1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn

125 527 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát thực trạng việc dạy và học chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” Vật lý đại cương ở một số trường Cao đẳng chuyên nghiệp………47 Kết luận chương i………49 Chương 2

Trang 1

Mục lục

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các đồ thị, hình và sơ đồ

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Đối tượng nghiên cứu 6

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Giả thuyết khoa học 8

8 Cấu trúc luận văn 8

Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên theo hướng vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý 1.1 Quan niệm hiện đại về dạy học……….9

1.1.1 Nhiệm vụ của quá trình dạy học………9

1.1.2 Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tương tác dạy học 10

1.1.2.1 Bản chất của sự học……… 10

1.1.2.2 Bản chất của sự dạy……… 11

1.1.2.3 Hệ tương tác dạy học………12

1.1.2.4 Vai trò của các trường chuyên nghiệp trong đào tạo………13

1.1.2.5 Bản chất và đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường chuyên nghiệp………14

1.1.2.6 Hoạt động học và tâm lý của sinh viên………15

1.2 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh, sinh viên………16

1.2.1 Tính tích cực của học sinh, sinh viên trong học tập………16

Trang 2

1.2.2 Phát triển tư duy của học sinh, sinh viên………19

1.2.3 Phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên……… 23

1.3 Một số vấn đề về phương pháp dạy học……… 24

1.3.1 Khái niệm chung……… 24

1.3.2 Các phương pháp dạy học vật lý……… 25

1.3.3 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học……….30

1.4 Dạy học đặt và giải quyết vấn đề………32

1.4.1 Cơ sở khoa học……… 32

1.4.2 Định nghĩa và bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề …… 33

1.4.3 Cơ sở triết học, tâm lý học……… 34

1.4.4 Tiến trình dạy học đặt và giải quyết vấn đề……….35

1.5 Khảo sát thực trạng việc dạy học đặt và giải quyết vấn đề ở một số trường Cao đẳng chuyên nghiệp………43

1.5.1 Mục đích điều tra, khảo sát……….44

1.5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát………44

1.5.3 Kết quả điều tra……… 45

1.6 Thực trạng việc dạy học chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” Vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Công nghiệp thực phẩm………46

1.6.1 Vị trí, vai trò của môn Vật lý………47

1.6.2 Khảo sát thực trạng việc dạy và học chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” Vật lý đại cương ở một số trường Cao đẳng chuyên nghiệp………47

Kết luận chương i………49

Chương 2: soạn thảo tiến trình dạy học “ Tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết vấn đề” khi dạy học một số kiến thức chương “ Động lực học hệ chất điểm- động lực học vật rắn” trong chương trình vật lý đại cương 50

Trang 3

2.1 Vị trí vai trò của chương động lực học hệ chất điểm- động lực học vật

rắn trong chương trình 50

2.1.1 Vị trí 50

2.1.2 vai trò của chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” trong chương trình Vật lý đại cương cho sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm 50

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” 52

2.2 Phương án dạy học một số kiến thức chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” theo tiến trình tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết vấn đề 54

2.2.1 Phương án dạy học một số kiến thức trong chương “Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn” 56

2.2.2 Phương án dạy học bài “khối tâm của vật rắn” 56

2.2.3 Phương án dạy học bài “chuyển động của vật rắn” 61

2.2.4 Phương án dạy học bài “phương trình cơ bản của chuyển động quay của vật rắn quay quanh một trục cố định” 64

2.2.5 Phương án dạy học bài “mô men động lượng và định luật bảo toàn mô men động lượng của hệ chất điểm” 71

2.3 Kết luận chương 2 77

Chương 3: thực nghiệm sư phạm 79

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 79

3.1.2 Trình tự tiến hành thực nghiệm sư phạm 79

3.1.3 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 80

3.1.4 Ước lượng các đại lượng đặc trưng cho thực nghiệm sư phạm 80

3.1.5 Khống chế các ảnh hưởng bên ngoài tác động đến thực nghiệm sư phạm 81

3.2 Đối tượng và cơ sở thực nhiệm sư phạm 82

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 83

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 83

3.3.2 Quan sát giờ học 84

Trang 4

3.3.3 Các bài kiểm tra 85

3.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 85

3.4.1 Điều tra tình hình giáo viên và sinh viên các trường Cao đẳng được tiến hành làm TNSP 85

3.4.2 Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm sư phạm 86

3.4.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 87

3.5 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 91

3.5.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 91

3.5.2 Kết quả kiểm tra, đánh giá 92

Kết luận chương iii: 100

Kết luận của luận văn 102

1 Những kết quả đạt được 102

2 Một số kiến nghị 103

3 Hướng phướng phát triển của luận văn 104

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm thay đổi từng bộ mặt của mỗi quốc gia, dân tộc

Để hoà nhập với nền kinh tế thế giới, đất nước ta phải vượt qua những thử thách gian lao trên con đường hội nhập và phát triển

Thực tế đó đã đặt lên vai nghành giáo dục một trọng trách to lớn là phải đào tạo ra những con người mới, có đạo đức trong sáng, có tác phong công nghiệp, cá nhân tự chủ, sáng tạo thích ứng với hoàn cảnh mới

Vì vậy đổi mới một cách toàn diện trong giáo dục là một tất yếu trong quá trình phát triển đất nước

Định hướng đổi mới đó đã được thể hiện rất rõ trong văn kiện Đại hội Đảng

cộng sản Việt Nam: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học

Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất

và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại Triển khai việc thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất lượng giáo dục, đào tạo.”[26]

Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, với chức năng, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH đất nước, giáo dục Cao đẳng chuyên nghiệp phải đổi mới toàn diện theo yêu cầu trên Tuy nhiên, giáo dục Cao đẳng chuyên nghiệp hiện nay nhìn chung vẫn chưa được đổi mới, cụ thể là:

- Nội dung giáo trình chưa phong phú, chủ yếu vẫn là các kiến thức khoa học mang tính chất hàn lâm, ít được cập nhật những kiến thức mới, chưa gắn với thực tiễn cuộc sống, các kiến thức sinh viên tiếp thu được hoặc chưa phù hợp hoặc khó liên hệ thực tế

Trang 6

- Kiểu dạy học chủ yếu vẫn là thông báo, truyền thụ mang tính chất một chiều của giáo viên

Từ thực tiễn giảng dạy môn vật lý đại cương ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm, chúng tôi nhận thấy, trong quá trình dạy học nội dung phần học đại cương nói chung, Vật lý đại cương nói riêng cho thấy sinh viên chưa hứng thú học môn Vật lý và chất lượng học tập chưa cao Nguyên nhân của hiện tượng này là: phương pháp truyền thụ của thầy còn nặng về thuyết trình, giảng giải, thiếu định hướng cho sinh viên tìm tòi kiến thức mới Vì vậy không khích lệ được tính sáng tạo và lòng say mê học tập môn vật lý của sinh viên, sinh viên còn thụ động tiếp thu kiến thức Để góp phần giúp sinh viên nắm vững kiến thức và say mê học tập, người thầy cần phải đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức các tình huống của vấn

đề

Xu hướng hiện đại của lý luận dạy học là chú trọng nhiều đến hoạt động và vai trò của người học, đặc biệt là vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề khi dạy học để sinh viên có sự làm việc tự lực, tích cực Việc làm này đã được quan tâm và đổi mới rất nhiều ở các trường phổ thông, đã có một số luận văn, luận

án tiến sĩ, một số bài báo viết về vấn đề này Tuy nhiên việc đổi mới này còn rất mới lạ hoặc rất ít ở các trường Cao đẳng chuyên nghiệp

Vì vậy, trên cơ sở thực tiễn dạy học của bản thân, chúng tôi nghiên cứu đề

tài “Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn

sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương động lực học hệ chất điểm - Động lực học vật rắn (Vật lý đại cương) góp phần nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm”

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế được tiến trình dạy học cụ thể một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm - Động lực học vật rắn” theo hướng tiếp cận dạy học tạo tình huống

có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề

3 Đối tượng nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của việc dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề

Trang 7

- Cấu trúc chương trình, các nội dung kiến thức thuộc chương “Động lực học

hệ chất điểm - Động lực học vật rắn”

- Hoạt động dạy - học của giáo viên và sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm và trường Cao đẳng Nghề Việt Trì

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu phương pháp dạy học giải quyết vấn đề khi dạy chương

“Động lực học hệ chất điểm - Động lực học vật rắn” nhằm nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu vấn đề năng lực sáng tạo và các biện pháp năng lực sáng tạo của sinh viên

5.2 Nghiên cứu lý luận dạy học nói chung và ở Cao đẳng nói riêng

5.3 Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Động lực học hệ chất điểm -

Động lực học vật rắn” ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

5.4 Tìm hiểu thực tế dạy học chương “Động lực học hệ chất điểm - Động lực học vật rắn” ở trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm và trường Cao đẳng Kỹ thuật Nghề Việt Trì nhằm tìm ra những hạn chế, những khó khăn mà giáo viên và sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm gặp phải trong quá trình dạy - học

5.5 Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức vật lý đại cương bằng cách vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề cho sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm

5.6 Thực nghiệm sư phạm phương án dạy học đã soạn thảo nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu lý luận làm sáng tỏ những vấn đề mà đề tài sẽ vận dụng

- Nghiên cứu luật giáo dục, văn kiện của Đảng, tạp chí giáo dục, các tài liệu

về lý luận dạy học, phương pháp dạy học vật lý

- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK vật lý đại cương (chương động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn)

Trang 8

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trao đổi với giáo viên, sinh viên, dự giờ, tham khảo giáo án, phiếu điều tra

