Luận án này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo Cục Bảo vệ thực vật, các sở ban ngành và đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ NGỌC LAN
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS TRẦN HỮU CƯỜNG
2 PGS.TS NGUYỄN PHƯỢNG LÊ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án này là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận án
Trần Thị Ngọc Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án này được thực hiện và hoàn thành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo cô giáo, sự giúp đỡ động viên của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Trần Hữu Cường và PGS.TS Nguyễn Phượng Lê, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và định hướng giúp tôi trưởng thành trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Luận án này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo Cục Bảo vệ thực vật, các
sở ban ngành và đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Trồng trọt
và Bảo vệ thực vật, Chi cục Quản lý thị trường, Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, UBND xã và các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV cùng các hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảo sát thực địa và nghiên cứu đề tài Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp
đỡ quý báu này!
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp của Khoa Kinh
tế Trường Đại học Thái Bình đã luôn động viên khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án của mình Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè: bố, mẹ, anh, chị
em, đặc biệt là chồng, con tôi luôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất
về tinh thần cũng như thời gian để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cám ơn tới tất cả các tổ chức và cá nhân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2016
Nghiên cứu sinh
Trần Thị Ngọc Lan
Trang 5Phần 2 Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với thị
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 7 2.1.1 Cơ sở lý luận về thị trường thuốc bảo vệ thực vật 7 2.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 13 2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 33 2.2.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình 52
Trang 63.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 53
4.1 Thực trạng thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 67 4.1.1 Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên cây trồng ở tỉnh Thái Bình 67 4.1.2 Nguồn cung thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 69 4.1.3 Cấu trúc thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 73 4.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở
4.2.1 Thực trạng bộ máy quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 75 4.2.2 Thực trạng ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà
4.2.3 Thực trạng thực thi pháp luật của các tác nhân tham gia thị trường thuốc
4.2.4 Thực trạng hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm của
các cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 101 4.2.5 Thực trạng công tác tập huấn, thông tin và tuyên truyền pháp luật quản lý
nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 113 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ
4.3.2 Nguồn lực dành cho công tác quản lý thị trường thuốc bảo vệ thực vật 122 4.3.3 Nhận thức và ứng xử của chủ các các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn
4.3.4 Nhận thức và ứng xử của người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 127
Trang 74.3.5 Công tác phối hợp thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật
PHẦN 5 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ
5.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước về thị
5.1.1 Quan điểm chỉ đạo tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo
5.1.2 Định hướng tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật 133 5.1.3 Mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật 134 5.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực
5.2.4 Tăng cường công tác phối hợp thanh tra kiểm tra giữa các cơ quan quản
lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật 142 5.2.5 Tăng cường công tác tập huấn, thông tin và tuyên truyền văn bản pháp luật 144 5.2.6 Tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý nhà nước về thị trường thuốc
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CPAM Giám sát hoạt động thuốc trừ sâu dựa vào cộng đồng
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
(Food and Agriculture Organization of the United Nations) GAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practices) HTX DVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management)
Luật BV&KDTV Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PAN Mạng lưới hành động về thuốc trừ sâu (Pesticide Action Network) PAN AP Mạng lưới hàng động về thuốc trừ sâu châu Á - Thái Bình Dương
(Pesticide Action Network Asia Pacific)
VietGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam
(Vietnamese Good Agricultural Practices)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Trang 9
DANH MỤC BẢNG
2.2 Nội dung thanh tra, kiểm tra cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật 28 2.3 Số lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam qua các thời kỳ 45 3.1 Diện tích một số loại cây trồng chính của tỉnh Thái Bình qua các năm
3.2 Diện tích, sản lượng rau của tỉnh Thái Bình qua các năm 2013 - 2015 54
4.1 Khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở tỉnh Thái Bình giai
4.2 Kết quả sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh
4.3 Kết quả kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật của các công ty thuốc bảo vệ
4.8 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với thị
4.9 Đánh giá của cán bộ quản lý về Quyết định số 1645/QĐ-UBND năm
4.10 Kết quả kiểm tra, đánh giá điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật của
4.11 Kết quả điều tra về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái
Trang 104.12 Tỷ lệ các cơ sở vi phạm về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở
4.13 Mức xử phạt vi phạm điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật 92 4.14 Số lượng và cơ cấu nhóm thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 93 4.15 Một số hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật thông dụng sử dụng ở tỉnh Thái
4.16 Tên thương mại gần giống nhau của một số hoạt chất 95 4.17 Cùng tên thương mại đăng ký nhiều nồng độ hoạt chất khác nhau 95 4.18 Kết quả điều tra thực trạng niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết của các
cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình năm 2015 96 4.19 Kết quả điều tra thực trạng giá mua và giá bán một số sản phẩm thuốc
bảo vệ thực vật có cùng hoạt chất ở tỉnh Thái Bình năm 2015 97 4.20 Kết quả điều tra về thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người
4.21 Các hình thức vi phạm chính trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 99 4.22 Kết quả điều tra tình trạng xử lý vỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi
4.23 Tần suất hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh,
buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình năm 2015 102 4.24 Các đơn vị phối hợp thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh,
buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình năm 2015 103 4.25 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở
4.26 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ
thực vật của cơ quan chuyên môn bảo vệ thực vật năm 2015 106 4.27 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ
thực vật của cơ quan Quản lý thị trường giai đoạn (2013 - 2015) 107 4.28 Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành bảo vệ thực vật về việc
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người nông dân ở tỉnh Thái Bình giai
4.29 Thực trạng công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền về điều kiện buôn
bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình qua các năm (2013 - 2015) 113
Trang 114.30 Tỷ lệ cửa hàng, đại lý nhận được văn bản pháp luật hướng dẫn kinh
4.31 Tỷ lệ cửa hàng, đại lý nhận được thông báo hướng dẫn sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật của cơ quan quản lý nhà nước năm 2015 115 4.32 Các hình thức tập huấn, thông tin và tuyên truyền về thuốc bảo vệ thực
4.33 Kết quả công tác tập huấn, tuyên truyền cho người nông dân tỉnh Thái
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.1 Mối liên hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các tác nhân tham gia thị
3.1 Khung phân tích quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực
4.1 Dòng lưu chuyển thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 73 4.2 Kênh phân phối thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 74 4.3 Cấu trúc thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình 75 4.4 Bộ máy quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh
4.5 Nhiệm vụ quản lý của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thái Bình 79 4.6 Nhiệm vụ quản lý của Chi cục Quản lý thị trường Thái Bình 80
Trang 13
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2.1 Tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới trong thời kỳ 2006 - 2013 33 2.2 Tỷ trọng ước tính về thị trường thuốc bảo vệ thực vật phân theo khu vực
Trang 14DANH MỤC HỘP
4.1 Phát hiện bệnh muộn, người dân phải phun thuốc nhiều lần 69 4.2 Những bất cập về chính sách trong quản lý thị trường thuốc bảo vệ thực vật 86 4.3 Các cửa hàng bán theo thời vụ không có chứng chỉ hành nghề 89 4.4 Nên thắt chặt việc đăng ký hoạt chất, tên sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật 94 4.5 Tâm lý người nông dân “thuốc càng đắt càng hiệu quả cao” 97 4.6 Dễ dàng thành lập một doanh nghiệp thuốc bảo vệ thực vật 98 4.7 Ý kiến của của các chủ cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật về tăng
