là một sự trừng phạt của Thiên Chúa đối với tội lỗi của họ Ngày nay, nó
là một thuật ngữ dùng để mô tả một bệnh dịch chết người hoặc ôn dịch trong tác
phẩm “The Wordsworth Encyclopedia of Plague và Pestilence” (Kohn, 1995) đã
liệt kê ra một danh mục dường như vô tận các bệnh dịch đã xuất hiện trong lịch sử
từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm cả bệnh dịch hạch, đậu mùa, bệnh tả, sốt phát ban
và sốt rét [24, pp.16; 48, p.1] Họ phản ứng với hành vi sám hối tôn giáo đối với
4 Hippocrates (460 – 370 TCN) nhà y học cổ đại Hy Lạp
Trang 32Chúa, hoặc có tính thụ động và định mệnh, đó là một tội lỗi, cố gắng tránh ý Chúa Theo quan niệm của Kitô giáo nguồn gốc của bệnh dịch hạch là Chúa đã gây ra để trừng phạt sự gian ác của con người hoặc tội lỗi Trong một văn bản của vua Pháp trong tháng 10 năm 1348 đã có đoạn nhắc đến nguồn gốc của bệnh dịch hạch là do
“chúa tạo ra và chỉ có chúa mới là người có thể cứu thoát nhân loại khỏi trận đại dịch này” Đức Tổng Giám mục William Zouche ở York (nước Anh) đã nhắc tới
điều này trong một bức thư viết cho giáo phận của mình vào mùa hè năm 1349:
“ những người không biết gì về cái chết, bệnh dịch hạch đã theo không khí về các bộ phận khác nhau của thế giới và đặc biệt là nước Anh những ngày này Điều này thực sự được gây ra bởi tội lỗi của con người, do họ bị cuốn vào những thú vui trong cuộc sống…” Vua của Thụy Điển cũng đã nói với thần dân của mình “Chúa
đã trừng phạt cho những tội lỗi của con người và đã tạo ra cái chết đột ngột Bởi
nó hầu hết người dân trong nước đã chết” [27, pp 22]
Có nhiều cách giải thích về sự bùng phát của bệnh dịch hạch lần này, một số
người cho rằng “không khí xấu” giáo lý chính thức của các khoa y tế của một số
trường đại học nơi nó được tích hợp với lý thuyết thuộc về y lý, theo họ nóng, không khí ẩm, đã nhập vào phổi và gây ra một rối loạn máu đã tạo ra bệnh dịch
hạch Nhưng nếu chấp nhận giả thuyết “không khí xấu” như vậy sẽ tạo ra sự bất
đồng lớn xảy ra sau đó về nguồn gốc của không khí [24, pp 42]
Một số người khác lại lập luận rằng nguồn gốc của bệnh dịch hạch là ở trên trời Vua Philip VI đã yêu cầu giảng viên của trường đại học Paris đưa ra một lời giải thích về nguồn gốc của bệnh dịch hạch, Sorbonne5 đã trích dẫn một sự kết hợp của các hành tinh đã làm không khí xấu hoặc họ dựa vào các hiện tượng thiên văn
của sự xuất hiện các sao chổi hay mối quan hệ giữa mặt trăng và trái đất: “bệnh
dịch hạch được gây ra bởi một sự kết hợp ngẫu nhiên giữa các hành tinh, sao Thổ, sao Mộc, và sao Hỏa vào đúng 1 giờ chiều vào ngày 20 tháng 3 năm 1345” Theo
họ sự thay đổi của mặt trăng đã ảnh hưởng đến các giai đoạn của bệnh dịch hạch, vì
nó dường như ảnh hưởng đến các hoạt động của con người như kinh nguyệt Nhà
5
Sorbonne Viện Đại học Paris thường được gọi là Sorbonne hay còn được gọi làSorbonne theo tên trường Đại học
Sorbonne (Collège de Sorbonne) do Robert de Sorbon thành lập vào khoảng năm 1257
