Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có vị trí chiến lược hết sức quan trọng, trở thành một trong những tỉnh hậu phương lớn của tiền tuyến lớn, là nơi tập kết lực lượng của trên trước khi đi các chiến trường chiến đấu. Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí chiến lược và trách nhiệm của mình, Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng LLVT địa phương vững mạnh toàn diện, cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, giữ vững và bảo đảm thông suốt mạch máu giao thông chiến lược quốc gia qua địa phương.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có vị trí chiếnlược hết sức quan trọng, trở thành một trong những tỉnh hậu phương lớn củatiền tuyến lớn, là nơi tập kết lực lượng của trên trước khi đi các chiến trườngchiến đấu Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí chiến lược và trách nhiệm của mình,Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng LLVT địa phương vững mạnh toàndiện, cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại bằng khôngquân và hải quân của đế quốc Mỹ, giữ vững và bảo đảm thông suốt mạch máugiao thông chiến lược quốc gia qua địa phương Đồng thời vừa chiến đấu vừasản xuất và huy động nhân tài, vật lực đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu củamiền Nam và nước bạn Lào (nhất là tỉnh Xiêng Khoảng); dốc sức cùng cả nướcgiành toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Thắng lợi của quân và dân tỉnh Nghệ An trong cuộc chiến đấu chống đếquốc Mỹ xâm lược giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1975 có ý nghĩa to lớn,trong đó vai trò của LLVT nhân dân địa phương là rất quan trọng Vì vậy,việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng LLVT nhân dân địaphương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và của từngđịa phương nói riêng là cần thiết để vận dụng vào xây dựng LLVT nhân dânđịa phương hiện nay Qua đó góp phần đấu tranh chống lại các quan điểm saitrái, phản động của các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc lịch sử, phủnhận những thành quả của cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự
hy sinh, gian khổ của các LLVT nhân dân ta
Lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An hơn 75 năm chiến đấu và xây dựng,luôn giữ vững truyền thống tốt đẹp và bản chất cách mạng kiên cường, tậntrung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khănnào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng Để đáp ứng yêu cầu nhiệm
Trang 2vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, LLVT địa phương cần phải được tăng cường xây dựng vững mạnh toàndiện, làm lực lượng nòng cốt cho phong trào toàn dân bảo vệ an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương trong giai đoạn mới.
Với lý do đó, Tôi lựa chọn đề tài : “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
từ năm 1965 đến năm 1975” làm luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng LLVT nhân dân trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975 đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu, đề cập như: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1981), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội; Ban nghiên cứu lịch sử quân sự thuộc Tổng cục chính trị, Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2005), Lịch sử Quân sự Việt Nam, tập 11, Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb QĐND, Hà Nội; Viện lịch sử quân sự Việt Nam- Bộ quốc phòng (1999), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập 4, Cuộc đụng đầu lịch sử, Nxb CTQG, Hà
Nội Ngoài ra còn có nhiều công trình chuyên khảo có liên quan đến đề tài như:
Bàn về nâng cao sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang (1967), Nxb QĐND,
Hà Nội; Đảng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội về chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, (1999), Nxb QĐND, Hà Nội; Nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng thanh niên lực lượng vũ trang trong chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH (1970) Nxb QĐND, Hà Nội; Tổng kết CTĐ,CTCT trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, (1990) Nxb QĐND, Hà Nội; Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1983), Tập 2, Nxb QĐND,
Hà Nội Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị của các đồng chí cán bộ lãnh đạo
Đảng, Nhà Nước, Quân đội ta như: Đại tướng Văn Tiến Dũng (2005) về cuộc
Trang 3kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb QĐND, Hà Nội; Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2005) với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb QĐND, Hà Nội; Song Hào (1967), chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, Nxb Sự thật, Hà Nội; Củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình mới (1992) của Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, Nguyễn
Trọng Xuyên, Phan Thu, Trương Khánh Châu, Nxb QĐND, Hà Nội; Nguyễn Chí
Thanh (1970), luôn luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, Nxb QĐND, Hà Nội…
Xung quanh vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An đã có một sốcông trình nghiên cứu, đề cập với nhiều góc độ khác nhau: Bộ chỉ quân sự tỉnh
Nghệ An (2000), Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tại địa bàn Nghệ An (1964- 1973); Bộ Tổng tham mưu (2001), Tổng kết chiến tranh nhân dân địa phương, chuyên đề vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và cơ quan quân sự địa phương trên địa bàn quân khu IV trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ 1946-1975, Nxb QĐND, Hà Nội; Nguyễn Văn Ca (1965), kinh nghiệm Nghệ An chiến thắng máy bay Mỹ, Nxb QĐND, Hà Nội; Tỉnh
uỷ Nghệ An (1999), Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập 2, 1954-1975, Nxb Nghệ An; Thường vụ Tỉnh uỷ, Đảng uỷ- Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An (1995), Nghệ An, lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975); Tỉnh uỷ Nghệ An (1995),
Sự kiện lịch sử Đảng bộ Nghệ An 1954-1975; Nxb Nghệ An; Thường vụ Đảng uỷ,
Bộ tư lệnh Quân khu 4 (1994), Quân khu 4, lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb QĐND, Hà Nội Các công trình kể trên có nhiều tư liệu lịch sử có giá trị,
nhưng đến nay chưa có một công trình khoa học nào trình bày một cách có hệthống về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng LLVT nhân dân, đặc biệt là Đảng bộtỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng LLVT trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước từ năm 1965 đến năm 1975 dưới góc độ Lịch sử Đảng Vì vậy, đề tài luận văn
Trang 4mà tác giả lựa chọn không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố trướcđây.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lựclượng vũ trang nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước từ năm 1965 đến năm 1975; rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vàoxây dựng lực lượng vũ trang trong giai đoạn hiện nay; đồng thời chống lạimọi luận điệu phản động của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc lịch sử, phủnhận thành quả xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Nghệ An xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước
* Phạm vi nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An được
thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực, nhưng phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiêncứu trên lĩnh vực lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địaphương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1975 và các
Trang 5thời kỳ trước, sau có liên quan (Lực lượng Công An, lực lượng Bộ đội Biênphòng vì lí do riêng nên tác giả không đề cập trong luận văn này).
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên học thuyết Mác-Lênin về chiến
tranh quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang; tư tưởng quân sự của Hồ ChíMinh; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trangnhân dân cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN thời kỳ đổi mới đất nước
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, phương pháp luận sử học Mácxít; luậnvăn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lô gíc và kết hợpphương pháp lịch sử với phương lô gíc là chủ yếu Đồng thời luận văn còn sửdụng các phương pháp nghiên cứu: Thống kê, so sánh, đồng đại, lịch đại,phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong đề tài
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần khẳng định tính đúngđắn, sáng tạo của Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Qua đó rút ra những kinh nghiệm xâydựng lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo vào công tác nghiên cứu,giảng dạy lịch sử Đảng trong các nhà trường quân đội và làm tài liệu giáo dụctruyền thống cho địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Gồm mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục
Trang 6Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1.1.1 Đặc điểm tình hình và thực trạng lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An
Theo thống kê năm 1970, diện tích 16.487 km2, dân số hơn 1,5 triệungười, có 6 dân tộc anh em sinh sống (gồm Kinh, Thái, Thổ, Khơ Mú, H’Mông,
Ơ Đu). Các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 29 vạn người, chủ yếu sống ở 7huyện miền núi với mật độ dân cư trung bình là 12 người/km2 Các dân tộc trongtỉnh có truyền thống đùm bọc, tương thân lâu đời, họ là lực lượng hết sức quantrọng thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở phía Tây của tỉnh Thành phầntôn giáo chiếm tỉ lệ không nhiều, chủ yếu là Phật giáo và Thiên chúa giáo Đếnnăm 1970, giáo dân toàn tỉnh có gần 15 vạn người, chiếm khoảng 10% dân số vàkhoảng 4000 phật tử
Miền núi, trung du chiếm khoảng 3/4 diện tích toàn tỉnh, có vị trí rất quantrọng cả về kinh tế và quốc phòng, với đường biên giới dài 419 km lượn dọc dải
Trang 7Trường Sơn núi cao trùng điệp, nhiều cửa khẩu thông với tỉnh Xiêng Khoảngthuộc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Vùng đồng bằng hẹp chiếmkhoảng 15 - 20% diện tích toàn tỉnh, bị chia cắt bởi nhiều sông lạch và đồi núi
lẻ ăn thông ra biển tạo thành những vùng tập trung các đầu mối giao thôngquan trọng, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh Bờ biển Nghệ Andài 93 km, nhiều cửa lạch bãi triều, có 2 cửa biển lớn là Cửa Lò, Cửa Hộithuận lợi cho giao thông đường biển, đường sông và 2 đảo Hòn Ngư, HònMắt là bộ phận xung yếu cửa ngõ vịnh Bắc bộ, có vị trí chiến lược quan trọngcủa khu vực phòng thủ quốc gia
Hệ thống giao thông ở Nghệ An rất đa dạng, có đường bộ, đường sắt,đường sông, đường biển và đường không rất quan trọng cho việc phát triển kinhtế- xã hội, quốc phòng- an ninh địa phương và có ý nghĩa to lớn trong việc vậntải phục vụ cho tiền tuyến miền Nam và nước bạn Lào Đường bộ gồm quốc lộ1A (xuyên Bắc - Nam), quốc lộ 7 (xuyên Đông - Tây sang Lào), đường 15A,15B (thuộc hệ thống đường Trường Sơn) Đường sắt dài 123km, nhiều ga, bảođảm cho việc vận chuyển lực lượng, hàng hoá phục vụ cho chiến tranh Hệthống sông ngòi nhiều, có giá trị phát triển kinh tế, xã hội và có tác dụng vậnchuyển vũ khí, lương thực, cơ động lực lượng cho các hoạt động quân sự
