1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN NGÀNH KINH tế THỦY sản và VAI TRÒ của nó đối với xây DỰNG THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG ở TỈNH KHÁNH hòa HIỆN NAY

109 547 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 648,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với Khánh Hoà, là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí chiến lược tổng hợp cả về kinh tế và QP AN, có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển KTTS. Những năm qua, ngành kinh tế này ở Khánh Hoà tuy đã có sự phát triển đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn chưa thật sự ngang tầm, các nguồn lực KTTS chưa được khai thác một cách khoa học và có hiệu quả. Đóng góp của KTTS đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và củng cố QP AN trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng của nó và chưa thật sự gắn bó một cách chặt chẽ giữa phát triển KTTS với củng cố an ninh quốc phòng trên biển. Những hạn chế đó có nhiều nguyên nhân trong đó có cả sự bất cập về lý luận và các giải pháp phù hợp với sự vận động mới của tình hình kinh tế xã hội, QP AN.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài 3260 km và cácvùng biển, thềm lục địa rộng gấp hơn ba lần diện tích đất liền Biển nước tachứa đựng nhiều tài nguyên phong phú, với hơn 2000 sinh vật biển sinh sống,cho trữ lượng khai thác hàng năm gần 1,7 triệu tấn hải sản [28, tr.37]; cộngvới các điều kiện thuỷ văn và hệ thống sông ngòi, ao hồ, kênh rạch, đầm phárất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, tạo nênnhững thế mạnh tiềm tàng cho phép thuỷ sản trở thành một trong nhữngngành kinh tế mũi nhọn Nhận thức rõ vị trí, vai trò, tiềm năng và thế mạnhcủa KTTS nước nhà, những năm qua Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển KTTS cả bề rộng lẫn chiều sâu.Chỉ thị 20-CT/TƯ (ngày 22/9/1997) của Bộ Chính trị đã chủ trương đưa

“thuỷ sản dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế biển của nước ta”.

Với Khánh Hoà, là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có vị trí chiếnlược tổng hợp cả về kinh tế và QP - AN, có điều kiện tự nhiên hết sức thuậnlợi cho phát triển KTTS Những năm qua, ngành kinh tế này ở Khánh Hoà tuy

đã có sự phát triển đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn chưa thật sự ngang tầm,các nguồn lực KTTS chưa được khai thác một cách khoa học và có hiệu quả.Đóng góp của KTTS đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố

QP - AN trên địa bàn tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng của nó và chưa thật

sự gắn bó một cách chặt chẽ giữa phát triển KTTS với củng cố an ninh quốcphòng trên biển Những hạn chế đó có nhiều nguyên nhân trong đó có cả sựbất cập về lý luận và các giải pháp phù hợp với sự vận động mới của tình hìnhkinh tế - xã hội, QP - AN Những năm gần đây tuy có nhiều đề tài nghiên cứu,song việc khảo sát cụ thể, cũng như hướng nghiên cứu cụ thể về kết hợp giữa

Trang 2

phát triển KTTS với củng cố QP - AN trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà vẫn chưađược đề cập một cách thoả đáng Tình hình mới về kinh tế - xã hội, QP - ANđang đặt ra những đòi hỏi khách quan cần phải nghiên cứu một cách cơ bảnhơn nhằm vừa thúc đẩy phát triển KTTS, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò củangành kinh tế này đối với việc củng cố QP - AN, đặc biệt là trên hướng biển

Xuất phát từ tình hình trên, tác giả lựa chọn chủ đề : “Phát triển ngành kinh tế thuỷ sản và vai trò của nó đối với xây dựng thế trận quốc phòng ở tỉnh Khánh Hoà hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học kinh tế.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:

"Phát triển kinh tế biển với xây dựng QP - AN trong giai đoạn hiện nay

ở tỉnh Khánh Hoà", Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Phan Thanh Hải

"Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp CBTS xuấtkhẩu của tỉnh Khánh Hoà", Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn ThịKim Anh

"Kết hợp kinh tế - xã hội với QP - AN ở các tỉnh ven biển", của TrầnVăn Giới , đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 1/2002

"Khánh Hoà đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nềnquốc phòng toàn dân vững mạnh", của Nguyễn Văn Tự, đăng trên Tạp chíQuốc phòng toàn dân số 5/2002

"Ngành thuỷ sản kết hợp với QP - AN trong xây dựng và bảo vệ Tổquốc trên hướng biển", của Nguyễn Thị Hồng Minh, đăng trên Tạp chí Quốcphòng toàn dân, số 10/2002

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiêncứu một cách toàn diện về sự phát triển của ngành KTTS và vai trò của nó đốivới việc xây dựng TTQP trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Trang 3

KTTS ở Khánh Hoà bao gồm cả kinh tế Trung ương và kinh tế địaphương Tuy ở góc độ nào đó, luận văn khảo sát, phân tích cả những đơn vịKTTS có liên quan thuộc sở hữu Nhà nước đứng chân trên địa bàn tỉnh, songphạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung làm rõ ngành kinh tế nàycủa tỉnh.

* Mục đích:

Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận chung về ngànhKTTS, những yếu tố chi phối và thực trạng phát triển KTTS ở tỉnh KhánhHoà, tác giả đi vào luận giải vai trò của ngành kinh tế này đối với xây dựngTTQP ở địa bàn tỉnh Đồng thời, luận văn cũng nêu và phân tích các phươnghướng và giải pháp chủ yếu nhằm vừa đẩy mạnh phát triển ngành KTTS, vừaphát huy vai trò của nó trong xây dựng TTQP trên địa bàn tỉnh

* Nhiệm vụ:

Thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Luận giải một số vấn đề lý luận chung về ngành KTTS và các yếu tố

cơ bản chi phối đến quá trình phát triển ngành kinh tế này ở Khánh Hoà hiệnnay

- Luận giải về vai trò của ngành KTTS đối với xây dựng TTQP ở địabàn tỉnh Khánh Hoà

- Đánh giá thực trạng và chỉ rõ phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằmđẩy mạnh phát triển KTTS và phát huy vai trò của nó trong xây dựng TTQP ởKhánh Hoà hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng; các quanđiểm cơ bản của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà về phát

Trang 4

triển KTTS và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới Đồng thời kếthừa những kết quả của những công trình khoa học có liên quan đã được côngbố.

- Phương pháp luận nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời dựa trên cácphương pháp nghiên cứu trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lô gíc và lịch sử,cùng các phương pháp khác của bộ môn kinh tế chính trị và kinh tế quân sựMác - Lênin

5 Ý nghĩa của luận văn

Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn vềKTTS và phát triển ngành KTTS gắn với củng cố QP - AN, xây dựngTTQP trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà nói riêng và ở các tỉnh có thế mạnh vềKTTS nói chung

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể vận dụng ở các mức độ khác nhau

để đẩy mạnh phát triển KTTS gắn với xây dựng TTQP ở Khánh Hoà và dùnglàm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy bộ môn kinh tế quân sự ởcác nhà trường quân đội

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụlục, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Trang 5

Chương 1 PHÁT TRIỂN NGÀNH KINH TẾ THUỶ SẢN - VẤN ĐỀ CÓ Ý NGHĨA

CHIẾN LƯỢC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XÂY DỰNG THẾ

TRẬN QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HOÀ

1.1 Ngành kinh tế thuỷ sản và những yếu tố cơ bản chi phối quá trình phát triển ngành kinh tế này ở Khánh Hoà hiện nay

1.1.1 Quan niệm về ngành kinh tế thuỷ sản

Thuỷ sản là một trong những lĩnh vực kinh tế gắn bó sớm nhất đối với conngười và xã hội loài người Ngay từ thời cổ đại, cùng với việc săn bắt hái lượmcon người đã biết khai thác các nguồn lợi thuỷ sinh để nuôi sống bản thân mình

và trên cơ sở đó góp phần sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người Đến xã hội hiệnđại, thuỷ sản càng là lĩnh vực giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xãhội Đặc biệt là khi sự thiếu hụt các nguồn đạm động vật trên cạn ngày càngtăng, việc khai thác các loại thuỷ sinh nhằm bổ sung cho sự thiếu hụt ấy càngđược chú trọng thì vị trí, vai trò của ngành KTTS càng trở nên đặc biệt quantrọng Trong "Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Đại Nghĩa (Hà Đông)",

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực phẩm bổ sung cho thịt, cải thiện đời sống nhân dân" [26, tr.407] Do có tầm

quan trọng như vậy, việc nhận thức và tìm ra các giải pháp khoa học nhằm đẩymạnh sự phát triển ngành kinh tế này có ý nghĩa hết sức quan trọng

Từ lâu, các nhà hoạt động thực tiễn và khoa học đã rất quan tâm nghiên

Trang 6

cứu và có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuỷ sản với tính cách là một lĩnh

vực hay một ngành kinh tế Nếu xem xét dưới góc độ phân chia nền kinh tế thành các ngành hay các lĩnh vực lớn gắn liền với đại phân công lao động

xã hội, người ta quan niệm KTTS là một bộ phận của ngành nông nghiệp hay

lĩnh vực nông nghiệp theo nghĩa rộng Theo đó, nông nghiệp bao hàm cảtrồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản Với cách quan niệm đó, ý thức

và các chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế mũi nhọn nàythường gặp phải những bất cập Trong đó, thiếu tập trung về vốn và cácnguồn lực khác là một thí dụ thường thấy Do vậy, thuỷ sản phải được quanniệm đầy đủ như một ngành kinh tế có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trongnền kinh tế

Đứng ở góc độ khác, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn lại

gộp KTTS vào lĩnh vực kinh tế biển Họ quan niệm thuỷ sản, dầu khí, vận tảibiển và du lịch biển hợp thành kinh tế biển Quan niệm ấy thường thấy ởnhững quốc gia có thế mạnh về biển Nếu phân tích một cách cụ thể, giữakinh tế biển và KTTS tuy có sự giao thoa lẫn nhau, nhưng giữa chúng không

có sự đồng nhất hoàn toàn và không trùng khít lên nhau Trong kinh tế biển

có một bộ phận thuộc KTTS, và ngược lại trong KTTS cũng chỉ có một bộphận thuộc kinh tế biển mà thôi Điều này ta có thể thấy ngay ở khâu nuôitrồng và đánh bắt thuỷ, hải sản Cùng là nuôi trồng, nhưng chỉ có bộ phậnnuôi trồng gắn với môi trường biển mới thuộc phạm trù kinh tế biển và đượcgọi là nuôi trồng hải sản Hay cũng là đánh bắt, nhưng chỉ có bộ phận đánhbắt ở môi trường biển mới thuộc kinh tế biển và được gọi là đánh bắt hải sản.Bởi vậy, có thể nói quan niệm thuỷ sản là một bộ phận của kinh tế biển tuyđúng nhưng chưa đủ Và điều này cũng sẽ dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề bấtcập khi bản thân KTTS lớn mạnh lên, giữ vai trò ngày càng quan trọng hơntrong nền kinh tế

Trang 7

Với cách nhìn phổ quát nhất, Đại từ điển tiếng Việt đã đưa ra hai định nghĩa về KTTS Ở định nghĩa thứ nhất, KTTS được quan niệm "là toàn bộ

hoạt động kinh tế liên quan đến khai thác, nuôi trồng, chế biến, quản lý, phân phối và buôn bán thuỷ sản" [51, tr.949] Qua định nghĩa này cho thấy:

- KTTS được coi là một lĩnh vực hoạt động kinh tế của xã hội Hoạtđộng đó bao hàm từ sản xuất đến quản lý và lưu thông phân phối Trong đósản xuất bao gồm cả khai thác, nuôi trồng và chế biến; lưu thông phân phốibao gồm cả phân phối và buôn bán thuỷ sản Điều này cho thấy, các nhànghiên cứu đã dựa trên cơ sở quá trình tái sản xuất để định nghĩa KTTS Tuynhiên, ở đây khâu tiêu dùng vẫn chưa được nhắc đến Trong khi đó, tiêu dùngtạo động lực thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng có mối quan hệ rất chặt chẽ với cáckhâu khác của quá trình tái sản xuất trong KTTS