Trang 33triết học tự nhiên người Đức có tên là Albert đã tuyên bố rằng: “sự kết hợp của sao
Hỏa và sao Mộc là tác nhân chính tạo ra bệnh dịch hạch” [27, pp 21 – 24]
Tuy nhiên cũng đã tồn tại một giả thuyết khác cũng được đặt ra Khi người châu Âu thế kỷ XIV đã cho rằng người Do Thái một dân tộc luôn bị coi là mọi rợ đối với họ là những người đã đầu độc nguồn nước và cùng với sự ảnh hưởng của sao Thổ đã tạo ra bệnh dịch hạch Những cuộc tàn sát người Do Thái đã xảy ra trong 300 thị trấn và các cộng đồng khác chủ yếu ở Đức, Thụy Sĩ, ở phía tây Bohemia và Áo ở phía đông trong những năm 1348 và 1351 Cuộc tàn sát cũng xảy
ra ở phía đông bắc Tây Ban Nha, miền nam nước Pháp và Savoy giữa mùa xuân và mùa thu 1348, các vụ thảm sát người Do Thái đã chứng tỏ sự tuyệt vọng của người
châu Âu trong nỗ lực để kết thúc Cái chết đen [27, pp 21 – 24]
Về vấn đề này Hecker đã tìm cách giải thích phổ quát cho Cái chết đen, theo
ông bệnh dịch hạch xuất hiện ngẫu nhiên cùng với các hiện tượng tự nhiên bất
thường mà cũng đã xảy ra rất rộng rãi trên thế giới ở thế kỷ XIV “… từ Trung Quốc
đến Đại Tây Dương, các hiện tượng khiến trái đất rúng động, khắp châu Á và châu
Âu đều chìm trong bầu không khí trong hỗn loạn, và nguy cơ tuyệt chủng…” Như
vậy, Hecker đã chỉ ra các hiện tượng bất thường như: hạn hán, nạn đói, mưa, lũ động đất (kéo dài trong mười ngày), cơn bão dữ dội, các vụ phun trào núi lửa và bầy châu chấu tại Trung Quốc trong thời gian năm 1330 có cùng một nguyên nhân và có
mối quan hệ với Cái chết đen [24, pp 44]
Nguồn gốc của bệnh dịch hạch chỉ được làm sáng tỏ vào cuối thế kỷ XIX Khi một căn bệnh đã bùng phát tại thượng nguồn sông Salween (phía bắc Myanma, phía tây nam Trung Quốc), mà sau đó được xác định là bệnh dịch hạch Năm 1855, một cuộc nổi dậy quân sự nổ ra ở Vân Nam Quân đội Trung Quốc đã đi đến lưu vực sông Salween để đàn áp quân nổi dậy và chính họ vô tình đã mang mầm bệnh dịch hạch về lãnh thổ Trung Quốc Sau đó, sự bùng phát của bệnh dịch tiếp tục xảy
ra ở những tỉnh khác của Trung Quốc, cho đến năm 1894 bệnh đã xuất hiện ở Quảng Châu, Hồng Kông [50, pp 222]
Vào năm 1894 một đoàn nghiên cứu bệnh dịch ở châu Âu đã đến Hồng Kông Sau một vài tuần nghiên cứu bác sĩ, đồng thời là nhà nghiên cứu vi khuẩn
Trang 34học người Pháp Alexandre Yersin là thành viên của “trường phái Louis Pasteur”
và Shibasaburo Kitasato, một nhà vi khuẩn học người Nhật được huấn luyện tại
Đức, thuộc “trường phái Robert Koch” đối thủ của trường phái LuisPasteur đã cùng một lúc độc lập phát hiện ra vi khuẩn Pasteurella pestis tác nhân gây bệnh
dịch hạch Tuy nhiên chính Yersin là người đã liên kết bệnh dịch hạch với trực
khuẩn Yersinia pestis và sau này vi khuẩn này được đặt lại theo tên của Yersin [27,
p 7 – 8]
Từ những phát hiện đột phá đó đã làm xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của bệnh dịch hạch mặc dù điểm xuất xứ của nó vẫn còn chưa chắc chắn,
