Công cuộc đổi mới ở Việt Nam, được chính thức khởi động từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 121986) đến nay đã trải qua gần 10 năm, đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, đóng góp quyết định vào việc đưa nền kinh tế cơ bản ra khỏi khủng hoảng, hoàn thành vượt mức và toàn diện kế hoạch năm 1991 1995, đạt được mức tăng trưởng cao và lâu dài nhất từ trước đến nay
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam, được chính thức khởi động từ Đạihội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đến nay đã trải qua gần 10năm, đã đạt được những thành tựu ban đầu rất quan trọng, đóng gópquyết định vào việc đưa nền kinh tế cơ bản ra khỏi khủng hoảng, hoànthành vượt mức và toàn diện kế hoạch năm 1991- 1995, đạt được mứctăng trưởng cao và lâu dài nhất từ trước đến nay
Công cuộc đổi mới về thực chất là một cuộc cải cách mang tính chấtchuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mang nặng tínhquan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Công cuộc đổi mới bao hàm những thay đổi rất
cơ bản, sâu sắc, với một khối lượng công việc rất đồ sộ, phức tạp, mới
mẻ và liên quan đến hầu hết các mặt của hoạt động kinh tế, xã hội
Cho đến nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về công cuộcđổi mới ở nước ta vẫn còn là vấn đề đang đặt ra để đáp ứng cho nhucầu xây dựng các chính sách vĩ mô cho công cuộc đổi mới trong thờigian đến Vì những lý do nêu trên, việc phân tích công cuộc đổi mới ởViệt Nam dưới giác độ phương pháp luận nhằm rút ra những bài họcthành công và không thành công của giai đoạn đã qua và đề xuất nhữngkiến nghị cho giai đoạn tới là một việc rất cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về phương pháp luận, cơ sở khoa học vàthực tiễn của công cuộc đổi mới ở Việt Nam Thông qua phân tích so
Trang 2mặt hợp lý và chưa hợp lý về phương pháp luận trong công cuộc đổimới ở Việt Nam cho đến nay, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính phổbiến và tính đặc thù, giữa tính lịch sử và tính gôgíc trong phương phápluận cải cách thông qua phân tích trường hợp đổi mới ở Việt Nam Trên
cơ sở đó sẽ đề xuất những kiến nghị cho những bước cải cách tiếp theotrong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quá trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kếhoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Ngoài ra, cũng sẽ nghiên cứu
về phương pháp luận và kinh nghiệm cải cách của một số nước trên thếgiới nhằm so sánh đối chiếu để rút kinh nghiệm cho việc xây dựng lộtrình tiếp tục cải cách kinh tế ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu chủ yếubao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công cuộc đổi mớikinh tế ở nước ta, đặc biệt từ Đại hội VI đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợpvới phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích của kinh tếhọc vĩ mô hiện đại, đối chiếu so sánh với thực tiễn để nghiên cứu và giảiquyết vấn đề đặt ra
5 Những đóng góp chủ yếu của luận án
Trên cơ sở tổng kết quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam và kinhnghiệm cải cách của quốc tế, luận án đã hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lýluận và thực tiễn đói với công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta trong thời
Trang 3gian qua, nêu lên những nét đặc trưng của công cuộc đổi mới ở ViệtNam cho đến nay và căn cứ lý luận và thực tiễn cho đổi mới kinh tế giaiđoạn các năm tiếp theo.
- Đánh giá một cách tổng thể hiện trạng đổi mới kinh tế ở nước ta,làm rõ các kết quả đã đạt và các mặt tồn tại trong tiến trình đổi mới hiệnnay
- Đề xuất các nội dung cơ bản trong xây dựng lộ trình đổi mới vàphương pháp phân tích sử dụng trong xây dựng lộ trình đổi mới
- Nêu các kiến nghị liên quan đến tiến trình đổi mới kinh tế ở nước
ta thời gian tới
6 Nội dung luận án
a) Tên luận án: "Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt Nam"
b) Kết cấu luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận
án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi mới
kinh tế ở Việt Nam
Chương 2: Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam từ sau Đại hội VI
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I MỘT SỐ NÉT TỔNG QUÁT VỀ CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ
Các mô hình kinh tế được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết kinh tế.Các lý thuyết kinh tế thường không phải là các quy luật chính xác nhưcác quy luật của tự nhiên Các quy luật kinh tế mang tính "sác xuất" vàkhông thể áp dụng một cách chặt chẽ như các quy luật của khoa học tựnhiên Nền kinh tế của các quốc gia và của thế giới phát triển và biến đổikhông ngừng Mỗi lý thuyết kinh tế ra đời được ứng dụng phù hợp vớinhững điều kiện thực tế cho đến khi nào nó không còn phù hợp vớinhững điều kiện thực tế mới, đã được thay đổi Khi đó nó sẽ được thaythế bằng các lý thuyết mới, tổng quát hơn, phù hợp hơn với những điềukiện thực tế mới xuất hiện
1 Các mô hình kinh tế thị trường
1.1 Một số vấn đề về các lý thuyết về kinh tế thị trường và mô hình kinh tế thị trường
Kinh tế học cổ điển: Thời điểm được coi là bắt đầu của kinh tế học
cổ điển là năm 1770 Với tác phẩm "Tìm hiểu về bản chất và nguyênnhân giàu có của các dân tộc" của Ađam Smith (1723-1790), lần đầu tiênkinh tế học đã được hình thành như một lĩnh vực khoa học độc lập:Smith đại diện cho tầng lớp tư sản muốn xoá bỏ chế độ phong kiến vàxây dựng phương thức sản xuất mới thúc đẩy sự phát triển kinh tế và sự
Trang 5giàu có cho xã hội Luận điểm nổi tiếng về mô hình kinh tế thị trường tự
do sơ khai là luận điểm về "bàn tay vô hình" của A.Smith Luận điểmtương tự "laisser faire" hay để mặc cho mọi người làm gì thì làm ở Phápcùng thời, thể hiện mong muốn tự do của lớp người mới ủng hộ sự pháttriển của phương thức kinh tế tư bản thời bấy giờ Nhà nước không nêncan thiệp Tư tưởng "phó mặc cho thị trường" không chỉ là đòn công kích
về phía các nhà theo trường phái trọng thương, những người ủng hộ
hạn chế nhập khẩu, mà còn là sự bác bỏ chủ nghĩa can thiệp Theo họ,
Nhà nước chỉ nên thực hiện hai chức năng là đảm bảo an ninh và thiếtlập hệ thống pháp lý để duy trì quyền tự do thương mại và tài sản tư
nhân Mối quan hệ tâm chính của các nhà kinh tế học cổ điển không phải là vấn đề phân bổ nguồn lực hay lý thuyết về cơ chế giá, mà là sự hình thành thặng dư và tăng trưởng kinh tế.
Karl Marx (1818- 1873) Theo cách phân loại của nhiều tác giả hiện
nay [40] thì K.Marx thuộc vào nhóm các nhà kinh tế cổ điển Vào giữathế kỷ 19, kinh tế thị trường không còn phát triển êm đềm như giai đoạnđầu Các học thuyết kinh tế trước đó không đủ giải thích các vấn đề kinh
tế xã hội nảy sinh Marx đã xây dựng một học thuyết mới đánh dấu bằng
bộ "Tư bản" (1857-1858) Marx đã phát triển tiếp tục lý thuyết giá trị củaRicardo và xem xét lại các lý thuyết kinh tế trước đó Marx được thừanhận như một nhà kinh tế học cổ điển lỗi lạc, có ảnh hưởng sâu sắc tới
sự phát triển của kinh tế học, người có công lao to lớn trong việc pháttriển phép biện chứng vào kinh tế và xây dựng học thuyết về chủ nghĩacộng sản khoa học ứng dụng học thuyết Marx về sau này liên quan đếnxây dựng mô hình kinh tế kế hoạch tập trung sẽ nói ở phần sau Mộtđiều đáng nói ở đây khi so sánh với kinh tế học hiện đại, do các hạn chế
Trang 6của lịch sử thời đó, các đánh giá về sản xuất xã hội hình thành giá trịcủa Marx đã đánh giá thiên về các hoạt động sản xuất ra sản phẩm vậtchất mà đánh giá chưa đầy đủ giá trị của các hoạt động phi sản xuất vậtchất Điều đó liên quan đến toàn bộ quan điểm và cách phân tích kinh tếsau này của các nước kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Năm 1870 được coi là thời điểm kết thúc của kinh tế học cổ điển và
cũng là thời điểm khởi đầu của kinh tế học tân cổ điển Mặc dù có sự
khác biệt quan trọng giữa kinh tế học cổ điển và kinh tế học tân cổ điển,nhưng khái niệm "cổ điển" vẫn chưa được hiểu và sử dụng một cáchnhất quán Thí dụ như vào năm 1936 bản thân Keynes đã coi tất cả cácnhà kinh tế trước thời đại của mình là cổ điển, và vì vậy ông đã gộp cácnhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển lại làm một Các nhà kinh tế hiệnđại có sự phân loại khác nhau và cũng khác với quan điểm này củaKeynes
Kinh tế học tân cổ điển (Neoclasical Ecônmic).
