Nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ được nhìn nhận chủ yếu ở đặc điểm khao khát hạnh phúc và gặp nhiều bi kịch.Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy chưa có công trìn
Trang 1NGUYỄN THỊ THUỶ
THẾ GIỚI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 602232
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2011
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS.Nguyễn Thị Kiều Anh, người hướng dẫn khoa học, đã tận tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn khoa ngữ văn, cảm ơn phòng Đào tạo sau
đại học- trường Đại học sư phạm Hà nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ,
động viên chúng em trong khoá học
Nhân dịp này, xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Sở Giáo dục và
Đào tạo Bắc Giang, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ Thuật tỉnh Bắc Giang
và tất cả bạn bè, đồng nghiệp, cùng những người thân yêu trong gia đình đã dành cho tôi sự giúp đỡ, chia sẻ rất quý báu trong suốt thời gian học tập nghiên cứu
Bắc Giang, tháng 6 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 3Thực hiện luận văn này, tôi xin cam đoan số hiệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung luận văn không hề trùng lặp với các
đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn hoàn toàn chính xác, được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tôi xin đề nghị Hội đồng khoa học xem xét và ghi nhận kết quả quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Giang, tháng 6 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỷ
Trang 4Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 0
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Đóng góp của luận văn 7
8 Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 8
1.1 Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật 8
1.1.1 Khái niệm về nhân vật 8
1.1.2 Khái niệm về thế giới nhân vật 10
1.2 Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học 12
1.3 Các loại nhân vật văn học 12
1.4 Nhân vật nữ trong văn học 14
1.4.1 Nhân vật nữ trong văn học thế giới 14
1.4.2 Nhân vật nữ trong văn học Việt Nam 17
1.4.3 Nhân vật nữ và quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ 24
CHƯƠNG 2 : CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 34
2.1 Nhân vật bi kịch 34
2.2 Nhân vật kiếm tìm hạnh phúc 45
2.3 Nhân vật tự vấn 49
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 56
3.1 Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật 56
3.1.1 Nghệ thuật chọn tình huống có tính chất tâm lí 57
3.1.2 Nghệ thuật khám phá tâm lý nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm 58
3.2 Giọng điệu 64
3.2.1 Giọng điệu phân tích, chiêm nghiệm 65
3.2.2 Giọng khinh bạc, xót xa 66
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật 69
3.3.1 Không gian, thời gian hiện thực đời thường 70
3.3.2 Không gian, thời gian ảo 76
3.3.3 Không gian, thời gian tâm trạng 78
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ năm 1975, nhất là sau năm 1986, nền văn xuôi Việt Nam đã có nhiều khởi sắc Một trong những yếu tố làm nên sự phong phú, đa dạng của văn học giai đoạn này chính là sự xuất hiện ngày càng nhiều của các cây bút
nữ Bên cạnh những cây bút nữ tên tuổi một thời như Vũ Thị Thường, Dương Thu Hương là đội ngũ những cây bút trẻ trung hơn, sôi nổi hơn như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh và gần đây là một loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Di Li Với những nỗ lực đáng ghi nhận, họ đã tạo
ra những “lối nẻo riêng” cho mình
Tác giả Bích Thu qua các bài viết: “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau năm 1975 qua hệ thống mô típ chủ đề”, “Những thành tựu truyện ngắn sau năm 1975”, “Văn xuôi của phái đẹp”, đã đánh giá cao các sáng tác
của các nhà văn nữ trẻ Tác giả cho rằng đó là “Một lớp trẻ dồi dào nhân lực”[52] Và bằng tầm nhìn bao quát của một nhà phê bình, Bích Thu nhận định: “Sự xuất hiện rầm rộ của các cây bút trẻ đã làm thay đổi bộ mặt và dáng