Về chính trị xã hội, Người dân Nghệ an trong suốt hàng ngàn năm lịch sử,phải lao động sản xuất trong những điều kiện thiên nhiên rất khắc nghiệt (rừngnúi nhiều, đồng bằng ít, thiên tai liên tục…) lại chìm đắm dưới ách thống trị hàkhắc của các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược và những năm dài đô hộcủa thực dân Pháp đã hun đúc nên phẩm chất cần cù, chịu khó, chí khí quậtcường, bền gan, vững chí, trọng đạo lý, ghét cường quyền, bất công Trải quanhiều thời đại, Nghệ An đã cống hiến cho đất nước nhiều bậc anh tài lỗi lạc, nơiđây cũng là cái nôi của nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều cuộc chiến tranh quyết liệtcủa nông dân và sĩ phu yêu nước chống thù trong, giặc ngoài
Trang 8Đảng bộ Nghệ An ra đời nơi có truyền thống cách mạng, được rèn luyệnthử thách ngay từ cao trào 1930 - 1931 đến cách mạng tháng Tám 1945, 9 nămkháng chiến chống Pháp và 10 năm xây dựng CNXH nên đã trưởng thành nhanhchóng Đảng bộ thực sự lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng, năng lực lãnh đạo
và tổ chức thực hiện Đến năm 1964 số đảng viên chiếm 4,6% dân số
Về hành chính, toàn tỉnh có 17 huyện và 1 thành phố (9 huyện thị đồngbằng, 8 huyện miền núi gồm 473 xã, phường) Uỷ ban hành chính các cấp từtỉnh đến xã đã phát huy đầy đủ vai trò điều hành, quản lý trên các lĩnh vực đờisống kinh tế, chính trị xã hội, quốc phòng, an ninh
Về kinh tế- văn hoá, trải qua 10 năm xây dựng CNXH (1954-1964), Nghệ
An đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Đến năm 1964 toàn tỉnh có 90%
số hộ nông dân vào hợp tác xã, hệ thống thuỷ lợi được củng cố và mở rộng,phong trào cải tiến kỹ thuật, thâm canh tăng năng suất diễn ra ở nhiều nơi, pháttriển thêm nhiều ngành nghề: giá trị tổng sản lượng nông nghiệp chiếm 78,2%,bình quân lương thực đầu người đạt 220kg/ năm Có 3 nông trường quốc doanh,khoảng 45% số lao động thủ công vào hợp tác xã Nền thương nghiệp XHCNchiếm ưu thế trên thị trường với hơn 40% giá trị hàng hoá bán ra Văn hoá, giáodục, y tế phát triển mạnh và rộng khắp, hầu hết các xã đều có trường cấp 1, cấp2; mỗi huyện có 1 đến 2 trường cấp 3; 90% số xã có trạm y tế, huyện có bệnhviện; công tác văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển
* Thực trạng lực lượng vũ trang địa phương
Ngay sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, dưới sự lãnhđạo trực tiếp, toàn diện của Tỉnh ủy, với sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ quốc phòng,
Bộ Tư lệnh Quân khu 4, LLVT Nghệ An lớn mạnh về mọi mặt, bộ đội địaphương và dân quân tự vệ được tăng cường cả số lượng, chất lượng và vũ khí,trang - thiết bị Hầu hết các đơn vị LLVT đã hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện sátvới đặc điểm mới và phù hợp với từng đơn vị của địa phương Hàng trăm tổ trực
Trang 9chiến của dân quân tự vệ ở các khu phố, xã, phường, cơ quan, xí nghiệp, công,nông, lâm trường trong tỉnh được hình thành Các điểm xung yếu của nhữngvùng trọng điểm, các công trình kinh tế then chốt được tỉnh bố trí lực lượngmạnh, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ một cách khẩn trương, tích cực LLVT địa phương thực sự làmnòng cốt cho công tác bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, chủ động đối phóthắng lợi với cuộc chiến tranh mới
Bộ đội địa phương tỉnh được tăng cường cả số lượng, chất lượng và đượcbiên chế vũ khí trang bị theo yêu cầu của cuộc chiến tranh Quân số 3.000 người
Ở các huyện được tổ chức từ trung đội đến đại đội (Huyện Kỳ Sơn thành lập 3đại đội; huyện Quế Phong, Tương Dương, Quỳnh Lưu, mỗi huyện 1 đại đội; cáchuyện Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương Dương có thêm 1 đến 2 trung đội phòngkhông) Được biên chế mỗi trung đội có 3 đến 4 khẩu 14,5mm và 12,7mm, 2trung đội 37mm Huyện Đô Lương có 1 đại đội hỗn hợp (2 trung đội 37mm, 1trung đội 14,5mm) Cơ quan quân sự tỉnh, huyện tăng cường đủ mạnh, theo biênchế thời chiến, bảo đảm được nhiệm vụ mới Tỉnh đội được biên chế 158 người,Huyện đội có từ 12 đến 15 người Các cấp chỉ huy từ đại đội trở lên đủ 4 người(2 quân sự, 2 chính trị)
Dân quân tự vệ là lực lượng chủ yếu của địa phương, được củng cố, pháttriển Gồm 16.428 người, tỷ lệ dân quân tự vệ chiếm 11% dân số toàn tỉnh, đảngviên trong độ tuổi vào DQTV 64% Cuối năm 1964, toàn tỉnh có 729 đại đội,
7083 trung đội dân quân hỗn hợp; 15 tiểu đoàn, 110 đại đội, 360 trung đội tự vệ.Được thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, huấn luyện kỹ chiến thuật, vừatích cực lao động sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu
Lực lượng DBĐV được đăng ký, quản lý chặt chẽ từ tỉnh xuống cơ sở đạt99,4%, thực hiện đúng nguyên tắc, chính quy bảo đảm số lượng và chất lượng.Cuối năm 1964, tỉnh bổ sung lực lượng dự bị lên tới 17 249 người, sẵn sàng bàn
Trang 10giao cho các đơn của Bộ và quân khu 4 Ngoài số quân trên, tỉnh còn chuẩn bịxong quân dự bị cho việc khôi phục tiểu đoàn 42, 43 của tỉnh và mở rộng thêmlực lượng bộ đội địa phương, bao gồm 17 đại đội huyện Đăng ký, quản lý và tậpthực hành động viên cho 28 đơn vị từ sư đoàn đến tiểu đoàn và cơ quan các cấp,tổng số 34062 người, chiếm tỷ lệ 12,73%, bảo đảm chất lượng chính trị, trình độquân sự, sức khoẻ, đồng thời bảo đảm đủ số chuyên nghiệp quân sự chủ yếu.Quân số gọi nhập ngũ 2 đợt năm 1964 đạt 104,4%.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao tinh thần cảnh giác cáchmạng, sẵn sàng chiến đấu thực hiện thường xuyên trong LLVT, các banngành đoàn thể và trong nhân dân Công tác tuyển quân được xây dựng thành
nề nếp, hàng nghìn người nhập ngũ hàng năm, là tỉnh có số quân tuyển hàngnăm cao nhất miền Bắc Kế hoạch phòng thủ, công tác chiến đấu, sẵn sàngchiến đấu của tỉnh hàng năm được điều chỉnh bổ sung, các công trình quốcphòng được củng cố và xây dựng mới, căn cứ hậu phương nhanh chóng đápứng yêu cầu chiến tranh, công tác phòng tránh, đánh trả địch được chuẩn bịtốt Đặc biệt, từ sau hội nghị phòng không nhân dân lần thứ nhất do Bộ Tổngtham mưu triệu tập (9-1-1964) công tác phòng không nhân dân trong tỉnh đivào nề nếp thống nhất, sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và sự chỉ đạo, chỉhuy từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được tăng cường Tỉnh thành lập ban chỉ huyphòng không các cấp, chuyển dần các hoạt động kinh tế phù hợp với thờichiến, thực hiện vừa sản xuất vừa huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu Kết hợpvới công an, tỉnh đội đã triển khai kế hoạch khoanh vùng cụm hiệp đồng về trị
an, chống địch biệt kích, tập kích Các vùng tiếp giáp với các tỉnh Thanh Hoá,
Hà Tĩnh đã tổ chức hội nghị hiệp đồng chặt chẽ Đến cuối năm 1964, tỉnh có
19 cụm hiệp đồng tiếp giáp theo hình thức tỉnh hợp đồng với tỉnh, huyện hợpđồng với huyện và xã hợp đồng với xã ở các vùng tiếp giáp
Trang 11Vừa chiến đấu vừa xây dựng, LLVT nhân dân Nghệ An tuy đã phát triểntheo yêu cầu mới Tuy nhiên, việc xây dựng LLVT trong những năm đầu cònnhiều khó khăn về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và chuyên môn kỹthuật Nhiều công việc mới mẻ phải triển khai cùng một lúc: chấn chỉnh lựclượng, mở rộng lực lượng hậu bị, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương và chiviện cho tiền tuyến.
10 năm xây dựng hậu phương toàn diện (1954 - 1964), Đảng bộ Nghệ Antập trung xây dựng về mặt chính trị là nhiệm vụ hàng đầu, xây dựng kinh tế làquan trọng, đồng thời quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, tạo ranhững nhân tố mới của thế và lực, vững vàng bước vào cuộc đọ sức quyết liệtchống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệvững chắc hậu phương xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớnmiền Nam và nước bạn Lào, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước đến thắng lợi hoàn toàn
1.1.2 Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tác động đến việc xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An
Cuối năm 1964, cách mạng miền Nam có bước phát triển mới Nhữngchiến công diệt ngụy, phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng của bộ độichủ lực kết hợp với lực lượng quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ trongđông - xuân 1964 - 1965, đẩy ngụy quân, ngụy quyền vào thế bị động Chiếnlược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ có nguy cơ bị phá sản hoàn toàn Đểcứu vãn tình thế, chúng ồ ạt đưa quân viễn chinh và chư hầu vào miền Nam tiếnhành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đồng thời trắng trợn tuyên bố dùng khôngquân, hải quân đánh phá miền Bắc
“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, mộttrong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng lực) được đề ra phù hợpvới chiến lược quân sự toàn cầu “phản ứng linh hoạt” “Chiến tranh cục bộ” bắt
Trang 12đầu từ giữa năm 1965, được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ,quân của một số nước thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quâncủa chính quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và khôngngừng tăng lên về số lượng và trang bị
Tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, Mỹ nhằm thực hiện âmmưu: Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hoả lực có thể áp đảo được chủlực ta bằng chiến lược mới “tìm diệt”, cố giành lại thế chủ động trên chiếntrường, đẩy lực lượng vũ trang của ta trở về phòng ngự, buộc ta phải phân tánđánh nhỏ hoặc rút về biên giới, làm cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần; mởrộng và củng cố hậu phương của chúng, lập đội quân “bình định” kết hợp hoạtđộng càn quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp, tung tiền, đổ củanhiều hơn nữa cố thực hiện kỳ được việc giành lại dân (trước hết là nông dân ởvùng được giải phóng), bắt họ trở lại ách kìm kẹp tàn bạo của Mỹ, Ngụy
Ỷ vào ưu thế quân sự với đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực mạnh,
cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngaycuộc hành quân “tìm diệt” tiến công đơn vị quân giải phóng ở Vạn Tường -Quảng Ngãi (8 - 1965) Tiếp đó, Mỹ mở liền 2 cuộc phản công chiến lược trong
2 mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào vùngđất do cách mạng nắm giữ
Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam,đầu năm 1969, bước vào nhà trắng Nichxơn đề ra chiến lược toàn cầu mang tên
“học thuyết Nichxơn”, với ba nguyên tắc “tập thể tham gia”, “sức mạnh củaMỹ”, “sẵn sàng thương lượng” Nichxơn vận dụng học thuyết này vào chiếntranh Việt Nam, đề ra chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, một sự điều chỉnh
“phi Mỹ hoá” của Giônxơn, thực chất là “dùng người Việt giết người Việt” đểduy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam
Trang 13Thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ áp dụng một loạtbiện pháp: ra sức củng cố Ngụy quyền, xây dựng đội quân ngụy đông và hiệnđại, tự gánh vác được nhiệm vụ chiến tranh để cho quân Mỹ rút; ráo riết thựchiện chương trình bình định, tăng cường phá hoại miền Bắc Việt Nam nhằm cắtnguồn viện trợ của miền Nam; mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia;thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô hòng cắt giảm nguồn viện trợchủ yếu của Việt Nam.