Từ cuối thế kỷ 19 trở đi, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ,kinh tế thị trường tự do phát sinh nhiều mâu thuẫn mới, khủng hoảngchu kỳ, lạm phát, thất nghiệp là các hiện tượng mà các lý thuyết cổ điểnkhông giải thích được Ngoài ra, học thuyết Marx ra đời trước đó cũnggây ra một kích thích, trở thành đối tượng tranh cãi và thúc đẩy pháttriển các học thuyết kinh tế mới
Trường phái kinh tế mà về sau này được gọi là tân cổ điển, tập
trung tìm các giải đáp các hiện tượng kinh tế từ việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực ở cấp vĩ mô, và sử dụng các thành tựu toán học phát triển
trong thời kỳ này, đặc biệt là lý thuyết giới hạn (hay cận biên) vào phân
Trang 7tích (hiệu ích giới hạn, năng suất giới hạn, sản phẩm giới hạn) và giảithích các vấn đề kinh tế.
Kinh tế học tân cổ điển tiếp tục ủng hộ tự do cạnh tranh không có sựcan thiệp của Nhà nước Do vận dụng các công cụ toán học hiện đại vàophân tích và dự báo, kinh tế học tân cổ điển đã đóng góp nhiều cho sựphát triển của kinh tế học hiện đại sau này
1.2 Các lý thuyết kinh tế thị trường và mô hình kinh tế thị trường từ Keynes và sau Keynnes
John Mâynrd Keynes (1883-1946)
Cả lý thuyết cổ điển đến tân cổ điển đều không thể giải đáp đầy đủ
và thoả đáng các khía cạnh khác nhau của thực tế kinh tế dẫn đến cuộcĐại suy thoái kinh tế năm 30 Sự ra đời học thuyết Keynes đánh dấu mộtgiai đoạn mới của sự phát triển các học thuyết kinh tế để giải thích vàtìm các giải pháp để giải quyết các khó khăn của các nền kinh tế thịtrường trong giai đoạn phát triển mới JohnMaynard Keynes (1883-1946)với tác phẩm "Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" đã đặtnền móng cho lý thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại Thuật ngữ "tổng quát"hàm ý việc Keynes cho rằng lý thuyết cổ điển chỉ là một trường hợpriêng của "lý thuyết tổng quát", vì giả thiết về toàn dụng lao động của lýthuyết cổ điển là trường hợp riêng và Keynes khảo sát cho cả trườnghợp có thất nghiệp
Keynes đã đưa phương pháp phân tích vĩ mô vào trong phân tích kinh tế, dựa trên các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và mối quan hệ giữa chúng.
Chẳng hạn, thất nghiệp không chỉ xác định dựa trên thị trường lao động
mà còn liên quan đến sản xuất và thu nhập Cách phân tích như vậy
Trang 8ngày nay trở thành quen thuộc trong kinh tế vĩ vô chính là công lao củaKeynes người đã đưa lý thuyết kinh tế vĩ mô vào trong kinh tế học.
Mô hình nền kinh tế xây dựng theo học thuyết Keynes so với môhình trước Keynes có sự thay đổi cơ bản, đó là xuất hiện thêm vai tròNhà nước trong điều tiết sự vận hành nền kinh tế Theo Keynes, sảnxuất phát triển nhưng tiêu dùng là có giới hạn và do đó kìm hãm sảnxuất Chu trình Keynes là: thúc đẩy tăng cầu (chi tiêu cho đầu tư, chitiêu cho tiêu dùng cuối cùng…) sẽ dẫn đến tăng cung, tăng cung sẽ tăngthu nhập và tăng thu nhập sẽ thúc đẩy tăng cầu chu trình sau Nhà nước
sử dụng ngân sách để thúc đẩy tăng cầu như hỗ trợ đầu tư, đặt hàng thumua, trợ cấp tài chính, trợ cấp tín dụng Ngân sách đảm bảo điều kiện
ổn định về lợi nhuận và đầu tư cho tư nhân.v.v Nhà nước đóng vai tròquan trọng trong khắc phục các nhược điểm của thị trường và trên thực
tế đã đưa các nền kinh tế thị trường châu Âu và Mỹ thoát ra khỏi cuộcĐại khủng hoảng kinh tế
Kinh tế học sau Keynes
Kinh tế học sau Keynes hay kinh tế học hiện đại bao gồm tất cả các
lý thuyết kinh tế vĩ mô phát triển từ giữa thời kỳ của những năm 1950đến nay Tất cả các sự phát triển đó đều nhằm vào việc giải thích cáchiện tượng kinh tế mà học thuyết Keynes không giải thích được Nổi bật
là các trường phái tiền tệ, phỏng đoán hợp lý (bao gồm học thuyết cổđiển hiện đại và học thuyết Keynes hiện đại), học thuyết phi cân bằng,học thuyết trọng cung hoặc trọng cầu,v.v Tất cả các trường phái nàyđều có những luận điểm riêng về vai trò của Nhà nước Các điều kiệngiả thiết được sử dụng trong mỗi trường phái cũng khác nhau Vì vậy
Trang 9việc áp dụng một học thuyết nào cũng đều cần xem xét các điều kiện cụthể.
Trường phái tiền tệ do Milton Friedman đứng đầu, được phát triểnvào những năm 1960, hứa hẹn những giải pháp cho các vấn đề lạmphát Kinh tế học trọng cung (suppply- side cácônmics) đã trở thành mộttrường phái vào đầu những năm 1980, hứa hẹn đem lại các giải phápcho vấn đề kinh tế trong giai đoạn mới Hiện nay, phạm vi và giới hạncủa chính sách kinh tế vẫn còn là trung tâm của các bàn cãi Vấn đề ápdụng các chính sách nào cho thích hợp cũng đã được nhiều nhà kinh tếlớn sau Keynes chuyên tâm nghiên cứu như Milton Friedman, FrancoModigliani, Robert Solow, James Tobin, Robert Barro, Martin Feldstein,Robert Lucas, Robert Hall, Thomas Sargent, và John Taylor
Mô hình nền kinh tế của các trường phái sau Keynes khác nhau ởmức độ và cách thức can thiệp của Nhà nước, nhưng về cơ bản trong
mô hình kinh tế có vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước Cách thức canthiệp khác nhau thể hiện hoặc đề cao vai trò của chính sách tài chínhhoặc đề cao vai trò của chính sách tiền tệ (học thuyết tiền tệ) hoặc cáchthức tiếp cận kết hợp giữa chính sách tài chính và tiền tệ trong mô hìnhcân bằng tổng quát Cho tới thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều trường
phái kinh tế học Nhiều nền kinh tế thị trường hiện nay là kinh tế hỗn hợp.
1.3 Vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường
Trong các nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước có xuhướng tăng dần lên cùng với trình độ xã hội hoá của sản xuất và sự pháttriển của nền kinh tế Nhà nước đóng vai trò "khiêm tốn" trong thời kỳđầu của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh Bước sang giai đoạn tư bản
Trang 10phát triển, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản Nhà nước Nhà nướctrực tiếp chi phối những tập đoàn tư bản lớn và thông qua các chínhsách kinh tế, các thể chế tài chính và các tổ chức kinh tế để khống chếthị trường.
Trước những thử thách của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trênquy mô toàn cầu và dưới áp lực của cuộc chay đua kinh tế giữa hai hệthống kinh tế XHCN và TBCN trong các thập niên vừa qua, vai trò và tácđộng của Nhà nước đến nền kinh tế nói chung và đến thị trường nóiriêng ngày càng rõ nét và mạnh mẽ, nhất là để thực thi những chínhsách xã hội và gây ảnh hưởng về chính trị trên quy mô quốc gia và quốc
tế để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế
Khi lấy vai trò Nhà nước để phân loại các mô hình kinh tế, người tathu được một dải tần khá rộng những kiểu kinh tế thị trường khác nhau,trong đó mô hình thị trường cạnh tranh thuần tuý ban đầu kiểu A.Smith
và mô hình kinh tế thị trường xã hội có thể coi như là hai thái cực ở haiđầu Để phân tích vai trò Nhà nước trong kinh tế thị trường, có thể tómtắt nêu một số ưu điểm và khuyết tật của thị trường như sau:
a) Ưu điểm và khuyết tật của kinh tế thị trường:
Về ưu điểm:
Đáp ứng các nhu cầu có thể thanh toán được của xã hội một cách
tự động mà không một bộ máy hoạch định nào có thể thay thế được
Huy động tối đa tiềm năng của xã hội hơn bất cứ một tổ chức nào
Tạo ra động lực mạnh để thúc đẩy hoạt động của các doanhnghiệp đặt hiệu quả cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải cácdoanh nghiệp yếu kém
Trang 11 Phản ứng nhanh, nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội vàcác điều kiện kinh tế trong nước và thế giới
Buộc các doanh nghiệp thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chếcác sai lầm trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài hạn và trên cácquy mô lớn
Về khuyết tật:
Mô hình kinh tế thị trường tự do có tính chất lý tưởng kiểu A Smithkhông tồn tại trong thực tế Do thị trường chỉ đáp ứng những nhu cầu cókhả năng thanh toán được nên những nhu cầu dài hạn, không có khảnăng thanh toán của dân tộc hay của nhân loại có nguy cơ không đượcđáp ứng Vì vậy, kinh tế thị trường chứa nhiều khuyết tật Các khuyết tậtcủa kinh tế thị trường được tổng kết trong nhiều tài liệu khác nhau Cóthể điểm qua một số điểm chính như:
Tạo ra bất bình đẳng và tái sản sinh ra các bất bình đẳng về thunhập:
Động lực lợi nhuận tạo ra môi trường thuận lợi dẫn đến nguy cơ viphạm luật pháp, thương mại hoá các giá trị đạo đức và đời sống tinhthần
Sự cạnh tranh không tổ chức dẫn đến các mất cân đối vĩ mô vàdẫn đến lạm phát, thất nghiệp chu kỳ;
Cạnh tranh dẫn đến độc quyền và độc quyền hạn chế nghiêmtrọng các ưu điểm của kinh tế thị trường;
Lợi ích dài hạn, chung của xã hội không được chăm lo;
Trang 12 Tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá trong khi các nhucầu không khả năng thanh toán tăng lên.
