Nghiên cứu biến động sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng với thực tiễn sản xuất, bảo vệ môi trường, đối với công tác quy hoạch và bảo vệ nguồn tài nguyên, đặc biệt trước sự suy giảm nhanh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
BÙI THỊ THU HOA
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2009
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
BÙI THỊ THU HOA
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2009
Chuyên ngành: ĐỊA LÝ HỌC
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN VIỆT TIẾN
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Bùi Thị Thu Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và tấm lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thấy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Việt Tiến
Em xin chân thành cảm ơn BCN Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cơ sở đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để luận văn hoàn thành đúng hạn Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã có nhiều đóng góp để em hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, em gửi lời cảm ơn tới các cán bộ trong Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ, Phòng tài nguyên môi trường, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng thống kê huyện Đồng Hỷ đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ em hoàn thành luận văn
Cám ơn tất cả các hộ gia đình thuộc xã Hóa Thượng, xã Khe Mo, xã Văn Hán đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc điều tra tại địa bàn nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các hình vẽ
Phần 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giới hạn nghiên cứu 2
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 2
5.1.Quan điểm nghiên cứu 2
5.2 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Lịch sử nghiên cứu 4
6.1 Lịch sử nghiên cứu đánh giá sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 4
6.2 Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất tại huyện Đồng Hỷ 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
Phần 2: NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1.1.Khái quát chung về tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất 8
1.1.2 Đánh giá biến động sử dụng đất 12
Trang 61.1.3 Sử dụng đất bền vững 14
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19
1.2.1 Tình hình sử dụng đất trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam 20
1.2.3 Tình hình sử dụng đất ở tỉnh Thái Nguyên 21
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2: TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 28
2.2 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN ĐỒNG HỶ GIAI ĐOẠN 2000 – 2009 33
2.2.1 Hiện trạng sử dụng vốn đất 33
2.2.2 Tình hình biến động sử dụng các loại đất 38
2.2.3 Phân tích các nguyên nhân tạo nên những thay đổi sử dụng đất huyện Đồng Hỷ 56
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ ĐẾN NĂM 2015 3.1 CƠ SỞ CỦA SỰ ĐỊNH HƯỚNG 59
3.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ đến năm 2015 59
3.1.2 Tiềm năng và tồn tại trong sử dụng vốn đất của huyện Đồng Hỷ 61
3.2 ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN ĐỒNG HỶ- TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2015 62 3.2.1 Phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Trang 7Nguyên đến năm 2015 62 3.2.2 Đề xuất những biện pháp trong quản lý, qui hoạch sử dụng đất
huyện Đồng Hỷ 69 3.3 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NLKH - MỘT MÔ HÌNH CHO SỬ DỤNG
ĐẤT TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ 76 3.3.1 Vai trò của mô hình NLKH đối với phát triển kinh tế xã hội
huyện Đồng Hỷ 76 3.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng các mô hình NLKH
tại Đồng Hỷ 77 3.3.3 Mức độ phù hợp của các mô hình NLKH đối với quá trình sử dụng
đất ở huyện Đồng Hỷ 80 3.3.4 Đề xuất những biện pháp cho sự phát triển mô hình NLKH ở
huyện Đồng Hỷ 82 Tiểu kết chương 3 84
Trang 917 Bảng 3.4: Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển mô hình
18 Bảng 3.5: Các dạng mô hình nông lâm kết hợp hiện có tại huyện
19 Bảng 3.6: Mức độ phù hợp của các mô hình nông lâm kết hợp
Trang 106 Hình 2.5: Bản đồ biến động sử dụng đất nông nghiệp
huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2000-2009
10 Hình 3.2: Sơ đồ vai trò của nông lâm trong phát triển nông
Trang 11Phần 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng của sự sống, đây là nguồn tài nguyên hữu hạn Đất vừa là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế, vừa là địa bàn cư trú của dân cư, các cơ sở kinh tế và an ninh quốc phòng
Nghiên cứu biến động sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng với thực tiễn sản xuất, bảo vệ môi trường, đối với công tác quy hoạch và bảo vệ nguồn tài nguyên, đặc biệt trước sự suy giảm nhanh của nguồn tài nguyên này dưới sức
ép của tốc độ gia tăng dân số, CNH –HĐH nông nghiệp và nông thôn như hiện nay Sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực của mỗi loại hình sử dụng đất là bức tranh phản ánh chân thực và rõ nét nhất thực trạng phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên, với 18 xã, 3 thị trấn, tổng diện tích của huyện là 460km², mật độ dân
số 247 người/km² So với mật độ dân số của địa phương lân cận như huyện Phú Lương 289 người/km², Phổ Yên 528 người/km², có thể nói tài nguyên đất của Đồng Hỷ còn nhiều tiềm năng Tuy nhiên với tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,05%/năm, cùng với quá trình công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ nguồn tài nguyên đất nông nghiệp lại đứng trước nhiều sức ép lớn
Xuất phát như trình bày nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu
biến động sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2000 – 2009”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí luận và phương pháp nghiên cứu địa lí để phân tích thực trạng sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2000 – 2009, trên cơ sở đó
Trang 12nêu ra định hướng và đề xuất những giải pháp sử dụng đất tại địa phương theo hướng bền vững
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, cần giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đánh giá biến động sử dụng đất phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
- Phân tích biến động sử dụng đất huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2000 – 2009
- Đề ra định hướng và những giải pháp sử dụng đất huyện Đồng Hỷ nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội và qui hoạch sử dụng đất đến năm 2015
4 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu biến động hiện trạng sử dụng đất
- Về lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong phạm vi huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2000 – 2009
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1.Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm thực tiễn
Trang 13Quan điểm này được vận dụng để đánh giá hiện trạng sử dụng lãnh thổ cũng như để định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ với những khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi
- Quan điểm lịch sử
Sự biến động của các loại đất của Đồng Hỷ không chỉ thay đổi theo không gian mà còn thay đổi theo thời gian Vì thế khi nghiên cứu vấn đề trên quan điểm lịch sử sẽ thấy được sự biến động sâu sắc của chúng và phân tích đánh giá được nguyên nhân dẫn tới những biến động đó
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích thống kê kinh tế - xã hội
Tài liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra mẫu điển hình, chọn hộ điều tra về các nội dung luận văn nghiên cứu theo phiếu điều tra
Tài liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế -
xã hội, các tài liệu về đất đai, số liệu thống kê của các ban ngành và cơ quan; sách, báo, tạp chí có liên quan đến nội dung của luận văn
- Phương pháp thực địa
Có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó vừa là để khẳng định tính chính xác của những vấn đề nghiên cứu qua tài liệu, vừa là bổ sung thêm những kiến thức thực tế cho luận văn
- Phương pháp ứng dụng các phần mềm hệ thống thông tin địa lý
Sử dụng phần mềm Mapinfo để thành lập các cơ sở dữ liệu địa lý và xây dựng các bản đồ: Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ, bản đồ biến động diện tích đất của huyện Đồng Hỷ theo mục đích sử dụng
- Phương pháp chuyên gia phỏng vấn, lấy phiếu điều tra
Phương pháp chuyên gia được đặc biệt chú trọng, từ các khâu chuẩn bị đề cương đến đánh giá BĐSDĐ, sửa chữa, hoàn chỉnh luận văn Ngoài các chuyên
Trang 14gia là các nhà khoa học địa lí, địa chất, còn tham khảo ý kiến các cán bộ và nhân dân địa phương Trong những trường hợp với phương pháp xã hội học
Khi xây dựng mô hình sử dụng đất bền vững phù hợp với điều kiện của địa phương chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và phát phiếu điều tra để tham khảo nhu cầu cũng như thực tế sản xuất của các nông hộ, từ đó đưa mô hình
sử dụng đất phù hợp với thực tiễn địa phương
6 Lịch sử nghiên cứu
6.1 Lịch sử nghiên cứu đánh giá sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
Đánh giá đất đai là khái niệm được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu đánh giá phục vụ QHSDĐ Theo Stewat (1968), đánh giá đất đai là “sự đánh giá khả năng thích nghi của đất đai cho việc sử dụng của con người vào nông nghiệp, lâm nghiệp, thiết kế thuỷ lợi, QHSDĐ… và đánh giá nhằm mục tiêu cung cấp những thông tin về sự thuận lợi và khó khăn cho việc
sử dụng đất đai” Tại Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, trong những năm
60, các công trình đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước: 1- đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng, 2- đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (kết hợp thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình), 3- đánh giá kinh tế đất [24] Như vậy, phương pháp này chưa xem xét đầy đủ các khía cạnh kinh tế- xã hội của việc sử dụng đất đai
Tại Hoa Kỳ, năm 1951, Cục cải tạo đất đai (USBR) đã tiến hành phân loại khả năng thích nghi đất đai có nước tưới Trong đó, ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế cũng được chú trọng nhưng giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi Sau đó, năm 1964, các tác giả Klinggebiel và Montgomery đã đưa khái niệm “khả năng đất đai” (land capability), chỉ tiêu chính để phân loại khả năng đất đai là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng cho mục tiêu canh tác được đề nghị, đây là một dạng đánh giá đất đai sơ lược, gắn với SDĐ
Trang 15Hiện nay trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển việc xây dựng bản đồ BĐSDĐ và theo dõi BĐSDĐ được tiến hành thường xuyên trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám cùng với các phần mềm xử lí
số chuyên dụng Ví dụ, ở Mỹ người ta sử dụng phương pháp xử lí ảnh số để thường xuyên cập nhật các thông tin về BĐSDĐ trong quản lí đất đai, trong nghiên cứu biến động rừng, thậm chí để dự báo tình trạng sâu bệnh đối với các loại cây trồng nông nghiệp[33]
Tại Việt Nam, những công trình nghiên cứu, đánh giá đất đai tiêu biểu bắt đầu từ thập niên 80 trở lại đây:
- Năm 1984, tác giả Tôn Thất Chiểu và cộng sự thực hiện đánh giá phân hạng đất đai khái quát toàn quốc theo nguyên tắc phân loại khả năng đất đai của Hoa Kỳ, chỉ tiêu là các đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, phân cấp thành 7 nhóm: 4 nhóm cho nông nghiệp, 2 nhóm cho lâm nghiệp và 1 nhóm cho mục đích khác