để thu thập thông tin về đối tượng

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành giảng dạy một số bài thuộc chương “Động lực học hệ chất điểm -

Động lực học vật rắn” So sánh với các lớp đối chứng và trao đổi ý kiến với giáo viên giảng dạy và rút kinh nghiệm

6.4 Phương pháp thốngkê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để sử lý kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai lớp thực nghiệm và đối chứng

7 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng tốt phương pháp đặt và giải quyết vấn đề vào dạy học vật lý một cách phù hợp thì có thể phát huy được năng lực sáng tạo và góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên qua dạy học chương “Động lực học hệ chất điểm -

- Chương 2: Thiết kế phương án dạy học một số bài thuộc chương “Động lực học hệ chất điểm - Động lực học vật rắn” (Vật lý đại cương) theo phương án dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

Nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên theo hướng vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý Hoạt động dạy học là một hoạt động đặc trưng của loài người, nhằm truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng thành vốn liếng, kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực cá nhân người học

Theo quan niệm hiện đại “Dạy học bằng hoạt động, thông qua hoạt động học của

sinh viên để sinh viên tự lực, tích cực chiếm lĩnh kiến thức.” Muốn vậy trong dạy

học, giáo viên phải tạo được ở sinh viên động cơ, hứng thú khi đi tìm cái mới, kích thích sinh viên hăng hái, tự giác hoạt động tức là phát huy được tính tích cực, tự lực của sinh viên trong học tập

Sinh viên ở nhà trường không chỉ đơn thuần nhằm một mục đích duy nhất là giúp sinh viên có được một kiến thức cụ thể nào đó Điều quan trọng hơn là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó rèn luyện cho học sinh tiềm lực để khi ra trường họ có thể tiếp tục tự học tập, có khả năng nghiên cứu tìm tòi giải quyết vấn

đề phải đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn không ngừng phát triển Cũng chỉ trong điều kiện dạy học như vậy mới đảm bảo những kiến thức sinh viên đã học được là những kiến thức thực sự có chất lượng sâu sắc, vững chắc

và vận dụng được

1.1 Quan niệm hiện đại về dạy học

1.1.1 Nhiệm vụ của quá trình dạy học

Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức tâm lý tích cực có liên quan

đến nhu cầu hứng thú của sinh viên Dạy học không những chỉ chú ý phát triển

động cơ học tập của sinh viên ngay trong quá trình học tập mà còn phải đi trước sự phát triển Nhiệm vụ của quá trình dạy học không chỉ giới hạn ở sự hình thành các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà phải phát triển được trí tuệ, hình thái và phát triển

được nhân cách của sinh viên Sự phát triển trí tuệ vừa là điều kiện đảm bảo cho sinh viên nắm vững kiến thức, vừa đảm bảo cho sinh viên có khả năng tiếp thu,

Trang 10

nghiên cứu, tìm tòi, giải quyết những nhiệm vụ học tập, đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của hoạt động thực tiễn sau này

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, sự học tập của sinh viên sẽ được tạo thuận lợi và có hiệu quả hơn nhờ sự trao đổi và sự tranh luận của bạn qua vùng phát triển gần nhất Bởi vậy, học tập của sinh viên cần được tổ chức theo các hình thức làm việc khác nhau Cá nhân, theo nhóm và giữa các nhóm

Với sinh viên trường Cao đẳng nghề trong quá trình học tập, họ phải hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu là tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán ở trình độ cao những hiểu biết và những kỹ năng cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai, do đó những tri thức mà họ lĩnh hội được không phải những tri thức phổ thông cơ bản mà

là hệ thống các tri thức cơ bản, cơ sở của chuyên nghành và hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với một nghành khoa học, văn hóa nhất định

Bên cạnh nhiệm vụ nhận thức cái mới với bản thân, sinh viên cũng bắt đầu thực sự tham gia tìm kiếm cái mới đối với nhân loại một cách vừa sức Vì thế hoạt

động nghiên cứu khoa học đi vào quá trình học tập của sinh viên và tồn tại như một phận hữu cơ của quá trình đó

Để có thể hoàn thành hai nhiệm vụ trên sinh viên cần phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập của bản thân dưới tác động chủ đạo của thầy Không giống như ở phổ thông, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính cụ thể, trực quan thể hiện ở

tổ chức, tác dụng chủ đạo của thầy mang tính định hướng, khái quát cao để giúp sinh viên hoàn thành được nhiệm vụ nhận thức có tính nghiên cứu bản thân

Do đó, con đường nhận thức của sinh viên về mặt cơ bản là thuân lợi, tuy có những lúc quanh co, trắc trở do hoạt động kiếm tìm chân lý mới gây ra

Như vậy trong quá trình dạy học ở các trường Cao đẳng chuyên nghiệp đòi hỏi giáo viên phải có tính tổ chức, điều khiển hoạt động của sinh viên sao cho vừa

đảm bảo yêu cầu chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách sáng tạo, có phê phán theo mục tiêu đào tạo đã định, vừa phải tạo điều kiện cho sinh viên tham gia vào hoạt

động nghiên cứu một cách vừa sức thông qua giải quyết các nhiệm vụ của bài học 1.1.2 Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tương tác dạy học 1.1.2.1 Bản chất của sự học

Trang 11

Không thể quan niệm sự học tập của sinh viên chỉ là sự in vào đầu óc của họ những kiến thức xem như những cái có sẵn đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ và tồn tại độc lập với sinh viên

Tâm lý học và lý luận dạy học hiện đại khẳng định: Con đường có hiệu quả nhất để làm cho sinh viên nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo

là phải đưa sinh viên vào được chủ thể hoạt động nhận thức: “Nắm vững kiến thức,

thực sự lĩnh hội chúng, cái đó sinh viên phải tự làm lấy bằng trí tuệ của bản thân”

Theo quan điểm tâm lý tư duy, sự học là sự phát triển về chất của cấu trúc hành động Cùng một sự biểu hiện hành vi bề ngoài giống nhau nhưng chất lượng, hiệu quả của sự học vẫn có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phát triển của cấu trúc hành động của chủ thể ở đây, hành động được xem như biểu hiện ra bề mặt của kết quả hành động, có cách thức để đạt tới kết quả đó đựơc xem như cấu trúc bên trong của hành động

Theo quan niệm hiện đại, sự học phải là một quá trình hình thành và phát triển có dạng thức và hành động xác định của người học, đó là sự thích ứng của chủ thể với tình huống học tập thích đáng thông qua sự đồng hoá và điều tiết, nhờ đó người học phát triển năng lực, thể chất, tinh thần và nhân cách

Như vậy, sự học nói chung là sự thích ứng của người học với những tình huống thích đáng nảy sinh và phát triển ở người học những dạng thức hoạt động xác định, phát triển ở người học năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách cá nhân Nói riêng, sự học có chất lượng một tri thức khoa học mới nào đó phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây nên tri thức mới với tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức thực tiễn và nhân cách của người học Nhưng sinh viên chưa đủ điều kiện để có thể tự lực giải quyết vấn đề trong các tình huống và thông qua đó tìm được quy tắc, quy luật lô gích mà chỉ đúc rút được kinh nghiệm thông qua hành động học tập hàng ngày dưới sự giúp đỡ của giáo viên

1.1.2.2 Bản chất của sự dạy

Theo AM.Machinski thì sự dạy học phải làm cho người học phát triển được trí tuệ, động cơ học tập và hứng thú nhận thức Do vậy, sự dạy là sự tổ chức, hình

Trang 12

thành và phát triển nhân cách Dạy học phải luôn tạo ra sự “mất cân bằng” về mặt

tâm lý, tạo ra xung đột xã hội, nhận thức trong bản thân sinh viên, nhằm thiết lập sự

“cân bằng” mới trong quá trình học tập

Theo GS.TS Phạm Hữu Tòng: Nếu học là hành động xây dựng kiến thức cho bản thân mình vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động chiếm lĩnh kiến thức và hành động vận dụng kiến thức Do đó, trong dạy học, giáo viên phải tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của sinh viên để qua đó sinh viên chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình Về mặt nhận thức luận, dạy có vai trò điều khiển, tổ chức nhận thức tri thức khoa học cụ thể của sinh viên theo một tiến trình nhận thức khoa học: Đề suất vấn đề, suy đoán giải pháp, khảo sát lý thuyết và thực nghiệm, kiểm tra vận dụng kết quả

1.1.2.3 Hệ tương tác dạy học

Trong hệ tương tác dạy học, mỗi hành động của người học được diễn ra theo

các pha: “Định hướng - chấp hành - kiểm tra”, trong đó cơ sở định hướng có vai

trò quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của hành động Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho việc hình thành cơ sở khái quát hành động của sinh viên Đó là cơ sở định hướng bao gồm những nội dung cơ bản nhất cần thiết cho sự thực hiện thành công hành động của chủ thể Như vậy, muốn đạt được chất lượng hiệu quả cao trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học bao gồm người dạy (Giáo viên), người học (sinh viên) và tư liệu hoạt động dạy hoc (môi trường) thì giáo viên cần tổ chức, kiểm tra, định hướng hành động của sinh viên theo một chiến lược hợp lý sao cho sinh viên tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho mình và do

đó đồng thời năng lực trí tuệ và nhân cách toàn diện của họ từng bước phát triển

Có thể mô tả sự tương tác giữa dạy và hoc trong hệ dạy học bằng sơ đồ mô hình:

Trang 13

Hình 1.1 Hệ tương tác dạy học

Hành động của giáo viên với tư liệu hoạt động dạy học là sự tổ chức tư liệu

và qua đó cung cấp tư liệu và tạo tình huống cho hoạt động học của sinh viên

Tác động trực tiếp của giáo viên tới sinh viên là sự định hướng của giáo viên

đối với hành động của sinh viên với tư liệu, là sự định hướng của giáo viên tới sự tương tác trao đổi giữa sinh viên với nhau và qua đó đồng thời còn định hướng cả sự cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía sinh viên cho giáo viên Đó là những thông tin cần thiết cho sự tổ chức và định hướng của giáo viên đối với hành động của sinh viên

Hành động của sinh viên với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của sinh viên với tình huống học tập, đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân và sự tương tác đó của sinh viên với tư liệu đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên với sinh viên Tương tác trực tiếp giữa các sinh viên với nhau và giữa sinh viên với giáo viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân sinh viên tranh thủ sự hỗ trợ xã hội

từ phía giáo viên và tập thể sinh viên trong quá trình chiếm lĩnh, xây dựng tri thức 1.1.2.4 Vai trò của các trường chuyên nghiệp trong đào tạo

Tư liệu hoạt động dạy học

- - - Môi trường

Định hướng

Liên hệ ngược

Thích ứng

Cung cấp tư

liệu tạo tình huống

Liên hệ ngược

Tổ chức

Trang 14

Các trường chuyên nghiệp có một vị trí quan trọng trong xã hội Đó là nơi

đào tạo những người lao động biết làm chủ bản thân, thông minh, năng động và sáng tạo Đó là những người có bản lĩnh, có phẩm chất, biết kế thừa những giá trị tinh hoa của dân tộc và nhân loại, biết thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau

Đồng thời đó là những trung tâm văn hoá khoa học kỹ thuật

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy những phát minh của khoa học và

kỹ thuật đã làm thay đổi bộ mặt văn minh của thế giới Khoảng thời gian của sự tiến

bộ xã hội ngày càng được rút ngắn, vai trò trí tuệ của con người ngày càng được đề cao, tương lai của nhân loại, của thế giới hoàn toàn bị tri phối bởi sự biến đổi quyền lực trí tuệ

Nhờ có giáo dục, đặc biệt là giáo dục ở các trường chuyên nghiệp đóng vai trò quyết định cho sự tiến bộ xã hội, không có giáo dục thì không có trí tuệ, cũng không có khoa học và công nghệ Trong giai đoạn hiện nay giáo dục chuyên nghiệp càng có vai trò đặc biệt hơn với chức năng chuyển bị hệ thống nhân lực, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển kinh tế xã hội của khoa học và công nghệ, phải đón đầu, đi trước sự phát triển Do đó các trường chuyên nghiệp phải không ngừng đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo và đặc biệt là phương pháp dạy học nhằm hoàn thiện nhiệm vụ của nhà trường

1.1.2.5 Bản chất và đặc điểm của quá trình dạy học ở các trường chuyên nghiệp

Dạy học là khái niệm chỉ chung cho hoạt động của người dạy và người học, các hoạt động này tồn tại và phát triển trong quá trình thống nhất

Dạy học là một trong những con đường thuận lợi nhất giúp người học có thể nắm vững khối lượng kiến thức ở mức độ cao và giúp người học phát triển năng lực tư duy sáng tạo phát triển trí tuệ một cách hiệu quả nhất

Thông qua dạy học, người học nhanh chóng nắm được hệ thống các chân lý khoa học mà trải qua quá trình hàng nghàn năm loài người mới tổng kết được Dạy học là con đường chủ yếu để giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất đạo

đức, góp phần hoàn thành và hoàn thiện nhân cách của người học Bản chất của quá trình dạy học ở các trường chuyên nghiệp là quá trình nhận thức đặc biệt, có tính chất tự nghiên cứu của sinh viên, dưới sự tổ chức, điều chỉnh của giáo viên nhằm

Trang 15

hoàn thành nhiệm vụ dạy - học Đó là điều căn bản khác với việc dạy học ở phổ thông Nếu ở phổ thông là giáo dục phổ cập chuẩn bị cho người lao động tương lai

có một kiến thức chung nhất, cơ bản và cần thiết nhất cho người lao động, thì ở các trường chuyên nghiệp là đào tạo người lao động, các chuyên gia có kiến thức và kỹ năng, có nhân cách cho các lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước

Tuy nhiên ở học sinh phổ thông con đường nhận thức tuần tự hơn, yêu cầu họ phải nắm được những tri thức mà loài người đã tổng kết, khái quát hoá mà họ không

có nhiệm vụ tìm ra cái mới trong khoa học

Còn đối với sinh viên các trường chuyên nghiệp, kiến thức phải lĩnh hội là hệ thống kiến thức cơ bản, cơ sở và chuyên nghành, cùng các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp đòi hỏi họ phải tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo Hoạt động nhận thức của họ có tính nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề đã đặt ra Tác động chủ

đạo của giáo viên là giúp sinh viên hoàn thành nhận thức có tính nghiên cứu trong

đó gồm có cả hoạt động nhận thức của sinh viên cao hơn nhận thức của học sinh phổ thông, nó tiếp cận với nhận thức của các nhà khoa học

Việc so sánh trên chứng minh rõ bản chất của quá trình dạy - học ở các trường chuyên nghiệp Do đó bản chất việc dạy học ở các trường chuyên nghiệp là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức và điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở Cao đẳng chuyên nghiệp

1.1.2.6 Hoạt động học và tâm lý của sinh viên

Hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có hiệu quả [1]

Hoạt động học theo đúng nghĩa của nó được xảy ra khi những hành động của sinh viên được điều khiển bởi mục đích tự giác của người học đó là lĩnh hội tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo nhất định

ở trường chuyên nghiệp nhất là ở các trường Cao đẳng công nghiệp sinh viên phải lấy việc tự học, tự nghiên cứu làm chủ đạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân và hoàn thiện mình về mọi mặt

Trang 16

Vì ở lứa tuổi sinh viên, người học đã phát triển, trưởng thành về mọi mặt tâm

lý, sinh lý, hệ thần kinh cấp cao đã trưởng thành, não bộ đã phát triển Khi điều tra người ta thấy rằng phần lớn lượng kiến thức được tiếp thu ở giai đoạn này, nếu giai

đoạn này không được đào tạo thì sẽ bị hụt hẫng rất lớn về kiến thức

ở giai đoạn này nhu cầu về hiểu biết rất cao, họ khát khao học hỏi cái mới, tính nhạy bén cao mạnh mẽ có khả năng giải thích các hiện tượng cảm tính và tư duy bằng khái niệm chắc chắn Họ đã có ý thức trong mọi lĩnh vực, trong học tập, trong sinh hoạt và trong quan hệ xã hội, có khả năng tự phân tích tự đánh giá, tự kiểm tra điều chỉnh hành động của bản thân, từ đó xác định vị trí của mình trong cuộc sống

Lứa tuổi sinh viên có sự biến đổi về môi trường hoạt động xã hội, đối tượng giao tiếp phong phú Đặc biệt môi trường học tập, sau khi được trang bị kiến thức phổ thông đa dạng và cơ bản, được chuyển sang môi trường mới nên họ có biến đổi lớn về định hướng nghề nghiệp, họ biết cân nhắc giữa lợi ích cá nhân và tập thể Quan hệ xã hội được dựa trên cơ sở tình cảm và lợi ích kinh tế Khi bước chân vào trường chuyên nghiệp, họ bước dần vào con đường tự lập, tự khẳng định mình Với sức khoẻ của tuổi trẻ, với những ước mơ cháy bỏng, khát khao kiến thức nếu được xã hội, nhà trường và các giáo viên có tâm huyết hướng dẫn dìu dắt, chắc chắn họ

đạt được kết quả cao trong học tập và sự nghiệp sau này

Vai trò của giáo dục là phải điều chỉnh họ, giáo dục họ có ý thức phấn đấu, truyền cho họ lòng tin và phương pháp học tập mới Vì vậy trong quá trình dạy học

ở trường chuyên nghiệp phải biết lựa chọn những đặc điểm, phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, ngành nghề, lứa tuổi để phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tích cực trong học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo 1.2 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của học sinh, sinh viên

1.2.1 Tính tích cực của học sinh, sinh viên trong học tập

1.2.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực học tập

Theo GS TSKH Thái Duy Tuyên, để giúp giáo viên phát hiện được học sinh, sinh viên có tích cực hay không, cần dựa vào một số dấu hiệu sau đây

- Các em có chú ý học tập hay không?

Trang 17

- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập không? ( thể hiện ở chỗ giơ tay, ghi chép )

- Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?

1.2.1.2 Mức độ tích cực của sinh viên

Về mức độ tích cực của học sinh, sinh viên có thể dựa vào một số dấu hiệu sau:

- Có tự giác học tập không hay bị tác động bởi yếu tố bên ngoài?

- Thực hiện nhiệm vụ của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?

- Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?

- Tích cực ngày càng tăng hay giảm dần?

- Có kiên trì, vượt khó hay không?

