Các tác giả đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của thị trường lao động Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được trong quá trình hình thà
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển thị trường sức lao động là một tất yếu khách quan vì thị trường sức lao động là một trong những nhân tố quan trọng tạo động lực thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh và bền vững Vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh:
Phát triển thị trường sức lao động trong mọi lĩnh vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung- cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động nhất là khu vực nông thôn…Đa dạng hóa các hình thức giao dịch việc làm, phát triển hệ thống thông tin về thị trường sức lao động trong nước và thế giới Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ và quản lý những ngành nghề ưu tiên phát triển Xây dựng hệ thống pháp luật về lao động và thị trường sức lao động nhằm đảm bảo quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động, thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động, bảo đảm quyền lợi của người lao động, người sử dụng lao động [19, tr.81]
Cùng với xu thế chung của cả nước, Đà Nẵng từ khi trở thành đơn vị hành chính thuộc trung ương(1997), được công nhận là đô thị loại I cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước - cũng sớm nhận thức được điều đó Thực hiện nghị quyết 33- NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đà Nẵng biết khai thác những tiềm năng và lợi thế, xác định cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp- dịch vụ- nông lâm thuỷ sản, có nhiều chính sách kêu gọi đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng và chỉnh trang đô thị vv…tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao
Trang 3Thực tế trong những năm qua, thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng đang từng bước được hình thành và phát triển Sự phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng góp phần phân bổ nguồn lực lao động giữa các ngành, các vùng hợp
lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, với sự phát triển nhanh chóng của các ngành nghề và lĩnh vực mới, đã thu hút một lượng lao động rất lớn từ các nơi khác đổ về đặc biệt là dòng di dân từ các tỉnh phía Bắc Đây cũng chính là cơ hội tốt về nguồn cung sức lao động Tuy nhiên, thị trường sức lao động ở Đà Nẵng vẫn còn nhiều bất cập giữa các yếu tố thị trường như sự mất cân đối giữa cung- cầu sức lao động dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động; chuyển dịch cơ cấu lao động còn bất hợp lý; vấn đề tiền công, tiền lương còn bức xúc giữa người lao động và
người sử dụng lao động Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn đó, vấn đề “Phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” được chọn làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thị trường hàng hóa sức lao động là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của các ngành khoa học kinh tế Đến nay đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể:
- Bùi Thị Xuyến (2002): Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác
vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Luận án tiến sĩ
kinh tế Tác giả phân tích cơ sở lý luận về hàng hoá sức lao động của C.Mác, từ đó vận dụng vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đưa ra các giải pháp cụ thể
- Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân, Một số vấn đề phát triển thị
trường lao động ở Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2003 Các tác giả đã làm rõ
thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của thị trường lao động Việt Nam, những thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được trong quá trình hình thành và phát triển thị trường lao động; các giải pháp cần thiết để phát triển loại thị trường đặc biệt này trong thời gian tới
Trang 4- Nguyễn Đình Hương (2006): Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb lý luận chính trị, Hà Nội Tác
giả nghiên cứu góc độ lý luận và thực tiễn
- Nguyễn Văn Phúc (2008): Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam
hiện nay - Luận án tiến sĩ kinh tế Tác giả đã đưa ra khái niệm về thị trường sức lao động
ở trình độ cao, phương hướng và các giải pháp phát triển về thị trường sức lao động ở trình độ cao
- Nguyễn Ngọc Bình (2008): Thị trường sức lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh
dưới tác động trực tiếp của đầu tư nước ngoài - Luận văn thạc sĩ kinh tế Tác giả đã làm
rõ khái niệm về thị trường sức lao động và các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động Đưa ra các nhóm giải pháp cần thiết về thị trường sức lao động dưới tác động trực tiếp của đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm Văn Chính, Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tác giả phân tích cơ sở lý luận của thị trường lao động, về nguồn lao động, những yếu tố cấu thành và điều tiết thị trường lao động, mối quan
hệ cung- cầu sức lao động và tiền lương; sự vận dụng linh hoạt lý luận về thị trường lao động vào điều kiện Việt Nam
- Nguyễn Thi Thơm, Thị trường lao động ở Việt Nam thực trạng và giải pháp,
sách tham khảo, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006, đã tập hợp nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, nhiều nhà quản lý về thị trường sức lao động, từ đó đưa ra giải pháp phát triển
- Đỗ Xuân Phương, Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm, Luận
án tiến sĩ kinh tế, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000 Luận giải thực tiễn trong phạm vi thành phố Hà Nội
- Bùi Sĩ Lợi, Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010 Phạm vi nghiên cứu thực tiễn và các giải pháp của Tỉnh
Thanh Hóa
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên chỉ đề cặp đến từng mặt, từng vấn đề của thị trường lao động như cung, cầu sức lao động,
Trang 5số lượng, chất lượng sức lao động, chính sách sử dụng lao động, sự hình thành và phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam Do giới hạn về mặt lịch sử, địa bàn nghiên cứu nhiều giải pháp đặt ra không còn phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn Vì vậy, đề tài “ Phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” nghiên cứu không trùng lắp với những đề tài đã nêu trên
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng
Từ đó đề ra phương hướng và giải pháp nhằm phát triển mạnh mẽ thị trường sức lao động
ở Thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới
- Phân tích thực trạng thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997- 2007 Từ đó đánh giá thành tựu đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên nhân
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động ở thành phố
Đà Nẵng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn năm 1997- 2007
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Các số liệu chủ yếu từ năm 1997- 2007
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 65.1 Cơ sở lý luận
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Dựa vào đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước nói chung, của Thành phố Đà Nẵng nói riêng về phát triển thị trường sức lao động
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phân tích tổng hợp, sơ đồ hóa, hệ thống bảng biểu Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố
6 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thị trường sức lao động ở
Thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường sức lao động, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo hướng bền
vững
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy nghiên cứu về thị trường sức lao động
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương, 7 tiết
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN
VỀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
1.1 SỨC LAO ĐỘNG VÀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
1.1.1 Sức lao động
1.1.1.1 Khái niệm
Trang 7Bất cứ một quá trình lao động sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố
cơ bản đó là: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Tuy nhiên, cả ba yếu tố này có một vai trò nhất định, trong đó lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nhưng không phải là yếu tố duy nhất tạo ra của cải vật chất
Quá trình tiêu dùng sức lao động đó là lao động Theo C.Mác “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [31, tr.251]
Như vậy, sức lao động chỉ mới nói lên khả năng lao động tiềm ẩn bên trong của một con người Sức lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một
cơ thể con người đang sống Năng lực thể chất chính là phần xương thịt của con người thể hiện ở chiều cao, cân nặng và khả năng hoạt động của con nguời; Năng lực tinh thần thể hiện ở mặt trí lực như sở thích, năng lực chuyên môn và sự thoả mái của con người Khác với sức lao động, Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên Bản thân của con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên, để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích cho đời sống bản thân mình, con người vận dụng những sức tự nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân Trong khi tác động vào tự nhên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó đã làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó
Tóm lại, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra
các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội Lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động trong hiện thực, là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt động bản năng của con vật C.Mác viết:
… bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải thổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chung trong đầu óc mình rồi [31, tr.266]
Trang 8và chịu sự chi phối hoàn toàn về mọi mặt của chủ nô Đến chế độ phong kiến, người nông dân tá điền tuy không bị lệ thuộc hoàn toàn vào địa chủ, nhưng họ không được quyền tự do
di chuyển, lựa chọn chủ đất làm thuê, sức lao động trong thời kỳ phong kiến đã manh nha trở thành hàng hoá nhưng lại bị chặn bởi bóc lột siêu kinh tế, dưới bạo lực của địa chủ phong kiến trấn áp Người nô lệ có sức lao động chỉ làm thuê cho địa chủ mà họ không có quyền mặc cả về tiền công Do đó, sức lao động trong chế độ phong kiến chưa phải là hàng hoá
Khi lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời
đã cản trở cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Từ đó đòi hỏi một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn ra đời, đó là phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, từ đây sức lao động trở thành hàng hoá Vì vậy, C.Mác viết:
Thiên nhiên không sinh ra một bên là chủ tiền - chủ hàng hoá, còn bên kia là những người chỉ làm chủ độc có sức lao động của mình Quan hệ ấy không phải là một quan hệ lịch sử tự nhiên mà cũng không phải là một quan hệ
xã hội chung cho tất cả thời kỳ lịch sử Rõ ràng bản thân nó là kết quả của sự phát triển trước đó, là sản vật của nhiều cuộc cách mạng kinh tế, là sản vật của
sự diệt vong của hàng loạt những hình thái sản xuất xã hội cũ [31, tr.254] Như vậy, lịch sử ngay từ đầu sức lao động chưa phải là hàng hóa Sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có những điều kiện nhất định Muốn cho người chủ tiền tìm thấy trên thị trường một sức lao động với tư cách là hàng hoá thì một số những điều kiện khác nhau phải được thực hiện Tự bản thân nó, trao đổi hàng hoá không bao gồm những quan hệ lệ thuộc nào khác ngoài quan hệ lệ thuộc toát ra từ bản chất của chính nó Với tiền đề ấy sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi nó được
Trang 9đưa ra trên thị truờng và chỉ trong chừng mực nó được đưa ra trên thị trường, hay ngay chính người chủ của nó, tức là bản thân người có sức lao động đem bán
Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Sức lao động trở thành hàng hoá khi có các điều kiện sau đây
Một là, người lao động tự do thân thể nghĩa là tự do sở hữu năng lực lao động
của anh ta và thân thể của anh ta, anh ta có quyền chi phối sức lao động của mình có nghĩa là anh ta có bán hoặc không bán sức lao động cho người khác và được pháp luật bảo vệ Vì vậy C.Mác đã chỉ rõ: “Muốn cho người chủ sức lao động có thể bán được với
tư cách là hàng hoá thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình” [31, tr.251] Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư cách là những người hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác nhau ở chỗ là một người thì mua, còn người kia thì bán, và vì thế cả hai đều là những người đều bình đẳng với nhau
về mặt pháp lý Muốn duy trì mối quan hệ ấy, người sở hữu sức lao động bao giờ cũng bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định mà thôi, bởi vì, nếu anh ta thì bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy trong một lần thì anh ta sẽ tự bán cả bản thân anh ta, và từ chỗ là người tự do, anh ta sẽ trở thành người nô lệ, từ chỗ là người chủ hàng hoá anh ta trở thành một hàng hoá Với tư cách là một con người, anh ta phải thường xuyên duy trì mối quan hệ đối với lao động của mình như là vật sở hữu của mình, và vì vậy, như là một hàng hoá của bản thân mình, và điều đó chỉ có thể thực hiện được trong chừng mực anh
ta bao giờ cũng chỉ để cho người mua sử dụng hoặc tiêu dùng sức lao động của mình một cách nhất thời, trong một thời gian nhất định thôi, do đó chỉ trong chừng mực là khi bán sức lao động, anh ta không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động ấy
Hai là, C.Mác viết: “Người chủ sức lao động phải không có khả năng bán những
hàng hoá trong đó lao động của anh ta đã được vật hoá, mà trái lại anh ta phải buộc đem bán đi, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ngay cơ thể sống của anh ta thôi” [31, tr.252-253]
Khác với một người bán những hàng hóa do mình sản xuất ra, C.Mác cũng chỉ rõ:
Trang 10Để cho một người nào đó có khả năng bán những hàng hóa khác với sức lao động của mình, thì tất nhiên là anh ta phải có những tư liệu sản xuất như nguyên liệu, công cụ lao động vv… anh ta không thể làm giày ống mà không
có da thuộc Ngoài ra anh ta còn cần có tư liệu sinh hoạt, không một ai ngay
cả một nhạc sĩ của tương lai, cũng không thể sống bằng những sản phẩm của tương lai, không thể sống bằng những giá trị sử dụng còn chưa sản xuất xong [31, tr.253]
Như vậy, để sức lao động trở thành hàng hóa cần phải có hai điều kiện nêu trên, nghĩa là người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng hóa, tự
do theo hai nghĩa: thứ nhất là một con người tự do, chi phối được sức lao động của mình với tư cách là một hàng hóa, và mặt khác, anh ta không có một hàng hóa nào khác để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có một vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình Thiếu một trong hai điều kiện nêu trên thì sức lao động không trở thành hàng hóa Việc sức lao động trở thành hàng hóa đã đánh dấu một bước ngoặt cách mạng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến Sự cưỡng bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế đã được thay bằng việc ký kết hợp đồng mua và bán giữa hai người bình đẳng về hình thức: giữa người sở hữu sức lao động và người sở hữu tư liệu sản xuất Sự bình đẳng về hình thức ấy che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa
tư bản, chế độ bóc lột được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột Chính sự kết hợp giữa biện pháp cưỡng bức lao động bằng biện pháp kinh tế với quyền tự do của mỗi cá nhân là mâu thuẩn nội tại của nền dân chủ tư sản
Ngày nay, với sự phát triển của cuộc cách mạnh khoa học – công nghệ, nền kinh
tế thế giới đã và đang chuyển sang nền kinh tế mới, hay còn gọi là nền kinh tế tri thức Chủ nghĩa tư bản có sự biến đổi về hình thức sở hữu đa dạng, phong phú phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy, điều kiện thứ hai để sức lao động trở thành hàng hóa không còn đúng như C.Mác đã đưa ra cách 142 năm, nghĩa là người công nhân không những bán sức lao động mà họ còn có cổ phần trong công ty Chính vì vậy, một số người cho rằng ngày nay người công nhân không chỉ có cổ phần mà họ còn là chủ sở
Trang 11hữu, được hưởng lợi tức cổ phần Chẳng hạn, ở Thụy Điển có tới 21% dân cư có cổ phần trong các doanh nghiệp, ở Pháp có 6 triệu người là cổ đông, ở Anh có 8 triệu người, ở Mỹ
có khoảng 35- 40 triệu người Ngoài ra còn xuất hiện loại hình xí nghiệp do công nhân tự quản Tuy nhiên, những điều kiện trên là hoàn toàn có thật nhưng chúng ta cần nhận thấy rằng, sở hữu của nhà tư bản vẫn giữ vị trí trọng yếu, còn cổ phần của người công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ không đáng kể và được chủ nghĩa tư bản sử dụng như một công
cụ quản lý để thu hút sự quan tâm của người lao động vào quá trình tái sản xuất để nâng cao hiệu quả sản xuất của nhà tư bản chứ không có nghĩa là người công nhân đã trở thành người chủ tư liệu sản xuất Theo số liệu thống kê quốc tế, toàn bộ số cổ phần mà người lao động ở Mỹ chỉ chiếm 1% trong toàn bộ số cổ phiếu Nhưng với sở hữu đó người công nhân chưa trở thành chủ sở hữu tư liệu sản xuất thực sự, mà chỉ mang tính hình thức nên họ vẫn là người bán sức lao động, chứ chưa phải là vừa lao động, vừa quản lý theo hình thức tiểu chủ Về mặt lý luận, chúng ta cần phải phân biệt khi là chủ sở hữu thật sự thì phải có quyền chi phối cái mà mình sở hữu (với những mức độ nhất định) Ngoài ra nguồn gốc của giá trị cổ phiếu mà họ có là do tiết kiệm được chứ không phải
từ nguồn gốc chiếm đoạt lao động của người khác, những phần tiết kiệm đó lại chỉ bù đắp (thậm chí không đủ bù đắp) được phần mà họ mắc nợ do phải mua chịu tư bản cố định cho gia đình do nhà nước đứng ra điều tiết Trên thực tế, cái gọi là tư liệu sản xuất mà họ sở hữu thì về giá trị của nó nằm trong hệ thống quản lý của ngân hàng và
bị khống chế của nhà tư bản tài chính chứ không được quyền tự do sử dụng theo ý riêng của mình
1.1.1.2 Các yếu tố của hàng hóa sức lao động
* Giá trị của sức lao động
Giá trị hàng hóa sức lao động được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Sức lao động chỉ tồn tại như một năng lực con người đang sống, muốn tái sản xuất năng lực lao động đó thì người có sức lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Do đó, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động cần thiết sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt ấy
Trang 12C.Mác viết:
Giá trị của sức lao động cũng như mọi hàng hóa khác, được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đó để sản xuẩt ra thứ sản phẩm đặc biệt ấy Sức lao động chỉ tồn tại như một năng lực của con người đang sống… Nhưng sức lao động chỉ được thực hiện bằng cách biểu hiện ra ngoài, nó chỉ được thực hiện trong lao động Trong quá trình thực hiện nó, trong lao động phải hao phí một lượng nhất định về cơ, thần kinh và não, v.v của con người, sự hao phí đó phải được bù lại Hao phí càng nhiều thì bù đắp càng lớn [31, tr.255- 256]
Như vậy, là hàng hóa đặc biệt giá trị của hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao gồm yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần Nhu cầu của người
