1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ NÂNG CAO TRÌNH độ văn hóa dân CHỦ của NHÂN dân TRONG QUÁ TRÌNH xây DỰNG nền dân CHỦ xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY

135 515 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 758 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn xây dựng đất nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta đã khẳng định, nhân dân là chủ thể xã hội, động lực trực tiếp xây dựng, thực hành dân chủ, quyết định xu hướng, tiến trình và kết quả của dân chủ hoá. Điều đó lại tuỳ thuộc một phần quyết định bởi trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân. Ngày nay, dân chủ hoá là nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước, đang từng bước được thực hiện sâu rộng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra cho dân tộc ta những thuận lợi mới và cả những thách thức mới. Đồng thời, các tiền đề khách quan, cần thiết cho sự hình thành Nhà nước pháp quyền ở nước ta ngày càng trở nên chín muồi, đòi hỏi nhân dân ta cần có những phẩm chất tương ứng.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn xây dựng đất nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ởnước ta đã khẳng định, nhân dân là chủ thể xã hội, động lực trực tiếp xây dựng,thực hành dân chủ, quyết định xu hướng, tiến trình và kết quả của dân chủ hoá.Điều đó lại tuỳ thuộc một phần quyết định bởi trình độ văn hoá dân chủ của nhândân

Ngày nay, dân chủ hoá là nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước,đang từng bước được thực hiện sâu rộng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo racho dân tộc ta những thuận lợi mới và cả những thách thức mới Đồng thời, cáctiền đề khách quan, cần thiết cho sự hình thành Nhà nước pháp quyền ở nước tangày càng trở nên chín muồi, đòi hỏi nhân dân ta cần có những phẩn chất tươngứng Trong khi đó, nhân dân ta xây dựng nền dân chủ XHCN từ một xã hội vốn làthuộc địa, nửa phong kiến, chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản, trình độ dân trícòn thấp v.v Vì vậy trong quá trình thực hiện dân chủ, bên cạnh những mặt tíchcực và tiến bộ, trong nhân dân ta, còn nhiều biểu hiện yếu kém về trình độ ý thức

và năng lực thực hành dân chủ, còn nhiều hành vi tiêu cực phản văn hoá dân chủ.Đặc biệt, hiện nay các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân chủ- nhân quyền

để thực hiện “diễn biến hoà bình” hòng gây mất ổn định chính trị, làm suy yếu,tiến tới thủ tiêu nền dân chủ mới đang hình thành ở nước ta

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu dân chủ dưới góc độ văn hoá và conngười, xác định nội dung và giải pháp nâng cao trình độ Văn hoá dân chủ(VHDC) của nhân dân ta hiện nay, trở thành một vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa thiếtthực cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 2

Thời gian qua, ở nước ta đã công bố nhiều công trình khoa học, diễn ranhiều hội thảo, hội nghị, diễn đàn, thảo luận, tranh luận khoa học, xung quanhvấn đề dân chủ

Trong đó, các tác giả, với cách tiếp cận và lát cắt khác nhau đã đề cập dânchủ dưới nhiều góc độ, nêu lên nhiều luận điểm khoa học có giá trị về lý luận dânchủ và dân chủ XHCN; các nhân tố chế định sự phát triển dân chủ và dân chủXHCN; các cơ chế, nguyên tắc, hình thức thực hiện dân chủ; phê phán các quanđiểm dân chủ đối lập, thuyết đa nguyên chính trị v.v Một số tác giả cũng đề cậpdân chủ dưới góc độ văn hoá, nhân văn Gần đây, khi bàn về “Văn hoá chính trị”,

“Văn hoá pháp luật”, một số tác giả cũng lưu ý đến vị trí của “VHDC” Songphần nhiều các ý kiến đó mới dừng lại ở mức độ nêu vấn đề, nhận định chưa thật

có hệ thống và tập trung

Ngày nay văn hoá có vai trò ngày càng to lớn và biểu hiện sinh động trongđời sống xã hội Đồng thời qua thực tiễn thực hiện dân chủ ở nước ta thời gianqua, nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi dân chủ cần được nhìn nhận và giải quyết theo

yêu cầu văn hoá Bởi vậy người làm luận án chọn đề tài: “Nâng cao trình độ VHDC của nhân dân trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay” hy vọng đóng góp vào việc làm sâu sắc hơn lý luận về văn hoá

dân chủ và quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

- Luận giải và khẳng định dân chủ là một giá trị văn hoá; xác định trình độVHDC của nhân dân là một biểu hiện trình độ dân trí, một phẩm chất nhân cách

và chỉ ra những nhân tố tác động đến nó Trên cơ sở đó kiến nghị một số phươnghướng và giải pháp vừa cơ bản vừa cấp bách để nâng cao trình độ văn hoá dânchủ của nhân dân ta hiện nay

- Để đạt mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:

Trang 3

1) Bước đầu làm rõ những thuộc tính bản chất của VHDC, phân tích các cấp

độ trình độ VHDC và đánh giá thực trạng trình độ VHDC của nhân dân ta hiệnnay

2) Phân tích những nhân tố khách quan, chủ quan chính tác động cản trở, cầnkhắc phục trong quá trình nâng cao trình độ VHDC

3) Xác định phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao trình độ VHDCcủa nhân dân ta hiện nay

4 Cái mới về khoa học của luận án

Một là, luận chứng dân chủ không chỉ là một hình thái nhà nước, một quan

hệ chính trị mà còn là một giá trị văn hoá, một quan hệ xã hội- giao tiếp, ứng xử.Văn hoá dân chủ là một giá trị sáng tạo và sự hoạt động sáng tạo của nhân dântrong lịch sử vươn tới lý tưởng tự do, bình đẳng và công bằng xã hội Văn hoádân chủ có tính nhân đạo, tính nhân loại, nhân dân, tính dân tộc, tính giai cấp, tínhliên tục có kế thừa, phát triển và giao lưu

Hai là, khẳng định văn hoá dân chủ là một giá trị xã hội, đồng thời là một giátrị nhân cách, qua sự phân tích các cấp độ trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân.Trình độ văn hoá dân chủ là một nội dung của trình độ dân trí, của nguồn nhânlực xã hội

Ba là, bước đầu đánh giá thực trạng trình độ VHDC của nhân dân ta hiệnnay, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan, chủ quan vớitrình độ VHDC Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thiết thực, có tính khả thinâng cao tình độ VHDC của nhân dân ta hiện nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩaMác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về văn hoá, dânchủ, con người; về quan hệ vật chất- tinh thần; tồn tại xã hội- ý thức xã hội; quan

hệ khách quan- chủ quan; quan hệ giữa Nhà nước- xã hội và công dân, một số

Trang 4

quan điểm chính trị, pháp quyền, đạo đức, thẩm mỹ và sự hình thành nhân cáchv.v

- Cơ sở thực tiễn của luận án là hiện thực đời sống xã hội và tình hình thựchiện dân chủ ở nước ta, nhất là thời kỳ đổi mới; các sự kiện chính trị- xã hội đã vàđang diễn ra ở nước ta và trên thế giới liên quan đến nội dung đề tài Trên cơ sở

đó, vận dụng phương pháp luận khoa học, các phương pháp nghiên cứu chuyênnhành và liên ngành để khảo sát, đánh giá thực trạng, các nhân tố tác động, kháiquát rút ra những luận điểm khoa học cần thiết, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận vàthực tiễn

- Luận án được nghiên cứu dưới góc độ chính trị- xã hội, vận dụng tổng hợpcác phương pháp nghiên cứu của triết học, xã hội học, chính trị học, kinh tế-chính trị học Mác - Lê-nin

Và nhiều phương pháp: điều tra xã hội học, so sánh, thống kê, phân tích,tổng hợp, kết hợp lôgíc-lịch sử, Phương pháp hệ thống và lôgíc được đặc biệtchú trọng

6 Ý nghĩa của luận án

Với một số kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận án góp phần vào việc đề ra

cơ sở khoa học để nhận thức đầy đủ hơn VHDC, trình độ VHDC, từ đó vận dụngvào giáo dục hình thành nhân cách công dân, xây dựng môi trường xã hội dân chủtrong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy,định hướng giáo dục về văn hoá, dân chủ và nhân cách trong một số chủ đềCNXH khoa học, chính trị học, triết học, tâm lý- giáo dục học

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm lời mở đầu, hai chương 6 tiết, kết luận và danh mục tài liệutham khảo

Trang 5

CHƯƠNG I BẢN CHẤT, NỘI DUNG, TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA DÂN CHỦ VÀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA HIỆNNAY

1.1 Bản chất của dân chủ

1.1.1 Dân chủ- một giá trị văn hoá

Từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hoá Tuy nhiên,

dù định nghĩa thế nào, văn hoá vẫn được hiểu một cách chung nhất, là toàn bộ sự hoạt động sáng tạo và các giá trị sáng tạo của con người, loài người vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, kết tinh thành các chuẩn mực xã hội và phẩm chất nhân cách của mỗi xã hội, mỗi dân tộc và thời đại lịch sử

Bản chất văn hoá là sáng tạo và nhân đạo, cao đẹp Văn hoá là trình độ pháttriển của cái đúng, cái tốt,cái đẹp trong con người, trong hoạt động và quan hệ xãhội của con người Bởi vậy văn hoá- đúng với ý nghĩa chân chính của nó là sựhoạt động có ý thức và sáng tạo, là các giá trị (vật chất, tinh thần) phù hợpvới quyluật khách quan, quy luật thẩm mỹ, thể hiện và phát huy được những thuộc tínhtốt đẹp của bản chất Người, đề cao phẩm giá con người Trái lại “cái phản vănhoá, vô văn hoá” là những hoạt động (có ý thức và vô ý thức) của con người vànhững sản phẩm của hoạt động đó làm phương hại, cản trở sự phát triển hài hoàcủa các quy luật tự nhiên và xã hội, làm nghèo nàn đời sống tinh thần, hạ thấpnhân cách, phẩm giá con người Cái phản văn hoá là trái quy luật khách quan, tráivới bản chất tốt đẹp của con người, cản trở sự phát triển và tiến bộ xã hội, sự pháttriển nhân cách

Sự hình thành của VH gắn liền với sự hình thành lịch sử loài người Trải quatiến trình lịch sử lâu dài, các giá trị VH được con người, loài người sáng tạo, chắt

Trang 6

lọc, kết tinh, trầm tích lại, bổ sung phong phú thêm và “di truyền” xã hội, tạo nênnền văn hoá của các dân tộc và toàn nhân loại

Sự hoạt động sáng tạo của con người trong các lĩnh vực xã hội, các quan hệ

xã hội sinh động đã tạo nên các thành tố, các kiểu loại văn hoá đa dạng, cấu thànhchỉnh thể nền VH dân tộc và nhân loại như: VH vậtchất, VH tinh thần, VH giáodục, VH tư tưởng, VH nghệ thuật, VH giao tiếp, VH thẩm mỹ, VH quản lý, VHchính trị, VH pháp luật v.v và v.v

Nội dung các giá trị văn hoá biểu hiện trong các hình thái ý thức xã hội vàtồn tại xã hội, bao gồm cả những mặt đời sống xã hội con người đang hoạt động,tới tập quán, phong tục xã hội và truyền thống lịch sử của cả cộng đồng Trongquan hệ khách thể- chủ thể, văn hoá là những giá trị xã hội khách quan, đồng thời

là giá trị nhân cách- biểu hiện trong ý thức, thái độ, hành vi, đến nhu cầu, nếpsống của con người

Văn hoá có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển xã hội Sựphát triển và tiến bộ của mỗi dân tộc và toàn nhân loại gắn liền đồng thuận với sựphát triển VH Văn hoá là trình độ phẩm chất con người, và những giá trị sáng tạocủa họ, nên nó là động lực, là thành quả của sự phát triển xã hội và nhân cách.Bởi vậy, nền tảng VH càng sâu đậm, trình độ văn hoá của con người càng cao, thìsức sống của xã hội càng dồi dào mãnh liệt, năng lực sáng tạo của con người càngmạnh mẽ Văn hoá là thước đo trình độ phát triển của xã hội và con người, hayngược lại