- Bản thân KTTS vốn có quan hệ hết sức chặt chẽ với các ngành kinh tếkhác mà trước hết là ngành dịch vụ hậu cần nghề cá Trong "Bài nói chuyện

với nhân dân đảo Cô Tô (Hải Ninh)", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "cần đẩy mạnh nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng và bảo vệ các thứ hải sâm, trân châu Để làm tốt những nghề đó, thì cần phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến lưới thuyền Muốn có lưới tốt thì phải có tơ, muốn có tơ thì phải chú ý trồng dâu nuôi tằm" [25, tr.354] Qua đó, Bác đã chỉ rõ sự tác động, ảnh hưởng của

các ngành, các lĩnh vực khác đối với sự phát triển của ngành KTTS Ngànhkinh tế này chỉ có thể phát triển trong mối quan hệ đó KTTS cũng gắn bó rấtchặt chẽ với sự tiến bộ của KHCN Mỗi bước tiến của khoa học sinh học vàhoá học lại mở đường cho KTTS vươn mạnh vào cải tạo giới tự nhiên đểkhông những khai thác mà còn bảo tồn và phát triển các nguồn lợi thuỷ sinhphục vụ nhu cầu thực phẩm của con người Song với cách định nghĩa như trênthì chưa lột tả được mối quan hệ giữa KTTS với các ngành và các lĩnh vựckhác trong quá trình phát triển

Trang 8

- Và một điểm có thể coi là bất cập nữa trong cách định nghĩa này làchưa phản ánh được tính chất xã hội của KTTS trong điều kiện nền kinh tếnhiều thành phần Cụ thể hơn là chưa phản ánh được các chủ thể sở hữu, chủthể kinh doanh của KTTS và vai trò của nó trong điều kiện hiện nay ở nướcta.

Định nghĩa thứ hai, KTTS được quan niệm "là một bộ môn khoa học

nghiên cứu, dự đoán và truyền tin tổng hợp những hiện tượng kinh tế phát sinh trong ngành KTTS" [51, tr.949] Với cách nhìn này thì KTTS lại là một

khoa học kinh tế Bộ môn khoa học này tiến hành các hoạt động nghiên cứunhằm phục vụ cho quá trình vận động và phát triển của KTTS Mặc dù có liênquan, song phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn chưa đi sâu vào lĩnh vựcnày

Đứng ở góc độ kinh tế ngành, các giáo khoa KTTS ở nước ta từ trước

tới nay đều thống nhất chung một khái niệm : ngành KTTS là ngành sản xuất vật chất mà việc sản xuất kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở khai thác

có hiệu quả các nguồn lợi thuỷ sinh, tiềm năng các nguồn nước để biến chúng thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người và xã hội

[7, tr.12] Với cách quan niệm này cho thấy:

- Ngành KTTS là một ngành sản xuất vật chất Giống như các ngànhsản xuất vật chất khác, quá trình sản xuất ra của cải vật chất ở ngành này cũngluôn diễn ra sự tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản là sức lao động, tư liệulao động và đối tượng lao động Tuy nhiên, nếu phân tích một cách cụ thể,ngành KTTS có tính đặc thù riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác.Tính đặc thù đó được quy định trước hết bởi tính đặc thù của đối tượng laođộng ở ngành này Đối tượng lao động của ngành KTTS đó là các loại động,thực vật thuỷ sinh, các vùng nước bao gồm cả nước mặn, nước lợ và nướcngọt Chính đối tượng lao động này quy định rất rõ việc sản xuất kinh doanh

Trang 9

ở đây phụ thuộc, gắn bó rất chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên Nếu điều kiện tựnhiên không thuận lợi sẽ đem đến những rủi ro, những hậu quả khó lường chongành KTTS Khái niệm nêu trên chưa phản ánh được tính đặc thù đó.

- Trong điều kiện hiện nay, sự tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinhdoanh ở ngành KTTS phụ thuộc trước hết vào việc nuôi trồng và phát triểncác nguồn lợi thuỷ sinh Nói cách khác, sự khai thác hiểu theo nghĩa thôngthường đã phải nhường chỗ cho việc tái tạo, phát triển và nuôi trồng các loạithuỷ sinh Trong bài nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư

nghiệp năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngoài việc đánh cá, phải chú ý nuôi cá” [23, tr.153] Và khi đến thăm cán bộ và nhân dân tỉnh Nam Định, Bác đã chỉ rõ: “Việc nuôi cá cũng phải chú ý phát triển”; đồng thời,

Bác đã biểu dương, khen ngợi các đơn vị có kinh nghiệm tốt trong nuôi thả

cá: “Các hợp tác xã Thượng Lỗi, Đại Đồng có kinh nghiệm tốt trong nuôi cá

ở ruộng, hồ, ao Nên phổ biến cho các nơi khác cùng làm” [27, tr.89] Đó vừa

là sự biểu dương hợp tác xã Thượng Lỗi, vừa là lời nhắc nhở các địa phươngtrong tỉnh cần phải nhanh chóng học tập kinh nghiệm để đẩy mạnh nghề nuôithả cá Thực tế cho thấy, hiện nay ở tất cả các quốc gia trên thế giới đều chútrọng sử dụng các thành tựu của công nghệ sinh học vào việc bảo tồn, lai tạo

và nhân giống các loại thuỷ sinh vật Theo đó, đã làm thay đổi về bản chấttrong cách thức phát triển của ngành kinh tế này, làm cho vị trí vai trò của nóđối với đời sống con người và đối với nền kinh tế ngày càng tăng lên

- Để khai thác có hiệu quả các nguồn lợi thuỷ sinh, tiềm năng các vùngnước, biến chúng thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của conngười, trong quá trình sản xuất kinh doanh ở ngành KTTS không chỉ diễn ra

sự tác động của con người vào tự nhiên, mà còn diễn ra sự tác động qua lạigiữa con người với con người Đó là mặt xã hội của quá trình sản xuất kinhdoanh ở ngành KTTS Mặt xã hội đó thể hiện rõ mối quan hệ giữa người với

Trang 10

người trong quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối Trong mỗi chế độkinh tế xã hội, các mối quan hệ ấy có sự khác nhau về chất Trong điều kiệnphát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước

ta chủ trương huy động mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế để đẩynhanh tốc độ phát triển kinh tế Trong ngành KTTS cũng diễn ra đúng với chủtrương đó Theo đó, tính chất đa loại hình sở hữu và đa dạng hoá các quan hệphân phối cũng được diễn ra trong lĩnh vực KTTS Trong đó, kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo, chiếm giữ những lĩnh vực chủ chốt trong ngànhkinh tế này; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể đã và sẽ từng bước giữvai trò nền tảng đích thực trong phát triển KTTS; kinh tế tư nhân, tư bản cũngđược khuyến khích phát triển đúng định hướng Như vậy, để đẩy nhanh tốc độphát triển của ngành KTTS, ngoài việc phát triển lực lượng sản xuất, ứngdụng các thành tựu KHCN, còn phải coi trọng củng cố và phát triển quan hệsản xuất mới Bên cạnh nguồn vốn đầu tư của nhà nước còn phải coi trọng thuhút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác Các thành phần xã hội đềubình đẳng trước pháp luật trong quá trình phát triển KTTS Tuy vậy, cáchquan niệm ở khái niệm này, về căn bản mới chỉ đề cập đến mặt hoạt độngkinh tế, lực lượng sản xuất, còn mặt xã hội của sản xuất kinh doanh chưađược đề cập một cách thoả đáng

Với cách đặt vấn đề như trên, chúng ta có thể đưa ra một cách quan niệm về ngành KTTS như sau: KTTS là một ngành sản xuất kinh doanh tổng hợp mang tính đặc thù, có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, có quan hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác và sự tiến bộ KHCN,

mà trước hết là hoá học và sinh học KTTS bao gồm cả mặt kỹ thuật và mặt

xã hội trong các hoạt động gắn liền với bảo tồn, tái tạo, phát triển, khai thác các nguồn lợi thuỷ sinh cùng tiềm năng các nguồn nước theo mục tiêu và định hướng của nền kinh tế.

Trang 11

Với Khánh Hoà, khái niệm KTTS cũng không nằm ngoài những vấn đềchung đó, song ở phạm vi tỉnh, ngành kinh tế này được thể hiện chủ yếu ở cáclĩnh vực: KTHS, NTTS, CBTS, một số hoạt động KHCN và dịch vụ hậu cần nghềcá.

Như vậy, ngành KTTS bao hàm những nội dung khá rộng, có vị tríquan trọng và có quan hệ chặt chẽ với các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác,thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển Đồng thời, với nội hàm đó cho ta thấy rõhơn về những đòi hỏi mới trong quá trình vận động phát triển của ngành này

Và theo đó, cần có những cách thức và giải pháp mới, thích hợp hơn nhằmthúc đẩy sự phát triển hơn nữa của ngành kinh tế quan trọng này trong điềukiện hiện nay

1.1.2 Những yếu tố cơ bản chi phối đến quá trình phát triển ngành kinh tế thuỷ sản ở Khánh Hoà hiện nay

* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thuỷ sinh

Khánh Hoà là tỉnh ven biển có nhiều tiềm năng lợi thế trong phát triểnKTTS Toàn tỉnh có 5 trong tổng số 8 huyện, thị xã, thành phố nằm ở venbiển, đảo Đó là: huyện Vạn Ninh, huyện Ninh Hoà, huyện đảo Trường Sa,thị xã Cam Ranh và thành phố Nha Trang Các đơn vị này có tổng số 40 xã,phường ven biển với 791.328 người, chiếm 82,89% dân số toàn tỉnh [5, tr.1].Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.197 km2, bao gồm cả đất liền, đảo và quầnđảo Vùng biển Khánh Hoà có diện tích rộng gấp nhiều lần đất liền, bao gồmvùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh

tế Đây không chỉ là nơi khá thuận lợi cho các loại thuỷ hải sản sinh sống vàphát triển mà còn có một hệ sinh thái các khu rừng ngập mặn vốn được xácđịnh là khu sinh thái tiêu biểu của quốc gia Bờ biển Khánh Hoà kéo dài từmũi Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài 520 km với nhiều vị tríthuận lợi cho việc xây dựng các cảng [36, tr.7] Dọc ven biển có rất nhiều bãi

Trang 12

và cồn cát Những bãi cát này có độ phì kém, nghèo mùn, ít có giá trị đối vớisản xuất nông nghiệp Nhưng, nếu được cải tạo thì những bãi cát này có thểphục vụ tốt cho NTTS và phát triển du lịch Với 2000 ha thuộc vùng đất mặn

và phèn mặn ở ven biển Ninh Hoà, 2400 ha ven biển Cam Ranh và 700 ha ởven biển Vạn Ninh có thể cải tạo nhanh chóng phục vụ NTTS

Trên địa bàn tỉnh có nhiều đầm, vũng, vịnh như đầm Nha Phu, vũngThuỷ Triều, vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh và nhiều bán đảo lớnnhỏ Các đầm, vịnh của Khánh Hoà có điều kiện tự nhiên, khí hậu và điềukiện lý, hoá của nước biển thích hợp để phát triển mạnh nuôi trồng hải sản.Phần lãnh hải có hệ thống đảo ven bờ Huyện đảo Trường Sa cách bán đảoCam Ranh 250 hải lý có hàng trăm đảo nổi, đảo chìm, là tiền tiêu của Tổquốc, có vị trí chiến lược tổng hợp cả về kinh tế lẫn QP - AN Nơi đây cónhiều hải sản quý hiếm được xác định trong chiến lược khai thác xa bờ của cảnước cũng như của tỉnh Khánh Hoà