có sức lao động không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu về tinh thần Những nhu cầu này nó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ và phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, và lịch sử hình thành giai cấp công nhân cả điều kiện lịch sử, khí hậu C.Mác viết:
Bản thân những nhu cầu tự nhiên như thức ăn, áo quần, chất đốt, nhà ở vv… cũng khác nhau tuỳ theo khí hậu và những đạc điểm thiên nhiên khác của từng nước Mặt khác quy mô của cái gọi là những nhu cầu thiết yếu, cũng như những phương thức thoã mãn những nhu cầu đó, bản thân chúng cũng là một sản phẩm của lịch sử và vì thế nó phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào những điều kiện, và do đó vào những thói quen và những nhu cầu sinh hoạt trong đó giai cấp của những người lao động tự do được hình thành [31, tr.256-257]
Giá trị hàng hóa sức lao động kết hợp bởi 3 bộ phận
Thứ nhất, giá trị của những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống bản thân người
lao động Sức lao động chỉ thực hiện trong lao động Trong quá trình lao động phải hao phí một lượng nhất định về cơ, thần kinh và não v.v…Sự hao phí đó phải được bù đắp lại
Do đó, phải đủ tư liệu sinh hoạt để duy trì thể lực và sức khoẻ của người lao động như trước, trong một trạng thái sinh hoạt bình thường Bản thân những nhu cầu tự nhiên khác
Trang 13như thức ăn, áo quần, chất đốt, nhà ở v.v…cũng khác nhau tuỳ theo khí hậu và những đặc điểm thiên nhiên khác của từng nước Mặt khác, quy mô của cái gọi là những nhu cầu thiết yếu, cũng như phương thức thoả mãn những nhu cầu đó lại phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào những điều kiện và những thói quen trong đó giai cấp của những người lao động tự do được hình thành nghĩa là giá trị sức lao động bao gồm một yếu tố lịch sử và tinh thần Nhưng đối với một nước nhất định và với một thời kỳ nhất định thì tính trung bình quy mô của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định
Thứ hai, giá trị tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế Người sở hữu sức lao
động sẽ phải về hưu hay chết Những sức lao động biến khỏi thị trường lao động ấy cần phải được thường xuyên thay thế bằng những sức lao động mới, ít ra cũng với một con số ngang như thế Vì vậy, tổng số những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc sản xuất ra sức lao động bao gồm cả những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó, tức là cho con cái của những người lao động
Thứ ba, chi phí đào tạo Muốn cho sức lao động trở thành một sức lao động phát
triển và đặc thù, thì cần phải có một trình độ học vấn hay giáo dục nào đó, nên phải có những chi phí đào tạo tuỳ theo tính chất phức tạp của lao động Do đó, những chi phí ấy đều gia nhập vào tổng số giá trị được chi phí để sản xuất ra sức lao động và tiền công cho lao động phức tạp phải cao hơn lao động giản đơn, vì lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn
Giá trị của mọi hàng hóa khác có xu hướng càng giảm càng tốt; nhưng giá trị của hàng hoá sức lao động lại có giới hạn thấp nhất của nó; đó chính là “Giá trị của cái khối lượng hàng hóa mà hằng ngày thiếu nó thì kẻ mang sức lao động, tức con người, sẽ không thể khôi phục lại quá trình sống của mình, tức là tạo thành giá trị của những tư liệu sinh hoạt không thể thiếu được về mặt sinh lý” [31, tr.259] Nếu vượt quá giới hạn này, người lao động sẽ có cuộc sống thấp và việc sử dụng sức lao động của người này sẽ bị ảnh hưởng và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khó phát huy tốt đuợc
Cũng như mọi hàng hóa khác, người mua hàng hóa tuy phải thực hiện giá trị, nhưng mục đích của họ là giá trị sử dụng của hàng hoá đó Nhà tư bản cũng vậy, họ bỏ
Trang 14tiền ra mua sức lao động chỉ vì hàng hoá này có giá trị sử dụng rất đặc biệt Chính tính chất đặc biệt của nó tạo ra sự hấp dẫn kỳ lạ cho người mua cũng như cho nhà tư bản
* Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là đáp ứng nhu cầu của người mua Trong quá trình sản xuất nhà tư bản cần có sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất của mình để tạo ra giá trị sử dụng, tạo ra các hàng hóa có giá trị cao hơn giá trị ứng truớc Cái có ý nghĩa quyết định ở giá trị sử dụng của sức lao động là cái đặc tính của nó, đặc tính có ích của sức lao động không chỉ là năng lực tạo ra các giá trị sử dụng
mà là cái nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của chính bản thân nó Ở đây có sự thống nhất giữa quá trình tạo ra giá trị với quá trình làm tăng giá trị Về thực chất, quá trình làm tăng giá trị cũng chính là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá một điểm nào đó mà thôi, điểm đó ngang bằng với giá trị sức lao động
Tính có ích của sức lao động chỉ thực sự được thực hiện, tức chỉ thực sự tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó khi sức lao động phải hoạt động trong những điều kiện bình thường đó là các điều kiện sau đây:
Một là, bản thân sức lao động phải là một sức lao động bình thường Nghĩa là, trong
ngành chuyên môn sức lao động ấy được sử dụng, nó phải có một trình độ trung bình về mặt tài nghệ, về mặt thành thục và tốc độ Tức muốn nâng cao giá trị sử dụng của sức lao động phải trải qua một thời kỳ đào tạo, huấn luyện, rèn luyện chuyên môn nhất định cả kinh nghiệm tích luỹ được nữa
Hai là, phải đảm bảo tính chất bình thường của những yếu tố vật chất của sản
xuất như tư liệu lao động, nguyên liệu, vật liệu đạt trình độ phổ biến bình thường và các yếu tố này phải được sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với từng loại sản phẩm và yêu cầu của thị trường Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển của mỗi quốc gia, năng xuất lao động, giáo dục đào tạo và nhiều yếu tố khác
* Giá cả của hàng hóa sức lao động
Trang 15Cũng như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của hàng hóa sức lao động biểu hiện ra bên ngoài là giá cả của nó hay tiền
công Như vậy, về thực chất tiền công là giá cả của hàng hoá sức lao động
Tiền công là một phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân lao động làm thuê Vì vậy, tiền công là một trong những căn cứ quan trọng để nhà tư bản
và công nhân làm thuê thoả thuận với nhau trên thị trường hàng hóa sức lao động
1.1.2 Thị trường sức lao động và những nhân tố của thị trường sức lao động
1.1.2.1 Khái niệm về thị truờng sức lao động
Trong nghiên cứu kinh tế tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về thị trường sức lao động
* Theo quan niệm của các học giả nước ngoài và các tổ chức quốc tế:
Lịch sử phát triển của các tư tưởng kinh tế đến nay tồn tại rất nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường sức lao động Chẳng hạn như Ađam smith, nhà kinh tế chính trị
tư sản cổ điển Anh cho rằng: Thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động giữa một bên là người mua sức lao động và người bán sức lao động Với quan niệm trên cho thấy, Ađam smith nhấn mạnh đến đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động
- Theo tổ chức lao động quốc tế ILO thì : “ Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua bán và thông qua quá trình để xác định mức
độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ của tiền công” Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm và tiền công
Quan điểm của các nhà khoa học kinh tế Nga thì cho rằng: “ Thị trường lao động được hiểu như là một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong
đó có cả pháp luật) đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động” Với quan niệm trên coi thị trường lao động trên cơ sở đánh giá sự vận động của thị trường sức lao động dưới tác động của hệ thống những quan hệ xã hội, thể chế và pháp luật của một
xã hội nhất định
Trang 16Các nhà khoa học Mỹ thì cho rằng : Thị trường lao động là một cơ chế mà với sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ làm vịêc được điều tiết hay thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết những lĩnh vực việc làm được gọi là thị trường lao động
Ngân hàng thế giới cho rằng: Thị trường sức lao động xét về lý thuyết kinh tế được coi là một vị trí mà tại đó cung và cầu về lao động tác động qua lại với nhau Đồng thời, khi nhấn mạnh bản chất của thị trường sức lao động, ngân hàng thế giới còn đưa ra khái niệm chi tiết mô tả nội dung và các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường sức lao động gồm:
- Các chủ thể của thị trường sức lao động là hộ gia đình, cá nhân người lao động (thuộc về phía cung người lao động); hãng, công ty, chủ doanh nghiệp (thuộc về phía cầu người lao động)
- Quy mô gồm: số lượng người lao động làm công, số giờ làm việc(thời gian làm việc)
- Giá cả: mức tiền công; tỷ lệ tiền công
- Thể chế: chính phủ, cơ chế điều tiết
Theo tiến sĩ Leo Maglen, chuyên gia tư vấn của dự án giáo dục kỹ thuật dạy nghề của tổng cục dạy nghề Do ngân hàng phát triển châu Á thì quan niệm thị trường lao động được tiếp cận dưới góc độ việc làm và được xác định như sau: Thị trường lao động
là một hệ thống trao đổi giữa người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động) Theo quan niệm này, sự trao đổi và thoả thuận giữa những người sử dụng lao động và người lao động trên thị trường lao động liên quan đến các nội dung quan hệ lao động như tuyển dụng lao động, sử dụng lao động, tiền công, tiền lương, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động…trong lĩnh vực thuê mướn lao động
* Các quan niệm về thị trường sức lao động của các học giả Việt Nam:
Ở Việt nam từ khi chấp nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sức lao động được coi là hàng hóa và thị trường hàng hóa sức lao động từng bước được hình thành và phát triển Từ đó, việc nhận thức và quan niệm về thị trường hàng
Trang 17hóa sức lao động cũng ngày càng hoàn thiện và rõ hơn, có thể đưa ra các quan niệm sau đây:
Theo quan niệm từ Viện quản lý kinh tế Trung ương: Thị trường sức lao động là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động và người mua sức lao động thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả, tiền công, tiền lương và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một bản hợp đồng bằng văn bản, bằng miệng hoặc thông qua các thoả thuận khác Quan niệm trên đã bám sát quá trình hình thành và phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam hiện nay
Trong giáo trình kinh tế lao động của trường đại học kinh tế quốc dân Hà Nội, khi luận giải về thị trường sức lao động nhấn mạnh ở ba khía cạnh Một là, thời gian, không gian, địa điểm diễn ra các hoạt động mua bán sức lao động Hai là, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Ba là, những mối quan hệ kinh tế khác được hình thành trong lĩnh vực thuê mướn lao động
Theo tiến sĩ khoa học Phạm Đức Chính thì thị trường sức lao động đó là một cơ chế hoạt động tương hỗ số người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế pháp lý giữa họ với nhau Mặc dù còn có những điểm khác biệt, song có thể thấy các định nghĩa về thị trường lao động nêu lên đều thống nhất với nhau về nội dung cơ bản để hình thành nên thị trường lao động, đó
là không gian, người bán sức lao động, người mua sức lao động, giá cả sức lao động ngoài và những ràng buộc giữa các bên
Tổng hợp các quan niệm khác nhau ngay cả trong nước cũng như ở nước ngoài nêu trên Có thể hiểu thị trường sức lao động như sau:
Thị trường sức lao động theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn trong một khu vực không gian nhất định nơi diễn ra các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động và người mua sức lao động bằng hình thức hợp đồng thoả thuận về giá cả, tiền công, và các điều kiện làm việc khác
Thị trường sức lao động theo nghĩa rộng là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau, hay là nơi trao đổi hàng hóa sức lao động trong đó người bán sức lao động và người mua sức lao động bình đẳng với nhau để xác định giá cả (tiền công, tiền
Trang 18lương) và các điều kiện lao động khác thông qua một hình thức hợp đồng lao động nhất định
- Về thuật ngữ “ thị trường sức lao động” và “ thị trường lao động”
Trong những năm chuyển sang nền kinh tế thị trường, khi nghiên cứu các vấn đề
lý luận về thị trường lao động thường xuất hiện hai thuật ngữ là “ thị trường lao động” và
“ thị trường sức lao động” Hầu hết được thể hiện trong các công trình nghiên cứu, sách báo và các bài viết đều không có sự thống nhất Ở đây, điểm xuất phát của hai thuật ngữ nêu trên chủ yếu là sức lao động là hàng hóa hay lao động là hàng hóa Hiện nay, tồn tại hai loại ý kiến khác nhau: Đối với các nhà kinh tế theo lý thuyết của kinh tế thị trường hiện đại như tiến sĩ Leo Maglen của tổ chức lao động quốc tế ILO và trong “Đại từ điển kinh tế thị trường”(xuất bản năm 1988) cho rằng, trên thị trường sức lao động chỉ mua bán dịch vụ lao động, do đó thiên về cách gọi là thị trường lao động Ở Việt Nam, những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thuật ngữ “ thị trường lao động” được sử dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong bộ luật lao động; Mặt khác, các nhà nghiên cứu lý luận theo
lý thuyết kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác thì cho rằng trên thị trường này sức lao động
là hàng hóa và thống nhất quan điểm thị trường hàng hóa sức lao động Cơ sở luận giải cho vấn đề này dựa vào lý luận của C.Mác về Mua bán sức lao động C.Mác và Ăng ghen đã chỉ
ra rằng: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [31, tr.251] Như vậy, sức lao động bao gồm năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và khả năng vận dụng thể lực và trí lực để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó Còn lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người tác động vào tự nhiên để cải biến những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người
Như vậy, sức lao động là khả năng lao động tiềm ẩn bên trong con người, còn lao động là quá trình tiêu dùng sức lao động Khi bàn về tiền công C.Mác đã chỉ ra sự nhầm lẫn tiền công là giá cả của lao động, lao động không phải là hàng hóa và không có giá trị Bởi vì, nếu lao động là hàng hóa thì phải có trước, phải được vật thể trong một hình thức cụ thể nào đó Tiền đề để lao động có thể vật hóa được là phải có tư liệu sản
Trang 19xuất Và nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ không còn là người vô sản nữa, họ bán những sản phẩm do họ sản xuất ra, chứ không bán sức lao động Đồng thời thừa nhận lao động là hàng hóa thì dẫn đến mâu thuẩn về mặt lý luận là: nếu lao động là hàng hóa thì nó được trao đổi ngang giá thì lúc đó nhà tư bản sẽ không thu được lợi nhuận, điều đó phủ nhận quy luật giá trị thặng dư, và phương thức sản xuất không còn là cơ sở tồn tại nữa Và nếu hàng hóa lao động được trao đổi không ngang giá thì nhà tư bản sẽ thu được giá trị thặng dư, điều đó phủ nhận quy luật giá trị Ngoài ra, hàng hóa sức lao động còn
có một đặc điểm nữa là nó không bao giờ tách khỏi người bán; hơn nữa nó chỉ nhận được giá cả sau khi cung cấp giá trị sử dụng cho người mua Giá trị sử dụng mà người công nhân cung cấp cho nhà tư bản lại không phải là sức lao động mà là việc sử dụng cái sức
ấy tức là lao động Do đó, nhìn bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản chỉ trả giá trị cho cái công dụng mà công nhân đã cung cấp cho nhà tư bản tức là trả giá trị cho lao động Đối với công nhân thì lao động là phương tiện sinh sống của anh ta, toàn bộ lao động trong cả ngày lao động là phương tiện để có tiền công sinh sống Do đó, công nhân tưởng rằng mình bán là bán lao động Còn nhà tư bản bỏ tiền ra mua là để có lao động, cho nên họ cũng lầm tưởng là họ mua lao động Số lượng tiền công nhiều hay ít tuỳ theo ngày lao động dài hay ngắn, hoặc tuỳ theo kết quả lao động nhiều hay ít Vì vậy, dẫn đến hiểu lầm
là tiền công là trả cho kết quả lao động
Tóm lại, từ cách luận giải trên sức lao động là hàng hóa và hàng hóa sức lao động được mua bán trên thị trường Đó là thị trường hàng hóa sức lao động Đại hội đảng lần thứ X đã khẳng định và thống nhất thuật ngữ: “Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung- cầu lao động” [19, tr.81]
1.1.2.2 Những yếu tố cấu thành thị trường sức lao động
Thị trường sức lao động được cấu thành từ các yếu tố: cung, cầu, giá cả sức lao động,
cơ chế điều tiết quan hệ cung cầu và cạnh tranh trên thị trường sức lao động Giữa các nhân tố này có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Nói đến sự vận động của thị trường sức lao động là nói đến sự vận động của các yếu tố cung, cầu lao động, giá cả sức lao động theo các quy luật khách quan và chịu sự tác động của các chính sách, thể chế do nhà nước ban hành
* Cung sức lao động
Trang 20Cung sức lao động được hiểu là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội, tức là tổng số nhân khẩu trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động kể cả số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động nhưng thực tế vẫn tham gia vào quá tái sản xuất xã hội
Cung sức lao động cũng có thể được hiểu là khả năng cung cấp cả thể lực và trí lực của người lao động làm thuê cho người sử dụng lao động trong một thời gian nhất định với mức tiền công xác định
Khi xem xét cung sức lao động trên thị trường cần phân biệt rõ hai phạm trù cung thực tế và cung tiềm năng
Cung thực tế về sức lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm
Cung tiềm năng về sức lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên chưa có việc làm hoặc đang đi học, đang làm việc nội trợ hoặc chưa có nhu cầu tìm kiếm việc làm
Cung sức lao động chịu tác động của nhiều yếu tố có thể khái quát sau đây:
- Cung sức lao động phụ thuộc vào số lượng dân số có khả năng lao động cụ thể
là số lượng dân số hoạt động kinh tế thường xuyên
Dân số kinh tế thường xuyên gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Chính lực lượng này quyết định đến mức cung sức lao động và nó mang tính chất tỷ lệ thuận với mức cung sức lao động
- Cung sức lao động phụ thuộc vào định mức giờ làm việc
Trong thực tế luôn tồn tại các bộ phận người lao động khác nhau về nhu cầu thời gian làm việc Trong đó, một bộ phận có khả năng về kinh tế tài chính họ cần có thời gian nghỉ ngơi, giải trí không muốn làm việc với thời gian dài Một bộ phận khác do khó khăn
về mặt kinh tế yêu cầu tăng giờ làm việc; cũng có một số lao động nữ phải nuôi con nên muốn giảm thời gian làm việc trong ngày Vì vậy, việc xác định định mức thời gian làm việc sẽ tác động đến các bộ phận người lao động kể trên và sẽ làm tăng hay giảm nguồn cung lao động Hơn nữa, cũng cần chú ý sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt chịu
Trang 21sự tác động của các yếu tố tinh thần và lịch sử nên phải xem xét cung trong điều kiện lịch
sử cụ thể
- Cung sức lao động phụ thuộc vào tiền lương
