1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ ở Tỉnh Thanh Hóa

107 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 919,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ chưa đạt hiệu quả, song nguyên nhân cơ bản nhất do cơ

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều ngành luật khác nhau với những biện pháp trách nhiệm, những chế tài cụ thể khác nhau Gắn với luật hình sự là biện pháp trách nhiệm hình sự với chế tài cụ thể là hình phạt

Đó là một loại chế tài đặc biệt trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong số bảy hình phạt chính của pháp luật hình sự Việt Nam.Theo qui định tại Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1999 thì: "Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính có thời hạn từ sáu tháng đến ba năm được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc phạm tội nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng khi xét thấy không cần thiết phải cách li người phạm tội ra khỏi xã hội

Còn án treo không phải là một hình phạt, mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Điều 60 Bộ luật hình sự hiện hành qui định: "Khi phạt tù không quá ba năm xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù thì tòa án cho hưởng án treo và

ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm’’

Việc qui định hình phạt cải tạo không giam giữ và chế định án treo là sự thể chế hóa chủ trương, chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta Đó là

Trừng trị kết hợp với giáo dục, giáo dục với phòng ngừa là chính, kết hợp với răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, đề cao tinh thần nhân đạo Xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh của cơ quan bảo vệ pháp luật, của các đoàn thể xã hội và mọi công dân trong phòng chống tội phạm,vận dụng thích hợp các biện pháp hành chính, kinh tế, cải tạo và quản lý giáo dục tại cộng đồng dân cư để đạt hiệu quả cao nhất đối với từng người phạm tội, tránh khuynh hướng nặng về hình phạt tù [4]

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng và cụ thể hóa các quy định của Bộ luật hình

sự, Bộ luật tố tụng hình sự về chế định án treo và cải tạo không giam giữ, ngày 30/10/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60, Nghị định 61/2000/NĐ-CP qui định cụ thể về quyền

và nghĩa vụ của người được hưởng án treo, người bị phạt cải tạo không giam giữ, trách

Trang 3

nhiệm và quyền của cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án.Việc thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, vừa đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo sự ổn định của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế- xã hội của đất nước

Tuy nhiên thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ chưa đạt được kết quả mong muốn Xin trích lời phát biểu của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thạc Nhượng sau chuyến giám sát tại một số địa phương, đã đưa ra lời cảnh báo: "án treo và cải tạo không giam giữ tại các địa phương không hề được các

cơ quan chức năng để mắt tới, sự buông lỏng quản lý của các địa phương là lý do khiến việc thực hiện Nghị định 60, 61 của chính phủ về thi hành án hết sức khó khăn’’ [58]

Thanh Hóa cũng trong tình trạng chung của cả nước, là một tỉnh đất rộng, người đông, với tổng diện tích 11.000km2/3,7triệu dân, 636 xã, phường, thị trấn Cùng với sự phát triển kinh tế, tình hình tội phạm cũng gia tăng và diễn biến phức tạp, số người bị kết án phạt

tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ tương đối lớn song số người được giám sát, giáo dục theo tinh thần của Nghị định 60,61 không đáng kể, nhiều người không nhận được

sự quan tâm từ phía gia đình, xã hội, môi trường để họ tái hòa nhập với cộng đồng hết sức khó khăn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ chưa đạt hiệu quả, song nguyên nhân cơ bản nhất do cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục người bị kết án chưa thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình theo Nghị định 60,61, mặt khác các qui định của Nghị định 60,61 thiếu tính khả thi, nhiều điểm chưa rõ ràng, bất cập Bên cạnh đó các

cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chưa thực sự quan tâm đến công tác này Từ năm 2000 đến nay, toàn tỉnh chưa mở được hội thảo khoa học nghiên cứu về lĩnh vực thực hiện pháp luật thi hành án hình sự, chưa tiến hành sơ kết, tổng kết đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật trên địa bàn Tỉnh, chỉ ra nguyên nhân và giải pháp thi hành án có hiệu quả

Xuất phát từ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, nhất thiết phải đảm bảo các quy định của pháp luật về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ đã ban hành phải được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, đơn vị và người bị kết

án phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, góp phần lập lại trật tự kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực thi hành án

Trang 4

Từ những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:" Thực hiện pháp luật thi hành án

đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ ở Tỉnh Thanh Hóa " để nghiên

cứu viết luận văn thạc sĩ luật học, bởi đây bởi đây là đề tài rất cấp thiết có ý nghĩa quan trọng cả

về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hiện pháp luật là một nội dung quan trọng của Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, được các nhà khoa học pháp lý, các cơ quan thực thi pháp luật nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Riêng thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ mang đậm tính nhân đạo Xã hội chủ nghĩa và là một vấn đề khá nhạy cảm, mang tính cấp thiết nên đã có một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này ở những khía cạnh nhất định:

* Thứ nhất: Về sách và các bài viết đăng trên báo, tạp chí:

- Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam Sách xuất bản năm 2007, tác giả Lê

văn Luật

- Một số suy nghĩ về Nghị định 61/2000/NĐ-CP về thi hành hình phạt tù cho hưởng

án treo, Tạp chí Toà án nhân dân, số 3/2001

- Bàn về án treo từ góc nhìn so sánh, Trịnh Quốc Toản,Tạp chí khoa học và Tổ

Quốc số 22/2004 ngày 20/11/2004

- án treo và thực tiễn áp dụng, tạp chí Toà án nhân dân, số 05/1996

- Chế định án treo và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam, tạp chí

Toà án nhân dân, số 02/2005

- Một số suy nghĩ về chế định án treo, tạp chí Toà án nhân dân số 01/1991 Nguyễn

- Một số vần đề thi hành án hình sự, sách của tác giả Trần Quang Tiệp

- Dự thảo Bộ luật thi hành án

- Pháp luật thi hành án Việt Nam- những vấn đề lý luận và thực tiễn [57]

* Thứ hai: Về đề tài khoa học:

Trang 5

- Đề tài: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm về công tác quản lý, giáo dục người phải thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã của Tỉnh Vĩnh Phúc- Đề tài khoa học của Viện Kiểm sát nhân dân

Tỉnh Vĩnh Phúc- chủ nhiệm Nguyễn Huy Phượng

Các công trình nghiên cứu hoặc các bài viết trên chủ yếu phân tích và bình luận về chế định án treo, cải tạo không giam giữ, hoặc có đề tài không dừng lại ở phần lý luận mà

có đánh giá thực trạng về thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ ở địa phương mình, song chưa có công trình nào nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực trạng về thực hiện pháp luật, lý giải các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện pháp luật, các biện pháp, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ nói chung và ở Tỉnh thanh Hóa nói riêng

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu, các bài viết, đồng thời bằng kinh nghiệm thực tiễn và vốn hiểu biết của mình, học viên trình bày trong luận văn cơ sở lý luận, nội dung thực hiện pháp luật thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật ở địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đưa ra nhóm giải pháp đảm bảo hiệu lực các văn bản pháp luật đã ban hành trong lĩnh vực thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, đáp ứng vấn đề cấp bách của thực tiễn công tác thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ ở địa phương mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

Trang 6

- Phân tích, làm rõ các khái niệm về thi hành án, khái niệm án treo và cải tạo không giam giữ, trình tự thủ tục thi hành án, quyền và nghĩa vụ của người bị kết án, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan đối với người bị kết án

- Phân tích vai trò thực hiện pháp luật thi hành án trong đời sống, các yếu tố nhằm đảm bảo phát huy hiệu quả thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ

ở Tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2007- Kết quả đạt được; những yếu kém và nguyên nhân, đề xuất giải pháp đảm bảo tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật thi hành

án treo và cải tạo không giam giữ, kiến nghị sửa đổi và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự đối với hai loại hình phạt nêu trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ nói riêng, phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ ở Tỉnh Thanh Hóa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn đánh giá kết quả thực hiện pháp luật thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, thời gian từ năm 2001 đến năm 2007

- Về không gian: Tác giả khảo sát thực trạng thực thi pháp luật thi hành án hình sự đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trên địa bàn Tỉnh Thanh Hóa

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh và quan điểm của Đảng về công tác thi hành án và chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, chứng minh, tổng

Trang 7

6 Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn

Đây là đề tài mang tính cấp thiết được các cơ quan bảo vệ pháp luật, Cấp ủy Đảng

và chính quyền tỉnh Thanh Hóa thực sự quan tâm, là đề tài đầu tiên đề cập đến công tác thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trên địa bàn Thanh Hóa, những đóng góp mới của luận văn đó là:

Thứ nhất, tác giả phân tích lý luận về thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo

không giam giữ; quan điểm của một số nhà khoa học về thi hành án và thực hiện pháp luật thi hành án Trên nền tảng lý luận đó, tác giả xây dựng một số khái niệm liên quan đến thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ

Thứ hai, tác giả trình bày vai trò của thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật thi

hành án nói riêng và ý nghĩa của nó trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, các yếu tố nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ trên thực tế