Khánh Hoà là tỉnh có nhiều sông ngòi Dọc bờ biển, trung bình cứ từ 5đến 7 km có một cửa sông suối đổ ra biển Nhìn chung, sông ngòi ở KhánhHoà tương đối nhiều, nhưng đều ngắn và dốc, độ dốc dòng chảy và độ dốc lưuvực đều lớn, mức độ tập trung lũ cao, khả năng thoát nước chậm, dễ gây lũlớn, đột ngột Toàn tỉnh có khoảng trên 40 con sông, trong đó có hai con sôngchính là sông Cái Nha Trang (sông Cù) dài 75 km và sông Cái Ninh Hoà(sông Dinh) dài 49 km Đây là hai con sông có tiềm năng lớn về NTTS, thuỷlợi và thuỷ điện Mặc dù mật độ sông suối khá dày, song phân bố không đều,

ở hai vùng cực Bắc và Nam của tỉnh ít sông ngòi nên khan hiếm nước mặt

Hồ ở Khánh Hoà khá nhiều, nhưng phần lớn là hồ nhỏ Hồ lớn nhất cũng chỉ

có diện tích trên dưới 10 km2 Nguồn gốc các hồ đều do sông ngòi và hồ thuỷlợi tạo nên

Lượng dòng chảy trong tỉnh khoảng 850 - 900 mm, biến đổi từ 400 mm

Trang 13

ở vùng Hòn Khói, Cam Ranh lên 1600 mm ở vùng núi cao Tây Bắc và TâyNam Tổng lượng dòng chảy khoảng 4,4 km3, gồm 4,1 km3 được tạo ra domưa trong nội tỉnh và 0,3 km3 từ ngoài vào Do thiếu công trình thuỷ lợi nênphần lớn nước trong mùa mưa chảy ra biển, dẫn đến tình trạng thiếu nướctrong mùa khô thường xuyên xảy ra Đây là vấn đề bất cập không chỉ đối vớiđời sống sinh hoạt của cư dân mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc NTTS trênđịa bàn tỉnh

Về nước ngầm, nhìn chung lượng nước ngầm trong tỉnh không nhiều vàluôn thay đổi theo mùa trong năm Về mùa mưa, lượng nước ngầm phong phúhơn mùa khô, nhưng mùa mưa ngắn mà mùa khô lại rất dài Vì vậy, về mùakhô mực nước ngầm rất thấp Theo tài liệu điều tra của Liên đoàn địa chấtthuỷ văn III, nguồn nước ngầm Khánh Hoà không lớn, có thể khai thác phục

vụ sinh hoạt và cung cấp cho một số cơ sở công nghiệp nói chung, chế biếnthuỷ hải sản nói riêng Nước ngầm ở Khánh Hoà phân bố không đều và chấtlượng nước ngầm là vấn đề đáng quan tâm đối với người sử dụng Vùng venbiển phần lớn bị nhiễm phèn, nhiễm mặn; trong nội địa, một số địa phươngnhư Ninh Hoà, Vạn Ninh nước bị nhiễm flour và nhiễm bẩn do các hoạt độngsản xuất, sinh hoạt gây nên

Yếu tố thời tiết khí hậu và khí tượng thuỷ văn cũng chi phối rất lớn đếnphát triển KTTS trên địa bàn tỉnh Nằm trong khu vực Duyên hải miền Trung,Khánh Hoà chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo, ôn hoà,quanh năm nắng ấm với nhiệt độ bình quân trong năm khoảng 25-260C.Khánh Hoà là tỉnh có nhiều nắng, tổng số giờ nắng trong năm lên tới 2400-

2500 giờ Ở khía cạnh nào đó, đây là điều kiện thuận lợi cho các hoạt độngnuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ, hải sản Tuy nhiên cũng cần phải thấy

sự khắc nghiệt của thời tiết đã gây ảnh hưởng không tốt cho phát triển NTTStrên địa bàn tỉnh Hàng năm, lượng mưa ít lại phân bố không đều theo các

Trang 14

tháng Vào 4 tháng mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) lượng mưa chiếm tới75%, thường gây ra ngập úng ở nhiều vùng Trong khi đó 8 tháng mùa khô(từ tháng 1 đến tháng 8) lượng mưa chỉ còn lại 25%, thường gây ra khô hạn

và cạn kiệt nguồn nước ở các ao hồ, sông suối Các nghịch lý ấy đã tạo ra chongành NTTS biết bao khó khăn, nhiều khi gây thiệt hại khá nghiêm trọng, cảkhi ngập úng cũng như khi khô hạn

Bình quân mỗi năm Khánh Hoà có khoảng 0,6 cơn bão với tốc độ gió

từ cấp 10 trở xuống, đôi khi mạnh tới cấp 11, cấp 12 và trên cấp 12 Bão và ápthấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn là nguyên nhân của những trận lũ lớn Bãogây ra sóng lớn làm chìm tàu thuyền và gây thiệt hại không nhỏ đối với ngưdân NTTS trên biển

Biển Khánh Hoà chịu ảnh hưởng của hai dòng hải lưu chính Dòng hảilưu nóng chảy từ xích đạo lên, thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 2 năm sau.Dòng hải lưu lạnh chảy từ Đài Loan xuống, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 3.Hai dòng hải lưu này chảy gần bờ, chảy ngược chiều nhau và đều do gió mùatạo nên Dòng hải lưu nóng đưa nhiều sinh vật phù du đến, nhiệt độ lại thíchhợp, nên tập trung nhiều đàn cá tạo thành ngư trường lớn, năng suất đánh bắtcao Dòng hải lưu lạnh lại đẩy cá ra xa bờ, làm ảnh hưởng đến năng suất vàsản lượng đánh bắt Tuy nhiên thời gian ảnh hưởng của dòng hải lưu nàytrong năm không dài Hoạt động thuỷ triều tạo nên hiện tượng nước trồi lưuđộng, thuận lợi cho nghề đánh bắt cá

Về tài nguyên thuỷ sinh, nói đến tài nguyên thuỷ sinh vật ở Khánh Hoàchủ yếu là nói đến nguồn lợi hải sản, vì vùng đồng bằng hẹp, độ dốc lớn, sôngsuối ngắn, nên nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt không đáng kể Vùng biểnKhánh Hoà có tỉ lệ các chất vi lượng trong nước biển khá cao, cùng với nhómthực vật phù du rất đa dạng, phong phú, tạo ra nguồn thức ăn quan trọng chocác loại hải sản Nhờ đó, vùng biển Khánh Hoà trở thành một trong những

Trang 15

vùng biển có tài nguyên phong phú ở nước ta Nơi đây có khá nhiều loại hảisản quý hiếm khu trú và sinh sôi Theo số liệu nghiên cứu của Viện nghiêncứu biển, Khánh Hoà có tổng trữ lượng hải sản khoảng 92.000-110.000 tấn,trong đó vùng biển ven bờ và đầm vịnh có trữ lượng khoảng 10.000-15.000tấn, vùng biển lộng có trữ lượng từ 50.000 tấn đến 60.000 tấn Trong đó, quantrọng nhất là các loại cá nổi và cá di cư có giá trị kinh tế lớn Cá nổi chiếm tới70% tổng trữ lượng Ngoài cá, vùng biển Khánh Hoà còn có các nguồn lợikhác như: tôm, cua, ghẹ, ruốc, mực, sứa, rong biển Đây là nguồn tài nguyên

tự nhiên rất quý và cũng là ưu thế riêng chi phối quá trình phát triển ngànhKTTS ở Khánh Hoà

Do đặc điểm tự nhiên thuận lợi, ở Khánh Hoà có khá nhiều khả năngphát triển nuôi trồng các loại cá đặc sản, có giá trị xuất khẩu cao Trong đó cá

mú, cá song, cá ngựa và một số loại cá cảnh có rất nhiều ưu thế Nếu đượcđầu tư phát triển đúng mức, chắc chắn sẽ mang lại nguồn lợi kinh tế khá lớncho bà con cũng như nguồn thu ngân sách của tỉnh

Các đầm, vịnh ở Khánh Hoà được bao bọc bởi hệ thống đảo gần bờ,khá kín gió và có độ mặn ổn định nên có thể phát triển mạnh nghề nuôi tôm,

cá trong lồng, bè Trong đó, nuôi tôm hùm, cá mú trong lồng, bè tỏ ra thíchhợp và mang lại giá trị kinh tế cao nhất Tôm he, tôm bạc, vẹm xanh, ốchương cũng có thể phát triển nuôi trồng trên diện rộng và giá trị kinh tế của

nó cũng không kém Nếu được đầu tư và có kế hoạch phát triển phù hợp, đây

sẽ là những thế mạnh của ngành KTTS Khánh Hoà

Theo số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu biển cho thấy, ở KhánhHoà có tới 7 trong tổng số 20 loài mực có giá trị kinh tế cao ở nước ta Đánhbắt mực là một nghề truyền thống của ngư dân Khánh Hoà, nếu đầu tư đúngmức, hàng năm có thể khai thác khoảng 250 tấn

Rong biển cũng là một nguồn lợi thuỷ sinh tự nhiên khá quan trọng ở

Trang 16

vùng biển Khánh Hoà Tại đây có khá nhiều loại rong, trong đó rong mơ làloại có khá nhiều ưu thế cả về trữ lượng và giá trị kinh tế Tuy nhiên cho đếnnay, việc khai thác loại rong này vẫn còn diễn ra mang tính chất tư nhân, tựphát là chủ yếu Bởi vậy, tỉnh rất cần phải có quy hoạch, kế hoạch khai thác,bảo vệ, tiến tới phát triển thành nghề nuôi rong hàng hoá, góp phần giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập cho nhân dân vùng biển.

Ngoài ra, ở Khánh Hoà còn có các loại hải sản quý hiếm khác Trong

đó hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò, vẹm xanh, ốc hương, là những loại có giátrị kinh tế khá cao Tuy nhiên, cho đến nay phần lớn chúng chưa được khaithác một cách có kế hoạch, chủ yếu vẫn là khai thác tự do Tình hình đókhông những không tận dụng được ưu thế đặc thù của vùng biển mà còn cónguy cơ xâm hại nhiều loại hải sản quý hiếm

Như vậy, có thể nói điều kiện tự nhiên cùng với những nguồn lợi thuỷ sinh của vùng biển Khánh Hoà là những nhân tố hết sức thuận lợi cho việc đẩy mạnh phát triển KTTS trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, để biến tiềm năng, thế

mạnh đó thành hiện thực đòi hỏi tỉnh phải quan tâm giải quyết hàng loạt cácvấn đề khác như: kết cấu hạ tầng kỹ thuật liên quan đến bảo đảm hậu cần vàdịch vụ nghề cá; phát huy những kinh nghiệm truyền thống của nhân dân địaphương trong lĩnh vực thuỷ sản, đặc biệt là các làng nghề truyền thống; nhanhchóng chuyển giao những quy trình kỹ thuật, công nghệ hiện đại có liên quanđến lĩnh vực thuỷ sản từ các trung tâm nghiên cứu khoa học đứng chân trênđịa bàn để ứng dụng vào sản xuất

* Kết cấu hạ tầng kỹ thuật liên quan đến bảo đảm hậu cần và dịch

vụ nghề cá

Cùng với các điều kiện tự nhiên, các yếu tố hạ tầng kỹ thuật cũng tácđộng, chi phối mạnh đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội nói chung, pháttriển ngành thuỷ sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà có vị trí địa lý hết

Trang 17

sức thuận lợi để phát triển đầy đủ các loại hình giao thông vận tải, bao gồm cảđường bộ, đường biển, đường sắt và đường hàng không Ngoài tuyến đườngsắt Bắc-Nam và quốc lộ 1A chạy qua, trên địa bàn tỉnh còn có sân bay NhaTrang, sân bay Cam Ranh và có các cảng biển nằm rất gần đường hàng hảiquốc tế Hệ thống cảng biển, cảng cá ở Khánh Hoà có luồng lạch rộng, độ sâulớn lại khá kín gió, tạo nhiều tiện lợi cho tàu thuyền ra vào, neo đậu và tránhgiông bão Trên địa bàn tỉnh có 5 cảng biển (Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi,Hòn Khói, Văn Phong) và hàng chục cảng cá cùng các bến bãi khác Các cảngnày không chỉ là cửa ngõ để mở rộng giao lưu, hợp tác với bên ngoài mà còntạo nhiều thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá.Những lợi thế về giao thông vận tải với đầy đủ các loại hình như vậy giúp choKhánh Hoà có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu với các tỉnh trongnước và quốc tế, hình thành các trung tâm trung chuyển hàng hoá và dịch vụcho các tỉnh lân cận Và theo đó, ngành KTTS của tỉnh cũng có điều kiện đểphát triển theo hướng sản xuất hàng hoá với trình độ ngày càng cao