có nhiều ý kiến cho rằng dịch hạch có nguồn gốc ở miền trung hoặc miền tây châu
Á Tuy nhiên giả thuyết đó lại không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào Một số người lập luận rằng bệnh dịch hạch có nguồn gốc từ dãy Himalaya sau đó do hoạt động chiến tranh đã được quân Mông Cổ đem về quê hương mình trên những thảo nguyên châu Á trong thập niên 1330 và sau đó nó đến Crimea năm 1346, tiếp theo
đã theo chân các con tàu của những thương gia từ Crimea đến Sicily trong 1347 [50,
pp 222]
Các nhà nghiên cứu hiện đại đã lập luận rằng: Một kỉ băng hà nhỏ diễn ra vào năm 1300 đã làm thay đổi khí hậu toàn cầu gây ra nhiệt độ giảm đáng kể ở nhiều nơi trên thế giới và nó chỉ kết thúc vào hơn 500 năm sau đó tức là năm 1800
Ngay sau khi sự khởi đầu của “tiểu băng hà”, các dân tộc trong phần lớn bán cầu
Đông đột nhiên gặp phải một thử thách mới từ bệnh dịch tàn phá mà tiêu biểu nhất
là bệnh dịch hạch khi căn bệnh này đã hoành hành ở cả ba châu lục Á, Âu, Phi [24
Pp 59]
Một giả thuyết đặt ra rằng nửa sau thế kỷ XIII quân Mông Cổ với các đội kỵ binh đã xâm nhập vào Vân Nam (Nam Tống) và Miến Điện (Myanma) từ năm 1252 đến năm 1253 Có vẻ như bệnh dịch hạch xuất hiện ở Trung Quốc vào năm 1331 sự kết hợp giữa chiến tranh và bệnh dịch hạch tàn phá về dân số của Trung Quốc theo
đó dân số Trung Quốc giảm từ khoảng 123 triệu năm 1200 (trước khi Mông Cổ xâm lược) xuống còn 65 triệu vào năm 1393 tức là một thế hệ sau khi người Mông Cổ bị trục xuất khỏi Trung Quốc Một minh chứng tiêu biểu cho vấn đề này là trước năm
Trang 351331, một dịch bệnh đã bùng phát tỉnh Hà Bắc được cho là đã thiệt mạng 9/10 dân
số rất có thể đây chính là bệnh dịch hạch [50, pp 232 – 235; 32, pp 50]
Bệnh dịch hạch được mô tả xuất hiện ở Trung Quốc từ năm 642 ở tỉnh Quảng Đông Rất có thể bệnh dịch hạch đã đến Trung Quốc qua đường biển trong thế kỷ VII, tức là khoảng hai thế hệ sau khi dịch bệnh đã xuất hiện ở Địa Trung Hải vào năm 542.Không những vậy một loạt các dịch bệnh cũng đã bùng phát ở các tỉnh ven biển của Trung Quốc bắt đầu từ năm 762 và đã làm mất đi một nửa dân số của tỉnh Sơn Đông, cho đến năm 806 một căn bệnh đã hoành hành ở tỉnh Chiết Giang cũng đã khiến gần một nửa dân số ở đây tử vong Những điều xảy ra ở Trung Quốc cũng phù hợp với những gì các nhà quan sát hiện đại tìm thấy được ở châu Âu và Cận Đông cùng thời điểm, các sự kiện trên dường như có sự liên quan với nhau do vậy đây là những bằng chứng vô cùng quý giá có thể giúp chúng ta tìm hiểu về nguồn gốc của bệnh dịch hạch [50, pp 197 – 200]
Quân Mông Cổ đã đi vào khu vực nơi các loài gặm nhấm hoang dã sinh sống
và chính những loài động vật gặm nhấm này đã mang những mầm mống của bệnh dịch hạch và dường như những mần mống này đã tồn tại ở những vùng đất xa xôi của dãy Himalaya trong nhiều thế kỷ trước khi quân Mông Cổ xâm lược Ngay sau năm 1253, khi quân đội Mông Cổ trở về từ cuộc hành quân của họ vào Vân Nam và Miến Điện, mầm bệnh dịch hạch đã vô tình theo chân những đoàn kỵ binh Mông