Nhà nước trong kinh tế thị trường đóng vai trò hạn chế các khuyếttật nêu trên và phát huy các ưu việt của thị trường Tuy nhiên để làm rõvai trò của Nhà nước cần phân loại vai trò Nhà nước theo chức năngquản lý kinh tế-xã hội và phân loại theo chức năng hẹp hơn trong phạm
vi quản lý kinh tế Xem R.Wadew [64]
b Vai trò Nhà nước theo chức năng quản lý xã hội Với chức
năng quản lý xã hội Nhà nước có các chức năng chủ yếu như sau:
Bảo đảm an ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia, sự toàn vẹnlãnh thổ và các điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự phát triển của đấtnước
Tạo khung khổ pháp lý cho mọi thành viên xã hội đều được có cơhội bình đẳng trong học tập, tìm kiếm việc làm, tạo điều kiện tự do kinhdoanh bình đẳng cho mọi người theo pháp luật;
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên:
Tổ chức việc cung ứng các hàng hoá và dịch vụ công cộng cho xãhội bao gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội (giáodục, đào tạo, y tế, văn hoá.v.v.);
Thu thuế điều tiết thu nhập, trợ giúp người nghèo hoặc bị thiệt thòitrong xã hội, khống chế mức độ chênh lệch giàu nghèo trong xã hội
c Vai trò Nhà nước trong quản lý kinh tế
Các học thuyết kinh tế khác nhau như Keynes đã tập trung vàonghiên cứu vai trò Nhà nước trong điều tiết kinh tế, hạn chế, tiến tới
Trang 13khắc phục các nhược điểm của kinh tế thị trường Trong thực tế quản lý,mỗi nước can thiệp với mức độ khác nhau và với các biện pháp khácnhau Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế xã hộinói riêng của mỗi nước Có thể nêu một số điểm chính về vai trò Nhànước trong quản lý kinh tế đối với các nước đang phát triển được tổngkết như sau:
1 Định hướng chiến lược cho sự phát triển kinh tế: Thực tiễn phát
triển ở các nước NICs (mới công nghiệp hoá) ở Châu Á chỉ ra rằng việcxác định được một chiến lược đúng đắn của Chính phủ có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự thành công của các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt
từ thập kỷ 70 đến nay Xem Ngân Hàng thế giới, sự kỳ Diệu của các nềnkinh tế Đông Á [70]
2 Nhà nước sử dụng khu vực kinh tế Nhà nước như một công cụ điều tiết vĩ mô: Khu vực kinh tế Nhà nước ở đây bao gồm tài chính, ngân
hàng và các doanh nghiệp Nhà nước, trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụthuộc sở hữu Nhà nước toàn bộ hay bộ phận Sử dụng kinh tế Nhànước, Chính phủ có thể kiểm soát một cách có hiệu quả các hoạt độngcủa nó Khu vực kinh tế Nhà nước tham gia vào một số khâu quan trọngnhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân nhanhchóng phát huy hiệu quả đầu tư sản xuất, trước hết là phát triển cơ sở
hạ tầng kỹ thuật, hiện đại hoá mạng lưới giao thông, kho bãi, bến cảng,các dịch vụ thông tin, tiếp thị và nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật mới.Gần đây, cùng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quá trình quốc tếhoá của nền kinh tế, vai trò Nhà nước tăng lên không những trong hoạchđịnh các chính sách kinh tế mà còn trong bảo đảm giáo dục, đào tạo, y
tế, văn hoá, tức là đầu tư vào con người Xem M.Gillis và cộng sự [14]
Trang 143 Huy động vốn cho nền kinh tế phát triển: Mâu thuẫn lớn trong
giai đoạn đầu phát triển của các nước đang phát triển là mâu thuẫn giữanhu cầu đầu tư xây dựng lớn với số vốn trong nước ít ỏi Nhà nước thựchiện chính sách tiết kiệm, huy động vốn từ nguồn trong nước và ngoàinước đóng một vai trò quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinhtế
4 Duy trì ổn định và tăng trưởng kinh tế: Ngoài ba chức năng mang
tính đặc thù kể trên đối với các nước đang phát triển ra, Chính phủ cóchức năng phổ biến trong mô hình kinh tế thị trường là duy trì ổn định vàtăng trưởng của nền kinh tế, thông qua các chính sách điều tiết vĩ vô
Nếu kết hợp được các mặt mạnh của kinh tế thị trường với các chức năng đúng và cần thiết của Nhà nước, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh,
xã hội sẽ ổn định và đời sống của nhân dân sẽ được cải thiện Đó là mô hình của các "con rồng" Châu Á xem [68] Đó chính là mục tiêu công cuộc đổi mới cần đạt tới.
Mặc dù Nhà nước có vai trò khắc phục các nhược điểm của thịtrường, nhưng bản thân bộ máy Nhà nước cũng có nhiều khuyết tật Cóthể kể ra một số điểm chính sau đây:
Bộ máy tăng lên không ngừng và xã hội phải chi phí lớn cho nóhoạt động;
Là nơi sản sinh các loại bệnh: quan liêu, lạm dụng chức quyền vàtham nhũng;
Có thể đưa ra các quyết định hoặc chính sách vì lợi ích cục bộ củamột nhóm người chứ không phải cho xã hội;
Trang 15 Quyền lực cộng với lợi ích cục bộ của một bộ phận người trong bộmáy chính quyền có thể tạo ra các nhóm tội phạm có tổ chức gây thiệthại lớn cho xã hội (mafia).
Mếu các khuyết tật của vai trò Nhà nước kết hợp với các khuyết tật của thị trường thì hậu quả tiêu cực sẽ tăng lên Một nền kinh tế như vậy
sẽ đi đến tình trạng kinh tế xã hội tồi tệ; lạm phát cao, tăng trưởng chậm,bất bình đẳng về thu nhập nghiêm trọng, một bộ phận dân chúng lầmthan, xã hội căng thẳng, chính trị không ổn định Người ta gọi đó là môhình của Châu Mỹ la tinh vì một số nước châu Mỹ La tinh có hiện tượngnày, xemk R.Wade[62], M.Gillis và cộng sự [14]
2 Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung
2.1 Trước Đại chiến thế giới thứ II Mô hình kinh tế kế hoạch hoá
tập trung bắt nguồn từ các chỉ dẫn có tính chất phỏng đoán của K.Marx
và F.Engels
Trong "Nội chiến ở Pháp" Marx viết: "Nếu các tập đoàn hợp tác liênhiệp lại tổ chức nền sản xuất quốc dân theo một kế hoạch chung, do đónắm lấy việc lãnh đạo nền sản xuất ấy trong tay và chấm dứt tình trạng
vô Chính phủ thường xuyên và những hiện tượng rối loạn chu kỳ khôngthể tránh khỏi dưới nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì cái đó là gì nếukhông phải là chủ nghĩa Cộng sản"[17] Trong "Chống During" Engels đãviết: "Khi người ta bắt đầu đối xử với những lực lượng sản xuất hiện naytheo bản chất của chúng (bản chất mà cuối cùng người ta đã nhận thứcđược) thì tình trạng vô Chính phủ sản xuất xã hội sẽ được thay thé bằngmột sự điều tiết sản xuất có kế hoạch trên quy mô xã hội, theo nhu cầucủa toàn thể xã hội cũng như của mỗi một thành viên riêng biệt[2]
Trang 16Các chỉ dẫn đó, do điều kiện lịch sử bấy giờ chưa có thực tế nên đãchưa tính hết được tính phức tạp của quá trình kế hoạch hoá nền kinh tếquốc dân Mô hình kinh tế chỉ huy đầu tiên xuất hiện trong thực tế là củanước Phổ trong Đại chiến thế giới thứ I Sau cách mạng Tháng MườiNga,Liên Xô đã phát triển một hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung, làmhình mẫu cho mô hình kế hoạch hoá tập trung của các nước XHCN vớicác đặc trưng sau, xem J.Komai [42].