vẻ của văn xuôi hôm nay”[53] Không chỉ quan sát sự xuất hiện của đội ngũ tác giả nữ, Bích Thu còn có những ý kiến đánh giá về giá trị văn xuôi phái đẹp rất tinh tế: “Văn chương của phái đẹp hiện nay sắc và sâu khi khai thác đề tài thế sự đời tư với nội dung nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng và bén ngọt, diết dóng mà đồng cảm, sẻ chia với những thân phận, những con người sống quanh mình” [54]
Ngoài ra, còn có một số tác giả trong bài viết của mình cũng đề cao các cây bút nữ Phạm Xuân Nguyên đánh giá: “Một nét đặc điểm của mùa truyện ngắn hôm nay là sự xuất hiện đông đảo tự tin của đội ngũ viết trẻ và
Trang 6nhất là các cây bút nữ ( ) Trên trang viết của họ nỗi buồn, nỗi đau nhân thế luôn được nhìn nhận khía cạnh tinh tế rất phụ nữ” [33] Vũ Tuấn Anh trong
bài viết “Đổi mới văn học vì sự phát triển” cũng ghi nhận các cây bút nữ đã
có được “những dấu ấn cá nhân trong tư duy nghệ thuật và cách thể hiện” [1]
Trong số những cây bút nữ nổi lên ngay từ những năm 1990 đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ được xem là một gương mặt đáng chú ý, một cây bút có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn Chị đã chinh phục người đọc bằng ngòi bút tinh tế, giản dị mà cũng rất từng trải, thâm trầm Sinh năm 1966, tuổi nghề cũn trẻ nhưng chị đã đạt được những thành tựu đáng kể Thu Huệ đạt giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (1986); giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh của báo Tiền phong (1993) Cùng năm đó, chị còn vinh dự nhận giải A cuộc thi viết về đề tài Hà Nội của Hội Nhà văn năm 1994, chị đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn
nghệ Quân đội tổ chức và nhận thưởng của Hội Nhà văn cho tập truyện “Hậu thiên đường” Qua những trang viết của chị, có thể nhận ra một tư duy khá
sắc sảo và sở trường nắm bắt những cái mới, thời sự của cuộc sống đương đại Phần lớn truyện ngắn của chị đều thể hiện cái nhìn nhạy bén, phản ánh các vấn đề gay gắt của cuộc sống hiện đại, khai thác những góc uẩn khúc “Thế giới bên trong” của con người Tác phẩm của chị góp phần làm rõ hơn những nét mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật về con người cá nhân, cá thể, con người nhiều chiều trong “Tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Trong đó nhân vật phụ nữ được đặc biệt quan tâm Đó là những con người hiện đại, mạnh
mẽ, dám sống thực với mình Họ có thể là những người đàn bà từng trải, bao dung với con cháu; những người mẹ, người vợ lo toan cho gia đình và phấn đấu cho sự nghiệp; những cô gái háo hức vào đời; những người phụ nữ khát khao hạnh phúc, tìm kiếm tình yêu…Và đặc biệt là đằng sau mỗi người phụ
Trang 7nữ bao giờ cũng ẩn chứa nhiều điều mà không phải lúc nào họ cũng muốn bộc
2 Lịch sử vấn đề
Là cây bút đều đặn, miệt mài và thành công hơn cả ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Thị Thu Huệ và tác phẩm của chị đã thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình
Trong bài viết “Thế hệ thứ ba” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội
10/1994, nhà văn Hồ Phương nhận xét: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây bút hết sức sắc sảo Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại lọc lõi thế Nó như con phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biết cả” [36]
Trong bài: “Hồi ức một binh nhì và Bến trần gian”, tác giả Kim Dung
lại cho rằng: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt – vừa “bụi bặm” trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, văn của chị vừa táo bạo vừa thanh khiết Một cái gì đó không thuần nhất, không đơn giản, thậm chí có khi còn đối chọi nhau trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ”[6]
Bùi Việt Thắng (1994) nhận xét về nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ: “Nhân vật nữ của Thu Huệ thường cô đơn, dường như tác giả quan niệm nó là mặt trái của tình yêu thương” [46] Tác giả còn chỉ rõ: “Một