4.8 Ý kiến đánh giá của chủ cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật về hoạt
4.9 Ý kiến của cán bộ địa phương về việc chứng nhận địa điểm buôn bán
thuốc bảo vệ thực vật cho các cơ sở tại điểm nghiên cứu 112 4.10 Số lượng cán bộ quản lý ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về thị
4.11 Kinh phí dành cho công tác thanh tra kiểm tra, giám sát thị trường thuốc
4.13 Ý kiến của người nông dân về công tác thanh tra, kiểm tra thị trường
4.14 Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý thị
Trang 15TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Trần Thị Ngọc Lan
Tên luận án: Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh
Thái Bình
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 62 31 01 05
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA)
Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản
lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình,
từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận được sử dụng trong luận án bao gồm: tiếp cận theo cấp quản lý, tiếp cận theo đối tượng và tiếp cận theo vùng sinh thái được sử dụng trong nghiên cứu Số liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập từ các nguồn khác nhau được sử dụng để làm sáng tỏ những tranh luận lý thuyết về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV Theo đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 62 cán bộ chuyên môn BVTV, cán
bộ quản lý thị trường và các đơn vị phối hợp: 4 cơ sở sản xuất; 30 cửa hàng bán buôn và
90 cửa hàng bán lẻ cùng 360 hộ nông dân ở 3 huyện đại diện cho 3 vùng sản xuất khác nhau của tỉnh Thái Bình Phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng trong luận án là phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích so sánh
Kết quả chính và kết luận
Quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là sự tác động có chủ đích của Nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV bằng quyền lực của nhà nước thông qua công cụ văn bản quy phạm pháp luật tác động lên tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh và buôn bán thuốc BVTV nhằm bảo đảm tính minh bạch và hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường Về lý luận, nghiên cứu quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV bao gồm các vấn đề: (1) Bộ máy quản lý nhà nước; (2) Ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật; (3) Tổ chức hoạt động thực thi pháp luật quản lý nhà nước; (4) Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV
và (5) Công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền văn bản pháp luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị
Trang 16trường thuốc BVTV xét theo khía cạnh lý luận bao gồm: (i) Năng lực cán bộ quản lý (số lượng, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, cán bộ thanh tra); (ii) Nguồn lực dành cho công tác quản lý (tập huấn, chế độ đãi ngộ cho cán bộ quản lý, công tác phí đi lại thanh tra, kiểm tra và đầu tư máy móc trang thiết bị hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra); (iii) Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và (iv) Nhận thức và ứng xử của các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV
Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình cho thấy: i) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo, chưa đồng bộ
và triển khai còn chậm gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật; ii) Bộ máy quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở địa phương còn thiếu (bình quân mỗi cán bộ phải quản lý 100 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV) và chưa phù hợp chuyên môn (chỉ có 16,67% cán bộ được đào tạo đúng chuyên ngành); iii) Việc chấp hành các quy định quản lý nhà nước của các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV về chủng loại thuốc, niêm yết giá, vị trí cửa hàng, phương tiện phòng chống cháy nổ (PCCN), bảo
hộ lao động và hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV còn thấp (20% số cửa hàng có giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV); iv) Tổ chức thanh tra kiểm tra, giám sát chưa sát sao còn buông lỏng (đặc biệt là ở chính quyền cấp xã) và v) Công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền còn hạn chế do nguồn tài chính eo hẹp, chủ yếu là hoạt động phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn BVTV với các cơ sở kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV để giới thiệu sản phẩm thuốc BVTV
Để tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV cần thực hiện đồng
bộ, hiệu quả các giải pháp: (1) Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý; (2) Hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước; (3) Nâng cao ý thức và trách nhiệm cộng đồng cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV; (4) Tăng cường phối hợp thanh tra kiểm tra giữa các
cơ quan quản lý nhà nước; (5) Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật; (6) Tăng cường nguồn lực cho công tác quản lý nhà nước
và (7) Quy hoạch thị trường thuốc BVTV, khuyến khích phát triển mô hình tổ dịch vụ bảo vệ thực vật Các giải pháp này, dù liên quan đến lĩnh vực nào cũng cần bảo đảm mục tiêu: i) phải nằm trong khuân khổ pháp luật của Nhà nước; ii) thúc đẩy được tinh thần tự chủ, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm của các bên và iii) nâng cao năng lực cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV
Luận án là nguồn cung cấp thông tin khoa học về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách
ở Trung ương và điạ phương, các cơ quan thực thi chính sách và các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV trên cả nước nói chung và của tỉnh Thái Bình nói riêng
Trang 17THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Tran, Thi Ngoc Lan
Thesis title: State Management of Pesticide Market in Thai Binh Province
Major: Development Economics Code: 62 31 01 05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
This research to systemize, clarify and develop theoretical and practical backgrounds on state management of pesticide market Base on the evaluation of real situation and influential factors, this research draws policy implications in order to to
increase effectiveness of state management of pesticide market in Thai Binh province Materials and Methods
This research considered research problems from manegement levels, from actors who involving in pesticide market, and from ecological region and Secondary and primary data have been collected from different sources in order to demonstrate theoretical arguments on state management of pesticide market Particularly, 62 staff specializing in plant protection, market management and coordinating units; 4 pesticide production enterprises; 30 wholesalers and 90 retailers and 360 farm households were selected to survey and interview in 3 districts which represents for 3 different production areas in Thai Binh province Analysis methods which were mainly used in this dissertation were descriptive statistics, comparative analysis and SWOT matrix
Main findings and conclusions
State management of pesticide market is an active and oriented intervention of the State in pesticide market based on political power, policy instruments in order to assure transparency and limit market failures Contents of state management on pesticide market include: (1) State organizations of pesticide market management; (2) Establishing legal framework for market management; (3) Implementing policy instruments on pesticide market; (4) Inspecting and monitoring production units, wholesalers and retailers; (5) Training and communicating policies and regulations to actors who are doing business and using pesticide Factors which affect on state management of pesticide market in terms of theoretical aspects include: (i) Competence
of management staff (quantity and professional qualifications of management staff and inspectors); (ii) Financial capability for management affairs (training, remuneration,
Trang 18work expenses for inspecting, checking and investing in machines and equipment supporting inspection and check); (iii) Coordination among State management agencies and (iv) Awareness and behavior of agents entering pesticide market
Doing research on state management of pesticides market in Thai Binh province showed that: i) System of legal documents was overlapped, unsynchronous and performing slowly making affairs of legal execution difficult; ii) state management mechanism of pesticide market in local areas was short of quantity and weak at professional qualification (One staff had to manage 100 stores selling pesticides in average) and not appropriate expertise (only 16.67% of staff was trained majors properly); iii) implementation of state management regulations of places doing business and producing, selling pesticide relating to types of pesticide, price list, shop location, fire protection system, labor protection and introductions to use pesticide was weak (20% of the stores had certificates of enough conditions to sell pesticide; iv) affairs of inspection and check are unclose and relaxed (especially authority at commune level); and v) affairs of training, informing and propagating were limited due to tight financial sources, mainly were activities of coordinating among organizations specializing in plant protection and businesses selling pesticide to introduce products of pesticide