Cổ về vùng thảo nguyên rộng lớn phía bắc Trung Quốc ngày nay tức là Mông Cổ và Mãn Châu Chính điều kiện khí hậu cũng như môi trường thuận lợi ở đây đã tạo điều kiện cho bệnh dịch hạch phát triển và lây lan mạnh mẽ, mà các phát hiện của các nhà nghiên cứu bệnh dịch hạch ở Mãn Châu năm 1924 là một minh chứng tiêu biểu cho sự việc này [50, 233 – 237]
Trong những năm tiếp theo mầm bệnh dịch hạch đã lan rộng về phía tây dọc theo thảo nguyên, hoạt động lây lan này được thực hiện thông qua các cuộc viễn chinh ồ ạt của những đoàn kỵ binh Mông Cổ hay các đoàn khách bộ hành Họ đã hoạt động rộng khắp trong cương vực của đế quốc Mông Cổ một đế quốc lớn mạnh được thành lập bởi người anh hùng Thành Cát Tư Hãn (1162 – 1227) bao phủ toàn
bộ Trung Quốc, Trung Á và một phần lãnh thổ của nước Nga, Iran, Iraq, lúc đó đế
Trang 36chế của người Mông Cổ chiếm 22 % diện tích đất trên trái đất và dân số là khoảng
100 triệu người Chính những hoạt động chiến tranh nhằm bành trướng và mở rộng thế lực của đế quốc Mông Cổ đã tạo điều kiện không thể thuận lợi hơn cho việc lây lan bệnh dịch hạch
Con đường tơ lụa cổ xưa từ Trung Quốc đến Syria vượt qua hàng loạt sa mạc, đồng cỏ ở Trung Á, con đường tơ lụa đã liên kết các trụ sở chính của người Mông Cổ ở Karakorum với Kazan và Astrakhan trên sông Volga, với Caffa ở Crimea, với Khanbaliq ở Trung Quốc và với vô số các tụ điểm quan trọng khác, con đường tơ lụa đã đóng vai trò quan trọng trong thương mại cũng như là giao lưu văn hoá giữa phương Đông và phương Tây [50, pp 220] Tuy nhiên thời gian này cùng với việc thực hiện vai trò cao cả đó thì nó đã có đóng một vai trò quan trọng trong việc lan truyền bệnh dịch hạch đến bán đảo Crimea và từ đó nó theo chân các con tàu tiến hành thâm nhập vào hầu hết các vùng đất của châu Âu và Cận Đông dọc tuyến đường tỏa từ nội địa đến những cảng biển Một cuộc điều tra của các tín đồ cơ đốc giáo cũng đi đến kết luận rằng các bệnh dịch hạch đã lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc và sau đó đã trải rộng từ đó khắp châu Á đến Crimea [50, pp 236]
Như chúng ta đã đề cập trong thập niên 1340 quân Mông Cổ cùng các thương gia và du khách khác đã giúp lan truyền bệnh qua đường thương mại phía tây của Trung Quốc Dịch bệnh đã nổ ra năm 1346 trong quân đội của một hoàng tử Mông Cổ, người đã vây hãm thành phố thương mại Caffa một trung tâm thương mại lớn trên bán đảo Crimea Các ghi chép biên niên của Ibn - Wardi và Gabriele
de Mussis của Piacenza về bệnh dịch hạch hoành hành ở đây trong năm 1346, theo tính toán của Vernadsky (năm 1953) khoảng 85.000 người chết ở Crimea trong năm đó.Như Don Nardo chỉ ra trong phần giới thiệu những những cuốn sách của ông về
bệnh dịch hach “… sự xuất hiện được biết đến sớm nhất của cái chết đen là ở một
khu vực của các tín đồ Cơ đốc giáo [Nestorian] ở phía nam của hồ Balkhash…”