sự vật vã khắc khoải canh cánh trong mỗi nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ”,
“cây bút trẻ này tỏ rõ sự sẻ chia, cảm thông với phụ nữ vì ai cũng mang khuôn
Trang 8mặt con gái” [46] Sau gần một thập kỷ (2002), khi phác thảo chân dung Thu Huệ trong lời giới thiệu về bốn cây bút nữ, tác giả một lần nữa khẳng định đối tượng mà Thu Huệ quan tâm tới là “Những thiên đường và hậu thiên đường của đời sống con người, đặc biệt là phụ nữ” [43]
Lý Hoài Thu (1994) trong nhận xét của mình lại đưa ra vấn đề mà Thu Huệ muốn gửi gắm qua nhân vật nữ: “Nhìn đời, nhất là nhìn nhân vật nữ, Thu Huệ nhìn ra biến thái tinh vi của bi kịch tình yêu với những biểu hiện dị thường của nó” [55] Từ bi kịch trong cuộc đời của người phụ nữ, Thu Huệ không chỉ nhìn thấy những biểu hiện dị thường tinh vi của tình yêu thời hiện đại mà còn nhận xét về thế giới đàn ông- những người gây đau khổ cho phụ nữ: “'từ những người loe xoe lôi những bông hoa trên bàn họp để tặng phụ nữ, đến anh chàng ngồi nhồm nhoàm ăn uống một cách thô tục sau khi cùng người tình lên thiên đàng về, từ cái người đàn ông ra ngõ gặp người tình sợ biết nên cầm luôn cái xô như người đi đổ rác, đến lão tuổi đã xế bóng, thích
ăn xôi sáng cho chắc bụng vẫn thèm khát tấm thân cô gái mười sáu tuổi trẻ trung và bòn rút của cô từng đồng xu một” [55],
Trong Văn nghệ Trẻ ngày 25/3/1996, qua bài viết: “Những ngôi sao nước mắt”, Đoàn Hương lại có nhận xét tinh tế về văn, về cách xây dựng
nhân vật và nghệ thuật trần thuật của Thu Huệ như sau: “Huệ có lối viết văn như bị “lên đồng” Trong truyện ngắn của mình không phải là cô “kể” cho chúng ta nghe mà là cô “lôi” chúng ta đi theo nhân vật Đó là phong cách độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ” Và theo nhà nghiên cứu: “Những nhân vật của cô, những nhân vật mà bao giờ Thu Huệ cũng để cho nó bước đi những bước chông chênh trên vực thẳm của cuộc đời không có dây bảo hiểm…Tôi ngờ rằng những nhân vật của cô, đều là một phần máu thịt của cuộc đời cô… Những truyện ngắn của Huệ được viết, được kể lại bằng chính ngôn ngữ nhân vật: nhẹ nhàng và thanh thản trong những tình huống, những cảnh ngộ lại
Trang 9không yên tĩnh chút nào Cũng như những nhân vật của cô, cô không hề lên
án một ai dù là một bà mẹ ích kỷ trong Hậu thiên đường, một người đàn ông
tầm thường, nhạt nhẽo và giả dối trong Cát đợi, hoặc những ông bố, bà mẹ quái gở trong Phù thủy,… Nhưng đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
ta thấy những trang viết không bình lặng Những nhân vật của cô làm cho ta đau đớn, âm thầm trách móc ta và thức tỉnh ta”
Nguyễn Việt Hòa, trong bài “Lãng quên và hy vọng Nhân đọc Nào ta cùng lãng quên- tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”, đã nhận xét:
“Chất lãng mạn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tương đối đặc biệt,
nó toát ra từ tâm hồn người đang đứng giữa ranh giới thiếu nữ - phụ nữ”
Nhìn nhận Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ “độc đáo và tài hoa”, ở một mức độ toàn diện, Hồ Sỹ Vịnh đã tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ trên bình diện thi pháp Theo tác giả “Nhà văn đã vượt ra ngoài phương thức miêu tả vừa thực, vừa hư, vừa trần thế vừa ảo mộng, chuyện hiện tại, chuyện dĩ vãng nhằm tạo dựng một cuộc sống có dung tích, khai thác chiều sâu những góc uẩn khúc” thế giới bên trong “của con người” [63] Tác giả còn nhận xét những nhân vật tôi trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Những nhân vật tôi trong truyện của Thu Huệ thường bắt đầu bằng cụm
từ “tôi tưởng tượng”, “tôi như bay trên chín tầng mây”, “tôi có cảm giác như mình hóa đá” tất cả đó là cảnh hư nhằm nói cái thực đa diện hơn, có kích thước hơn, có tần số ý nghĩa sâu sắc hơn Tôi gọi đó là thi pháp mở Thi pháp