Thứ ba, tác giả trình bày thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo

không giam giữ ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến 2007, kết quả đạt được, yếu kém và các nguyên nhân khách quan, chủ quan.Từ thực trạng đó, tác giả xây dựng các quan điểm và nêu ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ, kiến nghị sửa đổi các qui định của pháp luật về thi hành án, đáp ứng yêu cầu cấp bách về hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực thi hành án nói chung và thi hành

án treo, cải tạo không giam giữ nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1

Trang 8

Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo

và cải tạo không giam giữ

1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

1.1.1 Khái niệm thi hành án

Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh Nhà nước ra các phán quyết nhằm góp phần lập lại trật tự kỷ cương xã hội Song phán quyết có được thi hành trên thực tế hay không nhờ một phần rất lớn vào hoạt động thi hành án Theo Từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [32, tr.1559]

Còn thi hành án được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật qui định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án [36, tr.706] Hiện nay, xung quanh bản chất pháp lý của khái

niệm thi hành án, còn có nhiều ý kiến khác nhau

Quan điểm thứ nhất: Thi hành án là một giai đoạn tố tụng, hoạt động thi hành án

gắn liền với quá trình xét xử, tiếp theo quá trình xét xử và chịu sự chi phối của các cơ quan

tố tụng, đặc biệt là Tòa án.Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác với bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý.Thi hành án là nhằm mục đích thực thi các phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành

Quan điểm thứ hai: Thi hành án là một giai đoạn mang tính Hành chính - Tư pháp,

bởi lẽ:

Thứ nhất, thi hành án thực chất là hoạt động chấp hành, điều hành Điều hành và

chấp hành là đặc trưng của quản lý hành chính Tuy nhiên đây là hoạt động chấp hành và điều hành để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, tức là một nội dung có tính chất tư pháp Do vậy khó có thể nói nó là giai đoạn của tố tụng

Thứ hai, với tính chất là hoạt động điều hành, cho dù căn cứ để thi hành là các bản

án, quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành án không chỉ là các hoạt động mang tính tố tụng, không chỉ áp dụng luật tố tụng, mà nội dung của nó phải áp dụng nhiều văn bản pháp luật khác để giải quyết (luật nội dung)

Trang 9

Thứ ba, trong quá trình thi hành án, phương pháp áp dụng chủ yếu là kết hợp giữa

giáo dục thuyết phục và mệnh lệnh hành chính, mục đích tác động trực tiếp tới đối tượng thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích Nhà nước, tập thể và công dân

Thứ tư, việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, án treo được giao cho cơ

quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục hành chính Pháp luật được áp dụng không phải chỉ riêng luật tố tụng mà còn bao gồm các qui định pháp luật hành chính-

tư pháp

Như vậy có thể nói hoạt động thi hành án là sự kết hợp biện chứng giữa quá trình tố tụng và thi hành án hình sự, thi hành án là hoạt động mang tính hành chính- tư pháp

Quan điểm thứ ba: Thi hành án là hoạt động tư pháp bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, trước hết cần khẳng định, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn

xét xử, hoạt động xét xử là tiền đề của hoạt động thi hành án

Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới chỉ là điều kiện cần Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả, phải có các điều kiện đủ là có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án được quy định cụ thể trong pháp luật thi hành án Cho nên, hoạt động thi hành án không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án

Thứ hai, mặc dù có sự lệ thuộc và chịu sự chi phối như trên, nhưng ở giai đoạn thi

hành án, tính chất tố tụng đã chấm dứt, bởi lẽ khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, chức năng xét xử đã hoàn thành, chân lý đã được làm sáng tỏ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng ở thời điểm này, quyền lực của Nhà nước mới chỉ được thể hiện trên các bản án, quyết định công nhận các sự kiện pháp lý, các quan hệ pháp luật hoặc buộc người thi hành án có nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không làm một việc vì lợi ích của Nhà nước hoặc của người được thi hành án, chứ việc công nhận này chưa được thể hiện trên thực tế Để thực hiện nhiệm vụ đưa các phán quyết của Tòa án trở thành hiện thực trên thực tế, cơ quan thi hành án phải có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, trong đó có Tòa án Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nhìn chung

Trang 10

không thuộc chức năng của cơ quan xét xử, điều này được thể hiện rõ nhất trong hoạt động thi hành án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động

Thứ ba, thi hành án không mang tính chất hành chính, bởi hành chính là hoạt động

chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính được đưa ra trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới Hoạt động của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh người đứng đầu là Thủ trưởng cơ quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tư pháp có những điểm khác cơ bản

Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, là một hệ thống các thiết chế, các tổ chức bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội, trong đó hoạt động xét xử của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Tòa án giữ vai trò, vị trí quan trọng, là khâu trung tâm

Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của Tòa án, thông qua những thủ tục tố tụng nhất định nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm công lý, công bằng xã hội

Là một trong các hoạt động tư pháp, với mục đích chung là: "Bảo vệ Pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân" [23], thi hành án có những đặc trưng cơ bản sau đây:

a) Thi hành án dựa trên cơ sở kết quả xét xử của Tòa án Những bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để các cơ quan nhà nước, người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền và lợi ích liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án

b) Chủ thể thi hành án có rất nhiều loại, đó có thể là Tòa án, cơ quan Công an, cơ quan thi hành án, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc các cơ sở chuyên khoa y tế Vai trò của từng loại chủ thể khi tham gia vào quá trình thi hành án khác nhau, phụ thuộc vào từng loại việc thi hành án

c) Các chủ thể thi hành án phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ về thi hành án Những quy định rất chi tiết, cụ thể như: trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án; cách thức

tổ chức việc thi hành án; giải quyết khiếu nại hoặc trả lời kháng nghị việc thi hành án Những quy định này được thực hiện một cách độc lập, do người có thẩm quyền tiến hành

mà không phụ thuộc vào các hoạt động tố tụng khác như trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử

Trang 11

Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác

nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức

và công dân bị xâm hại

Từ sự phân tích ở trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm thi hành án như sau: Thi hành án

là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế nhằm bảo

đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Khái niệm án treo và cải tạo không giam giữ

1.1.2.1 án treo - Khái niệm, bản chất, trình tự, thủ tục thi hành án

- Khái niệm án treo:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ, hạn chế quyền lợi của người phạm tội Theo Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999 thì " Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống Xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" Bên cạnh việc áp dụng các hình phạt, Việt nam

và một số quốc gia khác sử dụng các biện pháp khác đó là án treo

án treo là một chế định ra đời từ rất sớm Trên thế giới, mỗi Quốc gia có qui định khác nhau về chế định này, chẳng hạn luật hình sự của Anh và Mỹ coi án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền Luật hình sự của Pháp, Bỉ và một số nước coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt Các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, nhưng cũng có nước coi án treo là hình phạt chính như Cộng hòa dân chủ Đức [17, tr.8]

ở nước ta, chế định án treo được qui định ngay từ những năm đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân và tồn tại cho đến ngày nay, mặc dù chưa có văn bản luật nào đưa ra định nghĩa chính thức án treo là gì, song nhìn chung các văn bản đều đưa ra những qui định về án

Trang 12

treo, điều kiện được hưởng án treo Trải theo dòng lịch sử lập pháp Việt Nam, các quy định

về án treo có một số thay đổi và ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa tội phạm Văn bản đầu tiên quy định về án treo là Sắc lệnh số 21 năm 1946, giai đoạn này án treo được xem là một biện pháp tạm đình chỉ việc thi hành án: "Khi phạt tù, Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng Bản

án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành án Nếu trong năm năm bắt đầu từ ngay tuyên án, tội nhân không bị tòa án làm tội một lần nữa về một tội mới thì bản án đã tuyên sẽ bị hủy đi, coi như không có Nếu trong năm năm ấy, tội nhân lại bị kết án một lần nữa trước một tòa

án thì bản án treo sẽ đem ra thi hành" án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp

dụng chủ yếu đối với những kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh báo họ nếu tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tùy trường hợp, sẽ buộc phải chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết Ngược lại,"nếu trong thời gian thử thách, họ không phạm tội gì mới, án trước sẽ được xóa bỏ" [30]

Theo Nghị quyết số 01/1990/NQ-HĐTP ngày 18.10.1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện

Sau này nhiều nhà Luật học có đưa ra các quan điểm về án treo, theo Đinh Văn Quế thì: "án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không qua ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù [21, tr.372]

Theo PGSTSKH Lê Văn Cảm thì: án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự quy định

Nhìn chung các tác giả đều thống nhất với sự hướng dẫn, giải thích của Tòa án nhân dân Tối cao trong Nghị quyết số 01/1990, coi án treo là một biện pháp miễn chấp hành hành hình phạt tù có điều kiện, và điều kiện đó là: Người phạm tội bị xử phạt tù không quá ba năm không phân biệt tội gì, có nhân thân tốt, luôn chấp hành chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi thường trú rõ ràng, có nhiều tình