Ngày nay, loài người đang trải qua giai đoạn đặc biệt với những mâu thuẫngay gắt Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật và công nghệ hiệnn đại đang tạo nên

sự biết đổi sâu sắc đời sống xã hội, quan hệ xã hội trong mỗi dân tộc và trên quy

mô toàn cầu với tính quốc tế hoá, xã hội hoá ngày càng sâu rộng Bước vào kỷnguyên điện tử- tin học, loài người có khả năng tạo nên sự phát triển thần kỳ vềkinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất, khôngngừng cải thiện và

Trang 7

nâng cao chất lượng cuộc sống Sự giao lưu, hoà nhập, đối thoại, hợp tác quốc tế

là một xu thế thời đại Tuy nhiên, cũng chưa bao giờ loài người đứng trước nguy

cơ đe doạ sự tồn tại và phát triển của mình như hiện nay Những vấn đề toàn cầu:môi trường- sinh thái- tài nguyên bị ô nhiễm, huỷ hoại; dân số bùng nổ, đóinghèo; căn bệnh thế kỷ AIDS và bao căn bệnh hiểm nghèo khác chưa có cách cứuchữa; kho vũ khí giết người hàng loạt chưa được thủ tiêu; các cuộc chiến tranh,xung đột chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, đẫm máu chưa chấm dứt; mâu thuẫntrong quan hệ bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, thông tin, giữa cácnước phát triển và thế giới đang phát triển cùng biết bao những vấn đề phức tạp,gay gắt khác đang đòi hỏi loài người phải giải quyết cấp bách Trong quá trìnhtìm kiếm cách giải quyết hợp lý để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia và cả cộng

đồng thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, tất cả các vấn đề liên quan đến cuộc sống và quan hệ xã hội của con người cần phải được tiếp cận, xem xét dưới góc độ văn hoá, đặt trên nền tảng văn hoá, giải quyết theo yêu cầu văn hoá, mang tính nhân đạo, nhân văn, vì sự giải phóng con người và phát triển con người Ý nghĩa của “thập kỷ thế giới văn hoá và sự phát triển 1989-1997” do

UNESCO đề ra đã nhấn mạnh đến vai trò, bản chất văn hoá và nhân tố con ngườiđối với sự phát triển và tiến bộ xã hội

Dân chủ là một phạm trù phản ánh một hiện tượng xã hội, một quan hệ xã

hội khách quan Nội dung cốt lõi của dân chủ là khát vọng và quyền làm chủ của nhân dân, là quyền lực thuộc về nhân dân, tư do, bình đẳng của nhân dân trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội “Xã hội dân chủ là xã hội do nhân dân làm

chủ”

Từ nội dung cốt lõi đó, khi tiếp cận dân chủ dưới các góc độ khác nhau,người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về dân chủ, phản ánh những biểuhiện đa dạng, sinh động của nội dung dân chủ bao trùm lêm các lĩnh vực hoạtđộng của con người

Trang 8

Dân chủ là một quan hệ xã hội, một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi ở đó sự hoạtđộng sáng tạo ra các giá trị, hiện thực hoá các giá trị phục vụ cho lý tưởng nhânđạo: tự do, bình đẳng, làm chủ Vì vậy theo quan điểm văn hoá, dân chủ phản ánhđầy đủ bản chất, nội dung, đặc điểm biểu hiện của VH, đáp ứng đầy đủ các tiêuchí văn hoá

Tiếp cận dân chủ dưới góc độ văn hoá, hay nói một cách khác, xem xét dân

chủ với tính cách là giá trị văn hoá, có nghĩa là nghiên cứu, nhìn nhận vấn đề dân chủ theo các tiêu chí văn hoá.

Khi nhìn nhận dân chủ dưới góc độ văn hoá, một mặt chúng ta nhận thấy

dân chủ là một kiểu loại văn hoá, một nội dung cơ bản của nền văn hoá tiên tiến, hiện đại, một phẩm chất thể hiện trình độ văn hoá, tính văn hoá của xã hội và con người, đồng thời mặt khác thấy nền văn hoá xã hội, các thành tố, kiểu loại văn hoá khác, các phẩm chất nhân cách khác cũng là cơ sở để dân chủ được hình thành phát triển và là môi trường để các giá trị dân chủ được biểu hiện

Các giá trị dân chủ không phải là một vật phẩm tự nhiên, mà là một giá trị

sáng tạo, thành quả lao động và đấu tranh của loài người vươn tới tự do, bìnhđẳng, làm chủ và công bằng xã hội Trong nội dung của các giá trị dân chủ, hội

đủ các giá trị văn hoá khách quan, mang tính vật chất (tổ chức, thiết chế, bộ máy thực hiện, bảo đảm dân chủ ) và có cả những giá trị VH tinh thần, phản ánh năng lực hoạt động chủ quan của con người (ý thức, tư tưởng, nhu cầu dân chủ, thói quen, nếp sống dân chủ ) Quá trình thực hiện dân chủ cũng giống như các quá trình hoạt động văn hoá khác: sáng tạo, kế thừa, phát triển, bảo vệ, giao

lưu, Hơn nữa, qua thực hành dân chủ, người ta càng thấy rõ sự đòi hỏi cần thiếttính văn hoá trong ý thức, năng lực thực hành dân chủ của mỗi cá nhân và cảcộng đồng xã hội, vai trò của nó như là một nhân tố quyết định trực tiếp đến chấtlượng, hiệu quả sự hoạt động dân chủ của họ Sự biểu hiện trình độ VHDC của

Trang 9

nhân dân trong quá trình hoạt động thực thi dân chủ, là một biểu hiện trình độ dântrí, và văn hoá chung của con người

1.1.2 Những thuộc tính bản chất của văn hoá dân chủ

Nghiên cứu dân chủ theo các tiêu chí văn hoá, tất nhiên sẽ nhận thức vănhoá dân chủ với nhiều cấp độ và những thuộc tính của nó

* Sự hình thành, vận động, phát triển của văn hoá dân chủ gắn liền với quá tình hoạt động sáng tạo của con người, loài người nhằm thoả mãn nhu cầu tự do, làm chủ và bình đẳng Con người hoạt động biến đổi tự nhiên nhằm thoả mãn nhu

cầu vật chất: ăn, mặc, ở đồng thời cũng hình thành các quan hệ xã hội, pháttriển các nhu cầu tinh thần Xã hội càng phát triển, thì các giá trị vật chất, tinhthần được con người sáng tạo ra càng phong phú và các quan hệ xã hội cũng càng

đa dạng Trong các quan hệ xã hội đó, tất nhiên hình thành việc xác lập vị thế của những cá nhân và cộng đồng xã hội Nhìn chung ý thức muốn tự khẳng định, nhu cầu được sống tự do, bình đẳng, làm chủ của con người là khách quan, là thuộc

tính chung tộc loại của loài người Mặt khác, trong các quan hệ xã hội của con

người, cũng hình thành một cách khách quan các quan hệ quyền lực Trong “Bàn

tay về quyền uy” Ph.Ăng-ghen viết: “Một quyền uy nhất định, không kể quyền uy

đó được tạo ra bằng cách nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định, đều donhững điều kiện vật chất trong đó làm cho trở thành tất yếu” (3, tr.358) Từ đó

dẫn đến một mâu thuẫn phổ biến giữa nhu cầu làm chủ, tự do, bình đẳng, mang tính tự nhiên, với sự làm chủ, tự do, bình đẳng thực tế mà con người đạt được.

Hơn nữa, mặc dù nhu cầu của con người hình thành khách quan và thường không

có giới hạn

“Sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên khi đã có được hành động thoả mãn nhu cầu

ấy và công cụ để thoả mãn- đưa tới những nhu cầu mới” (2, tr.35) Song việc thựchiện để thoả mãn nhu cầu lại bị chủ quan của con người Nhu cầu tư do, làm chủ,

Trang 10

bình đẳng nảy sinh ngay từ khi con người hình thành xã hội, các quan hệ xã hộicủa họ Hơn nữa tự do, làm chủ, bình đẳng đã từng là quan hệ xã hội hiện thựccủa con người trong nền dân chủ nguyên thuỷ Ph Ăng-ghen viết về nền dân chủnguyên thuỷ đó như sau: “Với tất cả các tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ

thị tộc là một tổ chức tốt đẹp biết bao Tất cả đều bình đẳng và tự do, kể cả phụ nữ” (9,tr.154) “toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau, họ đều có quyền cá nhân ngang nhau- Kể cả tù

trưởng và thủ lĩnh quân sự- đều không đòi hỏi những ưu tiên nào cả, họ kết thànhmột tập thể thân ái, gắn bó với nhau” (9, tr.140) Lúc đó, trong xã hội ngoài dưluận của công chúng ra, không có một phương tiện cưỡng chế nào cả Các sinhhoạt dân chủ được tiến hành phổ biến, rộng rãi với mọi thành viên: “thị tộc có

một hội đồng tức đại hội dân chủ của toàn thể các thành viên, trai cũng như gái, tất cả đều có quyền bầu cử như nhau Nó là cơ quan quyền lực tối cao của thị

tộc” (9, tr.139,140) Các quan hệ dân chủ “tự do, bình đẳng, hữu ái, tuy chưa baogiờ được nêu lên thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ bản của thịtộc” (9, tr.140) Đánh giá một cách khách quan, nền dân chủ nguyên thuỷ hìnhthành một cách tự nhiên, mới ở trình độ sơ khai, đơn giản, mà ở đó con người cònchưa phân biệt đâu là quyền lợi, đâu là nghĩa vụ, người ta tuân thủ và giải quyếtmọi việc theo một tập quán lâu đời Tuy vậy cũng phải thấy rằng, trong chế độ

công xã nguyên thuỷ, các giá trị văn hoá dân chủ và nhiều giá trị văn hoá khác cũng đang bắt đầu hình thành, phát triển tương ứng với sự phát triển xã hội và con người Bởi vậy có thể nói, xét từ khởi nguyên của nó, nền dân chủ nguyên thuỷ,với các giá trị dân chủ manh nha, là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành nền VHDC của nhân loại,tiếp nối một cách liêntục trong tiến trình lịch sử sau này

Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ bất bình đẳng về kinh tế dẫn đến bấtbình đẳng về xã hội và quyền lực Dưới các xã hội mà giai cấp thống trị là thiểu

Trang 11

số bóc lột, thì quyền lực thuộc về cá nhân hoặc thiểu số giàu có, và là mất tự do,

dân chủ của đa số nhân dân Xã hội có giai cấp đối kháng là sự phủ định dân chủ theo nghĩa đầyđủ, hoàn bị Trong các xã hội đó, lịch sử của dân chủ gắn liền với

lịch sử đấu tranh giai cấp Cuộc đấu tranh bền bỉ của nhân dân các thời đại đểgiành lấy tự do, dân chủ, làm chủ, bình đẳngvà công bằng xã hội là nguồn gốc rađời, là động lực phát triển các giá trị VHDC trong lịch sử Khi xã hội loài ngườikhông còn sự khác biệt giai cấp, và nhà nước mất đi, thì nền dân chủ -một hìnhthái nhà nước cũngmất đi, song các giá trị dân chủ khác vẫn tồn tại, phát triển

ngày càng hoàn bị, trở thành tập quán xã hội Đó là sự phủ định cái phủ định dân chủ Xã hội trở thành xã hội dân chủ, bình đẳng thực sự, triệt để với tất cả mọi thành viên xã hội Điều này đã được Các Mác diễn đạt: “Chủ nghĩa cộng sản đã

quan niệm mình như là việc con người hoà nhập và quay trở lại bản thân mình,như là việc thủ tiêu sự tự tha hoá của con người” (1, tr.128) Điều đó cũng giốngnhư quan niệm của Ph Ăng-ghen, khi ông dẫn lại lời L.Morgan để kết thúc tácphẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” như sau:

“Dân chủ trong công việc quản lý, hữu ái trong xã hội, bình đẳng về quyền lợi,giáo dục phổ thông đó là sự hồi sinh- nhưng dưới một hình thức cao hơn của tự

do, bình đẳng và hữu ái của những thị tộc thời cổ” (9, tr.273

Nội dung VHDC

- Văn hoá dân chủ với tính cách là các giá trị dân chủ được nhân dân các dântộc, các thời đại sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh cho lý tưởng tự do, bìnhđẳng, làm chủ xét trên cấp độ xã hội và cộng đồng xã hội là tổng hoà các giá trịdân chủ khách quan, bao gồm:

Hệ thống các quan điểm tư tưởng dân chủ;