mở còn được thể hiện ở chiều sâu nội cảm, nội tâm của người viết hoặc của nhân vật “tôi” Phương thức thể hiện này không chỉ làm cho hiện thực được phản ánh có chiều sâu mà còn giàu sức khái quát, sức ám ảnh lớn Đây cũng
là một đặc điểm độc đáo trong thi pháp truyện ngắn Nguyễn thị Thu Huệ
Trang 10Nhìn chung qua các bài viết, Thu Huệ được đánh giá là tác giả có khả năng nắm bắt và phản ánh hiện thực nhạy bén, sâu sắc ,có giọng văn đặc biệt Nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ được nhìn nhận chủ yếu ở đặc điểm khao khát hạnh phúc và gặp nhiều bi kịch.Tuy nhiên, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu, tìm hiểu về thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn - một trong những thành công nổi bật của Nguyễn Thị Thu Huệ Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, kết quả của người đi trước, cùng với sự đánh giá, kiến giải của riêng mình, chúng tôi triển khai đề tài “Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, khám phá thế giới nhân vật
nữ cũng như nghệ thuật xây dựng loại nhân vật này trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Từ đó khẳng định tài năng và những đóng góp của tác giả vào tiến trình văn học Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về nhân vật văn học
- Vận dụng những kiến thức lý luận trên vào việc tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Thu Huệ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Các nhân vật nữ trong truyện ngắn của
Nguyễn Thi Thu Huệ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Thu Huệ chúng tôi
dựa vào 4 tập truyện ngắn của tác giả:
Trang 11* Cát đợi (1992); Hậu thiên đường (1993); 21 truyện ngắn (2001); Nào
ta cùng lãng quên (2003)
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
- Phương pháp hệ thống lịch sử - chức năng
- Phương pháp so sánh
7 Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở lý luận về nhân vật văn học, vận dụng để tìm ra các loại hình nhân vật cùng một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu xây dựng những nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
- Khẳng định sự độc đáo của Nguyễn Thị Thu Huệ trong sáng tác truyện ngắn (trên cơ sở đối sánh với một số nhà văn nữ cùng thời), qua đó thấy được sự đổi mới về tư duy nghệ thuật cũng như vị trí của nhà văn trong nền văn xuôi đương đại
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân vật văn học và quan niệm nghệ thuật
về con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Chương 2: Các loại hình nhân vật nữ trong truyện ngắn Thu Huệ
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 121.1.1 Khái niệm về nhân vật
*Về phương diện thuật ngữ
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm Trong tiếng Hy Lạp cổ,
“nhân vật” (đọc là persona) lúc đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên
trên sân khấu Theo thời gian, thuật ngữ này đã được sử dụng với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện
Đôi khi nhân vật văn học còn được gọi bằng các thuật ngữ khác như:
“vai” (actor) và “tính cách” (character) Tuy nhiên, các thuật ngữ này, theo chúng tôi, có nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật”
Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại nhân vật hành động Còn thuật ngữ “tính cách” lại thiên về chỉ những nhân vật có tính cách Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về “suy tư”, và cũng không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt.Từ đó có thể thấy các thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát dược hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học
“Nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng khái quát những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và mọi cấp
độ Như vậy, thuật ngữ “nhân vật” là đúng đắn và đầy đủ nhất
*Một số quan niệm trong nghiên cứu, phê bình về nhân vật văn học
Trang 13Đã có khá nhiều những quan điểm khác nhau về nhân vật văn học trong giới nghiên cứu, phê bình Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số quan niệm