Trang 13

tiết giảm nhẹ, và xét thấy không cần thiết phải bắt họ chấp hành hình phạt tù thì Tòa án xét

xử cho họ hưởng án treo

- Với tinh thần của Nghị quyết, trên cơ sở qui định của Bộ luật hình sự hiện hành, Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội có nêu: án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, án treo thể hiện tính nhân đạo của Luật Hình

sự Việt Nam,có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên

- Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự hiện hành cũng xác định án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Điều 60 khoản 1 Bộ luật hình sự năm

1999 qui định:"Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm"

Tuy nhiên, so với qui định về án treo theo Bộ luật Hình sự năm 1985, thì chế định

án treo được qui định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có nhiều sự thay đổi về điều kiện được hưởng án treo (Mức hình phạt tù xem xét cho hưởng án treo từ 5 năm theo Bộ luật Hình sự 1985 xuống còn 3 năm tù theo Bộ luật Hình sự 1999), điều kiện thử thách (điều kiện không phạm tội mới thay thế cho điều kiện không phạm tội mới do cố ý hoặc không phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù)

Trên cơ sở tra cứu từ điển luật học, các quan điểm của các nhà Luật học về án treo, hướng dẫn giải thích của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, năm 1999 về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với người

phạm tội, tác giả có thể đưa ra khái niệm chung nhất về án treo như sau: án treo không phải là một loại hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, điều kiện đó là: Người bị phạt tù không quá ba năm bất kể về tội gì, nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, và xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi xã hội, tòa án cho họ miễn chấp hành hình phạt tù và ấn định cho họ một khoảng thời gian thử thách từ một năm đến năm năm, trong khoảng thời gian đó nếu họ không phạm tội mới thì họ không phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã tuyên

- Bản chất của án treo: Từ khái niệm chung về án treo, rút ra nhận xét về bản chất của án treo như sau:

Trang 14

Thứ nhất: án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, không phải

là hình phạt tù, đây là điểm cần phân biệt Pháp luật Hình sự Việt Nam quy định bảy hình phạt chính trong đó có hình phạt tù,và án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù trong các trại giam khi người phạm tội có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hình

sự hiện hành;

Thứ hai: Người được hưởng án treo sẽ phải chịu một thời gian thử thách từ một đến

năm năm, thời gian thử thách bằng hoặc lớn hơn mức phạt tù Trong thời gian thử thách phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan tổ chức được Tòa án giao trách nhiệm giám sát, giáo dục;

Thứ ba: Trong thời gian thử thách, nếu người đó phạm tội mới thì biện pháp miễn

chấp hành hình phạt tù bị xóa bỏ, người được hưởng án treo buộc phải chấp hành hình phạt

tù trong bản án mà Hội đồng xét xử đã cho hưởng án treo trước đó cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện

Tóm lại: án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Việc cho bị

cáo được hưởng án treo thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật xã hội chủ nghĩa, có mục đích khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tạo dưới sự giám sát của xã hội, sự giúp đỡ khuyến khích của cộng đồng, người thân, tạo cho họ có cơ hội trở thành người có ích mà không nhất thiết bắt buộc cách ly họ ra khỏi xã hội

Tuy nhiên hiện nay ở một số địa phương, trong từng vụ án cụ thể, trong từng thời điểm cụ thể do có sự không thống nhất trong nhận thức nên việc vận dụng cho bị cáo hưởng

án treo còn tùy tiện, không đảm bảo tính công bằng xã hội, làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp trong chính sách nhân đạo của Pháp luật Xã hội chủ nghĩa Vì vậy có quan điểm cho rằng nên bỏ chế định án treo, quan điểm này cho rằng:

Từ trước đến nay luật chưa định nghĩa án treo là gì, án treo đang "Tạo ra sự bất công và không hề nhân đạo, làm một điểm tựa của hiện tượng tiêu cực trong ngành Tòa án" [59] Bên cạnh đó, căn cứ để Tòa án cho án treo là "nhân thân", là "tình tiết giảm nhẹ", các yếu tố này cũng đã được tòa án cân nhắc khi quyết định hình phạt rồi, nếu cho người phạm tội hưởng án treo, tức là các yếu tố này được xem xét tới hai lần Hơn nữa, "một ngày

tù ngàn thu ở ngoài", một người xử ba năm tù thì được tự do,trong khi một người xử sáu tháng tù giam thì ở trong trại Như thế là không công bằng

Trang 15

Tuy nhiên không vì những lý do trên để xóa bỏ chế định án treo, bản thân chế định này thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, đối với người phạm tội lần đầu, nhân thân tốt và có đầy đủ các điều kiện luật cho phép, nếu để họ cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức mà họ vẫn trở thành người tốt thì tại sao chúng ta không

áp dụng chế định án treo, tại sao cứ nhất thiết bắt họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, tốn kém cho Nhà nước, cho gia đình trong khi đó mục đích của hình phạt mà chúng ta muốn hướng tới là: Trừng trị người phạm tội, giáo dục họ thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm đều đạt được Nếu như vẫn còn tình trạng xử án không công bằng thì không phải do chế định pháp luật tạo ra,

mà chính do người áp dụng pháp luật không tôn trọng các quy định của luật pháp

- Trình tự, thủ tục thi hành án treo: Được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự và

Nghị định 61 của Chính phủ

Sau khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án nhân dân, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án tổ chức thi hành án, ra quyết định phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án Người trực tiếp giám sát, giáo dục phải áp dụng đầy đủ các biện pháp như: Chủ động gặp gỡ, động viên người kết án chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, ba tháng một lần báo cáo với thủ trưởng cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành án, báo cáo cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục khi người bị kết án có đủ điều kiện được xét giảm thời gian thử thách…Về phía cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục

có trách nhiệm tạo điều kiện để người bị kết án cải tạo, giáo dục tốt, lập hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách cho người bị kết án

1.1.2.2 Cải tạo không giam giữ- khái niệm, bản chất, trình tự thủ tục thi hành án

Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự

- Theo từ điển Luật học thì cải tạo không giam giữ là việc buộc người phạm tội phải

tự cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc

cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định [36, tr.98]

Xét về bản chất đây là loại hình phạt không tước tự do, không buộc người phạm tội cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như xã hội nói chung Nội dung chính của hình phạt là việc buộc một người bị kết án phải chịu sự giám sát, giáo dục của các cơ quan, tổ chức Nghĩa vụ mà người bị kết án phải thực hiện là nghĩa vụ báo cáo, tự kiểm điểm định kỳ

Trang 16

và có thể nộp 5% đến 20% thu nhập để sung quỹ nhà nước Thời hạn cải tạo không giam giữ

từ sáu tháng đến ba năm Hình phạt áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi làm việc hoặc nơi thường trú rõ ràng và khi các điều kiện khác cho thấy họ có thể tự cải tạo, giáo dục mà không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội

So với qui định về cải tạo không giam giữ trong Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 21

và điều 24), thì qui định về cải tạo không giam giữ theo Bộ luật hình sự hiện hành có một số điểm khác cơ bản như sau:

Thời hạn cải tạo không giam giữ: Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định thời hạn cải tạo không giam giữ từ sáu tháng đến ba năm, trong khi đó Bộ luật Hình sự năm 1985 qui định thời hạn này là từ sáu tháng đến hai năm

Về điều kiện áp dụng: Bộ luật Hình sự năm 1999 qui định có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng Trong khi đó Bộ luật Hình sự năm 1985 cải tạo không giam giữ chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng Sự thay đổi này liên quan đến tiêu chí phân loại tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1985 và 1999

Về nghĩa vụ phải khấu trừ phần trăm thu nhập: Theo Bộ luật hình sự năm 1985, việc khấu trừ phần trăm thu nhập là chế tài tùy nghi do Tòa án quyết định, nhưng ở Bộ luật Hình sự năm 1999, thì đây là chế tài bắt buộc Có thể Tòa án cho miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án

Trên cơ sở phân tích qui định của Bộ luật Hình sự hiện hành về chế định cải tạo không giam giữ (có so sánh với qui định của Bộ luật Hình sự 1985), xuất phát từ bản chất

của loại hình phạt cải tạo không giam giữ, có thể đưa ra khái niệm như sau: Cải tạo không giam giữ là loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt tù, tạo điều kiện cho người bị phạt tù được cải tạo, học tập trong môi trường xã hội bình thường, khuyến khích họ cải tạo thành người có ích, được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng đang có nơi làm việc ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng và xét thấy không cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội

Hiện nay đang có quan điểm cho rằng nên bỏ loại hình phạt này vì một số lý do sau:

Thứ nhất: Trên thực tế, số bị án phạt cải tạo không giam giữ có xu hướng giảm đi,

hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tăng lên vì các điều kiện cho bị cáo hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ có nhiều điểm giống nhau, cho nên có nhiều Tòa án hàng chục năm