Hệ thống các tổ chức, thiết chế dân chủ;

Hệ thống các cơ chế, nguyên tắc, phương thức thực hiện dân chủ, những tậpquán và truyền thống dân chủ của các cộng đồng xã hội và toàn nhân loại

Trang 12

Các giá trị dân chủ khách quan này là sản phẩm được sáng tạo trong toàn bộtiến trình tiến hoá lịch sử của mỗi chế độ xã hội, dân tộc, thời đại và toàn nhân loại Sự vận động, biến đổi của các giá trị VHDC này phản ánh sự vận độngquanh co, những bước thăng trầm của lịch sử nhân loại trên hành trình vươn tới tự

do, bình đẳng và công bằng xã hội Mỗi một giá trị dân chủ và tổng hoà các giá trịVHDC đó đánh dấu trình độ phát triển của những nhu cầu dân chủ, nhữngphương thức, phương tiện được con người, loài người tạo ra để thực hiện nhu cầu

đó và những thành quả dân chủ đã giành được Bởi vậy các giá trị VHDC phảnánh trình độ giải phóng con người và xã hội, năng lực làm chủ xã hội của conngười Các giá trị VHDC là một dòng chảy lớn, liên tục Trong hành trình của conngười, loài người tới tự do, bình đẳng, mỗi một giá trị dân chủ cũng như toàn bộcác giá trị VHDC vẫn đang tiếp tục được sáng tạo, kế thừa, bổ sung, được kếttinh, góp vào tài sản chung của nền văn hoá, văn minh của mỗi dân tộc và cả loàingười Nhiều giá trị VHDC này đã thấm sâu vào các tầng văn hoá xã hội, trởthành những giá trị bền vững, giá trị xã hội chuẩn mực, chi phối, định hướng sựvận động xã hội và hoạt dộng của con người, quyết định một phần vào bộ mặt đờisống tinh thần xã hội, sự phát triển xã hội

- Văn hoá dân chủ xét trên cấp độ cá nhân là sự thống nhất biện chứng của

cả ý thức dân chủ, tình cảm, thái độ, niềm tin dân chủ, năng lực hành vi hoạt độngdân chủ và thói quen, nếp sống, nhu cầu dân chủ của cá nhân, trở thành một giátrị nhân cách

Văn hoá dân chủ với tính cách là một giá trị nhân nhân cách, một thuộc tínhthể hiện năng lực nhận thức và hoạt động thực hiện dân chủ của chủ thể, là giá trịVHDC cơ bản, trung tâm của VHDC Điều đó xuất phát từ mối quan hệ biệnchứng giữa con người với văn hoá và từ vai trò của trình độ văn hoá dân chủtrong con người, trong nhân cách

Trang 13

Con người là chủ thể sáng tạo, nguồn gốc, động lực của sự phát triển vănhoá Do đó, các phẩm chất năng lực hoạt động thực thi dân chủ của con người lànội dung biểu hiện của VHDC, là thước đo trình độ VHDC của xã hội, động lựcquyết định sự phát triển của VHDC xã hội Các giá trị văn hoá dân chủ của conngười thể hiện qua hoạt động Thông qua hoạt động thực hiện dân chủ của họ,giúp người ta nhìn nhận, đánh giá được mặt khẳng định của VHDC, cái văn hoá,tính văn hoá hoặc cái phản văn hoá, thiếu văn hoá trong thực hiện dân chủ.

Sự hoạt động thực thi dân chủ của mỗi người là một nội dung của VHDC, đolường trình độ VHDC, bởi chính hoạt động dân chủ là sự thể hiện một cách trungthực nhất, tập trung nhất phẩm chất và năng lực dân chủ của con người

Hoạt động sáng tạo và giao tiếp xã hội là thuộc tính bản chất của con người,loài người; là điều kiện tồn tại, phát triển con người và xã hội; là cơ sở hình thànhnhân cách và các giá trị VH, các nền văn hoá Đồng thời chính hoạt động là biểuhiện của văn hoá, vì thông qua đó bản chất văn hoá và trình độ VH của con ngườiđược bộc lộ Tuy nhiên, theo ý nghĩa “cái VH”, “tính văn hoá”, không phải mọihoạt động thực thi dân chủ đều mang ý nghĩa VHDC, đều mang tính nhân đạo,văn minh Bản thân hoạt đồng gì chưa đủ để nói lên đó là văn hoá, tuy rằng văn

hoá có mặt trong các hoạt động Bởi vì khi xác định văn hoá dân chủ của con người ở mức nào, có VH hay thiếu văn hoá, phản VH, cần xem người ta thực hành dân chủ như hế nào, theo cách thức nào Theo C.Mác, sự khác nhau của các

thời đại là PTSX, còn đối với con người, thì Ph.Ăng-ghen cho rằng đặc trưng cá

nhân thể hiện ra không phải qua những việc cá nhân đó làm mà qua cách thức cá nhân đó làm.

Nhìn chung, qua cách thức hoạt động và chất lượng giá trị sáng tạo, thấyđược trình độ phát triển và các đặc trưng văn hoá của con người Cũng là một sựhoạt động sáng tạo, một giá trị sáng tạo, song mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi chế độ

xã hội và mỗi thời đại lại mang bản sắc VH riêng độc đáo Bởi vì chính trong mỗi

Trang 14

giá trị sáng tạo đó và quá trình hoạt động để tạo nên nó, người ta đều để lại trong

đó trí tuệ, tài năng, cái tâm, cái hồn, sức sống, và hơi thở của con người, xã hội,dân tộc, thời đại của mình

Chính vì vậy, VHDC là sự hoạt động dân chủ của nhân dân một cách sáng tạo, tích cực, chủ động, mang tính nhân đạo, văn minh Hạt nhân cốt lõi của VHDC trong quan hệ xã hội - giao tiếp của con người là sự tôn trọng nhân cách

và phẩm giá; là việc mỗi người thể hiện một cách xứng đáng quyền làm chủ, dân chủ của mình, góp phần xây dựng quan hệ xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ Trái

lại, cái phản VHDC đó là những thái độ, hành vi, hành động và sản phẩm của nó,xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân như quan liêu, độc tài, chuyênquyền, độc đoán; dân chủ giả hiệu, hình thức; dân chủ cực đoan, vô chính phủ; sựthờ ơ chính trị, thói an phận, cam chịu, né tránh, thủ tiêu đấu tranh cho dân chủ vàtiến bộ xã hội v.v

Việc thực hiện dân chủ đúng đắn, đầy đủ không chỉ phản ánh trình độ văn hoá, văn minh, mà còn là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.

VHDC bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ của chủ thể, nâng cao được tinhthần trách nhiệm, tính chủ động, năng động, sáng tạo của nhân dân Có VHDCthực sự, trí tuệ và nhiệt tình của quần chúng mới được phát huy, do đó mới khắcphục được chủ quan, duy ý chí, tránh được nhiều sai lầm, lạc hướng trong nhậnthức quy luật khác quan, xu thế vận động của đời sống xã hội không chỉ của mộtvài người mà của cả một trào lưu, một lực lượng xã hội Thực hiện dân chủ mộtcách văn hoá, làm cho chủ thể quản lý có tầm nhìn xa trong rộng, sâu sắc, thấuđáo hơn, tránh bị một chiều, phiến diện, hẹp hòi, ấu trĩ Từ đó có nhiều đề án,phương pháp, biện pháp, sáng kiến để xem xét, lựa chọn được cái tối ưu, hoặcchí ít cũng là sự góp ý hay phản biện

Trong quan hệ đa dạng của đời sống xã hội và con người, VHDC có thể giảiquyết tốt đẹp hài hoà những mâu thuẫn giữa cá thể với cộng đồng, bộ phận với

Trang 15

tổng thể, địa phương với trung ương Văn hoá dân chủ cũng có thể làm cho cácbên đối tác, các lực lượng đối lập hiểu rõ lợi ích, nhu cầu, quan điểm, chính kiếncủa nhau, để tìm ra các biện pháp hợp lý, thoả đáng mà các bên đều có lợi , đều

có thể chấp nhận được Do đó phương thức hoạt động dân chủ một cách văn hoá

có thể hạn chế, ngăn ngừa, tránh được các biện pháp cực đoan, xung đột, chiếntranh tàn khốc, đẫm máu, gây vô vàn tổn thất về người và của cho cả hai bên, màhậu quả là nhân dân phải gánh chịu đau khổ Bởi thế văn hoá dân chủ góp phầntạo nên sự ổn định xã hội, tăng cường sức mạnh của một cộng đồng, một quốcgia, thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn hoà bình anninh quốc tế

Như vậycó thể nói, VHDC với tính cách là phương thức hoạt động của con người, là phương thức tiến bộ, nhân đạo, có văn hoá, văn minh và hiệu quả xã hội tích cực Thực hiện VHDC đáp ứng được khát vọng của nhân dân, phù hợp

với bản tính con người, phát huy được nguồn lực con người, liên kết xã hội vàtăng cường sức mạnh tổng hợp của các cộng đồng xã hội Bởi vậy thực hiệnVHDC trong tất cả các quan hệ xã hội của con người là một nội dung của sựnghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội, nâng cao không ngừng trình độvăn hoá, văn minh của mỗi dân tộc và toàn nhân loại

Môi trường biểu hiện của VHDC

- Là giá trị dân chủ xã hội khách quan, một giá trị nhân cách, mức độ khảnăng và năng lực nhận thức, thực hành dân chủ của con người một cách văn minh

nhân đạo trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, VHDC được biểu hiện trong các lĩnh vực hoạt động, trong các hình thức quan hệ xã hội, các hình thức tồn tại

xã hội của con người Ở đâu có quan hệ dân chủ thì ở đó có và đòi hỏi VHDC.

Bởi vậy có VHDC trên lĩnh vực chính trị, VHDC kinh tế, văn hoá dân chủ xã hộichủ nghĩa, VHDC trong giao tiếp, ứng xử cá nhân và cộng đồng; VHDC trongmôi trường xã hội rộng lớn, VHDC trong môi trường xã hội trực tiếp gần gũi Các

Trang 16

nội dung giá trị của Việt Nam có mặt cả trong các hình thái ý thức tư tưởng tâm lý xã hội, trong tồn tại xã hội; trên thượng tầng chính trị - tư tưởng- phápquyền (Hệ tư tưởng dân chủ, nhà nước, pháp luật dân chủ ) dưới xã hội côngdân (các quan hệ xã hội, các tập quán, truyền thống ); trong các thuộc tính nhâncách (ý thức, tình cảm, niềm tin, hành động, nhu cầu, nếp sống cá nhân ) v.v vàv.v

-Ở đây, cung cần khu biệt khái niệm (giới hạn nội hàm) VHDC với khái niệm

VH chính trị và VH pháp luật

Có thể nói 3 khái niệm này là những khái niệm rất gần nhau, có nhiều điểmđồng nhất (khi chúng được giả định trong một miền không gian, thời gian, mộtđiều kiện lịch sử nhất định) Phần đồng nhất đó là những phần mà ba khái niệmnày giao thoa vào nhau, trong đó những nội dung của VHDC cũng là nội dungcủa VHCT và VHPL Chẳng hạn, trong một nền chính trị dân chủ, thì các quanđiểm chính trị, tổ chức, thiết chế, cơ chế, hành vi chính trị dân chủ là biểu hiệncủa VHDC trên lĩnh vực chính trị, mà còn là VHDC trên các lĩnh vực kinh tế, vănhoá, xã hội, giao tiếp, các quan hệ xã hội khác như VHDC trong gia đình, trongtrường học, trong những hoạt động ngoài chính trị, phi chính trị Như vậy ở đâyVHDC rộng hơn VHCT, VHCT là nội dung của VHDC Khi xét VHDC vàVHCT trong toàn bộ miền xác định, giới hạn của nó thì VHDC là một nội dung

có tính vĩnh hằng: từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản văn minh,

vì tự do, dân chủ, bình đẳng là những thuộc tính bản chất của con người, loàingười Dưới CNCS nguyên thuỷ đó đã là quan hệ xã hội hiện thực; dưới CHCSvăn minh (dân chủ về chính trị tự tiêu vong) song các giá trị VHDC khác trởthành tập quán và tiếp tục phát triển, hoàn thiện Còn VHCT có tính lịch sử, làmột phạm trù lịch sử, nó hình thành, phát triển trong xã hội có giai cấp, mất đi khigiai cấp và nhà nước mất đi, nó là văn hoá trên lĩnh vực chính trị, trên quan hệchính trị Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là mặc dù VHDC có nội hàm rộng hơn