- Năm 1985, tác giả Bùi Quang Toản và cộng sự đã nghiên cứu đánh giá và QHSDĐ khai hoang ở Việt Nam theo phương pháp của FAO Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thổ nhưỡng, thủy văn và các điều kiện tưới tiêu Hệ thống phân vị là lớp (class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất
- Năm 1986, nhóm tác giả Viện quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp (VQHTKNN) đã biên tập “Cơ sở khoa học bố trí sử dụng đất đồng bằng sông Cửu Long” trên cơ sở xây dựng bản đồ sinh thái nông nghiệp Đơn vị cơ sở là các đơn vị sinh thái Từ đó xây dựng bản đồ thích nghi cho một số cây trồng như lúa, ngô, mía… với 4 cấp: thích hợp nhất, thích hợp, ít thích hợp, không thích hợp
- Năm 1990 Hoàng Xuân Tứ và cộng sự đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất trống đồi núi trọc và xác định phương hướng sử dụng hợp lý”, việc đánh giá tiềm năng đất dựa trên sự phân loại sinh khí hậu,
Trang 16xây dựng bản đồ mức độ thích hợp về mặt sinh khí hậu, đánh giá khả năng gây trồng và phục hồi rừng, áp dụng cho vùng đồi Quảng Nam - Đà Nẵng
- Việc điều tra nghiên cứu BĐSDĐ thông qua xây dựng và khai thác thông tin từ bản đồ trong những năm gần đây đạt được những thành tựu đáng
kể Bản đồ BĐSDĐ Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 được xây dựng 5 năm một lần bằng phương pháp tổng hợp các bản đồ sơ đồ BĐSDĐ tỷ lệ từ 1/250.000 đến bản đồ 1/100.000 của các tỉnh trong cả nước Các bản đồ này được xây dựng từ các tư liệu đo vẽ và thống kê diện tích các loại hình sử dụng đất ở các cấp xã, huyện theo một qui trình thống nhất do Tổng cục Quản lí Ruộng đất qui định (nay là Bộ Tài nguyên Môi trường) Thành lập bản đồ BĐSDĐ bằng phương pháp truyền thống có cách thức tương đối đơn giản và kết quả sát với thực tế song công tác điều tra tốn thời gian và công sức mà tính tổng hợp của bản đồ không cao Hiện nay, việc điều tra BĐSDĐ còn có sự hỗ trợ của công nghệ viễn thám nên đã phần nào khắc phục được những hạn chế của phương pháp truyền thống
6.2 Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất tại huyện Đồng Hỷ
Tại Huyện Đồng Hỷ, BĐSDĐ là một vấn đề luôn được nêu ra trong các báo cáo qui hoạch sử dụng đất và trong các đề án phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà Tuy nhiên, trong các báo cáo này, việc nghiên cứu BĐSDĐ mới chỉ dừng lại ở các con số thống kê, chưa đi sâu đánh giá, phân tích những biến động đó có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường sinh thái cũng như quá trình phát triển kinh tế xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực Và vì vậy vẫn tồn tại những bất cập trong vấn đề sử dụng đất như tăng diện tích đất trống đồi trọc, đất nông nghiệp giảm…), suy thoái đất ở một số nơi do xói mòn và khai thác chưa hợp lí, ô nhiễm môi trường đất…
Do vậy, đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ phục vụ mục tiêu phát triển KT - XH là một vấn đề mới, hiện nay chưa có tác
Trang 17giả nào đề cập tới Kết quả nghiên cứu của luận văn có đóng góp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn, góp phần xây dựng chiến lược phát triển KT - XH của huyện Đồng Hỷ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu biến động sử dụng đất
Chương II: Tình hình biến động sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ
Chương III: Định hướng và giải pháp sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ tới năm 2015
Trang 18Phần 2: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT
nó Còn “đất đai” tương đương với “land” trong tiếng Anh, có nghĩa về phạm
vi không gian hay được hiểu về “lãnh thổ” Vì thế, mà từ trước tới nay có nhiều cách định nghĩa về đất
- Theo quan điểm phát sinh học thổ nhưỡng, đất là thể tự nhiên đặc biệt hình thành do sự tác động tổng hợp các yếu tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật, thời gian và tác động của con người (Đôcutraev - 1879)
- Theo quan điểm kinh tế học: Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời là sản phẩm lao động Khái niệm về đất đai bao gồm nội dung về mặt bằng lãnh thổ sử dụng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân [10]
Theo cách tiếp cận mới, mở rộng định nghĩa đất thì đất được hiểu là một không gian giới hạn có chiều thẳng đứng (bao gồm cả phần khí hậu của khí quyển bên trên bề mặt, mặt đất đến tài nguyên nước ngầm ở bên dưới) đó
là sự kết hợp của thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn và thực vật cùng với những thành phần khác
Trang 191.1.1.2 Phân loại hiện trạng sử dụng đất
HTSDĐ là trạng thái lớp phủ bề mặt đất bao gồm lớp phủ tự nhiên và nhân tác, phản ảnh trạng thái sử dụng quĩ đất thông qua các loại hình sử dụng đất HTSDĐ luôn thay đổi dưới tác động của các qui luật tự nhiên và những hoạt động kinh tế xã hội của con người Theo quy định của điều 13 Luật đất đai 2003 căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau:
- Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất:
+ Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất trồng cây lâu năm
+ Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam
Trang 20thắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ gồm:
+ Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng
+ Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ
+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
+ Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng
+ Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích
sử dụng
HTSDĐ hằng năm, các địa phương lại lựa chọn cách phân loại HTSDĐ với 2 loại: Đất nông – lâm nghiệp (đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp) và đất phi nông nghiệp (đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng)
