Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại ở việc khai thác một vài khía cạnh của tác phẩm, bàn về thi pháp học, phong cách của Nguyễn Khải… Vì thế, luận văn này sẽ đi sâu khai thác phương diện n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Quang Long người
thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em rất chu đáo, nhiệt tình, trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lý luận văn
học, khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học - Trường ĐH Sư phạm Hà NộiII đã tạo điều kiện và giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
trong gia đình đã dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia về mọi mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá học
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Phạm Thị Hoà
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Phạm Thị Hoà
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5.1 Đối tượng nghiên cứu 10
5.2 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
7 Dự kiến đóng góp mới 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 12
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 12
1.1 Khái niệm nhân vật văn học và vai trò của nhân vật văn học 12
1.1.1 Phương diện từ ngữ 12
1.1.2 Một số quan niệm về nhân vật trong nghiên cứu lí luận văn học 12
1.2 Vai trò của nhân vật văn học 15
1.3 Loại hình nhân vật văn học 16
1.3.1 Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ 16
1.3.2 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 17
1.3.3 Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật 18
1.4 Một số đặc điểm cơ bản của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại (từ 1945 đến nay) 20
1.4.1 Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 20
1.4.1.1.Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 20
1.4.1.2 Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 22
1.4.2 Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay 24
Chương 2 26
Trang 4QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CÁC LOẠI NHÂN
VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI 26
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải 26 2.1.1 Khái quát về “quan niệm nghệ thuật về con người” 26
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải 29
2.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải trước 1975 29
2.1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải kể từ 1975 đến nay 31
2.2 Đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải 37
2.2.1 Nhân vật tư tưởng 37
2.2.2 Nhân vật loại hình 49
2.2.3 Nhân vật lạc thời 53
2.2.4 Nhân vật tha hóa 59
2.2.5 Những con người đẹp của đất Hà thành 62
2.2.6 Nhân vật “tôi” với bao nỗi niềm trăn trở 65
Chương 3 71
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI 71
3.1 Khắc họa nhân vật từ nhiều điểm nhìn 71
3.1.1 Khái niệm điểm nhìn trần thuật 71
3.1.2 Khắc họa nhân vật bằng những điểm nhìn nghệ thuật đa dạng, giọng điệu đa thanh 71
3.2 Cá tính hóa nhân vật bằng ngôn ngữ 77
3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại như là chất vấn 77
3.2.2 Lời thoại như một phương thức bộc lộ cá tính nhân vật 80
3.3 Miêu tả tâm lý nhân vật với những biến thái rung động tinh vi 84
3.3.1 Tâm lý nhân vật xét ở phương diện cá nhân 84
3.3.2 Miêu tả tâm lý đám đông 88
3.4 Thủ pháp tương phản trong khắc họa nhân vật 90
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 51.2 Nguyễn Khải (1930 - 2008) là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, tạp văn Ở thể loại nào, ông cũng gặt hái được những thành công và được đông đảo bạn đọc đón nhận Do đó, nghiên cứu thế giới nhân vật trong các sáng tác nói chung và trong truyện ngắn nói riêng của Nguyễn Khải là rất cần thiết để tìm hiểu quá trình sáng tác cũng như giá trị tác phẩm của nhà văn Mặt khác, qua đây, luận văn góp thêm cơ sở vào việc đánh giá tài năng, phong cách nghệ thuật và vị trí văn học sử của Nguyễn Khải trong nền văn học Việt Nam
1.3 Thực tiễn cho thấy, thế giới nhân vật của Nguyễn Khải khá phong phú và đa dạng Đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên nét độc đáo cho các sáng tác của ông Việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng
Trang 6Trước hết, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Khải từ góc nhìn này, người nghiên cứu có cơ hội củng cố vững chắc thêm những kiến thức lí luận về nhân vật - phương diện quan trọng nhất, của tác phẩm văn học Mặt khác, thông qua việc tìm hiểu một hiện tượng cụ thể nhưng mang tính điển hình như Nguyễn Khải sẽ giúp tôi củng cố thêm những tri thức về việc nghiên cứu tác phẩm, tác giả, trong việc nhìn nhận cái bộ phận trong mối quan hệ biện chứng với cái toàn thể, từ đó vận dụng các phương pháp phân tích nhằm phát hiện đúng bản chất của đối tượng
Thứ hai, đối với người giáo viên ngữ văn, việc tìm hiểu và phân tích yếu tố nhân vật trong tác phẩm văn học sẽ góp phần mang lại nhiều lợi ích cho công tác giảng dạy Quá trình nghiên cứu sẽ giúp cho thao tác phân tích tác phẩm, đặc biệt là phân tích nhân vật trong các bài giảng trở nên thuần thục
và hiệu quả hơn, chất lượng giảng dạy cũng được nâng lên
Xuất phát từ những lí do vừa nêu, chúng tôi lựa chọn đề tài Thế giới
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải Hy vọng rằng, qua việc tập trung
tìm hiểu một phương diện quan trọng của truyện ngắn Nguyễn Khải, luận văn
sẽ góp thêm một tiếng nói đối với việc nhận diện giá trị tác phẩm cũng như tài năng và phong cách truyện ngắn của Nguyễn Khải
2 Lịch sử vấn đề
Cho tới nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các sáng tác nói chung và thể truyện ngắn nói riêng của Nguyễn Khải Những bài viết đó tiếp cận truyện ngắn ông từ nhiều bình diện khác nhau Tiêu biểu trong số này
phải kể tới Như Phong với Phương hướng tìm tòi của Nguyễn Khải qua tập
Mùa lạc (BLVH-NXBVH 4/1969) Trong bài viết này, nhà nghiên cứu đã
đánh giá cao ngòi bút Nguyễn Khải ở phương diện nhà văn đã quan tâm sâu sắc đến số phận và hạnh phúc của con người bình thường Tập truyện bộc lộ
Trang 7giá trị nhân đạo tích cực, khơi gợi và thức tỉnh con người về thái độ sống có trách nhiệm…
Một trong những người nghiên cứu tập trung và đưa ra nhiều nhận xét xác đáng về truyện ngắn Nguyễn Khải, theo chúng tôi là tác giả Phan Cự Đệ
Trên báo Văn nghệ 1969, ông đã khẳng định tài năng Nguyễn Khải trong sự
nhìn nhận, phát hiện vấn đề nhưng đồng thời cũng cho rằng nhân vật của Nguyễn Khải mới có cái lõi của tính cách mà chưa có đầy đủ tính đa dạng toàn vẹn của nhân vật hiện thực Ngoài ra, ở hai chuyên luận về văn học Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ cũng dành khá nhiều tâm huyết để bàn về các sáng tác của nhà văn này
Khi nói về đặc điểm ngòi bút Nguyễn Khải, Chu Nga trên Tạp chí văn
học 2/1974, cho rằng: Nhân vật của Nguyễn Khải chỉ là con người chịu sự
điều khiển chứ chưa phải là con người tự làm chủ mình Bà còn nhận xét: hình như Nguyễn Khải xây dựng tác phẩm thường không trên cơ sở của hình tượng mà trên cơ sở của vấn đề, một vấn đề được định ra từ trước khi tác phẩm hình thành Điều này chứng tỏ bà đã cảm nhận việc khắc hoạ nhân vật không phải là mối quan tâm của ông mà cái chính là nhà văn quan tâm đến tính vấn đề của tác phẩm
Bước vào thập niên 80, các ý kiến của giới nghiên cứu đều xoay quanh
những sáng tác của Nguyễn Khải sau đổi mới
Mở đầu là cuộc bàn luận đầy hào hứng, sôi nổi của hai nhà nghiên cứu phê bình Lại Nguyên Ân và Trần Đình Sử về những sáng tác của Nguyễn Khải Hai ông đều cho rằng sáng tác của Nguyễn Khải mang cảm hứng nghiên cứu và phân tích Lại Nguyên Ân đưa ra ý kiến “ Diện mạo nhân vật, ở anh Khải nhiều khi chỉ rõ nét do suy nghĩ, tư tưởng của nó” và nó giống như một kiểu mô tả, một kiểu thể hiện những sự thật đang tồn tại một cách khách quan
Trang 8Cùng viết về Mùa lạc, Nguyễn Văn Long trong Từ điển văn học (NXB
KHXH 1984) đã đánh giá một cách khách quan những thành công, nét sáng tạo của Nguyễn Khải trong việc phản ánh hiện thực mà nổi bật là nhà văn đã
“Tập trung soi rọi mối quan hệ giữa những con người trong xã hội mới” Và