Ở miền Bắc, đế quốc Mỹ đã thấy rõ miền Bắc là căn cứ địa cách mạngcủa cả nước, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến cứu nước ở miền Nam Vìvậy, ngay từ đầu và trong tất cả các thời kỳ của cuộc chiến tranh xâm lược ViệtNam, chúng luôn tìm cách phá hoại miền Bắc Đêm 4 - 8 - 1964, Mỹ dựng lên
“Sự kiện vịnh Bắc Bộ” nhằm trước hết kích động Quốc hội Mỹ thông qua một
nghị quyết cho phép Chính phủ áp dụng biện pháp chiến tranh không quân vàhải quân đối với miền Bắc Việt Nam Sáng 5 - 8 - 1964, Bộ quốc phòng Mỹ ralệnh cho 64 máy bay phản lực, siêu âm mang bom đạn ném bom một số trọngđiểm quan trọng, mà chủ yếu là các tỉnh thuộc Quân khu IV Tại Nghệ An, đế
quốc Mỹ cho nhiều tốp máy bay phản lực ồ ạt đánh phá Thành phố Vinh, kho
xăng dầu Vinh- Bến Thuỷ và cảng Cửa Hội… Địch dùng không quân, kết hợpđại bác của hải quân đánh phá hầu hết các tuyến đường bộ, đường sắt, cầu cốngnhằm cắt đứt mạch máu giao thông Bắc - Nam Tiến hành chiến tranh khôngquân và hải quân phá hoại miền Bắc, cuộc chiến tranh mà MacNamara vẫn coinhư “một biện pháp bổ sung chứ không phải biện pháp thay thế cho cuộc chiếntranh trên bộ của đế quốc Mỹ ở miền Nam” Các ngày 7, 8 và 11 - 2 - 1965,hàng trăm lần chiếc máy bay Mỹ đã tập kích vào Đồng Hới và Vĩnh Linh, dướitên gọi “mũi lao lửa I” (Flamming Dart I) và “mũi lao lửa II” (Flamming Dart II)
đế quốc Mỹ nhằm gây sức ép đối với Việt Nam, làm giảm sức tiến công của lựclượng cách mạng ở miền Nam, hạn chế sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam
Trang 14Sau thất bại liên tiếp của đế quốc Mỹ ở cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam,tháng 4 - 1972, chính quyền Nichxơn tiến hành “Mỹ hoá” trở lại cuộc chiếntranh xâm lược Việt Nam, bằng cách huy động trở lại lực lượng lớn không quân,hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và gây lại cuộc chiến tranh phá hoại miềnBắc Thực hiện cuộc phiêu lưu quân sự mới, Mỹ huy động một lượng lớn khôngquân, hải quân thuộc loại hiện đại nhất gồm 1.400 máy bay chiến thuật, chiếm40% lực lượng không quân chiến thuật Mỹ, 193 máy bay B52, chiếm 45% máybay B52 toàn nước Mỹ, chúng huy động 14 chiếc tàu chiến của hạm đội 7 Mỹcho không quân và hải quân đánh phá một số nơi thuộc khu IV cũ và Nghệ An làmột trong những trọng điểm phá hoại tàn bạo của địch, nằm trong âm mưuchung đánh vào hậu phương miền Bắc Việt Nam Đến ngày 9 - 5 - 1972,Nichxơn ra lệnh thả mìn phong toả bến cảng, cửa sông, luồng lạch vùng biểnmiền Bắc Chúng tập trung bắn phá liên tục, khắp mọi nơi, trong mọi lúc, không
kể ngày đêm với cường độ ngày càng tăng đánh phá vào các mục tiêu quân sự,các đầu mối giao thông, các nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp, trường học, bệnh viện,nhà thờ… Trung bình mỗi ngày có 300 lần chiếc máy bay đi gây tội ác, với
1600 tấn bom đạn trút xuống các làng mạc, phố xá, cướp đi bao sinh mạng vàgây thương tích cho nhiều người vô tội Bom đạn của chúng đã tàn phá biết baocủa cải, cơ sở kinh tế, công trình văn hoá, giáo dục, y tế mà nhân dân ta đã tạodựng trong hơn 10 năm trước đó Mục đích là phá tiềm lực kinh tế và quốcphòng, phá công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc; ngăn chặn nguồn chi viện
từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần,làm lung lay ý chí chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước
Mỹ coi việc thực hiện những mục tiêu đó như những biện pháp nhằm củng cốtinh thần quân ngụy đang sa sút nghiêm trọng, ngăn đe phong trào cách mạngđang dâng cao
Trang 15Chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc gây cho ta tổn thất rấtnặng nề: “Gần như toàn bộ các thành phố thị xã đều bị đánh phá, trong đó có
12 thị xã, 51 thị trấn bị phá huỷ hoàn toàn Tất cả các khu công nghiệp bịđánh phá, 5 triệu m2 nhà ở bị phá hủy, toàn bộ tuyến đường sắt, cầu cống, bếncảng, kho tàng bị đánh phá Gây tổn thất cho 1.600 công trình thuỷ lợi, giếthại 40.000 trâu bò, đánh phá 3.000 trường học, 350 bệnh viện, trong đó có 10bệnh viện bị san phẳng”[38,38]
Tình hình đó đã làm xáo trộn lớn về kinh tế- xã hội của cả nước và của địaphương, Tỉnh uỷ Nghệ An xác định đề án “nhiệm vụ kinh tế vẫn là trung tâm”
và còn hiệu lực chỉ đạo với các địa phương, nhưng nhiệm vụ quốc phòng và trị
an được xác định là cấp bách Công tác xây dựng lực lượng vũ trang để đối phóvới địch đang đặt ra yêu cầu mới và được đẩy lên một bước mới, đòi hỏi phảiphát triển cả về số lượng, chất lượng và tổ chức trang bị, chuẩn bị sẵn sàng chiếnđấu
Nhiệm vụ xuyên suốt là: “Xây dựng tỉnh thành hậu phương vững mạnh
về mọi mặt, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường tiềm lực quốcphòng, xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh; đánh thắngchiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ tại địa bànNghệ An; đồng thời chi viện cao nhất sức người, sức của, bảo đảm giao thôngvận tải cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược”[58,134]
1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An xây dựng lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1975
1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1975
* Xây dựng lực lượng vũ trang chống“chiến tranh cục bộ” và chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)
Trang 16Đầu năm 1965, cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ tiến hành chống lạinhân dân ta ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thấtbại hoàn toàn Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũkhí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược,chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiếntranh phá hoại miền Bắc hòng ngăn cản chi viện của miền Bắc vào miền Nam,
cô lập và đè bẹp cách mạng miền Nam Đây là cố gắng quân sự lớn nhất, bướcleo thang chiến tranh cao nhất của đế quốc Mỹ ở miền Nam, cũng là lần đầu tiênHoa Kỳ đưa nhiều quân nhất đi xâm lược, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai.Ngoài lực lượng trực tiếp tham chiến nếu tính cả lực lượng Mỹ ở ngoài khơi vàcăn cứ hậu cần quân sự Mỹ ở Đông Nam Á thì riêng quân Mỹ chiến đấu và chiviện bảo đảm chiến đấu lên tới 80 vạn tên, chiếm 22% tổng số quân của Mỹ lúccao nhất trong những năm chiến tranh Việt Nam (3,5 triệu quân) Mỹ huy độnggồm 70% lực lượng bộ binh, 60% lính thuỷ đánh bộ, 60% lực lượng trên không,40% lực lượng trên biển và gần như toàn bộ lực lượng vận tải quân sự vào chiếntranh Việt Nam
Đế quốc Mỹ đã thấy rõ miền Bắc là căn cứ địa cách mạng của cả nước, do
đó chúng dùng một lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá miền Bắc,nhắm đánh vào hậu phương của cả nước, cô lập cách mạng miền Nam, bẻ gãy “ýchí của chính phủ Bắc Việt Nam”, làm cho “Hà Nội phải quỳ gối trong vòng 2đến 6 tháng, đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá” Bốn năm dưới thời Giônxơn, máybay địch đã xuất kích 303 vạn lần chiếc, bình quân 300 lần chiếc thực hiện némbom trong một ngày đêm Tính riêng năm 1968, Mỹ tiến hành 30,4 vạn phi vụthả 60 tấn bom xuống miền Bắc nước ta
Chống lại những hành động phá hoại của Mỹ là nghĩa vụ của tất cả mọilực lượng, của toàn dân Đảng ta trước sau vẫn giữ vững quyết tâm đã đề ra từtháng 8-1955 là “Bất cứ tình hình như thế nào, miền Bắc cũng phải được củng
Trang 17cố, phải tiến lên CNXH” Hội nghị lần thứ 11 BCHTƯ Đảng, khoá III 1965) ra nghị quyết “Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt” Trung ươngĐảng đánh giá những thắng lợi của cách mạng Việt Nam và những thất bại của
(25-3-Mỹ, ngụy Nghị quyết chỉ rõ: “Ba chỗ dựa chủ yếu của đế quốc Mỹ trong cuộcchiến tranh xâm lược ở miền Nam là quân đội đánh thuê và chính quyền bù nhìntay sai, hệ thống ấp chiến lược và các đô thị bị sụp đổ hoặc lung laymạnh”[27,102] Điều đó đang trở thành mối lo ngại lớn nhất của đế quốc Mỹ lúcnày Vì nếu không thay đổi chính sách xâm lược ở miền Nam có thể sẽ bị thấtbại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh này Từ sự phân tích âm mưu, hành độngcủa Mỹ Trung ương Đảng dự kiến Mỹ sẽ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lượclên một bước cao hơn trên cả hai miền Nam, Bắc, với quy mô rộng lớn và tínhchất các liệt chưa từng có Tuy nhiên, Trung ương Đảng cũng nhận thấy: việc đếquốc Mỹ phải thay đổi chính sách xâm lược đó là một bằng chứng chứng minh
Mỹ đang ở thế thua, thế bị động “rõ ràng là chúng đang thất bại và bị độngnghiêm trọng cả về mặt chính trị và chiến lược và đang bị cô lập đến cao độ cả ởtrong nước và trên thế giới”[27,106], trong khi đó Việt Nam đang ở thế thắng,thế thuận lợi Vì vậy mặc dù cố gắng nhưng đế quốc Mỹ sẽ không làm đảongược tình hình ở miền Nam Hội nghị xác định nhiệm vụ của quân, dân miềnBắc: a, Xây dựng miền Bắc trở thành một hậu phương lớn vững chắc của cáchmạng miền Nam, đồng thời bảo đảm đời sống cho nhân dân và đáp ứng hậu cầntại chỗ; b, Đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; c, Tăng viện chotiền tuyến lớn miền Nam và cho cách mạng Lào
Cùng với nhiệm vụ xây dựng CNXH, đánh bại chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng quyết định tăng cường tiềm lực quốc phòng, anninh, tăng cường công tác tư tưởng, công tác tổ chức trong tình hình mới
“Chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá quá cao hoặc chủ quan khinh địch, tư tưởnghoang mang dao động, cầu an, tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện
Trang 18có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, tư tưởng ỷ lại vào sự giúp
đỡ của nước ngoài và không tin tưởng vào sức mình”[27,114] Nghị quyết chỉ rõchuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, chuyển hướng về tư tưởng và tổchức, tăng cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với tình hình mới
Trước những diễn biến ngày càng phức tạp, Hội nghị Trung ương lần thứ 12BCHTƯ Đảng (khoá III) tháng 12 năm 1965, sau khi đánh giá tình hình, phân tíchtoàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam,Đảng ta chỉ rõ: “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễnchinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn”, do đó, cách mạngmiền Nam “phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công”, và cuộc chiếntranh này tuy ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắcchắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng vàđiều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch Hội nghị đề ra nhiệm