Trong các năm trước và trong thời Đại chiến thứ II, mô hình trên đãgiúp cho việc huy động các nguồn tài nguyên và nhân lực để thực hiệncác chương trình kinh tế lớn và trong chiến tranh có thể huy động tối đanguồn lực cho chiến tranh và chiến thắng Tuy nhiên, vào các năm tiếptheo sau chiến tranh thế giới thứ II, kinh tế Liên Xô bắt đầu gặp các khókhăn do các nhược điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung
2 Thời kỳ các năm 70 và 80: Các phương pháp của nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung không xét đầy đủ đến các khó khăn trong vận hành
mô hình kế hoạch giai đoạn phát triển dưới điều kiện, quy mô và hoạtđộng kinh tế trở nên phức tạp, tiến bộ khoa học và cộng nghệ phát triểnnhư vũ bão, quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển rất mạnh từ thập kỷ 60đến thập kỷ 90 Các thử nghiệm cải cách được đưa ra dưới nhiều hìnhthức giảm bớt mức độ tập trung trong kế hoạch, mô hình 2 cấp, mô hìnhkhuyến khích lợi ích Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cộngvới guồng máy quản lý quan liêu độc quyền hạn chế các cải cách và do
đó đã dẫn đến các đổ vỡ vào đầu các năm 90 làm cho hệ thống kinh tế
kế hoạch tập trung tan rã ở Liên Xô và các nước Đông Âu
2.3 Vai trò Nhà nước trong kinh tế kế hoạch tập trung: Nếu như
vai trò trong kinh tế thị trường là giới hạn trong một số chức năng và
Trang 17phạm vi nhất định thì trong kinh tế kế hoạch tập trung vai trò Nhà nước
là không giới hạn và tuyệt đối Đối với mô hình kế hoạch hoá tập trungcao độ như ở Liên Xô trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ II, thìNhà nước thay thế hầu như các chức năng của thị trường như hìnhthành giá cả, phân phối tài nguyên và phân phối tiêu dùng Trong thời kỳcác năm 70 đến cuối các năm 80 Nhà nước có giảm bớt mức độ tậptrung trong kế hoạch Tuy nhiên vai trò Nhà nước vẫn quyết định tất cảcác hoạt động kinh tế Cũng chính vì thế nên các chức năng quản lý kinh
tế vĩ mô và quản lý kinh doanh sản xuất của bộ máy Nhà nước đã khôngcòn phân biệt mà hoà nhập vào nhau Điều đó đã dẫn đến tình trạngquan liêu và độc quyền của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung
Mô hình trên đã được vận dụng lâu nhất và cao độ ở Liên xô Ở cácnước Đông Âu, mô hình đó được cải biên, mức độ hoạt động của kinh tế
tư nhân và thị trường có được mở rộng hơn Ở Việt Nam mức độ kếhoạch hóa tập trung thấp hơn, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân vẫn hoạtđộng ở quy mô hạn chế Xem Komai[42], Lê Đăng Doanh[44]
3 Các chỉ dẫn của Mác Lênin được vận dụng trong công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã nhận thức được những chỉ dẫnquan trọng từ các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin Các Máctrong "Hệ tư tưởng Đức" đã chỉ rõ "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản
không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là
sự vận động hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay"[18] Như vậy,
Mác coi quá trình tiến lên chủ nghĩa cộng sản là một quá trình tự nhiên
mà sự vận động của lịch sử tất yếu sẽ dẫn đến Các Mác không gắn chủ
Trang 18nghĩa cộng sản với bất kỳ tiêu chuẩn hoặc khuôn mẫu cho trước nào.Quan niệm đó là cơ sở phương pháp luận cho quá trình đổi mới, xuấtphát từ hiện thực kinh tế của đất nước và thúc đẩy nền kinh tế vận độngphù hợp với quy luật của chính nó Trong "Nhà nước và cách mạng",Lênin đã nhận xét "Mác đặt vấn đề chủ nghĩa cộng sản giống như mộtnhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn vấn đề tiến hoá của một giống sinh vậtmới…"[16] Trong quá trình chuẩn bị Đại hội VI đi đến đổi mới, nhiều tácgiả đã tìm thấy ở chính sách kinh tế mới của Lênin những luận điểm cơbản cho công cuộc đổi mới, như Đào Xuân Sâm [22], cũng xem thêmAmbarơxumốp [1].
Trong bài "Để kỷ niệm lần thứ tư cuộc cách mạng Tháng Mười",V.I.Lênin [15] đã phát biểu những tư tưởng nổi tiếng, tạo cơ sở lý luận
và phương pháp luận cho quá trình đổi mới của chúng ta: "Trong mộtnước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu vữngchắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản Nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xãhội, không phải bằng cách trực tiếp dựa vào nhiệt tình, mà là với nhiệttình do cuộc cách mạng vĩ đại sinh ra, bằng cách khuyến khích lợi ích cánhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế Nếu không, cácđồng chí sẽ không tiến đến chủ nghĩa cộng sản được; nếu không cácđồng chí sẽ không dẫn được hàng chục và hàng chục triệu người đếnchủ nghĩa cộng sản… Sự quan tâm thiết thân của cá nhân có tác dụngnâng cao sản xuất; trước hết chúng ta cần nâng cao sản xuất bằngđược Thương nghiệp bán buôn có thể liên kết, về mặt kinh tế, hàngtriệu tiểu nông lại với nhau, bằng cách lấy lợi ích mà khuyến khích họ".Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nhiều lần nhắc đến chỉ dẫn này của Lênin[18] Đào Xuân Sâm cho rằng các quan điểm của Lênin là triệt để cách
Trang 19mạng như: "Người cộng sản và Nhà nước vô sản phải làm nhà buôn,chấp nhận trao đổi hàng hoá tự do, đặt xí nghiệp Nhà nước trên cơ sởbuôn bán và tư bản chủ nghĩa…"[22].
Các tư tưởng đó của Lênin đã là những cơ sở phương pháp luận
và tư tưởng chỉ đạo quan trọng để Đảng ta đề xuất những quan điểm đổimới phù hợp với thực tế của nước ta như khuyến khích lợi ích vật chất
cá nhân, xoá bỏ ngăn sông cấm chợ, đặt doanh nghiệp Nhà nước trênnền tảng hạch toán kinh tế, vận dụng hình thức tư bản Nhà nước…
4 So sánh hai mô hình kinh tế và quá trình chuyển đổi
4.1 Quan điểm Komai[42]
Về cơ chế quản lý: Theo Komai, có thể phân lại các cơ chế quản lý
hay điều phối các nền kinh tế ra các loại sau:
1 Điều phối hành chính trực tiếp (IA)
2 Điều phối hành chính gián tiếp (IB)
2 Điều phối thị trường khống chế vĩ mô (IIA)
3 Điều phối thị trường khống chế vĩ mô ((IIB)
Điều phối hành chính trực tiếp IA và điều phối hành chính gián tiếp
IB đều dựa vào quan hệ lệ thuộc cấp trên, cấp dưới, sử dụng các mệnhlệnh hành chính, thông qua dòng thông tin ngành dọc và biện pháp hànhchính để khống chế và vận hành nền kinh tế Sự khác nhau của thể thế
IA và IB là sự khác nhau về biện pháp điều tiết ngành dọc Trong thể chế