đi đến nhận xét: “Mùa lạc được viết bằng ngòi bút phân tích tâm lý vừa sắc
sảo vừa ấm áp tin yêu, có nhiều trang miêu tả con người và khung cảnh thiên nhiên với những vẻ đẹp trong sáng, bình dị”
Nhà văn Ngô Thảo trong Sự hình thành và phát triển của đội ngũ nhà
văn kiểu mới ( Một thời đại văn học mới 1987) đã chỉ ra thế mạnh của cây
bút này Đó là sự sắc sảo, tinh tường trong khả năng nhận xét vì thế mà "tính cách nhân vật được tác giả nêu ra bằng nhận xét, phân tích nhiều hơn bằng sự miêu tả hành động hoặc bằng cá tính hoá ngôn ngữ: Đó là thế mạnh cũng là nguyên nhân của những nhược điểm trong việc khắc hoạ nhân vật của Nguyễn Khải"
Về nhân vật Nguyễn Khải trong các truyện ngắn gần đây, Đinh Quang
Tốn khi giới thiều về tập truyện Hà nội trong mắt tôi cũng cho rằng: “Các
nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải chỉ là những quân cờ trong tay ông phục vụ ý đồ chiến lược của ông đã vạch sẵn”[19,tr42]
Vương Trí Nhàn trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Khải đã nhận
định: nhân vật Nguyễn Khải gần đây đa dạng, phong phú hơn, sáng tác Nguyễn Khải những năm gần đây thể hiện cuộc đối thoại lớn giữa ngòi bút Nguyễn Khải hôm nay và những trang viết mấy chục năm qua
Ở phương diện thi pháp, Bích Thu trong Giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay [43,tr127] đã chỉ ra tính
phức hợp, đa giọng điệu, đa âm thanh của lối văn hiện đại Nguyễn Khải Trong bài viết này, tác giả đã có một nhận xét quan trọng về nhân vật của Nguyễn Khải: “Nhà văn không chủ trương xây dựng tính cách, hình tượng
Trang 9khách quan của nhân vật mà xây dựng ý kiến của nhân vật về bản thân nó, về thế giới của nó”
Đào Thuỷ Nguyên trong Phong cách hiện thực tỉnh táo và thế giới
nhân vật Nguyễn Khải trên Tạp chí tác phẩm mới số 3.1998, cũng khẳng định
sự phong phú của thế giới nhân vật Nguyễn Khải thể hiện ở chỗ bao gồm
“nhiều kiểu người, đại diện cho những tầng lớp nghề nghiệp và trình độ xã hội khác nhau”, chúng tỏ sự am hiểu của nhà văn cả về bề rộng và bề sâu tâm
lý, tính cách của nhiều kiểu người trong xã hội
Nguyễn Thị Bình trong Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết TCVH số
7,1998, đã diện phong cách văn xuôi Nguyễn Khải là có khả năng biết thích ứng và có một tư duy tiểu thuyết Chính những yếu tố ấy đã khiến Nguyễn Khải luôn là gương mặt đáng chú ý của văn xuôi đương đại nước ta Khi nói
về nhân vật mà Nguyễn Khải ưa thích, tác giả cho rằng “Trí tuệ là phẩm chất hàng đầu của các nhân vật mà nhà văn tâm đắc” và “ Nguyễn Khải đặc biệt say mê loại nhân vật có khả năng thích ứng với thời thế” Nét nổi bật ở văn xuôi Nguyễn Khải là sự quan tâm đến tư tưởng vì thế “ Nhân vật truyện là nhân vật tư tưởng”
Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải một cách qui mô, hệ thống Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại ở việc khai thác một vài khía cạnh của tác phẩm, bàn về thi pháp học, phong cách của Nguyễn Khải… Vì thế, luận văn này sẽ đi sâu khai thác phương diện nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải Trên cơ sở đó, góp phần làm rõ hơn về sáng tác của ông đồng thời khẳng định thêm tính hữu hiệu của việc nghiên cứu văn học từ sự phân tích thế giới nhân vật
Trang 103 Mục đích nghiên cứu
- Vận dụng lí thuyết về nhân vật văn học vào nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Khải nhằm chỉ ra những nét độc đáo của thế giới nhân vật được thể hiện cụ thể qua các dạng thức và đặc điểm nhân vật, qua nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
- Từ kết quả nghiên cứu đã thu được, luận văn góp phần làm sáng rõ hơn cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Dựa trên những khái niệm về nhân vật văn học đã được các công trình nghiên cứu chuyên biệt xây dựng, chúng tôi sẽ tìm hiểu yếu tố nhân vật trong tác phẩm văn học của nhà văn từ góc độ ứng dụng những lý thuyết đó vào một trường hợp cụ thể, mang tính điển hình, đồng thời cũng góp phần kiểm nghiệm tính khoa học của những lý thuyết đó
- Khảo sát và phân tích các truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Khải, đặt chúng trong mối tương quan với một số hiện tượng văn học đương thời Trên
cơ sở đó, thấy được quan niệm nghệ thuật về con người và chỉ ra được những kiểu loại nhân vật chủ yếu trong sáng tác của ông qua mỗi giai đoạn (trước và sau 1975)
- Phát hiện ra những sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Khải
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ thế giới nhân vật trong các truyện ngắn, truyện vừa của ông (khái niệm truyện ngắn hay vừa cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối) Mục đích của luận văn là tìm hiểu sự biểu hiện phong phú, độc đáo của thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải (quan niệm
Trang 11nghệ thuật về con người, các dạng thức nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật)
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát các truyện của Nguyễn Khải từ khi vào nghề cho đến khi ông mất, trong đó tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu nhất
6 Phương pháp nghiên cứu
7.2 Phát hiện được các kiểu loại nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn
Nguyễn Khải giai đoạn trước và sau năm 1975, đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc của nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm của ông
7.3 Góp phần làm rõ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật, những
đóng góp và vị trí văn học sử của Nguyễn Khải trong dòng chảy văn học dân tộc
Trang 12NỘI DUNG Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Khái niệm nhân vật văn học và vai trò của nhân vật văn học
Ở một khía cạnh nào đó thuật ngữ “nhân vật” có điểm gặp gỡ với thuật ngữ “vai” và “tính cách” Trong nhiều trường hợp người ta sử dụng hai thuật ngữ này thay cho nhân vật văn học Thuật ngữ “vai” nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, phù hợp với loại “nhân vật hành động” Còn thuật ngữ “tính cách” lại chỉ những nhân vật có tính cách Tuy nhiên không phải
nhân vật nào cũng hành động và cũng không phải nhân vật nào cũng mang
tính cách rõ nét Như vậy, thuật ngữ “vai” và “tính cách” có nội hàm hẹp hơn
“nhân vật”, chúng không bao quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học Bởi vậy, “nhân vật” chính là thuật
ngữ đúng đắn và đầy đủ nhất
1.1.2 Một số quan niệm về nhân vật trong nghiên cứu lí luận văn học
Nhân vật là khái niệm được dùng trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu nhất vẫn là nghệ thuật Về khái niệm nhân vật văn học, giới nghiên cứu, phê bình đã đưa ra khá nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân quan niệm:
Trang 13“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người Một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người”[2,tr 241]
Với khái niệm này, tác giả đã xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, khuynh hướng, trường phái văn học
Các tác giả trong Từ điển văn học lại nhìn nhận nhân vật ở khía cạnh
vai trò, chức năng của nó đối với nội dung và hình thức của tác phẩm:
“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [36,tr86]
Trong giáo trình Lý luận văn học, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Nói đến
nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều,… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ, một mụ nào trong “Truyện Kiều”, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung và ý nghĩa con người Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại
Trang 14có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình.[…] Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.[…] Nhưng chủ yếu vẫn là con người trong tác phẩm.[…] Nhân vật văn học là một hiện tượng ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra” [39,tr277-278]
Có thể nói, đây là quan niệm khá cụ thể, chi tiết về nhân vật văn học Còn đây là cách nhìn nhận về nhân vật của GS Hà Minh Đức:“Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người hoặc
có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [11,tr 126]