về nhân vật có trong từ điển và giáo trình lý luận văn học
- Trong Từ điển Văn học :
“Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật, do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [34; tr86]
Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của
nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Có thể nói đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật văn học
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đề xuất một cách
nhìn khác Nhân vật được ông xem xét trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [3; tr.241] Theo Lại Nguyên Ân, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học Nhà nghiên cứu còn quan tâm chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học
Các tác giả của cuốn Từ điển Thuật ngữ văn học quan niệm về nhân
vật có phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả
Trang 14trong tác phẩm văn học chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm” [12; tr.235]
Ngoài ra, dựa trên tiêu chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học, nhân vật còn được coi là phương tiện để nhà văn tái hiện đời sống,
mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn chương bằng
phương tiện văn học” [30; tr 277]
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, nhân vật là một khái niệm tương đối
ổn định trong nghiên cứu phê bình văn học Trước nay dù đã có khá nhiều cách định nghĩa về nhân vật, song tập trung lại các ý kiến đều gặp nhau trong
sự khẳng định: nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó
1.1.2 Khái niệm về thế giới nhân vật
“Thế giới” là một khái niệm thuộc phạm trù triết học Theo Từ điển Triết học, “Thế giới” có thể hiểu:
Theo nghĩa rộng, thế giới là toàn bộ hiện thực khách quan (tất cả những tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người) “Thế giới” là nguồn gốc của nhận thức [59; tr.1083]
Theo nghĩa hẹp, thế giới dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là toàn bộ thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu Người ta đã chia bộ phận thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực nhưng không có ranh giới tuyệt đối: Thế giới vĩ mô và thế giới vi mô [59; tr.1083]
Trang 15Như thế có thể nói “thế giới là một phạm vi rất rộng, một vũ trụ rộng lớn tồn tại xung quanh con người và độc lập bên ngoài ý thức con người
Vậy “Thế giới nhân vật” là gì? Khái niệm “Thế giới nhân vật” là một phạm trù rất rộng “Thế giới nhân vật” là một tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới ấy cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ chức và sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ Nằm trong thế giới nghệ thuật, “Thế giới nhân vật” cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học, trong sáng tác nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật, có cấu trúc riêng, có qui luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm
lý, thời gian, không gian, xã hội,… gắn liền với một quan niệm nhất định của chúng về tác giả “Thế giới nhân vật” là cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của họ trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu xã hội, với gia đình…“Thế giới nhân vật” vì thế bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật Con người trong văn học chẳng những không giống với con người trong thực tại về tâm
lý, hoạt động mà còn có ý nghĩa khái quát, tượng trưng
Trong “Thế giới nhân vật”, người ta có thể phân chia thành các kiểu loại nhân vật nhỏ hơn (nhóm nhân vật) dựa vào những tiêu chí nhất định Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khóa để bước qua cánh cửa và bước vào khám phá thế giới nhân vật đó Do đó, nghiên cứu “Thế giới nhân vật” cũng khác với phân tích hình tượng nhân vật Trong lịch sử văn học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có “Thế giới nhân vật” riêng Mỗi thể loại văn học cũng có “Thế giới nhân vật” với qui luật riêng của nó