Trang 17

không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, thay vì đó thường áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo

Thứ hai: Cả án treo và cải tạo không giam giữ đều cho người bị kết án được cải tạo,

giáo dục ở ngoài xã hội, ở cộng đồng dân cư nơi sinh sống, làm việc mà không bị bắt buộc tập trung cải tạo ở các trại giam

Do vậy có thể kết hợp các điều kiện cho hưởng án treo và điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như: Người phạm tội nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng và xét thấy không cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội thì tòa án cho họ được hưởng án treo, nên bỏ qui định hình phạt cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính

Tác giả cho rằng không thể bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, bởi lẽ:

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau giữa án treo và cải tạo không giam giữ, song hai chế định này vẫn có những nét khác biệt cơ bản, đó là:

+ án treo không phải là một hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt

tù có điều kiện, trong khi đó, cải tạo không giam giữ là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Luật hình sự Việt Nam

+ Về hình phạt áp dụng đối với người bị kết án: Người bị phạt tù cho hưởng án treo

là người bị phạt tù có thời hạn.Tù có thời hạn là hình phạt nặng hơn, nghiêm khắc hơn so với hình phạt cải tạo không giam giữ Xét về bản chất, hành vi phạm tội của người được hưởng án treo có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn

+ Trong giai đoạn chấp hành bản án, người được hưởng án treo phải chấp hành thời gian thử thách của án treo (chứ không phải là chấp hành hình phạt), trong khi đó, người cải tạo không giam giữ phải chấp hành hình phạt của bản án Do vậy, nếu trong thời gian đang chấp hành bản án, người được hưởng án treo phạm tội mới thì sau khi quyết định hình phạt đối với tội mới, họ sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt của bản án treo mà không được trừ đi những ngày đã chấp hành thời gian thử thách, trong khi đó người bị phạt cải tạo không giam giữ sẽ được trừ đi thời gian mà họ đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và chỉ phải tổng hợp phần hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại chưa chấp hành theo nguyên tắc, cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp hình phạt chung

Trang 18

+ Hơn nữa việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ phù hợp với đường lối

xử lý tội phạm hình sự trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đúng với chủ trương của Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 "Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm" [4]

- Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ:

Sau khi nhận được bản án, quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân chuyển đến, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục vào sổ thụ lý thi hành án và thực hiện hàng loạt các biện pháp quản lý giám sát người bị kết án như: ra quyết định phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án, yêu cầu người bị kết án thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, có biện pháp ngăn ngừa, giáo dục kịp thời khi người bị kết án có vi phạm, thực hiện họp kiểm điểm người bị kết án, cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ…Quá trình đó, cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người bị kết án phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan tổ chức hữu quan, tổ chức xã hội thực hiện giám sát, giáo dục người bị kết án

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

1.1.3.1 Khái niệm thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

Bất kì một nhà nước nào cũng đều quản lý xã hội dưới ba dạng hoạt động cơ bản: Ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh.Trong đó việc thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan và cấp bách của quản lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hoạt động thực hiện pháp luật là việc chuyển hóa pháp luật vào đời sống thực tiễn, biến các qui định trên giấy thành hiện thực Giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau Chỉ có thể thực hiện pháp luật tốt khi các quy định pháp luật mang tính khách quan, phản ánh ý chí, nguyện vọng

và bảo vệ lợi ích của nhân dân, và thông qua hoạt động thực hiện pháp luật, phát hiện những quan hệ mới nảy sinh cần điều chỉnh bằng pháp luật, những bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật từ đó có cơ sở xây dựng các qui phạm mới, bổ sung, sửa đổi pháp luật cho phù hợp với thực tiễn

Trang 19

Về khái niệm thực hiện pháp luật: Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, thực hiện pháp luật đuợc hiểu là "quá trình hoạt động

có mục đích làm cho những qui định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo

cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật" [14, tr.270]

Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thì: "Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật" [35, tr.369]

Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thì:

"Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật "[33, tr 463]

Như vậy thực hiện pháp luật được hiểu là hiện tượng, quá trình có mục đích, có chủ định làm cho những qui định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật quy định Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động được tiến hành bởi một thao tác nhất định nhưng cũng có thể là xử sự thụ động, tức là không tiến hành vượt xử

sự bị pháp luật cấm

Thực hiện pháp luật thi hành án hình sự ở nghĩa hẹp là việc đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, đảm bảo các bản án, quyết định phải được cả xã hội, các cá nhân, tổ chức hữu quan chấp hành nghiêm chỉnh.Thực hiện pháp luật

về thi hành án dưới góc độ nghiên cứu của khoa học pháp lý là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các qui phạm pháp luật thi hành án đi vào cuộc sống, trở thành hành vi hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án, đảm bảo các bản án, quyết định được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh

Trên cơ sở lý luận chung về thực hiện pháp luật, có thể đưa ra khái niệm thực hiện

pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ như sau: Thực hiện pháp luật thi hành

án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ là hành vi hợp pháp của các chủ thể thực hiện trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật,

Trang 20

đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trên thực tế Mục đích mà các chủ thể hướng tới nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người phạm tội được lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của họ ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú

1.1.3.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

Thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ có những đặc điểm chung của thực hiện pháp luật nói chung, ngoài ra nó còn có những đặc điểm mang tính chất đặc thù

- Thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ mang đậm tính nhân đạo của PLxã hội chủ nghĩa

Tính nhân đạo trong thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ xuất phát từ tính nhân đạo trong chế định án treo và chế định cải tạo không giam giữ, ngay bản thân khái niệm " người được hưởng án treo " đã thể hiện sự nhân đạo mà xã hội dành cho họ, những ưu thế so với các hình phạt được coi là hình phạt chính khác trong hệ thống Luật hình sự Mặc dù phải chịu hình phạt nhưng người bị kết án không phải cách ly khỏi xã hội Họ được cải tạo, giáo dục tại cộng đồng Trong thời gian chấp hành án, họ được gia đình, người thân và cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục tạo điều kiện được cải tạo, học tập,lao động, được đối xử như những người bình thường khác, họ chỉ bị hạn chế một số quyền do pháp luật quy định.Tính nhân đạo trong thực hiện pháp luật thi hành án còn thể hiện ở phương pháp thực hiện pháp luật thi hành án chủ yếu là giáo dục thuyết phục, lấy việc cảm hóa, động viên, khuyến khích là chính, giúp người bị kết án nhận ra lỗi lầm, tự nguyện sửa chữa, cải tạo thành người có ích

- Thực hiện pháp luật về thi hành án đối với người hưởng án treo và cải tạo không giam giữ vừa mang tính quyền lực Nhà nước vừa mang tính xã hội rộng lớn

Các qui phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ là các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế của nhà nước, bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của người bị kết án, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức giám sát người bị kết án, cách thức, biện pháp đảm bảo cho việc giám

Trang 21

sát giáo dục các bị án đạt hiệu quả cao nhất, các quy định có tính bắt buộc đối với các chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án và vì vậy nó mang tính quyền lực nhà nước Nhà nước khẳng định quyền lực của mình thông qua chức năng quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này.Tuy nhiên thi hành án đối với người bị kết án

án treo và cải tạo không giam giữ là hoạt động hành chính tư pháp, nó không chỉ phụ thuộc vào sự nỗ lực của các cơ quan nhà nước, nó được thực hiện bởi chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và mọi công dân, để hoạt động thi hành án đối với người bị kết án đạt hiệu quả cao nhất thì cần phải có sự chấp hành, phối hợp chấp hành, phối hợp tác động của nhiều chủ thể, sự quan tâm hợp tác của cộng đồng xã hội, do vậy hoạt động này mang tính

án hòa nhập với cộng đồng, tạo cho họ môi trường thân thiện, ổn định để họ được học tập, lao động và có cơ hội chứng tỏ quyết tâm cải tạo trở thành người có ích trong xã hội.Để các chủ thể tự nguyện thực hiện pháp luật, nhà nước phải áp dụng biện pháp thuyết phục và cưỡng chế, lấy thuyết phục, giáo dục làm chính, làm cho người thi hành án hiểu được các quyền lợi của họ khi thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, ví dụ: quyền được rút ngắn thời gian thử thách, được biểu dương khi có nhiều tiến bộ, tích cực, được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách Song cũng phải xử lý nghiêm minh các chủ thể khi không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thi hành án nhằm mục đích đảm bảo hiệu lực tối đa của các bản án đã tuyên

Việc kết hợp giữa giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế trong khi thi hành án đòi hỏi phải đảm bảo hài hòa vận dụng trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, trong đó luôn nêu cao nguyên tắc giáo dục thuyết phục, chỉ cưỡng chế trong trường hợp thật cần thiết

- Chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ đa dạng

và phong phú

Trang 22

Đặc điểm này xuất phát từ tính xã hội rộng lớn của hoạt động thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, chủ thể thực hiện pháp luật bao gồm:

Tòa án nhân dân: Là cơ quan ra quyết định thi hành án, theo dõi, giám sát kết quả thi hành án

Viện kiểm sát nhân dân: Là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp trong đó bao gồm hoạt động thi hành án, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án

Các cơ quan thi hành án: Có trách nhiệm áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép đảm bảo quản lý, giám sát, giáo dục người bị kết án đạt hiệu quả

Các tổ chức đoàn thể, khu phố, làng bản, cộng đồng dân cư là những chủ thể có trách nhiệm phối hợp tác động với các cơ quan tổ chức quản lý giám sát các bị án trong và sau khi chấp hành án

Mỗi chủ thể có quyền hạn trách nhiệm khác nhau (học viên sẽ trình bày cụ thể phần tiếp theo), song các chủ thể đều cùng chung mục đích là: cảm hóa, giám sát, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi để người bị kết án cải tạo tốt

1.1.3.3 Chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

Thứ nhất, Tòa án nhân dân: Theo điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thì: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,Tòa án còn là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có nhiệm vụ thực hiện một

số hoạt động tố tụng trong giai đoạn thi hành án hình sự như ra quyết định thi hành án (Điều

226 BLtố tụng hình sự năm 2004), xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (Điều 238) Trong hoạt động thi hành án (nói chung) và thi hành án treo, cải tạo không giam giữ nói riêng, Tòa án có trách nhiệm và quyền hạn sau:

- Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án

Trang 23

- Quyết định thi hành án phải ghi rõ họ tên người ra quyết định; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành bản án hoặc quyết định; họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; bản án hoặc quyết định mà người bị kết án phải chấp hành

- Quyết định thi hành án,trích lục bản án hoặc quyết định hoặc phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp nơi thi hành án.Cơ quan thi hành án và người bị kết án

Để đảm bảo việc thi hành án được thực hiện đúng,Tòa án ra quyết định thi hành bản

án hoặc quyết định có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi việc thi hành án Các cơ quan, tổ chức

có nhiệm vụ thi hành án phải báo cho Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án về việc bản án, quyết định đã được thi hành đến đâu, nếu chưa thi hành được phải báo cáo rõ lý do

- Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân: là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát

các hoạt động tư pháp Chức năng nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992.Trong hoạt động kiểm sát thi hành án đối với người bị kết án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án treo và cải tạo không giam giữ nhằm đảm bảo các bản án, quyết định

đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời

Khi thực hiện nhiệm vụ, Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

- Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án treo và cải tạo không giam giữ đúng quy định pháp luật, hoặc Tòa án tự kiểm tra việc thi hành án treo và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu Tòa án cung cấp hồ

sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án treo và cải tạo không giam giữ;

- Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án treo và cải tạo không giam giữ của cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án;

- Tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

- Đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo qui định của pháp luật;

- Kháng nghị với tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm trong việc thi hành án treo và cải tạo không giam giữ, yêu cầu chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong thi hành án nếu có

Thứ ba, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người bị kết án:

Trang 24

Doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người bị kết án là người làm công ăn lương;

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú, nếu người đó không thuộc các đối tượng trên

Trong hoạt động thi hành án treo và cải tạo không giam giữ, cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án có trách nhiệm và quyền được qui định tại Điều 7, Điều 8 Nghị định 60,61/2000/NĐ-CP của Chính phủ

- Phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án;

- Tạo điều kiện để người bị kết án lao động, học tập và hòa nhập vào cuộc sống chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình;

- Phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan khác và gia đình người bị kết án trong việc giáo dục, cảm hóa, giúp họ sửa chữa lỗi lầm

- Yêu cầu người bị kết án thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình; có biện pháp ngăn ngừa, giáo dục kịp thời khi người đo có biểu hiện tiêu cực và thông báo với cơ quan có thẩm quyền đề nghị xử lý khi cần thiết;

- Kịp thời biểu dương khi người bị kết án có nhiều tiến bộ, tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoặc lập công;

- Cho phép người bị kết án vắng mặt nơi cư trú;

- Xem xét hoặc theo đề nghị của người bị kết án đề nghị Tòa án cấp huyện hoặc Tòa

án quân sự khu vực nơi người đó đang chấp hành hình phạt xem xét việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo khi người bị kết án chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có tiến bộ;

- Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ hoặc thời gian thử thách cho người bị kết án;

Trang 25

- Nhận xét bằng văn bản và ghi vào sổ theo dõi quá trình chấp hành hình phạt của người bị kết án khi người đó chuyển đi nơi khác;

- Tiến hành khấu trừ một phần thu nhập của người bị kết án theo quyết định của Tòa

án để giao nộp cho cơ quan thi hành án dân sự (nếu người bị kết án cải tạo không giam giữ)

- Khi đề nghị Tòa án xem xét việc giảm thời hạn hoặc miễn thời hạn chấp hành hình phạt còn lại, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án phải gửi kèm hồ sơ

- Đối với người bị kết án là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, người đang học tập tại các cơ sở giáo dục, đào tạo chấp hành hình phạt tại cơ quan, tổ chức đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục đào tạo thì ngoài những trách nhiệm quyền hạn trên, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức trên có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó bị kết án

- Cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục không được đặt thêm nghĩa vụ và hạn chế khác đối với người bị kết án ngoài những nghĩa vụ quy định tại nghị định và những hạn chế ghi trong bản án của Tòa án

- Trong trường hợp xem xét cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời hạn cải tạo không giam giữ hoặc cấp giấy chứng nhận xong thời gian thử thách của án treo thì cơ quan,

tổ chức giám sát giáo dục phải tổ chức cuộc họp để người bị kết án kiểm điểm, làm cơ sở

cho việc nhận xét đánh giá quá trình chấp hành hình phạt của người đó [6], [7]

Thứ tư, quyền và trách nhiệm của người trực tiếp giám sát giáo dục người bị kết án:

Được quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định 60,61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ:

- Chủ động gặp gỡ người bị kết án để tìm hiểu nguyên nhân, hoàn cảnh khi phạm tội, tâm tư nguyện vọng của người đó và giải thích, hướng dẫn người đó chấp hành tốt nghĩa

vụ của mình

- Ba tháng một lần báo cáo với thủ trưởng cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục về tình hình chấp hành của người bị kết án, trừ trường hợp đột xuất hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục yêu cầu;

- Khi người bị kết án có đủ điều kiện để xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt (đối với cải tạo không giam giữ), thời hạn thử thách (đối với án treo) thì báo cáo với thủ trưởng

cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục để đề nghị Tòa án xét giảm thời hạn theo qui định của

Bộ luật Hình sự, trong trường hợp người đó đã chấp hành xong hình phạt hoặc thời gian thử

Trang 26

+ Bản cam kết của gia đình nếu người bị kết án là người chưa thành niên;

+ Bản báo cáo của người bị kết án với người trực tiếp giám sát, giáo dục về tình hình tu dưỡng rèn luyện của mình

+ Bản báo cáo của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành án của người bị kết án;

+ Biên bản cuộc họp kiểm điểm người người bị kết án;

+ Bản tự kiểm điểm của người bị kết án;

+ Bản nhận xét về quá trình thử thách (đối với người được hưởng án treo);

+ Quyết định của Tòa án về rút ngắn thời gian thử thách nếu có (đối với người được hưởng án treo), quyết định của Tòa án giảm thời hạn chấp hành hình phạt (đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ);

+ Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách hoặc hình hình phạt;

+ Các tài liệu khác khác liên quan đến việc giám sát, giáo dục người bị kết án [6], [7]

Thứ năm, quyền và nghĩa vụ của người bị kết án:

* Nghĩa vụ của người bị kết án cải tạo không giam giữ (qui định tại điều 4 Nghị định 60/200/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ):

Trang 27

- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, qui ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư nơi mình cư trú;

- Làm bản cam kết với cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, trong đó nêu rõ nội dung quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình Bản cam kết phải có ý kiến của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục

- Thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, phải tích cực sửa chữa lỗi lầm, làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng đồng nơi mình cư trú;

- Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi và nộp cho người trực tiếp giám sát, giáo dục ghi hết thời hạn cải tạo không giam giữ;

- Chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có);

- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp giám sát, giáo dục về tình hình rèn luyện, tu dưỡng của mình; trong trường hợp người bị kết án vắng mặt khỏi nơi

cư trú trên 30 ngày, thì bản báo cáo phải có nhận xét của cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi người đó đến tạm trú;

- Ba tháng một lần phải tự kiểm điểm về kết quả thực hiện bản cam kết của mình trước tập thể nơi mình làm việc, học tập hoặc cư trú

- Khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Tòa án cho cơ quan thi hành án dân sự Nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãi suất theo qui định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Phải có mặt khi cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục yêu cầu;

- Trong trường hợp người bị kết án cần đi khỏi nơi cư trú:

Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, bản, ấp hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;

Nếu là người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo thì phải xin phép lãnh đạo cơ

sở giáo dục, đào tạo đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn làng, bản, ấp hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;