In order to increase of state management of pesticide market, it was essential to perform synchronouly and effectively solutions: (1) Complete apparatus of management organization; (2) Complete policies of state management; (3) Enhance consciousness and public reponsibility of agents entering pesticide market; (4) Increase coordination of inspection and check among management organizations; (5) Increase affairs of information and propagation and publicize legal documents; (6) Increase expenses, facilities for state management and (7) Reorder business system, encourage to develop model of service group of plant protection; and These solutions, although relating to any sectors still need to ensure objectives: i) having to follow state legal regulations; ii) promote autonomy, voluntary and self-responsibility from parties and iii) increasing ability of agents entering pesticide market
Trang 19PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trên thế giới, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát, phòng ngừa sâu bệnh và bảo đảm an ninh lương thực thực phẩm Theo thống kê của Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20, thuốc BVTV đã góp phần tăng năng suất khoảng 20 - 30% đối với các loại cây trồng chủ yếu như lúa, rau màu
và hoa quả (VCCI, 2014) Tuy nhiên, thuốc BVTV là những chất độc hại đối với thiên địch, các sinh vật có ích khác kể cả con người và một khi bị phát tán vào trong môi trường thuốc BVTV gây ra những tác hại cho con người, cây trồng, vật
nuôi và môi trường khác (Ohkawa et al., 2007)
Quản lý thị trường thuốc BVTV là biện pháp sử dụng hiệu quả, an toàn thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp (SXNN), bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường Thuốc BVTV được bắt đầu sử dụng ở miền Bắc Việt Nam vào những năm 1955, thuốc BVTV là hàng hóa đặc thù, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện chỉ được phép nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói và sử dụng sau khi được đăng ký tại Việt Nam Từ khi thực hiện đổi mới SXNN phát triển theo hướng hàng hóa và thâm canh cao, Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ thuốc BVTV lớn của khu vực châu Á Số liệu thống kê của Cục BVTV năm 2015 cho thấy mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 70.000 - 100.000 tấn thuốc BVTV và nguyên liệu ước tính tổng giá trị nhập khẩu khoảng từ 0,8 - 1 tỷ USD tăng gấp 10 lần so với năm
1981 (Vipa, 2015) Danh mục thuốc BVTV tăng nhanh, trước năm 2000 chỉ có
77 hoạt chất và 96 tên thương mại, đến năm 2015 danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam đã tăng lên 1.700 hoạt chất và gần 4.100 tên thương mại thuốc được phép lưu hành trên thị trường (Bộ NN&PTNT, 2015a)
Cùng với sự gia tăng về số lượng và chủng loại thuốc được tiêu thụ, mạng lưới các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV ở Việt Nam cũng tăng nhanh và khó kiểm soát Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật, năm 2014 Việt Nam hiện có 230 doanh nghiệp kinh doanh, 129 cơ sở sản xuất, sang chai đóng gói và 32.649 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV (Bộ NN&PTNT, 2014b) Trước tình trạng đó, Chính phủ, Bộ NN&PTNT và chính quyền các tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chính sách nhằm quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh thuốc BVTV Mặc dù vậy, việc các tác nhân tham gia thị trường vi phạm pháp luật
Trang 20trong kinh doanh thuốc BVTV còn khá phổ biến và nguyên nhân của các vi phạm trong kinh doanh thuốc BVTV chủ yếu là do lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động sản xuất kinh doanh này cộng với hệ thống các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV dày đặc, được thiết lập tới tận thôn, xóm trong khi phần lớn chủ cửa hàng buôn bán chưa được đào tạo về thuốc BVTV (Hoàng Anh, 2013a)
Tình trạng người nông dân tự do mua và sử dụng thuốc BVTV không theo hướng dẫn, không tuân thủ nguyên tắc “4 đúng" và không bảo đảm thời gian cách
ly đối với hầu hết các loại thuốc BVTV trên các đối tượng cây trồng thực sự là hồi chuông báo động đến với toàn thể cộng đồng và xã hội (Phương Duy, 2012) Theo các chuyên gia nông nghiệp, có tới 80% lượng thuốc BVTV tại Việt Nam đang được sử dụng không đúng cách,không cần thiết và rất lãng phí (Phan Hậu, 2014) Hệ quả là, rất nhiều nơi môi trường nước, môi trường đất, hệ sinh thái cùng các loài vật thủy sinh bị hủy diệt, đồng thời việc lạm dụng quá vào thuốc BVTV còn gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nông sản cũng như cuộc sống của chính người nông dân Bên cạnh đó, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe nên hành
vi vi phạm của các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV vẫn chưa thay đổi Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (Luật BV&KDTV) năm 2013 chưa có chế tài
xử phạt tội “tiếp tay”, còn mức xử phạt đối với những người có nguy cơ “giết nhiều người” rất thấp chỉ từ 200 - 500 nghìn đồng đối với người sử dụng thuốc BVTV dưới dạng ống tiêm thủy tinh không có tên trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam (Chính phủ, 2013a) Hơn nữa, điều đáng nói là từ khi Luật BV&KDTV năm 2013 ra đời đến nay, các cơ quan quản lý nhà nước khi tiến hành kiểm tra người sử dụng thuốc BVTV phát hiện sai phạm chủ yếu mới dừng lại ở mức độ nhắc nhở, chưa có trường hợp người vi phạm nào bị xử phạt (Cục BVTV, 2015)
Trong bối cảnh đó, lực lượng cán bộ thanh tra chuyên ngành BVTV vừa thiếu về số lượng và chưa phù hợp về chuyên môn, trung bình 1 cán bộ quản lý trên 70 cửa hàng thuốc BVTV Việc phân định nhiệm vụ của lực lượng thanh tra chuyên ngành BVTV còn chồng chéo, chưa thực sự rõ ràng giữa thanh tra Sở và thanh tra Chi cục (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2012) Đồng thời, việc xác định chất lượng thuốc BVTV và hình thức xử lý vẫn còn nhiều khó khăn đối với cơ quan chức năng do kinh phí, máy móc trang thiết bị phục vụ công tác thanh tra kiểm tra còn thiếu và thô sơ nên hoạt động quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV dường như đã vượt quá tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng Thậm chí, khi phát hiện sai phạm hoặc nghi ngờ có sai phạm thì đoàn kiểm tra không
Trang 21biết xử lý thế nào vì không có máy móc chuyên dụng, không có kho chứa và không có kinh phí tiêu hủy càng thể hiện sự khó khăn của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý thị trường thuốc BVTV (Trương Quốc Tùng, 2015) Thái Bình là tỉnh trọng điểm của vùng đồng bằng sông Hồng về sản xuất lúa gạo và các cây rau màu Do điều kiện thời tiết thuận lợi, chủng loại cây trồng phong phú kèm theo đó dịch hại phát triển quanh năm Xu hướng sử dụng thuốc BVTV của người nông dân Thái Bình tăng trong những năm gần đây cả về số lượng và chủng loại, trung bình mỗi năm toàn tỉnh Thái Bình tiêu thụ khoảng từ 1.200 đến 1.300 tấn thuốc BVTV (quy đổi) ước tính khoảng 650 tỷ đồng Thị trường thuốc BVTV rất phức tạp với sự tham gia của 1 cơ sở sản xuất, 3 cơ sở kinh doanh và 1.538 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, ngoài ra chưa thống kê hết
số cửa hàng nhỏ lẻ, địa điểm bán hàng không cố định và hoạt động theo mùa vụ (Chi cục BVTV Thái Bình, 2013)
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn cả nước nói chung và ở tỉnh Thái Bình nói riêng đã có nhiều bước tiến đáng kể, bằng chứng là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản
lý sản xuất kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV ở nước ta ngày càng đầy đủ, hội nhập và đáp ứng nhu cầu của xã hội như: Nghị định 58/2002/NĐ-CP của Chính phủ về Điều lệ Quản lý thuốc BVTV; Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013, Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT ngày 08/6/2015 quy định về Quản lý thuốc BVTV Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn đề thuốc BVTV như đổi mới hoạt động dịch vụ vật tư nông nghiệp (VTNN) trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường - phân bón hóa học và thuốc BVTV (Lê Hồng Thái, 1996), nghiên cứu nhận thức và ứng xử của người dân trồng rau về rủi ro thuốc BVTV (Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, 2009), thực trạng và hậu quả của sử dụng thuốc trừ sâu trong SXNN ở Nam Định (Phạm Kim Ngọc, 2010) và giải pháp kinh tế kỹ thuật giảm thiểu rủi
ro thuốc BVTV trong sản xuất rau ở đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Phượng Lê, 2013) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề quản lý của các
cơ quan nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV Vì thế, sai phạm trong sản xuất kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV vẫn diễn ra mang tính phổ biến, gây ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nông nghiệp bền vững, an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường Do đó, tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV để góp phần bảo đảm tính minh bạch của thị trường, cung cấp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, giá bán và tránh tình trạng đầu cơ độc quyền gây lũng đoạn thị trường thuốc BVTV có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trang 22Với những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu quản lý nhà nước
về thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình" là cần thiết và cấp bách để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Kết quả của nghiên cứu trả lời các câu hỏi: i) Quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV là gì, bao gồm những nội dung nào? ii) Quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình hiện nay thực hiện như thế nào và có những bất cập gì? iii) Yếu tố tác nào tác động và ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Bình? và iv) Đâu là giải pháp để tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình hiện nay?