vụ chung cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: “Động viên lực lượng của cảnước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứtình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhấtnước nhà”[28,634] Đối với việc xây dựng và tổ chức LLVT, Đảng nhấn mạnh phảichú trọng xây dựng và phát triển cả ba thứ quân Bộ đội chủ lực phải chú trọngnâng cao cả chất lượng và số lượng, tăng cường huấn luyện, giải quyết vấn đề bổsung người và vũ khí đạn dược Việc nhanh chóng phát triển chủ lực của ta tronglúc này là một công tác rất quan trọng cần được thực hiện hết sức kiên quyết Bộđội địa phương và dân quân du kích nhất là các vùng quan trọng cần được chú trọng
và tăng cường hơn nữa vì các lực lượng đó có một tác dụng rất lớn trong nhiệm vụchiến lược phân tán và tiêu hao, tiêu diệt địch, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và bảo
vệ nhân dân, làm lực lượng dự bị cho chủ lực
Trang 19Nhiệm vụ của miền Bắc rất nặng nề, vừa tiếp tục xây dựng CNXH trongđiều kiện có chiến tranh, chống lại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệmiền Bắc, vừa động viên sức người sức của chi viện cho miền Nam và giúp đỡcách mạng Lào Mặt khác, miền Bắc phải chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh bại quânđịch, nếu chúng liều lĩnh mở rộng xâm lược bằng bộ binh ra cả nước Những hànhđộng leo thang chiến tranh của Mỹ đã đẩy mâu thuẩn giữa dân tộc Việt Nam với đếquốc Mỹ xâm lược lên mức độ cao Vì vậy, Trung ương Đảng xác định rõ: “Nhiệm
vụ chống Mỹ, cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân tộc
ta, của nhân dân ta từ Nam chí Bắc” [28,635] Đây là chủ trương táo bạo, cáchmạng và khoa học, là sự kết tinh giữa thực tiễn sáng tạo vĩ đại của quần chúng vớitrí tuệ sáng suốt của toàn Đảng mà trực tiếp là BCHTƯ Đảng ta, củng cố lòng tin vàchỉ đạo cho quân và dân của cả hai miền Nam, Bắc vững bước vượt qua gian nanthử thách để tiến đến thắng lợi cuối cùng trong cuộc đọ sức cam go này
Thể hiện ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 17 7
-1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân chống Mỹ, cứu nước:
“Giônxơn và bè lũ phải biết rằng chúng có thể đưa tới 50 vạn quân, 1 triệu quânhoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, chúng cóthể dùng hàng nghìn máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc, nhưng chúngquyết không lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ của nhân dânViệt Nam anh hùng Chúng càng hung hăng, tội ác của chúng càng thêm nặng.Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội,Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá song nhân dân ViệtNam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập tự do Đến ngày thắng lợinhân dân ta sẽ xây lại đất nước đàng hoàn hơn, to đẹp hơn”[45,108]
Nhờ những chủ trương đúng đắn và ý chí quyết tâm sắt đá đó, mà cáchmạng cả nước vượt qua được những khó khăn thử thách to lớn, đã dấy lên ởmiền Bắc một phong trào cách mạng rộng lớn chưa từng có của quần chúng
Trang 20nhân dân trong sản xuất và chiến đấu Các LLVT nhân dân đã đẩy mạnh phongtrào thi đua “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nêu cao khẩu hiệu:
“Nhằm thẳng quân thù, bắn!” trong chiến đấu chống máy bay Mỹ Giai cấp côngnhân, nông dân nêu cao khẩu hiệu “chắc tay súng, vững tay búa”, “chắc taysúng, vững tay cày”…Tất cả những phong trào của quần chúng đều vươn tớikhẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “mỗi người làm việcbằng hai, vì đồng bào miền Nam ruột thịt”, “thóc không thiếu một cân, quânkhông thiếu một người” Những phong trào đó tỏ rõ sức mạnh của một dân tộc
có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, chiến đấu dũng cảm, giành thắng lợitrong xây dựng, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ của hậu
phương lớn Khẩu hiệu Xây dựng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam do
Hội nghị Trung ương lần thứ 11 và Nghị quyết Trung ương lần thứ 12 đề ra trởthành hành động tự giác và tình cảm thiêng liêng của mọi người dân yêu nước
Trước đòi hỏi ngày càng to lớn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ Đểtăng cường lực lượng vũ trang, tháng 1 - 1965 Hội đồng Quốc phòng họp định raphương hướng công tác quốc phòng miền Bắc trong tình hình mới là: Ra sứcxây dựng các LLVT nhân dân hùng mạnh bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địaphương, dân quân, tự vệ và lực lượng hậu bị đúng với đường lối quân sự củaĐảng, với truyền thống kinh nghiệm và điều kiện thực tế của ta, đủ sức đánhthắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược Nhà nước quyết định thành lập một số binhđoàn chủ lực trang bị hiện đại và quân binh chủng mới, Uỷ ban Thường vụ Quốchội quyết định lệnh động viên cục bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Cụ thể hoá nghị quyết Trung ương Đảng và tổng kết kinh nghiệm chiếntrường, lúc này Quân uỷ Trung ương đã xác định nhiều tư tưởng chỉ đạo đúngđắn, kịp thời: Nắm vững trọng tâm là chỉ đạo chiến tranh, chiến trường chính làmiền Nam; chú trọng cả chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng; tăng cườnglực lượng lớn vào miền Nam; đề ra 6 phương thức tác chiến chiến lược đưa
Trang 21chiến tranh nhân dân chống Mỹ cứu nước ở miền Nam phát triển lên trình độmới; phát triển nhanh lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam, nhất là bộđội chủ lực Do đó, LLVT ba thứ quân của ta phát triển cân đối và lớn mạnhvượt bậc so với những năm đầu chiến tranh Năm 1965 gần 290.000 người gianhập quân đội, đến cuối năm 1965 bộ đội chủ lực ở miền Bắc tăng từ 195.000lên 400.000 quân Các quân, binh chủng cũng tăng gấp ba lần so với năm 1964.Bên cạnh bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ phát triển nhanhchóng Năm 1965-1966, bộ đội từ miền Bắc đưa vào miền Nam chiến đấu 11nghìn quân, 27 nghìn tấn hàng, và 15 triệu đôla; năm 1968 từ miền Bắc đưa vàomiền Nam 14 vạn quân, gấp 3 lần năm 1965 và 7 vạn tấn hàng, gấp 8 lần năm
1965 LLVT cách mạng miền Nam, năm 1964 (chỉ tính riêng chủ lực) có 11trung đoàn và 15 tiểu đoàn, đến cuối năm 1965 ta đã phát triển lên 5 sư đoàn và
11 trung đoàn bộ binh, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn binh chủng kỹ thuật trang bịtương đối hiện đại
Chiến thắng ở Núi Thành (3-1965), Vạn Tường (8-1965), Plâyme 1965)…, mà đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân (1968) đãđánh dấu bước phát triển LLVT nhân dân ta
(11-* Xây dựng lực lượng vũ trang chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và chiến tranh phá hoại lần hai của đế quốc Mỹ (1969-1972)
Trước thất bại nặng nề ở Việt Nam, qua hai chiến lược chiến tranh xâmlược thực dân mới là “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ”, R.Níchxơnlên cầm quyền đã thay đổi chiến lược chiến tranh, tiếp tục áp đặt chính sách chủnghĩa thực dân mới ở miền Nam, thực hiện chính sách “Việt Nam hoá chiếntranh”, tức “dùng người Việt giết người Việt” bằng tiền của và vũ khí của Mỹ,
do Mỹ chỉ huy để tiếp tục mục tiêu xâm lược nước ta Nếu hai chiến lược chiếntranh trước đó trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” đều đã hoàn chỉnh
từ trước cả về lý luận và tổ chức thực tiễn, thì chiến lược “Việt Nam hoá chiến
Trang 22tranh” lại ra đời trong thế thất bại, thế cực kỳ bị động, phải mò mẫm tìm tòitrong nhiều sự lựa chọn ngay từ bước hình thành, thiếu sự chuẩn bị về nhiềumặt Đây cũng chính là điều thất sách của chiến lược mới của Mỹ trong thờiđiểm lịch sử này Tháng 6 - 1970, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng ta đã đánh giá:
“Việt Nam hoá chiến tranh” và “học thuyết Nichxơn” là sản phẩm của thế suyyếu, thất bại và bị động của đế quốc Mỹ, đã bóc trần bản chất phản động hiếuchiến và ngoan cố của đế quốc Mỹ, đây không phải là lối thoát mà là con đường
bế tắc về chính trị và chiến lược của đế quốc Mỹ cả ở Việt Nam và trên thế giới
Để đạt được mục tiêu chiến lược, Nichxơn đưa ra thực hiện cùng lúc baloại hình chiến tranh là “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh huỷ diệt”, “chiếntranh bóp nghẹt”, trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ,kết hợp với những thủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt Chiến lược “ViệtNam hoá chiến tranh” của Nichxơn có những toan tính mới hòng mở rộng chiếntranh trên bán đảo Đông Dương, hòng cô lập cách mạng Việt Nam, tích cực
“bình định nông thôn”, “tiêu diệt” bộ đội chủ lực ta, nuôi dưỡng quân Ngụy đểdần thay thế quân Mỹ về nước, hòng kéo dài chiến tranh Việt Nam Mỹ vừa đàmphán với ta, vừa trở lại đánh phá miền Bắc bằng không quân, hải quân với nhữngbước leo thang đánh phá rất ác liệt Mục tiêu đặt ra là nhằm thực hiện âm mưunhất quán của Mỹ là “bóp nghẹt”, phá hoại công cuộc xây dựng CNXH, pháhoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc; ngăn chặn nguồn tiếp tế của miềnBắc cho miền Nam, làm giảm ý chí chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, trướcmắt là để cứu nguy cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” ở miền Nam vàtạo thế mạnh trên bàn đàm phán ở Pari Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ haicủa Nichxơn đã vượt xa cuộc chiến tranh lần thứ nhất của Giônxơn cả về quy
mô, tốc độ, cường độ đánh phá Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này mộtlực lượng không quân và hải quân rất lớn, gồm hàng ngàn máy bay tối tân thuộc
50 loại khác nhau, kể cả những loại lớn nhất như B52, F.111 và các loại vũ khí
Trang 23hiện đại nhất (trừ vũ khí nguyên tử) Nhiều thành phố, thị xã, thị trấn của miềnBắc đều bị địch đánh đi, phá lại nhiều lần, có nơi bị phá trụi, nhiều công trìnhthuỷ lợi, đê điều, trường học, cơ sở y tế, nhà thờ, đền chùa bị tàn phá
Đứng trước cục diện mới và yêu cầu mới của sự nghiệp chống Mỹ cứunước, để củng cố tinh thần quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta,
ngày 1 tháng 1 năm 1969, trong Thư chức mừng năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”.