F Đôxtôiepxki thì cho rằng, với văn học, toàn bộ vấn đề là ở tính cách, nghĩa là nếu nhà văn xây dựng được nhân vật có khả năng “ găm” nó vào trí nhớ người đọc thì đó là dấu hiệu của sự thành công
Trên đây là một số quan niệm về nhân vật văn học của các nhà nghiên cứu, phê bình trong nước Những quan niệm này nhìn nhận nhân vật ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung vẫn có sự gặp gỡ nhau ở một số điểm nhất định như: nhân vật là đối tượng mà văn học miêu tả, được xây dựng bằng những phương tiện nghệ thuật nhằm phản ánh đời sống hiện thực; là yếu tố cơ bản nhất của tác phẩm, mang tính ước lệ và thể hiện sự sáng tạo của nhà văn
Trang 15Với tầm quan trọng quan trọng như thế, nhân vật trở thành đối tượng không thể bỏ qua khi tìm hiểu, nghiên cứu sáng tác của một nhà văn nào đó
1.2 Vai trò của nhân vật văn học
Nhân vật là thành tố quan trọng, là “tín hiệu thẩm mĩ lớn nhất của
truyện” [20;tr 43], quyết định lớn đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm
văn học Vai trò của nhân vật được thể hiện cụ thể ở một số bình diện cơ bản sau:
Thứ nhất, nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát những quy luật của đời sống, thể hiện sự nhận thức, lí giải và ước mơ về con người Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là nhằm thể hiện những con người xã hội cụ thể, cá biệt đồng thời qua đó, bộc lộ quan niệm về chính những cá nhân ấy Nói khác đi, nhân vật là phương tiện để khái quát các loại tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng
Về cơ bản, nhân vật dưới mọi hình thức biểu hiện đều thường có tính cách Trên một ý nghĩa khái quát nhất, tính cách là sự thể hiện các phẩm chất
xã hội lịch sử của con người thông qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách là một hiện tượng xã hội lịch sử, lịch
sử, do đó chức năng định hướng giá trị của nhân vật cũng mang tính lịch sử
Thứ hai, nhân vật là "công cụ" dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống Nói khác đi, nó là chiếc chìa khóa quan trọng giúp nhà văn mở rộng các mảng
đề tài mới, rộng lớn và sâu sắc Mỗi nhân vật văn học sẽ cung cấp cho nhà văn và bạn đọc một điểm nhìn để khám phá đời sống
Thứ ba, nhân vật là nơi thể hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng như lý tưởng thẩm mĩ của tác giả về cuộc đời và về con người “Nhân vật văn học được sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối với cuộc sống Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời, xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu
Trang 16cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người” [28, tr 96] Thông qua nhân vật, nhà văn bao giờ cũng gửi gắm, một quan niệm, một triết lí nào đó
về đời sống và về con người Chẳng hạn, các nhân vật của Victor Hugo trong
Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà thể hiện rõ tư tưởng chống pháp
luật bất công và định kiến xã hội Trong các sáng tác của văn học hiện đại, nhân vật thường là nơi thể hiện trạng thái nhân sinh nào đó Qua nhân vật
Santiago trong Ông già và biển cả, Hemingwey đã ca ngợi bản lĩnh kiên
cường, tinh thần không cam chịu thất bại của con người…
Thứ tư, nhân vật đóng vai trò quyết định tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố thuộc hình thức của tác phẩm Nói như G N Pospelov thì: “Nhân vật
là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [39; tr157] Với chức năng này, nhân vật góp phần quan trọng trong việc tạo nên tính chỉnh thể sống động của tác phẩm văn học
Như vậy, những nhận thức về nhân vật văn học và vai trò của nó như
đã trình bày ở trên là vô cùng cần thiết đối với người nghiên cứu Hệ thống các khái niệm vừa nêu sẽ là nền tảng lí luận cơ sở vững chắc, phục vụ đắc lực cho quá trình nghiên cứu đề tài khoa học đã chọn
1.3 Loại hình nhân vật văn học
1.3.1 Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ
Dựa vào vị trí, vai trò của nhân vật trong kết cấu tác phẩm văn học,
người ta chia nhân vật văn học thành: nhân vật chính, nhân vật trung tâm,
nhân vật phụ
1.3.1.1 Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò then chốt trong truyện
Đó là những con người liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ
sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của tác phẩm Các nhân vật Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến… là những
Trang 17nhân vật chính trong Truyện Kiều; Chí Phèo, Bá Kiến trong Chí Phèo; Chiến
tranh và hoà bình có hàng chục nhân vật chính…
1.3.1.2 Nhân vật trung tâm là loại nhân vật qui tụ các mối mâu thuẫn
của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm có ý nghĩa xuyên suốt tác phẩm từ đầu đến cuối Các nhân vật: Đôn Kihôtê (Đônkihôtê- Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra); Tào Tháo, Lưu – Quan – Trương, Tôn Quyền (
Tam quốc diễn nghĩa); Thuý Kiều (Truyện Kiều), Chí Phèo (Chí Phèo), chị
Sứ (Hòn đất)… có thể xem là những nhân vật trung tâm của tác phẩm
1.3.1.3 Nhân vật phụ là nhân vật mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng
có tính chất phụ trợ, bổ sung nhưng không thể coi nhẹ nhân vật phụ Nhân vật phụ làm nhiệm vụ soi sáng cho nhân vật trung tâm, vấn đề trung tâm của tác phẩm, góp phần thể hiện sự đa dạng, sinh động của bức tranh đời sống được miêu tả Likhazev cho rằng: “Vai trò của các nhân vật phụ thường là ở chức
năng dây cót là cho bộ máy của cốt truyện vận động” Có thể thấy đặc điểm này qua nhân vật: Thuý Vân, Vương Quan, vãi Giác Duyên (Truyện Kiều); Binh Chức, Năm Thọ, Thị Nở (Chí Phèo); thầy thơ lại (Chữ người tử tù).…
1.3.2 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện
Xét về phương diện tư tưởng, về quan hệ thuận – nghịch đối với lí
tư-ởng, có thể chia nhân vật thành: nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 1.3.2.1 Nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) đối lập với nhân vật
phản diện, là nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp
đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà văn miêu tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo một quan điểm tư tưởng, một lí tưởng - xã hội thẩm
mĩ nhất định Chẳng hạn, các nhân vật Nữ Oa, Thánh Gióng, Thạch Sanh, Sọ Dừa, anh Khoai; các nhà nho, các bậc trượng phu tiết tháo, những anh hùng cứu nước (Lê Lợi, nghĩa sĩ Cần Giuộc)…
Trang 181.3.2.2 Nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) là nhân vật mang những
tính cách xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng của con người, được nhà văn miêu
tả trong tác phẩm với thái độ chế giễu, lên án, phủ định Có thể thấy rõ kiểu
nhân vật này thông qua hình tượng: mẹ con Cám (trong truyện Tấm Cám), Mã Giám Sinh, Sở Khanh (trong Truyện Kiều)…
1.3.3 Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật
1.3.3.1 Nhân vật dẹt (E.M Forster):là loại nhân vật không được khắc
hoạ đầy đặn các mặt, ít “giống thực” nhất theo đánh giá của một kiểu tri giác đơn giản về nghệ thuật Nhân vật dẹt bao gồm:
+ Nhân vật chức năng (mặt nạ) – Theo L Ghinzburg, đây là loại nhân
vật chủ yếu xuất hiện trong văn học cổ trung đại (nhất là ở cổ tích), được
“giao nhiệm vụ” thực hiện một chức năng cố định nào đó trong tác phẩm và trong phản ánh đời sống Nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm, các phẩm chất, đặc điểm luôn tồn tại như một hằng số và nó hành động gần như theo công thức định sẵn Vì điều này mà nhân vật chức năng dễ trở thành một
ý niệm hay một biểu tượng trong đời sống tinh thần và được hình thức hoá trong sáng tác Trong các tác phẩm văn học dân gian, nhân vật thường là nhân vật chức năng (nhân vật “mặt nạ”) Đó là loại nhân vật có phẩm chất, đặc điểm cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hành động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong phản ánh đời sống Chẳng hạn như, các anh hùng xuất hiện là
để đánh trăn tinh, yêu quái, phù thuỷ cứu người đẹp; công chúa và vua cha thường bị nạn, được cứu và cuối cùng là phần thưởng cho người anh hùng; thần tiên, ông Bụt thường đóng vai trò an ủi, thử lòng tốt, ban hạnh phúc; kẻ địch chuyên làm ác về sau bị trừng trị
+ Nhân vật loại hình : Theo L Ghinzburg, nhân vật loại hình là loại