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV với các đối tượng khảo sát gồm: (i) Chủ thể quản lý là hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương gồm cơ quan hành chính (UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã); cơ quan chuyên môn BVTV (Sở NN&PTNT, Chi cục TT&BVTV, Trạm TT&BVTV, Phòng NN&PTNT); cơ quan Quản lý thị trường (Chi cục QLTT, Đội QLTT); (ii) Đối tượng quản lý là các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV gồm các công ty sản xuất kinh doanh thuốc BVTV, các đại lý bán buôn, các cửa hàng bán lẻ thuốc BVTV (HTX
và tư nhân) và người sử dụng thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình; (iii) Các cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật như Luật BV&KDTV năm 2013, Nghị định, Thông tư liên quan đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV
Trang 231.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình quản lý nhà
nước đối với các hoạt động trao đổi/mua bán các loại thuốc BVTV (thuốc diệt cỏ, thuốc trừ côn trùng và thuốc trừ bệnh cho lúa và cây rau màu) nhiều hơn nghiên cứu hoạt động sử dụng thuốc BVTV, nên tác nhân người sử dụng thuốc BVTV được tập trung phân tích ở khía cạnh là yếu tố ảnh hưởng Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Bình với 5 nội dung: (i) Bộ máy quản lý nhà nước; (ii) Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Tổ chức hoạt động thực thi pháp luật (trong đó, mục đầu cơ độc quyền lũng đoạn thị trường thuốc BVTV là phần khó thu thập thông tin và số liệu điều tra, nên đề tài chỉ dừng lại ở luận giải trên khía cạnh lý thuyết); (iv) Hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và (v) Công tác tập huấn, tuyên truyền văn bản pháp luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên phạm vi toàn
tỉnh Thái Bình Một số nội dung chuyên sâu được điều tra khảo sát tại 3 huyện đại diện điển hình là Hưng Hà, Quỳnh Phụ và Tiền Hải
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu này được thu thập
từ năm 2012 đến 2015, dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu trong 2 năm 2014
và 2015 Từ đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV đến năm 2020 và những năm tiếp theo
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về mặt lý luận và học thuật: Luận án làm sáng tỏ được phương pháp tiếp
cận và khung phân tích cho nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV Rút ra khái niệm, đặc điểm, nội dung quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV và làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV Luận án cũng đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV, tổng hợp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV Luận án đã xác định được các nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV và phần nào khái quát hóa những kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV của một số nước trên thế giới và một số tỉnh ở Việt Nam từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể
áp dụng cho tỉnh Thái Bình
Trang 24Về thực tiễn: Luận án đã cung cấp được cơ sở dữ liệu về thị trường thuốc
BVTV ở tỉnh Thái Bình Luận án đã làm rõ đặc điểm hệ thống quản lý nhà nước
về thị trường thuốc BVTV và đánh giá được những thành công, những bất cấp của các chính sách và hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước khi triển khai thực hiện ở tỉnh Thái Bình Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra một số quan điểm, chỉ ra một số định hướng và xác định mục tiêu cùng các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình Các giải pháp này được triển khai đồng bộ cùng với việc điều chỉnh từ Trung ương sẽ có giá trị đóng góp rất lớn vào hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần phát triển kinh
tế xã hội, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu, các gợi ý về chính sách, các giải pháp có giá trị tham khảo để quản lý thị trường thuốc BVTV ở các tỉnh có đặc điểm tương tự
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Thuốc BVTV là một đầu vào quan trọng trong SXNN, thị trường thuốc BVTV hiện đang có nhiều bức xúc Người nông dân tự do mua và sử dụng thuốc BVTV hầu hết dựa vào kinh nghiệm hoặc tư vấn của người kinh doanh thuốc mà không tuân thủ nguyên tắc “4 đúng”, miễn là trước mắt diệt trừ được sâu bệnh, không tính đến tác hại lâu dài về môi trường và an ninh thực phẩm Người sản xuất và người kinh doanh thuốc BVTV với mục đích giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận nên thường bỏ qua hoặc lảng tránh những quy định của Nhà nước về danh mục thuốc được phép sử dụng, về giá, về điều kiện sản xuất, buôn bán mà sẵn sàng cung ứng những loại thuốc theo yêu cầu của người nông dân và tăng giá đột biến, nhất là trong lúc mùa vụ và khi nhiều sâu bệnh phát sinh Trong khi đó, quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV còn non yếu, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế, hoạt động thực thi pháp luật chưa được tốt, lực lượng cán bộ mỏng, công tác thanh tra, kiểm tra không được thường xuyên, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe Tình trạng trên xảy ra phổ biến và khá trầm trọng ở Thái Bình và những địa phương có diện tích trồng trọt lớn Từ đó, việc nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước để đưa ra các đề xuất tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là hết sức cần thiết Xét trên giác độ đó, đề tài luận án “Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình” mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn giúp các nhà sản xuất kinh doanh thuốc BVTV có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng
và bảo vệ môi trường; Giúp cho người sản xuất và người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp yên tâm; Giúp cho phát triển xã hội bền vững
Trang 25PHẦN 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
2.1.1 Cơ sở lý luận về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
2.1.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm và phân loại thuốc bảo vệ thực vật
Theo Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật số 41/2013/QH13 ngày 25 tháng
11 năm 2013 đưa ra khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật: “Thuốc hóa học bảo vệ
thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc” (Quốc hội, 2013a)
Điều 48 Luật BV&KDTV năm 2013 quy định “Thuốc hóa học bảo vệ thực vật là hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và phải được quản
lý theo danh mục Hàng năm, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam và danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng ở Việt Nam Nhà nước thống nhất quản lý tất cả các khâu từ đăng ký hoạt chất, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bảo quản, dự trữ, vận chuyển, buôn bán và
sử dụng thuốc hóa học BVTV theo quy định của pháp luật”
Thuốc BVTV được phân thành nhiều loại khác nhau dựa theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng: (i) Dựa vào đối tượng phòng chống: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại, thuốc trừ chuột, thuốc trừ tuyến trùng; (ii) Dựa theo con đường xâm nhập (tác động của thuốc) đến dịch hại: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thẩm thấu và nội hấp; (iii) Dựa vào nguồn gốc hóa học: thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc, thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học, thuốc BVTV có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ; (iv) Dựa vào dạng thuốc: thuốc bột, thuốc nước, thuốc hạt hay dựa theo phương pháp sử dụng: phun lên cây, xử lý giống Các nhóm thuốc BVTV chỉ diệt trừ được một số loài dịch hại nhất định, chỉ phát huy hiệu quả tối
ưu trong những điều kiện nhất định về thời tiết, đất đai, cây trồng, canh tác
Người nông dân trước khi quyết định chọn mua và sử dụng một loại thuốc BVTV, cần biết ruộng vườn của mình đang bị loại dịch nào phá hoại và phải đọc
kỹ hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn thuốc Nếu nông dân không tự mình làm
Trang 26được việc này thì phải nhờ các cán bộ kỹ thuật BVTV hướng dẫn, phải tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” và bảo đảm thời gian cách ly (Quốc hội, 2013a)
Người bán thuốc BVTV cũng có trách nhiệm đọc kỹ các tài liệu hướng dẫn sử dụng để biết được các đặc điểm, cách sử dụng và tác dụng phòng chống độc hại của các loại thuốc BVTV Trước khi bán một loại thuốc BVTV cho khách hàng, phải hỏi kỹ xem khách hàng cần mua thuốc để trừ loại dịch hại nào, trên cây trồng nào, với điều kiện đất đai, canh tác ra sao, trên cơ sở đó người bán hàng giới thiệu loại thuốc thích hợp và hướng dẫn cách sử dụng để đạt hiệu quả cao, vừa bảo đảm an toàn khi sử dụng vừa bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2013a)