Để khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, Bộ Chính trị chỉ rõ: Một là, đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân Hai là, tập trung sức, bảo đảm đầy
đủ và kịp thời yêu cầu tăng cường sức chiến đấu cho tiền tuyến, thực hiện triệt
để khẩu hiệu “tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!” Ba là, tích cực chuẩn bị
cho những năm sau và cho việc khôi phục kinh tế sau chiến tranh
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở cả haimiền Nam - Bắc đang trên đà thắng lợi, ngày 2 - 9 - 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minhqua đời Đó là một tổn thất lớn, không gì có thể bù đắp đối với dân tộc ta, Đảng
ta, đối với cách mạng nước ta Trong dịp này Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng
tư lệnh quân đội ta đã ra lời kêu gọi LLVT hãy cùng toàn dân biến đau thươngthành hành động cách mạng, giương cao ngọn cờ quyết chiến, quyết thắng Báctrao cho, đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thựchiện cho kỳ được lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Hễ cònmột tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi”.Tháng 1 - 1970, BCHTƯ Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 18 để bàn phương hướnglãnh đạo cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới Trên cơ sở phân tích, đánh giáchiến lược, Hội nghị Trung ương đề ra là phải đẩy mạnh tiến công toàn diện, tiếncông cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vận dụng sáng tạo phương châm tiếncông trên cả ba vùng chiến lược, lấy nông thôn là hướng tiến công chính Về mặttác chiến và xây dựng LLVT, Trung ương chỉ rõ: “Cần tiếp tục đẩy mạnh tác
Trang 24chiến chính quy của bộ đội chủ lực”, khắc phục khuynh hướng muốn phân tán
bộ đội để đánh nhỏ lẻ hoặc chống phá bình định ở cơ sở; đồng thời phải “kiênquyết thực hiện cho kỳ được một chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào chiếntranh du kích ở địa phương”, phát triển cả ba thứ quân, chú trọng lực lượng tinhnhuệ trong cả ba thứ quân, tăng cường các LLVT tại chỗ Đối với miền Bắc,nghị quyết Trung ương nêu rõ: “Cần tiếp tục sự nghiệp xây dựng CNXH khẩntrương, có kế hoạch làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyếnlớn, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt, đánh bại mọi cuộc khiêukhích vũ trang hoặc mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc của đế quốc Mỹ;
ra sức làm nhiệm vụ quốc tế, chi viện cho cách mạng Lào, chuẩn bị cùng phốihợp chặt chẽ với quân và dân Lào để đối phó với khả năng xấu nhất khi địch mởrộng chiến tranh ra Lào và Campuchia”[33,88]
Với những thắng lợi lớn mà quân và dân ta vừa giành được, ngày 1 tháng
6 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận định cục diện cuộc khángchiến đã có điều kiện để tiến lên đánh bại về cơ bản chiến lược “Việt Nam hoáchiến tranh” Nghị quyết nêu rõ: Mọi hoạt động của miền Bắc phải thật sự khẩntrương chuyển hướng nhằm đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu cho phù hợp vớithời chiến, bảo đảm hậu phương làm tốt nghĩa vụ chi viện cho tiền tuyến
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, từ cuối năm 1969 đến năm 1971,quân dân miền Bắc đã củng cố hậu phương vững mạnh và phát huy vai trò to lớnđối với tiền tuyến, góp phần quyết định vào những chiến thắng trong các năm
1971 - 1972 Mặc dù địch tăng cường đánh phá, nhưng khối lượng chi viện vậtchất cho miền Nam ngày càng tăng, năm 1969 được 2 vạn tấn, năm 1970 lên 4vạn tấn, năm 1971 là 6 vạn tấn Miền Bắc tăng viện một lực lượng bộ binh vàđặc công đông tới 19,5 vạn người, giúp chiến trường duy trì và tăng cường sứcchiến đấu Cuối tháng 5 - 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết địnhchuyển mọi hoạt động của miền Bắc cho phù hợp với tình hình mới, phát động
Trang 25cuộc chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tiếptục làm nhiệm vụ tăng viện cho các chiến trường Quân và dân miền Bắc đã kiêncường đánh trả địch, bắn rơi hàng trăm máy bay, bắn cháy nhiều tàu chiến Mỹ.Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai mà đỉnh cao là cuộc tập kích chiến lượcđường không bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc diễn ra gần 9tháng (từ ngày 6 - 4 đến ngày 29 - 12 - 1972) đã bị quân và dân ta đánh thắnghoàn toàn Miền Bắc thực hiện nhiều biện pháp vượt qua sự phong toả của địch,
tổ chức tiếp nhận hàng viện trợ của các nước bạn và tăng cường chi viện cho tiềntuyến Khối lượng hàng vận chuyển cho các chiến trường tăng 1,7 lần so vớinăm 1971; đối với các chiến trường xa cũng tăng 1,4 lần
Các LLVT được tăng cường về số lượng và chất lượng theo yêu cầu,nhiệm vụ và quy mô mới của cuộc chiến đấu chống không quân, hải quân của
Mỹ Lực lượng phòng không phát triển thêm 1 sư đoàn, 3 trung đoàn, 20 tiểuđoàn, được trang bị thêm pháo cao xạ, tên lửa, ra đa và nhiều khí tài kỹ thuậtmới Thêm nhiều binh chủng chiến đấu và phục vụ được thành lập Chỉ trongmột thời gian ngắn, LLVT tập trung trên miền Bắc phát triển thêm 10% Bộ độichủ lực các quân khu miền Bắc tăng gấp hai lần, riêng ở Quân khu 4 tăng gấpnăm lần Lực lượng bắn máy bay, tàu chiến của dân quân, tự vệ tăng nhanh,được trang bị khá mạnh, tổ chức thích hợp Đến giữa năm 1972, ngoài tổ, độitrực chiến, dân quân tự vệ miền Bắc đã tổ chức hàng chục đại đội trang bị pháocao xạ 37mm, 57mm đến 100mm Các lực lượng phòng không ba thứ quân miềnBắc đã bước vào cuộc chiến đấu mới, bắn rơi nhiều máy bay, bắn cháy nhiều tàuchiến Mỹ, bảo đảm được các tuyến giao thông chiến lược không tắc nghẽn đểchi viện cho tiền tuyến Lực lượng rà phá bom mìn, thủy lôi được tổ chức rộngkhắp mà nòng cốt là các đơn vị chuyên môn của hải quân, bộ đội công binh chủlực và địa phương Kết hợp lòng dũng cảm và trí thông minh, quân đội đã cùngnhân dân các địa phương tháo gỡ và phá hủy hàng nghìn quả bom và thủy lôi,
Trang 26làm thất bại thủ đoạn phong tỏa, ngăn chặn của địch, giữ vững mạch máu giaothông vận tải trên bộ và trên sông, biển, tăng cường khối lượng hàng vận chuyểnbằng đường bộ và đường thủy vào các chiến trường.
Thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam cùngvới thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ trênmiền Bắc, đặc biệt là chiến công oanh liệt đập tan cuộc tập kích đường khôngchiến lược những ngày cuối năm 1972, là hai thắng lợi chiến lược thúc đẩy vàhoà nhịp với thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, góp phần quyết định “đánh cho
Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, làm thất bại về cơ bản chiến lược “Việt Nam hoáchiến tranh” của chính quyền Nichxơn Thắng lợi đó, trước hết là thắng lợi rực
rỡ của sự chỉ đạo chiến lược tài giỏi và sắc bén của Bộ Chính trị Trung ươngĐảng ta và là thành công nổi bật của quyết tâm và tài tổ chức thực hiện kiênquyết và sáng tạo của các cấp từ Bộ Tổng tư lệnh đến chỉ huy và lãnh đạo cácchiến trường, của toàn thể nhân dân và LLVT ta trên cả hai miền Nam, Bắc
* Xây dựng lực lượng vũ trang khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc, dồn sức giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (1973 - 1975)
Sau hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết ngày 27 - 1 - 1973 đến cuốitháng 3 - 1973, tất cả các đơn vị quân đội Mỹ và quân đội chư hầu còn lại đã rúthết về nước Nhưng chiến tranh xâm lược thực dân mới không hề chấm dứt Vớikhối lượng viện trợ ồ ạt trước ngày 27 - 1 - 1973, Mỹ chủ trương hiện đại hoáquân đội ngụy bằng kế hoạch quân sự 6 năm (1974 - 1979) Năm 1973, quânchính quy ngụy tăng lên 710.000 tên, cùng 1,5 triệu bảo an dân vệ được Mỹtrang bị đầy đủ Cũng trong năm đó, Mỹ lại đưa thêm vào miền Nam 90 máybay, 100 pháo và khối lượng lớn phương tiện chiến tranh Với khối lượngphương tiện chiến tranh và quân số lớn, Mỹ - ngụy âm mưu tiêu diệt các LLVT
và lực lượng chính trị cách mạng, xoá bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân
Trang 27đội và ba lực lượng hiện có, biến miền Nam Việt Nam thành lãnh thổ chỉ có mộtchính quyền tay sai của Mỹ
Theo chủ trương của Mỹ, ngụy quyền Sài Gòn liên tiếp mở hàng loạtchiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” Ngay trong đêm 27-1-1973, Mỹ - ngụy đưaquân địch chiếm cảng Cửa Việt (Quảng Trị) Trong năm 1973, với 325.255 vụhành quân lấn chiếm, địch đã chiếm lại hầu hết các vùng giải phóng mới và một
số vùng giải phóng cũ
Ngày 28-1-1973, BCHTƯ Đảng đã khẳng định: Cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi rất vẻ vang, song Mỹ - ngụy vẫn chưa từ
bỏ âm mưu phá hoại hoà bình, ngăn trở con đường độc lập, thống nhất của nhândân ta Trong tháng 1- 1973, Bộ Chính trị thông qua nghị quyết của Quân uỷTrung ương về trường hợp địch vi phạm Hiệp định Pari, các LLVT cần chuẩn bịsẵn sàng đối phó với các cuộc tiến công quân sự của địch, trước mắt đòi ngụyquyền Sài Gòn nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Pari
Chiến tranh chuyển lên quy mô lớn, yêu cầu mở rộng LLVT và bổ sungtổn thất đặt ra hết sức khẩn trương Yêu cầu đó chủ yếu đặt lên vai hậu phươngmiền Bắc Tháng 7 - 1973, khi nhiệm vụ tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân
sự địch được đặt ra một cách cấp bách, thì Đảng ta chỉ rõ nhiệm vụ củng cố vàphát triển ba thứ quân thật mạnh mẽ Hội nghị Trung ương lần thứ 21 BCHTƯĐảng (khoá III) ra Nghị quyết “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong những giai đoạncách mạng mới” Nghị quyết chỉ rõ: “ Làm cho bộ đội chủ lực thành lực lượngrất tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, cơ động và linh hoạt”, “xây dựng bộ đội địaphương thành một lực lượng vũ trang cách mạng của quần chúng, nằm trongquần chúng, đồng thời cũng là một lực lượng chính trị của quần chúng”, “ra sứcphát triển DQTV, du kích thành một LLVT mạnh của quần chúng [36,244-245]
Trang 28Tháng 12 - 1973, Hội nghị lần thứ 22 BCHTƯ Đảng (khoá III) họp bàn vềkhôi phục kinh tế ở miền Bắc Hội nghị xác định nhiệm vụ của miền Bắc tronggiai đoạn mới là vừa tranh thủ điều kiện hoà bình để hàn gắn vết thương chiếntranh, khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng CNXH, ổnđịnh đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực mọi mặt của hậu phương, vừa phảiluôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi âm mưu và hành độngcủa địch Đồng thời miền Bắc còn thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn là chiviện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tếvới Lào và Cămpuchia.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21, 22 của BCHTƯ Đảng (khoáIII) Tháng 10 - 1973, Bộ Chính trị phê chuẩn kế hoạch của Quân uỷ Trung ương
và Bộ Quốc phòng xây dựng các quân đoàn chủ lực Chấp hành nghị quyết của
Bộ Chính trị, LLVT nhân dân ta đã tích cực củng cố về tổ chức và bố trí lựclượng, từ tháng 10 - 1973 đến tháng 3 - 1975, 4 quân đoàn chủ lực lần lượt rađời Song song với việc hình thành và bố trí các quân đoàn trên các địa bàn chiếnlược, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Bộ Quốc phòng và cácquân khu cũng được tăng cường Từ cuối năm 1973, các cuộc tập huấn cán bộquân sự được tổ chức để nâng cao nghệ thuật tổ chức và chỉ huy các chiến dịchtiến công, chiến dịch phòng ngự Trong những năm 1973 - 1975, đã có gần nửatriệu thanh niên nhập ngũ, lên đường ra mặt trận Tháng 11 - 1973, Hội đồngchính phủ phê chuẩn thiết kế xây dựng hệ thống đường vận tải chiến lượcTrường Sơn Đông và nâng cấp đường Trường Sơn Tây Tháng 1 - 1975, xăngdầu vận hành bằng đường ống đã vào đến miền Đông Nam Bộ
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, tình hình so sánh lực lượng ở miền Namthay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng, Hội nghị Bộ Chính trị (từ 30 - 9 đến 7 -10
- 1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ( từ 18 - 12 - 1974 đến 8 - 1 -1975) đãbàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam
Trang 29Nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sựchuẩn bị đầy đủ lực lượng, quân và dân ta đã bất ngờ mở cuộc Tổng tiến công vànổi dậy mùa Xuân 1975 trên toàn chiến trường miền Nam bằng thế mạnh ápđảo, tiến công thần tốc, tiêu diệt và đánh tan quân ngụy đông hàng triệu tên, lật
đổ ngụy quyền tay sai, giành toàn thắng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam,thống nhất Tổ quốc
1.2.2 Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1975
* Chủ trương phát triển lực lượng vũ trang trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất do đế quốc Mỹ gây ra (1965-1968)
Đến đầu năm 1965, kế hoạch Taylơ đã tiêu tan, kế hoạch MacNamaracũng phá sản, Tổng thống Mỹ Giônxơn quyết định tăng cường quân cùng nhiềuphương tiện chiến tranh vào miền Nam; đồng thời tiến hành cuộc chiến tranhbằng không quân, hải quân phá hoại miền Bắc Việt Nam
Nằm trong âm mưu chung đánh vào hậu phương miền Bắc, tỉnh Nghệ An
là một trong những trọng điểm phá hoại tàn bạo của địch và là nơi bị đánh pháđầu tiên trên miền Bắc Ngày 11 - 2 - 1965, hai máy bay Mỹ đánh vào đoàn xevận tải của ta đang vượt cửa khẩu Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) Tám giờ sáng 23 -
2 -1965, máy bay Mỹ từ phía Lào đến đánh phá Nậm Cắn, tiếp đó từ 12 giờ đến
16 giờ ngày 15 - 3 1965 có 12 lần /tốp, 46 lần/ chiếc máy bay A4, F4, F8 liêntiếp dội bom xuống khu vực kho Cát Mộng (huyện Nghĩa Đàn), cảng Bến Thuỷ.Ngày 19 - 3, 54 lần/ tốp, 162 lần/ chiếc đánh vào doanh trại sư đoàn 324, Đồi Si,kho lương thực Chợ Sỏi (huyện Đô Lương) Ngày 30 - 3, 250 lần/ chiếc đánhphá sân bay Vinh và đài quan sát Rú Cấm (huyện Nghi Lộc) Ngày 31 - 3, đánhphá thuyền bè dọc Sông Lam…
Trang 30Tình hình đó đặt ra cho cách mạng miền Bắc nói chung và tỉnh Nghệ
An nói riêng nhiệm vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,đồng thời vừa ra sức chiến đấu vừa tiếp tục xây dựng CNXH trong điều kiệnchiến tranh và làm nghĩa vụ hậu phương lớn Để đưa phong trào cách mạngcủa tỉnh nhà chuyển kịp với tình hình khẩn trương của cách mạng cả nước,Tỉnh uỷ Nghệ An chủ trương: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựnghậu phương XHCN vững mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt sản xuất vàchống chiến tranh phá hoại, đồng thời tạo điều kiện đối phó thắng lợi với mức
độ chiến tranh mở rộng, tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng của cảnước và cách mạng Lào” [58,134]
Lực lượng vũ trang địa phương đã được đảng bộ và nhân dân xây dựng
từ thời bình Tuy vậy, để đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân,hải quân của đế quốc Mỹ, LLVT phải được tăng cường số lượng, chất lượngtoàn diện Ngày 27 - 2 - 1965, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị 05 về “Tăngcường công tác tư tưởng và tổ chức, ra sức chuẩn bị chiến đấu và chiến đấuthắng lợi trong mọi tình huống” Mục tiêu chính là phát triển lực lượng vũ trang,xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, sẵn sàng chiến đấu đánh thắng địch, bảo
vệ tính mạng, tài sản nhân dân, bảo vệ an toàn các công trình kinh tế trọng điểm,then chốt, bảo vệ địa bàn
Quán triệt chủ trương của Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh quân khu 4 vềphát triển LLVT, Tỉnh uỷ Nghệ An chủ trương xây dựng LLVT cả về sốlượng, chất lượng và vũ khí, trang, thiết bị Trong đó coi trọng nâng cao chấtlượng chính trị Thực hiện chủ trương đó, lực lượng BĐĐP được tăng cường
cả số lượng và chất lượng, đội ngũ cán bộ chỉ huy được bổ sung phù hợp vớitình hình mới Lực lượng DQTV ở các khu phố, xã phường, cơ quan, xínghiệp, công, nông, lâm trường hình thành, được trang bị vũ khí tương đốihiện đại Các vùng trọng điểm như tuyến biên giới Việt - Lào, bờ biển, Thành
Trang 31phố Vinh, thị trấn Thái Hoà…được tỉnh bố trí lực lượng mạnh, xây dựngvững chắc trận địa chiến đấu Lực lượng DBĐV được quản lý chặt chẽ, tổchức huấn luyện bổ sung, sẵn sàng động viên khi có lệnh Công tác tuyển gọithanh niên nhập ngũ thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả cao đáp ứng yêu cầu
bổ sung cho quân đội và chi viện cho tiền tuyến
Trước ngày lễ Nô-en 25 - 12 - 1966, đế quốc Mỹ tập trung đánh phá rấtmạnh vào các tỉnh từ Thanh Hoá trở ra để chặn các tuyến vận chuyển hàng vàoQuân khu 4 đi các chiến trường, đồng thời chúng tập trung đánh băm nát từngđoạn đường, bến vượt ở Nghệ An và các tỉnh phía Nam khu 4 Riêng cầu Cấmngày 24 - 12 - 1966 chịu 8 trận bom với 110 quả, ngày 5 - 1 - 1967 có 108 máybay tiến công bằng tên lửa và ném 200 quả bom làm hỏng cầu đường sắt và bămnát hơn 100m đường bộ phía Nam cầu Cấm Ngày 26 - 1 và ngày 5 - 2 - 1967,chúng đánh nát 8 trọng điểm trên quốc lộ 1 đoạn qua Nghệ An
Mặc dù công tác phòng không, sơ tán, xây dựng LLVT đã được tiến hànhkhẩn trương, nhưng do địch đánh phá ác liệt trên diện rộng nên gây cho tỉnhnhững khó khăn mới Ngày 17 - 7 - 1965, Tỉnh uỷ họp quyết định đẩy mạnhviệc chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng tronghai năm 1966 - 1967 Tỉnh uỷ chủ trương: “Ra sức xây dựng lực lượng vũ trangvững mạnh, làm tốt công tác trị an, quốc phòng, đánh thắng chiến tranh phá hoạitrong mọi tình huống, chuẩn bị đối phó với chiến tranh cục bộ của Mỹ và taysai” Thực hiện Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước kiên trì và quyết tâmđánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh (17 - 7 - 1966) Tỉnh
đã phát động nhiều phong trào hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Bác Hồ,
ra sức thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, thiết thực góp phần chống Mỹ, cứunước, xây dựng CNXH Hàng chục vạn thanh niên Nghệ An nô nức viết đơntình nguyện “sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cầnđến” Nhiều lá đơn viết bằng máu, thể hiện rõ nguyện vọng thiết tha được cầm
Trang 32súng ra chiến trường giết giặc, cứu nước Hàng chục vạn lá đơn của cá nhân, tậpthể đăng ký “làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” Hơn 90% chị em phụ nữđăng ký đảm nhiệm việc hậu phương, để người thân yên tâm lên đường ra trận.