IA, bộ máy hành chính giao cho các doanh nghiệp các chỉ tiêu pháp lệnh
cụ thể về sản xuất Trong thể chế IB, bộ máy hành chính không thôngqua việc ra lệnh sản xuất trực tiếp như thể chế IA mà thông qua quyền
Trang 20lực trong tay và sử dụng mọi biện pháp can thiệp (hành chính gián tiếp)buộc xí nghiệp phải lựa chọn các quyết định sản xuất (về hình thức là
sự quyết định) nhưng đại thể là phù hợp với yêu cầu của cấp trên Ở đâycác doanh nghiệp có hai chỗ dựa: chỗ dựa theo chiều dọc của bộ máyquyền lực cấp trên và chỗ dựa theo chiều ngang là lực lượng thị trường,trong đó chỗ dựa theo ngành dọc chiếm vị trí chủ đạo
Điều phối thị trường không khống chế vĩ mô IIA và điều phối thịtrường có khống chế vĩ mô IIB đều thông qua thông tin theo chiều nganggiữa các doanh nghiệp và lực lượng thị trường để điều tiết sự vận hànhnền kinh tế Trong thể chế IIA, không có khống chế vĩ mô, sự vận hànhnền kinh tế hầu như hoàn toàn chịu sự điều tiết và dẫn dắt tự phát của
cơ chế thị trường Trong thể chế IIB, cơ quan điều tiết ngành dọc khôngphải thông qua biện pháp hành chính trực tiếp, cũng không phải thôngqua sự can thiệp hanh chính gián tiếp mà thông qua các biện pháp rộngrãi và quy phạm để khống chế các tham số kinh tế vĩ mô và qua đó điềutiết sự vận hành kinh tế
Điều phối hành chính gián tiếp (IB) và điều phối thị trường có khốngchế vĩ mô (IIB) đều là khống chế gián tiếp nhưng khác nhau cơ bản.Chẳng hạnh, Nhà nước phân chia lợi nhuận cho doanh nghiệp trong thểchế IB theo tỷ lệ được quyết định bằng pháp luật còn trong IIB thì tỷ lệphân chia lợi nhuận được xác định qua hợp đồng Trong thể chế IB Nhànước cứu thoát hầu như toàn bộ các doanh nghiệp bị phá sản và cácdoanh nghiệp sau kihi được cứu thoát vẫn còn có thể tiếp tục xin tiềnNhà nước Trong thể chế IIB, Nhà nước cũng cứu các doanh nghiệp phásản nhưng chỉ hạn chế ở một số rất ít doanh nghiệp lớn, sau khi đượccứu thoát các doanh nghiệp phải tự mình xoay sở để tồn tại
Trang 21Theo cách phân chia trên thì kinh tế Liên Xô và các nước XHCNđông Âu trước những năm 60 là thể chế IA Trong cải cách vào năm
1968 ở Hunggari đã xoá bỏ các biện pháp hành chính trực tiếp nhưngvẫn sử dụng các biện pháp gián tiếp nên có dạng IB Thể chế IIA trênthực tế ngày nay không còn tồn tại Nó chỉ tồn tại ở thời kỳ đầu của môhình kinh tế kiểu Adam Smith Như vậy Komai thì mô hình IB và IIA đềukhông phải là mô hình lý tưởng Do đó mô hình mục tiêu để cải cáchhướng đến là mô hình IIB
4.2 Phân loại mô hình theo L.Johanen[40]: Trên thực tế, trước
Komai, L.Johansen cũng đã phân loại các mô hình kinh tế tương tự theođặc trưng về các dòng thông tin Theo L.Johansen, mô hình kinh tế kếhoạch tập trung cao độ thể hiện ở cấu trúc các dòng thông tin dọc Môhình kinh tế thị trường thuần tuý thể hiện ở cấu trúc các dòng thông tinngang, đó là thông tin về thị trường Mô hình tồn tại trong thực tế là môhình kết hợp theo các mức độ khác nhau hai loại trên Tuỳ thuộc vào ưuthế của các thông tin dọc hay ngang mà mô hình thiên về điều tiết vĩ môqua cơ chế kế hoạch hay qua cơ chế thị trường
Sơ đồ 1: Sơ đồ phản ánh các dòng thông tin trong quản lý
Trung tâm
Đơn vị kinh tế
Đơn vị
kinh tế
Đơn vị kinh tế Đơn vị
kinh tế
Trang 22(IA) (IIA)
4.3 Chuyển đổi là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài:
Phân tích diễn biến chuyển đổi mô hình ở các nước Đông âu vừaqua, Komai[40] nêu các ý kiến như sau:
Việc thay đổi Chính phủ (như diễn ra ở Tiệp khắc), chưa phải là sựthay đổi của hệ thống Quá trình cải cách là một quá trình lịch sử lâu dài.Quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào điểm xuất phát của quá trình cải
cách, tức là di sản mà hệ thống cũ để lại Di sản đó bao gồm tổng thể thực trạng giàu có, tình trạng tài nguyên thiên nhiên, tình trạng nhà
xưởng, máy móc, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ phát triển của
hệ thống thương mại, vận tải, trình độ giáo dục, y tế và bảo hiểm xã hội.Trình độ bv môi trường cũng là một yếu tố quan trọng cho sự phát triểncủa kinh tế- xã hội Nền kinh tế của nhiều nước bước vào thời kỳ chuyểnđổi đều ở trong tình trạng khủng khoảng, trì trệ hoặc suy thoái nghiêmtrọng, trình độ trạng bị kỹ thuật bị lạc hậu, kết cấu hạ tầng không đượcbảo dưỡng, một bộ phận môi trường bị ô nhiễm hoặc bị tàn phá Vì vậy,nhiều nước phải trải qua một giai đoạn ổn định, khôi phục đồng thời vớiquá trình cải cách và phát triển
Trang 23Một số nước phải đối phó với các căng thẳng về kinh tế vĩ mô: lạm
phát, thiếu hụt hàng hoá, dư thừa tiền mặt, mất cân đối ngoại thương và
nợ nước ngoài Các biện pháp tình thế có thể giảm bớt những mất cânđối nghiêm trọng nhất; song để giải quyết một cách cơ bản, phải xâydựng những chính sách và thể chế mới, đồng thời phải cơ cấu lại nềnkinh tế
Một bộ phận quan trọng của di sản là tình trạng nguồn nhân lực,
trình độ đào tạo chuyên môn, trình độ kỷ luật lao động của lực lượng laođộng xã hội nói chung Đặc biệt trình độ đội ngũ cán bộ quản lý cácdoanh nghiệp và cán bộ xây dựng chính sách về kinh tế thị trường, vềthị trường thế giới, có ý nghĩa rất quan trọng cho quá trình cải cách vàhiệu quả kinh tế Ngay khi tình hình kinh tế không đến nỗi xấu nhưngtrình độ cán bộ kém, việc bù đắp một đội ngũ cũng đòi hỏi một thời giankhông ngắn
Bộ máy và thể chế cũ đã được hình thành trong nhiều thập kỷ với
hệ thống thứ bậc và cơ cấu rất chi tiết cũng đòi hỏi phải cải cách chophù hợp với yêu cầu và chức năng mới Quá trình đó cũng không thểthực hiện trong một thời gian ngắn
Các giá trị truyền thống trong xã hội, các giá trị văn hoá, tôn giáo
trong mỗi dân tộc được hình thành qua hàng nghìn năm phát triển cũngquan hệ tới quá trình cải cách Các nhân tố đó tác động theo hướng tíchcực, có nhân tố tác động theo hướng kìm hãm
Từ những suy luận nêu trên, J.Kmai cho là trong một thời gian dài
trong nền kinh tế chuyển đổi sẽ tồn tại một hệ thống song hành, trong đó
các nhân tố mới sẽ không thể tách khỏi những đấu tranh và xung đột ởcác lĩnh vực khác nhau trong kinh tế và xã hội nhằm hình thành một nền
Trang 24kinh tế và chế độ xã hội được nhân dân ủng hộ Các suy nghĩ củaJ.Komai rất gần gũi với các suy nghĩ và cách làm của chúng ta và đãđược quá trình phát triển vừa qua xác nhận là phù hợp với thực tế.
II QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG TRONG PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
1 Quan điểm hệ thống về quá trình chuyển đổi
Bản thân nền kinh tế là một hệ thống phức tạp nên nó cũng tuân thủcác quy luật cơ bản của lý thuyết hệ thống Có thể nêu một số quanđiểm hệ thống liên quan đến nhận thức về cải cách kinh tế như sau đây,xem Nguyễn Văn Quý [21]:
1.1 Quá trình chuyển trạng thái của hệ thống, từ trạng thái xuất
phát đến trạng thái mong muốn là quá trình phức tạp nhất của điều khiểncác hệ thống
a
Trạng thái
mong muốn
Trạng thái ban đầu
Thời gian chuyển tt
b
Trạng thái
mong muốn
Trạng thái
Trang 25ban đầu Thời gian chuyển tt
Hình 1: Quá trình chuyển đổi trạng thái của hệ thống
Các mục tiêu rút ngắn thời gian chuyển trạng thái và mục tiêu duy trì
ổn định (dao động không lớn) là hai mục tiêu mâu thuẫn nhau Trên hình3a và 3b là đồ thị về quá trình chuyển trạng thái trong lý thuyết hệ thốngthường gặp Hình 3b là trường hợp thời gian chuyển trạng thái ngắn hơn
và do đó có dao động mạnh hơn hình 3a
Không thể thực hiện cải cách nhanh mà không gây ra mất ổn định
và ngược lại ưu tiên mục tiêu duy trì ổn định thì không thể thực hiện mụctiêu chuyển trạng thái nhanh Tìm giải pháp dung hoà giữa hai mục tiêutrên là vấn đề quan trọng trong thiết kế quá trình chuyển trạng thái hệthống
1.2 Nền kinh tế là hệ thống lớn, phức tạp và có sự tham gia của
con người với các mục tiêu riêng, lợi ích riêng Nguyên lý tối ưu của hệthống chỉ ra là tối ưu đối với bộ phận không phải lúc nào cũng dẫn đếntối ưu tổng thể và ngược lại tối ưu tổng thể không phải lúc nào cũng dẫnđến tối ưu bộ phận Các cải cách bộ phận nếu không tuân thủ cácnguyên tắc thiết kế hệ thống sẽ không bảo đảm đạt được mục tiêu cảicách tổng thể của nền kinh tế
1.3 Đặc điểm phát triển của hệ thống là hệ thống càng phát triển thì
mức độ phức tạp của hệ thống càng tăng lên Chính nhờ tính đa dạng vàphức tạp mà hệ thống dễ thích nghi với môi trường Đối với các nền kinh
tế kế hoạch trước đây quá trình tập trung cao độ đã dẫn đến sự đơnđiệu về tổ chức sản xuất, về thành phần kinh tế, đơn điệu về các quan
hệ trong sản xuất và quản lý Các quan hệ còn lại chủ yếu là quan hệ
Trang 26mệnh lệnh - thừa hành theo tuyến dọc và thông tin dọc Đổi mới kinh tếchuyển sang cơ chế thị trường đòi hỏi phải tổ chức lại nền kinh tế cả về
tổ chức sản xuất, và cả về tổ chức quản lý Đổi mới tổ chức sản xuất đòihỏi đa dạng hoá các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế nhiều thànhphần, phát triển các thị trường và quan hệ ngang của thị trường Đổi mới
về tổ chức quản lý đòi hỏi đổi mới bộ máy quản lý, đa dạng hoá cáccông cụ quản lý vĩ mô, phát triển và đa dạng hoá các kênh điều tiết vĩ
mô trực tiếp, gián tiếp
2 Quan điểm hệ thống về xây dựng lộ trình
Xây dựng lộ trình cải cách kinh tế đưa mô hình kinh tế từ trạng tháihiện tại đến trạng thái mong muốn cũng chính là việc thiết kế một hệthống lớn và phức tạp Trong thiết kế hệ thống lớn và phức tạp người tađưa ra các nguyên lý xây dựng hệ thống mục tiêu với hai nội dung lớnsau Thứ nhất, nguyên lý cụ thể hoá các mục tiêu tổng thể thành cácmục tiêu chi tiết và hình thành hệ thống mục tiêu nhiều thứ bậc, trong đómục tiêu bậc thấp hơn là phương tiện để đạt mục tiêu bậc cao hơn Thứhai là nguyên lý để xác định chuẩn xác mục tiêu tổng thể không phải chothời điểm hiện tại mà là cho tương lai mà hệ thống sẽ hướng đến
Trong nguyên lý cụ thể hoá mục tiêu tổng thể có các nguyên tắcnhằm bảo đảm tính hệ thống như: (1) tính phục tùng: các mục tiêu bậcthấp hơn phải phục tùng các mục tiêu ở bậc cao hơn: (2) tính đầy đủ:các mục tiêu bậc thấp hơn phải đầy đủ để bảo đảm thực hiện mục tiêubậc cao hơn: (3) tính liên hệ: không có các mục tiêu đứng cô lập tách rờicác mục tiêu khác Các mục tiêu kề nhau không có tính chất loại trừnhau: (4) tính kế thừa: các mục tiêu ở giai đoạn trước tạo tiền đề thựchiện các mục tiêu giai đoạn sau, các mục tiêu giai đoạn sau kế thừa kết
Trang 27quả thực hiện các mục tiêu giai đoạn trước Trong việc bố trí các nguồnnhân lực, các nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu dài phải bảo đảmtính kế thừa tối ưu trong thiết kế;
5 Tính lựa chọn: các mục tiêu rất đa dạng có thể lựa chọn theonhiều cách và phối hợp theo nhiều cách tạo ra nhiều phương án Hệthống càng lớn càng phức tạp thì các khả năng lựa chọn càng lớn Vìvậy cần xem xét so sánh để tìm các khả năng tốt hơn trong lựa chọnphương án
Về xác định các mục tiêu tổng thể của hệ thống trong tương lai thì
về cơ bản phụ thuộc nhiều vào các khả năng biến đổi khách quan củatình thế hay môi trường có thể xảy ra Cải cách kinh tế là một quá trìnhdiễn ra trong nhiều năm, do đó cần có các dự báo tình thế, về môitrường trong tương lai để xác định được chuẩn xác mục tiêu tổng thể mà
hệ thống sẽ đạt đến
III MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CẢI CÁCH
1 Thế nào là cải cách kinh tế
Mặc dù cải cách kinh tế đã và đang diễn ra rộng khắp trên thế giới,ảnh hưởng to lớn lên đời sống kinh tế- xã hội nhiều dân tộc, tuy nhiêncho đến nay vẫn còn chưa có được một lý thuyết về "cải cách kinh tế".Thực tế cải cách kinh tế ở nhiều nước cho thấy cải cách kinh tế khôngchỉ là vấn đề kinh tế mà là một quá trình tổng thể cả chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội và lịch sử Sự đa dạng và phong phú của quá trình cảicách kinh tế ở các nước đã cho thấy sự phức tạp của nó và đồng thời
Trang 28cũng cho các bài học quý gía cho các nước đang đi tìm con đường pháttriển đất nước mình.
Cải cách theo nghĩa đơn giản và sự sửa đổi nhưng bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan
(từ điển tiếng Việt 1992, Trung tâm từ điển ngôn ngữ Việt Nam) Trênthế giới nói chung cũng không có sự khác biệt lớn trong nhận thức vềkhái niệm cải cách kinh tế
Cải cách kinh tế trên thực tế diễn ra ở nhiều nước là một sự thay đổi
cơ bản cơ cấu của nền kinh tế và những cơ chế và thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu mới của tình hình khách quan, làm cho nền kinh tế trở nên hiệu quả hơn, năng động hơn.
Bên cạnh đó, sự thay đổi này còn gây ra những tác động sâu xa vềđời sống xã hội, tâm lý và thái độ ứng xử xã hội Do các cuộc cải cáchđều đòi hỏi phải có chính sách và vai trò to lớn của Chính phủ nên vì vậycòn có những cách diễn đạt khác
Cải cách kinh tế theo quan điểm điều hành vĩ mô là sự thay đổi cơ bản về chính sách kinh tế để giải quyết những mất cân đối lớn trong cơ cấu kinh tế để từ đó đạt được sự tăng trưởng kinh tế lành mạnh hơn và năng động hơn.
Từ tổng quan các định nghĩa khác nhau trên chúng tôi đã hình thànhđịnh nghĩa về cải cách một cách tổng quát như sau, xem Vũ Đình Bách[3], Lê Đăng Doanh[4]
Cải cách là một quá trình chuyển đổi về các chính sách, thể chế, tổ chức kinh tế ở tầm vĩ mô và tầm vi mô nhằm đưa nền kinh tế từ một hệ thống kinh tế này sang một hệ thống kinh tế khác, đem lại sự thay đổi về
Trang 29cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế cũng như động thái, hành vi và thói quen của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế thích ứng với hệ thống kinh tế mới được hình thành.
Như vậy, công cuộc cải cách bao gồm những thay đổi về:
- Quan niệm về hệ thống kinh tế cần được xây dựng
- Các chính sách kinh tế,
- Cơ cấu kinh tế,
- Các chính sách xã hội,
- Tổ chức, bộ máy nhà nước quản lý kinh tế
Định nghĩa trên chỉ rõ cải cách không chỉ hạn chế vào những lĩnh vựcthuần tuý kinh tế mà đòi hỏi phải thay đổi các thế chế, tổ chức, chính sáchcủa Nhà nước liên quan đến kinh tế Vì vậy, trong một chừng mực nhất địnhcải cách kinh tế bao hàm những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, tổ chứccủa Nhà nước liên quan đến kinh tế Những thay đổi cơ bản về kinh tế, sớmhay muộn, cũng tác động sâu sắc đến các lĩnh vực khác của đời sống chínhtrị cũng như các mặt hoạt động của xã hội Song, vấn đề đó không nằm trongđối tượng nghiên cứu của công trình này
Định nghĩa này không coi những thay đổi có tính cục bộ hay từng bộphận của hệ thống nhưng tác dụng thực tế lại là duy trì bản chất của hệthống kinh tế kế hoạch hoá tập trung là một cuộc cải cách Kinh nghiệm thực
tế của Việt Nam trong những năm trước 1986, của Liên Xô và các nướcĐông Âu trước năm 1990 cũng xác nhận quan điểm này Mặc dầu đã đượctiến hành với nỗ lực rất lớn trong nhiều năm, song những cải cách cục bộtrên các lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã nông nghiệp… đãkhông đem lại những hiệu quả mong muốn
Trang 30Để đánh giá độ sâu sắc của cải cách đối với kinh tế và xã hội, người takhông chỉ xem xét bản thân các biện pháp đã được thực hiện, những thayđổi trong các chính sách đã được dự kiến mà xét đến các tiêu chí khác nhưmức độ phi tập trung các quyết định trong nền kinh tế, thể hiện ở sự thay thếcác chỉ tiêu pháp lệnh bằng cơ chế thị trường thông qua việc tự do hoá giá cả
và thương mại, giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp và xoá bỏ các baocấp đối với doanh nghiệp Nhà nước, giao quyền tự chủ kinh doanh và sửdụng đất cho nông dân v.v trong nghiên cứu các quá trình cải cách người tathường đề cập đến các vấn đề cơ bản sau đây:
1 Nguyên nhân và mục tiêu của cải cách: Những bộ phận nào, lĩnh vực
nào của nền kinh tế đang bị trục trặc cần có các thay đổi cơ bản để có thể cảithiện được tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế và nguyên nhân nào dẫnđến các trục trặc này Những điều kiện khách quan của môi trường trongnước và môi trường quốc tế đã thay đổi như thế nào và do đó cần phải cócác cải cách để thích ứng
2 Ai là chủ thể của cải cách: Ai là người sẽ thực hiện các thay đổi, các
sửa đổi đã nêu trên Xét theo nghĩa rộng thì đó là các lực lượng chính trị xãhội, toàn dân, toàn xã hội Tuy nhiên xét theo nghĩa hẹp và trực tiếp thì chủthể của cải cách là Chính phủ với các công cụ thực hiện cải cách là các chínhsách cải cách kinh tế Vì chủ thể cải cách là Chính phủ nên Chính phủ sẽ làngười xác định mục tiêu cải cách, căn cứ trên kinh nghiệm thực hiện củamình cũng như lợi ích xã hội mà họ đại diện
3 Nội dung của cải cách: Cải cách kinh tế có thể bao hàm các nội dung
khác nhau với các cấp độ rộng hẹp khác nhau Cải cách kinh tế đối với cácnền kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường có nội dungrộng nhất Nó đòi hỏi không chỉ thay đổi các bộ phận cũ, chính sách cũ mà
Trang 31còn tạo ra các bộ phận mới, những cơ cấu mới trong vận hành nền kinh tế.