- Khái niệm thị trường và thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Thị trường đơn giản là một thể chế hoặc một cơ chế tạo nên sự gặp gỡ giữa người bán (người có cung) và người mua (người có cầu) đối với một hàng hóa, dịch vụ cụ thể nào đó (Cambell, 1987) Theo từ điển tiếng việt, thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo, trong khi
cơ chế là cách thức theo đó một quá trình thực hiện
Hoặc “Một thị trường hình thành bất kỳ khi nào mà người bán và người mua một loại nguồn lực hoặc một hàng hóa nào đó, đưa tới một dòng thông tin tạo ra cơ hội cho mua bán và trao đổi nguồn lực hoặc hàng hóa (FAO, 1991)
Theo Trần Hữu Cường (2012), thị trường có thể định nghĩa như là một khu vực
hoặc một vị trí (cả thực và ảo) nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng và
họ có sự giao tiếp với nhau, nơi mà điều kiện cung và cầu hoạt động, làm cho hàng hóa được dịch chuyển tới vị trí yêu cầu
Như vậy, thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và tồn tại của sản
xuất và trao đổi hàng hóa Theo nghĩa hẹp, thị trường mang yếu tố không gian
để người bán và người mua gặp nhau trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua
tiền tệ Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hợp các điều kiện để thực hiện giá
trị hàng hóa, phản ánh mối quan hệ giữa người và người trong lĩnh vực trao đổi
và mua bán hàng hóa, dịch vụ
Trong luận án này, thị trường thuốc bảo vệ thực vật được hiểu như sau: Thị trường thuốc bảo vệ thực vật là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi theo hình thức mua bán giữa hai bên cung và cầu thuốc hóa học BVTV bao gồm chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng; bảo quản thực vật; làm tăng độ an toàn, hiệu
Trang 27quả khi sử dụng thuốc (Lê Hồng Thái, 1996) Ngắn gọn, thị trường thuốc bảo vệ thực vật là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi theo hình thức mua bán giữa hai bên cung và cầu thuốc bảo vệ thực vật theo luật pháp và thông lệ xã hội
- Khái niệm giá thị trường và giá thuốc bảo vệ thực vật
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, đồng thời biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung - cầu hàng hóa, tích lũy và tiêu dùng trong nước và nước ngoài Giá là quan hệ lợi ích kinh tế, là tiêu chuẩn để doanh nghiệp lựa chọn các mặt hàng kinh doanh (Trần Hữu Cường, 2008)
Thuốc BVTV là một mặt hàng thiết yếu phục vụ cho SXNN, do đó theo Luật Giá số 10/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014 thuốc BVTV là một trong những mặt hàng thực hiện bình ổn giá tùy theo tình hình biến động giá tăng quá cao hoặc quá thấp bất hợp lý do tác động của yếu tố chính sách, thiên tại dịch họa gây tác động xấu đến sản xuất hoặc đời sống nhân dân Nhà nước áp dụng biện pháp thích hợp về điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hành chính cần thiết khác để tác động vào sự hình thành và vận động của giá, không để giá hàng hóa, dịch vụ tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý nhằm tránh tình trạng đầu cơ độc quyền lũng đoạn thị trường thuốc BVTV
Bên cạnh đó, Luật BV&KDTV năm 2013 quy định các cơ sở buôn bán thuốc BVTV phải thực hiện niêm yết giá theo các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng cách
in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Các cửa hành buôn bán thuốc BVTV tự quyết định giá và không được bán cao hơn hoặc mua thấp hơn giá niêm yết
Như vậy, Nhà nước thực hiện điều tiết giá thuốc BVTV qua hai hình thức bình ổn giá và niêm yết giá nhằm tránh tình trạnh đầu cơ độc quyền thao túng thị trường thuốc BVTV, đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành thanh tra kiểm tra thuốc giả, thuốc quá hạn sử dụng lưu thông trên thị trường để bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng thuốc BVTV
2.1.1.2 Phân loại thị trường và cấu trúc thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Về lý thuyết, các nhà kinh tế học đã phân chia thị trường thành 4 cấu trúc
cơ bản dựa vào 5 đặc tính: số lượng người mua và người bán trên thị trường, đặc điểm của sản phẩm, sức mạnh thị trường của người mua và người bán, thông tin
Trang 28về sản phẩm và giá cả trên thị trường và các trở ngại cho việc gia nhập thị trường (Trần Hữu Cường, 2012)
Bảng 2.1 Phân loại thị trường hàng hóa và dịch vụ Đặc tính Cạnh tranh
hoàn hảo
Cạnh tranh độc quyền
Độc quyền cạnh tranh
Độc quyền hoàn hảo
Khác nhau, thay đổi
Khác nhau Sản phẩm
giống nhau của một DN Mức độ dễ
tham gia của
Có bị ảnh hưởng bởi hàng hóa thay thế
Ảnh hưởng lớn, nhưng bị hạn chế bởi ganh đua về giá
Ít ràng buộc, không được quy định Nguồn: Trần Hữu Cường (2012)
Về thực tiễn, thị trường thuốc BVTV là nơi gặp gỡ giữa người bán (công
ty sản xuất, gia công sang chai đóng gói thuốc BVTV) và người kinh doanh (công
ty kinh doanh, đại lý bán buôn, cửa hàng bán lẻ - là những tác nhân trung gian vừa đóng vai trò người mua và cũng là người bán thuốc BVTV) với người mua thuốc BVTV về sử dụng (nông dân) có sự giao tiếp với nhau để trao đổi mua bán về thuốc BVTV, giá cả được thiết lập và giá này tăng hay giảm theo sự thay đổi của lực cung và lực cầu về sản phẩm thuốc BVTV Thị trường thuốc BVTV phải tuân thủ theo các quy luật kinh tế khách quan như quy luật cạnh tranh, quy luật giá cả, quy luật giá trị cơ chế này gọi là sự điều tiết nó diễn biến tự nhiên giữa các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV Như vậy, theo tiêu chí phân loại thị trường hàng hóa dịch vụ (bảng 2.1) thì thị trường thuốc BVTV là thị trường độc quyền cạnh tranh (hay độc quyền nhóm) vì nó thỏa mãn các điều kiện dưới đây: (i) Là thị trường có ít người bán hơn nhưng bán khối lượng lớn; (ii) Các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm thuốc BVTV với hoạt chất tương tự nhau mà sản phẩm không giống nhau hoàn toàn; (iii) Mức độ tham gia của các doanh nghiệp mới khi tham gia thị trường là khó khăn và có rào cản bởi thuốc BVTV là sản phẩm đặc thù, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; (vi) Mỗi doanh nghiệp sản xuất ra một
tỷ trọng lớn sản phẩm thuốc BVTV trong tổng sản phẩm trên thị trường và kết quả
là hành động của một doanh nghiệp trong ngành BVTV có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp khác Vì thế, độc quyền gây tổn hại cho xã hội và được coi là một trong các nguyên nhân gây thất bại của thị trường.Các doanh nghiệp trong thị
Trang 29trường độc quyền nhóm có động cơ mạnh mẽ để cấu kết với nhau, nhằm cắt giảm sản lượng, tăng giá và tăng lợi nhuận
Do đó, sự khác nhau giữa các cấu trúc thị trường thuốc BVTV thường được xem xét qua các yếu tố: số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh, các đại lý bán buôn, các cửa hàng bán lẻ thuốc BVTV; tính đồng nhất hay sự giống nhau của sản phẩm thuốc BVTV; nhu cầu sử dụng và sự cạnh tranh giá bán thuốc BVTV trên thị trường
2.1.1.3 Đặc trưng cơ bản của thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Có rất nhiều khía cạnh khác nhau giữa thị trường thuốc BVTV với các thị trường khác Vì, thuốc BVTV là con dao hai lưỡi, khi sử dụng thuốc theo đúng nguyên tắc “4 đúng” (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và đúng kỹ thuật) thì thuốc sẽ phát huy tối đa hiệu quả phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trên ruộng lúa, nếu không, thuốc sẽ có tác dụng ngược lại, làm ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi, sức khỏe con người và môi trường sinh thái Sự khác biệt này có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến tình hình sản xuất kinh doanh và buôn bán thuốc BVTV Đặc điểm khác biệt cơ bản của thị trường thuốc BVTV như sau:
Thị trường hàng hóa đặc thù: Thuốc BVTV là hàng hóa hạn chế kinh
doanh, kinh doanh có điều kiện và phải được quản lý theo danh mục Quản lý nhà nước để lượng thuốc BVTV được sử dụng trên đồng ruộng “càng ít càng tốt” Sản phẩm thuốc BVTV đa dạng, cùng hoạt chất thuốc, nhưng chất lượng lại khác nhau Bên cạnh đó, địa bàn phân bố các cửa hàng bán lẻ ở các vùng nông thôn, phân tán xen lẫn với các khu vực dân cư sinh sống nên tạo ra sự khó khăn trong công tác quản lý và kiểm định chất lượng thuốc BVTV, đòi hỏi cán bộ quản lý phải có trình độ chuyên môn BVTV, máy móc chuyên dụng hỗ trợ điều này làm cho nguồn lực và kinh phí quản lý tăng cao (Đào Trọng Ánh, 1998) Hiện nay, thị trường thuốc BVTV còn nhiều bật cập Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, đến tháng 12/2010 có 28.750 đại lý, cửa hàng buôn bán thuốc BVTV trong phạm vi cả nước, trong đó có tới 16% số cơ sở buôn bán vi phạm Việc vi phạm chủ yếu là: i) Cơ sở không đăng ký kinh doanh, điểm bán lẻ mang tính thời vụ và địa điểm bán không cố định nên khó khăn cho công tác quản lý; ii) Mặc dù, Nhà nước đã ban hành nhiều qui định về chuẩn hóa trình độ của người được cấp chứng chỉ hành nghề buôn bán thuốc BVTV nhưng việc thực thi còn gặp rất nhiều khó khăn Theo điều tra, khoảng 26,8% số hộ nông dân mua thuốc dựa trên khuyến cáo của các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong khi đó trình độ của người bán thuốc - những người tư vấn trực tiếp cho người nông dân -