1.2.1.3 Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức

Tính tích cực nhận thức của học sinh, sinh viên tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là hậu quả của nhiều nguyên nhân: có những nguyên nhân phát sinh lúc học tập, có những nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí

từ lịch sử lâu dài của nhân cách

Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào các nhân tố sau đây:

Trang 18

- Sức khoẻ

- Môi trường

Những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay, nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động

Như vậy, việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trưòng và xã hội

J.JRuxo cũng cho rằng người giáo viên tồi là người giáo viên cung cấp cho hoc sinh, sinh viên chân lý, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lý K.D.Usinxkin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều khiển, dẫn dắt sinh viên của thầy giáo

Trong thế kỷ 20, các nhà giáo đều tìm kiếm con đường tích cực hoá hoạt

động dạy học Chúng ta thường kể đến tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng như B.P.Êxipôp, M.A.Danilôp, M.N.Xeatkin, I.F.Kharlamôp (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner (Mỹ) ở Việt Nam, các nhà lí luận dạy học cũng đã viết nhiều về tính tích cực nhận thức, tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục nước ta

Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của sinh viên trong giờ lên lớp được phản ánh tóm tắt như sau:

- Nội dung dạy học phải mới, nhưng cái mới ở đây không phải quá xa lạ với sinh viên, cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn nhu cầu nhận thức của các

em

Trang 19

- Phải dùng các phương pháp dạy học đa dạng: Nêu vấn đề và giải quyết vấn

đề, đàm thoại, thuyết trình làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau

- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn nhau Những vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra một cách

được những thuộc tính , hiện tượng, quan hệ mới

Tư duy có các đặc điểm sau:

- Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính

- Tư duy có tính trừu tượng và khái quát

- Tư duy có tính gián tiếp

- Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ

- Tư duy chỉ bắt đầu khi con người gặp “tình huống có vấn đề”

Trang 20

- Tư duy lôgic

- Tư duy Vật lý

1.2.2.3 Các biện pháp tư duy của học sinh, sinh viên

a Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh, sinh viên

Tư duy là quá trình tâm lý diễn ra trong đầu học sinh, sinh viên Tư duy chỉ thực sự có hiệu quả khi sinh viên tự giác mang hết sức mình để thực hiện Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu sinh viên xuất hiện một câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình độ kiến thức hiện có không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần phải xây dựng kiến thức mới Lúc đó, sinh viên vừa ở trạng thái tâm lí hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khát khao vượt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được một trình độ cao hơn trong con đường nhận thức

Ta nói rằng sinh viên được đặt vào “tình huống có vấn đề”

Có thể tạo ra nhu cầu, hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài, chẳng hạn: khen thưởng, sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn một tương lai tốt đẹp Những sự kích thích này không được thường xuyên, bền vững và phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh của mỗi sinh viên

Nhu cầu, hứng thú có thể nảy sinh ngay trong quá trình học tập, nghiên cứu một môn học, một bài học, nghĩa là từ nội bộ môn học, từ mâu thuẫn nội tại của quá trình nhận thức

Những tình huống điển hình trong dạy học Vật lý là:

- Tình huống phát triển: Sinh viên đứng trước một vấn đề chỉ mới được giải

quyết một phần, một bộ phận, trong một phạm vi hẹp, cần phải được tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang những phạm vi mới, lĩnh vực mới

- Tình huống lựa chọn: Sinh viên đứng trước một vấn đề có mang một số dấu

hiệu quen thuộc có liên quan đến những kiến thức hay nhiều phương pháp đã biết, nhưng chưa biết chắc chắn có thể dùng kiến thức nào hay phương pháp nào sẽ mang lại kết quả chắc chắn Sinh viên cần phải lựa chọn, thậm chí còn phải làm thử mới biết được cách nào đem lại kết quả như mong muốn

Trang 21

- Tình huống bế tắc: Sinh viên đứng trước một hiện tượng vẫn thường thấy

nhưng không hiểu vì sao, vẫn coi như một điều bí mật của tự nhiên Bây giờ, sinh viên được giao nhiệm vụ phải tìm hiểu nguyên nhân, lý giải rõ ràng nhưng chưa biết dựa vào đâu

- Tình huống ngạc nhiên, bất ngờ: Sinh viên đứng trước một hiện tượng xảy

ra theo một chiều hướng trái với suy nghĩ thông thường, do đó kích thích sự tò mò, lôi cuốn sự chú ý của họ tìm cách lý giải, phải bổ sung hoàn chỉnh hoặc phải thay

đổi quan niệm cũ sai lầm của mình

- Tình huống lạ: Sinh viên đứng trước một hiện tượng lạ có những nét đặc

biệt lôi cuấn sự chú ý mà sinh viên chưa thấy bao giờ

b Xây dựng một lôgíc nội dung phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên

Vật lý học đưa vào ở các trường chuyên nghiệp không phải là Vật lý được trình bày dưới dạng hiện đại nhất của khoa học, bởi nếu như vậy thì nhiều khi, sinh viên không thể hiểu được Hơn nữa, ta lại yêu cầu sinh viên phải tự lực hoạt động

để xây dựng, để chiếm lĩnh kiến thức Bởi vậy, giáo viên phải tìm một con đường thích hợp với trình độ sinh viên để họ có thể làm được việc ấy Mặc dù nhiều khi Vật lý ở các trường chuyên nghiệp đơn giản, dễ hiểu hơn Vật lý trong khoa học thực sự nhưng không được trái với tinh thần của khoa học hiện đại

Sau khi chọn một yêu cầu tích hợp với một nội dung khoa học, còn cần phải chọn lựa một con đường hình thành thích hợp Theo quan điểm hoạt động, dạy học

là liên tiếp tổ chức cho sinh viên tự lực hoạt động để giải quyết vấn đề, qua đó mà chiếm lĩnh kiến thức Bởi vậy, giáo viên cần phải phân chia một vấn đề lớn thành một chuỗi những vấn đề nhỏ hơn mà sinh viên có thể tự lực giải quyết được với sự hướng dẫn cần thiết của giáo viên Trong chuỗi các vấn đề nhỏ ấy, có những vấn đề sinh viên có thể vận dụng kiến thức, phương pháp đã biết để giải quyết và cũng có cả những vấn đề phải đòi hỏi kiến thức mới, phương pháp mới Công việc này đòi hỏi người giáo viên một sáng tạo chứ không phải chỉ nhắc đi, nhắc lại như trong lối dạy học giảng giải minh họa, truyền thụ một chiều

c Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng thực hiện các thao tác tư duy, những hành động nhận thức phổ biến trong học tập Vât lý

Trang 22

Trong quá trình nhận thức Vật lý, sinh viên phải luôn thực hiện các thao tác tay chân, các thao tác tư duy, các hành động nhận thức Để cho học sinh có thể tự lực hoạt động nhận thức có kết quả và hoạt động nhận thức có kết quả và hoạt động với tốc độ ngày càng nhanh thì giáo viên phải luôn luôn có kế hoạch rèn luyện cho sinh viên Chính trong quá trình tái tạo các khái niệm, phát hiện các định luật Vật

lý, sinh viên phải thực hiện các thao tác, hành động nhận thức phổ biến đó Những thao tác tư duy lại diễn ra trong đầu sinh viên, cho nên giáo viên không thể quan sát

được hành động trí tuệ của giáo viên mà bắt chước Bởi vậy, giáo viên có thể sử dụng những cơ sở định hướng sau đây để giúp sinh viên có thể tự lực thực hiện những thao tác tư duy đó

- Giáo viên tổ chức quá trình học tập sao cho ở từng giai đoạn, xuất hiện những tình huống bắt buộc học sinh, sinh viên phải thực hiện các thao tác tư duy

và hành động nhận thức mới có thể giải giải quyết được vấn đề và hoàn thành

ít hiệu quả Chính trong quá trình hướng dẫn học sinh, sinh viên tự lực hoạt động để tái tạo kiến thức Vật lý, giáo viên làm cho họ hiểu nội dung của các phương pháp Vật lý và sử dụng các phương pháp nhận thức cụ thể, giáo viên có thể giúp sinh

Trang 23

viên khái quát hoá thành một trình tự các giai đoạn của mỗi phương pháp, cùng làm cơ sở định hướng tổng quát cho hoạt động nhận thức Vật lý của học sinh, sinh viên Những phương pháp nhận thức chủ yếu hay dùng trong hoạt động nhận thức

ở phổ thông là: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình, phương pháp tương tự

e Rèn luyện ngôn ngữ Vật lý cho học sinh, sinh viên

Như ta đã biết, ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của một tư duy Mỗi khái niệm Vật lý được biểu đạt bằng một từ, mỗi định nghĩa, định luật Vật lý được phát biểu bằng một mệnh đề, mỗi suy luận bao gồm nhiều phán đoán liên tiếp Tuy kiến thức Vật lý rất đa dạng nhưng những cách phát biểu, các định nghĩa, quy tắc, định luật Vật lý cũng có những hình thức chung nhất định, giáo viên có thể chú ý rèn luyện cho sinh viên quen dần

1.2.3 Phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên

1.2.3.1 Khái niệm năng lực

Trong khoa học tâm lý người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân: Nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt một loạt hoạt

động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả tốt

Năng lực gắn liền với kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Song kĩ năng, kỹ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động hẹp chuyên biệt, đến mức thành thạo, tự động hoá, máy móc Còn năng lực chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực rộng hơn

1.2.3.2 Sự hình thành và phát triển năng lực

Tâm lý học hiện đại cho rằng: con người mới sinh ra chưa có năng lực, chưa

có nhân cách Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, con người đã hình thành và phát triển nhân cách của mình

Sự hình thành và phát triển năng lực của con người chịu tác động của nhiều yếu tố:

- Yếu tố sinh học

- Yếu tố hoạt động của chủ thể

- Yếu tố môi trường xã hội

Trang 24

- Vai trò của giáo dục, day học

1.2.3.3 Khái niệm năng lực sáng tạo

“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”

Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất

và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới

Như vậy sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận lôgic hay bắt chước làm theo

Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo ra điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo độc lập, tách rời với học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó

Đặc trưng tâm lý quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt của khách quan và chủ quan: Chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trong

đầu đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu cái quá trình sáng tạo đó xem như một quá trình diễn ra có quy luật, tác