Tại đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy một nghĩa trang với tỷ lệ cao bất thường có những thi thể có niên đại thuộc những năm 1338 – 1339 Trên thực tế có 3 bia mộ được tìm thấy ở đây thì bệnh dịch hạch được xác định là nguyên nhân gây tử vong [48, pp 82; 47, p 5] Trong khi Mussis đã mô tả cho chúng ta câu chuyện nổi tiếng
Trang 37các thương nhân Genova đã bị vây hãm tại thành Caffa bởi lực lượng quân Mông
Cổ như thế nào Cuối cùng thì Kipchak Khan đã quyết định phóng của những xác quân lính đã tử vong do bệnh dịch hạch vào thành Caffa nhằm mục đích truyền bệnh dịch cho người dân trong thành Đây được xem như là việc sử dụng vũ khí sinh học lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại [50, 233 – 239]
Như vậy tất cả những sự việc trên có ý nghĩa là bệnh dịch hạch xuất hiện ở bán đảo Crimea, chứ không phải là ở Iraq (1349) hoặc Yemen (1351) Điều này chứng tỏ bệnh dịch hạch thế kỉ XIV đã lây lan chủ yếu trên mặt đất chứ không phải bằng đường biển từ Ấn Độ Dương và qua Vịnh Ba Tư hay Biển Đỏ, và dịch bệnh
đã làm cho 1/3 cư dân Ai Cập chết trong cuộc tấn công đầu tiên [50, pp 266]
Cái chết đen đã đến Anh trong mùa hè năm 1348, nhiều khả năng có thể là
trong khoảng thời gian tháng 7 hoặc tháng 8.Từ Melcombe Regis bệnh dịch lây lan dọc theo bờ biển phía tây và phía đông, cả hai con đường đều bắt đầu từ Melcombe Regis, chính điều này đã cho chúng ta thấy được bệnh dịch hạch lây lan đến nước
Anh từ không chỉ từ nước Pháp mà còn cả từ nước Ý Tiếp theo Cái chết đen đã đi
dọc theo bờ biển của Southampton và đến Bristol nơi gần như toàn bộ cư dâncủa ở đây đã tử vong Từ Bristol và Gloucester, bệnh dịch hạch đã dịch chuyển theo hướng bắc và tây bắc, hướng tới Wales và dọc và sau đó là London Là một trung tâm thương mại lớn London sẽ trở lên rất nhạy cảm với sự lây lan của bệnh dịch hạch Như mô tả của nhà sử học và dân số học và lịch sử, Ole Benedictow bệnh dịch hạch tiến về London theo ba con đường: con đường thứ nhất là từ Gloucester (đông nam), con đường thứ hai là từ Melcombe Regis (đông bắc), con đường thứ ba
là bằng tàu Cái chết đen đến London vào mùa thu năm 1348 Vào mùa hè năm
1349,tức là chỉ trong khoảng 500 ngày, dịch bệnh đã lây lan khắp nước Anh [16, pp 44]
Tuy nhiên,những lần tái xuất hiện của nó lại được ít người biết đến có tới gần
40 bệnh dịch hạch đã ghé thăm London giữa khoảng thời gian 1348 và 1665 [54]
Từ thế kỷ XIV đến XV bệnh dịch hạch liên tiếp xuất hiện ở nước Anh năm
1361 – 1362 bệnh dịch tái phát lại thảm hoạ của những năm 1348 – 1351; năm 1369 bệnh dịch hạch lại quay trở lại; 1390 – 1391 dịch bệnh bùng phát ở miền bắc nước
Trang 38Anh và Scotland, năm 1438 – 1439 bệnh dịch hạch lại có mặt miền bắc nước Anh, tiếp theo năm 1456 – 1457 bệnh dịch hạch đã quay trở lại Scotland [15 pp 12] Trong trong thế kỷ XVI và XVII theo thống kê: thời kỳ Elizabeth I (1558 – 1603):