Đối với hàng hóa thông thường, sự biến động giá cả của hàng hóa tác động trực tiếp đến tình hình cung cầu hàng hóa trên thị trường Tuy nhiên tình hình này lại không diễn ra như vậy đối với hàng hóa sức lao động Việc tăng giá sức lao động không nhất thiết đi cùng với tăng cung của nó Cung sức lao động phụ thuộc vào tiền công trên thị trường Một mặt, tiền công và cung sức lao động tác động cùng chiều nghĩa là, khi tiền công cao ảnh hưởng trực tiếp đến tăng cung Trong nền kinh tế thị trường, số đông người lao động có thu nhập thấp trong khi nhu cầu về những tư liệu sinh hoạt cao nên họ sẵn sàng cung ứng lượng lao động lớn hơn, vì vậy, tăng tiền công tác động rất lớn đến tăng cung về hàng hóa sức lao động Mặt khác, tiền công và cung sức lao động tỷ lệ nghịch với nhau nghĩa là, tăng tiền công tác động giảm cung ở chỗ, thu nhập tăng lên, người lao động sẽ có điều kiện mua sắm hàng hóa và dịch vụ để thoả mãn nhu cầu tốt hơn Nhưng khi độ thoả mãn đạt đến một giới hạn nhất định thì số lượng hàng hóa và dịch vụ thêm vào có giá trị rất ít, người lao động có thu nhập cao sẵn có vô số hàng hóa và dịch vụ hưởng thụ, do đó nếu được đề nghị mức lương cao hơn, họ sẵn sàng giảm giờ làm việc
mà vẫn duy trì mức thu nhập cao để tăng thời gian nghỉ ngơi, làm cung giảm xuống Vì thế, đối với từng loại hàng hóa sức lao động, các nhà quản lý và hoạch định chính sách đề xuất mức tiền công hợp lý để tác động đến cung- cầu trên thị trường hàng hóa sức lao động
- Cung sức lao động phụ thuộc vào yếu tố di dân
Việc di chuyển lao động từ vùng, địa phương, khu vực, ngành nghề này sang vùng, địa phương, ngành nghề khác… dưới tác động của quy luật cung- cầu lao động và chính sách lao động việc làm của nhà nước sẽ tác động đến cung lao động ở các thị trường lao động giới hạn trong không gian và thời gian xác định Việc di chuyển lao động
là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp và được phân loại thành những tiêu chí khác nhau
Theo độ dài thời gian cư trú: phân chia thành di dân tạm thời và di dân lâu dài
Trang 22Theo tính chất pháp lý của di dân: gồm có di dân hợp pháp và di dân bất hợp pháp
Theo tính chất tự giác của di dân: gồm có di dân có tổ chức và di dân tự do; di dân tự nguyện và di dân bắt buộc
Việc di dân có ảnh hưởng trực tiếp đến cung sức lao động bởi vì nó có thể làm tăng lực lượng lao động ở vùng này và đồng thời làm giảm lực lượng lao động ở vùng khác Đây là hiện tượng bình thường, thông qua đó người ta có thể đánh giá được tình trạng hoạt động bình thường của thị trường lao động Ngoài ra, di dân có thể làm thay đổi
cơ cấu lực lượng lao động về giới, trình độ và về trình độ học vấn Chính vì thế, khi điều chỉnh cung sức lao động cần chú ý đến ýêu tố di dân
* Cầu sức lao động
Cầu về sức lao động là số lượng lao động được thuê mướn trên thị trường lao động Hay nói cách khác, cầu về sức lao động là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của một nền kinh tế(hoặc của một ngành, địa phương, doanh nghiệp…) ở một thời kỳ nhất định, bao gồm cả số lượng và chất lượng, cơ cấu và thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc làm
Cầu về sức lao động biểu hiện khả năng thuê lao động của người sử dụng lao động trên thị trường lao động và được xem xét ở hai góc độ là cầu thực tế và cầu tiềm năng
Cầu thực tế về sức lao động là nhu cầu thực tế lao động cần được sử dụng tại một thời điểm nhất định, bao gồm những người đang làm việc, chỗ làm việc trống (chỗ làm việc đã từng sử dụng lao động, nay không có lao động lànm việc và đang có nhu cầu
sử dụng lao động) và chỗ làm việc mới đang cần thuê lao động làm việc (chỗ làm việc mới xuất hiện và đang có nhu cầu sử dụng lao động
Cầu tiềm năng về sức lao động là nhu cầu lao động cho tổng số chỗ làm việc có thể có được, trên cơ sở nhu cầu lao động hiện tại và có tính đến các yếu tố việc làm trong tương lai như: vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ và các điều kiện khác Cầu tiềm năng được xác định như sau:
Cầu tiềm năng = Cầu thực tế + chỗ làm việc sẽ được
Trang 23về sức lao động về sức lao động tạo ra trong tương lai
Các nhân tố tác động đến cầu về sức lao động
- Năng suất lao động: Trong doanh nghiệp, ngành hay toàn bộ nền kinh tế thì
năng xuất lao động thay đổi làm cho cầu về sức lao động thay đổi theo hai xu hướng khác nhau Năng xuất lao động tăng sẽ làm cho sản phẩm biên và giá trị sản phẩm biên tăng, lúc đó doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động, cầu về sức lao động tăng, tăng chỗ làm việc cho người lao động trong nền kinh tế Ngược lại, năng xuất lao động giảm làm cho cầu về sức lao động giảm Tuy nhiên, nếu năng xuất lao động tăng mà doanh nghiệp không mở rộng quy mô, kế hoạch sản xuất thì có thể giảm cầu về sức lao động
- Tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mặt thiết với các yếu
tố đầu vào như vốn, lao động và công nghệ Trong điều kiện khoa học công nghệ không thay đổi, giá cả của lao động không thay đổi, vốn không thay đổi, thì tác động của tăng trưởng kinh tế sẽ làm tăng mức cầu về sức lao động trên thị trường lao động Tuy nhiên, trong môi trường phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ thì bất cứ một nền kinh tế có tăng trưởng nào cũng đều cố gắng áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất để tăng năng xuất lao động Trong những điều kiện như vậy, cầu lao động
về chuyên môn, kỹ thuật tăng lên và giảm cầu về lao động giảm đơn
- Thu nhập của dân cư và sức mua của người dân
Khi thu nhập tăng làm sức mua tăng, lúc đó doanh nghiệp bán sản phẩm ra được nhiều hơn, tăng sản xuất làm cho cầu đầu vào sức lao động tăng Tuy nhiên đạt đến một mức độ nhất định
- Giá cả hàng hoá sức lao động
Cũng như bất cứ hàng hoá nào khác trên thị trường, cầu hàng hoá sức lao động phụ thuộc vào giá cả sức lao động Tuy nhiên là một loại hàng hóa đặc biệt, giá cả hàng hóa sức lao động nó được đo bằng giá cả của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người công nhân và gia đình của anh ta, nên sự tác động của giá cả của hàng hóa sức lao động đến cầu sức lao động có những điểm đặc biệt Nếu tiền lương cao sẽ giảm cầu sức lao động
- Sự thay đổi mức lương
Trang 24Số lượng lao động được thuê phụ thuộc vào mức lương mà người sử dụng lao động trả cho họ Điều này nói lên rằng cầu sức lao động phụ thuộc vào giá cả của nó Nếu mức lương càng cao thì cầu về sức lao động càng giảm, nó phù hợp với quy luật cung cầu trên thị trường Hơn nữa, giữa tiền lương và lợi nhuận có quan hệ với tác động lẫn nhau; Ngược lại, giá cả sức lao động giảm xuống thì cầu về súc lao động sẽ tăng Ngoài ra, mức tiền lương trên thị trường lao động còn bị tác động bởi mức lương tối thiểu của chính phủ Trên thực tế, việc nâng mức tiền lương tối thiểu của chính phủ thường bị quy ước của tối đa hoá lợi nhuận gây trở ngại, vì trong các doanh nghiệp, việc thuê lao động bao gồm một sự so sánh doanh thu cận biên và mức tiền lương Theo quy luật tối đa hóa lợi nhuận, khối lượng sản phẩm được ssản xuất ra tại thời điểm mà chi phí cận biên đúng bằng doanh thu cận biên của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ dừng nhận thêm lao động tại điểm này
- Thời gian làm việc của người lao động
Thời gian làm việc trong ngày, tuần và cả cuộc đời, yếu tố này tác động đến cầu
về cơ bản và ngược lại so với khi phân tích tác đến cung về sức lao động Chẳng hạn, thời gian lao động nông nhàn trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, cung về sức lao động trên thị
trường cao và cầu giảm
* Về giá cả sức lao động
Giá cả sức lao động là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động Trên thị trường sức lao động, giá cả được biểu thể hiện dưới dạng tiền công Cũng như mọi hàng hóa khác, giá cả phụ thuộc vào quan hệ cung, cầu sức lao động trên thị trường Khi cung sức lao động vượt quá cầu, giá cả sức lao động giảm và ngược lại Tuy nhiên, là hàng hóa đặc biệt mà giá trị của nó được đo bằng giá cả những tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người có sức lao động ấy, và cả gia đình anh ta, nên sự lên xuống của giá cả sức lao động tác động đến cầu cũng có những đặc điểm riêng Đặc điểm riêng này được biểu hiện ở chỗ: Nếu mức giá cả sức lao động cao sẽ tác động đến mức cầu sức lao động theo một cơ chế phức tạp có tính chất ngược chiều Khi giá cả sức lao động tăng sẽ giảm cầu sức lao động giống như các loại hàng hóa khác Đồng thời, giá cả sức lao động tăng về phía doanh nghiệp, sẽ tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận, cầu sức lao động của doanh
Trang 25nghiệp giảm, tăng thất nghiệp Trường hợp, khi giá cả sức lao động tăng mà không giảm cầu, thậm chí tăng cầu sức lao động Như tăng lương, tăng sức mua của người lao động, làm tăng khối lượng hàng hóa bán ra của doanh nghiệp, lợi nhuận tăng, làm tăng cầu sức lao động Mặc khác, khi giá cả sức lao động thấp, làm cho sức mua của người lao động giảm sút Điều này gây nên hậu quả tiêu cực cho doanh nghiệp, hàng hóa bán ra thấp, giảm cầu sức lao động Đồng thời, giá cả sức lao động giảm, tái sản xuất sức lao động khó khăn, giảm hiệu quả sản xuất
Ngoài ra, giá cả trên thị trường sức lao động còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: tiềm năng kinh tế, mức sinh hoạt của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ, sự ưa thích
nghề nghiệp, địa vị xã hội, phong tục tập quán, điều kiện lao động, điều kiện sống
* Về thể chế và các hình thức giao dịch của thị trường sức lao động
Về cơ bản, thể chế chính là cơ chế pháp luật và tổ chức để xử lý các mối quan hệ lao động cơ bản giữa người bán sức lao động, người sử dụng lao động và nhà nước, nhằm đảm bảo hài hoà các lợi ích và trách nhiệm của các bên về mục tiêu phát triển chung Thể chế thị trường sức lao động bao gồm nhiều tổ chức như hệ thống thể chế và tổ chức; hệ thống dịch vụ việc làm; hệ thống doanh nghiệp xuất khẩu lao động; hệ thống thông tin thị trường sức lao động; hệ thống thông tin hướng nghiệp dạy nghề, hệ thống thông tin giới thiệu việc làm và hệ thống bảo hiểm xã hội