Trang 161.2 Chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống trong tác phẩm văn học Nó không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi
“tập trung giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm”
Trong cuốn Văn chương dẫn luận, G.N.Pospelov nhấn mạnh: “Nhân
vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu [38;tr 43] Nhân vật là yếu tố vừa thuộc về nội dung vừa thuộc về hình thức tác phẩm Nhân vật là điều kiện thiết yếu để sự khám phá, sự đánh giá - lý giải, sự miêu tả mang tính nghệ thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều sâu và có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả Có thể nói, yếu tố nhân vật chi phối mạnh mẽ đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm
Nhân vật văn học sẽ có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khác nhau trong tác phẩm Nhìn một cách tổng quát, các chức năng đó là :
Thứ nhất, miêu tả và khái quát các loại tính cách trong xã hội
Thứ hai, là công cụ để nhà văn sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác
phẩm, là chiếc chìa khóa để nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực đời sống vô cùng rộng lớn, đặt ra những vấn đề mới mẻ, sâu sắc
Thứ ba, biểu hiện tư tưởng, quan niệm của nhà văn về con người và
cuộc sống
Thứ tư, quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các
yếu tố thuộc hình thức tác phẩm
Hiểu được chức năng của nhân vật văn học, người viết sẽ có thêm cơ sở
lý luận để nghiên cứu đề tài này
1.3 Các loại nhân vật văn học
Trang 17Nhân vật văn học là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng Nhân vật càng độc đáo thì thường không có sự lặp lại Song nhìn tổng thể trong tác phẩm văn học, các nhà nghiên cứu văn học đã chia thế giới nhân vật thành các kiểu loại khác nhau để dễ tiếp nhận, phân tích, đánh giá
Thứ nhất, dựa vào vai trò của nhân vật với nội dung và hình thức của tác phẩm có nhân vật chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ Trong đó nhân vật chính đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều và liên quan đến các sự kiện chủ yếu trong tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình Trong nhân vật chính lại nổi lên nhân vật trung tâm xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, về mặt ý nghĩa, đó là nơi qui tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm Còn lại là các nhân vật phụ mang tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung
Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm tính cách của nhân vật và lý tưởng xã hội thẩm mỹ của nhà văn lại có thể chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Hai kiểu nhân vật này cũng mang tính lịch sử Trong đó nhân vật chính diện mang lý tưởng, quan niệm đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại, được nhà văn khẳng định, đề cao, còn nhân vật phản diện ngược lại, mang phẩm chất xấu trái với lý tưởng đạo đức, đáng lên án và phủ định
Thứ ba, dựa theo sự phân chia loại thể theo truyền thống của Aristôt thì gồm có nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch Trong đó nhân vật trữ tình được thể hiện chủ yếu qua thế giới tinh thần, nội tâm và cảm xúc phong phú Nhân vật tự sự là nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm tự sự (truyện, tiểu thuyết, ký…), thường được hiện lên đầy đủ từ ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đến nội tâm bên trong Nhân vật tự sự là con người đời thường tham gia vào các tình huống khác nhau của đời sống để tạo thành chuỗi các tình tiết xung đột trong tác phẩm Bên cạnh đó nhân vật kịch là loại nhân vật hiện lên
Trang 18chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ, cử chỉ, lời nói và xung đột, ít được miêu tả