Trang 30lại khá thấp: 28,7% có trình độ trung cấp nông nghiệp và 82% số đại lý còn lại mới chỉ qua các lớp huấn luyện ngắn ngày; iii) Hệ thống kho chứa và cửa hàng buôn bán thuốc BVTV chưa được quy hoạch rõ ràng Phần lớn các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV nằm khá gần khu dân cư (chiếm 76,4%) và chưa có hệ thống kho chứa riêng biệt; iv) Đi kèm với đó công tác quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV của chính quyền các cấp huyện, cấp xã còn yếu (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013)
Thị trường thuốc BVTV chủ yếu là do nhập khẩu: rất đa dạng về mẫu mã và
chủng loại nhưng thông tin về thuốc BVTV không được cung cấp đầy đủ đến người sử dụng Trong quy mô sản xuất nhỏ, cá thể, người nông dân hoàn toàn tự lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV theo ý chủ quan hoặc phụ thuộc vào sự tư vấn, hướng dẫn của người bán hàng Việc sử dụng thuốc BVTV trên thực tế còn tiềm
ẩn nhiều nguy cơ, nhiều nông dân sử dụng thuốc còn tùy tiện chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế của mình mà không quan tâm đến việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường Số liệu điều tra năm 2010 cho thấy, nông dân tự hỗn hợp hai hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau (chiếm 87,9%), không theo hướng dẫn của cán bộ BVTV mà thường theo hướng dẫn của người bán (chiếm 24,7%), người quen (chiếm 2,63%) và kinh nghiệm bản thân (chiếm 28,9%) Mặc dù, Nhà nước
đã ban hành qui định xử phạt đối với việc người nông dân sử dụng các loại thuốc BVTV trong danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng hoặc cấm sử dụng, nhưng công tác thanh tra giám sát và xử phạt vi phạm đối với người trực tiếp sử dụng mới dừng lại ở biện pháp nhắc nhở và tuyên truyền giáo dục mà chưa tiến hành
xử phạt hành chính (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013)
Thị trường mang tính mùa vụ và không ổn định: Do bản chất sinh học của
SXNN mà các doanh nghiệp tham gia thị trường thuốc BVTV phải đối phó với tình huống mùa vụ trong kinh doanh Tính mùa vụ này gây ra do cầu thị trường thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh hại là khác nhau đối với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của từng loại cây trồng Bên cạnh đó, sự bất ổn của thời tiết
và sự dịch chuyển của thời vụ gieo trồng cũng có thể tạo ra những khó khăn rất lớn hoặc phá hủy toàn bộ kế hoạch dự kiến của các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV
Thị trường có sự can thiệp của Chính phủ: Thuốc BVTV là một mặt hàng
thiết yếu phục vụ cho SXNN thực hiện niêm yết giá và bình ổn giá Sự can thiệp của Chính phủ nhằm khắc phục tính mùa vụ, sự không ổn định của thời tiết và thiên tại dịch họa gây tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp
Trang 31Thị trường phức tạp trong công tác quản lý: cơ chế vận hành hoạt động
quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV dựa vào hệ thống các văn bản puy phạm pháp luật về: quản lý thuốc BVTV, QLTT, QLMT, QLCL đòi hỏi sự phối kết hợp của nhiều cơ quan quản lý nhà nước thuộc nhiều thành phần khác nhau, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và liên tục
Như vậy, Nhà nước phải thống nhất quản lý thị trường thuốc BVTV ở tất cả các khâu từ đăng ký; nhập khẩu; điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc BVTV; số lượng, chất lượng, chủng loại và giá thuốc lưu thông trên thị trường đến việc sử dụng thuốc BVTV theo quy định của pháp luật Hoạt động thanh tra kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước phải nghiêm ngặt và được diễn ra thường xuyên tránh tình trạng đầu cơ độc quyền thao túng thị trường thuốc BVTV nhằm mang lại hiệu quả trong sản xuất, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người
2.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật
2.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
- Khái niệm quản lý
Trên thực tế tồn tại nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý”, thông thường,
quản lý bao gồm các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra
và điều chỉnh Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan (Phan Huy Đường, 2015) Theo lý thuyết hệ thống thì quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống (Nguyễn Thị Minh Phương, 2015)
Như vậy, việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
- Khái niệm quản lý nhà nước
Theo Nguyễn Hữu Hải (2014), “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ
chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội
và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa”
Ngô Huy Toàn (2009) cho rằng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ
Trang 32xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Như vậy, cách hiểu chung nhất quản lý nhà nước là một dạng quản lý do Nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối để đạt được mục tiêu kinh tế -
xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
- Khái niệm quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Theo Phan Huy Đường (2015), “Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có chủ đích của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính, trên tất cả các lĩnh vực và thành phần kinh tế” Khái niệm quản lý nhà nước về thị trường được hiểu là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo đảm cho hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa diễn ra trên thị trường gắn liền với quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng thông qua các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm tra Qúa trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ phải tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan với phương châm điều tiết các bên đều có lợi (Nguyễn Thị Thanh Hiếu, 2011) Trên cơ sở khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế và khái niệm quản lý
nhà nước về thị trường thì: Quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực
vật có thể hiểu là sự tác động có chủ đích của Nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, lực lượng vật chất và tài chính, lên tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán thuốc bảo vệ thực vật nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, sức khỏe con người và môi trường
Như vậy, quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được hiểu là có hệ thống bộ máy tổ chức quản lý đủ năng lực, thể hiện tập trung trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức hoạt động thực thi chính sách pháp luật một cách nghiêm ngặt; công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật và công tác tập huấn, thông tin, tuyên truyền văn bản pháp luật nhằm đạt được mục tiêu quản lý như mong muốn Tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV liên quan tới nhiều khâu cơ bản trong chu trình quản lý, gồm: (i) con người với tư cách nhân vật trọng tâm; (ii) nội dung văn bản, chính sách và quyết định gắn với thực tiễn; (iii) cơ chế, tài chính, công cụ máy móc hỗ trợ bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước (Vũ Thanh Hải, 2013)
Trang 332.1.2.2 Cấu trúc quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV là hàng hóa hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, cấu trúc quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được thể hiện thông qua 5 hợp phần:
Thứ nhất, chủ thể quản lý là các các cơ quan Nhà nước thực hiện quyền
quản lý thị trường thuốc BVTV theo cấp hành chính: Chính phủ, các bộ, ngành
và chính quyền địa phương (UBND các cấp, cơ quan chuyên môn BVTV, cơ quan Quản lý thị trường ) Sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước này nhằm hạn chế những mặt trái của cơ chế thị trường, tự điều tiết phát sinh ra cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Hữu Hải, 2014) Các
cơ quan này được phân công, phân cấp thực thi hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát việc sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV theo pháp luật Thị trường thuốc BVTV phức tạp phải chịu sự quản lý, kiểm tra và giám sát của nhiều cơ quan ban ngành khác nhau, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và liên tục
Thứ hai, khách thể quản lý là thị trường thuốc BVTV với hai đối tượng
chính gồm sản phẩm thuốc BVTV và các tác nhân tham gia trên thị trường như: chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc BVTV, trong quá trình tương tác phải tuân thủ các quy định của Luật BV&KDTV năm
2013 và quy luật kinh tế khách quan Thuốc BVTV là một mặt hàng kinh doanh đặc thù không giống loại hàng hóa khác trên, đây là mặt hàng yêu cầu các điều kiện sản xuất kinh doanh, buôn bán khắt khe hơn các loại hàng hóa thông thường