Hiện nay, có hai nhân tố của thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và hoàn thiện của thị trường sức lao động
Một là, các trung tâm và các phương thức giao dịch trên thị trường hàng hóa sức
lao động Các trung tâm được thành lập với vị trí, vai trò là cầu nối trung gian giữa cung, cầu cần được thể hiện rõ hơn Giới trung gian có thể là các tổ chức giới thiệu việc làm, các trung tâm đào tạo hoặc các cơ quan chức năng nằm trong hệ thống quản lý lao động Tuỳ thuộc vào nhiệm vụ và quyền hạn, giới trung gian có chức năng được quy định cụ thể
Về phương thức giao dịch Trên thị trường hàng hóa sức lao động, các phương thức giao dịch rất phong phú và đa dạng Có thể tiếp cận theo giao dịch trực tiếp và gián tiếp, nhưng hiện nay phổ biến nhất là: giao dịch thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm; giao
Trang 26dịch qua hội chợ việc làm; giao dịch qua chợ lao động; giao dịch qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng internet
Hai là, hệ thống các chính sách về thị trường sức lao động Là tập hợp các công
cụ của nhà nước sử dụng nhằm điều chỉnh hoạt động của thị trường sức lao động cho đúng hướng, nghĩa là ổn định, phát triển, cân bằng và hoàn thiện cung, cầu sức lao động Chính sách về thị trường sức lao động phải bám sát hoạt động thực tiễn sự vận động và phát triển trong từng thời lỳ nhất định, điều chỉnh kịp thời những bất cập phát sinh Các chính sách như ngắn hạn, dài hạn; vi mô, vĩ mô Hiện nay, để phù hợp với yêu cầu phát triển thị trường sức lao động, chính sách được xem xét theo phương diện đối với thị trường sức lao động chủ động và thị trường sức lao động thụ động
Từ đặc điểm và các nhân tố cơ bản cấu thành thị trường sức lao động nêu trên Các yếu tố này có mối quan hệ lẫn nhau, tác động quan lại với nhau theo quy luật của kinh tế thị trường Vì sức lao động là hàng hóa đặc biệt, nên cân bằng cung - cầu, giá cả
và cạnh tranh cũng có đặc thù riêng Trong quá trình vận động và phát triển hướng tới ngày càng hoàn thiện, giải quyết việc làm cho người lao động, giảm bớt tình trạng thất nghiệp gây áp lực cho xã hội Đặc biệt là giảm bớt thu nhập và tiền công cho người lao động… Nhà nước cần có biện pháp, chính sách, cơ chế kiểm soát quan hệ cung- cầu Nhưng trên thực tế quá trình vận động, các quan hệ cung - cầu luôn thay đổi theo sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Quan hệ cung- cầu diễn ra rất phức tạp Vì vậy, thể chế về thị trường sức lao động cần phải chặt chẽ và linh hoạt hơn Đối với nước ta trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động chưa ổn định, còn nhiều bất cập, khiếm khuyết đòi hỏi vai trò của nhà nước điều tiết thị trường sức lao động càng cao, đòi hỏi sự nổ lực từ nhiều phía
1.2 VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta thực hiện theo cơ chế tập trung bao cấp chưa công nhận sức lao động là hàng hóa, nên chưa có thị trường sức lao động Từ khi thực
Trang 27hiện đường đổi mới kinh tế, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước hay nói cách khác là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự hình thành và phát triển thị trường sức lao động là tất yếu khách quan Hơn nữa, nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế thì thị trường sức lao động có vai trò đặc biệt quan trọng là đầu tầu kéo theo các loại thị trường khác, đó là:
1.2.1 Thị trường sức lao động đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các loại thị trường
Thị trường sức lao động là một thị trường không thể thiếu được trong hệ thống
đồng bộ các loại thị trường, là đầu tầu kéo theo các loại thị trường khác như: thị trường về hàng hóa và dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ, thị trường tài chính Chính ở đây các nguồn lực phân theo ngành, nghề, theo doanh nghiệp và khu vực, liên kết vào hoạt động nguồn lực quốc gia quan trọng nhất –
đó là lực lượng lao động Giữa các loại thị trường này có mối quan hệ tương tác và thúc đẩy lẫn nhau, tạo thành một hệ thống thị trường thống nhất, hoàn chỉnh Nếu không có thị trường sức lao động cung ứng lao động đáp ứng cho thị trường sức lao động thì thị trường tài chính, thị trường khoa học- công nghệ không thể phát triển được hoặc khi thị trường sức lao động chỉ cung ứng nguồn nhân lực có trình độ thấp thì thị trường khoa học công nghệ chỉ phát triển ở trình độ thấp
1.2.2 Thị trường sức lao động tham gia điều tiết, phân bổ các nguồn lực lao động giữa các ngành, lĩnh vực với nhau trong nền kinh tế
Thị trường sức lao động tham gia điều tiết, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực theo cung, cầu và giá cả lao động của thị trường, hạn chế tiêu cực và lãng phí
Mặt khác, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đặc điểm cơ cấu ngành kinh tế có sự thay đổi nhanh Các ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng phát triển ngày càng nhanh, thay thế các ngành truyền thống Trong các thành phần kinh tế cũng có
sự cạnh tranh để thu hút lao động và lao động có chất lượng cao giữa kinh tế nhà nước và
Trang 28kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thông qua thị trường sức lao động tạo điều kiện cho người lao động có việc làm và chuyển đổi chỗ việc làm cho phù hợp với yêu cầu, vừa pháp huy khả năng làm việc và có mức thu nhập cao hơn Đồng thời, đối với người sử dụng lao động có quyền lựa chọn những lao động phù hợp với yêu cầu với công việc và tiền công hợp lý Tuy nhiên, do đặc điểm nguồn cung trên thị trường sức lao động lớn hơn cầu sức lao động, sự mất cân đối cung- cầu sức lao động Do đó, nhà nước phải có chính sách, biện pháp để điều chỉnh cả trong ngắn hạn và dài hạn, với ý nghĩa đó thị trường sức lao động có vai trò điều tiết lao động trong phát triển kinh tế- xã hội một cách hợp lý
1.2.3 Thị trường sức lao động có tác động đến phát triển con người, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế
Thị trường sức lao động có tác động lớn phát triển con người, giải phóng và phát huy triệt để tiềm năng, tài năng của vốn con người; tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện đời sống người lao động; xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, hợp tác giữa người lao động và người sử dụng lao động, bảo đảm quyền và lợi ích các bên, lợi ích nhà nước và cộng đồng
Xu hướng phát triển của nền kinh tế là các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và cần sử dụng lao động có trình độ chuyên môn cao Vì vậy, thị trường sức lao động là nơi cung cấp nguồn lao động cho các ngành này Đồng thời sự phát triển và hoàn thiện thị trường sức lao động tác động đến động cơ, thái
độ của người lao động Người lao động phải tự giác tập luyện, rèn luyện thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên môn, từ đó góp phần vào nang cao hiệu quả công tác, hiệu quả sản xuất kinh doanh Đối với người sử dụng lao động có thể lựa chọn đội ngũ lao động cần thiết để nâng cao năng xuất lao động Do đó các doanh nghiệp phải linh hoạt trong cạnh tranh tạo lập môi trường làm việc cũng như đảm bảo lợi ích kinh tế của ngươi lao động ngày càng tốt hơn
1.3 KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở
Trang 29MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế của cả n-ớc Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, thị tr-ờng sức lao động trên địa bàn thành phố đã xuất hiện rất sớm so với các tỉnh thành khác trong cả n-ớc Theo báo cáo của sở Lao động Th-ơng binh Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường ở đây luôn chịu sức ép từ lao động nhập c-, cứ 3 ng-ời đang làm việc trong các doanh nghiệp thì có một ng-ời là lao động ngoại tỉnh Riêng trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, chủ yếu trong ngành may mặc, giày da, xây dựng số lao động nhập c- chiếm tỷ lệ rất cao, cứ 10 lao động làm việc trong ngành này có 8 ng-ời là lao động ngoại tỉnh
Lực l-ợng lao động tính đến 2005 có 4.164.160 ng-ời, lao động cần giải quyết việc làm là 245.690 lao động Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng dần qua các năm: năm 2001 là 33,17%; năm 2002 là 45,48%; đến năm 2005 là 48,31% trong tổng số lao động đang làm việc
Để phát triển thị tr-ờng sức lao động Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện một số các biện pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao chất l-ợng của hệ thống giới thiệu việc làm
Phát triển hệ thống giới thiệu việc làm theo h-ớng nâng cao chất l-ợng hoạt động tiếp nhận lao động đăng ký tìm việc làm, phân tích đánh giá nghề nghiệp; phân loại lao động tìm việc theo từng đối t-ợng Cải tiến hình thức tổ chức và hoạt động có chất l-ợng nhiệm vụ t- vấn nghề và việc làm theo ph-ơng pháp khoa học Cần thay
đổi quan điểm t- vấn cho ng-ời lao động và doanh nghiệp chỉ là giới thiệu về lao
động ch-a có việc làm của thành phố về ngành nghề và việc làm hiện có của thị tr-ờng lao động mà phải chú trọng t- vấn khả năng, sở tr-ờng của từng cá nhân, doanh nghiệp trong việc tham gia thị tr-ờng lao động
Thứ hai, đối với các cơ quan quản lý về lao động địa ph-ơng
Tổ chức có hiệu quả các cuộc điều tra về lao động ch-a việc làm có nhu cầu tìm việc của thành phố Tăng c-ờng và mở rộng mối quan hệ với các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố và khu vực, nắm và dự báo các nhu cầu tuyển dụng lao động với
Trang 30hệ thống thông tin về chức danh, nghề nghiệp, cấp bậc công việc t-ơng đối chuẩn xác