Trang 17

VHCT, và dân chủ là thuộc tính có tính văn hoá nhất của VHCT, song không

phải nội dung chính trị nào, VHCT nào cũng mang tính chất dân chủ Nhiều quan

hệ chính trị - với ý nghĩa là một giá trị VH - cũng không hẳn phải là quan hệchính trị dân chủ (vấn đề bạo lực chuyên chính trong quan hệ chính trị )

Còn quan hệ giữa VHDC và VHPL cũng tương tự như vậy VHPL là nộidung quan trọng của VHDC, VHPL cũng là một phạm trù lịch sử, gắn liền và tồntại với sự tồn tại của giai cấp, nhà nước Khi không còn quan hệ nhà nước nữa thìcũng không còn VHPL Trong XH công xã nguyên thuỷ chưa có PL, lúc đó người

ta tuân thủ “mọi việc theo một tập quán lâu đời”, lúc này “trong xã hội không cómột công cụ cưỡng chế nào cả”, người ta chưa “phân biệt đâu là quyền lợi, đâu lànghĩa vụ “Dưới CNCS văn minh, pháp luật cũng không còn, lúc đó người ta tuânthủ mọi quy tắc xã hội như một tập quán tự nhiên Hơn nữa, trong xã hội nóichung và xã hội dân chủ nói riêng, không phải mọi quan hệ xã hội cũng đều làquan hệ pháp lý Mặt khác trong VHPL, không phải mọi giá trị và hành vi VHPLđều mang ý nghĩa VHDC, mà đòi hỏi sự cưỡng chế, trừng phạt, thậm chí

“hạnchế, thủ tiêu dân chủ” với những phần tử vi phạm dân chủ

Như vậy, xét trong một chế độ xã hội cụ thể, VHDC, VHPL, VHCT thống nhất với nhau về bản chất xã hội và bản chất văn hoá, chúng có nội dung cơ bản thống nhất và đồng nhất Tuy vậy cũng không bao quát hoàn toàn Nhìn chung về

giới hạn, phạm vi thì VHDC có tính vĩnh hằng, còn VHPL, VHCT có tính lịch sử

Các nhân tố chế định và đặc điểm của VHDC

Cũng như các kiểu loại VH khác, VHDC chịu sự chế định của các nhân tốkhách quan và chủ quan, trong đó PTSX xã hội, chế độ xã hội quyết định bảnchất VHDC; các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá, trình độ dân trí, đặc điểm dântộc, trình độ văn minh xã hội, năng lực quản lý của chủ thể quyền lực tác độngthường xuyên quy định tính chất, đặc điểm trình độ, phát triển của VHDC

-Đặc điểm VHDC.

Trang 18

Thứ nhất, là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn

Đặc trưng nhân đạo, nhân văn của VHDC thể hiện cả trong nội dung tưtưởng của các giá trị VHDC, cả phương thức hoạt động thực tiễn gắn liền với lịch

sử của nó trong các thời đại lịch sử Khi xã hội xuất hiện bất công, bất bình đẳng,

nô dịch, áp bức con người, thì trong tư tưởng ý thức dân chủ của nhân dân, tínhnhân đạo đó được biểu hiện ở sự phản kháng bất công, áp bức, ở lòng khát khaođược tự do, bình đẳng, mơ ước được sống trong xã hội tốt đẹp, thuần khiết, hữu

ái, công bằng

Khi PTSX TBCN ra đời ( thế kỷ XV- XVI), các quan hệ tư sản tạo cơ sởkhách quan cho sự phát triển các quan điểm dân chủ tư sản Các nhà tư tưởng củagiai cấp tư sản đã đi vào luận giải bản chất con người, lấy đó làm cơ sở để đòi xáclập một nguyên tắc mới trong quan hệ xã hội - nguyên tắc dân chủ - đối lập hoàntoàn với các nguyên tắc độ chế độ phong kiến và giáo hội đặt ra Họ luận chứngcho các quyền tự do cá nhân, dân chủ, bình đẳng của con người trước pháp luật,quyền được hưởng thụ, thoả mãn những nhu cầu và coi đó là các quyền tự nhiênthiêng liêng Từ đó họ cổ vũ cho sự giải phóng cá nhân và xã hội khỏi chế độchuyên chế, đòi thủ tiêu được quyền đặc lợi PK, sự phân biệt đẳng cấp, tạo cơ sở

xã hội và pháp lý cho cách mạng dân chủ tư sản Cách mạng dân chủ tư sản vàcác giá trị VHDC tư sản là một bước tiến vĩ đại với thời trung cổ trong tiến trìnhgiải phóng con người và xã hội, trong đó có các giá trị đúng mức Những giá trịVHDC được khẳng định trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của ĐạiCách mạng tư sản Pháp 1789, trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ 1776 , cácgiá trị về tự do, bình đẳng về các quyền công dân, các giá trị VHDC về tổ chức,thiết chế, các truyền thống dân chủ được chúng ta đánh giá trên quan điểm lịch

sử đều xác nhận điều đó Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân đạo trong các giá trị VHDC

tư sản cũng bị hạn chế, vì nó lấy chế độ tư hữu và chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở,

nó không giải quyết được mâu thuẫn giữa quyền bình đẳng trước pháp luật với

Trang 19

việc thực hiện quyền đó trong thực tế, rằng bình đẳng trước pháp luật là chưa đủcủa sự bình đẳng mà con người hướng tới.

Dưới CNTB, tính nhân đạo thể hiện rất đặc sắc trong các tư tưởng dân chủ,bình đẳng, công bằng xã hội của các đại biểu CNXH không tưởng, như là mộtbiểu hiện của một khuynh hướng dân chủ của quần chúng lao khổ Trong đó họđòi sự bình đẳng không chỉ về pháp luật mà cả về tài sản, không chỉ trên phươngdiện cá nhân mà cả trên phương diện xã hội Tuy nhiên do những hạn chế lịch sử,tính nhân đạo và cả các tư tưởng dân chủ và XHCN đó , cũng không tìm đượccon đường và phương tiện để đi tới xã hội dân chủ, bình đẳng, công bằng hiệnthực

Khắc phục những hạn chế đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong các quan điểmdân chủ của mình, đã nâng chủ nghĩa nhân đạo lên một tầm cao chất lượng mới:dân chủ , bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội,trong đó bình đẳng, dân chủ kinh tế là nền tảng quyết định Muốn có tự do, dânchủ, bìnhđẳng, nhân dân phải đứng lên làm cách mạng xã hội, lật đổ chế độ ápbức bóc lột, từng bước xây dựng xã hội mới, thực hiện dân chủ hoá các lĩnh vực

xã hội, nhân đạo hoá các quan hệ xã hội, tiến tới một xã hội không có giai cấp, vàcon người được tự do, phát triển toàn diện

Trong hành trình vươn tới tự do, bình đẳng, bằng hoạt động của mình, nhândân các thời đại đã sáng tạo ra các giá trị VHDC, như là những công cụ, phươngthức quan trọng để hạn chế từng mặt, từng bộ phận sự nô dịch, áp bức, chà đạplên phẩm giá con người Cho nên các giá trị VHDC trực tiếp góp phần làm lànhmạnh hơn các quan hệ xã hội, đời sống xã hội, làm cho nó văn minh hơn, nhânđạo hơn

Trong đời sống xã hội, các giá trị VHDC thể hiện tính nhân đạo ở chỗ làmcho mỗi công dân từ chỗ đơn thuần là khách thể, đối tượng quản lý xã hội và

Trang 20

quyền lực xã hội, đồng thời từng bước trở thành chủ thể tích cực sáng tạo các quátrình quản lý và quyền lực xã hội.

Thứ hai, tính nhân loại, nhân dân.

Cũng như các giá trị VH khác, VHDC là giá trị phổ biến của toàn nhân loại.Các giá trị VHDC mang tính nhân loại vì dân chủ là giá trị nhân đạo, nhân văn,xuất phát từ bản tính chung của con người, hình thành khách quan trong quan

hệ xã hội, đời sống xã hội của con người, loài người, đã và đang là quan hệ xã hội hiện thực phổ biến của loài người

VHDC là giá trị phổ biến toàn nhân loại vì nó gắn liền và phản ánh trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại Các giá trị VHDC không chỉ chịu tác độngtrực tiếp của quan hệ giai cấp, của quyền lực chính trị, mà còn chịu tác động và chế định kinh tế, văn hoá, giáo dục, KHKT, dân trí, thông tin, cơ cấu xã hội, mức sống Tóm lại là của toàn bộ nền văn hoá, văn minh chung của loài người

Với ý nghĩa giá trị VH chung toàn nhân loại, VHDC là những giá trị dân chủ

có tính chung, phổ biến như: ý thức, nhu cầu dân chủ; các quan niệm về nội dungdân chủ; sự biểu hiện của dân chủ trong đời sống xã hội; các hình thức, nguyêntắc, cơ chế đân chủ, các quy chế, thể lệ chung về bầu cử, ứng cử, tính công khai,

tự do tư tưởng và chính trị của công dân, thảo luận, tranh luận dân chủ Cáchành vi, hành động thực hiện dân chủ của nhân dân đều đòi hỏi phải có sự hiểubiết nhất định về pháp luật, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, ý thức công dân Trong các quan hệ quốc tế, tính nhân loại của VHDC thể hiện ở những tiêuchuẩn chung, quan niệm giá trị chung của luật pháp, công ước quốc tế, cácnguyên tắc được thỏa thuận trong các sinh hoạt dân chủ của cộng đồng thế giới;

sự thừa nhận và cùng hợp tác giải quyết các vấn đề chung toàn cầu, vấn đề chung

về dân chủ - nhân đạo - nhân quyền trên phạm vi quốc tế

Trang 21

Xu thế dân chủ hoá trên thế giới hiện nay cũng là sự chứng minh cho tínhphổ biến toàn nhân loại của VHDC Đối thoại, thương lượng dân chủ để giảiquyết các bất đồng, xung đột, được loài người tiến bộ đồng tình, ủng hộ.

Khi khẳng định tính nhân loại của VHDC cũng cần phải thấy rằng, VHDCcũng là giá trị chung, phổ biến của nhân dân, của con người trong một chế độ xã

hội, trong một nền dân chủ, tức là tính nhân dân của VHDC.

Sự thể hiện tính nhân dân của VHDC, suy đến cùng không phải do ý nuốnchủ quan của giai cấp thống trị quyết định, mà do cơ sở khách quan đời sống xãhội, cơ cấu - xã hội và lợi ích các giai cấp trong xã hội quyết định

Giai cấp thống trị xã hội, với tư cách là giai cấp thống trị về kinh tế, chínhtrị, tư tưởng, đều biểu hiện lợi ích, quyền lực của mình như là lợi ích và quyền lực

có giá trị phổ biến Vì vậy quyền lực chính trị, quyền tự do, dân chủ của giai cấpthống trị bao giờ cũng được nhân danh là quyền lực của nhân dân, của mọi côngdân Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác viết: “Giai cấp nào muốn nắm quyền thốngtrị, thì giai cấp ấy, trước hết phải chiếm lấy chính quyền, để đến lượt mình, có thểbiểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến” (2, tr 67)

Bởi vậy các tư tưởng quan điểm dân chủ, các quyền dân chủ, các giá trịVHDC của giai cấp thống trị đều được biểu hiện thành các quyền dân chủ củamọi công dân, được thể chế hoá thành pháp luât, thành giá trị phổ biến - chuẩnmức của toàn xã hội, áp đặt cho xã hội Chính điều đó đã củng cố quyền lực củagiai cấp thống trị, bởi vì “chỉ có vì những quyền chung của xã hội, thì một giaicấp cá biệt mới có thể đòi hỏi thống trị phổ biến được” (4, tr 30)