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng cách phân loại theo quy định của điều 13 Luật đất đai 2003
Trang 21Hình 1: Sơ đồ phân loại đất theo mục đích sử dụng
Đất nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chƣa
sử dụng
Đất trồng cây hàng năm Đất trồng cây lâu năm Đất rừng sản xuất Đất rừng phòng hộ Đất rừng đặc dụng
Đất đồi chƣa sử dụng Đất bằng chƣa sử dụng Núi đá không có rừng cây
Đất sông ngòi, kênh, rạch
Đất ở nông thôn, đô thị
Đất làm công trình đình miếu Đất công cộng
Đất xây dựng
Quỹ đất đai
Trang 221.1.2 Đánh giá biến động sử dụng đất
1.1.2.1 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu biến động sử dụng đất
BĐSDĐ là sự thay đổi mục đính sử dụng đất theo thời gian do nguyên nhân khách quan (quy luật biến động tự nhiên) và nguyên nhân chủ quan (hoạt động kinh tế - xã hội của con người) Những nguyên nhân khách quan,
đó là sự vận động của các qui luật tự nhiên, ví dụ như sự bồi đắp nên các đồng bằng châu thổ là một quá trình khai thác tự nhiên diễn ra trong hằng triệu năm, thường không là nguyên nhân trực tiếp gây nên BĐSDĐ Nguyên nhân trực tiếp chủ yếu làm cho sử dụng đất luôn biến động ở đây là do các hoạt động kinh tế của con người Trong quá trình khai thác tự nhiên để phục vụ nhu cầu của mình, chính con người là: tác nhân chủ yếu, mạnh mẽ nhất làm phá vỡ cân bằng của tự nhiên, làm cho tự nhiên không còn phát triển theo qui luật vốn có của nó Biến động này đặc biệt lớn ở những nước chậm phát triển, nơi mà con người có ít hiểu biết về tự nhiên, đồng thời lại khái thác tài nguyên một cách bừa bãi Vì vậy các điều kiện nghiên cứu phản ánh sự thay đổi tình trạng sử dụng đất, là cơ sở để xây dựng các phương án qui hoạch trên lãnh thổ địa lý cụ thể, nhằm sử dụng tối đa tiềm năng tự nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái
Việc điều tra nghiên cứu BĐSDĐ có ý nghĩa trong việc bảo vệ tự nhiên, môi trường sinh thái Biến động là bản chất của mọi hiện tượng và sự vật trong tự nhiên Không ở đâu và không bao giờ tự nhiên lại bất biến, trái lại
nó luôn luôn thay đổi Động lực của mọi sự thay đổi, biến động đó là quan hệ tương tác giữa các hợp phần tự nhiên, được phản ánh rõ nét trong quá trình BĐSDĐ Vì vậy nghiên cứu cảnh quan tự nhiên cũng đòi hỏi sự phân tích BĐSDĐ Bên cạnh đó, muốn khai thác hợp lý các tài nguyên, không làm hủy hoại môi trường sinh thái, mà còn bảo vệ và cải tạo tự nhiên, thì nhất thiết phải hiểu biết động lực biến động của tự nhiên thông qua BĐSDĐ
Trang 23Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có chế độ khí hậu rất
đa dạng phức tạp là nguyên nhân chi phối cho cấu trúc và phương thức sử dụng đất thay đổi rõ rệt theo thời gian và không gian lãnh thổ Bên cạnh đó, con người can thiệp liên tục và mạnh mẽ vào môi trường cũng làm cho SDĐ cũng có nhiều biến đổi, chẳng hạn như nhiều miền đất màu mỡ được khai phá, các hệ thống kênh rạch, đê biển đã và đang xây dựng, cải tạo, các vùng đất canh tác truyền thống được mở rộng thêm Ngược lại, việc khai thác và mở rộng đất đai không có qui hoạch làm cho hệ sinh thái tự nhiên bị phá vỡ, gây tác hại nghiêm trọng đối với môi trường Hiện nay, trong cơ chế thị trường, con người vì lợi ích trước mắt đã khai thác tự nhiên một cách vô tổ chức đã gây nhiều thảm họa khôn lường [19]
Qua những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu BĐSDĐ là hết sức cần thiết, nó tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế để làm sao vừa khai thác được tối đa tiềm năng của tự nhiên, đồng thời bảo vệ được môi trường và cân bằng sinh thái
1.1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh biến động sử dụng đất
* Tỷ lệ biến động
Tỷ lệ biến động là một giá trị định lượng, nó được thể hiện bằng tỷ số biến động diện tích i (là hiệu số của diện tích năm cuối và diện tích năm đầu giai đoạn chia cho diện tích năm đầu giai đoạn), giá trị này có thể âm (-) hoặc dương (+) Tỷ lệ biến động được tính theo công thức:
Khi tìm hiểu về tình hình biến động hiện trạng sử dụng đất tại huyện Đồng Hỷ cần lưu ý: số lượng diện tích tăng hay giảm, nhiều hay ít của từng loại hình sử dụng đất trong giai đoạn nghiên cứu
S2 – S1 i: Tốc độ gia tăng (%)
i = x 100 S2: Diện tích năm cuối
S1 S1: Diện tích năm đầu
Trang 24Công thức này được chúng tôi áp dụng tại chương 2, là cơ sở cho đánh
* Xu hướng biến động
Xu hướng biến động sử dụng đất là nghiên cứu trạng thái biến động hiện trạng sử dụng đất trên cơ sở nghiên cứu khả năng biến động của từng loại đất,[14] Xu hướng biến động có thể là tăng hoặc giảm diện tích của một
số loại hình sử dụng đất so với năm gốc, có thể theo hướng ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường và vấn đề sử dụng đất bền vững
Tại chương 2, chúng tôi có áp dụng lý thuyết này để làm cơ sở cho phân tích, đánh giá những ảnh hưởng của BĐSDĐ đến các vấn đề kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ
1.1.3 Sử dụng đất bền vững
1.1.3.1 Phát triển bền vững
Phát triển là yêu cầu tất yếu của xã hội nhằm nâng cao mức sống của người dân, cải thiện giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng xã hội Theo Gerard
Crellet: “Phát triển là một quá trình một xã hội đạt đến thoả mãn các nhu cầu
chóng, sự phát triển kinh tế xã hội trở nên mạnh mẽ, con người đã và đang sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên để đáp ứng cho nhu cầu ngày một gia tăng của mình, do đó nhiều tài nguyên bị suy giảm, cạn kiệt hoặc ô nhiễm Điều đó tiềm ẩn nguy cơ huỷ hoại môi trường sống cho các thế hệ con cháu, là điều đã được nhiều nước, nhiềutổ chức quốc tế và các nhà khoa học cảnh báo Để có chiến lược khắc phục nguy cơ này, nhiều phương pháp tiếp cận mới cho sự phát triển đã được đề ra Một trong những cách tiếp cận đang ngày càng được chấp