Điện là một yếu tố quan trọng để đẩy mạnh tốc độ phát triển sản xuất,thực hiện CNH, HĐH các ngành kinh tế, trong đó có KTTS Trong nhữngnăm qua, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự chủ động tích cực củađịa phương, hệ thống điện đã vươn tới khắp các xã trong toàn tỉnh Có điện,

bà con ngư dân có điều kiện để đẩy mạnh nuôi trồng và CBTS Các trại tômgiống và trang trại tôm thịt được nuôi trồng bằng phương pháp công nghiệptheo đó cũng phát triển mạnh mẽ Các cơ sở sản xuất thức ăn phục vụ NTTS,

cơ sở sản xuất ngư cụ và các cơ sở chế biến từng bước được phát triển, đápứng nhu cầu nuôi trồng, đánh bắt và CBTS của các địa phương trong tỉnh

Nói đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên địa bàn tỉnh Khánh Hoàcòn phải kể đến các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sửa chữa và đóng mới tàuthuyền Ngoài nhà máy tàu biển Hyundai -Vinashin tại Ninh Hoà có thể đóng

Trang 18

mới và sửa chữa các tàu có trọng tải 400.000 tấn, với công nghệ tiên tiến, ởKhánh Hoà còn có 24 xưởng đóng và sửa chữa tàu thuyền Trong đó có 22xưởng có thể đóng mới các tàu vỏ gỗ trang bị động cơ 350 mã lực và 2 xưởng

có thể đóng tàu vỏ composite trang bị động cơ 250 mã lực Điều đó cho thấy,năng lực sửa chữa và đóng mới tàu thuyền phục vụ cho việc đánh bắt thuỷ sản

và vận tải biển của Khánh Hoà là khá lớn

Đó là những yếu tố thuộc về kết cấu hạ tầng, đáp ứng các dịch vụ và hậucần nghề cá, có tác động rất lớn đối với quá trình phát triển ngành KTTS ởKhánh Hoà hiện nay

*Những trung tâm khoa học kỹ thuật và đào tạo trên địa bàn tỉnh có liên quan đến lĩnh vực KTTS

Hiện nay, tỉnh Khánh Hoà có hơn 20 cơ quan khoa học kỹ thuật và đàotạo của Trung ương đóng trên địa bàn, trong đó có những cơ quan khoa họclớn liên quan trực tiếp đến phát triển ngành KTTS như: Viện Hải dương học;Trường Đại học Thuỷ sản; Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III; Đài Khí tượngthuỷ văn khu vực Nam Trung Bộ; Phân viện quy hoạch và Thiết kế nôngnghiệp miền Trung; Học viện Hải quân Các cơ quan khoa học của Trungương có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động KHCN ở địa phương, trong đó

có khoa học thuỷ sản

Viện Hải dương học được thành lập từ năm 1922, qua nhiều giai đoạnđổi mới, tổ chức và sắp xếp lại đến nay đã trở thành một trung tâm khoa họclớn Sau hơn 80 năm xây dựng và phát triển, Viện Hải dương học đã có nhiềuđóng góp cho cho công cuộc chinh phục, khai thác và bảo vệ các nguồn lợivùng biển của đất nước Đồng thời, thực hiện nhiều đề tài phục vụ trực tiếpcho phát triển ngành KTTS và bảo vệ môi trường biển của Khánh Hoà Đếnnay, Viện đã có hơn 1.100 công trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về điều kiện

tự nhiên, tài nguyên và nguồn lợi biển; các công trình nghiên cứu về công

Trang 19

nghệ trên lĩnh vực sinh vật và môi trường biển Ngoài ra, Viện còn làm côngtác đào tạo cán bộ có trình độ sau đại học chuyên ngành Hải dương học; thamgia giáo dục cộng đồng, nâng cao ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học và môitrường biển; triển khai các chương trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu biểnvới nhiều nước trên thế giới.

Trường Đại học Thuỷ sản là nơi đào tạo nguồn nhân lực có chất lượngcao cho ngành KTTS cả nước với 20 chuyên ngành đào tạo ở 4 bậc học (sauđại học, đại học, cao đẳng và trung cấp - công nhân kỹ thuật) Số con em củatỉnh Khánh Hoà theo học các ngành nghề đào tạo của Trường ngày càngđông Nếu như năm 1998 chỉ có khoảng trên dưới 800 sinh viên, thì hiện nay,trong số gần 15 nghìn sinh viên các bậc học tại Trường Đại học Thuỷ sản cótới gần 5 nghìn sinh viên là con em nhân dân Khánh Hoà, chiếm tỉ trọng 33%.Ngoài nhiệm vụ đào tạo, trường đã thành lập và phát triển các trung tâmnghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.Năm 1990, Trung tâm nghiên cứu tàu cá và thiết bị của Trường đã chế tạothành công tàu đánh cá từ vật liệu composite, từ đó mở ra hướng mới trongcông nghệ đóng tàu Đến nay Trung tâm nghiên cứu NTTS cũng đã triển khainghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều đề tài về cá nước ngọt, sản xuấttôm giống, phòng và trị bệnh cho tôm cá Trong những năm gần đây, Trungtâm nghiên cứu CBTS thuộc trường Đại học Thuỷ sản đã nghiên cứu thànhcông nhiều mặt hàng thuỷ sản Điển hình là nước mắm viên, agar, các loại đồhộp, surimi, hải sâm khô

Trong 32 năm, trường đã thực hiện 400 công trình khoa học, trong đó có

16 đề tài cấp nhà nước và gần 100 đề tài cấp bộ, tạo điều kiện cho ngànhKTTS cả nước nói chung, Khánh Hoà nói riêng phát triển nhanh chóng [48,tr.359]

Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III của Bộ Thuỷ sản được thành lập năm

Trang 20

1984, với chức năng nhiệm vụ là nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụngcông nghệ sản xuất giống và nuôi trồng các loại thuỷ sản có giá trị kinh tếcao; nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật khai thác, chế biến và bảo vệ nguồn lợithuỷ sản ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Đây là một trong những đơn

vị đi đầu trong nghiên cứu sản xuất nhiều giống hải sản có giá trị kinh tế cao.Những năm qua, Trung tâm đã sản xuất thành công nhiều loại giống hải sảnquý hiếm như: ốc hương, cua biển, ghẹ xanh, vẹm xanh, bào ngư Hiện tạiTrung tâm đang tiến hành nghiên cứu sản xuất các loại giống hải sâm, mựcnang, cầu gai (nhum sọ) Nhiều đề tài khoa học của Trung tâm đã được cácđịa phương trong vùng ứng dụng vào sản xuất có hiệu quả Năm qua, Trungtâm đã cung cấp 10 triệu con ốc hương cho ngư dân các tỉnh Khánh Hoà,Ninh Thuận, Thừa Thiên - Huế Nhờ đó, các địa phương đã thu được một sảnlượng khá lớn ốc hương thương phẩm Cũng trong năm qua, Trung tâm đã sảnxuất trên 20 vạn con cua giống cung cấp cho các ao nuôi ở các tỉnh KhánhHoà, Nghệ An, Hải Phòng [38, tr.3] Nhờ vậy, các địa phương đã tạo đượcnguồn nguyên liệu hải sản để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh

tế cao và phục vụ tiêu dùng nội địa, góp phần giải quyết việc làm cho nhândân, xoá đói giảm nghèo và tạo điều kiện cho nhiều người làm giàu bằng nghềNTTS

Đầu tháng 4 vừa qua, tại Sông Lô, xã Phước Đồng, thành phố NhaTrang, Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản III đã khánh thành Trung tâm Nghiêncứu và phát triển nuôi biển Trung tâm này được xây dựng trên diện tích 3,4

ha, với kinh phí 7 triệu USD (do Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoànlại) Khi đi vào hoạt động, tại đây sẽ tạo điều kiện cho các nhà khoa học trong

và ngoài nước nghiên cứu, sản xuất nhân tạo các loài hải sản có giá trị kinh tếcao, nhằm tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, thúc đẩy mạnh mẽ nuôi trồng và CBTStrong nước cũng như ở Khánh Hoà

Trang 21

Nhờ sự phối hợp và giúp đỡ của ba trung tâm này, Sở Thuỷ sản KhánhHoà đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất tôm sú giống nhân tạo Và

từ đó làm cho Khánh Hoà đã trở thành nơi cho tôm sú đẻ nhân tạo đầu tiên vàcũng là nơi cung cấp tôm sú giống nhiều nhất cho cả nước

Ngoài ra, các đơn vị Hải quân đóng quân trên địa bàn, đặc biệt là Họcviện Hải quân cũng có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngành KTTSKhánh Hoà Tuy không tác động ảnh hưởng trực tiếp như các đơn vị nói trên,song Học viện Hải quân cũng gián tiếp góp phần quan trọng vào sự phát triểncủa ngành KTTS tỉnh Khánh Hoà Ngoài việc tạo ra môi trường hoà bình ổnđịnh cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung, KTTS nói riêng, Học viện còngóp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành KTTS thông quacác hoạt động liên kết đào tạo với Trường Đại học Thuỷ sản, Trường Côngnhân kỹ thuật Với lực lượng giảng viên đông đảo, giàu kinh nghiệm cùngvới hệ thống trang thiết bị kỹ thuật khá hiện đại, Học viện có thể trực tiếp tiếnhành đào tạo nguồn nhân lực cho ngành KTTS trong các lĩnh vực như khaithác hàng hải, máy tàu, cán bộ chỉ huy điều khiển tàu, thông tin liên lạc Tuynhiên, trong thời gian qua, các hoạt động này vẫn chưa được phát huy mạnh

mẽ, chỉ mới dừng lại ở các hoạt động liên kết đào tạo với một số trường

*Kinh nghiệm của nhân dân và các làng nghề thuỷ sản truyền thống ở Khánh Hoà

Ở Khánh Hoà, nhân dân biết nuôi cá nước lợ khá sớm Cách đây trên 100năm, nông, ngư dân đã biết đắp bờ bao trên các bãi triều có sú vẹt, tạo thànhđìa nuôi tôm cá một cách tự nhiên [48, tr.235]

Khánh Hoà cũng được coi là một trong những cái nôi của nhiều ngànhnghề truyền thống trong lĩnh vực thuỷ sản Trên địa bàn tỉnh hiện đang tồn tạihàng chục làng nghề sản xuất kinh doanh thuỷ sản, bao gồm cả đánh bắt, nuôitrồng và CBTS Nghề đánh bắt thuỷ sản, đặc biệt là đăng, khai thác yến sào,