khác trên thị trường Quản lý để lượng thuốc BVTV được sử dụng “càng ít càng
tốt” Thuốc BVTV là một sản phẩm khác biệt không khuyến khích dùng nhiều
mà hướng đến dùng đúng, dùng đủ, bảo đảm chất lượng, an toàn cho người và sản phẩm nông nghiệp Vì, việc sử dụng nhiều thuốc BVTV có tác động tiêu cực ảnh hưởng nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường (Quốc hội, 2013a) Người bán lẻ thuốc BVTV, chủ yếu là các cửa hàng bán lẻ, họ xuất phát là những người nông dân ít có trình độ hiểu biết sâu về thuốc BVTV, nên việc cấp phép điều kiện buôn bán cho các đối tượng này gặp nhiều khó khăn, nhất là việc
tổ chức tập huấn trước khi cấp chứng chỉ hành nghề (Đào Trọng Ánh, 2001)
Thứ ba, nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước xét theo quá trình quản lý
bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra (Nguyễn Thị Thanh Hiếu, 2011) Theo Vũ Xuân Dũng (2006), nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước được thể hiện trên 4 mặt: thiết lập bộ máy tổ chức; ban hành các văn bản, chính sách;
tổ chức thực thi pháp luật; thanh tra kiểm tra, giám sát các hoạt động và định
Trang 34hướng phát triển Như vậy, nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV bao gồm: i) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; ii) Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; iii) Tổ chức hoạt động thực thi pháp luật; iv) Công tác thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật và v) Công tác tập huấn, thông tin và tuyên truyền văn bản pháp luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV Nội dung quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là việc các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật của chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc BVTV về: điều kiện sản xuất, buôn bán, sử dụng; số lượng, chất lượng, chủng loại; giá bán và tình trạng đầu cơ độc quyền thuốc BVTV
Thứ tư, công cụ quản lý là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước
dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV (Đào Trọng Ánh, 2002) Sự phức tạp trong quản lý còn do yếu tố thị trường thuốc BVTV mang những đặc điểm khác biệt: thị trường hàng hóa đặc biệt phụ thuộc vào điều kiện thời tiết tự nhiên phát sinh sâu bệnh; thị trường thuốc BVTV chủ yếu là do nhập khẩu; thị trường thuốc BVTV đa dạng mẫu mã, chủng loại và luôn luôn thay đổi; thị trường thuốc BVTV hoạt động chủ yếu ở khu vực tư nhân và thị trường thuốc BVTV ngày một tăng là do thuốc BVTV là một mặt hàng siêu lợi nhuận Như vậy, để làm tốt công tác quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: quản lý chuyên môn thuốc BVTV, quản lý thị trường, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, hoạt động của thị trường thuốc BVTV việc thực hiện liên tục một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Cho nên, đòi hỏi tính chuyên nghiệp của cán bộ chuyên ngành BVTV, cán bộ quản lý thị trường không chỉ cần có kiến thức chuyên môn BVTV mà còn phải vững vàng về mặt pháp lý, hiểu biết về bộ máy nhà nước, có kinh nghiệm thực tiễn và hoạt động quản lý thị trường thuốc BVTV phải tiến hành thường xuyên liên tục không bị gián đoạn (Đỗ Kim Chung, 2012)
Thứ năm, phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động có chủ
đích của Nhà nước lên thị trường thuốc BVTV nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện cụ thể về không gian và thời gian Phương pháp quản lý thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với đối tượng quản lý và khách thể quản lý rất đa dạng và phức tạp, vì vậy phương pháp quản lý phải thường xuyên thay đổi tùy theo tình huống cụ thể và tùy theo đối tượng quản lý (Phan Huy Đường, 2015)
Trang 35Các phương pháp quản lý bao gồm phương pháp hành chính, phương pháp kinh
tế và phương pháp giáo dục Trong đó, phương pháp hành chính được đề cao thể hiện thông qua cơ chế vận hành dựa vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý thuốc BVTV, quản lý thị trường, quản lý môi trường, quản lý chất lượng Luật pháp thì giống nhau nhưng thực trạng thực thi pháp luật, công tác thanh tra kiểm tra và thông tin tuyên truyền ở mỗi tỉnh thành lại khác nhau tùy thuộc vào điều kiện vận hành của từng tỉnh và được ban hành nhằm đạt được các
mục tiêu cụ thể về ngành BVTV Phương pháp kinh tế không những áp dụng đối
với khách thể quản lý mà ngay cả đối với cán bộ thuộc chủ thể quản lý, trong đó các điều kiện vật chất và chế độ đãi ngộ để thực hiện hoạt động quản lý nhà nước
về thị trường thuốc BVTV cần phải được chú trọng (Đào Trọng Ánh, 2002) Như vậy, từ các đặc điểm trên để làm tốt công tác quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV, cần phải xem xét một cách tổng thể các mối quan hệ và tác động qua lại giữa các tác nhân để hiểu rõ cơ chế vận động và vận hành của thị trường thuốc BVTV một cách toàn diện và đồng bộ (Phạm Văn Hội, 2010) Mối liên hệ lý thuyết giữa các tác nhân này được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Mối liên hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và các tác nhân tham gia
thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Nguồn: Phạm Văn Hội (2010)
Ghi chú: Quan hệ quản lý
Trang 362.1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Vai trò chung của quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV, bao
gồm: Thứ nhất, Nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc định
hướng, kiểm soát thị trường, ngăn chặn tình trạng đầu cơ độc quyền tích trữ
thuốc BVTV gây lũng đoạn thị trường Thứ hai, nhà nước có vai trò quan trọng
trong việc phổ biến kiến thức chuyên môn, kiến thức pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc BVTV nhằm hạn chế những tác động xấu của thuốc BVTV tới sức khỏe
con người và môi trường Thứ ba, các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách
của Nhà nước nhằm tạo lập cơ sở pháp lý đầy đủ, giúp quá trình thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được dễ dàng và phân định
rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực hiện, tránh được tình trạng đổ lỗi cho nhau (Quốc hội - Viện Nghiên cứu Lập pháp, 2013) Vai trò của quản lý của Nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV được cụ thể với các tác nhân trên thị trường như sau:
a Vai trò của quản lý nhà nước đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
Thứ nhất, bảo đảm tính công bằng, sự bình đẳng giữa các tác nhân tham gia
thị trường thuốc bảo vệ thực vật Tính mâu thuẫn về quyền lợi và sự cạnh tranh
giữa các tác nhân trên thị trường thuốc BVTV có thể dẫn đến những hoạt động cạnh tranh thiếu lành mạnh Điều này được biểu hiện qua việc Nhà nước bình đẳng giữa các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV, được tự do tham gia và rút khỏi thị trường, bình đẳng trong việc cung cấp thông tin, bình đẳng giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ Sự bình đẳng này phải nằm trong khuân khổ của pháp
luật và hướng tới lợi ích chung của nền kinh tế (Nguyễn Phượng Lê, 2013)
Thông qua hoạt động quản lý nhà nước nhằm bảo vệ các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV Thị trường thuốc BVTV chỉ có thể hoạt động ổn định và phát triển lâu dài khi các thông tin cung cấp trên thị trường bảo đảm tính công khai, chính xác, trung thực và minh bạch Bởi lẽ, điều này cho phép các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc BVTV có được các thông tin tin cậy là điều kiện cần thiết để xác định loại thuốc BVTV thích hợp khi đưa ra các quyết định mua và bán thuốc BVTV Việc đáp ứng yêu cầu này có tác dụng ngăn chặn, hạn chế các hành vi tiêu cực như gian lận, lừa đảo, lũng đoạn thị trường, mua bán nội gián gây tác động xấu đến sự ổn định và phát triển lành mạnh của thị trường thuốc BVTV (Trương Quốc Tùng, 2015)
Trang 37Thứ hai, bảo đảm tính hiệu quả của thị trường Hiệu quả của thị trường
thuốc BVTV được đánh giá qua tiêu chí chi phí thấp và khả năng phòng trừ dịch hại cao nhất bảo đảm an toàn sức khỏe cho con người, môi trường và xã hội Quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV giúp điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và xác lập khuân khổ pháp luật đúng đắn cho thị trường thuốc BVTV Để bảo đảm tính hiệu quả của thị trường thuốc BVTV, một mặt phải cung cấp thông tin một cách chuẩn xác, kịp thời, minh bạch
và đầy đủ các thông tin về chất lượng, chủng loại và giá thuốc BVTV Mặt khác, các quy luật của thị trường cần được tôn trọng, đồng thời sử dụng các công cụ và biện pháp quản lý để tác động, can thiệp nhằm tạo nên sự vận hành thông suốt,
ổn định và phát triển dài lâu của thị trường Tuy nhiên, những can thiệp và tác động của các biện pháp quản lý phải phù hợp để tạo nên kết quả mong muốn, tránh trường hợp can thiệp trái quy luật và can thiệp thô bạo bằng các biện pháp hành chính đưa đến những tác động và hiệu quả xấu (Nguyễn Phượng Lê, 2013)