động qua lại giữa ba yếu tố: Tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào

ý thức con người

Hoạt động sáng tạo của học sinh, sinh viên khác với hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học Đối với nhà khoa hoc thì chỉ những phát minh mà nhân loại chưa hề biết đến mới được coi là sáng tạo mới Đối với học sinh, sinh viên thì sáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình, chứ giáo viên và nhiều người khác có thể đã biết rồi Bởi vậy hoạt động sáng tạo đối với học sinh, sinh viên mang ý nghĩa

là một hoạt động tập rượt sáng tạo, sáng tạo lại Điều quan trọng cần đạt được không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ Kiến thức sinh viên sáng tạo ra sau này sẽ quên đi vì không được dùng đến, còn năng lực sáng tạo của họ thì sẽ luôn luôn được sử dụng trong hoạt động thực tiễn sau này

1.3 Một số vấn đề về phương pháp dạy học

1.3.1 Khái niệm chung

Trang 25

Phương pháp dạy học được hiểu theo nghĩa rộng là chung cho các môn học trong nhà trường, chúng là đối tượng nghiên cứu của lý luận dạy học Theo lý luận day học quá trình dạy học được xem như là một quá trình biện chứng hai mặt giữa hoạt động dạy và hoạt động học Vì vậy bất cứ một phương pháp dạy học nào cũng

là một hệ thống các hoạt động có định hướng của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, sinh viên đảm bảo cho họ nắm vững nội dung tri thức, nói cách khác, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động

có tổ chức và tác động lẫn nhau của người giáo viên và sinh viên nhằm đạt được mục đích dạy học đã đặt ra [7]

Theo giáo sư Meyer “Phương pháp dạy học là hình thức và cách thức, thông

qua đó giáo viên và sinh viên lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể.” [14]

Như vậy, phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học, nó được xem xét trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với mục đích dạy học

và nội dung dạy học Trong tài liệu “Một số vấn đề về lí luận dạy học hiện đại” PGS Phạm Hồng Quang [14] đã chỉ ra mối qua hệ ấy bằng sơ đồ sau:

Hiện nay đã hình thành nhiều phương pháp dạy học Vật lý, có tính đến các

đặc điểm nội dung và phương pháp đặc trưng của khoa học Vật lý:

Mục đích dạy học

Trang 26

1 Nguồn kiến thức

2 Đặc trưng hoạt động của giáo viên

3 Đặc trưng hoạt động của sinh viên

Các dấu hiệu này xuất phát từ việc dạy học xem như là hai mặt của một quá trình thống nhất, trong đó nguồn kiến thức gắn liền với hoạt động của giáo viên và sinh viên Theo cách này các phương pháp dạy học vật lý có thể chia ra làm ba nhóm:

Khi sử dụng phương pháp này, người giáo viên có nhiều khả năng tác động

đến tư tưởng, tình cảm sinh viên bằng những lời nói truyền cảm, sinh động và giàu hình ảnh Tuy vậy, sinh viên cũng gặp phải một số khó khăn khi nghe giảng như tính tích cực của sự chú ý, tính rõ rệt của biểu tượng, tính vững chắc của ghi nhớ

Để khắc phục giáo viên cần phải tuân theo những yêu cầu của phương pháp dùng lời và kết hợp với các phương pháp khác:

- Lời nói của giáo viên có khả năng quyết định nhận thức của sinh viên Vì vậy, lời nói phải rành mạch, gọn gàng, chính xác và đầy đủ Người giáo viên muốn làm được việc đó phải nghiên cứu các thuật ngữ, nội dung các định nghĩa, định

Trang 27

luật và cấu trúc của nó Trong lúc chuẩn bị nội dung bài giảng, giáo viên phải chuẩn bị cả cách diễn đạt của mình trên lớp

- Trong thực tiễn dạy học Vật lý, nhóm các phương pháp dùng lời và đàm thoại gồm:

+ Kể chuyện là hình thức trình bày tài liệu một cách mạch lạc, không gián

đoạn ( thực tế vẫn xen kẽ đàm thoại, giảng giải ) sinh viên nghe, ghi chép và vẽ hình Để thu hút người nghe, giáo viên thường phải tạo tình huống có vấn đề + Diễn giảng là sự trình bày của giáo viên về các vấn đề, các định luật, các quy tắc các thuyết Vật lý một cách nhất quán, chặt chẽ và lôgic Kết hợp cho sinh viên quan sát các phương tiện trực quan, các thí nghiệm biểu diễn

+ Đàm thoại là hình thức trình bày tài liệu qua việc trao đổi giữa giáo viên với sinh viên trên cơ sở những kiến thức đã có của sinh viên và qua đó sinh viên nắm được kiến thức mới

Ba hình thức kể trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình dạy học Nếu trong một tiết học giáo viên chỉ dùng một hình thức nào đó thì bài giảng trở nên đơn điệu, ảnh hưởng không tốt đến việc tiếp thu của sinh viên

1.3.2.2 Nhóm các phương pháp trực quan:

Các hiện tượng và đối tượng nghiên cứu cần được biểu diễn, giáo viên dùng lời nói để điều khiển hoạt động quan sát và tư duy lôgic của sinh viên, làm chính xác hoá các tri giác của sinh viên, từ đó rút ra được những kết luận, tức là thu nhận

được kiến thức mới, nguồn kiến thức trong các phương pháp này là các đối tượng quan sát

Nhóm các phương pháp trực quan gồm có: Ghi và vẽ hình trên bảng, thí nghiệm Vật lý, sử dụng các phương tiện kỹ thuật…

+ Ghi và vẽ trên bảng kèm theo lời trình bày tài liệu giáo viên sẽ hướng sự tập trung chú ý của sinh viên vào nội dung chính của bài Đây là một phương tiện

hỗ trợ tốt cho giáo viên khi trình bày tài liệu, nó giúp người giáo viên tách ra cái chính của một tài liệu phức tạp, nó thể hiện một cách trực quan các thời điểm trình bày tài liệu Việc ghi và vẽ hình trên bảng một cách hợp lý còn tạo điều kiện cho tư duy lôgic và trí nhớ của sinh viên phát triển Vì vậy, người giáo viên có thể trình

Trang 28

bày tài liệu kết hợp với các phương pháp trực quan khác như biểu mẫu, vi deo, máy chiếu… nhưng vẫn cần phải ghi chép và vẽ hình trên bảng

+ Thí nghiệm Vật lý:

Thí nghiệm Vật lý là sự tái tạo các hiện tượng Vật lý trên lớp nhờ các thiết bị

đặc biệt và trong những điều kiện thuận lợi để nghiên cứu Vì vậy, thí nghiệm Vật

lý trong học tập vừa là nguồn kiến thức vừa là một phương pháp học trực quan + Phương tiện kỹ thuật trong dạy học Vật lý

Ngày nay việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học như vi deo, đèn chiếu, máy tính đã trở thành phổ biến, nó hỗ trợ cho quá trình dạy học thể hiện

ở những khả năng sau đây:

- Giáo viên có thể kiểm tra một cách hệ thống kiến thức sinh viên, cá nhân hoá việc nắm kiến thức của sinh viên và do đó nâng cao hiệu quả dạy học

- Giáo viên không mất nhiều thời gian vào những công việc kỹ thuật có tính

đơn điệu vì thế họ có điều kiện hoạt động sáng tạo

Ngoài ra, các phương tiện kỹ thuật giúp người giáo viên làm các thí nghiệm

ảo mà trong thực tế rất khó thực hiện như hình ảnh về các cơ chế máy phức tạp, những quá trình diễn ra quá nhanh .để sinh viên nhận thức được dễ dàng

1.3.2.3 Nhóm các phương pháp thực hành:

Học sinh, sinh viên phải thực hiện các thí nghiệm thực hành, các thí nghiệm

và quan sát ở ngoài lớp học, giải các bài tập Vật lý

Nhóm các phương pháp này giúp sinh viên không chỉ thu nhận kiến thức mới

mà còn thu nhận được kỹ năng và thói quen thực nghiệm, đo đạc và nghiên cứu thói quen áp dụng kiến thức để giải các bài toán Lời nói của giáo viên chỉ có vai trò chỉ dẫn, giới thiệu mục đích của công việc Hoạt động của giáo viên tập chung vào việc

điều khiển các hoạt động của sinh viên, giúp sinh viên rút ra kết luận Kết quả của quá trình tư duy độc lập, hoạt động thực hành và hoạt động tự người học hoàn thiện nhiệm vụ là nguồn chủ yếu của kiến thức và các kỹ năng

Nhóm các phương pháp thực hành bao gồm: thí nghiệm thực hành, thí nghiệm và quan sát ở ngoài lớp học, giải các bài toán Vật lý

Trang 29

+ Thí nghiệm thực hành là loại thí nghiệm do chính tay sinh viên thực hiện, nội dung của nó là kiểm nghiệm lại các định luật, các quy tắc, đo các đại lượng Vật

lý, nghiên cứu ứng dụng các hiện tượng Vật lý

Thí nghiệm thực hành thường được thực hiện sau khi học xong một chương hoặc một phần tài liệu nên nội dung của nó phong phú, đòi hỏi nhiều thời gian Chính vì thế giáo viên phải có kế hoạch chu đáo, phải hướng dẫn sinh viên một cách chi tiết bằng các bảng hướng dẫn soạn sẵn để sinh viên chuẩn bị cả về lý thuyết, cả về thiết bị thí nghiệm ở thí nghiệm thực hành do sinh viên tự tay sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, lắp ráp vận hành và trực tiếp quan sát nên họ hiểu vấn đề một cách cụ thể hơn, nắm nội dung kiến thức một cách trực giác tích cực hơn Do sinh viên trực tiếp thực hiện các thí nghiệm cho nên họ được rèn luyện các

kỹ năng sử dụng các dụng cụ, đo lường, kỹ năng quan sát, phương pháp làm việc khoa học như vạch kế hoạch nghiên cứu, đánh giá kết quả đo lường Thí nghiệm thực hành còn giúp sinh viên ôn tập, mở rộng kiến thức của các chương, các phần