Trong 3 năm (1965 - 1967) tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc đãkhông đạt được mục đích, ngược lại bị thất bại nặng nề, hao người, tốn của nên
Mỹ buộc phải dùng thủ đoạn mới Chúng buộc phải tuyên bố “ném bom hạnchế” miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào, kể từ ngày 31 - 3 - 1968 và ngừng hoàntoàn ném bom, bắn phá miền Bắc từ 1 - 11 - 1968 Với tuyên bố đó, đế quốc Mỹ
hy vọng sẽ lừa bịp được dư luận thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ rằng chúng đãxuống thang chiến tranh và có “thiện chí hoà bình” Thực chất của việc “némbom hạn chế” là để tập trung máy bay, tàu chiến, bom đạn đánh phá từ vĩ tuyến
17 đến vĩ tuyến 20, đây là vùng đất nhỏ, hẹp, chỉ bằng 1/4 diện tích miền Bắc,tạo nên những “toạ độ lửa”, hòng ngăn chặn sự chi viện của nhân dân miền Bắccho tiền tuyến miền Nam, mà Nghệ An là một trọng điểm Tại đây, chúng đánhphá rất ác liệt, thậm chí có mục tiêu chúng đánh đi đánh lại nhiều lần trong ngày.Chúng sử dụng bom bi kết hợp bom sát thương phá huỷ xứ đạo Vạn Lộc, QuyChính (Nam Đàn), xứ đạo Xã Đoài (Nghi Lộc) Ngày 4 - 4 - 1968, chúng némbom nhà thờ Ngọc Liễn, làm chết 30 người Ngày 26 - 4 - 1968, chúng ném bomvào trường học xã Nam Thịnh (Nam Đàn), Thanh Xuân (Thanh Chương), Yên
Lý (Diễn Châu)…, giết hại nhiều giáo viên và học sinh Tại các huyện DiễnChâu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Thành phố Vinh có gần 60% số hợptác xã bị địch đánh phá, gây thiệt hại nặng về người và tài sản
Để đối phó với thủ đoạn “ném bom hạn chế” của đế quốc Mỹ, ngày 2 3
-1967, Tỉnh uỷ chỉ thị tiếp tục làm tốt phòng không nhân dân, đưa công tác phòngkhông vào nề nếp thường xuyên và lâu dài, tăng cường xây dựng LLVT Ngày 8 -
5 - 1968, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ họp, ra nghị quyết về “tình hình nhiệm vụ cấpbách” trong đó vạch rõ: “Nâng cao cảnh giác, nhận thức đúng tình hình, chủ động
Trang 33phòng tránh, đánh địch tốt, củng cố, phát huy mọi lực lượng, kết hợp tốt sản xuất,chiến đấu, thực hiện trực chiến trường thường xuyên Chuẩn bị mọi phương tiện,điều kiện bảo đảm thông suốt các tuyến đường giao thông trong mọi tình huống,thực hiện quân sự hoá lực lượng bảo đảm giao thông vận tải”[58,183-184] Thựchiện chủ trương của Tỉnh uỷ Nghệ An, LLVT được tăng cường về số lượng vàchất lượng cũng như tổ chức biên chế, trang bị, làm nòng cốt cho công tác phòngtránh, đánh trả địch và bảo đảm giao thông
Công tác bảo đảm giao thông được tỉnh tổ chức thành hệ thống từ xã lêntỉnh, lấy cơ quan quân sự làm tham mưu cho cấp uỷ, đồng thời thống nhất việc
tổ chức, chỉ huy sử dụng lực lượng Do đó đã vượt qua những trận đánh phángăn chặn quyết liệt của máy bay, tàu chiến Mỹ, các mạch máu giao thông của
ta vẫn thường xuyên được giữ vững bảo đảm yêu cầu phục vụ chiến đấu và sảnxuất
Lực lượng phòng không tỉnh được triển khai rộng khắp, hình thành nênlưới lửa phòng không nhân dân, Tỉnh lấy công tác phòng tránh kết hợp chặt chẽvới xây dựng làng xã chiến đấu, kết hợp được giữa sản xuất và phòng tránh,đánh địch, đã tạo thành phong trào rộng rãi trong nhân dân, góp phần thắng lợivào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương trên địa bàn tỉnh
* Xây dựng lực lượng vũ trang đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ (1969 - 1972)
Ngày 1 - 11 - 1968, do bị thất bại nặng nề ở hai miền Nam- Bắc nước ta,
đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện, chấpnhận đại diện của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hộinghị Pari Miền Bắc tạm thời có hoà bình, miền Nam tiếp tục chiến đấu đánh bại
âm mưu chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ
Cùng với nhân dân miền Bắc, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An hân hoanphấn khởi trước những thắng lợi lớn, chuyển mọi hoạt động sang trạng thái hòa
Trang 34bình, ra sức thực hiện những chủ trương mới của Đảng Đảng bộ tỉnh Nghệ An
đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1969: “Tiếp tục giương cao ngọn cờ cáchmạng tiến công, nâng cao tư tưởng ngoan cường dũng cảm, tinh thần làm chủtập thể, vượt mọi khó khăn gian khổ; hết sức tranh thủ mọi thuận lợi của tìnhhình mới, làm hết sức mình chi viện cho miền Nam và cách mạng Lào, đồngthời tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi
âm mưu, thủ đoạn của địch Phát huy thành quả mọi mặt trong những năm quacũng như khả năng tiềm tàng to lớn của tỉnh, đẩy mạnh xây dựng và phát triểnkinh tế địa phương lên một bước mới, toàn diện nhanh chóng và vững chắc,nhằm phục vụ yêu cầu cách mạng cả nước, tăng cường kinh tế, quốc phòngtrong tỉnh, nâng cao từng bước đời sống nhân dân Tranh thủ thời gian củng cốquốc phòng, kinh tế về mọi mặt”[58,196]
Nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, yêu cầu bứcxúc nhất là tháo gỡ bom mìn chưa nổ Tỉnh chủ trương tăng cường lực lượng ràphá bom mìn và chỉ đạo các cấp, các ngành phát động toàn dân tranh thủ thời cơnhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đờisống Mặc dù đã giành lại hoà bình ở miền Bắc, nhưng Trung ương Đảng, Chínhphủ và Quân uỷ Trung ương, Bộ quốc phòng vẫn chỉ thị cho các địa phươngvạch rõ âm mưu của địch và đôn đốc giữ vững cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, đặcbiệt quan tâm công tác phòng không nhân dân, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội Đặc biệt, chỉ thị 09/CP ngày 16 - 1 - 1969 của chính phủ về công tácphòng không nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh: “Đế quốc Mỹ tuybuộc phải chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc nhưng chúng còn nhiều âmmưu nham hiểm để bám lấy miền Nam Việt Nam Chúng ta cần cảnh giác đềphòng trường hợp không thực hiện được âm mưu của chúng và bị thua quá đau
ở miền Nam, đế quốc Mỹ còn có thể liều lĩnh trở lại đánh phá miền Bắc” Cũngtrong chỉ thị đó, Chính phủ yêu cầu các địa phương “phải thật sự đề phòng, tích
Trang 35cực chuẩn bị để chủ động đối phó và làm cho kẻ địch thất bại nặng nề khi chúngtrở lại đánh phá miền Bắc”[3,170].
Thấu suốt tình hình và nhiệm vụ của tỉnh trước những diễn biến mới, thực
hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi” Tỉnh uỷ Nghệ An vừa lãnh
đạo khôi phục kinh tế, ổn định đời sống trong điều kiện có hoà bình vừa đặc biệtquan tâm lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, xây dựng LLVT Đầu năm
1969, Tỉnh ủy phổ biến, quán triệt trong toàn Đảng bộ và trong LLVT các chỉthị, nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ mới Hội nghị toàn thể Ban chấp hành tỉnhđảng bộ từ ngày 3 đến ngày 11 - 2 - 1969 xác định nhiệm vụ của đảng bộ, nhândân và LLVT Nghệ An năm 1969 là: Tiếp tục giương cao ngọn cờ cách mạngtiến công, nâng cao tư tưởng ngoan cường, dũng cảm, tinh thần làm chủ tập thể,vượt mọi khó khăn, gian khổ, hết sức tranh thủ mọi thuận lợi của tình hình mới,làm hết sức mình chi viện cho cách mạng miền Nam và cách mạng Lào, đồngthời tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao cảnh giác sẵn sàng đập tan mọi
âm mưu thủ đoạn mới của địch
Trên chiến trường miền Nam, âm mưu “bóp nghẹt” của đế quốc Mỹ đangtiếp diễn, kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh” đang gấp rút thực thi hòng đemlại ít nhiều kết quả quân sự để xoa dịu làn sóng bất bình, phản đối cuộc chiến ởViệt Nam trong nhân dân và chính ngay quốc hội Mỹ Tuy bị sa lầy ởCampuchia, thua đau ở Lào nhưng qua những tin tức và hành động của địch báohiệu cho thấy chúng đang ấp ủ một ý đồ, một cuộc phiêu lưu quân sự mới, liềulĩnh hơn Từ ngày 21 - 11- 1970, Mỹ ráo riết chuẩn bị dư luận, phao tin về mộtcuộc tiến công bằng lục quân ra phía bắc vĩ tuyến 17 Một thách thức mới sẽdiễn ra với quân và dân ta, không những là Nam vĩ tuyến 17 mà còn là sự tháchthức đối với quân và dân Nghệ An
Trang 36Thực hiện yêu cầu của Quân ủy Trung ương đối với lực lượng vũ trangQuân khu 4, Nghị quyết của Đảng uỷ Quân khu 4 (4 - 1969) về sẵn sàng chiếnđấu nêu rõ: Nhiệm vụ chính trị của LLVT quân khu là “Hướng ra chiến trường,hướng vào chiến đấu, tập trung nâng cao chất lượng” Phương hướng xây dựnglực lượng là “Tích cực thực hiện phương hướng xây dựng tỉnh đội mạnh trởthành chiến lược của chiến tranh nhân dân, xây dựng bộ đội địa phương có khảnăng tự mình đảm nhiệm bảo vệ hậu phương mình vừa sẵn sàng chiến đấu ở B,
C, xây dựng dân quân tự vệ chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi, vừa chiến đấu phục
vụ chi viện chiến trường gần B, C khi có yêu cầu”[3,173] Tỉnh uỷ chủ trươngcủng cố, bổ sung lực lượng bộ đội địa phương của tỉnh về quân số và trang bị,duy trì lực lượng dân quân tự vệ như hiện có, điều chỉnh một số đơn vị trựcchiến tại các trọng điểm Ngày 24 - 2 - 1971, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An