Các giá trị VHDC không phải là sản phẩm riêng biệt của một giai cấp, chế

độ xã hội và thời đại cá biệt nào, mà là thành quả VH chung của loài người Quầnchúng nhân dân trong lịch sử là nhân tố quyết định sự sinh thành, biến đổi, pháttriển lịch sử, là chủ thể sáng tạo, cảm thụ, tiêu dùng các giá trị văn hoá Bản chất

của VHDC là giá trị sáng tạo và hoạt động sáng tác của nhân dân để thực hiện

Trang 22

nhu cầu tự do, bình đẳng, làm chủ Các giá trị VHDC là thành quả của quá trình

đấu tranh bền bỉ, lâu dài của nhân dân chống lại các thế lực áp bức, nô dịch conngười Nhân dân tạo nên các giá trị VHDC, quyết dịnh sự phát triển của nó Đồngthời các giá trị VHDC lại phục vụ lợi ích nhân dân, nâng cao vai trò vị thế làmchủ của nhân dân

Thứ ba, tính dân tộc của VHDC

Nói đến VH là nói đến dân tộc và ngược lại Trong khái niệm dân tộc, VH làđặc trưng cơ bản, nổi bật, sâu sắc, có giá trị vững bền nhất, trường tồn nhất.Trong mỗi nền VH dân tộc, VHDC là một bộ phận hợp thành

Nền VHDC, các giá trị VHDC cũng biểu hiện các đặc tính của nền VH dântộc, của con người và xã hội của dân tộc đó Nói cách khác, các đặc điểm dân tộc,bản sắc VH dân tộc, được phản ánh trong các giá trị VHDC

Tính dân tộc của VHDC là sự phản chiếu và ảnh hưởng trực tiếp hay gián

tiếp, cùng những biểu hiện bên trong nó các đặc điểm dân tộc như tâm lý, tư tưởng, nếp sống, tập quán, phong tục, các truyền thống văn hoá dân tộc khác và

cả các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mà dân tộc đó đang tồn tại

Truyền thống dân tộc là toàn bộ những yếu tố “di truyền” VH xã hội của dân

tộc từ thế hệ trước sang thế hệ sau, được bảo tồn trong các cộng đồng xã hội củadân tộc trong quá trình lịch sử lâu dài

Truyền thống dân tộc bao gồm trong đó cả những chế định xã hội, các giá trịvăn hoá tư tưởng, lối sống, tâm lý - ý thức, các chuẩn mực hành vi, các quan niệmđạo đức, thẩm mỹ tạo thành tập quán, phong tục xã hội Truyền thống dân tộc làyếu tố khách quan có sức mạnh khống chế, và định hướng ý thức, thái độ, hành vicon người Bởi vậy các quan niệm về tự do, dân chủ, bình đẳng, các nhu cầu, nếpsống, tập quán, truyền thống dân chủ, các hành vi thực hiện dân chủ chịu ảnhhưởng rất sâu sắc các đặc điểm truyền thống dân tộc

Trang 23

Các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đươngđại tác động trực tiếp

tới các nội dung VHDC Các yếu tố dân tộc đương đại này quyết định bộ mặt đờisống tinh thần xã hội và đời sống dân chủ, trình độ VHDC Chế độ, trạng tháikinh tế, chính trị - xã hội, trình độ dân trí là yếu tố cơ bản quy định thực trạngdân chủ, tâm trạng, nhu cầu dân chủ, đồng thời cả bản chất, nội dung, xu hướngphát triển của nền VHDC Trong “Phê phán Cương lĩnh Gô Ta”, khi nói về sựquy định của kinh tế, văn hoá đối với pháp quyền, C.Mác viết: “Quyền khôngbao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xãhội, do chế độ kinh tế sinh ra quyết định” (7, tr.480)

VHDC có giá trị chung phổ biến, đồng thời mặt khác VHDC bao giờ cũng

gắn liền với một dân tộc, một quốc gia xác định Vấn đề dân chủ luôn là nội dung vấn đề dân tộc Sự khác nhau về truyền thống VHDT, sự không đồng đều về hiện

trạng đời sống xã hội của các dân tộc, quy định sự phát triển khác nhau về trình

độ VHDC Vì vậy tư tưởng độc lập - tự chủ, sáng tạo là một nguyên tắc chủ đạocực kỳ quan trọng trong xây dựng và phát triển VHDC Việc nghiên cứu tiếp thu

có phê phán, có chọn lọc các giá trị VHDC trên thế giới là dĩ nhiên và cần thiết.Song sự sao chép máy móc, mô phỏng giáo điều các hình thức tổ chức quyền lựcchính trị và quyền lực nhà nước, mở rộng dân chủ và đổi mới HTCT mà khôngtính đến các yếu tố dân tộc truyền thống đương đại sẽ là một sai lầm nghiêmtrọng cả về lý luận và thực tiễn Cần lưu ý lời nói của V.I Lê nin: “Tất cả các dântộc đều tiến lên CNXH Đó là điều không tránh khỏi Nhưng tất cả các dân tộctiến lên CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau Mỗi dân tộc sẽ đưađặc điểm của mình vào hình thức này hay loại khác của việc cải tạo XHCN đốivới các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (11 tr.160)

- Thứ tư là, tính giai cấp của VHDC

Trang 24

VHDC là giá trị xã hội phản ánh vai trò, vị thế của chủ thể - con người trongcác hệ thống xã hội, nhất là hệ thống quyền lực chính trị Trong xã hội có giaicấp, VHDC bao giờ cũng mang tính giai cấp sâu sắc.

Tính giai cấp là một thuộc tính nội tại cơ bản của VHDC, nó được hìnhthành một cách khách quan từ địa vị kinh tế, chính trị của giai cấp Địa vị kinh tế,chính trị của giai cấp, quy định thế giới quan, hệ tư tưởng chính trị, các quanniệm về các giá trị, đạo đức, thẩm mỹ cùng các hoạt động thực tiễn của giai cấp

đó Bởi vậy các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau về nội dung tư tưởng

và phương thức, mục tiêu thực hiện dân chủ Việc các giai cấp đề ra các quanđiểm tư tưởng, các chuẩn mực giá trị dân chủ, đều nhằm phục vụ lợi ích kinh tế

và quyền lực chính trị của mình

Bản chất giai cấp quy định nền VHDC cả về bản chất, nội dung, trình độcùng chức năng xã hội của nó Theo quy luật chung, giai cấp nào tiên tiến hơn vềphương thức sản xuất - giao tiếp xã hội, thì cũng tiến bộ hơn về tính chất và pháttriển cao hơn về trình độ VHDC Trong một nền VHDC thì các quan điểm tưtưởng dân chủ của giai cấp thống trị là tư tưởng dân chủ thống trị xã hội, tưtưởng dân chủ chính thống, hợp pháp, được pháp luật hoá thành các giá trị xã hộiphổ biến và áp đặt với toàn xã hội Nó là nội dung tư tưởng của nền VHDC củagiai cấp thống trị Trong xã hội có giai cấp đối kháng, thực tế luôn tồn tại quanđiểm tư tưởng dân chủ đối lập của giai cấp thống trị Nó cũng là cơ sở tư tưởngcủa nền VHDC của giai cấp bị trị Trong một chế độ xã hội, còn tồn tại giai cấp,trong thực tế luôn tồn tại (ở mức độ, hình thức, nội dung khác nhau) hai nền VHnói chung và VHDC nói riêng Nói về sự song hành của hai nền VH trong lòngchủ nghĩa tư bản, V.I Lê nin chỉ rõ: “Trong mỗi dân tộc, có nền VH tư sản lànền VH thống trị” đồng thời “trong mỗi nền văn hoá dân tộc, đều có những thành

phần, thậm chí không phát triển của nền VH dân chủ XHCN, vì trong mỗi dân tộc,

Trang 25

đều có quần chúng lao động và bị bóc lột, mà điều kiện sinh sống của họ, nhất

định phải sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và XHCN” (18, tr.15)

Trong nền VHDC tư sản, tính chất tư sản thể hiện trước hết là các quan điểm

tư sản về dân chủ Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và những kẻ đồng loã với

họ thường tán dương về “tính khách quan”, “vô tư” của dân chủ tư sản, coi đó làmẫu mực, và nó đem lại dân chủ cho mọi người Họ tuyệt đối hóa và thổi phồngquá đáng các đặc điểm chung, những giá trị phổ biến, nhân đạo, nhân văn và tínhnhân loại, tính nhân dân của dân chủ - nhân quyền, cố tình lảng tránh hoặc phủnhận tính giai cấp của nó Họ chứng minh rằng việc giai cấp tư sản giương caongọn cờ tư tưởng: “Tự do - bình đẳng, bác ái”, khẳng định sở hữu tư nhân, tự dokinh doanh, cơ chế thị trường, tự do cá nhân v.v là thể hiện đầy đủ nhất đặc tínhnhân đạo của VHDC tư sản Việc tuyên bố các quyền con người, quyền bình đẳngcủa công dân trước pháp luật, việc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị,

sự phát triển phong phú của các phương tiện thông tin - truyền thống đại chúng trong xã hội tư sản, đó là hình mẫu, tấm gương sáng về dân chủ, nhân quyền màthế giới cần noi theo Hơn nữa, họ đang tích cực xuất khẩu các mô hình dân chủphương Tây ra toàn thế giới, hoặc lấy đó là điều kiện để gây sức ép với các nướckhác trong quan hệ quốc tế, đồng thời ra sức nuôi dưỡng, cổ vũ, khuyến khích,ủng hộ các khuynh hướng chấp thuận theo mô hinh đó

Thực ra, các dấu hiệu đó không chứng minh và biện hộ được tính phi giaicấp, siêu giai cấp, sự “hoàn mỹ” của VHDC tư sản Trái lại, nó càng phản ánhđầy đủ và sâu sắc hơn bản chất, mục đích, lợi ích tư sản Các quan điểm dân chủ,các thiết chế, cơ chế trong nền VHDC tư sản, về thực chất đều là những công

cụ, phương thức, thủ đoạn để bảo vệ và thực hiện lợi ích kinh tế, quyền lực chínhtrị của giai cấp tư sản

Thật vậy, sự tồn tai, phát triển của nền sản xuất TBCN đòi hỏi phải thườngxuyên cách mạng hoá công cụ sản xuất, xã hội hoá lực lượng sản xuất và duy trì

Trang 26

sở hữu tư sản Nhu cầu và mục đích lợi ích tư sản đòi hỏi phải có tự do cá nhân để

tự do mua, bán sức lao động, tự do kinh doanh, bảo đảm sở hữu không bị xâmphạm mà còn không ngừng tăng thêm Quan hệ sản xuất tư sản yêu cầu phải có sựđiều tiết lợi nhuận của các tập đoàn tư bản Tính cấp thiết trong việc bảo vệ lợiích chung của tư bản đặt ra cho giai cấp tư sản phải tạo ra những “khế ước xã hội”bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng, dân chủ của tư sản với nhau, đồng thời xoa dịađược sự chống đối của quần chúng lao động và duy trì được trật tự xã hội, an toàn

về chính trị, pháp lý cho sản xuất - kinh doanh tư sản Vì vậy các nội dung dânchủ và pháp luật tư sản phải đáp ứng được nhu cầu đó Các quyền tự do cá nhân,chế độ phân quyền, đa đảng, suy đến cùng là phản ánh nhu cầu khách quan củađời sống xã hội tư sản, hiệnt rạng mâu thuẫn xã hội, tương quan so sánh lực lượng

và kết quả của cuộc đấu tranh trong lòng xã hội tư sản

Hơn nữa, trong điều kiện của CNTB, các giá trị VHDC được xác lập, nhiềukhi lại bị giai cấp tư sản thống trị lợi dụng, xuyên tạc, hạn chế, hoặc làm chomang tính chất thuần tuý hình thức Chẳng hạn quyền tự do, bình đẳng của côngdân thường được giải thích một cách trừu tượng tách rời với các điều kiện kinh tế

- xã hội, sinh hoạt xã hội của con người, hoặc chỉ được giới hạn là bình đẳngtrước pháp luật, là tự do cá nhân riêng lẻ, mà che đậy sự bất công, bất bình đẳng

về kinh tế và xã hội Trong xã hội tư sản hiện đại, nhiều bằng chứng cho thấy nócũng không có khả năng thực hiện dân chủ bình đẳng của công dân trước phápluật Đó là nạn thất nghiệp, mù chữ, phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn, sựhoành hành của các tổ chức Maphia, tình trạng tội phạm, các tệ nạn xã hội, sựphân biệt đối xử về chính trị, tệ phân biệt chủng tộc, kỳ thị dân tộc, xung đột tôngiáo, sự bất bình đẳng, bình quyền giữa nam và nữ