đã học và biết áp dụng những tri thức đã học vào thực tế kỹ thuật, thực tế sản xuất Thí nghiệm thực hành sẽ tạo khả năng giáo dục sinh viên những phẩm chất cá nhân như tính kiên trì theo đuổi mục đích đã đặt ra, tính thận trọng trong việc thu thập số liệu, xử lý thông tin, tách ra những dấu hiệu bản chất của sự vật - hiện tượng Thí nghiệm và quan sát ở ngoài lớp học: Là loại bài làm của sinh viên ở nhà Sinh viên tự làm thí nghiệm, tự quan sát, công việc này hỗ chợ cho nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên, gây hứng thú cho sinh viên, liên kết lý thuyết với thực hành, củng cố các khái niệm Vật lý Đặc thù của loại thí nghiệm và quan sát ở nhà là sinh viên phải hoạt động độc lập cho nên họ phải có tính tự giác, độc lập, sáng tạo, phải

có khả năng tự lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch thí nghiệm Tuy nhiên, giáo viên nên gợi ý cách tiến hành thí nghiệm khi giao những đề tài cho sinh viên thực hiện ở nhà Để kiểm tra giáo viên nên lồng những vấn đề đó vào kiểm tra viết hoặc miệng + Giải các bài toán Vật lý

Bài toán Vật lý là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lý và để giải chúng cần phải dựa vào những lập luận lôgic, suy luận toán học hay thực nghiệm Vật lý trên cơ sở việc sử dụng các định luật và các phương pháp của Vật lý học,

Trang 30

nhờ đó hình thành các khái niệm Vật lý, phát triển tư duy khoa hoc và thói quen vận dụng kiến thức vào thực tiễn của sinh viên

Về mặt giáo dục, việc giải các bài toán Vật lý sẽ tạo điều kiện hình thành ở sinh viên thế giới quan duy vật và những phẩm chất cá nhân như : yếu tố lao động, ham mê học tập, trí tò mò, sự kiên trì và kỹ năng vận dụng các định luật, quy tắc vào việc giải các bài toán Vật lý Hơn nữa, các bài toán Vật lý còn giúp cho việc thực hiện nguyên tắc giáo dục tổng hợp: Nhiều bài toán đã thể hiện sự liên hệ giữa Vật lý với kỹ thuật, sản xuất và đời sống Cuối cùng giải các bài toán Vật lý không chỉ là phương pháp dạy học mà còn là một phương pháp kiểm tra để giáo viên đánh giá kiến thức mà sinh viên đã học Để thực hiện điều đó giáo viên phải ra các bài tập Vật lý cho sinh viên sau khi học xong một bài, một chương hoặc một chương trình Đó là một phần của đa số các bài Vật lý, là hoạt động không thể thiếu của hoạt động cá nhân sinh viên, hoạt động theo nhóm sinh viên ở lớp và ở nhà Tuy nhiên, không một phương pháp dạy học nào được xem là vạn năng và thích hợp với mọi cách giải quyết nhiệm vụ dạy học Trong dạy học Vật lý cũng không có phương pháp nào hoàn toàn tách biệt với các phương pháp khác Ví dụ: phương pháp thực hành thường kết hợp với việc giải thích, minh hoạ bằng sơ đồ Do đó cần phải dựa vào mục đích của bài học, đặc điểm lứa tuổi sinh viên và các yếu tố khác

để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp

1.3.3 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

Ngày nay dạy học theo phương pháp truyền thống vẫn đang thịnh hành Đặc trưng của phương pháp này là giáo viên tập trung vào tài liệu, vào nội dung giảng dạy mà chưa thực sự chú ý đến đối tượng sinh viên Biểu hiện của phươnng pháp dạy học truyền thống là truyền thụ cho sinh viên các tri thức khoa học theo cách trình bày, giảng giải, đôi khi kèm theo minh họa bằng thí nghiệm hoặc bằng các phương tiện trực quan (kể chuyện, diễn giảng, làm thí nghiệm…)

Nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống là giáo viên chỉ chú ý cung cấp cho sinh viên những tri thức có sẵn, mọi kiến thức đều được giáo viên giảng giải và minh hoạ đầy đủ, moi hành động đều được hướng dẫn tỉ mỉ “ kết quả

là hoạt động nhận thức của sinh viên mang nặng tính chất tái hiện, thiếu tính sáng tạo, sinh viên chỉ thụ động tiếp thu những tri thức có sẵn, cố gắng ghi nhớ chúng và

Trang 31

khi cần vận dụng thì tái hiện trong trường hợp tương tự Vì thế tư duy sáng tạo và khả năng tự lực không được phát triển đầy đủ [7]

Trước tình hình đó, Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII đã ghi “Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” [4]

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII khẳng định “Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Đường lối giáo dục của Đảng đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục ở điều 24-2 “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, sinh viên; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh, sinhviên”

Qua đó cho thấy Đảng và Nhà nước rất chú ý quan tâm đến phương pháp giáo dục - đào tạo, đến cách thức đào tạo con người để các thế hệ tương lai thật sự

là những thế hệ phát triển toàn diện, năng động, tự chủ và sáng tạo Muốn vậy nghành giáo dục - đào tạo phải thật sự chuyển biến trong việc đổi mới phương pháp dạy học, cải cách cả nội dung môn học, cấp học để phục vụ mục tiêu giáo dục Từ

đó xuất hiện các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học bao gồm những vấn đề sau đây:

* Hoàn thiện các phương pháp hiện có (phương pháp dạy học cơ bản)

Ví dụ: Thuyết trình, đàm thoại… phối kết hợp các phương pháp cơ bản và đơn lẻ với nhau thành một hệ thống Nêu vấn đề, ơrixtic, Grap và Algorit dạy học…

* Sáng tạo ra các phương pháp mới đó là những phương pháp phức hợp như: Trò chơi mô phỏng, Grap dạy học, Algorit dạy học… [14]

* Sử dụng kỹ thuật, thiết bị hiện đại như phim ảnh, máy ghi âm…

* Khai thác các phương pháp nhận thức khoa học để xây dựng các phương pháp dạy học mới như: Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm, dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề

Trang 32

Trong số đó dạy học đặt và giải quyết vấn đề có tác dụng phát huy tính tích cực, tự chủ của sinh viên trong hoạt động nhận thức giúp sinh viên chiếm lĩnh được các kiến thức khoa học sâu sắc vững chắc, đồng thời đảm bảo sự phát triển trí tuệ, phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập [15]

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có thể khác phục những nhược điểm của dạy học truyền thống nó huy động sinh viên tham gia vào quá trình học tập một cách tích cực, tự chủ Giáo viên là người không những tổ chức, định hướng hoạt

động nhận thức của sinh viên phát triển mà nó còn phù hợp với đặc điểm của khoa học Vật lý Chính vì vậy, dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một trong những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.4 Dạy học đặt và giải quyết vấn đề

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là con đường quan trọng để phát huy tính tích cực của sinh viên, đặc biệt là trong xu hướng dạy học hiện đại, dạy học đặt và giải quyết vấn đề càng có ý nghĩa trong việc phát huy tư duy độc lập sáng tạo của người học, là một trong những vấn đề chúng ta cần phải làm để đổi mới phương pháp dạy học

Có nhiều tên gọi khác nhau đối với dạy học đặt và giải quyết vấn đề như dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề… nhưng mục tiêu cơ bản

đều nhằm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tất nhiên trong đó cần bao gồm khả năng nhận biết, phát hiện vấn đề Dạy học đặt và giải quyết vấn đề không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một quan điểm dạy học

1.4.1 Cơ sở khoa học

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở khoa học là những kết quả nghiên cứu về triết học, tâm lý học, giáo dục học:

- Cơ sở triết học: Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là nguồn

gốc, động lực của sự phát triển, mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức và những tri thức,

kỹ năng còn hạn chế là động lực thúc đẩy nhận thức ở sinh viên Dạy học đặt và giải quyết vấn đề đã vận dụng một khái niệm về mâu thuẫn làm cơ sở khoa học cho mình

Trang 33

- Cơ sở tâm lý học: Theo các nhà tâm lý học thì “ Con người chỉ bắt đầu tư

duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy” Khi có nhu cầu hiểu biết, có niềm say

mê, hứng thú thì quá trình nhận thức có hiệu quả tăng lên rõ rệt

- Cơ sở giáo dục học: Dạy học đặt và giải quyết vấn đề dựa trên nguyên tắc

tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của người học trong giáo dục bởi vì nó khêu gợi được động cơ học tập của sinh viên Như vậy, sẽ có hiệu quả giáo dục cao hơn khi quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo

1.4.2 Định nghĩa và bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, người ta đã nói đến cách dạy học nêu vấn

đề Vậy dạy học nêu vấn đề là gì? I.F.Kharlamôp vào năm 1978 đã cắt nghĩa như

sau: “Cần hiểu dạy học nêu vấn đề trong dạy học, kích thích của sinh viên bao gồm

việc tạo ra tình huống có vấn đề trong dạy học, kích thích ở sinh viên nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuấn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng kỹ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hoàn thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới”