ra nghị quyết: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết tiêu diệt địch, đậptan mọi âm mưu chiến tranh của Mỹ đối với miền bắc và quê hương NghệAn”[58,217] Nghị quyết dự kiến 3 tình huống: 1- Địch tăng cường đánh phábằng không quân, ném bom trở lại miền Bắc ác liệt hơn; 2- Địch tập kích bằngcác lực lượng biệt kích quy mô nhỏ và vừa, đánh phá nhanh rồi rút nhanh; 3-Địch tấn công hạn chế bằng lục quân với quy mô khác nhau Nghị quyết nhấnmạnh: “Dù tình huống nào thì chiến tranh ở Nghệ An cũng sẽ diễn ra hết sức ácliệt và tàn bạo” Khẩu hiệu hành động của quân dân Nghệ An lúc này là: “chiếnđấu, sẵn sàng chiến đấu; sản xuất, đẩy mạnh sản xuất”; “bất cứ kẻ địch đánhphá bằng hình thức nào, thời gian nào, với quy mô, lực lượng như thế nào,chúng ta cũng phải kiên quyết đánh địch ngay tại chỗ, đánh địch bằng mọi lựclượng và phương tiện, quyết đánh thắng địch hoàn toàn, giữ vững giao thôngthông suốt, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ cơ quan, khotàng, đồng thời vẫn đẩy mạnh sản xuất và ổn định đời sống nhân dân”[58,217]
Để thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 12 - 10 - 1971, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra
Trang 37Nghị quyết về một số công tác quốc phòng trong tỉnh, quyết nghị về xây dựngLLVT, trong đó nêu rõ : “Nhiệm vụ tác chiến và xây dựng lực lượng là trướchết; Duy trì lực lượng chiến đấu trên chiến trường C; Thực hiện tốt nhiệm vụtuyển quân, chi viện cho tiền tuyến; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớilực lượng dân quân tự vệ : “Phải ra sức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cả
về số lượng và chất lượng để đáp ứng ngày càng cao nhiệm vụ chống Mỹ cứunước”[3,202]
Thực hiện chủ trương đó, Tỉnh uỷ tăng cường, bổ sung cán bộ chỉ huychiến đấu có kinh nghiệm ở cấp tỉnh; quán triệt tư tưởng chỉ đạo lấy lực lượngtại chỗ là chính, phát huy sức mạnh của địa phương do đó lực lượng bộ đội địaphương và dân quân tự vệ được điều chỉnh, bổ sung, tăng cường, đồng thờiquyết định tăng cường quân số và trang bị cho các lực lượng theo phương ánphòng thủ mới
Để tiến tới đại hội đảng bộ tỉnh, đại hội đại biểu Đảng bộ quân sự tỉnhNghệ An lần thứ nhất được triệu tập vào ngày 5, 6 - 2 - 1972 Đại hội đánh giácao kết quả lãnh đạo các LLVT trong những năm qua, mà tiêu biểu nhất là từnăm 1964 đến nay Đại hội đề ra phương hướng xây dựng LLVT tỉnh nhà vữngmạnh toàn diện Đại hội chỉ rõ “Trước mắt tập trung lãnh đạo các LLVT tỉnh,
cơ quan quân sự các cấp trong tỉnh sẵn sàng chiến đấu cao, đánh địch trong mọitình huống bảo vệ vững chắc lãnh thổ và sẵn sàng cơ động ra phía trước” Đạihội đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc của LLVT tỉnh được tôi luyện vữngvàng và có hệ thống tổ chức chặt chẽ
Năm 1972, năm cuối cùng của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”.Nichxơn chủ trương giữ cho chiến lược này không bị sụp đổ tạo thế mạnh ở hộinghị Pari Chúng vừa dùng thủ đoạn ngoại giao (như thăm Liên Xô, TrungQuốc) vừa đẩy mạnh bình định miền Nam, mở rộng chiến tranh ra toàn ĐôngDương Sau đòn tiến công chiến lược của ta, Mỹ vội vàng “Mỹ hoá trở lại cuộc
Trang 38chiến tranh” Ngày 6 - 4 - 1972, đế quốc Mỹ tuyên bố dùng không quân, hảiquân tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, mà theo chúng thìcuộc tiến công bằng không quân và hải quân Mỹ lần này là một “hành độngquân sự quyết định” để cứu cho ngụy quân khỏi bị thất bại, ngụy quyền SàiGòn khỏi bị sụp đổ Do đó mà biện pháp tiến hành chiến tranh phá hoại lần này
là nhảy thang ồ ạt, đánh phá không hạn chế, sử dụng mọi phương tiện có thể sửdụng được, gây ác liệt ngay từ đầu và cố thực hiện những chiến dịch có tínhchất quyết định
Với mục đích điên rồ và biện pháp tàn bạo như vậy, tại Nghệ An, ngày
10 - 4 - 1972, đế quốc Mỹ đã cho nhiều tốp máy bay (trong đó có 9 máy baychiến lược B52, lần đầu tiên xuất hiện trên bầu trời miền Bắc) ào ạt ném bom,bắn phá các xã Hưng Hoà, Hưng Dũng, Nghi Phú, Nghi Kim, Hưng Đông,Thành phố Vinh Từ ngày 12 đến ngày 17 - 4 - 1972, hải quân Mỹ với từng hảiđội từ 3 đến 5 chiếc bắn phá ác liệt vào đảo Mắt, đảo Ngư và dọc bờ biển cáchuyện Quỳnh Lưu, Nghi Lộc Từ ngày 23 - 10 - 1972 đến ngày 15 - 1 - 1973,
Mỹ dây dưa không chịu ký Hiệp định Pari; chúng tuyên bố ngừng đánh phá vĩtuyến 20 nhưng lại tập trung đánh phá quân khu 4 với cường độ cao gây tổnthất lớn về người và tài sản của nhân dân
Theo Lời kêu gọi của Trung ương Đảng và mệnh lệnh của Bộ Quốcphòng, ngày 17 - 4 - 1972: “Quân và dân cả nước kiên quyết vượt qua mọi khókhăn gian khổ, mọi hy sinh đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, đánh bạichiến tranh phá hoại lần thứ 2 vào miền Bắc của chúng, bảo vệ miền Bắc, giảiphóng miền Nam, tiến tới hoà bình, thống nhất đất nước” Tất cả các LLVTđều chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao Quân và dân Nghệ An đã dấylên cao trào hành động cách mạng để đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng đó LLVTNghệ An cùng quân, dân cả nước đã anh dũng chiến đấu bắn cháy nhiều máybay, tàu chiến của đế quốc Mỹ
Trang 39Trong bối cảnh đó, Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An quyết định triệu tậpĐại hội Đảng bộ Nghệ An lần thứ XII (trong văn kiện ghi là lần thứ VIII) từ ngày
15 đến 25 - 4 - 1972 Đại hội nhất trí nhận định rằng: “Trong hoàn cảnh phải đốiphó với một cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ với quy mô lớn nhất từtrước tới nay, thiên tai liên tiếp xẩy ra, hàng chục vạn lao động, hàng triệu ngàycông được huy động phục vụ tiền tuyến, quân và dân tỉnh ta đã góp phần cùng cảnước đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm tốt nghĩa vụ đối với tiềntuyến, bảo vệ, khôi phục và phát triển kinh tế, căn bản ổn định đời sống nhân dân,xứng đáng với vị trí là một trong những tỉnh tuyến đầu miền BắcXHCN”[58,226] Trên cơ sở quán triệt các Nghị quyết 19, 20 của Trung ươngĐảng và chỉ đạo trực tiếp của Ban bí thư Trung ương đối với tỉnh Nghệ An Đạihội quyết định nhiệm vụ chính trị trong những năm tới và chủ trương xây dựnglực lượng vũ trang là: “Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao ý chíquyết chiến quyết thắng và tinh thần cảnh giác cách mạng, ra sức xây dựng lựclượng quân sự địa phương vững mạnh toàn diện, tổ chức và phát động tốt chiếntranh nhân dân, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ đối với tiền tuyến, sẵn sàng đập tanmọi âm mưu và hành động phiêu lưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, bảo vệthắng lợi sự nghiệp xây dựng CNXH”[58,227-228] Thực hiện Nghị quyết củaĐại hội, Đảng uỷ - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chuyển ngay hoạt đông LLVT tỉnhvào thời chiến và phát triển thêm lực lượng mới theo yêu cầu thời chiến
Qua diễn biến của cuộc chiến tranh phá hoại mới, nhận rõ hơn âm mưu,thủ đoạn của địch, đồng thời cả một số nhược điểm của ta cũng bộc lộ rõ Nhưhiệu suất đánh máy bay, tàu chiến của LLVT trong tỉnh chưa cao, kết quả bảođảm giao thông vận tải thấp, phòng tránh sơ tán chưa đúng mức, chuẩn bị đốiphó với cuộc tiến công hạn chế của địch chưa đầy đủ Từ thực tế đó và trên cơ sởquán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết 220 của Bộ Chính trị ngày 1 - 6 - 1972
về “chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh
Trang 40thắng giặc Mỹ xâm lược” Tỉnh uỷ kiểm điểm đánh giá và đề ra phương hướngtrong thời gian tới: “Thực hiện chủ trương nâng cao hiệu suất, chất lượng chiếnđấu của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, đánh bại các thủ đoạn đánh phácủa máy bay, tàu chiến địch Tăng cường xây dựng lực lượng phòng không tỉnhmạnh; phát triển lực lượng và cách đánh của dân quân tự vệ; nâng cao hiệu lựclãnh đạo, chỉ huy, kết hợp phát huy sức mạnh của quần chúng” Quyết tâm đócủa Tỉnh uỷ càng đi sâu vào quần chúng và LLVT, thúc đẩy khí thế tiến côngmới, giành thêm thắng lợi mới Quân và dân Nghệ An đã góp phần cùng miềnBắc và cả nước đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ.Buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27 - 1 - 1973 Thắng lợi củahiệp định Pari cũng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ta ở miền Bắctiếp tục công cuộc xây dựng CNXH, dốc lòng, dốc sức làm nghĩa vụ chi việncho tiền tuyến miền Nam, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
* Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, chi viện cho tiền tuyến giải phóng hoàn toàn miền Nam (1973-1975)
Bước sang giai đoạn mới, những thuận lợi cơ bản là đã chấm dứt chiếntranh, lập lại hoà bình ở miền Bắc, nhưng các mục tiêu cơ bản của cách mạngmiền Nam nước ta chưa đạt được trọn vẹn Với bản chất phản động, ngoan cố vàxảo quyệt, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta Chúng ngoan
cố phá hoại hiệp định Pari, tiếp tục âm mưu của chủ nghĩa thực dân mới ở miềnNam bằng cách tăng cường viện trợ cho quân ngụy Sài Gòn, duy trì một tậpđoàn tay sai, quân phiệt, quan liêu, cực kỳ phản động được tổ chức tương đốihoàn chỉnh và trang bị tương đối hiện đại, triển khai cấp tốc kế hoạch “tràn ngậplãnh thổ” nhằm chiếm lại các vùng đất đã mất, xoá bỏ thành quả cách mạng mànhân dân ta đã giành được, đồng thời ra sức bình định, kìm kẹp nhân dân vùng