Tính giai cấp tư sản trong nền VHDC tư sản, thể hiện rõ nhất là những thiếtchế, cơ chế và phương thức sử dụng chúng trong đời sống xã hội Nền dân chủ tưsản - đủ được nguỵ trang, che đậy như thế nào - vẫn lộ rõ đó là tổ chức quyền lực

Trang 27

tập trung của giai cấp tư sản, là công cụ của nền chuyên chính tư sản Nhìn bềngoài, nó có vẻ là chính quyền của nhân dân nhờ có chế độ nghị viện, bầu cử dânchủ Thực ra sự tham gia của nhân dân vào công việc quản lý xã hội rất bị động

và mờ nhạt Nghị viện và chính phủ tư sản vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích tư sản,điều hoà lợi ích tư sản, bị các đảng phái tư sản có thế lực nhất thay nhau nắm giữ

Nó vẫn bị sức mạnh của đồng tiền chi phối, quyết định Điều mà C.Mác lột tảthực chất của chế độ đại nghị tư sản trong “Nội chiến ở Pháp” cách đây hơn 120năm, mà trong đó nhân dân cứ ba năm hoặc sáu năm một lần lại phải quyết định

cá nhân nào trong giai cấp thống trị phải “đại diện” và đàn áp nhân dân tại nghịviện” (7, tr 94), đến nay về cơ bản vẫn chưa có mấy thay đổi

Dưới CNTB, giai cấp tư sản cầm quyền thường sử dụng các tổ chức, cơ chếdân chủ như một phương tiện, thủ đoạn quan trọng để duy trì quyền lực Trêndanh nghĩa, nhà nước tư sản long trọng tuyên bố công nhận, đảm bảo các quyềncon người và quyền công dân Nhưng trên thực tế, việc thực hiện các quyền đó lại

bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý, các điều kiện kèm theo, làm hạn chế sự thamgia của nhân dân lao động vào quản lý như trình độ học vấn, mức độ tài sản, cưtrú, chủng tộc, dân tộc Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận thực chất cũng bị hạnchế, bởi các phương tiện thông tin - truyền thông đại chúng: báo chí, phát thanh,truyền hình, đều nằm trong tay những tỷ phú, triệu phú tư sản, chịu sự kiểm soátcủa bộ máy cầm quyền và được chúng sử dụng có mục đích để uốn nắn, địnhhướng dư luận V.I Lê nin đã vạch trần sự tinh vi của dân chủ tư sản như sau:

“Xét kỹ hơn các cơ cấu của nền dân chủ TBCN, thì chúng ta sẽ thấy khắp nơi,trong những chi tiết nhỏ nhặt ( ) của luật tuyển cử trong hoạt độngc ủa cơ quanđại nghị, trong sự tổ chức báo chí hàng ngày thuần tuý theo nguyên tắc TBCNv.v và v.v chúng ta sẽ thấy chế độ dân chủ phải chịu hết hạn chế này đến hạnchế khác Những sự hạn chế, những điều loại trừ, những ngoại lệ, những trở ngại

ấy đối với người nghèo, thì tựa hồ như là nhỏ nhặt Nhưng tổng cộng lại, thì các

Trang 28

thứ hạn chế đó sẽ loại bỏ, gạt người nghèo ra ngoài chính trị, không cho họ thamgia tích cực vào chế độ dân chủ ” (12, tr 107-108)

Vì lợi ích và quyền lực của mình, sự “quan tâm của giai cấp tư sản đến vấn

đề dân chủ trong giai đoạn hiện nay của thời đại còn ở chỗ họ thường sử dụng vàlợi dụng vấn đề dân chủ - nhân quyền như là một vũ khí lợi hại, một mũi tiếncông hiểm độc để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, CNXH, để xâm lược tưtưởng - tâm lý nhân dân các nước XHCN, thực hiện “diễn biến hoà bình”, làmsuy yếu tiến tới lật đổ, thủ tiêu CNXH trên phạm vi toàn thế giới Ngày nay, khidân chủ nhân quyền đang là xu thế thời đại, một tiêu chí quan trọng đánh giá trình

độ văn minh xã hội, thì dân chủ - nhân quyền lại được người ta sử dụng như mộtcái mồi mị dân, một cái bùa hộ mệnh trong cuộc tranh giành quyền lực chính trị

Nó cũng được dùng như một đồ trang sức, một thứ mỹ phẩm để hoá trang bộ mặtcòn nhiều khuyết tật của xã hội tư sản hiện đại

Qua đó đủ thấy rằng, trong xã hội còn phân chia giai cấp, còn tồn tại quan hệchính trị thì VHDC cũng như bất cứ kiểu loại văn hoá nào, quan hệ xã hội nàocũng mang bản chất giai cấp sâu sắc nó là yếu tố cơ bản, chủ đạo chi phối các giátrị VHDC khác Tính giai cấp của VHDC thẩm thấu, hoá thân vào các đặc tínhkhác nhau của VHDC trong sự thống nhất biện chứng, tạo nên một kiểu loạiVHDC cụ thể gắn liền với một giai cấp, một dân tộc, một chế độ xã hội và mộtthời đại lịch sử

Thứ năm Tính liên tục, phát triển có kế thừa và giao lưu văn hoá dân

chủ.

Khảo sát sự vận độngcủa VHDC, chúng ta thấy đó là quá trình liên tục từnền VHDC công xã nguyên thuỷ sơ khai đến nền VHDC xã hội nô lệ, VHDCphong kiến, VHDC tư sản và văn hoá dân chủ XHCN- CSCN

Trong quá trình vận động, phát triển liên tục đó, có những giá trị dân chủ cụthể bị đứt đoạn, hoặc mức độ biểu hiện khác nhau (ví dụ nền dân chủ - một giá trị

Trang 29

VHDC - trong xã hội phong kiến nền quân chủ phủ định); nhưng tổng hoà các giátrị VHDC là liên tục phát triển Đặc biệt các giá trị VHDC như ý thức, tư tưởng,nhu cầu dân chủ, xét trong tiến trình lịch sử, là một quá trình liên tục, một hànhtinh xuyên qua các thời đại và để lại các giá trị tư tưởng đặc trưng của thời đại đó.

Cơ sở khẳng định tính liên tục và phát triển của VHDC xuất phát từ chính sự pháttriển của đời sống xã hội và con người Trình độ, năng lực làm chủ mức độ tự do,giải phóng con người và xã hội trong các chế độ xã hội sau, PTSX, hình tháikinh tế - xã hội sau (theo quy luật chung), bao giờ cũng cao hơn, tiến bộ hơn chế

độ XH, PTSX, hình thái kinh tế - xã hội mà nó đã vượt qua

Quá trình phát triển của VHDC là quá trình sáng tạo, có kế thừa, có phêphán, có sự giao lưu, hấp thụ, hoà nhập lẫn nhau của VHDC giữa các chế độ XH,các dân tộc và các thời đại VHDC cũng như các giá trị VH khác, trong quá trìnhhình thành, phát triển cũng bắt nguồn và sử dụng những tiền đề chất liệu, giá trị

đã có từ trước, do các thế hệ trước tạo ra, đồng thời để đáp ứng nhu cầu dân chủ

xã hội đương thời cũng sáng tạo nên các giá trị VHDC mới Đánh giá sự ra đờicủa Nhà nước dân chủ chủ nô A-ten, trên cơ sở kế thừa các giá trị dân chủ thị tộccủa XH công xã nguyên thuỷ, Ph Ăngghen viết: “Sự ra đời của Nhà nước ở xãhội của người A-ten, là một ví dụ đặc biệt điển hình về sự hình thành của nhànước nói chung Nó đại biểu cho sự phát sinh trực tiếp của một hình thức pháttriển rất cao của nhà nước, tức là chế độ cộng hoà dân chủ, từ xã hội thị tộc” (9,tr.185-186)

Nền VHDC XHCN trong quá trình xây dựng, phát triển, theo quy luật kháchquan cũng phải kế thừa có phê phán cá giá trị VHDC quá khứ (kể cả VHDCnguyên thuỷ), trực tiếp là VHDC tư sản Chủ nghĩa xã hội, VHDC XHCN không

ra đời từ hư vô, cắt đứt liên hệ với lịch sử văn minh nhân loại, đóng cửa biệt lậpvới thế giới bên ngoài Sự kế thừa lịch sử là có cơ sở khoa học và mang tính tấtyếu Các xã hội trước đã tạo ra những tiền đề dân chủ khách quan, gia nhập vào

Trang 30

đời sống xã hội và dân chủ của CNXH Đó là tiền đề tư tưởng- tâm lý- ý thức,

nguyện vọng, nhu cầu dân chủ của nhân dân, các quan điểm, tri thức dân chủ,

khoa học, nghệ thuật quản lý xã hội; tiền đề kinh nghiệm tổ chức, thiết chế, cơ

chế, nguyên tắc, hình thức dân chủ, các phong trào xã hội, tổ chức chính trị, đoàn

thể , tiền đề văn hoá xã hội của dân chủ: thói quen, quan hệ xã hội, tập quán,

truyền thống dân chủ Hơn nữa từ tất yếu kinh tế và chính trị- xã hội, do CNXHhình thành từ CNTB phát triển lên trong lịch sử, kết quả của sự tác động của cáclực lượng xã hội do CNTB tạo ra, là “xã hội mới thoát thai từ xã hội tư sản, nên

về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang nặng dấu vết của xã hộicũ” Vì vậy, giai cấp công nhân, sau khi lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập nền dânchủ mới- nhà nước XHCN, thì nhà nước đó, vẫn là “nhà nước kiểu tư sản” (màkhông có giai cấp tư sản) xã hội vẫn tồn tại “pháp quyền tư sản” và “pháp quyềnnày vẫn tiếp tục thống trị” Cho nên về hình thức, cơ cấu, tổ chức, khoa học nghệthuật quản lý CNXH vẫn cần phải biết lựa chọn, sử dụng những nhân tố, nhữnggiá trị xã hội còn có tác dụng để tổ chức quản lý xã hội mới, nền dân chủ mới,chứ tuyệt nhiên không nên và không được phủ định sạch trơn

Cùng với việc biết chọn lọc, kế thừa các giá trị VHDC quá khứ, VHDC cũng

đòi hỏi khách quan sự tiếp xúc, trao đổi, hấp thụ lẫn nhau để tồn tại và phát triển Bởi vì, bản thân văn hoá nói chung và VHDC nói riêng, theo quy luật tồn tại, vận động của nó, một mặt là tự khẳng định mình; mặt khác luôn luôn đòi hỏi sự giao lưu, đối thoại, hấp thụ các thành tựu văn hoá nhân loại, để sáng tạo, các giá trị dân chủ mới.

Tóm lại, qua sự phân tích các nội dung, đặc điểm của VHDC, có th ể đi đến

một cách khái quát một số thuộc tính bản chất VHDC: VHDC là một khai niệm

để chỉ một kiểu loại văn hoá, mà nó là tổng hoà những hoạt động sáng tạo và những giá trị sáng tạo của nhân dân trong lịch sử, gắn liền với một giai cấp, một chế độ xã hội, một dân tộc và thời đại lịch sử nhằm vươn tới lý tưởng tự do, làm

Trang 31

chủ và bình đẳng thực sự VHDC là trình độ phát triển của các giá trị dân chủ trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, đồng thời là giá trị dân chủ trong nhân cách - (chỉnh thể hợp thành của ý thức, tình cảm , hành vi, nhu cầu, thói quen, nếp sống dân chủ) Văn hoá dân chủ là thực hành dân chủ một cách sáng tạo, chủ động, tích cực, có văn hoá và nhân đạo VHDC là một đặc trưng đánh giá

trình độ phát triển của nhân cách và xã hội văn minh

Sự khái quát trên nêu rõ nguồn gốc hình thành, nội dung biểu hiện, thuộctính bản chất và vai trò của VHDC

1.2 NỘI DUNG, CẤU TRÚC TRÌNH ĐỘ VHDC CỦA NHÂN DÂN TA

Khi xem xét VHDC trên phương diện con người - nhân dân - chủ thể xã hội

trong mỗi điều kiện lịch sử cụ thể, thì trình độ VHDC của nhân dân là mức độ các giá trị VHDC được biểu hiện trong con người, hay là sự lĩnh hội được các giá trị VHDC xã hội của con người, trở thành một phẩm chất của nhân cách, một năng lực của chủ thể, được thể hiện ra trong quá trình hoạt động và giao tiếp xã hội Đó là quá trình chuyển biến từ dân chủ bên ngoài, dân chủ xã hội vào mỗi

cá nhân và mỗi thuộc tính tâm lý cá nhân, trở thành một giá trị nhân cách, thể hiện trong ý thức, tình cảm thái độ, hành vi, hành động, thói quen, nếp sống và nhu cầu của nhân dân theo hệ chuẩn mực giá trị VHDC xã hội đã được xác lập.