Trang 22

câu cá ngừ, câu mực, bắt tôm hùm, khai thác các nhuyễn thể hai mảnh vỏ đã

có từ rất lâu đời Nghề đăng xuất hiện sớm nhất cùng với các làng vạn chài ởĐại Lãnh, Vạn Giã, Vạn Lương Nghề này chủ yếu đánh bắt các đàn cá di cưnhư cá thu, cá ngừ Nổi tiếng hơn cả có sở đăng Vĩnh Y Hồ Na ở Vạn Ninh

và Hòn Nọc ở Nha Trang Hoạt động sản xuất nghề đăng đòi hỏi phải có sựhợp tác về nhiều mặt như: lao động, vốn, cung ứng vật tư và tiêu thụ sảnphẩm, do vậy phương thức tổ chức khai thác phải thành các tổ, đội Các giađình ngư dân trong các làng nghề truyền thống luôn bám biển để sống, họ rấttinh thông về luồng lạch và đánh bắt theo lối thủ công Tuy nhiên, cho đếnnay ở các làng nghề KTHS của Khánh Hoà chủ yếu vẫn dựa vào các loại tàuthuyền nhỏ, có công suất dưới 30 mã lực Do đó họ chỉ có thể khai thác gần

bờ với năng suất thấp và có nguy cơ làm cho nguồn lợi ven bờ ngày càng cạnkiệt Từ đó đặt ra cho Khánh Hoà phải tiến hành đồng bộ các giải pháp nhằmđẩy mạnh phát triển các đội tàu KTHS xa bờ giống như kinh nghiệm từ một

số nước trong khu vực

Nhân dân Khánh Hoà có nhiều kinh nghiệm và đi đầu trong cả nước về

kỹ thuật nuôi trồng các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, nhất là tôm hùm,

cá mú, tôm sú Một số địa phương ở Khánh Hoà có khá nhiều kinh nghiệmtrong việc cho tôm sú đẻ nhân tạo Nhờ đó Khánh Hoà trở thành nơi cung cấptôm sú giống nhiều nhất cho cả nước Nhân dân Khánh Hoà cũng có rất nhiềukinh nghiệm quý báu trong chế biến và bảo quản thuỷ sản Trong đó phải kểđến các làng nghề làm nước mắm, mắm tôm, sứa muối phèn, tôm khô và cákhô Chính nhờ những kinh nghiệm lâu đời trong CBTS đã góp phần tạo ranhững sản phẩm nổi tiếng của “Xứ Trầm hương” trên thị trường trong vàngoài nước Trong đó phải kể đến mực khô, mực tẩm gia vị và nước mắm.Nghề chế biến nước mắm ở Khánh Hoà đã có cách đây hàng trăm năm Từlâu, nước mắm Cửa Bé (Vĩnh Trường), Chụt (Vĩnh Nguyên) đã nổi tiếng

Trang 23

trong toàn quốc Hiện nay, kinh nghiệm truyền thống cùng với công nghệCBTS hiện đại đang được kết hợp chặt chẽ với nhau tạo ra bước đi lên khávững chắc của ngành KTTS Khánh Hoà.

*Du lịch và việc quảng bá các sản phẩm thuỷ sản thông qua các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà

Du lịch là một hình thức hoạt động kinh tế tổng hợp, đa dạng, phong phúvới sự tham gia của các thành phần kinh tế Phát triển du lịch tạo điều kiệnthuận lợi để thúc đẩy các hoạt động giao lưu, thương mại, góp phần quảng bácác sản phẩm thế mạnh của địa phương, trong đó có sản phẩm thuỷ sản

Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hoá đã đem đến cho KhánhHoà một tiềm năng lớn để phát triển du lịch Loại hình du lịch của Khánh Hoàrất phong phú, đa dạng, bao gồm: du lịch sinh thái biển-đảo, du lịch nghỉdưỡng chữa bệnh, du lịch chơi golf, du lịch săn bắn, du lịch câu cá, du lịchcùng du thuyền, du lịch sưu tầm - nghiên cứu, du lịch kết hợp với hội nghị -hội thảo, du lịch tham quan vãn cảnh trong đó du lịch sinh thái biển - đảo -núi - rừng là thế mạnh nhất Thành phố Nha Trang được xác định là một trongmười trung tâm du lịch lớn trong cả nước Năm 2003, Vịnh Nha Trang đượccông nhận là 1 trong số 29 vịnh đẹp nhất thế giới Với lợi thế của một thànhphố biển, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và có lịch sử văn hoá lâuđời, Nha Trang - Khánh Hoà là một địa danh du lịch không chỉ hấp dẫn dukhách trong nước, mà còn hấp dẫn mạnh mẽ khách du lịch nước ngoài Hàngnăm Khánh Hoà tiếp đón hàng vạn lượt khách trong nước và quốc tế đếntham quan, du lịch, nghỉ dưỡng Đó cũng là cơ hội hết sức thuận lợi để quảng

bá, giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản của Khánh Hoà Nếu tỉnh cóchiến lược kết hợp giữa hướng dẫn tham quan du lịch với quảng bá sản phẩmthuỷ sản, thì tiềm năng về thị trường của ngành KTTS sẽ không ngừng được

mở rộng Đây là điều kiện quan trọng hàng đầu để đẩy mạnh phát triển ngành

Trang 24

KTTS Khánh Hoà theo hướng sản xuất hàng hoá lớn Trong bài phát biểu khi

về dự Lễ hội hoa đăng nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày Truyền thống củangành Thuỷ sản Việt Nam tại Khánh Hoà, đồng chí Tạ Quang Ngọc - Bộtrưởng Bộ Thuỷ sản đã khẳng định: “So với các tỉnh khác trong khu vực NamTrung Bộ, Khánh Hoà là một tỉnh rất thuận lợi, giàu tiềm năng trong việc pháttriển KTTS, nhất là trong lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng Nếu Khánh Hoà kết

hợp tốt phát triển KTTS với “ngành công nghiệp không khói”, trong tương lai

không xa, đây sẽ là động lực rất lớn, tác động đến tăng trưởng kinh tế- xã hộicủa địa phương”[45, tr.2]

Như vậy, bên cạnh một số yếu tố không thuận lợi, Khánh Hoà có khánhiều yếu tố tạo cơ hội cho đẩy mạnh phát triển KTTS Phân tích, làm rõnhững yếu tố này cho ta một cách nhìn mới, phù hợp hơn trong xác định chiếnlược và kế hoạch phát triển ngành KTTS ở Khánh Hoà hiện nay

1.2 Vai trò của ngành kinh tế thuỷ sản trong xây dựng thế trận quốc phòng ở Khánh Hoà hiện nay

Để làm rõ vai trò của ngành KTTS trong xây dựng TTQP, trước hết cần

có sự thống nhất về quan niệm, nội dung và yêu cầu xây dựng TTQP

Trong thuật ngữ quân sự, “thế” được quan niệm là tổng thể các hoàncảnh và điều kiện mà mỗi bên tham chiến dựa vào để phát huy sức mạnhtrong tác chiến “Thế trận” được quan niệm là tổ chức và bố trí lực lượng đểtiến hành chiến tranh và hoạt động tác chiến Thực tiễn quân sự cho thấy,muốn có thế phải có một lực nhất định Có lợi về “thế” thì với một “lực” nhỏcũng có thể phát huy tác dụng lớn, yếu có thể trở thành mạnh, ít có thể địchnhiều Bàn về quan hệ giữa “thế”và “lực” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra thí

dụ hết sức sinh động, với đại ý là: quả cân tuy chỉ có 1 kilôgam nhưng ở vàothế lợi thì lực sẽ tăng lên rất nhiều, có sức mạnh làm bổng được một lực nặnghàng trăm kilôgam

Trang 25

Về quốc phòng, từ trước đến nay có nhiều quan niệm rộng, hẹp khácnhau Trước đây, quốc phòng thường được quan niệm chủ yếu ở lĩnh vực hoạtđộng quân sự để phòng thủ đất nước Ngày nay quan niệm về quốc phòngrộng hơn, không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực hoạt động quân sự mà bao hàm cả hoạtđộng đối ngoại, đối nội và an ninh quốc gia Quốc phòng gắn bó chặt chẽ với

an ninh quốc gia, an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh xã hội, an ninh

văn hoá… Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa: "quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể các hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của Nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối, trong

đó có sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ được hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù dưới mọi hình thức và quy mô Quốc phòng là hoạt động của cả nước, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt Kẻ thù xâm lược từ bên ngoài thường cấu kết với lực lượng phản động bên trong.

Do đó, quốc phòng phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ với an ninh bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ" [22, tr 6] Như vậy, sức mạnh quốc phòng là sức mạnh

toàn dân, toàn diện trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng Mục tiêu xâydựng sức mạnh quốc phòng của ta là nhằm đẩy lùi và ngăn chặn mọi âm mưu,hành động phá hoại, gây chiến của kẻ thù; sẵn sàng đánh bại mọi tình huốngchiến tranh nếu kẻ thù liều lĩnh gây ra; giữ vững hoà bình, bảo vệ vững chắc

sự nghiệp lao động hoà bình của nhân dân Quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếucủa cả nước, trong đó lực lượng vũ trang là nòng cốt Hơn bao giờ hết, hiệnnay quốc phòng phải được kết hợp thật chặt chẽ với an ninh, làm thất bại cả

âm mưu thủ đoạn của kẻ thù bên ngoài và kẻ thù bên trong, ngăn chặn và làmthất bại các hoạt động vũ trang và phi vũ trang của các thế lực thù địch chốngphá cách mạng nước ta

Nước ta là một quốc gia đất không rộng, người không đông, tiềm lực

Trang 26

kinh tế và tiềm lực quân sự có hạn lại thường xuyên phải đương đầu với kẻthù có sức mạnh về mọi mặt hơn ta gấp nhiều lần Từ thực tiễn đó đặt ra vàđòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải thường xuyên quan tâm, củng cố sự nghiệpquốc phòng

Về TTQP, giáo trình giáo dục quốc phòng viết: "TTQP là sự tổ chức, bố trí lực lượng chiến đấu phù hợp với ý định tác chiến bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ nghĩa xã hội trong thời bình và trong chuyển trạng thái thời bình sang thời chiến, ở các cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật"[6, tr.78] Xây dựng TTQP là tổ chức, bố trí lực lượng mọi mặt

của đất nước và của toàn dân trên toàn bộ lãnh thổ đất nước theo ý định củachiến lược bảo vệ Tổ quốc trong các khả năng và tình huống Bảo đảm vữngtrên toàn cục, mạnh ở trọng điểm, đủ sức xử lý thắng lợi các tình huống xảy

ra trong thời bình, đồng thời sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhândân, đánh thắng chiến tranh xâm lược trên các quy mô Với cách quan niệm đó,nội dung xây dựng TTQP tỉnh Khánh Hoà được thể hiện trên những điểm cơ bảnsau:

- TTQP tỉnh được xây dựng gắn liền với quy hoạch tổng thể của quốc giatheo hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế Sự kếthợp ấy được thể hiện cả trong bố trí dân cư, tạo lập cơ cấu kinh tế, phân vùngkinh tế và phân vùng lãnh thổ, bố trí các lực lượng QP - AN, xây dựng cơ sở

hạ tầng kinh tế kỹ thuật và kinh tế - xã hội, xây dựng các công trình phòngthủ Trên cơ sở đó, hình thành các khu vực chiến lược vững về chính trị,giàu về kinh tế, mạnh về QP - AN, đủ sức thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự pháttriển kinh tế- xã hội, bảo vệ vững chắc chính mình và góp phần bảo vệ các địabàn khác cũng như cả nước

- Xây dựng TTQP tỉnh gắn với xây dựng hậu phương chiến lược, vùngchiến lược, từng địa phương

Trang 27

- Xây dựng TTQP tỉnh gắn với xây dựng thế trận phòng thủ trên cáchướng (khu vực) trọng điểm gắn với khu vực phòng thủ địa phương và thế bốtrí của các binh đoàn chủ lực cơ động, các quân chủng, binh chủng.