nhân vật có thể đứng ra làm đại diện cho một loại người nhất định trong đời
Trang 19sống, do chỗ nó thể hiện được những nét đặc trưng, ổn định và bất biến ở phẩm chất xã hội, đạo đức, tính cách của loại người đó Ví dụ như: Acpagông
(Lão hà tiện - Môlie) khái quát cho loại người hà tiện, keo kiệt, Tactuyf tiêu
biểu cho thói đạo đức giả Khi xây dựng nhân vật loại hình, điều nhà văn quan tâm nhất là làm sao chỉ ra được nét khu biệt về tính cách xã hội của một loại người nào đó, vì vậy thủ pháp mô hình hoá được vận dụng triệt để Tính
“phạm trù” là hạt nhân cấu trúc của loại nhân vật này, do vậy trong nhiều trường hợp, nhân vật loại hình có thể trở thành điển hình tính cách
1.3.3.2 Nhân vật tròn (E.M Forster): là loại nhân vật được khắc hoạ,
ngắm nhìn trên nhiều bình diện, đưa tới cho độc giả cảm tưởng “thực”, như cảm tưởng trong ta khi ta đi quanh một bức tượng tròn
Nhân vật tròn thực chất cũng là nhân vật tính cách (theo một cách gọi
tên khác của L Ghinzburg) Đó là loại nhân vật mà sức hấp dẫn chủ yếu của
nó không nằm ở phẩm chất “loại” trừu tượng như nhân vật loại hình , mà nằm
ở cá tính cùng cấu trúc phức tạp của nó Nhân vật tính cách thường đa diện, chứa đầy mâu thuẫn, và chính những mâu thuẫn ấy làm cho tính cách không tĩnh tại mà vận động, phát triển, đôi khi làm bất ngờ cả người sáng tạo ra nó Cấu trúc của nhân vật tính cách phản ánh một trình độ cao của văn học trong vấn đề khái quát và chiếm lĩnh thực tại Chẳng hạn, có thể thấy, mầm mống của nhân vật tính cách trong tác phẩm của Tư Mã Thiên, Shakespeare, Xécvantetx Đến chủ nghĩa hiện thực, kiểu nhân vật tính cách thực sự chín muồi trong sáng tác của Banzăc, Xtăngđan, Puskin, Đôtôiepxki, Nguyễn Du
Nhân vật tâm lí là một hình thái cụ thể của nhân vật tính cách Với loại
nhân vật này, tâm lực nhà văn dồn vào việc tái hiện “hiện thực tâm lí”, vào những hành động bên trong chứ không phải hoạt động bên ngoài của nhân vật Hiện thực tâm lí không chỉ làm nên nhân vật mà còn làm nên chính câu chuyện – những “Truyện không có cốt truyện”
Trang 20Nhân vật tư tưởng: là loại nhân vật có nhiều điểm tương đồng với nhân
vật chức năng và có hạt nhân cấu trúc là một tư tưởng, một ý thức Xây dựng loại nhân vật này nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một
tư tưởng nào đó về đời sống, và việc phát biểu, tuyên truyền đó thậm chí đôi khi được thực hiện lộ liễu, không cần che giấu Sự đa dạng của tính cách bị tổn thất “Tầm vóc” của những nhân vật này được qui định bởi tầm vóc tư tưởng mà tác giả muốn biểu đạt
Tóm lại, sự phân loại nhân vật văn học như trên chỉ có ý nghĩa tương đối Loại nhân vật nào cũng có sự hấp dẫn riêng của nó Không thể đem tiêu chí của nhân vật này để đánh giá khiên cưỡng nhân vật kia và ngược lại cũng vậy
1.4 Một số đặc điểm cơ bản của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại (từ 1945 đến nay)
1.4.1 Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Lịch sử văn học dù ở giai đoạn nào cũng có mối quan hệ rất mật thiết với lịch sử xã hội Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 diễn ra trong hoàn cảnh hai cuộc kháng chiến của dân tộc, do vậy không thể không chịu sự chi phối đặc biệt của hoàn cảnh lịch sử Tìm hiểu đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này chúng ta không thể không đặt nó trong mối quan hệ với đời sống lịch sử xã hội và bối cảnh chung của nền văn học dân tộc Để nhận diện rõ nét đặc điểm cũng như sự vận động biến đổi của nhân vật truyện ngắn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, dưới đây chúng tôi xin hệ thống lại những vấn đề mà giới nghiên cứu đã đánh giá(trong đó có một phần là ý kiến của chúng tôi) theo các mốc thời gian được xác định như sau:
1.4.1.1.Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
Trang 21Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, nhân vật quần chúng được xem là "một phát hiện nghệ thuật quan trọng bậc nhất" của văn học thời kì này và nó còn chi phối, để lại dấu ấn trong cả văn học thời chống
Mĩ Dĩ nhiên là, ở giai đoạn sau, nhân vật quần chúng sẽ có sự vận động và được khai thác, khám phá trên những bình diện mới gắn liền với các đặc điểm của bối cảnh chính trị, văn hóa xã hội… Có thể thấy, nhân vật quần chúng xuất hiện trong các truyện ngắn thời kì này được chú trọng khai thác ở tư cách con người chính trị, con người công dân Cuộc cách mạng dân tộc đã giác ngộ tinh thần yêu nước, ý thức công dân và giai cấp cho đông đảo quần chúng, tập hợp họ vào nhiều tổ chức chính trị của Đảng Lúc này con người của gia đình, làng xóm trở thành con người của dân tộc, giai cấp và đời sống cộng đồng Nhân vật trong truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1954 hội tụ được những nét tâm
lí chung của quần chúng như: lòng yêu được, căm thù giặc, tình nghĩa đồng bào, tình cảm gắn bó sâu nặng giữa tiền tuyến và hậu phương… Điều này thể
hiện đậm nét qua hình ảnh anh thanh niên (trong Đôi mắt của Nam Cao) vác
bó tre trên vai đi cản cơ giới địch say sưa đọc thuộc lòng ba giai đoạn của cuộc kháng chiến với một nhiệt hứng cao độ, hay niềm tự hào làng kháng
chiến của các nhân vật trong tác phẩm Làng của Kim Lân… Nhân vật giai
đoạn này thường được miêu tả trong các biến cố lịch sử và các hoạt động rộng lớn, sôi nổi của cách mạng và kháng chiến hơn là những biến cố đời tư của cuộc sống thường nhật Do thế, nó cũng được hoạt động trong một không gian mang tính xã hội rộng lớn
Trong nhiều truyện ngắn của văn học kháng chiến chống Pháp, hình tượng đám đông và hình tượng tập thể quần chúng được các nhà văn khắc họa nổi bật Họ phần nhiều được thể hiện trong hành động và các quan hệ hướng ngoại còn thế giới nội tâm tuy cũng được nói tới nhưng thiếu sự khai thác kĩ lưỡng và phân tích cặn kẽ Các nhà văn chủ yếu chỉ miêu tả những nét tâm lí
Trang 22tiêu biểu của quần chúng mà thôi Cũng cần nói thêm là, các qúa trình tâm lí ở nhân vật nếu có được miêu tả thì thường khuôn theo một hướng đặc thù đó là
đi từ ngộ nhận đến thức tỉnh, từ căm thù đến hành động, hoặc từ giác ngộ thấp
đến giác ngộ cao hơn… Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài tuy được
đánh giá cao về nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật nhưng xét đến cùng nó vẫn không đi ra ngoài đường biên đã nói ở trên
Nhìn chung, nhân vật trong truyện ngắn thời kháng chiến chống Pháp chủ yếu là con người quần chúng, trong sáng, dứt khoát, toàn tâm vì sự nghiệp chung của dân tộc, của đất được và hòa mình trong tập thể Do đó, nhân vật thường ít có những biểu hiện dằn vặt, suy tư, ít được khắc họa cá tính và quá trình tâm lí cụ thể riêng biệt Tuy vậy, nhân vật thời kì này lại quy
tụ được những nét tâm lí và tính cách dân tộc, tính cách quần chúng và dấu ấn của thời đại đã sản sinh ra nó
1.4.1.2 Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mĩ 1954 - 1975, để đáp ứng yêu cầu chính trị, tư tưởng của thời đại, văn học giai đoạn này hướng đến xây
dựng những con người mới luôn đề cao tinh thần trách nhiệm đối với cộng
đồng và vững vàng về lập trường giai cấp Vì vậy, đọc các sáng tác văn học thời kì này nói chung, truyện ngắn nói riêng thấy nổi lên hình tượng những
con người cộng đồng, con người hài hòa trong sự thống nhất riêng - chung
Những nhân vật là cán bộ nông thôn thường trở thành những mẫu người tích cực tiêu biểu Họ luôn phải hi sinh lợi ích riêng, gia đình nghèo khó, ít quan tâm được đến gia đình riêng vì còn phải dành thời gian cho công việc chung của tập thể Có thể thấy rõ đặc điểm vừa nêu qua rất nhiều nhân vật trong
truyện ngắn trước 1975 như Nhẫn trong Cỏ non, Biền trong Tầm nhìn xa
Nhân vật trở thành một phương tiện quan trọng để khám phá lịch sử Nó là
Trang 23nơi thể hiện tập trung cái nhìn lí tưởng hóa của nhà văn về đời sống và về con người Con người trong văn học lúc đó phải là con người mang lí tưởng và tầm vóc cao cả, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, tự nguyện
hi sinh "cái tôi" cho "cái chung" Nhân vật vì thế mang tầm vóc con người sử
thi Họ đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí và khát vọng của cộng