1.2.1 Trình độ ý thức văn hoá dân chủ

Cũng như các hình thái ý thức cá nhân và xã hội khác, ý thức văn hoá dânchủ của nhân dân là sự phản ánh đời sống xã hội, quan hệ xã hội Đây là sự phảnánh hiện thực đời sống, quan hệ dân chủ, vai trò vị thế làm chủ của nhân dântrong hệ thống quyền lực xã hội

Bằng sự lĩnh hội các giá trị VHDC, bằng sự gia nhập vào đời sống xã hộidân chủ, thông qua hoạt động và kinh nghiệm cuộc sống, dần dần hình thànhtrong nhân dân, ở một mức độ nào đó những nhận thức dân chủ, pháp luật, chính

Trang 32

trị v.v., chuyển biến thành tình cảm, thái độ, tạo nên xu hướng, động cơ và mụcđích hoạt động dân chủ.

Sự hình thành ý thức VHDC của nhân dân tuân theo tính quy luật của sựhình thành ý thức nói chung Nó chịu sự chi phối, tác động của quan hệ xã hộidân chủ hiện thực và của các nhân tố khách quan, chủ quan khác, trong điều kiện

không gian, thời gian xác định Đặc biệt sự hình thành ý thức VHDC phải thông qua hoạt động làm chủ, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân trong các lĩnh vực

xã hội, sự tác động có định hướng xã hội và khả năng tiếp thu , lĩnh hội các giá trị dân chủ của mỗi người Bởi vậy, trình độ ý thức VHDC của nhân dân được

biểu hiện cụ thể Trong xã hội luôn tồn tại mâu thuẫn giữa các chuẩn mực giá trịdân chủ xã hội với trình độ dân chủ, làm chủ của nhân dân, sự không đồng đều vềtrình độ ý thức dân chủ của các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, các thời kỳ lịchsử

ý thức VHDC của nhân dân, hình thành, phát triển gắn liền với sự hìnhthành, phát triển của các thành tố ý thức xã hội khác, và giữa chúng có quan hệ

tác động biện chứng Trực tiếp hơn cả là ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức và tri thức khoa học

- Về cấu trúc, trình độ ý thức VHDC của nhân dân là sự thống nhất biện chứng của cả trình độ nhận thức dân chủ, trạng thái cảm xúc tình cảm, thái độ dân chủ và niềm tin dân chủ.

Trình độ nhận thức VHDC; đó là toàn bộ mức độ lĩnh hội và sự hiểu biết của

nhân dân về các giá trị VHDC; các quan điểm tư tưởng dân chủ, các chuẩn mựcpháp lý, đạo lý xã hội dân chủ như bản chất, nội dung, nguyên tắc, cơ chế dânchủ; hệ thống các quyền con người và quyền công dân; các nghĩa vụ và tráchnhiệm công dân, các đạo luật và hiến pháp, pháp luật; sự hiểu biết về chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị vàcủa mỗi bộ phận, các cơ quan quyền lực nhà nước, các chính sách của Đảng và

Trang 33

Nhà nước nhằm bảo đảm và thực hiện quyền dân chủ về mọi mặt của nhân dân;phương thức, biện pháp, phương tiện để nhân dân thực hiện quyền dân chủ, làmchủ.

Trình độ nhận thức dân chủ của nhân dân còn là mức độ khả năng phân biệtthực chất bản chất các quan điểm dân chủ, quan điểm chính trị của các khuynhhướng chính trị, các lực lượng xã hội khác nhau, về vấn đề quyền lực xã hội Ởđây đòi hỏi mỗi người không chỉ có tri thức dân chủ, chính trị nhất định mà phải

có sự nhạy bén, mẫn cảm chính trị và kinh nghiệm cuộc sống xã hội

Thái độ, tình cảm dân chủ

Là một cấp độ của ý thức văn hoá dân chủ của nhân dân phản ánh nhữngcảm xúc, tình cảm, thái độ sống (tích cực hoặc tiêu cực) trước những hiện trạngđời sống dân chủ xã hội và quan hệ xã hội dân chủ tác động đến con người, sovới yêu cầu các chuẩn mực giá trị VHDC cả về mặt pháp lý, đạo lý và thẩm mỹ

xã hội

- Biểu hiện trước hết là thái độ chấp hành pháp luật, tôn trọng các chuẩnmực dân chủ, các quy tắc sinh hoạt cộng đồng, các nguyên tắc dân chủ trong cácquan hệ xã hội và hình thức tồn tại xã hội của con người

- Thái độ yêu, ghét, đồng tình hay phản đối của mỗi người với những hiệntượng xã hội, xung quanh vấn đề dân chủ, làm chủ Chẳng hạn trước nhữg quanđiểm, hành vi sai trái xâm phạm đến quyền dân chủ, làm chủ của nhân dân, làmtổn hại đến lợi ích của nhân dân và của xã hội như tham nhũng, hối lộ, chuyênquyền, quan liêu, sách nhiễu nhân dân hoặc vô tổ chức vô kỷ luật, coi thường kỷcương phép nước thì thái độ của mỗi người biểu thị ra sao? Trước những conngười và những việc làm tích cực phấn đấu cho dân chủ, đấu tranh cho lẽ phải vàcông bằng xã hội mỗi người thể hiện mức độ đồng tình, cổ vũ, ủng hộ, bảo vệcác nhân tố dân chủ tiến bộ đó như thế nào? Trực tếp hơn, mỗi người biểu thịthái độ của mình trước những hành vi xâm phạm đến các quyền con người, quyền

Trang 34

dân chủ của bản thân? cam chịu hay dám tố cáo, dám đấu tranh để tự bảo vệ vàkêu gọi sự giúp đỡ của dư luận và pháp luật?

- Khả năng kiểm soát những cảm xúc, năng lực giải tỏa tâm trạng tiêu cựcxảy ra trong mỗi người trước những tác động, kích thích bên ngoài liên quan đếnđời sống dân chủ trước hiện thực xã hội nói chung và đời sống dân chủ nói riêngbiểu hiện hai thái cực: phấn khởi nhiệt tình hay bi quan, chán nản, từ đó dẫn tớihành vi hành động tích cực hoặc tiêu cực

Tâm trạng và tình cảm dân chủ của con người được hình thành thông quaquá trình hoạt động giao tiếp xã hội, trên cơ sở nhận thức các hiện tượng đời sốngdân chủ, và sự tác động của khách quan đối với mỗi người có đáp ứng được nhucầu dân chủ của họ đến mức độ nào Sự hình thành tâm trạng, tình cảm conngười là khách quan Vấn đề là ở chỗ mỗi công dân có khả năng tự điều chỉnh,giải toả tâm trạng đó theo cách nào Nếu tâm trạng nhân dân lạc quan, phấn khởi,tác động bên ngoài mang tính tích cực, tiến bộ sẽ tạo nên sức mạnh to lớn do lòngnhiệt tình và trí sáng tạo của quần chúng được phát huy Trái lại nếu tâm trạngquần chúng mang tính bi quan, các tác động bên ngoài lại nhằm thúc đẩy tâmtrạng tiêu cực đó, thì nó có thể gây đến hậu quả xã hội xấu, bởi vì như V.I Lê ninnói: “Tâm trạng là cái gì hầu như mù quáng, vô thức và không lường trước được”(17, tr.289) Hơn nữa, nếu các nguyên nhân tạo nên tâm trạng có sự biến đổi lớnlao, thì tâm trạng quần chúng có thể thay đổi từ cực này sang cực khác

Ngoài ra, một biểu hiện của tâm trạng quần chúng không có lợi cho đời sống

xã hội và quan hệ dân chủ là khuynh hướng thái quá, cực đoan, vượt ngưỡng:nhiệt tình say sưa quá mức dễ dẫn đến bốc đồng, “lạc quan tếu”; hoặc sự bìnhthản có thể tiến tới thái độ thờ ơ chính trị, sự “đóng băng”, tinh thần cách mạng

và sáng tạo của quần chúng nhân dân

Trang 35

-Khả năng kiềm chế, giải toản tâm trạng, cảm xúc tiêu cực trước nhữg tácđộng kích thích bên ngoài đi ngược lại các chuẩn mực giá trị dân chủ xã hội tuỳ

thuộc một phần quan trọng vào năng lực ý chí làm chủ bản thân của mỗi người.

Năng lực làm chủ bản thân trong ý thức văn hoá dân chủ của công dân thể hiện ở khả năng làm chủ được cảm xúc, biết tự kiềm chế, , không để bị kích động,

bị lôi cuốn vào các hoạt động trái pháp luật, đi ngược lại lợi ích xã hội, vi phạmquyền làm chủ của người khác đó còn là ý chí gạt bỏ được những tham vọng cánhân ích kỷ, nhất là ham muốn của cải và quyền lực mà chà đạp lên lợi ích củangười khác và lợi ích xã hội

ý chí năng lực làm chủ bản thân là yếu tố quan trọng giúp cho mỗi người có

thể ứng xử đúng đắn theo đúng tư cách của người làm chủ, có bản lĩnh công dân, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm Trước những sức ép từ nhiều phía,

“trên đe dưới búa”, công ăn việc làm, quyền lợi trước mắt và lâu dài có thể bịthiệt thòi, thậm chí sinh mệnh chính trị, an toàn bản thân và gia đình bị đe doạ,liệu người ta có đủ dũng khí để nói lên tiếng nói của lẽ phải, công lý hay không?

Đó là điều không đơn giản Không có ý chí làm chủ, người ta rất dễ xuôi chiều,

cơ hội, thực dụng, thậm chí a dua, đồng loã trước những hành vi tiêu cực phảnVHDC

- Một nội dung quan trọng trong trình độ ý thức văn hoá dân chủ của nhân

dân đó là ý thức dân chủ tự giác, nhân dân tự ý thức được quyền làm chủ, dân

chủ, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, vị thế của mình trong các quan hệ xã hội

Tự ý thức về dân chủ, làm chủ, trước hết là tự xác định được vị thế bản thâncủa mình trong các quan hệ xã hội cụ thể Xã hội là hệ thức phức hợp các mốiliên hệ, quan hệ xã hội của con người, nên trong các phân hệ hệ thống xã hội, mỗingười có nhiều tư cách, tuỳ theo các quan hệ cụ thể Bởi vậy, trình độ tự ý thức vềdân chủ của mỗi người là khả năng ứng xử đúng đắn vị thế, phạm vi, quyền làmchủ của mình, thích ứng với mỗi quan hệ xã hội cụ thể Quyền dân chủ, làm chủ

Trang 36

là quyền chung của công dân, song việc thể hiện quyền đó bao giờ cũng mangtính xác định, và theo những nguyên tắc, phạm vi chức trách, quyền hạn, rõ ràng.