nhận và đưa vào thực tiễn sử dụng đó là cách tiếp cận “phát triển bền vững”
Có thể nói phương pháp tiếp cận phát triển bền vững không phải mới được đặt ra gần đây Nó đã từng được đề cập tới trong một số lí thuyết kinh tế
Trang 25cổ điển như khái niệm về giới hạn của sự tăng trưởng và phát triển tới một
trạng thái ổn định của Ricardo, Malthus, Mill và Van Den Bergh [20] Từ góc
độ coi tài nguyên thiên nhiên là nguồn cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất, trạng thái ổn định có thể được nhìn nhận là một dạng cụ thể của phát triển bền vững, trong đó mức độ ít nhiều của nguồn tài nguyên thiên nhiên quyết định qui mô thực chất của nền kinh tế Tuy nhiên, phát triển bền vững được nêu ra và thực sự trở thành mối quan tâm nghiên cứu, phân tích của các nhà khoa học chỉ từ những năm 1980 [22]
Hiện nay, khái niệm “phát triển bền vững” đã được sử dụng như một
điểm xuất phát để xem xét một cách sâu rộng hơn các vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường, không những thế, khái niệm này cũng ngày càng được chấp nhận trong các ngành chuyên môn, trong đó có phát triển đất đai bền vững Gần đây nhất, tại Hội nghị Thượng đỉnh về lương thực thế giới tổ chức tại Roma (Italia) với sự tham gia của hơn 100 nước và tổ chức trên thế giới, đã đưa ra một bản tuyên bố quan trọng gọi tắt là tuyên ngôn Roma, có nêu: "Cần thiết phải phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên"
Có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững, song định nghĩa do Uỷ ban Bruntland của Uỷ ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED- World Central Environmental and Development) được chấp nhận rộng rãi nhất Theo WCED nhìn nhận, “một hoạt động phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng nhu cầu đời nay nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đời sau”
Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (WB - World Bank) coi phát triển bền vững thể hiện trên 3 lĩnh vực: Kinh tế, môi trường và xã hội Các chỉ
số đánh giá về các mặt trên đang được bổ sung, cập nhật Khái niệm "tam giác bền vững" và sau này đổi thành "ma trận bền vững" là những đóng góp của
WB cho sự phát triển bền vững
Trang 26Như vậy, tiêu chí của phát triển bền vững được cụ thể hóa trong 4 điểm:
- Sinh thái cân bằng: Bảo vệ môi trường sinh học, tài nguyên tự nhiên
và đa dạng sinh học không bị cạn kiệt
- Kinh tế sống động: Sản xuất có năng suất cao và có lợi nhuận tốt
- Thích hợp với phát triển xã hội: Phù hợp với văn hóa truyền thống
dân tộc
- Có kỹ thuật tương ứng: Kỹ thuật được sử dụng trên cơ sở tài nguyên
sẵn có ở địa phương và kinh nghiệm của người dân có điều chỉnh trong điều kiện mới
1.1.3.2 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
Một khuôn khổ để đánh giá giải pháp quản lí đất bao gồm ít nhất ba
và đem lại lợi ích bao nhiêu cho con người), thời hạn (là giải pháp có sớm đạt được lợi ích hay không) và hỗ trợ chính sách (là giải pháp có thể thực hiện
được trong khuôn khổ tổ chức và chính sách quốc gia hay không) Khung đánh giá quản lí đất bền vững (Dumanski và cộng sự đề xướng vào năm 1991) của mỗi vùng sinh thái hay mỗi quốc gia đều có những tiêu chí đánh giá đất bền vững khác nhau Trong bản hướng dẫn về tiêu chuẩn quốc tế cho đánh giá chất lượng đất đai và sử dụng bền vững (Hortensius và Welling, 1997) có hai loại tiêu chuẩn sử dụng: cấp quốc tế và cấp quốc gia Đối với Việt Nam, xác định các chỉ số đánh giá phải dựa trên cơ sở điều kiện thực tiễn, kinh tế xã hội, đất đai và phương pháp canh tác của nông dân
Khi đánh giá tính bền vững của đất đai cần phải dựa trên sự ổn định về thời gian của các tiêu chí đánh giá Các tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững ở Việt Nam được cụ thể hóa trong sau:
Trang 27Bảng 1: Một số tiêu chí đánh giá hệ thống sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
1 Hiệu quả kinh tế
1.1 Năng suất cao
1.2 Chất lượng cao
1.3 Giá trị sản phẩm
trên đơn vị diện tích cao
1.4 Giảm rủi ro:
Năng suất tăng dần
Đạt tiêu chuẩn tiêu thụ sản phẩm tại địa phương
Trang 28Tiêu chí Nội dung tiêu chí
3.1 Giảm thiểu xói mòn
thoái hóa đất tới mức
Không phải vay lãi cao
Phát huy được tri thức bản địa, kỹ năng nông dân Nông hộ tự làm nếu được tập huấn
Tham gia mọi khâu kế hoạch
Nông dân tự quyết việc sử dụng đất không áp đặt
và được hưởng lợi ích lớn
Không làm phụ nữ nặng nhọc và phụ thuộc Không làm trẻ em mất cơ hội học hành
Phù hợp với luật đất đai và luật khác
Phù hợp với văn hóa dân tộc Phù hợp với tập quán địa phương
Xói mòn dưới mức cho phép Độ phì nhiêu duy trì hoặc tăng
Trả lại tàn dư hữu cơ ở mức độ có thể
Che phủ trên 35% quanh năm Duy trì và tăng nguồn sinh thuỷ Không gây ô nhiễm nguồn nước
Trang 29Tiêu chí Nội dung tiêu chí
3.4 Nâng cao đa dạng
sinh học của hệ sinh thái
Số loài cây không giảm hoặc tăng, tỷ lệ cây dài ngày và ngắn ngày phù hợp Khai thác tối đa các loài bản địa Bảo toàn và làm phong phú quỹ gen
Tính ổn định theo thời gian phụ thuộc vào bản chất của đất đai, các yếu
tố môi trường và phương thức canh tác Một số yếu tố của đất rất ổn định và ít biến động theo thời gian như đặc điểm về địa chất, đá mẹ và địa hình (độ dốc) Các yếu tố nhạy cảm dễ thay đổi là những yếu tố dễ đánh giá, bao gồm năng suất cây trồng, dinh dưỡng và độ phì của đất Sử dụng đất được coi là bền vững khi duy trì được sự cân bằng và ổn định của những tiêu chí có độ nhạy cảm cao Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) đã đưa ra tiêu chí xác định tính bền vững theo thời gian như sau:
Sử dụng đất được coi là bền vững khi tính ổn định của đất ít nhất trên 7 năm như:
+ Bền vững lâu dài: Giới hạn thời gian trên 25 năm
đó đất bãi, đồng cỏ chăn nuôi là 2,6 tỷ ha, đất trồng trọt 1,4 tỷ ha, còn lại là
Trang 30đất rừng Nhưng trên thực tế đất đang canh tác chỉ bằng 1/4 con số trên Với dân số 6,7 tỷ người, bình quân diện tích đất trồng trọt trên thế giới chỉ khoảng 0,2 ha/người Mặt khác, trong vài chục năm trở lại đây, sự phát triển của các thành phố, các công trình xây dựng, đường giao thông, quá trình đô thị hóa
đã làm mất đi một diện tích đất trồng trọt khá lớn Ngoài ra, do sự thay đổi của khí hậu và hoạt động tiêu cực của con người, làm một diện tích đất không nhỏ nữa đang trở thành hoang mạc, một phần bị nước biển “ăn” lấn
Như vậy, trên bề mặt Trái đất hầu như toàn bộ diện tích đất đai mầu mỡ
đã được sử dụng Việc khai thác đến các diện tích đất mới tuy có thể được, nhưng là một vấn đề hết sức khó khăn và tốn kém Vì vậy biện pháp tối ưu bây giờ là sử dụng hợp lý đất và tiến hành thâm canh tăng năng suất cây trồng
đi đôi với việc cải tạo diện tích đất đã sử dụng
đỏ trên núi, đất mùn thô trên núi cao, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất sói mòn trơ soi đá, đất pôtzôn Trong đó chiếm diện tích lớn và có ỹ nghĩa kinh tế quan trọng là đất phù sa (3 triệu ha, chiếm 9% diện tích tự nhiên), kế đến là đất xám bạc màu 2,48 triệu ha, chiếm 7,4%, loại đất dặc trưng của miền núi là đất đỏ vàng chiếm 50% và đất mùn trên núi chiếm 9% diện tích đất tự nhiên
Hiện nay, theo mục đích sử dụng, cơ cấu đất của nước ta chia làm 3 loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng
Trang 31Ở nước ta trong 8 vùng kinh tế lớn chỉ có hai đồng bằng là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là có diện tích đất nông nghiệp chiếm trên hơn 50% tổng diện tích đất của vùng Các vùng khác như Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ có diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ rất thấp trong cơ cấu sử dụng đất của vùng Nhìn chung tài nguyên đất cả nước ta rất hạn chế chưa đến 0,5 ha/người, thấp vào bậc nhất thế giới Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chỉ bình quân 0,1 ha/người, nhưng phân bố không đều, ở nhiều vùng con số này còn thấp hơn nhiều
Việc chuyển mục đích sử dụng đất, như từ đất lâm nghiệp sang nông nghiệp, từ nông nghiệp sang đất chuyên dùng, đồng thời là việc thay đổi hướng tác động của con người lên đất đai, thay đổi giá trị và giá trị sử dụng của đất đai, điều này đòi hỏi cần tiến hành một cách cận trọng trên cơ sở quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai của cả nước hay một vùng lớn
Với điều kiện tự nhiên của vùng nhiệt đới, nước ta lại có nhiều đất dốc, cùng với tập quán canh tác lâu đời của một số dân tộc tiểu số, cũng như trong những năm gần đây do nhiều địa phương khai hoang không đúng kỹ thuật đã làm cho tài nguyên đất bị thái hóa bạc màu Đất trống đồi núi trọc đang bị thái hóa nghiệm trọng với các mức độ khác nhau Diện tích đất xấu cần được cải tạo chiếm 20% diện tích tự nhiên Hiện tượng sói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt
nở đất đang sảy ra ở nhiều nơi làm cho khoảng 50% trong tổng số đất tự nhiên của nước ta được coi là có vấn đề suy thoái Các chất dinh dưỡng bị rửa trôi có thể đến 15 – 170 tấn/ha/năm ở vùng đất dốc Do vậy sử dụng đất phải tiến hành bồi dưỡng, bảo vệ đất, thực hiện các biện pháp bảo vệ tích cực và có biện pháp
1.2.3 Tình hình sử dụng đất ở tỉnh Thái Nguyên
Ngày 6/11/1996 tỉnh Bắc Thái được tách ra thành hai tỉnh: Thái Nguyên và Bắc Kạn Năm 1995 diện tích tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên (một phần diện tích của tỉnh Bắc Thái cũ) là 347.123,91 ha nhưng đến năm năm
Trang 322009 là 3.534,4 ha [19] Sở dĩ có sự thay đổi này do tỉnh có sự điều chỉnh theo diện tích đo đạc bản đồ chính qui ở một số đơn vị huyện thị và đo khép kín ranh giới theo chỉ thị 364/CP Hiện nay đất đai của Thái Nguyên đã được đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội tương đối triệt để Tỷ
lệ diện tích đất đưa vào sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế năm 2005
là 86,2% Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với các tỉnh miền núi phía Bắc (73,9%)
và vùng Bắc Bộ (63,6%)
Thực trạng sử dụng quỹ đất của tỉnh hiện nay có sự không đồng đều giữa các huyện thị Thành phố Thái Nguyên là đơn vị có diện tích đã sử dụng lên tới trên 95%, tiếp đó đến thị xã Sông Công, Phú Bình, Phổ Yên (trên 90%) Như vậy, ở các khu vực thành phố thị xã, các huyện phía Nam tài nguyên đất được sử dụng khá triệt để Ngược lại các huyện phía Bắc tài nguyên đất được sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế xã hội còn quá ít (Võ Nhai, Định Hoá: trên 40%) Cơ cấu sử dụng đất có sự khác biệt giữa các huyện, như các huyện miền núi có tỷ trọng đất chưa sử dụng và đất lâm nghiệp cao còn các huyện đồng bằng lại có tỷ trọng đất nông nghiệp, đất chuyên dùng cao hơn so với các loại đất còn lại
Tiểu kết chương 1
Việc nghiên cứu biến động sử dụng đất ở huyện Đồng Hỷ là có cơ sở lý luận và thực tiễn, trong mối quan hệ giữa các loại đất không thể chỉ tính đến khả năng sử dụng trước mắt mà còn phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận chung, cách phân chia các loại đất giúp cho việc quản lý, kiểm kê được thuận lợi Từ đó đặt ra được những phương
Trang 33hướng, cách thức sử dụng đất cho phù hợp với mục đích sử dụng trong sự phát triển bền vững ở tương lai
Trong điều kiện huyện miền núi nói chung, ở huyện Đồng Hỷ nói riêng, việc sử dụng đất phải được nghiên cứu theo thời gian và không gian để thấy rõ những biến động của nó Vấn đề sử dụng và khai thác tài nguyên đất ở huyện Đồng Hỷ nằm trong xu thế chung của tỉnh và quốc gia Để huyện Đồng