Có kế hoạch phát triển nhiệm vụ đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm theo hai h-ớng chính: Tổ chức các tr-ờng, lớp đào tạo dạy nghề ngắn hạn theo nhu cầu xã hội gắn với bố trí việc làm và và phối hợp liên kết với các doanh nghiệp đơn vị có nhu cầu tuyển dụng lao động để tổ chức đào tạo tập trung hoặc kèm cặp nghề tại doanh nghiệp theo hợp đồng đào tạo gắn với cung ứng lao động; Đồng thời lập các dự án
để xin hoặc vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm, ngân sách nhà n-ớc, các ch-ơng trình liên kết với các tổ chức n-ớc ngoài để mở rộng, cải tiến trang thiết bị dạy nghề công nhân kỹ thuật có nhu cầu cung ứng trong giai đoạn các năm sắp tới
Thứ ba, đối với các tr-ờng, cơ sở đào tạo
Khuyến khích thành lập cơ sở dạy nghề theo quy định hiện hành, thành phố khuyến khích các đơn vị, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế góp vốn, thiết bị, công nghệ, nhân lực theo hình thức liên kết, hợp tác đầu t- với các cơ sở dạy nghề của nhà n-ớc nhằm mở rộng quy mô nâng chất l-ợng đào tạo
Mở rộng, khuyến khích, liên kết dạy nghề bằng các giải pháp, chính sách: các cơ sở dạy nghề đ-ợc liên kết với các cơ sở sản xuất kinh doanh, các đơn vị, tổ chức, cá nhân có điều kiện phù hợp để tổ chức hoạt động dạy nghề
Cơ sở dạy nghề đ-ợc liên hệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức, cơ quan nhà n-ớc để khảo sát, nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh, dịch
vụ để xây dựng ch-ơng trình đào tạo thích hợp, đ-a học viên thực tập theo kế hoạch
đào tạo và theo sự thỏa thuận đôi bên về nội dung, hình thức, quy mô, thời gian và chi phí thực tập
Đặc biệt, chính sách đầu t- thúc đẩy xã hội hóa dạy nghề đ-ợc khuyến khích nh- sau:
- Đ-ợc -u tiên tham gia các ch-ơng trình tín dụng -u đãi của nhà n-ớc để phát triển hoạt động, nhất là các ngành nghề kỹ thuật cao, ngành nghề trọng điểm của thành phố
và dạy nghề khu vực ngoại thành, vùng xa của thành phố
- Cơ sở dạy nghề ngoài công lập mới thành lập đ-ợc miễn, giảm thuế thu nhập
Trang 31doanh nghiệp kể từ khi có thu nhập chịu thuế
- Cơ sở dạy nghề công lập, bán công đ-ợc chủ động khai thác, mở rộng khả năng
đào tạo ngoài chỉ tiêu đ-ợc giao Phần thu nhập do mở rộng đào tạo không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, đ-ợc dùng để tu bổ, phát triển cơ sở vật chất, khen th-ởng cán bộ, giáo viên, học viên đạt thành tích tiêu biểu của cơ sở
- Các tr-ờng dạy nghề có vốn đầu t- n-ớc ngoài, tr-ờng dạy nghề, tr-ờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có dạy nghề của các cơ quan Trung ương đóng trên
địa bàn thành phố xem xét hỗ trợ về đất đai, cơ sở hạ tầng phát triển dạy nghề
1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Hiện nay thành phố Hà nội cú hơn 3 triệu dõn, trong đú lực lượng lao động chiếm khoảng 50% Mỗi năm thành phố cú thờm gần 100.000 người cần được bố trớ việc làm, chưa kể tới số lượng lao động nhập cư ngày càng gia tăng (năm 2005 cú 200.000 người) Lực lượng lao đụng chưa qua đào tạo cũn cao, tỷ lệ thất nghiệp chiếm 6,5 % (trong khi cả nước là 5,3%) Để giải quyết những vấn đề đặt ra, thành phố Hà Nội đó thực hiện cỏc giải phỏp sau:
Thứ nhất, tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu dịch vụ- cụng nghiệp- nụng
nghiệp của Hà Nội đạt tỷ lệ 52%- 33%- 15%, quy hoạch lại hệ thống dịch vụ việc làm theo hướng gọn nhẹ, nõng cao chất lượng, đảm bảo hiệu quả với khoảng 80- 100 đơn vị
cú chức năng (so với gần 700 đơn vị hiện nay)
Thứ hai, công tác xuất khẩu lao động, thành phố chủ tr-ơng đa dạng hóa các hình
thức xuất khẩu lao động nh- liên doanh, nhận đấu thầu công trình, h-ớng tới những thị tr-ờng truyền thống phù hợp với đặc điểm lao động Hà Nội nh- Nhật Bản, Hàn Quốc Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện có khoảng 70 doanh nghiệp của Trung -ơng và
địa ph-ơng chuyên xuất khẩu lao động Trong những năm qua lao động Hà Nội còn rất
ít tham gia vào thị tr-ờng này
Thứ ba, lập quỹ đào tạo nghề để hỗ trợ cho lao động vùng chuyển mục đích
sử dụng đất và triển khai việc chuyển hình thức đền bù việc tái đào tạo nghề bằng tiền cho lao động vùng mất đất sang dạng cấp thẻ học nghề cho những lao động trong độ tuổi, để đảm bảo việc hỗ trợ đ-ợc sử dụng đúng mục đích
Trang 32Điều tiết cung lao động với việc di chuyển các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao
động ra ngoại thành và các tỉnh, xây dựng quy chế đối với lao động ngoại tỉnh vào làm việc tại Hà Nội thông qua các hình thức thẻ lao động Bên cạnh đó, để phát triển
đội ngũ lao động có tay nghề, thành phố Hà Nội sẽ phát triển mạnh hệ thống các tr-ờng cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề theo h-ớng đồng bộ, chú trọng các ngành công nghệ hiện đại đang thiếu Đẩy nhanh tiến độ xây dựng v-ờn -ơm công nghệ, khu công nghệ cao Hà Nội, tiếp tục thực hiện -u đãi nhân tài, phát triển hệ thống thông tin thị tr-ờng lao động…Hiện nay thành phố đang đẩy mạnh triển khai các dự
án: Tr-ờng đào tạo công nhân kỹ thuật cao tại huyện Từ Liêm, Tr-ờng công nhân Việt Hàn tại Đông Anh; dành quỹ đất trong các khu đô thị mới, khu công nghiệp để giãn các tr-ờng nghề quá nhỏ ở nội thành; có các chính sách -u tiên đào tạo nghề cho các vùng nông thôn, các khu vực đô thị hóa nhanh; xây dựng thêm các trung tâm dạy nghề ở các quận, huyện còn thiếu Việc dạy nghề sẽ tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ xuất khẩu lao động, b-ớc đầu phát triển mô hình “dạy nghề di động” Các cơ
sở dạy nghề chủ động đến với ng-ời học, nhất là thanh niên nông thôn, vùng xa, nhằm hạn chế dòng ng-ời đổ về thành phố xin việc làm, và giúp thanh niên nghèo có cơ hội học nghề và tìm việc làm tại chỗ
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với thành phố Đà Nẵng về phỏt triển thị trường sức lao động
Thứ nhất, cần phải hoàn thiện đồng bộ thể chế và chớnh sỏch thị trường sức lao
động Bổ sung, điều chỉnh kịp thời Bộ luật lao động để đỏp ứng nhu cầu phỏt triển kinh tế
- xó hội và quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, nhà n-ớc và các cấp chính quyền địa ph-ơng phải nắm chắc số l-ợng
và chất l-ợng của lực l-ợng lao động, đồng thời cùng với các cơ quan chức năng tăng c-ờng liên hệ và liên kết để hỗ trợ ng-ời lao động và mở rộng thị tr-ờng
Thứ ba, nâng cao chất l-ợng ng-ời lao động thông qua cho vay vốn -u đãi học
nghề, đào tạo chuyên môn cho ng-ời lao động, cần tạo điều kiện cho bản thân ng-ời lao động v-ơn lên đáp ứng nhu cầu công việc Mặt khác, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hóa dạy nghề, cơ sở dạy nghề phải chủ động đến với ng-ời lao động Có chính
Trang 33sách quy hoạch cụ thể đảm bảo cân đối giữa vùng nông thôn và thành thị về phát triển kinh tế, theo đó là tạo việc làm, giải quyết lao động địa ph-ơng
Thứ tư, xõy dựng mạng lưới thụng tin cú sự đúng gúp hỗ trợ từ nhiều phớa để thỳc
đẩy phỏt triển thị trường hàng húa sức lao động Giải quyết thỏa đỏng cỏc quan hệ lao động thụng qua kết hợp hài hoà giữa nhà nước với người lao động, người sử dụng lao động và cỏc tổ chức bảo vệ người lao động, nhất là sự chờch lệch về thu nhập, tiền cụng của người lao động và của cỏc chuyờn gia
Củng cố và hoàn thiện hệ thống trung tõm giới thiệu theo hướng hiện đại, chuyờn nghiệp Khuyến khớch doanh nghiệp mở rộng trung tõm giới thiệu việc làm Cần phải đầu
tư phỏt triển hệ thống thụng tin thị trường sức lao động như xõy dựng và thiết lập hệ thống thụng tin thị trường lao động từ thành phố thụng suốt đến cơ sở Là đầu mối kết nối thụng tin thị trường lao động vựng qua trung tõm giới thiệu việc làm đặt tại Đà Nẵng với
hệ thống thụng tin thị trường lao động Quốc gia Đẩy mạnh cỏc hoạt động chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NHỮNG NĂM QUA
2.1 ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH, ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên
Đà Nẵng ở vị trí trung độ của cả nước, trải dài từ 150 55' đến 160 14' Bắc và từ
107018' đến 108020' Đông Thành phố có diện tích 1.256,53 km2 trong đó các quận nội thành chiếm 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm 1.042,48km2 Phía bắc giáp với Tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp với tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp với biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764 km về phía Bắc, cách thành phố
Hồ Chí Minh 964km về phía nam và cách cố đo Huế 108 km về hướng Tây Bắc
Dân số ở Thành phố Đà Nẵng tính đến năm 2008 là 822,3 nghìn người (chiếm khoảng 0,94 % dân số của cả nước), trong đó trên 80% dân số sống ở thành thị Dân số
nữ chiếm tỷ lệ 51,42%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,72% Mật độ dân số trung bình 643 người/ km Nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi, là đầu nối giao thông quan trọng nối liền bắc – nam
Đà Nẵng có 6 quận nội thành, 01 huyện ngoại thành và 01 huyện đảo, có bờ biển dài 92 km, có cảng biển và là cửa ngõ ra biển Đông, là đầu mối trong hệ thống đường xuyên Á trong hành lang Đông- Tây; Có tiềm năng du lịch phong phú gồm du lịch tự nhiên và nhân văn Đà Nẵng có nhiều danh lam, thắng cảnh ngoạn mục như Đèo Hải vân, bán đảo Sơn Trà, Bà Nà núi chúa…, gắn kết Đà Nẵng với đô thị cổ Hội An, cố Đô Huế
và các tỉnh Duyên Hải miền Trung; Có sân bay quốc tế, tất cả đã tạo cho Đà Nẵng có vị thế đặc biệt của vùng kinh tế trọng điểm khu vực miền Trung và đóng vai trò chiếm lược quan trọng về an ninh quốc phòng trong cả nước
Đà Nẵng có đầy đủ các loại hình giao thông thuận tiện phục vụ đắc lực cho việc
đi lại của người dân và chuyên chở hàng hóa; là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan Myanma đến các nước ở
Trang 35vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng Tiên
sa Với vị trí này, Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh
tế với các tỉnh trong vùng, cả nước và nước ngoài Mặt khác, Đà Nẵng cũng là nơi thu hút đáng kể các lực lượng lao động từ các nơi khác đổ về, đặc biệt là dòng di dân từ các tỉnh phía Bắc Đây cũng chính là cơ hội tốt về nguồn cung sức lao động, vừa là thách thức đặt
ra với việc quản lý và nâng cao số lượng cũng như chất lượng lao động trong hiện tại và tương lai
Đà Nẵng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động; là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam Nhưng nhìn chung là khắc nghiệt, có hai mùa rõ rệt Mùa hè thì hạn hán, mùa mưa thì lũ lụt ngập úng
Từ đó làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, dẫn đến lực lượng lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm dần số lượng, thu nhập của người dân thấp và bấp bênh Bên cạnh đó làm cho chất lượng lao động trong nông nghiệp thấp hơn so với lao động trong các lĩnh vực khác, tốc độ tiến triển chậm, điều kiện đầu tư cho người lao động trong nông nghiệp cũng gặp nhều khó khăn
Địa bàn Đà Nẵng phần lớn là đồi núi nên dân cư, lao động phần lớn tập trung ở đồng bằng ven biển để sinh sống Điều này dẫn đến mất cân đối về phân bổ dân cư và mức sống giữa đồng bằng và miền núi Từ đó dẫn đến việc quản lý dân cư, lao động gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó, tập quán sinh hoạt lại khác nhau; Cơ cấu lao động mất cân đối
cả về mặt phân bổ theo vùng, phân bổ theo trình độ văn hóa và phân bổ theo trình độ chuyên môn nghề nghiệp
Từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương (1997), được công nhận là đô thị loại I cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trong điểm của cả nước Thực hiện nghị quyết 33- NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, Đà Nẵng biết khai thác những tiềm năng và lợi thế, xác định cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp- Dịch vụ- Nông lâm thuỷ sản, có nhiều chính sách thích hợp kêu gọi đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, quy hoạch chỉnh trang đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng khu dân cư và đô thị mới, xây dựng các khu công nghiệp và khu chế xuất để thu hút và phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm cho
Trang 36người lao động, đời sống cho người dân ngày càng được nâng cao Giải quyết các vấn đề
xã hội ngày càng có hiệu quả, đặc biệt là chương trình “ thành phố 5 không” (không có
hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng, không có giết người cướp của), chương trình “ thành phố
3 có” (có việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị)
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở thành phố khá cao, năm
2005 tổng sản phẩm xã hội của thành phố gấp 4,63 lần so với năm 1985 Giai đoạn từ năm 1996- 2000 là 10,57% (trong khi đó cả nước tăng 7 %), giai đoạn từ năm 2001- 2005
là 13% (trong khi đó cả nước tăng 7,5%) Riêng năm 2008, GDP đạt 10,05 % (kế hoạch đặt ra là 13 %), không đạt kế hoạch vì ảnh hưởng lạm phát toàn cầu Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tác động đến phát triển lực lượng lao động của Đà Nẵng Đến năm 2010 phấn đấu đạt 13,5 %, GDP bình quân đầu người đạt 2000 USD; Cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp- Dịch vụ- Nông nghiệp
Thành phố có 822,3 nghìn người với mức sống khá cao, thu nhập dân cư ở thành phố được xếp vị trí thứ 6 về thu nhập dân cư trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương và Đồng Nai) Đà Nẵng có một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Giao thông rất thuận lợi đưa hàng hóa dễ dàng đến với các khu vực Miền Trung và Tây nguyên, một thị trường đầy sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Tuyến hành lang kinh tế Đông Tây làm cho thị trường tiếp tục được mở rộng đến Myanma, Thái Lan, Lào, mở ra cơ hội lớn cho các nhà đầu tư
Với 5 khu công nghiệp đã hoàn thiện về kết cấu hạ tầng, Đà Nẵng có những chính sách rất ưu đãi thoả mãn mọi yêu cầu khắc khe nhất của các nhà đầu tư So với các khu công nghiệp lân cận, các khu công nghiệp của Đà Nẵng được đánh giá cao về vị trí thuận tiện, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, giá đất và giá các loại dịch vụ khá cạnh tranh Đà Nẵng được đánh giá là địa phương có chính sách thu hút đầu tư rất thông thoáng, thủ tục hành chính nhanh gọn Nhà đầu tư được miễn mọi chi phí có liên quan đến công tác giải quyết các thủ tục đầu tư ngoài việc nộp lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
Trang 37luật Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận ưu đãi được thực hiện theo cơ chế một cửa tại sở kế hoạch đầu tư
Tỷ lệ nguồn nhân lực qua đào tạo ở thành phố đạt 37,3 %, trong đó qua đào tạo nghề đạt 25,7 % (năm 2005) Đà Nẵng có tiềm năng phát triển nhanh chóng và toàn diện
về kinh tế, an ninh quốc phòng Với 6 trường đại học, 13 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, hệ thống trường dạy nghề cũng như các cơ sở đào tạo ngoạ ngữ, tin học; hàng năm thành phố đào tạo được hàng chục nghìn lao động trẻ có kiến thức tốt, có tác phong công nghiệp, năng động, nhiệt tình, ham học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao
Đà Nẵng có 15 ngân hàng và công ty cho thuê tài chính đang hoạt động, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu về vốn ngắn hạn và trung hạn cho các doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn dài hạn với lãi xuất thấp từ quỹ hỗ trợ phát triển Thanh toán trong nước và quốc tế nhanh chóng, thuận tiện, phương thức thanh toán đa dạng cộng với nhiều dịch vụ tiện ích giúp doanh nghiệp tránh được nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh
Nhìn một cách tổng quát có thể nói rằng: Đà Nẵng là một thành phố năng động, đang có bước phát triển nhanh chóng trên mọi lĩnh vực, là trung tâm của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Chính vì vậy trong những năm qua Đà Nẵng luôn thu hút một lực lượng lao động lớn từ các địa phương đến làm việc và sinh sống; và là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài
2.2 THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
2.2.1 Thực trạng
2.2.1.1 Thực trạng về cung sức lao động
* Quy mô và cơ cấu lao động
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, số luợng và chất lựợng nguồn cung về thị trường sức lao động ở Đà Nẵng có những chuyển biến tích cực, do có sự cải cách và đầu tư trong công tác giáo dục và dạy nghề Về số lượng, Đà Nẵng có một nguồn nhân lực khá dồi dào Năm 1997 dân số trung bình là 672.468 người, năm 2005 dân số tăng lên 779.019 người, đến năm 2007 dân số tăng lên là 807 390 người, trong đó nữ chiếm 51,42
Trang 38% Như vậy trong vòng 11 năm từ năm 1997- 2007 dân số Đà Nẵng tăng thêm gần 135.000 người, tương đương với dân số của một quận Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2007 là 1,94 %, riêng giai đoạn 2001- 2005 là 2,12%, cao hơn tốc độ tăng dân số của cả nước (1,33%) Tốc độ tăng dân số thành thị cao hơn nông thôn Chính tốc
độ tăng dân số nhanh qua các năm dẫn đến lực lượng lao động tăng cao (xem biểu 2.1)
Lực lượng lao động đa số còn trẻ, dồi dào năm 1997 có 299.574 người chếm 44,5% dân số, đến năm 2007 có 395.940 người, chiếm 49,0% dân số, trong đó nữ chiếm 49,18% Như vậy, trong vòng 11 năm từ năm 1997- 2007, lực lượng lao động tăng trên
96 ngàn người, bình quân tăng 2,8% (trong khi đó cả nước tăng 2,5%), so với mức tăng bình quân dân số 2,12% thì lực lượng lao động của Đà Nẵng tăng như vậy là cao
Biểu 2.1: Dân số trung bình của Đà Nẵng giai đoạn 1997- 2007
Nguồn : Niên giám thống kê Đà Nẵng năm 1997- 2007
Biểu 2.2: Lực lượng lao động của Đà Nẵng phân theo giới tính
và khu vực giai đoạn 2001-2007
Trang 39cơ cấu ngành nghề của thành phố
Cũng từ biểu 2.2 cho thấy, sự biến động của sức cung ở khu vực nông thôn như sau: giữa năm 2004 và năm 2005 tỷ lệ này giảm từ 22,2% xuống còn 12,3% với con số tuyệt đối là 34.965 người Năm 2005 và năm 2006 hầu như tỷ lệ này không thay đổi nghĩa là nó không tăng Đặc biệt, năm 2007 tỷ lệ này tăng lên là 13,3%, nguyên nhân là
do lao động đến 15 tuổi tăng
Đáng chú ý là trong các chỉ số về nguồn lao động, lực lượng lao động và lao động trong độ tuổi và lao động đang làm việc trong nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng của lao động nữ luôn cao Số lượng nữ trong lực lượng lao động tăng từ 48,4% năm 1997 lên 49,19% năm 2007; Trong đó lao động có việc làm tăng 48,5% năm 1997 lên 49,46% năm
Trang 402007 Điều này cho thấy các ngành công nghiệp chế biến, may mặc, gia công lắp ráp phát triển, đã thu hút một lượng lớn lao động nữ
Biểu 2.3: Lực lượng lao động phân theo độ tuổi
5,70 22,53 27,51 27,88 30,96 31,38 23,05 18,85 7,32 6,00
4,31 23,60 26,27 24,88 29,32 29,38 23,61 18,27 7,07 8,07
8,25 39,17 46,59 46,82 52,80 51,95 41,88 32,45 12,14 10,93
4,51 19,22 23,52 24,33 27,08 27,15 20,90 16,57 6,16 4,64
3,74 19,96 23,07 22,49 25,72 24,81 20,98 15,88 5,98 6,29
1,76 6,96 7,19 5,94 7,47 8,80 4,79 4,66 2,25 3,14
1,20 3,31 3,99 3,55 3,87 4,23 2,16 2,28 1,16 1,36
0,57 3,64 3,20 2,39 3,60 4,57 2,63 2,39 1,09 1,78
Nguồn: Sở LĐTBXH Đà Nẵng năm 2007
Theo báo cáo kết quả ĐTLĐVL năm 2007 của Đà Nẵng cho thấy cung thực tế sức lao động phân theo độ tuổi có xu hướng như sau: nhóm dưới 35 tuổi chiếm 41,08% lực lượng lao động, trong đó lực lượng lao động trẻ dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ không lớn ở nông thôn, rõ ràng khu vực thành thị đã thu hút họ đến tìm kiếm việc làm và thu nhập; Nhóm tuổi từ 35- 45 chiếm số lượng rất cao trong tổng số cung kể cả thành thị, nông thôn; cả nam và nữ Điều này cho thấy trong vòng 5- 10 năm nữa lao động trên 50 tuổi sẽ