Thứ ba, bảo đảm việc kiểm soát số lượng, chất lượng, chủng loại và giá thuốc
BVTV phù hợp với tình hình phát sinh sâu bệnh, từng đối tượng, từng vùng sinh thái
và từng hoàn cảnh kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Hoạt động quản lý nhà nước đối
với thị trường thuốc BVTV có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV phát triển đúng hướng, bảo đảm cho sự phát triển cân đối và bền vững các loại thuốc BVTV: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ Quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển lâu dài thị trường thuốc BVTV, khuyến khích đầu tư hiện đại hóa công nghệ sản xuất và phát triển các dạng thuốc BVTV mới bảo đảm số lượng, chất lượng, giá thuốc BVTV và an toàn cho người sử dụng Nâng cao hoạt động quản lý để chống các loại thuốc BVTV kém chất lượng, thuốc không rõ nguồn gốc và cung cấp thông tin cho người sử dụng về danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và hạn chế sử dụng là một yêu cầu thiết yếu (Nguyễn Phượng Lê và Trần Thị Như Ngọc, 2013)
b Vai trò của quản lý nhà nước đối với người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Thứ nhất, giảm thiệt hại kinh tế, việc danh mục thuốc BVTV được phép sử
dụng ở Việt Nam có quá nhiều tên thương mại, trong khi đó nhiều tên thương mại gần giống nhau nhưng khác nhau về chất lượng và giá bán Do đó, hoạt động quản
lý để thị trường thuốc BVTV không còn thuốc giả, thuốc kém chất lượng hay các gian lận thương mại, giúp người sử dụng giảm thiệt hại kinh tế và bảo vệ sản xuất
Thứ hai, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng đồng cho người sử dụng
thuốc BVTV Hiện nay nhiều người sử dụng thuốc BVTV chưa nhận thức được mức
độ nguy hiểm của thuốc BVTV và có tư duy “thuốc càng tiêu diệt được nhiều loại
Trang 38sâu càng tốt” nên phần lớn họ thích sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học, không tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” và thời gian cách ly (Lê Thị Kim Oanh, 2003) Quản lý nhà nước nhằm tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát quá trình mua
và sử dụng thuốc BVTV nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người sử dụng thuốc BVTV để giảm thiểu chi phí, tăng hiệu quả sử dụng và bảo vệ môi trường thông qua các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) như “1 phải, 5 giảm”, “4 đúng” “3 giảm, 3 tăng” (Cục BVTV, 2015; Phạm Văn Toàn, 2013) Như vậy, quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được xác định là hướng chủ đạo để người sử dụng có cơ hội tiếp cận đúng sản các phẩm thuốc BVTV có chất lượng tốt, giá cả hợp lý Thông qua hoạt động quản lý nhằm gắn trách nhiệm cho người sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ nguyên tắc “4 đúng” và bảo đảm thời gian cách ly để tăng hiệu quả phòng trừ, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại kinh tế đồng thời bảo vệ sức khỏe và môi trường (Đặng Xuân Phi và Đỗ Kim Chung, 2012) Tóm lại, quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là việc các cơ quan công quyền thực hiện chức năng để thị trường thuốc BVTV hoạt động theo đúng hướng, đúng pháp luật và bảo đảm lợi ích cho các tác nhân tham gia Quản lý nhà nước nhằm tạo ra một thị trường hoạt động ổn định, công khai minh bạch, phát triển bền vững và phát huy tốt vai trò của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng thuốc BVTV, giá cả hợp lý; hạn chế tồn dư thuốc BVTV trên nông sản thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường hoạt động thanh tra kiểm tra,
xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo; tăng cường nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn thuốc BVTV; tăng cường hợp tác thực hiện các Điều ước, Công ước và qui định quốc tế về thuốc BVTV nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới (Hoàng Bá Thịnh, 2009)
2.1.2.4 Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Từ khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý của nhà nước về thị trường thuốc BVTV nêu trên, chúng ta có thể đi sâu phân tích một số nội dung nghiên cứu quản
lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV như sau:
a Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Thị trường thuốc BVTV được kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống bộ máy quản lý nhà nước của từng quốc gia, mỗi quốc gia đều có xu hướng ban hành các quy chế
và thiết lập cơ chế quản lý riêng, tuy nhiên đều hướng tới mục đích quản lý hiệu quả thị trường thuốc BVTV: sản xuất bảo đảm số lượng, chất lượng; hoạt động kinh doanh bảo đảm kỉ cương, ngăn cấm xuất nhập khẩu trái phép; nâng cao năng suất cây trồng, thu nhập của người SXNN đồng thời bảo vệ môi trường và
Trang 39sức khỏe cộng đồng (Hoàng Bá Thịnh, 2009) Bộ máy quản lý nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất tạo thành một chỉnh thể đồng bộ nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước
Về chuyên môn BVTV, Nhà nước có quy định phân công trách nhiệm, nhiệm
vụ cho từng cơ quan, đơn vị trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý thị trường thuốc BVTV từ Trung ương đến địa phương, mỗi cơ quan sẽ có trách nhiệm cụ thể và phối hợp với các cơ quan khác trong hệ thống (Nguyễn Phượng Lê, 2013) Theo sự phân định chức năng: quản lý nhà nước ở Trung ương gồm các Bộ; quản lý nhà nước ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm các sở ban ngành; quản lý các quận, huyện gồm các Phòng (sơ đồ 2.2)
Sơ đồ 2.2 Bộ máy quản lý nhà nước đối với thị trường
thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Phượng Lê (2013)
Về quản lý thị trường, Bộ Công Thương thể hiện rất rõ vai trò quản lý thị
trường thuốc BVTV thông qua thực hiện nhiệm vụ thanh tra kiểm tra, giám sát
Cơ sở buôn bán thuốc BVTV
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cục Bảo vệ thực vật
Phòng quản lý thuốc BVTV
Chi cục BVTV hoặc Chi cục
TT&BVTV
Các Chi cục kiểm dịch thực vật vùng
Các Trung tâm Bảo vệ thực vật
Trạm BVTV hoặc Trạm TT&BVTV
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Người sử dụng thuốc BVTV
Phòng Công Thương/Đội QLTT; Phòng TN-MT
UBND
HUYỆN
Sở Công Thương/Chi cục QLTT; Công an Kinh tế; PCCC; Sở TN-MT
CHÍNH
PHỦ
Ghi chú:
Chỉ đạo Phối hợp
UBND
XÃ
Trang 40thị trường thuốc BVTV đấu tranh chống hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại thuốc BVTV (Bộ Công Thương - Bộ Nội Vụ, 2015) Ngoài ra, tham gia quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV còn có các đơn vị liên quan phối hợp như: Công an Kinh tế, PCCC, Sở Tài nguyên Môi trường, Trung tâm Khuyến nông, UBND các xã (Kim Oanh, 2014)
b Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp các chủ trương, đường lối, chính sách và hành động về phương diện nào đó của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện bao gồm mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và các phương pháp để đạt được mục tiêu đó Các văn bản quy phạm pháp luật càng rõ ràng, càng chi tiết và càng phù hợp với điều kiện thực tế khách quan bao nhiêu thì hoạt động quản lý của Nhà nước càng chuẩn xác bấy nhiêu (Phan Huy Đường, 2015) Như vậy, bất luận là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận là hình thức văn bản nào (Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định… do cơ quan nhà nước Trung ương hay chính quyền địa phương ban hành) đều phải được tuân thủ và thực hiện (Quốc hội, 2015).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành có tính chất định hướng hoạt động thị trường thuốc BVTV được khảo sát, tìm hiểu để phù hợp với từng nước, phù hợp với năng lực quản lý của các bộ quản lý giúp nâng cao hiệu quả quản lý, dễ hiểu, dễ thực hiện (Nguyễn Quang Hiếu, 2014) Tuy nhiên, thể chế chính sách sẽ tạo thuận lợi cho một số tác nhân này nhưng lại tạo
ra một số bất lợi cho tác nhân khác Nếu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, đầy đủ và có tính áp dụng thực tiễn cao sẽ tạo động lực rất lớn cho sự phát triển của thị trường thuốc BVTV, giúp cho các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh với bộ sản phẩm chất lượng tốt, thân thiện với môi trường và giá bán phù hợp với quy mô ngày càng mở rộng, chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn (Lê Văn Thiện, 2008)
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý thị trường thuốc BVTV là hệ thống các văn bản có chứa quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Trong đó, quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thị trường thuốc BVTV do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản quy phạm pháp luật là các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc BVTV
có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm áp dụng sau khi văn bản được ban hành