Vì cải cách liên quan đến một phạm vi rất rộng các vấn đề kinh tế xã hội nênđòi hỏi cách tiếp cận cụ thể và phải có quan điểm lịch sử trong phân tíchđánh giá nội dung của các cuộc cải cách Các nhân tố lịch sử, truyền thốngvăn hoá, xã hội chi phối mạnh mẽ tiến trình và nội dung cải cách, xem Phạmvăn Đồng [13]
2 Nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các học giả về cải cách kinh tế
Trong giai đoạn đầu, Ngân hàng thế giới [66] và một số tác giả nhưMcKinnon [51] và các tác giả khác đã sử dụng những kinh nghiệm thu lượmđược từ quá trình cải cách của các nền kinh tế đang phát triển, chưa được tự
do hoá ở Nam Mỹ như Mehicô, Bolivi và Châu Á như Thỗ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốctrong thập kỷ 80 để vận dụng vào công cuộc chuyển đổi của các nước theokinh tế kế hoạch hoá tiến hành trong thập kỳ 90 Các tác giả đã vận dụngnhững khái niệm cơ bản như phương pháp từng phần (gradualism) và liệupháp sốc (shock treatment), tốc độ, trình tự cải cách, thời hạn cho cải cách
để khuyến nghị cho quá trình cải cách mới
Các tài liệu về phương pháp luận cải cách có tính chất chuyển đổi từnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đều mới đượccông bố trong những năm 1990 gần đây và cuộc tranh luận trên nhiều vấn đềvẫn chưa đi đến thống nhất Xem các bài tổng quan lớn của Loesch D.50],Kloten N [41], Schmieding H.[59] Funke N.[34], Fischer S và Gelb.A [32],Slay B.[62], Hội nghị hàng năm của Ngân hàng thế giới năm 1994 [69] vềkinh tế học phát triển, các Hội thảo lớn của Qũy tiền tệ Quốc tế năm 1993[38] [39], chuyên khảo của H.J.Wagener [65], và nhiều tác giả khác
Trang 32Một số tác giả khác nhấn mạnh đến cách tiếp cận có tính chất chính trịkinh tế học như N.Funke [34] và sử dụng khái niệm sự tín nhiệm vào chínhphủ như một cầu nối giữa hai cách tiếp cận trên H.J.Wagener và cộng sự đãvận dụng các thành tựu mới của lý thuyết thể chế (íntitutional) của D.North,Giải thường Nôbel về kinh tế học năm 1993 để phân tích quá trình cải cách.Sau đây xin tổng quan các cách tiếp cận khác nhau và phân tích so sánhgiữa các cách tiếp cận đó:
2.1 Ngân Hàng Thế Giới Trong [66] Ngân hàng thế giới đã đề ra 4
lĩnh vực kinh tế chủ yếu như sau cho công cuộc cải cách:
1 ổn định kinh tế vĩ mô
2 Cải cách thị trường đối với: 2.1 hàng hoá và dịch vụ; 2.2 giá; 2.3 nộithương và ngoại thương; 2.4 phân phối, bao gồm cổ phần hoá và khắc phụctình trạng độc quyền; 2.5 thị trường lao động, giải quy chế đối với việc tuyển
mộ và sa thải lao động, tiến tới xác định tiền lương thông qua thương lượng;2.6 thị trường tài chính
3 Điều chỉnh cơ cấu các thành phần kinh tế đối với: 3.1 các doanhnghiệp vừa và nhỏ; 3.2 các doanh nghiệp lớn; 3.3 đầu tư nước ngoài
4 Quản lý Nhà nước theo; 4.1 khung khổ pháp luật; 4.2 khung khổ vềthể chế; 4.3 mạng lưới bảo hiểm xã hội
Sơ đồ của Ngân hàng thế giới năm 1991 [66], bảng 1, dự kiến thời hạn
10 năm cho toàn bộ quá trình cải cách từ kinh tế tập trung sang kinh tế thịtrường Đối với mỗi một biện pháp sơ đồ dự kiến một thời gian đầu có nhữngbiện pháp với cường độ cao và thời gian tiếp theo có những biện pháp củng
cố, hoàn thiện các biện pháp của giai đoạn đầu Theo sơ đồ đó, trong hainăm đầu tiên của công cuộc cải cách phải đồng thời tiến hành ngay lập tức
Trang 33thay đổi sở hữu của các doanh nghiệp lớn Điều đáng chú ý là sơ đồ khuyênnên thay đổi đồng thời tổ chức, thể chế cùng với thay đổi các chính sách làđiều có thể thấy ngay là ít hiện thực Vì một tổ chức mới thay đổi, chưa ổnđịnh, khó có thể thực hiện ngay một cách thành công những cải cách chínhsách.
2.2 N.Kloten trong [41], N.Kloten đã chỉ ra lĩnh vực chủ yếu cần có
quyết định như sau:
- Quyết định có tính nguyên tắc, quan điểm cơ bản nhằm thay thế cácnguyên tắc và quan điểm của kinh tế kế hoạch hoá tập trung bằng nhữngnguyên tắc của nền kinh tế thị trường Quyết định có ý nghĩa chỉ đạo chotoàn bộ quá trình cải cách, các thể chế, tổ chức, chính sách kinh tế, xã hội;
- Xây dựng các thể chế và tổ chức với quyền hạn, nhiệm vụ và tráchnhiệm thích ứng;
- Các chính sách và biện pháp nhằm điều khiển và ổn định ở tầm kinh tế
vĩ mô, sử dụng các công cụ phù hợp với nền kinh tế thị trường
- Các chính sách và biện pháp tác động và điều hoà phối hợp ở tầmkinh tế vi mô;
- Các chính sách và biện pháp kết hợp và thích nghi giữa tầm vi mô vàtầm vĩ mô
Bảng 1: Quá trình cải cách từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường [66]
Trang 34- Xây dựng hoàn chỉnh chế độ kinh tế mới với các công cụ pháp luậtthích hợp;
N.Kloten cũng nhận thức rằng cần nhiều năm mới có thể tạo ra phương thức suy nghĩ và phương thức lãnh hành động mới cho các chủ thể quản lý cũng như những tác phẩm và con người hoạt động theo cơ chế mới Tác giả cũng nhấn mạnh cần phải có nhiều năm để hình thành
những tổ chức và cơ cấu kinh tế mới Nhu cầu đó là khách quan vàkhông thể thực hiện trong một khoảng thời gian quá ngắn
Trang 35N.Kloten cho rằng quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoátập trung sang nền kinh tế thị trường phải là một quá trình với những giaiđoạn, bước đi theo một trình tự hợp lý nhất định, trong đó sự chuyểntiếp từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một quá trình liên tục có thểgiao nhau hoặc chồng lên nhau, tức là quá trình sau đã có thể bắt đầutrong khi quá trình trước chưa được kết thúc hoàn toàn.