Như vậy về thực chất dạy học nêu vấn đề là dạy học đặt và giải quyết vấn đề hay nói cách khác dạy học nêu vấn đề cần hiểu nó bao gồm cả đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, như I.F.Kharlamôp đã nói Các công trình của các nhà lý luận dạy học và tâm lý học như: M.N.Xcatkim, T.Vcudiapxep, I.Ia.Lecne… cũng đã đi sâu nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề này

Nội dung của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là đặt ra trước sinh viên một

hệ thống tình huống có vấn đề Những điều kiện đảm bảo việc giải quyết vấn đề đó

Trang 34

và những chỉ dẫn nhằm đưa sinh viên vào con đường tự lực giải quyết các vấn đề

đặt ra Bằng con đường đó, người học không chỉ thu nhận kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới mà họ còn được rèn luyện năng lực tự nhận thức và phát triển được tư duy sáng tạo [7]

1.4.3 Cơ sở triết học, tâm lý học

1.4.3.1 Cơ sở triết học

Theo triết học Marxit, sự xuất hiện mâu thuẫn cơ bản, bên trong của quá trình (Tự nhiên và xã hội, tư duy) và việc giải quyết mâu thuẫn đó sẽ tạo động lực cho sự phát triển… Vì vậy trong dạy học (Nếu xem xét nó như một quá trình xã hội) thì việc chủ động tạo ra các mâu thuẫn cơ bản bên trong và giải quyết nó là một việc có thể làm được ở các mức độ khác nhau… Kết quả cuối cùng là ở người học - người học được phát triển

Trong dạy học, việc tạo ra các mâu thuẫn cơ bản thực chất là xây dựng một

hệ thống các vấn đề dạy học; vấn đề lớn được nêu ra và được chia nhỏ thành các nhiệm vụ và trình độ hiện có của sinh viên luôn có mâu thuẫn biện chứng Nhiệm

vụ của giáo viên là tạo động cơ thúc đẩy và tạo hưng phấn để sinh viên vượt qua các yêu cầu của nhiệm vụ, tức là sinh viên đã hoàn thành nhiệm vụ học tập

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp dạy học phù hợp với quy luật của triết học, quy luật về mâu thuẫn

1.4.3.2 Cơ sở tâm lý học

Đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện hai lý thuyết phát triển của J.Piaget và L.Vưgotski, các nhà giáo dục học coi đây là thành tựu quan trọng nhất của tâm lý học phát triển và đã dùng nó cho việc xây dựng các phương pháp dạy học mới

J.Piaget cho rằng: Người học đóng vai trò chủ động trong việc thích nghi với môi trường xung quanh Sự thích nghi này diễn ra ngay từ khi lọt lòng mẹ và đó là kết quả của việc phát triển tự nhiên sinh học và việc học tập kinh nghiệm xã hội Trong khi lứa trẻ chủ động khám phá thế giới thì cấu trúc của nhân cách cũng thay

đổi và phát triển không ngừng Theo học thuyết của J.Piaget quá trình phát triển ấy ( trong đó có nhận thức của con người) được chia làm bốn giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Từ 0 - 2 tuổi trẻ em bắt chước hoạt động của người khác, nhận biết đồ vật bằng cách cầm nắm chúng

Trang 35

- Giai đoạn 2: Từ 2 - 7 tuổi phát triển khả năng ngôn ngữ; Nhận biết các biểu tượng thể hiện như tranh vẽ, chữ viết, các con số, phân loại đồ vật theo những đặc

điểm giống nhau, bước đầu hiểu được quy luật nguyên nhân - kết quả

- Giai đoạn 3: Từ 7 - 11 tuổi, biết sử dụng phép lôgic để tư duy khái niệm, thuật ngữ, biểu tượng, biết tư duy khoa học trong việc đề xuất và kiểm tra giả thiết

Sự trưởng thành của mỗi giai đoạn là kết quả của các giai đoạn đã đạt được Kết quả của mỗi giai đoạn đạt được không chỉ là kết quả của kinh nghiệm và tuổi tác đem lại mà còn phụ thuộc vào chất lượng những thay đổi trong suy nghĩ của mỗi con người Học thuyết của J.Piaget đã giúp các nhà giáo dục chú ý đến từng giai đoạn phát triển của sinh viên và đề ra các phương pháp dạy học phù hợp lứa tuổi, trang bị kiến thức cho sinh viên ở các mức độ khác nhau

Trong khi học thuyết J.Piaget xem xét quá trình nhận thức là kết quả của sự phát triển tự nhiên sinh học thì L.Vưgotski lại quan niệm sự phát triển: Nhận thức của con người dựa trên nền tảng xã hội và thông qua hoạt động xã hội qua việc sử dụng ngôn nhữ, qua hoạt động giao tiếp và quan hệ với những người khác Theo L.Vưgotski, khu vực tốt nhất cho sự phát triển nhận thức là “Vùng phát triển gần nhất” Vùng này là “khoảng cách giữa mức độ phát triển thực tại xác định bởi khả năng giải quyết vấn đề độc lập và mức độ phát triển tiềm ẩn được xác định thông qua việc giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của ngưòi lớn hoặc của các cá nhân khác trội hơn”

Theo học thuyết của L.Vưgotski thì khi nào người học vượt qua “Vùng phát triển gần nhất” tức là khi đó họ hiểu được vấn đề và có thể hoạt động độc lập, để làm được việc đó giáo viên cần phải hướng dẫn sinh viên suy luận và giả quyết các vấn đề đặt ra do đó việc hướng dẫn sinh viên giải quyết vấn đề đóng vai trò cốt lõi trong sự thành công của phương pháp dạy học này

1.4.4 Tiến trình dạy học đặt và giải quyết vấn đề

1.4.4.1 Tiến trình giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức Vật lý

a, Sự hình thành kiến thức khoa học Vật lý

Theo [16], kiến thức khoa học được xây dựng khi nhà khoa học có động cơ giải đáp cho câu hỏi đó chính là phải tìm tòi một cái mới chứ không chỉ đơn thuần

Trang 36

là sự lặp lại các kiến thức và cách thức hoạt động quen thuộc không thể chỉ dựa vào tư duy tái hiện

Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn nảy sinh nhu cầu tìm hiểu

về các hiện tượng Vật lý bằng các mối tương quan bất biến nào đó giữa các giữ liệu quan sát được (đo được) Khi đó việc tìm lời giải đáp cho câu hỏi về một tính chất hay một sự liên hệ phụ thuộc nào đó trong thực tế mà ta có thể phỏng đoán về sự tồn tại của chúng sẽ được thực hiện theo con đường: Từ việc thiết kế phương án thí nghiệm cho phép thu được những thông tin cần thiết kết hợp với các thao tác suy diễn, quy nạp để xây dựng kết luận

b Các pha của tiến trình khoa học giải quyết vấn đề, xây dựng một kiến thức Vật lý mới.[16]

Từ sự phân tích trên đây có thể mô tả khái quát các pha của tiến trình hoạt

động giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức Vật lý mới nào đó bằng sơ đồ sau:

“Đề xuất vấn đề – bài toán suy đoán giải pháp và thực hiện giải pháp (khảo sát lý thuyết hoặc thực nghiệm) củng cố, vận dụng kết quả”

* Pha thứ nhất (giai đoạn thứ nhất): Đề xuất vấn đề - bài toán

Đề xuất vấn đề là giai đoạn giáo viên đưa sinh viên vào tình huống có vấn đề Mục đích của giai đoạn này là làm xuất hiện trong người học mâu thuẫn nhận thức, hướng dẫn họ xác định nhiệm vụ nhận thức biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quanvà có nhu cầu đòi hỏi cần được giải quyết, kích thích sinh viên hứng thú nhận thức và sẵn sàng giải quyết vấn đề

Khâu đầu tiên và quan trọng của giai đoạn này là tổ chức điều kiện nảy sinh tình huống có vấn đề Tuy nhiên, chỉ nên đặt trước sinh viên những khó khăn vừa sức tạo điều kiện cho các em cố gắng suy nghĩ và tin tưởng rằng mình sẽ giải quyết

được vấn đề đặt ra Tránh trường hợp giáo viên đưa ra tình huống quá khó, nếu tình huống vượt quá xa so với khả năng của các em thì sẽ làm cho họ thờ ơ trước tình huống mà giáo viên đặt ra

* Pha thứ hai: Suy đoán giải pháp, thực hiện giải pháp (giai đoạn giải quyết vấn đề)

Giai đoạn này bao gồm hai khâu cơ bản: Xây dựng giả thuyết và kiểm tra giả thuyết Mục đích là qua hai khâu này giáo viên dẫn dắt sinh viên vào con đường

Trang 37

tự lực tìm tòi tri thức, cho họ quen dần với phương pháp khoa học trong nghiên cứu giải quyết vấn đề

Sở dĩ như vậy là vì sinh viên chỉ có thể rèn luyện được năng lực nhận thức một cách tự lực và sáng tạo khi họ biết cách giải quyết vấn đề, mà việc nghiên cứu vấn đề trong khoa học nhất thiết diễn ra theo con đường xây dựng và chứng minh giả thuyết Theo lôgic học giả thuyết là những giả định có căn cứ khoa học về nguyên nhân hay các mối quan hệ có tính quy luật của hiện tượng dữ kiện nào đó của tự nhiên, xã hội và tư duy [20] Giả thuyết là một luận đề giả sử, đề ra để giải thích một hiện tượng nào đó và đòi hỏi phải được xác minh bằng thí nghiệm hoặc những luận chứng khoa học

Để thực hiện tốt giai đoạn nghiên cứu giải quyết vấn đề cần có các biện pháp sau đây:

- Huy động ở mức cao các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp… Kết hợp linh hoạt giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính

- Dùng các thí nghiệmn để kiểm tra kết quả, gây lòng tin cho sinh viên Trong giai đoạn này sinh viên thường không có khả năng hoàn toàn tự lực trong thời gian ngắn giải quyết chọn vẹn vấn đề như nhà khoa học Vì vậy cần có sự hướng dẫn giúp đỡ của giáo viên để sinh viên có thể giải quyết vấn đề với mức độ tự lực cao nhất

Ban đầu có thể sinh viên còn lúng túng trong phương thức giải quyết vấn đề nhưng qua quá trình rèn luyện họ sẽ quen dần và ngày càng vững vàng trong bước giải quyết vấn đề Giáo viên cần dựa vào lý thuyết về “Vùng phát triển gần nhất” của L.Vưgôtxki để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tập dượt những bước nhảy vọt đó Theo L.Vưgôtxki thì chỗ tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em là vùng phát triển gần nhất [10].Vùng đó là khoảng cách giữa trình độ hiện tại của sinh viên và trình độ cao hơn cần vươn tới Nói một cách hình ảnh đó là khoảng trống giữa nơi

mà người giải quyết vấn đề đang đứng và là nơi mà họ phải đạt đến và có thể vượt qua được với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của giáo viên hoặc người có khả năng hơn

* Pha thứ ba: Củng cố vận dụng kết quả:

Trang 38

Xem xét khả năng chấp nhận được các kết quả tìm được, vận dụng chúng để giải thích, tiên đoán các sự kiện và xem xét sự phù hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm, tiếp tục tìm tòi xây dựng cái cần tìm Có thể mô phỏng các pha của tiến trình nhận thức khoa học đó bằng một sơ đồ có dạng khái quát như sau:

Hình 1.3- a

Trong dạy học Vật lý, nếu mô phỏng được tiến trình nhận thức khoa học như vậy đối với một kiến thức cần dạy thì sẽ tạo ra cơ sở khoa học cho việc suy nghĩ tổ

Điều kiện (tình huống) xuất phát

Vấn đề – bài toán

Giải pháp

Giải pháp kiểm tra ứng dụng

Sự kiện được giải thích/tiên đoán

Sự kiện thu được từ thí nghiệm, quan sát

Kết luận Kết luận

Trang 39

chức định hướng hoạt động đề xuất, giải quyết vấn đề của sinh viên trong quá trình dạy kiến thức đó

c, Các pha của tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu của nhà khoa học có sự đóng góp của cộng đồng các nhà khoa học Kết quả đó được thông báo và qua tranh luận, phản bác, bảo vệ trong cộng đồng các nhà khoa học Nhờ đó kết quả được chỉnh lí, bổ xung, hoàn thiện và

được cộng đồng chấp nhận Khi đó mới có được những tri thức khoa học đầy đủ, giá trị

Theo cách hiểu đó, có thể minh hoạ các pha tiến trình xây dựng và bảo vệ tri thức khoa học bằng sơ đồ hình 1.3- b (Xem sơ đồ trang 38)

Sự hiểu sơ đồ này là cơ sở khoa học của việc xác định các pha của tiến trình dạy học đặt và giải quyết vấn đề

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có tác dụng phát huy hoạt động nhận thức

tự chủ, tích cực của sinh viên, giúp cho họ chiếm lĩnh được các kiến thức khoa học sâu sắc, vững chắc, vận dụng được đồng thời đảm bảo sự phát triển trí tuệ, phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập

1.4.4.2 Tổ chức tiến trình dạy học đặt và giải quyết vấn đề theo các pha thích hợp [16]

Để phát huy đầy đủ vai trò của sinh viên trong việc tự chủ hoạt động xây dựng kiến thức và vai trò của giáo viên trong việc tổ chức tình huống học tập, định hướng hoạt động tìm tòi xây dựng tri thức mới của sinh viên đồng thời cho sinh viên làm quen với quy trình xây dựng, bảo vệ cái mới trong nghiên cứu khoa học thì có thể thực hiện tiến trình dạy học theo pha, phỏng theo tiến trình xây dựng bảo

vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học (sơ đồ hình 1.3-a.) Tiến trình dạy học này bao gồm các pha như sau: (Hình1.3- c)

* Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hoá tri thức, phát biểu vấn đề (tương ứng với (1) và (2) trong sơ đồ 1.3-b)

Giáo viên giao cho sinh viên một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự giác thực hiện nhiệm vụ Quan niệm và giải pháp ban đầu của sinh viên được thử thách,

Trang 40

họ ý thức được những khó khăn (vấn đề xuất hiện) dưới sự hướng dẫn của giáo viên vấn đề được chính thức diễn đạt

* Pha thứ hai: Sinh viên hành động độc lập, tự chủ tìm tòi, giải quyết vấn đề (tương ứng với (3) và (4) trong sơ đồ 1.3- b)

Sinh viên độc lập suy nghĩ, làm việc để vượt qua khó khăn, có sự hướng dẫn của giáo viên khi cần Sinh viên diễn đạt trao đổi với nhóm về cách giải quyết vấn

đề và kết quả thu được, qua đó có thể chỉnh lí, hoàn thiện tiếp Dưới sự hướng dẫn của giáo viên hành động của sinh viên được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học và thông qua các tình huống thứ cấp khi cần

* Pha thứ ba: Tranh luận, thể chế hoá, vận dụng tri thức mới (tương ứng (5)

và (6) trong sơ đồ 1.3-b) Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được Giáo viên chính xác hoá, bổ xung, thể chế hóa tri thức mới Sinh viên chính thức ghi nhận tri thức và vận dụng

Hình1.3 Sơ đồ các pha của tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học

Ngày đăng: 05/11/2016, 22:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995) Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở THPT, Bộ Giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ dạy học với vấn đề tổ chức quá trình dạy học ở THPT
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 1995
2. Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên kiêm Chủ biên) Vật lí đại cương - tập 1 - Cơ nhiệt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí đại cương - tập 1 - Cơ "nhiệt
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Bùi Quang Hân, Nguyễn Duy Hiển, Nguyễn Tuyến (2006) Giải Toán và trắc nghiệm vật lí 10 nâng cao tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải Toán và trắc nghiệm vật lí 10 nâng cao tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nguyễn Văn Khải, Phương pháp thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Khải
6. Nguyễn Thế Khôi (Tổng chủ biên), Phạm Quý Tư (Chủ biên) (2006) Vật lí 10 nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 10 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Phạm Quý Tư
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
7. Ngô Diệu Nga (2003) Bài giảng chuyên đề “Phương pháp nghiên cứu khoa học vật lí”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề “Phương pháp nghiên cứu khoa học vật lí”
Tác giả: Ngô Diệu Nga
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
9. Lê Thị Oanh (1999) Bài giảng chuyên đề phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục
Tác giả: Lê Thị Oanh
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
10. Nguyễn Ngọc Quang (1998) Lý luận dạy học đai cương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đai cương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1998
11. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Vật lí (2006), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Vật lí
Tác giả: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Vật lí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2004) Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
13. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Phạm Hữu Tòng (2004) Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tập tích cực, tự chủ, sáng tạo tư duy khoa học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tập tích cực, tự chủ, sáng tạo tư duy khoa học
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
15. Phạm Hữu Tòng (1996) Hình thành kiến thức, kĩ năng phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí (bồi dưỡng thường xuyên PTTH), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kiến thức, kĩ năng phát triển trí tuệ và năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí (bồi dưỡng thường xuyên PTTH)
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
16. Phạm Hữu Tòng (2001) Lí luận dạy học vật lí ở trường trung học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học vật lí ở trường trung học
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Phạm Hữu Tòng (1996) Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học vật lý - ĐHSP - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học vật lý
Tác giả: Phạm Hữu Tòng
Nhà XB: ĐHSP - Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
18. Đỗ Hương Trà (2004) Bài giảng chuyên đề “Logic học trong dạy học vật lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề “Logic học trong dạy học vật lý”
Tác giả: Đỗ Hương Trà
Năm: 2004
19. Thái Duy Tuyên (2007) Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
20. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1996) NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
21. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX (2001) NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
22. Phạm Viết Vượng (1997) Phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:  Đặc điểm chất lượng của sinh viên các lớp TN và ĐC (năm 2009 - - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
Bảng 1 Đặc điểm chất lượng của sinh viên các lớp TN và ĐC (năm 2009 - (Trang 83)
Bảng 1: Lịch giảng dạy các lớp TN và ĐC ở Trường CĐCN Thực phẩm.  Tiết   Thứ ngày  Líp                Bài dạy    GV dạy - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
Bảng 1 Lịch giảng dạy các lớp TN và ĐC ở Trường CĐCN Thực phẩm. Tiết Thứ ngày Líp Bài dạy GV dạy (Trang 88)
Bảng 3.2: Bảng phân phối tần suất - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
Bảng 3.2 Bảng phân phối tần suất (Trang 93)
Đồ thị3.1: Đồ thị phân phối tần suất của hai nhóm - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
th ị3.1: Đồ thị phân phối tần suất của hai nhóm (Trang 94)
Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất tích luỹ - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất tích luỹ (Trang 95)
Đồ thị 3.2: Đồ thị phân phối tần suất luỹ tích của hai nhóm - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
th ị 3.2: Đồ thị phân phối tần suất luỹ tích của hai nhóm (Trang 96)
Bảng 3.4: Bảng phân phối học lực của hai nhóm - Vận dụng phương pháp dạy học tạo tình huống có vấn đề và hướng dẫn sinh viên giải quyết tình huống có vấn đề trong dạy học chương Động lực học hệ chất điểm - động lực học vật rắn
Bảng 3.4 Bảng phân phối học lực của hai nhóm (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w