Hỷ thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cùng với cả nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước mặt và trong thời gian ngắn phải dựa vào khai thác tài nguyên đất, nhưng về lâu dài tài nguyên đất phải được sử dụng theo hướng phát triển bền vững
Trang 34Chương 2 TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm phía đông bắc tỉnh
Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phía đông bắc Đồng Hỷ trải dài từ 21°32'B đến 21°51'B, 105°46'Đ đến 106°04'Đ
- Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn
- Phía nam giáp huyện Phú Bình, thành phố Thái Nguyên
- Phía đông giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía tây giáp huyện Phú Lương, thành phố Thái Nguyên
Là huyện được đặt dưới thời nhà Trần, đến triều vua Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ, sau đổi thành Đồng Gia rồi lại đổi thành Đồng Hỷ
Năm 1965, Thái Nguyên sáp nhập với Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, Đồng Hỷ là huyện của tỉnh Bắc Thái
Năm 1996, tỉnh Bắc Thái được tách thành 2 tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên, Đồng Hỷ là huyện của tỉnh Thái Nguyên
Ngày 31/7/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 84 /2008/NĐ-CP,
về việc điều chỉnh 1.262,96 ha diện tích tự nhiên và 11.845 nhân khẩu thuộc huyện Đồng Hỷ về thành phố Thái Nguyên quản lý (gồm toàn bộ 401,90 ha diện tích tự nhiên và 5.398 nhân khẩu của xã Đồng Bẩm, 861,06 ha diện tích
tự nhiên và 6.447 nhân khẩu của xã Cao Ngạn) Huyện Đồng Hỷ còn lại 45.524,44 ha diện tích tự nhiên và 114.608 nhân khẩu, mật độ dân số 271 người/km2
Huyện Đồng Hỷ có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm sát trung tâm thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp lớn của tỉnh, với hệ thống giao
Trang 35thông đường bộ, đường thủy khá phát triển (có quốc lộ 1B, tỉnh lộ 259, sông Cầu… nối huyện với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang…), tạo điều kiện thuận lợi cho Đồng Hỷ trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như việc tiếp cận các thành tựu khoa học, kỹ thuật và góp phần thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đó chính là động lực để Đồng Hỷ
có thể phát triển kinh tế đa dạng với các ngành: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và nông, lâm nghiệp
Địa hình: Mang đặc điểm chung của vùng trung du miền núi, địa hình
của huyện nhìn chung chia cắt phức tạp, có xu hướng thấp dần từ phía đông bắc xuống tây nam, có độ cao trung bình 80m so với mặt nước biển và phân thành 3 vùng khá rõ rệt là: Vùng Đông Bắc có địa hình núi cao trung bình 120
m, vùng Tây Nam là vùng đồi thấp, cao trung bình 80 m và vùng ven sông Cầu có địa hình thấp tương đối bằng phẳng
+ Tiểu vùng Đông Bắc gồm các xã: Văn Lăng, Hoà Bình, Hoá Trung, Tân Long, Quang Sơn, Minh Lập,thị trấn Sông Cầu Vùng này chủ yếu là đất dốc, đồi núi nhiều, đất trồng lúa ít, chủ yếu phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp (cây Chè, được trồng tập trung ở các xã Minh Lập và Sông Cầu), chăn nuôi gia súc, trồng lúa lương rẫy Về y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội kém phát triển, có các xã vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn, dân trí thấp,
có các dân tộc ít người
+ Tiểu vùng ven sông Cầu bao gồm các xã Hoá Thượng, Chùa Hang, Huống Thượng, Linh Sơn, Nam Hoà Vùng này tương đối bằng phẳng, nằm giáp với thành phố Thái Nguyên, có sông cầu chảy qua thuận lợi cho việc trồng lúa và trồng rau Là trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội của cả huyện, người dân có cuộc sống ổn định, trình độ dân trí cao, sản xuất hàng hoá đã phát triển hơn so với các vùng khác Vùng này có chè nhưng diện tích trồng còn hạn chế, trồng tập trung ở Hoá Thượng
Trang 36Hình 2.1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN ĐỒNG HỶ
Trang 37+ Tiểu vùng Tây Nam gồm các xã Khe Mo, Cây Thị, Hợp Tiến, Trại Cau, Văn Hán, Tân lợi, Hợp Tiến, vùng này chủ yếu là đất đồi núi cao, có độ dốc tương đối lớn Thích hợp trồng cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, có khả năng phát triển công nghiệp khai thác khoáng sản
Trên địa bàn huyện đất đồi núi chiếm 85% diện tích và được chia ra 8 loại đất chính: Đất phù sa, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất vàng nhạt trên đá cát, đất bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất dốc tụ, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét
Khí hậu: Theo sự phân vùng của trung tâm khí tượng thành phố Thái
Nguyên, huyện Đồng Hỷ chịu ảnh hưởng chung của tiểu khí hậu trong vùng Đồng Hỷ nằm trong vùng khí hậu mang đặc trưng của các tỉnh miền núi và trung du: Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC - 24ºC, độ ẩm không khí trung bình thay đổi từ 75% - 85%
Khí hậu Đồng Hỷ có hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Vào mùa hè nhiệt độ trung vào khoảng từ 27ºC - 28ºC, có thời gian lên đến 30ºC - 31ºC Mùa này thường mưa nhiều, mưa tập trung vào các tháng 7, 8 lượng mưa ở 2 tháng này nên tới
300 – 400 mm và chiếm khoảng 40% - 46% lượng mưa cả năm Mùa này thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây trồng vật nuôi Nhưng mùa này thường có bão, mưa lớn gây úng lụt ảnh hưởng tới sản xuất nông, lâm nghiệp
Khí hậu Đồng Hỷ nói chung nóng ẩm thuận lợi cho việc phát triển ngành trồng trọt, lâm nghiệp và chăn nuôi Với điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao, sản xuất nông nghiệp có thể chia làm nhiều vụ trong một năm mà vòng sinh trưởng của cây vẫn đảm bảo
Thuỷ văn: Nhìn chung, hệ thống sông, suối của huyện phần lớn đều có
độ dốc lớn, lưu lượng thiếu ổn định, khả năng giữ nước rất hạn chế (mùa mưa thường gây lũ quét, mùa khô lượng nước thấp gây hạn hán) Đây là yếu tố ảnh