Nếu là người được giao cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục thì phải báo với người trực tiếp giám sát, giáo dục mình; trong trường hợp đi khỏi nơi cư trú

Trang 28

trên 30 ngày thì phải báo cáo bằng văn bản gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục, trong đó ghi rõ thời gian vắng mặt, nơi đến tạm trú;

Nếu người bị kết án đi khỏi nơi cư trú qua đêm thì khi đến nơi phải trình báo và nộp

sổ theo dõi người bị kết án cho cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi đến tạm trú [6], [7]

* Người được hưởng án treo, có nghĩa vụ (qui định tại điều 4 Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ):

- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia lao động, học tập, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, qui ước của thôn, làng, bản, ấp, cụm dân cư nơi mình cư trú;

- Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi và nộp cho người trực tiếp giám sát, giáo dục ghi hết thời hạn cải tạo không giam giữ;

- Chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (nếu có);

- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người trực tiếp giám sát, giáo dục về tình hình rèn luyện, tu dưỡng của mình; trong trường hợp người hưởng án treo vắng mặt khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì bản báo cáo phải có nhận xét của cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi người đó đến tạm trú;

- Làm bản tự kiểm điểm về quá trình rèn luyện, tu dưỡng của mình gửi Thủ trưởng

cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, khi đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách Bản tự kiểm điểm phải có nhận xét của người trực tiếp giám sát, giáo dục và cảnh sát khu vực, công an xã hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, bản, ấp nơi người đó cư trú;

- Làm bản báo cáo về quá trình rèn luyện, tu dưỡng của mình gửi Thủ trưởng cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục khi hết thời gian thử thách Bản báo cáo phải có nhận xét của người trực tiếp giám sát, giáo dục.Đồng thời phải nộp lại sổ theo dõi người được hưởng án treo cho người trực tiếp giám sát giáo dục;

- Trong trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú:

Nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương thì phải xin phép Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi mình làm việc, đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, bản, ấp hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;

Trang 29

Nếu là người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo thì phải xin phép lãnh đạo cơ

sở giáo dục, đào tạo đồng thời báo cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, bản, ấp hoặc cảnh sát khu vực, công an xã nơi mình cư trú;

Nếu là người được giao cho ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục thì phải báo với người trực tiếp giám sát, giáo dục mình; trong trường hợp đi khỏi nơi cư trú trên 30 ngày thì phải báo cáo bằng văn bản gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục, trong đó ghi rõ thời gian vắng mặt, nơi đến tạm trú;

Nếu người bị kết án đi khỏi nơi cư trú qua đêm thì khi đến nơi phải trình báo và nộp

sổ theo dõi người bị kết án cho cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi đến tạm trú [6], [7]

* Người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ có các quyền sau (qui định tại Điều 5, Điều 6 Nghị định 60, 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ):

- Nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi mình làm việc trước khi phạm tội thì được bố trí công việc phù hợp với yêu cầu, mục đích giám sát, giáo dục và hưởng chế độ của cán bộ, công chức, quân nhân, người lao động làm công ăn lương theo công việc mà mình đảm nhiệm

- Người bị kết án là người đang học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo, nếu được tiếp tục học tập tại cơ sở giáo dục, đào tạo cũ thì được hưởng các quyền lợi theo qui chế của cơ

sở giáo dục, đào tạo đó

- Người bị kết án nếu không phải là công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng thì được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giám sát, giáo dục, giúp đỡ, tìm việc làm, ổn định cuộc sống tại địa phương

- Người bị kết án thuộc đối tượng qui định tại Điều 1 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng hoặc người đang được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội thì vẫn được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật

- Người bị kết án là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương thì thời gian thử thách (đối với án treo) và thời gian chấp hành hình phạt (đối với cải tạo không giam giữ), cũng được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ nhưng không được tính vào thời gian xét nâng lương, phong quân hàm theo niên hạn Thời gian thử thách hoặc thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành án

Trang 30

- Người bị kết án có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị Tòa

án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực nơi mình đang chịu thử thách xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách, khi đã chấp hành một phần hai thời gian thử thách và có tiến bộ (đối với án treo), hoặc xem xét giảm thời gian chấp hành hình phạt khi đã chấp hành xong được một phần ba thời hạn cải tạo không giam giữ và có nhiều tiến bộ hoặc lập công, quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (đối với cải tạo không giam giữ)

- Người bị kết án cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên đã chấp hành được một phần tư thời hạn cải tạo không giam giữ thì được xét giảm hình phạt Trong trường hợp người chưa thành niên lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị Tòa án cấp huyện nơi người đó cư trú xét giảm thời gian chấp hành hình phạt ngay và có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại [6], [7]

Thứ sáu, gia đình người bị kết án:

Các thành viên trong gia đình người bị kết án là những người có quan hệ thân thiết, gần gũi với người đó, họ tạo nên môi trường sống hẹp có thể ảnh hưởng đến khuynh hướng

xử sự của người bị kết án, vì vậy họ cũng có trách nhiệm trong việc giáo dục người bị kết

án Mặt khác,chính do tính chất quan hệ giữa họ và người bị kết án nên họ là những người

có khả năng tác động đến quá trình rèn luyện, tu dưỡng của người đó Xuất phát từ lý do đó, gia đình người bị kết án có trách nhiệm (qui định tại Điều 12 Nghị định 60,61/2000/ NĐ-CP của Chính phủ):

Luôn quan tâm gần gũi và có biện pháp cụ thể giúp đỡ người bị kết án sửa chữa lỗi lầm của mình, không vi phạm pháp luật; nhắc nhở, uốn nắn kịp thời khi người đó có hành vi sai trái;

Phối hợp chặt chẽ với người trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án trong việc quản lý, giáo dục người đó; trong trường hợp người bị kết án là người chưa thành niên, thì gia đình của người đó phải có bản cam kết với cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục;

Thực hiện việc bồi thường thiệt hại do người bị kết án là người chưa thành niên gây

ra Đối với người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi thì chỉ bồi thường khi người đó không có đủ tài sản để bồi thường;

Thông báo cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án về kết quả rèn luyện, tu dưỡng của người đó khi có yêu cầu;

Tham dự các cuộc họp kiểm điểm người bị kết án [6], [7]

Trang 31

1.2 Các hình thức thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng

án treo và cải tạo không giam giữ

Thực hiện pháp luật dưới góc độ khoa học pháp lý là: "Một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [34, tr.459]

Hành vi thực tế hợp pháp rất đa dạng và phong phú, có thể là hành động tích cực của các chủ thể thực hiện các yêu cầu của pháp luật, có thể là khả năng tự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm điều cấm của pháp luật Hành vi đó được thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể đối với pháp luật, hoặc thực hiện do ảnh hưởng của những người xung quanh, có thể là hành vi nảy sinh trên cơ sở quyết định cưỡng chế của nhà nước… Căn

cứ tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, chúng ta xác định các hình thức thực hiện pháp luật sau đây:

1.2.1 Tuân thủ pháp luật

Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm [34, tr 459] Những quy định pháp luật cấm trong luật hình sự, hành chính được thực hiện dưới hình thức này (Ví dụ: Những điều cấm cán bộ công chức không được phép làm )

Trong lĩnh vực thi hành án, hình thức thực hiện này cũng được sử dụng khá phổ biến, đó là các qui định ngăn cấm chủ thể thi hành án không được làm Ví dụ: Theo Nghị định 60/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ, qui định người bị kết án giam giữ cải tạo không được đi khỏi địa bàn nơi mình cư trú trừ trường hợp đã xin phép cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục người bị kết án.Trong trường hợp nếu người bị kết án

cố ý đi khỏi địa phương không xin phép là vi phạm pháp luật thi hành án

1.2.2 Thi hành pháp luật

Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ bằng hành động tích cực nhất [34, tr.459] Nếu như hình thức trên, chủ thể kiềm chế không thực hiện điều cấm của pháp luật, hành vi xử sự đó là thụ động thì ở hình thức này, chủ thể phải có hành động tích cực.Ví dụ: Hành vi tích cực của công dân trong độ tuổi hăng hái tham gia đăng ký khám tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự

Trang 32

Trong thực hiện pháp luật thi hành án, hình thức này được áp dụng trong các quy định về nghĩa vụ của chủ thể thực hiện pháp luật Ví dụ: Điều 4 NĐ 60/CP ngày 30/10/2000 của Chính Phủ quy định: Người bị kết án có nghĩa vụ làm bản cam kết nêu rõ quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình, thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết, tích cực sửa chữa chữa lỗi lầm, làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng đồng nơi mình

cư trú

Như vậy để thi hành pháp luật, người bị kết án không thụ động mà phải thực hiện nghĩa vụ bằng hành động tích cực và hành vi đó minh chứng cho sự nỗ lực quyết tâm cải tạo thành người có ích của người bị kết án