1563 – 1564,1592 – 1593, 1603; thời kỳ James I (1603 – 1625) bệnh dịch đã bùng phát từ năm 1603 – 1611; giai đoạn Charles I trị vì (1625 – 1649) 1625 – 1626,
1636 – 1639, 1641, 1643 – 1647, triều đại của Charles II (1660 – 1685) là khoảng thời gian 1664 – 1666 [45 pp 18]
Hầu như tất cả các đợt dịch hạch bùng phát ở nước Anh thì hầu như cũng xuất hiện ở London và thành phố lớn nhất nước này là một minh chứng tiêu biểu nhất cho sự bùng phát của bệnh dịch hạch ở Anh từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII
London từ thế kỷ XIV – XVII đã phát triển thành một thành phố rộng lớn gồm 97 giáo xứ được bao quanh bởi một bức tường thành Do sự phát triển dân số nên qua thời gian London đã phát triển thành 16 giáo xứ bên bức tường thành Lúc bấy giờ London là một thành phố tương đối mất vệ sinh Thời gian đó London có một hệ thống kênh, mương chằng chịt, nơi đây là nơi tập trung các chất thải do con người tạo rađặc biệt là vùng bên ngoài bức tường thành vì vậy nơi đây rất thích hợp cho vi sinh vật và động vật lan truyền dịch bệnh [7, pp 63 – 66]
Bệnh dịch hạch đã trở lại London vào mùa xuân năm 1361 và kéo dài đến mùa xuân năm 1362 Trong hai năm 1578 – 1579 một trận dịch hạch lớn đã xuất hiện ở London Tiếp đó vào mùa hè năm 1580 – 1581 lại chứng kiến sự bùng phát củabệnh dịch hạch [37, p 2] Bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 năm 1593 bệnh dịch hạch
đã quay trở lại trong khu vực giáo xứ St Botolph Cũng trong thời gian đó ở một giáo xứ khác là St Mary Somerset gần sông Thames, bệnh dịch hạch đã xuất hiện vào cuối tháng 4 năm 1593 Sau đó bệnh dịch đã lây lan qua các giáo xứ miền trung
và những giáo xứ phía bắc cùng một thời gian, trong khi đó các giáo xứ phía nam xuất hiện bệnh dịch hạch vào tháng 7 năm 1593.Sự lây lan của bệnh dịch hạch một lần nữa đã được lặp đi lặp lạivào năm 1603, tại giáo xứ St Botolph là giáo xứ đầu tiên cho thấy sự xuất hiện của bệnh dịch hạch vào tháng 6 năm 1603 Một lần nữa, căn bệnh này lây lan qua những giáo xứ phía bắc và phía tây đó chính là giáo xứ St Olave, sau đó bệnh dịch hướng tới Aldersgate vào ngày 7 tháng 7 năm 1603 Cuối
Trang 39cùng là các giáo xứ phía nam ngày 17 tháng 9 năm 1603 Bệnh dịch hạch lại bùng phát ở London một lần nữa vào năm 1625 nó đã xuất hiện ở các giáo xứ phía bắc và phía đông vào cuối tháng 6 năm 1625 Sau đó bệnh dịch đã lây lan về hướng tây nam của thành phố [22, p 6]
Có lẽ đáng chú ý nhất là trận dịch hạch cuối cùng bùng phát ở London vào năm 1665 mà người ta vẫn thường gọi trận bệnh dịch hạch này là Đại dịch hạch
“The Great Plague”
Tại sao bệnh dịch hạch lại xuất hiện ở nước Anh năm 1664 – 1665 là câu hỏi thu hút nhiều sự quan tâm của các tổ chức xã hội thời bấy giờ Các chuyên gia y tế của London cũng có lý thuyết của họ để giải thích nguồn gốc xuất của trận Đại dịch
hạch năm 1665 Một trong những lý thuyết đầu tiên là ý tưởng“không khí có hơi