đồng, dân tộc, đất nước Xuất hiện với tư thế người anh hùng toàn vẹn, nhân vật trong văn học 1954 - 1975 được chú ý miêu tả ở nhiều phương diện như: ý thức - tư tưởng, ý chí và niềm tin, hành động anh hùng, đời sống tình cảm, vẻ đẹp tâm hồn… Những đặc điểm vừa nêu hội tụ khá đầy đủ qua các nhân vật
Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Nguyệt và Lãm trong Mảnh
trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu… Mặt khác, nhân vật thời kì này còn
được ví như "một sản phẩm hoàn hảo của hiện thực cách mạng là cống hiến của văn học với tư cách một mặt trận tư tưởng" [8,tr.66] Khi vấn đề sống còn của dân tộc được đặt lên hàng đầu thì mọi quyền lợi, mọi phép ứng xử của con người phải được nhìn nhận minh bạch, rạch ròi theo tiêu chuẩn "địch - ta", giữa các nhân vật tồn tại một nguyên tắc thống nhất "muôn người như một" Do vậy, trong các truyện ngắn giai đoạn trước 1975, chúng ta thường bắt gặp kiểu nhân vật luôn sẵn sàng và tự nguyện "hòa tan" trong cộng đồng Mọi mối quan hệ xã hội của các nhân vật đến bản thân cá nhân mỗi người đều được nhìn nhận, đánh giá theo những tiêu chuẩn chung Chẳng hạn, trên tinh thần đề cao phẩm chất hi sinh vì vận mệnh của tổ quốc, người ta nêu lên chân
lí "Tổ quốc hay là chết" Và, ta đã thấy xuất hiện những nhân vật như chị Út
Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi) với câu nói đầy chí khí: "Đánh Tây sướng bằng tiên chứ cực gì", hoặc cụ Mết (Rừng xà nu - Nguyễn Trung
Thành) với niềm tin cách mạng và lòng quyết tâm cao độ: "Cán bộ là Đảng Đảng còn thì núi nước này còn", "chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!"…
Trang 24Như vậy, nhân vật trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 nói
chung và trong thể truyện ngắn nói riêng chủ yếu là những con người quần
chúng, con người mới hoặc con người mang đậm tính sử thi, luôn "trùng khít
với địa vị xã hội" của mình Vì vậy, nhân vật văn học thời kì này, bên cạnh mặt tích cực như đáp ứng được sứ mệnh lịch sử xã hội đã không tránh khỏi những hạn chế như sa vào tính chất minh họa, bị biến thành loa phát ngôn cho
tư tưởng của nhà văn và thời đại Nhân vật thiếu chiều sâu, là những con người "đơn trị, dễ hiểu, đẹp đến mức hoàn hảo, thánh thiện"
1.4.2 Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Sau năm 1975, đất nước thống nhất và bước vào thời kì mới Những biến chuyển to lớn của đời sống chính trị - xã hội có tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học Lúc này, sự trỗi dậy mãnh liệt của ý thức cá nhân là một trong những vấn đề nổi bật được đề cập đến trong văn học sau 1975 Nếu trước năm 1975, nhân vật thường là phương tiện để nhà văn minh họa con người theo tiêu chí giai cấp, chú trọng nhiều đến tính chung mà xem nhẹ yếu
tố riêng tư, cá biệt của con người thì sau 1975 nhân vật đã bắt đầu được xem xét và miêu tả với tư cách con người cá nhân nhiều hơn Xuất phát từ những cái nhìn mới về con người, sáng tác văn học thời kì này nói chung và truyện ngắn nói riêng xây dựng những kiểu nhân vật phong phú, đa dạng Nó không còn là "con người trùng khít với chính mình" nữa mà là con người phức tạp,
đa diện và đầy bí ẩn Nhân vật không khoác trên mình tấm áo lí tưởng đẹp đẽ
và hoàn hảo giống như thời đại trước mà hiện ra với tất cả những biểu hiện phong phú của con người đời thường phàm tục Những diễn biến phức tạp của đời sống, những giằng xé nội tâm nhiều khi khiến con người như bị phân thân
và biến dạng Trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, nhân vật người họa sĩ
luôn phải đối diện với chính mình và đã có nhiều sự chất vấn diễn ra trong nội tâm Rõ ràng, nếu đem đối sánh với các giai đoạn văn học trước đó thì có thể
Trang 25thấy một đặc điểm nổi bật của nhõn vật truyện ngắn thời kỡ này là ớt cú con người đẹp và hoàn hảo Người đọc thường nhận ra trong đú một thế giới nhõn vật giống như những con người đời thường, phàm tục với biết bao biểu hiện phong phỳ, phức tạp và cả sự bớ ẩn Cỏc phương diện tớnh cỏch, cỏ tớnh, số phận và những vấn đề riờng tư của nhõn vật chưa bao giờ được phơi bày cụ thể, sống động nhiều mặt đến thế như ở giai đoạn văn học này Nhà văn nhận diện con người đích thực với nhiều biểu hiện phong phú, đa dạng trong nhu cầu tự ý thức, có sự hòa hợp giữa con người xã hội - con người tự nhiên - con người tâm linh, con người trong sự thống nhất giữa ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát Đặc biệt, các nhà văn chú trọng thể hiện con người trong đời sống bản năng tự nhiên và đời sống tâm linh bí ẩn, kì diệu, đầy ám ảnh Cú thể thấy rừ những
đặc điểm vừa nờu qua cỏc nhõn vật trong Khụng cú vua, Những người thợ xẻ,
Con gỏi thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp hay Anh lớnh Tony D và Đồng đụ la
vĩ đại của Lờ Minh Khuờ, cỏc nhõn vật của Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập…
Qua thế giới nhõn vật trong văn học sau 1975 núi chung và truyện ngắn núi riờng, thấy rừ tinh thần đối thoại của văn học thời kỡ này với kiểu xõy dựng nhõn vật cũn cú phần giản đơn, phiến diện khụng ớt sự khiờn cưỡng của văn học giai đoạn trước Điều ấy cho thấy những vận động, biến chuyển lớn trong tư duy nghệ thuật của nhà văn qua mỗi chặng đường, mỗi thời kỡ sỏng tỏc Đú cũng là sự thay đổi cần thiết mang lại diện mạo mới cho nền văn học nước nhà
Trang 26Chương 2
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
VÀ CÁC LOẠI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải
2.1.1 Khái quát về “quan niệm nghệ thuật về con người”
2.1.1.1 Đối tượng thẩm mỹ của văn học là con người Do vậy tất cả những gì liên quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học Đó là cơ sở cho quan niệm đa dạng về con người trong văn học Mặt khác, thực tiễn sáng tác cho thấy sự thành công của một nghệ sĩ trong miêu tả con người phụ thuộc vào tài năng và sự độc đáo của anh ta khi
“sinh” ra những đứa con tinh thần độc đáo, không làm con người khác Mặt thứ hai này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người trở thành một tiêu điểm của nghiên cứu văn học Xô Viết từ những năm 1970 trở đi Trên thực tế, khái niệm này được nghiên cứu ở nhiều phương diện với những cách hiểu phong phú Về cơ bản có thể xác định:
“Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và
thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” [40,tr 55]
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người là sự tổng hợp những phát hiện triết lý, tư tưởng riêng của nhà văn về cuộc sống và con người với khả năng và trình độ nắm bắt, sáng tạo, sử dụng các phương thức, phương tiện, chất liệu nghệ thuật của người nghệ sĩ đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống ở một chiều sâu nào đó
Trang 27Quan niệm nghệ thuật về con người tồn tại trong thế giới quan gắn liền với cá tính sáng tạo của nghệ sĩ Nói như Nguyễn Đăng Mạnh thì: “Tâm hồn mỗi nhà văn có một “chất dính” riêng Dù ông ta có quan sát thực tế đời sống
ở nhiều lĩnh vực khác nhau, “chất dính” ấy vẫn chỉ có thể bắt lấy được những
gì thích hợp với nó mà thôi Những “cái gì” đó tạo nên ở mỗi cây bút một đối tượng thẩm mỹ riêng, nơi cung cấp những nguồn chất liệu phù hợp để nhà văn dựng nên thế giới nghệ thuật riêng của mình” [31,tr 14] Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của một hiện tượng văn học Người nghệ sĩ đích thực là người luôn suy nghĩ về con người, vì con người, nêu ra những tư tưởng mới
để hiểu con người Về điều này, Nguyễn Minh Châu – một trong những cây đại thụ của nền văn xuôi Việt Nam đã khái quát: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình Cần giữ cái tình yêu lớn
ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống” [ 8,tr 98] Khám phá quan niệm nghệ thuật về con người là đi sâu vào thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ để
đánh giá đúng về họ
Không chỉ đơn thuần là tiêu chuẩn đánh giá tài năng của mỗi nghệ sĩ, quan niệm nghệ thuật về con người còn là thước đo quan trọng bậc nhất của trình độ nghệ thuật của một dân tộc, một thời đại, bởi: “một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới” [40,tr 59]