Theo N.Kloten các giai đoạn đó không thể tách bạch rõ ràng, sắccạnh như những vết cắt Song, nội dung đặc trưng của những biện phápcần tiến hành trong từng giai đoạn cho phép tách bạch và định nghĩa rõràng tính giai đoạn của quá trình Việc phân thành những giai đoạn vàbước đi như vậy làm cho quá trình cải cách sáng tỏ hơn và cũng là mộtcông cụ cần thiết, có hiệu quả để tiến hành quá trình cải cách
Trình tự cải cách được quyết định bởi những mối quan hệ nội tại
về nội dung các biện pháp, các tác động và sự phụ thuộc lẫn nhau củacác biện pháp đó trong bản chất kinh tế hay trong chính sách kinh tế.Theo N.Kloten, tính khách quan đó không thể nào có thể được phủ nhậnhoàn toàn bởi các nhà chính trị mà phải được tuần thủ trong một chừngmực nhất định cả về thứ tự của nội dung các biện pháp cũng như theotrình tự thời gian Đồng thời tác giả cũng thừa nhận "có những khungkhổ tự do lựa chọn nhất định cho những phương án khác nhau" Cácđặc trưng đó cho đến nay mới được xác định trên cơ sở kinh nghiệm vàphân tích quá trình diễn biến của các nước Chính các đặc trưng này
của các giai đoạn xác định Tính phổ biến hay tính chung của tất cả các
quá trình cải cách, dẫu rằng hình thức thể hiện và mức độ thể hiện củatính phổ biến đó có thể đa dạng Theo Kloten, tiền đề cơ bản cho một
trình tự có tính hợp lý như trên là Quyết tâm chính trị để thực hiện
Trang 36một quá trình cải cách như vậy, vì giữa chế độ chính trị, tổ chức Nhà
nước, chế độ kinh tế và xã hội có một tính tương hợp (compatibility) nhấtđịnh Tác giả nhấn mạnh "kinh tế thị trường không nhất thiết đòi hỏi phải
có một nền dân chủ nhiều đảng theo kiểu phương Tây" mà cả kinh tế thịtrường lẫn tổ chức nhà nước đều có những biến thể khác nhau, songkinh tế thị trường đòi hỏi phải có một sự tương hợp nhất định giữa các
bộ phận đã nêu trên Giả định có được tiền đề cơ bản nêu trên, tác giảchia ra ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu cần phải tạo ra khung khổ pháp lý và thể chế thích
hợp với nền kinh tế thị trường, bao gồm:
a) Các quyền tự do cơ bản của con người, thể hiện qua Bộ luật Dân sự.b) cơ sở pháp lý cho quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, tạoquyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước
c) Cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhànước
d) Khung khổ pháp lý cho quá trình cạnh tranh
đ) Cải cách lại hệ thống Ngân hàng với sự tách bạch nghiêm ngặtgiữa ngân hàng phát hành của Nhà nước với các ngân hàng thương mạicạnh tranh với nhau
e) Cải cách hệ thống ngân sách nhà nước và chế độ thu ngân sách nhànước
g) Tổ chức lại hệ thống doanh nghiệp và tổ chức thị trường laođộng
h) Các biện pháp bảo trợ xã hội cần thiết và các chế độ cơ bản chothất nghiệp, hưu trí và bảo hiểm y tế
Trang 37Giai đoạn hai có thể gối đầu phần nào về mặt thời gian với giai
đoạn một và có mối quan hệ chặt chẽ về nội dung với các vấn đềnguyên tắc và khung khổ pháp lý đã nêu, bao gồm:
a) ổn định toàn bộ nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ và tài chínhthích hợp trong khi bảo đảm sự che chắn nhất định về thu nhập;
c) Giảm trợ cấp giá, qua đó để giá sản phẩm và dịch vụ được địnhđoạt qua thị trường;
d) Mở cửa nền kinh tế một cách thích hợp với thị trường bên ngoài,thông qua một tỷ giá phù hợp với thực tế;
d) Có các biện pháp tích cực về chính sách xã hội nhằm làm giảnnhẹ các mâu thuẫn xã hội
Giai đoạn ba tác giả nhấn mạnh các biện pháp nhằm:
a) Tiếp tục điều chỉnh các chính sách giá, thương mại, thanh toán,lao động… làm cho cơ chế thị trường hoạt động ăn khớp với nhau;
b) Tiếp tục cải cách doanh nghiệp Nhà nước trên diện rộng, kể cảcác doanh nghiệp lớn;
c) Tạo các tiền đề để tái sản xuất các quá trình sáng tạo;
d) Giảm đến mức thấp nhất các chi phí phát sinh trong quá trìnhchuyển đổi
Giai đoạn bốn, có lẽ phải kéo dài nhiều năm, cần xây dựng một
nền kinh tế có hiệu quả và nhân đạo trên nền tảng kinh tế thị trường.Tác giả không nêu ra những biện pháp cụ thể nào
2.3 N.Funke Trong [34], Funke đã lập bảng 2 so sánh cách tiếp
cận của 19 tác giả khácnhau về 7 lĩnh vực cải cách chính như sau: xembảng 2
Trang 382.4 V.Shatalin [23] Shatalin đã dẫn đầu một tập thể các nhà khoa
học Xô Viết đã xây dựng một chương trình 500 ngày, dự kiến bắt đầu từ1.11.1990 và kết thúc ngày 14.3.1992, nhằm chuyển nền kinh tế Xô Viếtsang nền kinh tế thị trường
Chương trình chi tiết như một kịch bản cho các biện pháp bao gồmbốn giai đoạn
Bảng 2: So sánh các trình tự khác nhau của quá trình cải cách [34]
Cải cáchthể chế
Tự do hoágiá
ổn định tệHệ thực hệ
thốngchính trị
Tư nhânhoá
Cải cáchthươngmại
Tự do hoálctb
Trang 39không phân tích tất cả các giác độ của trình tự nên có một số cột bỏtrống
1 Bao gồm cả khung khổ luật pháp sở hữu luật hợp đồng, luật côngty
2 Đây là một trình tự theo phương pháp chấn động lớn, tiến hànhtrong 7 ngày
Trong Giai đoạn đầu gồm 100 ngày đầu tiên tiến hành những biện
pháp khởi đầu như tạo khuôn khổ pháp lý cho phép những doanh nghiệp
tư nhân nhỏ hoạt động trong công nghiệp và trong nông nghiệp, tiếnhành những bước đầu tiên để tư nhân hoá những doanh nghiệp nhànước nhỏ, cải cách thuế, bắt đầu xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã
hội mới; trong Giai đoạn hai gồm 150 ngày tiếp theo tiến hành các biện
pháp tư nhân hoá trên quy mô lớn, cải cách ngân hàng, xử lý thâm hụt
ngân sách; trong giai đoạn ba bao gồm150 ngày tiếp theo tiến hành các
biện pháp cải cách cơ cấu nền kinh tế, cắt giảm hoàn toàn các trợ cấp
của Nhà nước về giá, thực hiện đầy đủ cơ chế giá thị trường; trong giai đoạn bốn bao gồm 100 ngày cuối cùng, bao gồm các biện pháp ở tầm
vĩ mô và vi mô nhằm thực hiện một chương trình ổn định kinh tế, khắcphục các biểu hiện suy thoái
Lôgích của Chương trình là vừa cải cách vừa ổn định, tự do hoánền kinh tế trước nhằm giải phóng sức sản xuất trước trong 100 ngàyđầu tiên rồi ổn định trong 150 ngày tiếp theo Các hướng cải cách là:
1 Phi nhà nước hoá nền kinh tế, tư nhân hoá doanh nghiệp, kể cảmột phần dự trữ quốc gia, công xá và tài sản quân sự sử dụng vào mụcđích dân sự, ruộng đất và các tài nguyên khác Thúc đẩy đầu tư kinhdoanh
2 Xây dựng thị trường, cơ chế và thể chế của kinh tế thị trường,thiết lập các mối quan hệ mới trong kinh doanh
Trang 403 Chống độc quyền trong nền kinh tế, xoá bỏ các cơ cấu tổ chứchình thành trong hệ thống hành chính mệnh lệnh đang cản trở phát triểncác quan hệ thị trường.
4 Từng bước tháo bỏ việc Nhà nước kiểm soát giá, chuyển sanghình thành giá theo quan hệ cung cầu
5 áp dụng chính sách tiền tệ, tín dụng và tài chính chặt chẽ để kiểmsoát lạm phát
6 Cơ cấu lại nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu hàng tiêudùng và dịch vụ, tăng tính nhạy cảm của nền kinh tế đối với nhu cầu củadân cư và đổi mới của khoa học và công nghệ
7 Xây dựng lại hệ thống phúc lợi xã hội
2.5 R.Dornbusch đã đề xuất chương trình 7 ngày [31] dựa trên 4
nguyên tắc sau đây(xem bảng 3):
1 Chính phủ phải tập trung vào những vấn đề quan trọng chứkhông phải tập trung vào những vấn đề bức bách Năng lực của bộ máyhành chính và bộ máy chính sách rất hạn chế Vì vậy cần phải tập trungvào những vấn đề quan trọng nhất
2 Trình tự của cuộc cải cách phải tránh việc tạo ra hay mở rộngthêm những chân không trong quản lý Cải cách phải tạo thêm nhiều cơhội để sáng kiến cá nhân nảy nở và tránh việc tạo ra những lỗ hổng đòihỏi thêm những hoạt động vòng vèo của Chính phủ
3 Chính phủ cần tổ chức việc rút lui ngay lập tức và hoàn toàn khỏitrách nhiệm sản xuất hay phân phối sản phẩm hàng hoá ở bất cứ nơinào có thể có được Thị trường cung cấp những công cụ hữu hiệu đểphi tập trung hoá và phi chính trị hoá quá trình quyết định