Hình thức này được sử dụng đối với các chủ thể thực hiện pháp luật thi hành án treo

và cải tạo không giam giữ Ví dụ: Điều 6 Nghị định 61/CP qui định: "Người được hưởng án treo có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực nơi mình đang chịu thử thách xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách khi đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có tiến bộ" [7]

Trên thực tế, có rất nhiều người bị kết án không thực hiện quyền trên, một mặt họ không nắm được nội dung của quyền này, mặt khác họ cũng chưa nhận thức hết ý nghĩa của việc rút ngắn thời gian thử thách, vì vậy cần phải làm tốt hơn công tác tuyên truyền pháp luật, giúp người bị kết án sử dụng tối đa các quyền hợp pháp của mình

1.2.4 áp dụng pháp luật

Dưới góc độ khoa học pháp lý, áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông các cơ quan có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức chính trị xã hội được Nhà nước trao quyền căn cứ vào các quy định của Pháp luật để ra các quyết định cá biệt làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật, như vậy áp dụng pháp luật có

Trang 33

sự can thiệp của Nhà nước Còn các trường hợp thực hiện pháp luật khác không có sự can thiệp của Nhà nước Đây là hình thức thực hiện pháp luật phổ biến nhất, và chủ thể thực hiện đại diện cho Nhà nước hoặc được Nhà nước trao quyền

- Các trường hợp áp dụng pháp luật trong thi hành án treo và cải tạo không giam giữ:

Trong thực tiễn, áp dụng pháp luật thường được thực hiện trong các trường hợp sau: + Khi cần phải sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng những chế tài thích hợp đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.Ví dụ:Tòa án áp dụng pháp luật để ra một bản

án đối với người có hành vi phạm tội, xử phạt hành chính, cưỡng chế Nhà nước đối với quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật

Đối với thực hiện pháp luật về án treo và cải tạo không giam giữ, việc áp dụng pháp luật trong trường hợp này chưa rộng rãi, nguyên nhân do thiếu các quy định để áp dụng, xử

lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ Chương IV, Điều 13 Nghị định 60, 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của chính phủ có qui định: "Người nào vi phạm các quy định của Nghị định này thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ

bị xử lý, kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật" [6], [7], nhưng cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn thực hiện điều luật trên, dẫn đến các chủ thể thực hiện pháp luật nếu có vi phạm chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, trừ một số chế tài dành cho người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ Ví dụ: Trong thời gian thử thách nếu phạm tội mới thì bản án trước đó chưa thi hành, nay được đem ra thi hành cùng với bản

án của lần phạm tội mới

+ áp dụng pháp luật khi các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không có sự tác động của Nhà nước

Quyền và nghĩa vụ của người bị kết án treo và cải tạo không giam giữ được quy định trong Nghị định 60, 61/CP của Chính phủ, tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể nếu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đối với người bị kết án thì quyền và nghĩa vụ của người bị kết án cũng không phát sinh, ví dụ: Người bị kết án tích cực cải tạo, tuy nhiên nếu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án cư trú không làm hồ sơ đề nghị Tòa án rút ngắn thời gian thử thách của án

Trang 34

và báo cáo kết quả công tác thi hành án… Tòa án nhân dân trong phạm vi quyền hạn của mình kiểm tra đôn đốc kết quả thi hành án, Hội đồng nhân dân kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật thi hành án ở địa phương mình Mục đích của các cơ quan trên nhằm phát hiện và ngăn ngừa vi phạm trong công tác thi hành án, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể

- Đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ:

Một là, áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Uỷ ban nhân

dân , Viện kiểm sát, Tòa án…) tiến hành, ví dụ: Tòa án ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo, thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người bị kết án Đây là điểm khác biệt so với các hình thức pháp luật khác

Hai là, áp dụng pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ mang tính quyền

lực Nhà nước, sự áp dụng này mang tính bắt buộc với chủ thể bị áp dụng pháp luật và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Ví dụ: Người bị kết án không chấp hành nghiêm nghĩa vụ trong thời gian chấp hành án: bỏ đi khỏi địa phương không báo cáo, có hành vi vi phạm pháp luật Trong trường hợp này Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc người

bị kết án thực hiện nghĩa vụ

Ba là, áp dụng pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ là hoạt động

tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị định 60,61 của Chính phủ, đã được trình bày tại tiểu mục 1.1.2.1 và 1.1.2.2 trang 18;19 của luận

Trang 35

văn Các chủ thể có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định thủ tục đó

Bốn là, áp dụng pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ mang tính sáng

tạo, bởi vì đó là hoạt động vận dụng các qui phạm pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải nắm vững kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm và có sự sáng tạo khi vận dụng pháp luật vào thực tiễn

Kết quả áp dụng pháp luật về án treo và cải tạo không giam giữ được thể hiện bằng các văn bản áp dụng pháp luật Các văn bản này do các cơ quan có thẩm quyền (Uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) ban hành và được bảo đảm bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước; Văn bản áp dụng chỉ đích danh tên cá nhân,

tổ chức cụ thể phải thực hiện nghĩa vụ (Quyết định cử người trực tiếp giám sát giáo dục người bị kết án phải ghi rõ tên người và tổ chức giám sát, tên và địa chỉ người bị kết án, các quyền và nghĩa vụ trong thời gian chấp hành án…); Khi ban hành văn bản áp dụng pháp luật phải ghi rõ văn bản làm căn cứ áp dụng pháp luật (ví dụ: quyết định rút ngắn thời gian thử thách án treo cho người bị kết án do Tòa án ban hành phải áp dụng Luật tổ chức Tòa án,

Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị định 61của Chính phủ); các văn bản áp dụng trong hoạt động thi hành án treo và cải tạo không giam giữ được thực hiện chủ yếu bằng các quyết định(quyết định thi hành án của Tòa án, quyết định cử người trực tiếp giám sát giáo dục, quyết định xử lý người bị kết án có vi phạm trong quá trình chấp hành án do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị án ban hành…)

Các văn bản áp dụng pháp luật trong thi hành án treo và cải tạo không giam giữ phải mang đầy đủ các đặc điểm nêu trên, và đây là cơ sở để phân biệt văn bản áp dụng pháp luật với các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm đảm bảo cho hoạt động thực hiện pháp luật về án treo và cải tạo không giam giữ đi vào khuôn khổ, ví dụ: Quyết định ban hành kèm quy chế phối hợp giữa các chủ thể khi thực hiện pháp luật thi hành án là văn bản qui phạm pháp luật

- Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ:

áp dụng pháp luật phải trải qua các giai đoạn từ việc xác định những tình tiết thực tế khách quan của vụ việc Tìm kiếm và phân tích qui phạm pháp luật thích ứng với vụ việc đó đến ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức, kiểm tra thực hiện quyết định ấy trên thực

Trang 36

tế áp dụng pháp luật trong thi hành án treo và cải tạo không giam giữ cũng bao gồm 3 giai đoạn như quá trình áp dụng pháp luật thông thường, đó là:

+ Phân tích những tình tiết thực tế của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của nó

+ Lựa chọn qui định pháp luật tương ứng để giải quyết vụ việc;

+ Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của qui phạm pháp luật đưa ra áp dụng;

+ Ra văn bản áp dụng pháp luật;

+ Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật

Tuy nhiên trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ các bước, các giai đoạn trong quá trình áp dụng pháp luật So với thi hành các hình phạt khác (tử hình,

tù có thời hạn trong các trại cải tạo) thì phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ mang tính " động" hơn, linh hoạt hơn do hoạt động này xã hội hóa cao hơn, các chủ thể thực hiện pháp luật đa dạng và không mang tính chuyên môn hóa cao

1.3 Vai trò và các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

1.3.1 Vai trò thực hiện pháp luật về thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

Thứ nhất, thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ góp phần tích cực đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý.Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện pháp luật Thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức (kể cả cơ quan nhà nước) và mọi công dân Việt Nam và các tổ chức, công dân nước ngoài làm ăn sinh sống trên đất nước Việt Nam Thực hiện pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật là nguyên tắc hiến định

Thực hiện tốt pháp luật thi hành án có vai trò hết sức quan trọng, vừa nhằm biến các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị định 60,61/CP của Chính phủ đối với công tác thi hành án treo và cải tạo không giữ thành nội dung của đời sống thực tiễn,

Trang 37

tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đồng thời nó còn là phương tiện kiểm nghiệm tính đúng đắn của pháp luật, các chủ thể thông qua việc thực hiện pháp luật, phát hiện những điểm bất cập, mâu thuẫn, thiếu tính khả thi để kiến nghị hoàn thiện pháp luật thi hành án, góp phần chung vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ hai, thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ góp phần thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa

khi phạm tội, người bị kết án không tránh khỏi sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật Tuy nhiên với phương châm "Trừng trị kết hợp với giáo dục", pháp luật Việt Nam luôn tạo ra cơ hội cho người phạm tội có điều kiện cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội

án treo và cải tạo không giam giữ là hai chế định thể hiện rõ nét nhất tính nhân đạo của pháp luật thi hành án Người bị kết án không bị tước quyền tự do, không bắt buộc tập trung cải tạo tại hệ thống trại giam và được hưởng một số ưu đãi Bên cạnh việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong giai đoạn chấp hành án, người bị kết án được các cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp quản lý, giám sát, giáo dục, tạo các điều kiện thuận lợi để học tập, lao động, cải tạo.Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án có cơ hội để chứng minh nỗ lực quyết tâm cải tạo của mình.Thực hiện tốt pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo

và cải tạo không giam giữ là đáp ứng được yêu cầu, mục đích, ý nghĩa trong chính sách hình

sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam

Thứ ba, thực hiện tốt pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ góp phần làm giảm chi phí cho nhà nước, xã hội và gia đình người bị kết án

Lấy một ví dụ: Từ ngày 01/01/2003 đến ngày 30/06/2006, Tòa án các cấp trong cả nước đã tuyên phạt tù và cho hưởng án treo, kết án cải tạo không giam giữ cho 64.603 bị cáo [37, tr.9], đây là số liệu không nhỏ Việc áp dụng và thực hiện tốt các quy định pháp luật về án treo và cải tạo không giam giữ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Nhà nước và xã hội

và gia đình người kết án Nhà nước tiết kiệm được một khoản ngân sách cho việc cải tạo nếu như họ phải chấp hành án trong các trại giam, gia đình tiết kiệm được chi phí đi lại thăm nom người kết án… Ngoài ra còn tạo điều kiện cho người bị kết án và gia đình họ ổn định cuộc sống khi không bị cách ly khỏi đời sống thường nhật, người bị kết án vẫn tiếp tục được học tập, cải tạo, rèn luyện bản thân và lao động nuôi sống bản thân bớt gánh nặng cho

Trang 38

người thân và xã hội, sử dụng quãng thời gian cải tạo vào những công việc có ích Mặt khác thực hiện tốt pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ còn có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội Hoạt động thi hành án còn thu hút một bộ phận nhân dân tham gia giúp đỡ, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, giúp họ hòa nhập, cải tạo trở thành công dân tốt, việc làm đó vừa thể hiện trách nhiệm cộng đồng, vừa là nét đẹp truyền thống tương thân tương ái của văn hóa, đạo đức người Việt Nam

Thứ tư, thông qua thực hiện pháp luật thi hành án, góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân

Giáo dục pháp luật có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng.Vai trò của pháp luật bắt nguồn

từ giá trị xã hội của pháp luật, từ sự hiểu biết và thực hiện nghiêm túc của các chủ thể pháp luật Nếu pháp luật là công cụ rất quan trọng để Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội, là phương tiện để công dân thực thi nghĩa vụ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì giáo dục pháp luật giúp cho Nhà nước (các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức) và công dân biết sử dụng phương tiện đó Phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa trực tiếp trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Bởi lẽ "những tri thức pháp lý đúng đắn sẽ định hướng cho hành vi hợp pháp, là những yếu tố quan trọng trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ, mở rộng quyền tự do công dân" [34, tr.425-426]

Đối tượng thi hành án treo và cải tạo không giam giữ là đối tượng khá đặc biệt, bị phạt tù nhưng được sống và học tập tại cộng đồng, không bị tước quyền tự do và được hưởng một số ưu đãi, tuy nhiên trong họ luôn mang nặng tâm trạng mặc cảm của kẻ phạm tội và khó hòa nhập với cuộc sống hiện tại Do vậy, quá trình thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, các cơ quan thi hành án, cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục người bị kết án thông qua các hoạt động nghiệp vụ của mình phải làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật nhằm đảm bảo hai yêu cầu:

Một là, giúp người thi hành án nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc chấp

hành các quy định của pháp luật, những việc mà pháp luật cấm, những việc pháp luật cho phép để từ đó họ chủ động thực hiện nghĩa vụ trong thời gian bị giám sát và giáo dục và tự

tu dưỡng rèn luyện học tập lao động để trở thành người có ích cho xã hội

Hai là, hoạt động thực hiện pháp luật thi hành án còn là kênh thông tin tuyên truyền

rộng rãi trong quần chúng nhân dân về pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các văn bản

Trang 39

hướng dẫn thi hành, bởi lẽ hoạt động đó không chỉ đơn thuần là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, mà còn là một hoạt động cao cả mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc,với mục đích tốt đẹp là giáo dục con người, và nó là trách nhiệm chung của toàn xã hội

Thứ năm, thực hiện pháp luật thi hành án góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 12 Hiến pháp năm

1992 của Nhà nước ta qui định:

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn

vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật [23, điều 12]

Thực hiện pháp luật thi hành án nói chung, pháp luật thi hành án treo và cải tạo không giam giữ nói riêng là hoạt động nhằm góp phần bảo đảm pháp chế thống nhất ở Việt Nam, hoạt động đó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Điều 136 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 qui định: "Các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành" [23]

Bản án, quyết định do Tòa án tuyên nhân danh Nhà nước khi được ban hành phải được các cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, người phải thi hành án, các cơ quan có liên quan (gọi chung là chủ thể thực hiện pháp luật) trong phạm vi quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm luật định phải nghiêm chỉnh thực hiện theo trình tự thủ tục pháp luật quy định.Mọi hành vi

vi phạm phải được xử lý tùy theo mức độ, việc thực hiện pháp luật nghiêm minh là góp phần tích cực vào việc giữ gìn pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ

Để đảm bảo thực hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ, cần phải có đủ các yếu tố sau:

Thứ nhất, phải có hệ thống pháp luật thi hành án hoàn chỉnh và thống nhất

Trang 40

Để thực hiện tốt pháp luật thi hành án thì yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất là phải xây dựng một hệ thống pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hiện pháp luật thi hành án Giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó xây dựng pháp luật là nền tảng, là cơ sở, là yếu tố đảm bảo để tiến hành các hoạt động thực hiện pháp luật Trước tiên là xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thi hành án mà pháp luật thi hành án ra đời và chỉ

có thể thực hiện tốt pháp luật thi hành án trên cơ sở có một hệ thống pháp luật đảm bảo các yếu tố:Tính khách quan, tính toàn diện và tính có hệ thống

Đến nay, chúng ta chưa có đủ pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tư pháp Trong lĩnh vực thi hành án đối với án treo và cải tạo không giam giữ mới chỉ

có Nghị định 60, 61 năm 2000 của Chính phủ Song ngay từ khi ra đời, hai văn bản trên đã bộc lộ nhiều thiếu sót, khó có khả năng thi hành Do vậy một trong các nhiệm vụ của cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị là: "Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp" [4] Trên cơ sở Nghị quyết 49 và nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách

về nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật trong lĩnh vực thi hành án, Quốc hội cần nhanh chóng ban hành Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án; xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác thi hành án

Thứ hai, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong công tác thi hành án

Pháp luật là sự thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng, quan điểm của Đảng Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ nói riêng Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: Phải đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp Đó là yêu cầu khách quan trong quá trình thực hiện pháp luật thi hành án

Để đảm bảo hoạt động thi hành án có hiệu quả, tổ chức cơ sở Đảng trong các cơ quan thi hành án phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ và cấp ủy địa phương cần quan tâm đến các nội dung sau:

Ngày đăng: 06/11/2016, 22:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Hòa Bình (2002), "Hoạt động thi hành án dân sự hiện nay: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện", Khoa học pháp lý, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thi hành án dân sự hiện nay: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Trương Hòa Bình
Năm: 2002
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2002
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Chính phủ (2000), Nghị định 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
7. Chính phủ (2000), Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
8. Nguyễn Khắc Công (1991), "Một số suy nghĩ về chế định án treo", Tòa án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về chế định án treo
Tác giả: Nguyễn Khắc Công
Năm: 1991
9. Lê Văn Dũng (1990), "Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội", Tòa án nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội
Tác giả: Lê Văn Dũng
Năm: 1990
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Vũ Thế Đoàn (1990), "Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo theo Điều 44 Bộ luật Hình sự", Tòa án nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo theo Điều 44 Bộ luật Hình sự
Tác giả: Vũ Thế Đoàn
Năm: 1990
14. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Nhà nước và Pháp luật (2004), Giáotrình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo "trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
15. Đặng Vũ Huân (2002), "Bàn về quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án", Khoa học pháp lý, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Năm: 2002
16. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
17. Lê Văn Luật (2007), Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Luật
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
18. Đoàn Đức Lương (1996), "án treo và thực tiễn áp dụng", Tòa án nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: án treo và thực tiễn áp dụng
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Năm: 1996
19. Nguyễn Văn Nghĩa (2006), "Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trước yêu cầu cải cách tư pháp", Dân chủ và pháp luật, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ trước yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Nghĩa
Năm: 2006
21. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999, (phần chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999, (phần chung)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
25. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w