Vấn đề xuyên suốt trong ba nội dung cơ bản của quá trình xây dựngTTQP tỉnh là cần tập trung xây dựng thế trận lòng dân trên cơ sở xây dựngtiềm lực chính trị tinh thần; xây dựng khu vực phòng thủ liên hoàn vững chắc;

bố trí thế trận của các binh đoàn chủ lực và các quân, binh chủng của quân độinhân dân Việt Nam

Muốn tạo được TTQP trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, nhất thiết phảinắm vững quan điểm của Đảng về xây dựng một nền quốc phòng “vì dân, dodân và của dân”; phát triển theo hướng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tựlực tự cường và ngày càng hiện đại; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉđạo của Nhà nước

Quá trình xây dựng TTQP ở Khánh Hoà phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trước hết là sự phát triển của kinh tế, trong đó KTTS giữ vai trò quan trọng.Điều này xuất phát từ mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng Chủ nghĩaMác - Lênin đã chỉ rõ, kinh tế và quốc phòng là hai lĩnh vực khác nhau, hoạtđộng theo những quy luật riêng, song giữa chúng có quan hệ chặt chẽ vớinhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau Trong đó xét đến cùng, kinh tếgiữ vai trò quyết định Phát triển kinh tế nhằm tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật,của cải cho xã hội, tạo lập ra quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất - cơ sở

hạ tầng của xã hội Chính cơ sở hạ tầng đó là nền tảng, tiền đề của tiềm lực và

sức mạnh quốc phòng Đề cập đến vấn đề này, V.I Lênin đã chỉ rõ: "Chúng

ta chủ trương bảo vệ Tổ quốc nên chúng ta đòi hỏi phải có thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của nước nhà Cuộc chiến tranh này cần được chuẩn bị trước, lâu dài, nghiêm túc bắt đầu từ kinh tế" [20, tr.480]

Trang 28

Là một ngành, một bộ phận trong tổng thể nền kinh tế tỉnh Khánh Hoà,KTTS có vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp QP-AN trên địa bàntỉnh Bởi đây là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động của nókhông chỉ diễn ra trên phạm vi đất liền mà còn trải rộng trên khắp các vùngbiển, ven biển, hải đảo và đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa Quá trìnhphát triển KTTS luôn có quan hệ mật thiết với bảo vệ chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ trên hướng biển do địa phương quản lý Đồng thời có tác động, ảnhhưởng trực tiếp đến việc xây dựng TTQP toàn dân, thế trận an ninh nhân dântrên các vùng biển, ven biển, hải đảo, góp phần tạo ra thế phòng thủ liên hoàn

bờ - biển - đảo vững chắc trên địa bàn tỉnh

Ở góc độ khác, cũng có thể quan niệm một cách tổng quát rằng, tạo lậpTTQP tỉnh Khánh Hoà cũng chính là tạo lập mối quan hệ thật sự khăng khítgiữa kinh tế - xã hội với QP - AN trên địa bàn tỉnh Trong đó kinh tế - xã hộiluôn luôn là nền tảng vững chắc của nền QP - AN QP - AN một mặt do nềntảng kinh tế - xã hội quyết định, mặt khác có vai trò quan trọng trong sự pháttriển nền tảng ấy Vai trò đó được thể hiện cả trong việc bảo vệ vững chắc,giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, đẩymạnh thực hành tiết kiệm cơ sở vật chất kỹ thuật và tài chính do kinh tế cungcấp và trực tiếp góp phần phát triển kinh tế - xã hội Luận giải về vai trò củangành KTTS trong xây dựng TTQP ở Khánh Hoà cũng phải trên cơ sở mốiquan hệ đó

1.2.1 Phát triển kinh tế thuỷ sản góp phần xây dựng hậu phương kinh

tế và quy hoạch dân cư đáp ứng yêu cầu xây dựng thế trận quốc phòng trên địa bàn tỉnh

TTQP vững mạnh đòi hỏi phải có chỗ dựa vững chắc là hậu phương kinh

tế Đề cập đến mối quan hệ giữa kinh tế và bạo lực Ph.Ăng ghen viết: “Không

có gì lại phụ thuộc vào kinh tế hơn là chính quân đội và hạm đội Vũ trang,

Trang 29

biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và vào phương tiện giao thông” [3, tr.235] Và V.I Lênin cũng khẳng định: “Ai cũng biết rằng, trong chiến tranh hiện đại, tổ chức kinh tế có một ý nghĩa quyết định” [19, tr.260].

Từ những tư tưởng đó của các nhà kinh điển, cho phép chúng ta khẳngđịnh về vai trò quyết định của hậu phương kinh tế đối với các hoạt động quân

sự Các nhà nghiên cứu lý luận quân sự cho rằng, với mỗi cấp thế trận cầnphải có một loại hậu phương tương ứng Thế trận chiến lược có hậu phươngchiến lược hay hậu phương quốc gia Thế trận vùng chiến lược có hậu phươngvùng chiến lược Thế trận khu vực phòng thủ, có hậu phương tại chỗ Pháttriển ngành KTTS Khánh Hoà góp phần xây dựng hậu phương chiến lược,hậu phương vùng chiến lược, nhưng đặc biệt và trực tiếp là góp phần xâydựng hậu phương tại chỗ, tạo điều kiện xây dựng TTQP trên địa bàn tỉnh trêntất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

-Về kinh tế, phát triển KTTS góp phần làm tăng thêm tiềm lực kinh tế

nói chung, và khả năng đảm bảo kinh tế cho xây dựng TTQP nói riêng Trongtình hình hiện nay, nhu cầu đảm bảo kinh tế cho xây dựng TTQP ngày cànggia tăng Bao gồm cả nhu cầu tài chính, khoa học, công nghệ, vật tư và cáchoạt động dịch vụ khác Trong đó, kết cấu hạ tầng kinh tế kĩ thuật và kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội giữ vai trò rất quan trọng

KTTS phát triển, giá trị sản xuất và lợi nhuận ngày càng tăng, càng cóđiều kiện làm tăng ngân sách Trung ương và địa phương Theo đó nhu cầubảo đảm tài chính cho quá trình xây dựng TTQP của tỉnh cũng được đáp ứngtốt hơn Trong 5 năm (1996-2000) tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm củaKhánh Hoà đạt trên 8% Từ năm 2001-2003, GDP tăng bình quân trên 11%

Sự tăng trưởng, phát triển đó có sự đóng góp to lớn của ngành KTTS Trongnhững năm qua, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đều chiếm trên

Trang 30

50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Tổng giá trị kim ngạch xuấtkhẩu trên địa bàn tỉnh năm 2001 là 236,855 triệu USD, đến năm 2003 là302,244 triệu USD, trong đó tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2001 là118,791 triệu USD và năm 2003 là 163,462 triệu USD [11, tr.91] KTTS đãgóp phần đáng kể để đưa thu nhập (GDP) bình quân đầu người của tỉnh từ

310 USD giai đoạn 1991-1995 lên 401 USD giai đoạn 1996-2000 và năm

2003 đạt 545 USD, gấp hơn 3,5 lần năm 1990 Nhờ đó, mức huy động GDPvào ngân sách cũng tăng hơn trước Tổng huy động ngân sách nhà nước trênđịa bàn tỉnh giai đoạn 1996-2000 chiếm 18,4%GDP, giai đoạn 2001-2003mức huy động chiếm 20% GDP Tổng thu ngân sách nhà nước năm 1990 là52,05 tỷ đồng, năm 1995 là 651 tỷ đồng (đứng vào Câu lạc bộ 500 tỷ), năm

2000 là 1.072,456 tỷ (đứng vào Câu lạc bộ 1000 tỷ), năm 2003 là 2.300 tỉ(đứng vào Câu lạc bộ 2000 tỉ) Đến nay, sau 15 tái lập tỉnh, số thu ngân sách

đã tăng gấp 40 lần và Khánh Hoà đã tự hào đứng vào hàng ngũ 1 trong 15tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp về Trung ương [4, tr.9]

Cũng nhờ sự phát triển của ngành KTTS, các yêu cầu về hậu cần, đặcbiệt là nhu cầu về nguồn đạm động vật thuỷ sinh của các lực lượng vũ trangđịa phương được đáp ứng tốt hơn Đời sống của lực lượng vũ trang đứng chântrên địa bàn tỉnh được cải thiện hơn Đồng thời, nguồn hậu cần tại chỗ đượctạo ra khá phong phú, vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh vừa đáp ứng nhu cầuquốc phòng và sẵn sàng đáp ứng khi nhu cầu ấy tăng lên đột xuất Cho đếnnay, ngành KTTS Khánh Hoà đã có chân hàng ở hầu hết các địa phương trongtỉnh Sản phẩm thuỷ sản Khánh Hoà đã vươn tới cả những địa bàn vùng sâu,vùng xa thuộc các huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh Và ngay cảhuyện đảo Trường Sa cũng được đáp ứng với một số lượng không nhỏ các sảnphẩm thuỷ sản khô, đóng hộp của Khánh Hoà Không chỉ các loại sản phẩmkhô, đóng hộp mà ngay cả các loại thuỷ sản tươi sống, đông lạnh cũng có khá

Trang 31

nhiều ở các chợ nông thôn, đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

và lực lượng vũ trang trong tỉnh

Các trang bị hậu cần kỹ thuật nghề cá ở Khánh Hoà cũng phát triểnnhanh chóng cùng với sự trưởng thành của ngành KTTS Số lượng cácphương tiện cơ giới KTHS, xe vận tải và các phương tiện kỹ thuật khác đềutăng lên nhanh chóng Năm 1995, tổng số phương tiện cơ giới KTHS của tỉnh

là 4.010 chiếc với tổng công suất là 83.668 mã lực, đến năm 2000 là 4.550chiếc với tổng công suất là 94.500 mã lực và đến năm 2003 đã có 5.419 chiếcvới 120.942 mã lực, trong đó có 195 tàu thuyền có công suất từ 75 mã lực trởlên Những tàu thuyền này cùng với hàng trăm xe vận tải loại lớn của các cơ

sở CBTS và các phương tiện vận tải khác hoàn toàn có thể tham gia vậnchuyển đáp ứng nhu cầu vận tải quân sự, bảo đảm cho hoạt động xây dựngTTQP của tỉnh khi cần thiết

Hệ thống các nhà máy CBTS ở Khánh Hoà cũng tăng lên nhanh chóngcùng với sự lớn mạnh của ngành KTTS Năm 2001, toàn tỉnh có 31 cơ sởCBTS xuất khẩu, trong đó có 16 cơ sở chế biến đông lạnh xuất khẩu với tổngcông suất cấp đông hơn 200 tấn một ngày và hệ thống kho bảo quản là 4000tấn Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 40 nhà máy CBTS xuất khẩu, trong đó có 25nhà đông lạnh với công suất cấp đông là 400 tấn một ngày và hệ thống kholạnh có thể bảo quản tới 10.000 tấn sản phẩm Ngoài các sản phẩm cao cấpphục vụ xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho địa phương, các cơ sở CBTScòn có thể chế biến những sản phẩm thuỷ sản đóng hộp phục vụ nhu cầu dânsinh và quốc phòng Khi các nhu cầu kinh tế quân sự tăng lên, chắc chắn đây

sẽ là nơi đáp ứng tốt và đầy đủ những nhu cầu ấy thông qua việc chuyển đổimục đích sử dụng các sản phẩm từ phục vụ xuất khẩu sang phục vụ các nhucầu của hoạt động quân sự

Tất cả những điều đó đã tạo nên một thế mạnh kinh tế đáp ứng nhu cầu

Trang 32

dân sinh và nhu cầu quốc phòng của tỉnh, góp phần tích cực vào xây dựngTTQP của tỉnh.