Trang 28Trong thực tế, mỗi nghệ sĩ khi sáng tạo, dù khái quát thành những lý thuyết hay không, đều viết dưới ánh sáng của một quan niệm nghệ thuật nào
đó Với thể loại truyện ngắn, quan niệm này chi phối trực tiếp đến hệ thống nhân vật, khúc xạ lên cái tôi người kể chuyện và in dấu vào ngôn ngữ nghệ thuật ở từng tác phẩm của nhà văn Với Nguyễn Khải, người mà bản lĩnh nghệ thuật được hình thành từ sớm, quan niệm nghệ thuật của ông đã tạo nên một hệ thống luôn vận động qua các giai đoạn lịch sử và thống nhất trong mối trăn trở về nghề và những vấn đề của đời sống Và chính sự biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người đã tạo ra những khúc ngoặt rất bất ngờ và thú vị trong hành trình sáng tạo của ông
2.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam hiện đại có sự thay đổi qua mỗi thời kỳ Trước năm 1975, khi đất nước đắm chìm cùng bom đạn, chiến tranh thì con người chủ yếu được nhìn theo lối sử
thi Ở thời kỳ “ra ngõ gặp anh hùng”, con người luôn được đặt trong mối
quan hệ với cộng đồng, với dân tộc Bất kỳ suy nghĩ, hành động cá nhân nào cũng bị cộng đồng “soi xét” Sống có ý nghĩa là sống vì người khác, vì mọi người, vì dân tộc “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” (Tố Hữu) Hoàn cảnh ấy ảnh hưởng không nhỏ tới tư duy nghệ thuật và sáng tác của nghệ sĩ
“Giọng cao” là giọng chủ đạo của các nhà văn thời bấy giờ Bởi thế cái nhìn
giản đơn, phiến diện một chiều về con người là không tránh khỏi
Sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới thì văn học cũng “đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật” Quan niệm nghệ thuật
về con người đã có sự chuyển hướng Lúc này con người được nhìn nhận như
“một cá thể bình thường trong những môi trường sống bình thường” [39; tr 231] Nếu như giai đoạn trước nhiều phẩm chất tự nhiên, nhiều góc khuất thuộc bản ngã của con người đều bị xem nhẹ, gạt sang một bên thì đến nay lại trở thành “mảnh đất phì nhiêu cho những cây bút thỏa sức khai phá” Sự hỗn
Trang 29tạp trong tâm hồn, bản năng tự nhiên, đời sống tâm linh là những miền sáng tác bất tận của người nghệ sĩ Sự soi chiếu con người từ nhiều chiều kích, góc
độ ấy nhằm “tìm ra con người bên trong con người”, đem lại cái nhìn toàn diện cho văn học
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải
Nhìn lại hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Khải tự chia thành hai giai đoạn: “Từ 1955 đến 1977 tôi sáng tác một cách Từ 1978 đến nay, sáng tác theo cách khác” [20,tr 24] Tuy nhà văn không chỉ ra sự khác biệt ấy một cách
cụ thể nhưng ai cũng hiểu cái khác đó trước hết phải bắt nguồn từ quan niệm nghệ thuật trong đó có quan niệm nghệ thuật về con người của ông Mặc dù
sự phân chia hành trình sáng tác của Nguyễn Khải được chính tác giả nêu lên như vậy, song khi nghiên cứu truyện ngắn ông, chúng tôi vẫn phân chia thời
kì sáng tác của Nguyễn Khải theo các mốc thời gian phản ánh được những nét lớn nhất sự vận động của nền văn học dân tộc đó là mốc trước và sau năm
Trang 30nay văn chương trở thành một vũ khí phụng sự cách mạng, các nhà văn vốn quen sống trong lối cũ phải đấu tranh với bản thân để thích nghi với yêu cầu mới mà xã hội đòi hỏi họ như một trong những động lực tinh thần của Cách mạng
Nguyễn Khải là người thích ứng rất nhanh Lúc mới bắt đầu nổi tiếng, năm
1963 ông đã viết: “Đối với mỗi người bắt đầu bước vào nghề viết hiện nay, thì người đỡ đầu quan trọng nhất, có tác dụng quyết định nhất, là cuộc sống (…) và Đảng Cộng sản thân yêu, nơi nương tựa vững chắc, tin cậy về đời sống tinh thần, phương hướng của mọi suy nghĩ và hoạt động, là lẽ sống, là cội nguồn của những đức tính đẹp nhất của mỗi chúng ta” [43,tr471] Với nhiều người, nhận thức này có thể tỏ ra khuôn sáo, nhưng với Nguyễn Khải,
nó là cả một sự trải nghiệm, vì sâu trong tâm can, ông hàm ơn cách mạng đã thay đổi cuộc đời ông Điều mà mấy chục năm sau viết lại, ông vẫn còn nhắc đến: “Cái mặt váng tù đọng, đông cứng của xã hội ấy, đã nghĩ sẽ còn tồn tại đến mãi mãi, nào ngờ chỉ một trận cuồng phong tháng Tám đã bị trôi sạch, không khí của một ngày mới, của tự do tràn ngập mọi nhà, mọi lứa tuổi, người người trở nên rộng rãi, quên hẳn chuyện riêng để chỉ nghĩ tới cái chung, háo hức, hãnh diện được hy sinh cho công cuộc kháng chiến cứu
quốc” [43, tr 468] Nói như một nhân vật của Nguyễn Khải trong Hoa cỏ may
thì: “Đã được nhìn tận mắt cô đầu đi cứu thương, ông sư đi bộ đội, dầu có phải chết ngay vẫn cứ sướng” [20,tr 211]
Từ thực tế đó, Nguyễn Khải cho rằng: “chỉ có người chiến sĩ với các trận đánh của họ mới là đáng viết Còn cuộc sống kháng chiến của một cơ quan, một gia đình, một bản làng heo hút bỗng chốc trở nên nhộn nhịp, của những dãy phố bất thần mọc lên rồi bất thần mất đi, chỉ là những chuyện tẻ nhạt thường ngày, không đáng viết, cũng chả cần ghi chép Viết cái thường ngày là văn học cũ, viết cái phi thường là văn học mới Viết về hi sinh, những
Trang 31day dứt, những nỗi khổ đau của cá nhân là văn học cũ Viết về những chiến công của tập thể, những hi sinh không tính toán cho tập thể là văn học mới” [43,tr 270] Cái nhìn lí tưởng hóa về hiện thực và về con người như thế rất phù hợp với yêu cầu chính trị và quan niệm thẩm mĩ của thời đại Do vậy, đọc truyện ngắn Nguyễn Khải ở giai đoạn này thường bắt gặp những nhân vật tích cực Họ phần lớn là những người mang lí tưởng và khát vọng cống hiến cao
cả, luôn vì cộng đồng mà quên đi lợi ích của cá nhân Trong Tầm nhìn xa,
Biền là nhân vật tiêu biểu cho kiểu quan niệm trên Dĩ nhiên, quan niệm nghệ thuật này có phần cực đoan và hạn chế, Nguyễn Khải không phải không ít nhiều nhận thấy điều đó, nhưng trong đời sống văn học ta sau Cách mạng tháng Tám, còn có một sự thật khác: không phải bao giờ kinh nghiệm cá nhân, trí tuệ cá nhân cũng thống nhất với kinh nghiệm cộng đồng, cần xem trí tuệ cộng đồng là chân lý tuyệt đối Kinh nghiệm cá nhân, trí tuệ cá nhân chỉ được xem là đúng đắn khi hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm cộng đồng Điều đó đã trở thành nguyên tắc, niềm tin chung của giới cầm bút suốt mấy thập niên, đặc biệt là trong ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc Nguyễn Khải cũng không phải trường hợp ngoại lệ Tuy nhiên, bên cạnh niềm tin ở chân lý lớn kia, trong một góc khuất nào đấy của tâm hồn ông, vẫn tồn tại một niềm tin khác như một ánh lửa le lói được thắp lên từ những trải nghiệm của riêng ông Cũng là ánh sáng cả thôi, nhưng đối với chân lý lớn kia, nó vẫn có một cái gì đó không thật đồng sắc đồng màu Đó là ngọn nguồn của những ý nghĩ riêng, những tư tưởng riêng trong văn Nguyễn Khải mà sau này ông gọi là “bơi ngược một tí, rẽ ngang một tí”, nó sẽ là cơ sở dẫn đến việc Nguyễn Khải tự nổi gió và đổi mới sớm trong quan niệm và cách viết văn ở giai đoạn thứ hai
2.1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải
kể từ 1975 đến nay
Trang 32Sự chuyển biến về tư tưởng và nghệ thuật từ sau 1975 là hiện tượng phổ biến ở mọi cây bút chứ không riêng gì Nguyễn Khải Tất nhiên mức độ chuyển biến có khác nhau tùy theo bản lĩnh và sự nhạy cảm với thời thế của mỗi người Với Nguyễn Khải, điểm này đặc biệt hấp dẫn và quan trọng bởi với ông dường như mọi thứ đã được định hình, trở thành nguyên tắc, khuôn mẫu Để có thể thay đổi, ở ông không chỉ cần lí trí của nhận thức mà còn cả
sự dũng cảm dứt bỏ, đổi thay, phủ nhận Nguyễn Khải đã làm được điều đó trong khi không ít người bất lực, không vượt qua được chính mình
Cần thấy một sự thật là, khi hòa bình trở lại, các nhà văn ấp ủ giấc mơ viết tiếp những điều mà những năm tháng đạn bom đã không có cơ hội nào thể hiện Nhưng thực tế không như họ nghĩ, công chúng tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt với văn chương, sách viết ra dồi dào mà độc giả vẫn dửng dưng Trước tình thế
ấy, nghệ sĩ chua chát nhận ra rằng: “Người đọc mới hôm qua còn mặn mà thế bỗng dưng quay lưng lại với anh Họ không thèm đọc nữa” Họ thấm thía nhận thấy một trong những nguyên nhân khiến văn học chững lại là do: “Có một thời ta mang mơ ước, ảo tưởng áp đặt vào cuộc sống Mơ ước vẫn cần thiết nhưng ảo tưởng đang bị thực tế xua đi” Riêng Nguyễn Khải lại làm cuộc truy vấn chính mình trên những trang viết cũ: “Mấy chục năm qua tôi đã viết