Tự ý thứ về dân chủ của công dân đặt ra cho mỗi người phải xác định được tráchnhiệm trước các vấn đề xã hội, liên quan đến lơi ích của nhân dân, của đất nước

Từ đó chủ động tham gia giải quyết mà không phải có sức mạnh ép buộc, cưỡngchế nào Trình độ tự ý thức về dân chủ , còn là mức độ tự trọng, đề cao danh dự,nhân cách của mình, đồng thời tự giác tôn trọng các quyền tự do dân chủ củangười khác và các quy tắc sinh hoạt xã hội công cộng, các chuẩn mực dân chủ.Như vậy, trình độ ý thức VHDC của nhân dân ở mức độ tự ý thức về dânchủ, không chỉ là kết quả của sự thâu lượm và hiểu biết sâu sắc về dân chủ, chínhtrị, pháp luật, về quyền lợi, nghĩa vụ xã hội và trách nhiệm công dân, v.v Nóphải từ những nhận thức dân chủ đó, kết hợp với tình cảm, ý chí bản thân hướngtới dân chủ, thông qua nỗ lực chủ quan, cùng những trải nghiệm cuộc sống củachủ thể đối chiếu, lựa chọn, hình thành nên Vì vậy trình độ tự ý thức về dân chủ,phải là sản phẩm sinh thành của bản thân cá nhân, sự thôi thúc nội tâm để chuyểnhoá các giá trị dân chủ xã hội thành giá trị dân chủ của nhân cách, thành hànhđộng cơ bản bên trong của mỗi con người Đây là mức độ giác ngộ dân chủ caocủa mỗi người

Tự ý thức về quyền dân chủ của mỗi người là quá trình tự hoàn thiện nhâncách, bản lĩnh công dân để trở thành chủ thể tích cực sáng tạo của xã hội Nó trựctiếp giúp cho mỗi người có hành vi dân chủ đúng đắn, có thể vững vàng trước cáctác động, vượt qua các cản trở trong khi thực hành dân chủ nhất là dưới hình thứcdân chủ trực tiếp và tự quản

Niềm tin trong trình độ ý thức VHDC

Niềm tin dân chủ là kết quả tổng hợp sự hoà quyện của trình độ nhận thứcdân chủ, cùng thái độ, tình cảm đối với dân chủ, ý chí phấn đấu vì dân chủ và sự

tự ý thức về quyền dân chủ của mỗi người Đồng thời nó còn là kết quả của sự kết

Trang 37

hợp các nhân tố đó với trình độ ý thức chính trị, tư tưởng, pháp luật, văn hoá nóichung, đạo đức, thế giới quan, và nhân sinh quan của mỗi người.

Cơ sở của niềm tin dân chủ của nhân dân bắt nguồn từ lòng tin của nhân dânvào sức mạnh của chính mình Nhân dân là người làm nên lịch sử, sáng tạo cácgiá trị văn hoá Nhân dân là cội nguồn của quyền lực xã hội, quy định sự ra đời,tồn vong, biến đổi của mọi chế độ xã hội, mọi thể chế, cơ cấu, cơ chế quyền lực

xã hội Sự thăng trầm của quyền lực, diễn biến của lịch sử, phát triển của văn hoá,trực tiếp được quyết định bởi sức mạnh của nhân dân Chính nhân dân chứ khôngphải lực lượng nào khác sẽ biết cách tìm ra các con đường, hình thức, biện phápsáng tạo các giá trị dân chủ để thực hiện lý tưởng giải phóng và làm chủ củamình bởi vậy chỉ trên cơ sở có niềm tin khoa học sâu sắc vào vai trò nhân dânquyết định sự phát triển lịch sử, văn hoá nói chung và VHDC, mới giúp người tatin tưởng vào thắng lợi của quá trình dân chủ hoá xã hội

Niềm tin dân chủ trong trình độ ý thức VHDC của nhân dân gắn liền vớiniềm tin chính trị, niềm tin pháp luật, niềm tin đạo đức Sự tin tưởng vào bảnchất chế độ xã hội, nền dân chủ của nhân dân, trí tuệ và sức mạnh nhân dân, vào

sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới và dân chủ hoá, xu thế phát triểncủa tương lai dân tộc, cùng lòng tin vào bản chất tốt đẹp của con người, sự trườngtồn cùng văn hoá, của các giá trị nhân đạo, nhân bản, sự tất thắng của chính nghĩa

và chân lý v.v sẽ củng cố niềm tin dân chủ của mỗi người

Có niềm tin dân chủ vững chắc, nhân dân có định hướng dân chủ đúng đắn,vững vàng trước thử thách, không hoang mang dao động trước những biến độngchính trị - xã hội dữ dội, thậm chí cả sự thăng trầm của quyền lực nhân dân; có đủ

ý chí và quyết tâm để thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của mình Bởivậy niềm tin dân chủ là một động cơ tư tưởng và hành động rất căn bản của côngdân trong xã hội dân chủ Nó là yếu tố quan trọng nhất trong trình độ ý thứcVHDC của nhân dân

Trang 38

Như vậy, TRÌNH ĐỘ Ý THỨC VĂN HOÁ DÂN CHỦ của nhân dân - (một hình thức ý thức cá nhân và xã hội, một cấp độ trình độ văn hoá dân chủ, biểu thị

sự phát triển nhất định của phẩm chất nhân cách công dân xã hội dân chủ)- là sự kết hợp thống nhất biện chứng của trình độ nhận thức dân chủ, tình cảm, thái độ dân chủ và niềm tin dân chủ.

Trong trình độ ý thức VHDC, mỗi yếu tố đó phản ánh một mức độ nhất địnhcủa ý thức VHDC Chúng có quan hệ biện chứng với nhau, là cơ sở, nương tựa,

bổ sung, củng cố lẫn nhau, tác động lẫn nhau, tạo nên trình độ ý thức VHDCchung của mỗi người Trình độ ý thức VHDC, nói lên năng lực, dân chủ của nhândân ở trạng thái tâm lý - tư tưởng - tinh thần, Nó là tiền đề đầu tiên, cơ bản quyđịnh năng lực hành vi hành động thực hiện dân chủ của công dân trong đời sống

xã hội và quan hệ xã hội

1.2.2 Năng lực hành vi thực hiện dân chủ của nhân dân

Trình độ văn hoá của con người phải thể hiện ra qua hành động, hoạt động.Phải thể hiện và thông qua hoạt động thực hiện dân chủ, trình độ văn hoá dân chủmới được phản ánh trọn vẹn, đầyđủ, đồng thời mới có ý nghĩa hiện thực trong đờisống xã hội

Năng lực hành vi, hành động thực hiện dân chủ của nhân dân là mức độ, chất lượng sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động đời sống xã hội, quan hệ

xã hội để thực hiện các quyền làm chủ, dânchủ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, sáng tạo các giá trị văn hoá và VHDC nhằm phục vụ lợi ích cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng xã hội.

Sự tham gia của nhân dân vào quá trình thực hiện dân chủ là thể hiện tínhtích cực chính trị - xã hội của công dân, là quá trình hiện thực hoá và sáng tạo cácgiá trị văn hoá và văn hoá dân chủ Xét về khách quan, đó là kết quả tất yếu sựphát triển nhu cầu dân chủ xã hội, sự chín muồi của các tiền đề kinh tế, chính trị,

tư tưởng, văn hoá, xã hội và con người của dân chủ, sự hình thành các quan hệ xã

Trang 39

hội dân chủ hiện thực trong xã hội Về mặt chủ quan, đây là sự kế tiếp tất nhiêntrình độ ý thức VHDC của nhân dân bằng hành vi, hành động Sự tham gia củanhân dân vào quá trình thực hiện dân chủ là nhân tố quyết định sự phát triển, tiến

bộ xã hội về mọi mặt và dân chủ hoá

Năng lực thực hiện dân chủ của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội

Các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá vừa là cơ sở hìnhthành và thể hiện các giá trị văn hoá và văn hoá dân chủ; vừa là mục tiêu, nộidung của dân chủ hoá, đồng thời là lĩnh vực mà qua đó nhân dân thực hiện vàhưởng thụ quyền làm chủ, dân chủ của mình Mức độ và chất lượng tham gia vàoquá trình thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực xã hội phản ánh trình độ thực hànhdân chủ của nhân dân

Năng lựcthực hành dân chủ về kinh tế đó là hiệu quả hoạt động thực hiện

các quyền dân chủ của nhân dân trong các mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, sửdụng TLSX, tổ chức quản lý sản xuất và hưởng thụ thành quả sản xuất; trong quátrình sản xuất- kinh doanh; trong các quan hệ kinh tế của các chủ thể v.v Trongnền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nươc, năng lực dân chủ kinh tế của nhân dân là phải biếtphát huy trí tuệ, tài năng, kinh nghiệm sản xuất - kinh doanh, sức lao động, tư liệulao động để tạo ra nhiều sản phẩm, đem lại lợi ích cho mình và lợi ích xã hội; biết

tự chủ, năng động trong sản xuất - kinh doanh; tự giác tôn trọng pháp luật, luậtkinh tế, sự quản lý của Nhà nước; tôn trọng quan hệ, nguyên tắc dân chủ, bìnhđẳng giữa các chủ thể kinh tế, tôn trọng khách hàng, giữ chữ tín, có trách nhiệm

về sản phẩm, hoà nhã, cởi mở, lịch sự, văn minh lao động và kinh doanh; trungthực trong sản xuất- kinh doanh - quảng cáo, không làm và chống làm hàng giả,hàng xấu, không trốn thuế, lậu thuế, chống buôn lậu và làm ăn phi pháp; tích cựcđấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, xa hoa lãng phí Đó còn là năng lực tham gia

Trang 40

vào công tác kiểm tra, thanh tra, quản lý, bảo vệ tài sản công dân và tài sản xãhội, giữ gìn an ninh kinh tế trật tự an toàn xã hội trên lĩnh vực kinh tế , bảo vệ tàinguyên, môi trường không bị huỷ hoại và ô nhiễm.

Trình độ năng lực dân chủ về chính trị của nhân dân thể hiện ở mức độ khả

năng và hiện thực tham gia vào đời sống chính trị của đất nước, hưởng ứng cáccuộc vận động chính trị, sinh hoạt chính trị, tham gia các tổ chức đoàn thể xã hội,các phong trào cách mạng của nhân dân

Đó là khả năng của mỗi người có xu hướng chính trị đúng đắn, biết tuyêntruyền, vận động, lôi cuốn, giác ngộ người khác, thực sự gương mẫu thực hiệnquyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc, tích cực đấu tranh chống quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, làm trong sạch

và tăng cường năng lực quản lý xã hội của Nhà nước; góp phần xây dựng Đảng,củng cố các đoàn thể xã hội mà mình tham gia Đó là năng lực, hiệu quả của mỗingười đóng góp ý kiến góp phần xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, cácvăn kiện pháp luật, đề xuất các sáng kiến, kinh nghiệm có chất lượng để giảiquyết các vấn đề xã hội đặt ra Đó còn là năng lực của mỗi người có thể phân tíchđánh giá tình hình chính trị trong và ngoài nước, có lập trường kiên định, làm chủđược bản thân, có hành động kiên quyết bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền làm chủ củanhân dân trước những biến động chính trị có thể xẩy ra, không bị lôi cuốn vào cáchoạt động chính trị chống đối, vi phạm pháp luật Trình độ năng lực dân chủ vềchính trị của môi người còn được biểu hiện ở hành động giữ gìn bí mật quốc gia,giữ gìn an ninh chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, danh dự dân tộc,tài nguyên của đất nước, không để bị lợi dụng, bị mua chuộc tiếp tay cho các thếlực chống đối trong và ngoài nước thực hiện “diễn biến hoà bình” Năng lực dânchủ về chính trị đó còn là khả năng của mỗi người đấu tranh chống lại những biểuhiện trì trệ tiêu cực, sự thờ ơ chính trị, tính an phận, những biệu hiện cơ hội vàthực dụng chính trị của bản thân và của những người xung quanh Năng lực thực

Ngày đăng: 06/11/2016, 08:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.Mác: Bản thảo kinh tế - triết học 1844. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962 Khác
2. C. Mác: Hệ tư tưởng Đức, Nxb Sự thật, Hà Nội 1984 Khác
3. C. Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, T1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983 Khác
4. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980 Khác
5. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981 Khác
6. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T3, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982 Khác
7. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T4, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983 Khác
8. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T5, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983 Khác
9. C. Mác và Ph.Ăngghen. Tuyển tập, T6, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984 Khác
10. Ph.Ăngghen. Biện chứng của tự nhiên. Nxb Sự thật, Hà Nội. 1971 Khác
11. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 30, Nxb Tiến bộ, M. 1981 Khác
12. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 33, Nxb Tiến bộ, M. 1976 Khác
13. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 36, Nxb Tiến bộ, M. 1976 Khác
14. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 39, Nxb Tiến bộ, M. 1977 Khác
15. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 40, Nxb Tiến bộ, M. 1977 Khác
16. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 41, Nxb Tiến bộ, M. 1977 Khác
17. V.I.Lê-nin. Toàn tập, t. 52, Nxb Tiến bộ, M. 1978 Khác
18. V.I.Lê-nin. Bàn về văn hoá và cách mạng văn hoá. Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va Khác
19. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.2, Nxb Sự thật, Hà Nội 1982 Khác
20. Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.3, Nxb Sự thật, Hà Nội 1983 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w