- Về chính trị - xã hội

KTTS không chỉ góp phần xây dựng TTQP trên địa bàn tỉnh về mặtkinh tế mà còn tác động tích cực đến mặt chính trị và các mặt văn hoá- xã hội.Qua đó góp phần xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị - xã hội.Như trên đã nói, Khánh Hoà là một tỉnh ven biển, đời sống kinh tế - xãhội phụ thuộc rất chặt chẽ vào phát triển kinh tế biển nói chung, KTTS nóiriêng Những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành kinh tế này, hệ thốngchính trị của tỉnh (bao gồm tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể quầnchúng) đã từng bước được củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò KTTS pháttriển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, lòng tin của nhân dânvào các tổ chức đảng ở địa phương cũng không ngững được tăng lên Theo

đó, ý thức trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ hệ thống chính trị ở địaphương cũng được nâng lên Với những vùng ven biển, hệ thống này gắn liềnchủ yếu với việc lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động đẩy mạnh phát triển KTTS.Khi hệ thống chính trị vững mạnh sẽ là điều kiện, tiền đề để thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội, củng cố QP - AN ở địa phương Đề cập đến mối quan hệnày, V.I Lênin viết với đại ý là, kinh tế quyết định chính trị, song chính trịkhông thể không giữ địa vị hàng đầu trong phát triển kinh tế Ở các vùng venbiển chủ yếu làm nghề thuỷ sản của Khánh Hoà thể hiện rất rõ điều đó Chođến nay, tất cả các địa phương nói chung, địa phương làm nghề thuỷ sản ởKhánh Hoà nói riêng đều có tổ chức Đảng, tổ chức chính quyền các cấp vàcác đoàn thể vững mạnh Năm 2003, toàn tỉnh kết nạp được 793 Đảng viên,nâng số Đảng viên lên 18.296 và 672 trong tổng số 697 thôn, khóm, buôn

có Đảng viên [4, tr.14] Những năm gần đây, cùng với sự phát triển củangành KTTS, địa phương nào cũng được đổi thay từng bước, bộ máy lãnh đạo

Trang 33

địa phương ngày càng trưởng thành về mọi mặt, làm chỗ dựa và là người tổchức thắng lợi mọi hoạt động kinh tế - xã hội, QP - AN ở mỗi địa phương.Theo đó, phong trào bảo vệ an ninh ở địa phương được nâng lên Các tổ chứcdân quân địa phương được kiện toàn, chất lượng hoạt động từng bước đượcnâng lên và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong lực lượng vũ trang bathứ quân, góp phần bảo vệ sự bình yên ở các địa bàn ven biển TTQP toàn dân

và thế trận an ninh nhân dân theo đó cũng được củng cố, tăng cường và đạthiệu quả cao trong hoạt động bảo vệ chính mình và góp phần bảo vệ cả nước

Quá trình phát triển ngành KTTS Khánh Hoà trong những năm qua đãđóng góp tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ văn hoá - xã hội của tỉnh.Cùng với việc góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách, tăng tiềm lực kinh tếđịa phương, phát triển KTTS còn giải quyết được vấn đề việc làm, nâng caothu nhập cho người lao động, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinhthần cho nhân dân Theo đó, góp phần hình thành môi trường chính trị - xãhội thuận lợi để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở choxây dựng TTQP vững mạnh trên địa bàn tỉnh Thực tế cho thấy, ở đâu thunhập của nhân dân ổn định, đời sống được cải thiện từng bước thì ở đó ý thứctrách nhiệm của người dân đối với sự nghiệp QP - AN được nâng lên; việchuy động sức người, sức của cho sự nghiệp củng cố, xây dựng TTQP trên địabàn tỉnh sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại

Sự phát triển của ngành KTTS, nhất là hiệu quả kinh tế của việcNTTS ven biển cùng với chủ trương giao mặt nước vùng ven biển cho nhândân đã góp phần đáng kể vào việc xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Từnăm 1990 đến nay, nghề nuôi tôm hùm lồng bằng giống tự nhiên ở KhánhHoà đã góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân ở các vùng ven biển

Do có đầu ra khá ổn định, mức độ rủi ro ít, hiệu quả kinh tế cao nên phongtrào nuôi tôm hùm lồng đang ngày càng phát triển Đến nay, tổng số lồng nuôi

Trang 34

tôm hùm toàn tỉnh lên đến 16.607 lồng, lợi nhuận từ nghề này mỗi năm lênđến hàng tỷ đồng Chỉ riêng khu vực thị xã Cam Ranh, tính đến đầu năm

2004, toàn thị xã có 7.261 lồng và 126 bè tôm hùm, tập trung ở 7 trong tổng

số 14 xã, phường ven biển với 2.533 hộ nuôi Phong trào nuôi tôm hùm đãgiúp các xã này giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lao động, góp phần nângcao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời giảm đáng kể nghềKTHS bằng chất nổ, bảo vệ được các rạn san hô, môi trường sinh thái venbiển Đến nay, toàn tỉnh không còn hộ đói, số hộ nghèo giảm xuống còn5,21% Mạng lưới phát thanh, truyền hình phát triển khá nhanh, tất cả cáchuyện, thị đều có đài phát thanh, trạm thu phát truyền hình; 100% xã có trạmtruyền thanh; toàn tỉnh đã phủ sóng truyền hình được trên 95% địa bàn dân cư.Điện thoại cố định và di động đạt tỷ lệ gần 12 máy/100 dân, riêng khu vực NhaTrang đạt 22 máy/100 dân [4, tr.12]

Kinh tế phát triển, đời sống của bà con vùng ven biển từng bước được

nâng lên Trên cơ sở đó, góp phần củng cố niềm tin của họ vào sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và bộ máy chính quyền địa phương Đây là yếu tố

quan trọng hàng đầu để củng cố công tác QP - AN nói chung, tạo lập TTQPnói riêng ở các địa phương ven biển Đồng thời là điều kiện, tiền đề để đẩy lùicác nguy cơ “tự diễn biến hoà bình” từ trong nhân dân; chủ động đối phó, làmthất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động “Diễn biến hoà bình” của cácthế lực thù địch ở các vùng ven biển, hải đảo của Khánh Hoà

Lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò quyết định của thế trận lòng dân trong xây dựng và củng cố TTQP toàn dân ở nước ta Thế trận lòng

dân càng vững chắc thì TTQP toàn dân càng được củng cố không ngừng.Thông qua việc nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng cho nhân dân, đẩymạnh phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; xây dựng môitrường văn hoá lành mạnh sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố thế trận

Trang 35

lòng dân Phát triển KTTS giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiệncác quá trình đó, nhất là đối với vùng ven biển và hải đảo.

Phát triển KTTS không chỉ góp phần xây dựng hậu phương về mặt kinh

tế, chính trị, văn hoá - xã hội, tạo dựng thế trận lòng dân, mà còn góp phần điều chỉnh dân cư đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng TTQP Những năm

qua, cùng với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ cấu laođộng, các địa phương ở Khánh Hoà đã huy động được hàng vạn lao động vàdân cư ra các vùng ven biển để khai thác tiềm năng, lợi thế về nuôi trồng hảisản Ở các hải đảo cũng thu hút được hàng vạn lao động cùng với gia đình họyên tâm định cư, gắn bó với nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản Đây là vấn

đề không chỉ có ý nghĩa to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, mà có ý nghĩađặc biệt quan trọng trong điều chỉnh dân cư, xây dựng TTQP toàn dân ở cácvùng ven biển và hải đảo Thông qua việc điều chỉnh lại dân cư, đưa dân cư racác vùng ven biển và hải đảo để phát triển NTTS, Khánh Hoà đã tạo lập đượcmột lực lượng nhân dân đông đảo, lực lượng dân quân tại chỗ Lực lượngnhân dân hùng hậu tại các vùng biển, đảo vừa phát triển sản xuất, vừa là lựclượng cảnh giới góp phần bảo vệ biển, đảo do địa phương quản lý

Việc quy hoạch lại dân cư, đưa dân ra định cư, sinh sống ở các đảo vàquần đảo, vừa giải quyết được vấn đề việc làm, vừa khai thác được tiềm năng,lợi thế so sánh về KTTS, lại vừa tạo ra khả năng bảo đảm hậu cần tại chỗ, gópphần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của quốc gia Riêng về mặt QP -

AN, việc quy hoạch lại dân cư như đã nói trên góp phần tăng cường sự có mặtthường xuyên của các công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namvới tư cách là người chủ của các nguồn tài nguyên trên các vùng biển, đảo.Trên cơ sở đó, vừa khẳng định chủ quyền, vừa bảo vệ các nguồn lợi hải sản,vừa tạo dựng được thế trận “Dĩ dật đãi lao” trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.Đây là một nghệ thuật tạo dựng thế trận được đúc rút từ truyền thống quân sự

Trang 36

của dân tộc Thế trận đó cho phép “lấy cái sung sức của lực lượng tại chỗ màđánh quân địch mệt mỏi từ xa tới”.

1.2.2 Phát triển kinh tế thuỷ sản góp phần tạo thế phòng thủ liên hoàn bờ - biển - đảo, chủ động bảo vệ địa bàn

Hoạt động của ngành thuỷ sản chủ yếu gắn với môi trường sông nước,biển, đảo và ven biển Toàn ngành có hơn 64.000 lao động thường xuyên hoạtđộng trên các địa bàn ven biển, trên biển và hải đảo Đây là một lực lượng kháđông đảo góp phần quan trọng trong việc tạo dựng thế trận liên hoàn bờ - biển

- đảo, chủ động bảo vệ địa bàn tỉnh Tính đến nay, toàn tỉnh có gần 200 tàuđánh bắt xa bờ với lực lượng lao động khoảng 30 nghìn người Đây là lựclượng lao động có sức khỏe tốt, có kinh nghiệm đi biển và luôn nhạy cảmtrước những biến cố trên biển Đồng thời, lực lượng lao động này cũngthường xuyên được quan tâm giáo dục nâng cao ý thức quốc phòng và đượchướng dẫn cách xử lý các tình huống trên biển, tạo nên đội quân vừa đánh bắthải sản, vừa tham gia bảo vệ vùng biển Cùng với các đội tàu đánh bắt xa bờ,

số tàu thuyền nhỏ đánh bắt ven bờ của bà con ngư dân cũng khá nhiều Tínhđến nay, toàn tỉnh có 1220 thuyền loại nhỏ, có công suất từ 75 mã lực trởxuống và khoảng gần 100 thuyền thủ công Tương ứng với số tàu thuyền đó

có khoảng gần 2 vạn lao động thường xuyên bám biển để KTHS ở khu vực

“ven bờ” và khu vực “lộng” (khu vực ven bờ là ngư trường cách bờ từ 5-7 hải

lý, còn khu vực lộng cách bờ khoảng 35 hải lý) Đây là lực lượng đánh bắt hảisản nhưng đồng thời cũng là tai mắt của nhân dân trên biển Trong các cuộckháng chiến chống kẻ thù xâm lược, có rất nhiều ghe, thuyền và lực lượng laođộng trên biển đã tham gia vận tải lương thực, vũ khí đạn dược và thậm chí làtham gia chuyên chở cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang ta đến những nơi cầnthiết, đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhấtđất nước Hoà bình lập lại, họ là những người dân được làm chủ trên vùng

Trang 37

biển của tỉnh, vừa đánh bắt hải sản, vừa bảo vệ chủ quyền vùng biển, kịp thờiphát hiện và tham gia xử lý khi tàu thuyền nước ngoài xâm phạm vùng biểncủa ta cũng như khi có các biến cố khác trên biển.