về những ai nhỉ? Thì vẫn là viết về đồng đội, về bạn bè, về người thân kẻ thuộc, là những người cùng thời với mình mà chính tôi là kẻ sinh ra họ cũng cảm thấy còn xa lạ Hình như họ sạch sẽ quá, thơm tho quá như từ khoảng không bước ra chứ không phải từ bùn đất của Việt Nam sinh ra Họ không có chỗ đứng cụ thể, không có điểm tựa cụ thể, nội lực tự sinh chứ không qua bất
kì sự gạn lọc nào từ các nguồn nuôi dưỡng Nó không thuộc cõi người nên không thể bay lên cõi văn chương Nghĩ mà tiếc cho những năm tháng đã qua, chỉ hiểu đời có một nửa, chỉ biết người có một nửa, cái nửa ai cũng nhìn thấy,
Trang 33còn lại bỏ hẳn cái nửa mà chỉ nhà văn mới nhìn thấy Nên bây giờ lớn tuổi rồi
mà vẫn cứ phải đi Đi để tìm lại những cái mình đã đánh mất” [43,tr 460]
Không phủ nhận đổi mới là xu hướng tất yếu chung của văn học sau
1975, nhưng ở Nguyễn Khải, sự chuyển biến có một nét riêng cần thấy: nếu như ở nhiều cây bút khác, hiện tượng này có tính đột xuất, thậm chí dường như đứt đoạn thì ở Nguyễn Khải trước sau vẫn thấy có chỗ liên tục Bởi vì, như trên đã nói, ông đã có những dấu hiệu “nổi gió” sớm từ giai đoạn trước
Có điều trước cái mốc đánh dấu cuộc chuyển biến kia, ông không bao giờ dám đặt kinh nghiệm cá nhân, trí tuệ cá nhân ngang hàng với kinh nghiệm và trí tuệ cộng đồng Đại hội VI của Đảng với tinh thần dân chủ và khẩu hiệu nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, dường như đã đáp ứng được nhu cầu và niềm mong đợi của Nguyễn Khải cũng như của rất nhiều thế hệ các nhà văn đương thời Nhưng tác động của sự kiện lịch sử này đâu chỉ có thế Đất nước
mở cửa, những thông tin mới lạ chưa từng thấy về chính trị, kinh tế, về khoa học kỹ thuật, về văn hóa nghệ thuật… trên khắp thế giới, những biến động dữ dội trong nước, ngoài nước đã khiến cho trí thức văn nghệ sĩ cũng không thể chủ quan với cách suy nghĩ của mình bấy lâu nay Trước đây, vốn là người thông minh và sắc sảo, Nguyễn Khải những tưởng có thể làm chủ được thế giới này bằng trí tuệ của mình Nhưng những biến động của thời cuộc đã tác động mạnh mẽ đến thế giới quan và tư duy nghệ thuật của nhà văn Đây là một sự giác ngộ đầy thú vị, vì nó rất phù hợp với khuynh hướng cảm hứng vốn có của Nguyễn Khải: thích quan sát, nghiên cứu, khám phá sự đời
Nguyễn Khải đã nhận ra khoảng cách giữa văn chương và chính trị, điều mà trước đây ông mới cảm thấy mơ hồ: “hình như có khoảng cách nào
đó giữa người cầm bút và người cầm quyền Người cầm bút chỉ chăm chú tới tính chân thật của một tác phẩm nghệ thuật và anh ta sẵn sàng phơi bày ngay
cả những thói xấu kín mặt của chính bản thân để đạt tới sự chân thật đó Còn
Trang 34với người cầm quyền thì có những sự thật không nên nói, không thể nói, lại
có những sự thật chỉ được nói khi có dịp, có thời Bên nào cũng có cái lí của mình Phần tôi, mỗi lần có sự va chạm ấy tôi luôn luôn là người nhân nhượng trước tiên” [43,tr 471] Có phải vì sự nhân nhượng đó mà nhiều trang viết của Nguyễn Khải trước đó và cả sau này không tới đích? Nhiều nhân vật đôi khi còn gượng gạo lưng chừng? Và chính ông nhiều lần nhìn lại cũng cảm thấy mình đánh mất điều gì đó? Nhiều trang “đã làm tôi xấu hổ và rất buồn Những trang viết chủ quan kiêu ngạo, chỉ khẳng định có một niềm tin, một lẽ sống, rồi dạy dỗ, rồi lên án, rồi chế giễu tất cả những gì khác biệt với mình, đọc lại thật đáng sợ Thế giới như nhỏ lại, nhạt đi, căng thẳng” [43,tr465] Cái tôi nghiêm khắc của Nguyễn Khải chân thành bày tỏ niềm nuối tiếc “cho những năm tháng đã sống vất vả, sống hào hùng rút lại chỉ là những bài học nhạt nhẽo, không có chi tiết nào là thật, không một khung cảnh nào cám dỗ, ám ảnh” [43,tr 624] Nhu cầu nhận thức lại đã khiến tác giả có phần cực đoan và nói quá lên như vậy, nhưng rõ ràng đó là niềm nuối tiếc có thật về những gì
mà chính ông và những người cùng thế hệ với ông đã trải qua Cảm giác tiếc nuối thường bắt nguồn sâu xa từ sự xót tiếc và bất lực trước thời gian, Nguyễn Khải không phải là ngoại lệ “Bao nhiêu năm trời cứ loay hoay tìm kiếm nền văn học mới, con người mới với những băn khoăn ngộ nhận, những đánh giá quá khích về nhiều tác phẩm của bạn bè, tới lúc nhận rõ cái đúng sai, hay dở
thì đã già mất rồi” Do thế, khi Nguyễn Minh Châu Đọc lời ai điếu cho một
giai đoạn văn nghệ minh họa, Hoàng Ngọc Hiến khẩn thiết đề nghị các nhà
văn hãy giã từ một nền văn học phải đạo, thì chính Nguyễn Khải cũng tự nổi gió và đổi mới trong mình Viết lời đề từ cho Gặp gỡ cuối năm, Nguyễn Khải
đã bộc lộ nỗ lực nắm bắt hiện thực bằng cái nhìn nhiều chiều linh hoạt: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng,
Trang 35màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”
Tính phong phú của hiện thực khiến nhà văn không còn đánh giá con người một cách chủ quan duy ý chí như xưa nữa Nếu trước kia con người trong tác phẩm của ông thường gắn với lý tưởng xã hội, họ đóng vai trò xã hội, trong một tầng lớp nào đấy và con người cũng được soi chiếu từ đấy; thì sau Đổi mới con người được định vị với những giá trị có tính chất căn bản bền vững, phổ quát chứ không chỉ tiên tiến hay lạc hậu, đề cao hay phê phán theo giá trị cách mạng mà còn được soi chiếu trong những giá trị tinh thần văn hóa Ông tự đánh giá mình: “Tôi đã có những quan niệm đúng hơn về con người Việt Nam hiện tại, về những nhân vật văn học có khả năng làm bạn với người đọc lâu dài Khi đã ngộ được cái điều quan trọng ấy thì rơm rác dọc đường, cát bụi chuyến đi đều là vàng mười cả” [43,tr 465] Như vậy, trong nhận thức của Nguyễn Khải, điều nhà văn cho là quan trọng và then chốt nhất với sáng tạo, chính là quan niệm hay cái nhìn của người nghệ sĩ chứ không phải ở đề tài Vì bản thân đề tài hay đối tượng miêu tả không có tính đẳng cấp sang - hèn, nông - sâu, hay - dở
Sau sự kiện Đại hội Đảng VI, hầu hết các nhà văn đều thống nhất trong một nhận thức chung: hiện thực không phải là một thực thể đơn giản, dễ nhận thức; con người là một sinh thể phong phú phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá; nhà văn phải là người có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình nữa; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết giáo mà là những người bạn
để giao lưu, đối thoại một cách bình đẳng Giới cầm bút thời gian này còn có
sự thức tỉnh ngày càng sâu sắc về ý thức cá nhân Mỗi người đều muốn là một tiếng nói riêng, đều muốn tạo cho mình một bút pháp, phong cách riêng Tất
Trang 36nhiên, ý thức cá nhân, bản thân nó không tạo ra được nghệ thuật Ở đây, tâm
và tài mới quyết định Nhưng dù sao, khát vọng khẳng định cá tính và sự nỗ lực trăn trở nhằm tạo cho mình một tiếng nói riêng của giới cầm bút cũng tạo
ra được một phong trào, một không khí có sức kích thích cổ vũ, từ đó đã xuất hiện những tài năng tiêu biểu cho thời đại văn học mới Nổi bật trong lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải Cả hai nhà văn đều kiên quyết từ chối cái nhìn lý tưởng hóa con người, để hiện thực hiện lên với tất cả cái xù xì, góc cạnh đầy phức tạp của nó Nếu Nguyễn Minh Châu chọn số phận cá nhân trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn thời hậu chiến làm đối tượng khám phá thì Nguyễn Khải đặc biệt tâm đắc với những con người xưa cũ, trong biến động thời cuộc vẫn giữ được cốt cách riêng Nhà văn nhận ra con người là một sinh thể đầy phức tạp, lưỡng diện và không đồng nhất với chính mình Bởi vậy, ông chọn nhân cách và tư tưởng của nhân vật là đối tượng chính để khai thác Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Khải, những nhận thức mới về con người được nâng lên thành triết lí: “Cái thế giới tinh thần của con người là vô cùng phức tạp vì sự vận động của nó là luôn luôn nhắm tới cái thật cao và thật xa”, hay: “Vẫn là con người Việt Nam mình
mà gặp thêm một người lại tuồng như buộc mình hiểu lại chút ít về con
người” (Hai ông già ở Đồng Tháp Mười)
Như vậy, có thể nhận thấy, giai đoạn đầu, do ảnh hưởng của hoàn cảnh