độc” Theo họ không khí có hơi độc đã tạo ra bởi sự tích tụ của “hơi hôi thối” mà
khi thổi qua thành phố London, đã gây ra bệnh dịch hạch Một lý thuyết khác cũng được các chuyên gia đưa ra là những biến đổi thiên văn, do hiện tượng chiêm tinh, chẳng hạn như các chòm sao khác nhau và các hành tinh xếp thẳng [26, p 8 – pp.10]
Những năm gần đâyđã xuất hiện nhiều tranh luận sôi nổi trong giới sử học hiện đại về nguồn gốc và quá trình lây lan của trận Đại dịch hạch ở London vào năm 1665 Nhiều công trình lịch sử, trong đó có Scott và Duncan trong tác phẩm
“Biology of Plagues Evidence from Historical Populations” đã cho rằng những
thương nhân Hà Lan như tác nhân chính làm phát tán bệnh dịch hạch đến nước Anh năm 1665 Mặc dù chính phủ Anh đã đưa ra những chính sách để điều chỉnh và kiểm soát từ tàu bên ngoài không được cập cảng nước Anh để bảo vệ việc chống lại nhiễm trùng bệnh dịch hạch Tuy nhiên một con tàu Hà Lan đã không chấp hành các biện pháp kiểm dịch tại các bến cảng rồi sau đó cập cảng trái phép vào nước Anh mà trường hợp của giáo xứ St Giles St Giles in the Fields ở phía tây London nơi đầu tiên bùng phát bệnh dịch hạch là một minh chứng tiêu biểu.Có người lại cho rằng các bệnh dịch hạch đã bùng phát nhiều lần ở nước Anh trong suốt thời gian của hai triều đại Tudor và Stuart và đã lập luận rằng bệnh dịch hạch năm 1665 đã được gây ra bởi điều kiện cụ thể trong nước và sau đó đã biến đổi thành một bệnh
Trang 40dịch Những điều kiện đó chính là nhiệt độ của những tháng mùa hè cũngnhư sự gia tăng dân số London năm 1665 Nhà nghiên cứu Graham Twigg đã nghiên cứu hai lập luận trên theo ông bệnh dịch hạch ở London năm 1665 có nguyên nhân là từ những người lính trong quân đội Anh trở về từ cuộc chiến tranh chống lại Pháp năm 1590và là một hệ quả của nhiều dịch bệnh đã xuất hiện trước đó và sự gia tăng dân
số và ô nhiễm đô thị [26, p 8, 9]
Sự bùng lây lan của bệnh dịch hạch lần này xảy ra đầu tiên vào tháng 2 năm 1665tại giáo xứ St Giles in the Fields vào mùa thu năm 1664, những ca tử vong do bệnh dịch hạch cũng đã được báo cáo tại khu vực Westminster Các báo cáo đương thời cho chúng ta biết bệnh dịch hạch xuất hiện tại khu vực St Giles in the Fields một vùng ngoại ô nghèo phía tây nam của thành phố dường như vào cuối năm 1664 Tuy nhiên vì thời tiết lạnh giá nó đã không bùng phát trong khoảng thời gian từ Giáng sinh đến tháng 2 năm 1665 Nhưng vào tháng 4 năm 1665 bệnh dịch hạch đã quay trở lại cùng với sự ấm áp của mùa xuân Sau đó bệnh dịch lây lan qua các giáo
xứ khác bên ngoài bức tường trong một khoảng thời gian là 14 tuần Các giáo xứ đầu tiên lần lượt là: St Paul Convent Garden với ca tử vong đầu tiên vào 12 tháng
4, ngay sau đó lần lượt là St Clement Danes, Holborn, St Mary Woolchurch … và sau đó là toàn thành phố [40, p 3; 7, pp 115]
Trong tháng 7 năm 1665 bệnh dịch hạch đã xuất hiện ở hầu hết các khu vực trong thành phố London, Charles II và gia đình ông đã phải rời London [53]