Bên cạnh lực lượng lao động trên các tàu thuyền KTHS còn phải kểđến lực lượng lao động trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thuỷ, hải sảnven bờ Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng không ngừng về diệntích và sản lượng nuôi trồng hải sản ven biển, lực lượng lao động trong lĩnhvực này cũng tăng lên đáng kể Cho đến nay, toàn tỉnh có trên 15.000 laođộng đang ngày đêm bám các vùng ven bờ để tiến hành các hoạt động nuôitrồng các loại thuỷ, hải sản Lực lượng lao động này không chỉ tích cực laođộng sáng tạo ra của cải mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ trật tựtrị an và tham gia xử lý các tình huống phức tạp ở khu vực ven biển Song, xét

ở góc độ nào đó, việc phân bố với một số đông lao động vào lĩnh vực nàycũng đã và sẽ có ảnh hưởng nhất định đến phân bố nguồn lực lao động ở cáclĩnh vực khác và ảnh hưởng đến thế bố trí chiến lược trên các hướng, các địabàn chiến lược khác của tỉnh Đồng thời, sự hạn chế về nhận thức của không

ít người trong NTTS, cùng với sự hạn chế nhất định trong công tác quản lýlực lượng lao động ở lĩnh vực này đã và sẽ đưa đến những hậu quả không tốttrong phát triển bền vững ngành kinh tế này, gây hậu quả xấu đến môi trườngsinh thái

Địa bàn ven biển của Khánh Hoà có diện tích khá rộng Toàn tỉnh có 40

xã, phường ven biển với 791.328 người, chiếm 82,89% dân số của tỉnh Tạicác xã phường ven biển hiện nay có hơn 40 nhà máy CBTS xuất khẩu, trong

đó có 25 nhà máy đông lạnh Chỉ riêng lực lượng lao động chế biến đông lạnh

đã lên tới 11.500 người Ngoài ra, tại các xã phường này còn có 24 xưởngđóng và sửa chữa tàu thuyền với 720 lao động Lực lượng lao động tại các cơ

sở CBTS cũng như các xưởng đóng và sửa chữa tàu thuyền cũng góp phần

Trang 38

quan trọng vào việc giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địabàn đứng chân Tuy vậy, nếu quản lý không tốt, chính lực lượng lao động tạicác cơ sở này có thể gây ra những tác động ảnh hưởng tiêu cực đến an ninhchính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đứng chân (như các tệ nạn xãhội: cờ bạc, ma tuý, mại dâm…); đồng thời việc huy động lực lượng tham giavào các đội tự vệ hay các đơn vị dự bị động viên sẽ gặp không ít khó khăn.Khánh Hoà là một trong những tỉnh có nhiều đảo Chỉ tính riêng huyệnđảo Trường Sa đã có hàng trăm đảo nổi, đảo chìm, là tiền tiêu của Tổ quốc.Tuy nhiên, hiện nay ngoài các đơn vị quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệchủ quyền biển đảo, tại đây vẫn chưa có dân định cư sinh sống mà chỉ có cácđội tàu đánh bắt xa bờ của địa phương và các tỉnh lân cận ra KTHS Đảng bộ,chính quyền và nhân dân Khánh Hoà đang phấn đấu đến cuối năm 2005 sẽđưa dân ra định cư sinh sống tại quần đảo Trường Sa để vừa khai thác nguồnlợi hải sản tại khu vực này, vừa góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyềnbiển, đảo của Tổ quốc Ngoài ra, vùng biển Khánh Hoà còn có 60 đảo lớn,nhỏ nằm dọc theo tuyến biển Số dân trên các đảo này khá đông Ước tính cókhoảng trên dưới 3 vạn người hiện đang sinh sống tại các làng đảo, xã đảochủ yếu làm nghề thuỷ sản, bao gồm cả đánh bắt, nuôi trồng và CBTS Nhữngnăm gần đây, cùng với sự quan tâm của các cấp uỷ đảng và chính quyền địaphương trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm ) tạicác tuyến đảo, số gia đình định cư trên các đảo ngày càng tăng thêm và sốngười ra đảo NTTS cũng tăng lên Số lao động này cùng với dân cư sống ổnđịnh trên các đảo tạo thành một mạng lưới lao động và dân cư khá đông trêncác vùng đảo của tỉnh Hàng ngày, hàng giờ họ vừa là những người trực tiếptham gia khai thác tiềm năng thế mạnh biển đảo của địa phương, vừa gópphần tạo nên bức ''tường thành" vững chắc nơi cửa ngõ, tiền tiêu của tỉnh Họđang ngày đêm bám đảo để góp phần xây dựng và bảo vệ đảo Xã đảo Ninh

Trang 39

Vân, một xã anh hùng nằm ở cực Đông của huyện Ninh Hoà là một trongnhững điển hình về kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KTTS với củng cố thếtrận QP - AN, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở Khánh Hoà Là chiếnkhu cách mạng năm xưa, người dân trong xã gắn bó với biển đã lâu, nhưng họchỉ biết trồng củ lang, củ mì, mùa mưa đi đào củ mài trên núi Hòn Hèo về ănthay cơm và làm thêm nghề đánh bắt cá ven bờ Đói nghèo cứ đeo bám ngườidân triền miên tưởng chừng như không bao giờ dứt ra được Thế nhưng, từnăm 1998 trở lại đây, nhờ đẩy mạnh nuôi trồng, đánh bắt hải sản và đặc biệt

là phát triển mạnh nghề lặn biển, cuộc sống nơi đây đã đổi thay rất nhiều.Mảnh đất khô cằn nơi chiến khu xưa đã thay da đổi thịt nhờ nghề lặn biển.Nghề lặn để đánh bắt tôm, cá trở thành nghề của hầu hết thanh niên trai trángtrong làng Nhờ nghề này mà tỷ lệ đói nghèo của xã đảo giảm đáng kể Theo

số liệu thống kê mới đây, xã đảo này có 320 hộ dân, hầu như hộ nào cũng cóđiện, nước về tận nhà Toàn xã có 290 hộ có nhà xây kiên cố, 312 hộ được sửdụng điện thắp sáng, 138 hộ có hố xí hợp vệ sinh và trên 100 hộ có điện thoại.Hiện nay toàn xã có khoảng 60 tàu thuyền với công suất 30 mã lực trở lên vàtrên 200 thanh niên trai tráng đang làm nghề lặn biển Đây chính là lực lượngnòng cốt tiếp tục phát huy truyền thống xây dựng và bảo vệ xã đảo anh hùng [37,tr.7]

Như vậy, trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà, thông qua việc đẩy mạnh pháttriển KTTS đã góp phần tạo ra thế liên hoàn bao gồm cả hoạt động sản xuất,dân cư, lao động trên tất cả các tuyến bờ - biển - đảo Đây là vấn đề có ýnghĩa đặc biệt quan trọng cả trong phát triển kinh tế và xây dựng TTQP toàndân trên hướng biển ở Khánh Hoà

Thực tiễn cho thấy, ở đâu có sự tham gia của nhân dân, có sự gắn kếtgiữa hoạt động kinh tế với hoạt động quốc phòng thì công tác bảo vệ chủquyền lãnh thổ của quốc gia sẽ có hiệu quả hơn Trong ngành KTTS cũng

Trang 40

diễn ra đúng như vậy Các cơ sở CBTS, các trang trại NTTS cũng như các độitàu đánh bắt xa bờ, cùng với nhiệm vụ sản xuất còn phải tiến hành triển khaicác hoạt động tự bảo vệ mình và tham gia bảo vệ địa bàn Đơn vị nào cũng cóđội bảo vệ, có lực lượng dân quân tự vệ Ngoài nhiệm vụ bảo vệ các hoạtđộng sản xuất, lực lượng này còn có nhiệm vụ cảnh giới từ xa, ngặn chặn, xuađuổi sự xâm nhập trái phép của tàu thuyền nước ngoài vào ngư trường củatỉnh Đồng thời phối hợp cùng các lực lượng chủ lực đứng chân trên địa bàntỉnh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của quốc gia, bảo vệ an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội trên các vùng biển đảo do địa phương quản lý.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc về vị trí vai tròcủa nhân dân và dân quân miền biển Trong bài nói chuyện tại hội nghị cán bộ

cải cách miền biển, Người chỉ rõ: “Ở miền biển, dân quân là rất cần Thí dụ đồng bằng là nhà mà biển là cửa Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?

Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào cửa trước Vì vậy ta phải giáo dục cho đồng bào biết bảo vệ bờ biển, vì bọn địch thường thả bọn mật thám, gián điệp vào tìm chỗ ẩn núp ở miền biển để phá phách Nếu để nó lọt vào thì người bị thiệt hại trước là đồng bào miền biển Nếu mình không lo bảo vệ miền biển thì đánh cá và làm muối cũng không yên.

Cho nên, một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo

vệ bờ biển Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc” [22, tr.151].

Lời dạy đó của Bác đã chỉ rõ sự cần thiết phải tổ chức lực lượng dânquân rộng khắp ở miền biển, sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất

và bảo vệ sản xuất Đồng thời Bác cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của đồngbào miền biển nói chung và dân quân miền biển nói riêng trong thực hiệnnhiệm vụ bảo vệ bờ biển Khánh Hoà là một trong những tỉnh có bờ biển khádài và diện tích vùng biển khá rộng Bởi thế, hơn nơi nào hết, Khánh Hoàphải quán triệt sâu sắc nhất lời dạy của Bác trong quá trình tổ chức lực lượng

Ngày đăng: 06/11/2016, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Phạm Huy An (2002), "Một số vấn đề về dân quân tự vệ biển hiện nay", Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, (4), tr.28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân quân tự vệ biển hiện nay
Tác giả: Phạm Huy An
Năm: 2002
2. Nguyễn Thị Kim Anh (2002), Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp CBTS xuất khẩu của tỉnh Khánh Hoà, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và giải pháp chủ yếu phát triển công nghiệp CBTS xuất khẩu của tỉnh Khánh Hoà
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2002
3. Ph. Ăngghen (1878), "Chống Đuy Rinh", C. Mác - Ph. Ăngghen Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.15-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy Rinh
Nhà XB: Nxb CTQG
4. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Khánh Hoà (2004), Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh (01/7/1989 - 01/7/2004), Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh (01/7/1989 - 01/7/2004)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Khánh Hoà
Năm: 2004
5. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hoà (2002), Báo cáo thực trạng tình hình tổ chức xây dựng dân quân tự vệ biển tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng tình hình tổ chức xây dựng dân quân tự vệ biển tỉnh Khánh Hoà
Tác giả: Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Khánh Hoà
Năm: 2002
6. Bộ Quốc phòng (1998), Giáo trình giáo dục quốc phòng, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục quốc phòng
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1998
7. Lê Kim Chung (2002), CNH, HĐH ngành thuỷ sản ở Duyên hải Nam Trung Bộ, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNH, HĐH ngành thuỷ sản ở Duyên hải Nam Trung Bộ
Tác giả: Lê Kim Chung
Năm: 2002
9. Đỗ Xuân Công (2002), "Tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc ", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (6), tr.20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc
Tác giả: Đỗ Xuân Công
Năm: 2002
11. Cục Thống kê Khánh Hoà (2004), Niên giám thống kê tóm tắt Khánh Hoà 2003, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tóm tắt Khánh Hoà 2003
Tác giả: Cục Thống kê Khánh Hoà
Năm: 2004
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
15. Phan Thanh Hải (1997), Phát triển kinh tế biển với xây dựng QP - AN trong giai đoạn hiện nay ở Khánh Hoà, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế biển với xây dựng QP - AN trong giai đoạn hiện nay ở Khánh Hoà
Tác giả: Phan Thanh Hải
Năm: 1997
16. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà (2001), Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà về Chương trình kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2001-2005 và đến 2010, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà về Chương trình kinh tế biển tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2001-2005 và đến 2010
Tác giả: Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà
Năm: 2001
17. Trần Hùng (2003), "Mấy vấn đề về tạo TTQP trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (4), tr.28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về tạo TTQP trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc
Tác giả: Trần Hùng
Năm: 2003
18. Nguyễn Mạnh Hưởng (2004), "Một số vấn đề về xây dựng TTQP toàn dân trong điều kiện mới", Tạp chí Khoa học quân sự, (1), tr.40-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng TTQP toàn dân trong điều kiện mới
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng
Năm: 2004
19. V. I. Lênin (1917), "Tai hoạ sắp đến và những biện pháp phòng ngừa tai hoạ đó", V. I. Lênin Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, M.1976, tr.203-267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai hoạ sắp đến và những biện pháp phòng ngừa tai hoạ đó
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1917
20. V. I. Lênin (1918), "Một bài học gian khổ nhưng cần thiết", V. I. Lênin Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, M. 1976, tr. 478-483 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một bài học gian khổ nhưng cần thiết
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1918
21. V. I. Lênin (1919), "Dự thảo chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về thống nhất quân sự", V.I. Lênin Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr.482-483 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về thống nhất quân sự
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1919
22. Hồ Chí Minh (1956), "Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển", Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.149-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cải cách miền biển
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1956
23. Hồ Chí Minh (1956), "Nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư nghiệp năm 1956", Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.152-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư nghiệp năm 1956
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1956
24. Hồ Chí Minh (1958), "Bài nói với quân đội về tình hình và nhiệm vụ trước mắt tại Hội nghị cao cấp toàn quân", Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H.2002, tr.139-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói với quân đội về tình hình và nhiệm vụ trước mắt tại Hội nghị cao cấp toàn quân
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1958

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w