xã hội và định hướng chung, Nguyễn Khải cũng chịu sự ràng buộc của quan niệm “phản ánh hiện thực” phần nào giản đơn máy móc Hệ quả là cây bút này hầu như chỉ có nhu cầu hướng ngoại, cố gắng khuôn mình trong vai trò một nhà luân lý có phong cách Bởi vậy, người ta thường nhận thấy, Nguyễn Khải thật sắc sảo khi nêu vấn đề nhưng lại luôn tỏ ra khiên cưỡng nhợt nhạt khi giải quyết vấn đề Vì khi xử lý vấn đề, ông đã hoàn toàn tuân thủ quan niệm chung về hướng vận động của hiện thực Nhưng từ cuối những năm 80
Trang 37trở đi, thế giới nhân vật của Nguyễn Khải không còn chỉ là những cái bóng của nhà văn nữa mà thực sự là bản thân chúng với sự vận động phát triển theo quy luật của khách quan Điều này đã tạo ra một hệ thống nhân vật phong phú, sự đa thanh trong giọng điệu – là những điểm hấp dẫn của sáng tác Nguyễn Khải ở giai đoạn sau này
2.2 Đặc điểm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
Có thể có nhiều tiêu chí để phân loại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải… Mỗi cách phân loại đó ít nhiều đều chứa đựng những mặt khả thủ nhất định nhưng đồng thời cũng không loại trừ cả những giới hạn Hiện tượng chồng chéo, lặp lại đôi khi không tránh khỏi Do vậy, rất khó có thể khẳng định phương pháp phân loại nào là tối ưu về nhân vật trong truyện ngắn ông Qua khảo sát các tác phẩm của nhà văn, căn cứ vào một số đặc điểm về cấu trúc, tính cách, số phận, vai trò của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tôi bước đầu phân chia nhân vật trong truyện ngắn ông thành một số kiểu loại cơ bản như sẽ trình bày dưới đây Dĩ nhiên, cách phân loại này cũng chỉ mang tính chất tương đối Bên cạnh những tiêu chí liên quan đến cấu trúc nội tại của nhân vật kể trên, trong quá trình phân loại chúng tôi cũng chú trọng đến phương diện thời gian để nhìn thấy sự vận động và biến đổi về thế giới nhân vật của Nguyễn Khải ở mỗi chặng đường sáng tác Từ đó, những chuyển biến trong thế giới quan và tư duy nghệ thuật tác giả cũng được làm sáng tỏ
2.2.1 Nhân vật tư tưởng
Có thể hiểu, nhân vật tư tưởng là "loại nhân vật tập trung thể hiện một
tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội" [36,tr 201] Nhân vật tư tưởng cũng có thể chứa đựng những phẩm chất tính cách, cá tính
và nhân cách Tuy nhiên, những yếu tố ấy không phải là hạt nhân cơ bản tạo
Trang 38nên cấu trúc của nó mà chính là một tư tưởng, một ý thức nào đó Trong sáng tác văn chương, kiểu nhân vật này vốn đã xuất hiện từ lâu Tùy vào mỗi thời đại lịch sử, mỗi nhà văn khác nhau mà loại nhân vật tư tưởng có thể được xây dựng với những khuynh hướng và sắc thái khác nhau Riêng ở truyện ngắn Nguyễn Khải, kiểu nhân vật này xuất hiện khá phổ biến, đặc biệt là trong những tác phẩm được sáng tác trước 1975
Nằm trong dòng mạch chung của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –
1975, sáng tác Nguyễn Khải (trong đó có truyện ngắn) cũng chịu sự chi phối sâu sắc của hoàn cảnh lịch sử Nhằm đáp ứng yêu cầu của hai cuộc chiến tranh vệ quốc, văn học luôn bám sát nhiệm vụ chính trị đồng thời tự ý thức được vai trò vũ khí tư tưởng của mình Các thế hệ nhà văn tiền nhiệm và cùng thời với Nguyễn Khải hầu hết đều thấm nhuần tinh thần ấy Do thế, đọc truyện ngắn ông trước 1975, thấy xuất hiện phổ biến hình tượng những “con người mới”, những con người luôn sống vì cộng đồng, hi sinh hết thảy mọi lợi ích và quyền lợi cá nhân cho tập thể Có thể thấy rõ điều này qua các nhân vật
Biền trong Tầm nhìn xa, Nam trong Hãy đi xa hơn nữa, Lâm trong Nguồn
vui… Phần lớn các nhân vật vừa nêu đều là những chiến sĩ năm xưa, nay lại
tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng đời sống mới xã hội chủ nghĩa Nhân vật tư tưởng của Nguyễn Khải thường ít hoạt động, chủ yếu là suy nghĩ
và triết lý Người ta thường nhận ra kiểu nhân vật này qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm, qua những lời bình luận triết lý hoặc cũng có khi là tác giả sốt sắng nói hộ cho nhân vật Có thể nói, Lâm, Biền, Cừ đều là những con người tiêu biểu cho xã hội mới mà nhà văn đang nhiệt tình khẳng định vai trò quan trọng của họ trong quá trình kiến thiết, đắp xây cuộc sống mới Những người ấy luôn ấp ủ tha thiết ý nghĩ: phải làm sao cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn,
xã hội ngày càng nhân đạo hơn
Trang 39Truyện ngắn Hãy đi xa hơn nữa là cảnh ấm cúng, hạnh phúc của một
mái ấm gia đình Nhân vật Nam đã băn khoăn lo lắng đến sự xa rời dần tập thể và nhận thấy hạnh phúc gia đình lắm lúc là sợi dây ràng trói sự vươn lên của con người: “Khi tôi chưa về sống hẳn ở đây, nhà tôi năng đi họp hơn, học văn hoá cũng đều hơn, quan tâm đến cái chung hơn ( ) nhưng bây giờ chồng con ríu rít cả ngày, có đi đâu một lát cũng tiếc ( ) ngày trước mỗi lần tôi về, nhà tôi thường kể lại nhiều những chuyện của đội sản xuất, những chuyện chung Nhưng bây giờ mọi sự bàn bạc đều không vượt qua cái ngưỡng cửa, có
vẻ chí thú quá, như rắp tâm làm giàu hay sao ấy ( ) khi cuộc sống trong cái hạnh phúc bình thường thì càng muốn đầy đủ mãi, vun đắp mãi, không bao giờ thấy vừa lòng, những tính nết xấu xa sẽ từ đó sinh sôi nảy nở, khó có thể ngăn lại đươc ( ) sợi dây ràng buộc của gia đình là ghê gớm lắm, năm tháng qua đi, lúc đầu còn cựa quậy, nhưng lâu dần lại chính anh dần thắt lại, như con diều hâu ấy mà, không sao thoát ra được nữa”. [21,tr 256] Như vậy, chướng ngại vật ngăn cản con đường đi lên của mỗi cá nhân chính là những lợi ích riêng của gia đình nhỏ bé Đó là ý nghĩa triết lý toát ra từ lời tự bạch của nhân vật Nam
Đến tác phẩm Tầm nhìn xa, tư tưởng ấy của Nguyễn Khải lại được
nâng lên một bước nữa Nhân vật Biền đứng trước nong thịt trâu với ý muốn mua vài lạng cho con đã phải băn khoăn: “Chỉ cần tôi nói với vào một câu: ông Lũng để cho tôi một cân nhé Lập tức ông lão sẽ chọn một miếng ngon nhất đưa ra Nhưng nhìn theo miếng thịt ấy sẽ có hàng trăm con mắt và sau đó
là hàng trăm lời bàn tán xì xào Miếng thịt không đáng là bao, cũng không cướp giật từ tay người nào nhưng có thể từ sau lúc tôi cầm cân thịt người ta sẽ nhìn tôi bằng con mắt khác, nghe tôi nói với cái tai khác, nghĩ về tôi với những ý nghĩ khác” Cái lợi ích cá nhân, dù là rất nhỏ bé nhưng qua sự phân tích của nhân vật Biền đã trở thành kẻ thù đáng kể đối với công cuộc xây
Trang 40dựng xã hội chủ nghĩa Những suy nghĩ ấy cho thấy anh là người sống vì tập thể, là mẫu người lí tưởng của thời đại mà nhà văn đã dụng công miêu tả trong tác phẩm
Đứa con nuôi là tác phẩm mà trong đó Nguyễn Khải đã gửi gắm một
thông điệp sâu sắc về đời sống thông qua nhân vật Cừ Ở truyện ngắn này, Cừ hiện lên với tư cách một chính trị viên nông trường giàu lí tưởng, phẩm chất
hi sinh và lòng nhân ái Vợ chồng anh đã giang tay cứu vớt cuộc đời bé Tấm Anh cho rằng: “Ngoài tình bố con mà anh ấp ủ, anh còn thấy mình có trách nhiệm với một thế hệ đang lớn lên Phải gây cho nó lòng tin yêu, có cách sống thẳng thắn, cởi mở thì sau này nó mới trở thành một công dân tốt của một xã hội hết sức mới mẻ (…) Phải chú ý đến trẻ con, phải giáo dục, cải tạo chúng, phải làm cho chúng nó được sống trong các không khí hoàn toàn mới mẻ của
xã hội chủ nghĩa” [21,tr 244] Như thế, ở đây, tư tưởng đề cao và ngợi ca con người sống có trách nhiệm, tình thương yêu đối với cộng đồng thêm một lần nữa được khẳng định Sự quan tâm, trăn trở về vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ của nhà văn (gửi gắm qua lời nhân vật Cừ) khiến ta vô cùng cảm động Đó có lẽ không phải là vấn đề của một thời mà là vấn đề của mọi thời Bên cạnh cảm hứng miêu tả “con người mới” hy sinh mọi quyền lợi cá nhân vì cộng đồng như đã trình bày ở trên, đọc truyện Nguyễn Khải chúng tôi còn bắt gặp một mạch nguồn tư tưởng khác được nhà văn chú ý bộc lộ ở khá nhiều tác phẩm đó là: cuộc sống con người có thể được hồi sinh trong môi trường sống mới – môi trường xã hội chủ nghĩa Trong những tác phẩm này, nhà văn đã chăm chú theo dõi quá trình đổi thay số phận của các nhân vật ở
những vùng đất mới Tiêu biểu trong số đó là Đào (Mùa lạc), Tấm (Đứa con
nuôi), Thoa (Chuyện người tổ trưởng máy kéo)…
Trong Mùa lạc, Đào là một phụ nữ từng nếm trải bao nỗi bất hạnh Chị
đến Điện Biên mong tìm chỗ dừng chân sau bao tháng ngày bươn chải vất vả