Trang 38hưởng rất lớn đến việc đầu tư khai thác nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt và cho sản xuất Trong một tương lai gần, cần đầu tư xây dựng các hệ thống đập,
hồ chứa nước nhằm giữ nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất vào mùa khô
Khoáng sản: Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở khu vực Ngàn Me, Cây
Thị; cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1-3 triệu tấn) Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như:
đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit
2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
Dân số: Tính đến 1/7/2009 toàn huyện có 112,970 người, với 28.454
hộ, trong đó dân số nông nghiệp chiếm tới trên 84% Mật độ dân số trung bình là 247 người/km2 (mật độ dân số của tỉnh Thái Nguyên là 325 người/km2) và phân bố không đều giữa các địa bàn trong huyện tập trung nhiều nhất ở các thị trấn, thị trấn Chùa Hang 3.447 người/km2, thị trấn Trại Cau 577 người/km2, thị trấn Sông Cầu 366 người/km2, thấp nhất ở xã Văn Lăng 70 người/km2, xã Cây Thị 75 người/km2 Trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh là chủ yếu chiếm 63%; tiếp đến là dân tộc Nùng 13,2%; dân tộc Sán Dìu 12,8%; dân tộc Dao 4,4%; dân tộc Tày 2,5%; dân tộc Mông 1,6%… Phần lớn các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, sống phân tán, rải rác và vẫn còn tình trạng du canh, tỷ lệ tăng dân số cao
Tỷ lệ gia tăng dân số vẫn ở mức cao 1,05%/năm (năm 2009) Yêu cầu đất ở cho người dân vẫn tăng lên khoảng 70 – 80 ha/năm Diện tích đất ở tăng thêm này chủ yếu ở các khu đất bằng gần trục lộ giao thông Bên cạnh việc mất đất dùng xây dựng nhà ở là đất cho các công trình công cộng phục vụ dân sinh sẽ là một áp lực lớn về sử dụng quỹ đất của huyện trong những năm tới
Là một huyện miền núi, với nhiều thành phần dân tộc, tài nguyên đất huyện Đồng Hỷ không tránh khỏi sự khai thác thiếu bền vững của đồng bào
Trang 39các dân tộc thiểu số, nơi có lối sống sinh hoạt còn nhiều lạc hậu, nơi còn tồn tại phương thức sản xuất thô sơ và lạc hậu
Lao động - Việc làm: Theo số liệu thống kê toàn huyện năm 2009 có
khoảng 57.000 lao động chiếm 45,76% dân số Trong đó, lao động phi nông nghiệp chiếm gần 15% tổng số lao động, tập trung chủ yếu ở các trung tâm
xã, cụm xã, thị trấn; lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu chiếm trên 85% tổng số lao động, tập trung nhiều ở khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp thuần tuý
Hiện tại trên địa bàn huyện còn khoảng 15-20% lao động chưa có việc làm ổn định Để thu hút được số lao động này sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội thì hệ thống đô thị và điểm dân cư sẽ mở rộng Sự phát triển này dẫn đến làm giảm diện tích đất nông nghiệp, do đó cần có giải pháp qui hoạch để hạn chế sự mở rộng diện tích đất chuyên dùng vào đất nông nghiệp
Thu nhập: Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân
huyện Đồng Hỷ trong những năm qua đã được cải thiện Nhìn chung, tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của cộng đồng các dân tộc trong huyện còn ở mức thấp so với mức bình quân chung của cả nước Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2009 đạt 4.934.000 đồng và mức thu nhập phân bố cũng không đều giữa các vùng, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị
Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng phát triển là điều kiện vật chất quan trọng
phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế cũng như nâng cao phúc lợi của dân cư nông thôn Cơ sở hạ tầng bao gồm nhiều hợp phần như: giao thông, thủy lợi,
hệ thông thông tin, trường học, trạm y tế, chợ
Về giao thông, nhìn chung hệ thống giao thông của huyện đảm bảo nhu cầu cho việc đi lại, phát triển kinh tế xã hội Hiện nay huyện đã có tổng số
Trang 40654,1 km đường giao thông Trong đó, đường tỉnh lộ 47,5 km, đường huyện
lộ là 56,6 km, đường xã, thôn, xóm, bản lộ 550,0 km
Về thủy lợi, huyện Đồng Hỷ coi công tác thủy lợi là nhiệm vụ hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, chỉ đạo nhân dân kiên cố hóa kênh, mương, đóng góp tiền, công sức, tiếp nhận nhiều nguồn vốn để phát triển thuỷ lợi Kết quả
đã xây dựng và nâng cấp nhiều hồ, trạm bơm, đưa khả năng chủ động tưới nước đạt 40% diện tích, tổng diện tích cấy lúa được tưới bới các công trình thủy lợi đạt 2000 ha
Về điện, toàn huyện có 39 trạm biến áp từ 35 KV trở xuống, 100% các
xã, thị trấn có điện lưới quốc gia, về cơ bản lưới điện nông thôn đã được bàn giao cho các hợp tác xã dịch vụ điện quản lý, không còn tình trạng nhân dân phải mua điện qua cai thầu, giá bán ổn định
Mặc dù trong những năm qua huyện đã có nhiều cố gắng trong việc đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của huyện Nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của người dân trong huyện ngày càng lớn Việc xây dựng hàng loạt các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, các công trình du lịch sẽ được đặt ra Do vậy sẽ dẫn tới những biến động về diện tích đất chuyên dùng của huyện
Đô thị hóa, một xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế, đòi hỏi diện tích xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn (đường giao thông, các công trình công cộng, nhà ở…) Quá trình đô thị hoá huyện Đồng Hỷ hình thành sớm, nhưng nó phát triển chậm trong một thời gian dài Chỉ từ khi các dự án mới được cấp phép đầu tư trong những năm gần đây nó mới thực sự phát triển mạnh và nhanh, đặc biệt từ năm 2005 trở đi
Xã hội: Bao gồm các vấn đề như văn hóa – thể thao, giáo dục, y tế
Văn hoá - thể thao: Hoạt động văn hoá, thể thao của huyện phát triển tương đối tốt cả về số lượng và quy mô, nội dung và hình thức Các hoạt động