Nhân vật loại hình là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời Đó là nhân vật nhằm khái quát cái chung về loại của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điển hình Loại nhân vật này bao giờ cũng có một số phẩm chất loại biệt về mặt xã hội được nêu bật hơn hẳn các tính chất khác Dĩ nhiên nhân vật loại hình như mọi nhân vật văn học khác, đòi hỏi một cá tính nhất định, được thể hiện một cách sinh động qua các chi tiết cụ thể, sinh động, chân thực
Nhân vật tính cách là lọai nhân vật có tính cách nổi bật, được xây dựng
cụ thể, sinh động như con người thực ngoài đời
Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật có tư tưởng, nhân cách nhưng cơ bản thể hiện tập trung tư tưởng của tác giả
Trên đây là những loại nhân vật thường gặp Sự phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối, nó chỉ nhằm nhấn mạnh nét trội, nét đặc trưng cơ bản của một nhân vật nào đó
1.4 Nhân vật nữ trong văn học
1.4.1 Nhân vật nữ trong văn học thế giới
Phụ nữ là linh hồn của cuộc sống muôn loài và là sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa Tuy nhiên sự phản ánh họ trong văn học - cái nhìn nghệ thuật của
Trang 19nhà văn thì mỗi người, mỗi thời lại khác nhau Hình tượng người phụ nữ vì vậy cũng mang những nét cá tính riêng, độc đáo; giữa các nhân vật không bị hòa lẫn, khu biệt nhau nhờ một sức sống riêng mà nhà văn truyền cho nó
Nếu như trước đây, nhân vật nữ được phản ánh trong văn học còn đơn điệu theo một mục đích phê phán hay ngợi ca từ cái nhìn đạo đức; sử dụng nhân vật để chuyển tải một quan điểm, tư tưởng thì giờ đây, đặc biệt trong những cuốn tiểu thuyết lớn trên thế giới có giá trị, hình tượng nhân vật nữ đã
có sự “lột xác” Nhà văn đã xem phụ nữ như một khách thể thẩm mỹ độc lập, như một thế giới riêng đầy bí ẩn và hấp dẫn cần được khám phá và lý giải Người phụ nữ hiện lên trong vẻ đẹp nhiều chiều, trong những bi kịch lớn lao của xã hội Họ dù xuất hiện dưới góc độ nào cũng vô cùng sống động Dưới đây chúng tôi xin dẫn ra một số tên tuổi các nhân vật nữ được yêu mến, để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả như:
Scalett Ohara kiêu kỳ trong Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell
Nhân vật này có sức cuốn hút thật kỳ lạ: vừa mạnh mẽ can trường, vừa yếu đuối mỏng manh; vừa thông minh tinh ranh vừa ngờ nghệch Con người này cũng có lúc cao thượng tốt đẹp sẵn sàng hy sinh nhưng cũng không kém phần xảo quyệt toan tính Những mâu thuẫn trong tính cách cùng những giằng xé trong nội tâm tạo cho Scalett sức hấp dẫn mãnh liệt đối với độc giả
Bên cạnh Scalett đầy cá tính, dám sống đúng với con người thực của
mình thì nhân vật Maggie trong Tiếng chim hót trong bụi mận gai lại được
Colleen Macugh bao bọc cho một màu sắc lãng mạn Người đàn ông mà cô yêu thương duy nhất lại tôn thờ Chúa và coi đó là tình yêu lớn nhất của đời mình Đau khổ tuyệt vọng nhưng Maggie không chịu đầu hàng, quyết đấu tranh suốt cả cuộc đời để giành lấy tình yêu của cha Raphl với Chúa Nàng luôn khao khát yêu thương dù trong khoảnh khắc Cuốn tiểu thuyết đã phản
Trang 20ánh những khao khát rất đỗi bình dị của người phụ nữ Và độc giả đã thương cảm cho một mơ ước được yêu thương trọn vẹn không bao giờ thành hiện thực ở Maggie
Và với một tâm hồn trong sáng đôn hậu, Natasa trong Chiến tranh và hòa bình của L.Tônxtôi được ví như “hạt ngọc” biểu trưng cho vẻ đẹp của
người phụ nữ Nga Chân dung nàng hiện lên trong tác phẩm chân thực mà sinh động, không chút kiểu cách khác hẳn với Lida hay Elen Cũng chính tâm hồn nhạy cảm giàu chất nhạc ấy, Nata đã vực dậy một tâm hồn ngỡ đã khô cằn, giúp Andray lại tiếp tục sống, yêu thương
Có thể nói, bất cứ ở đâu, trên quốc gia nào, dân tộc nào người ta cũng nhận thấy người phụ nữ, người vợ, người mẹ là nguồn đề tài bất tận trong sáng tạo nghệ thuật M Gorki đã từng khẳng định: “Không có phụ nữ thì hoa hồng không nở, không có người mẹ thì không có thiên tài” Nhà văn vì thế đã khắc
họa thành công hình ảnh người mẹ trong truyện ngắn Một con người ra đời
Trong thơ ca, người phụ nữ luôn là đề tài mà ở đó chứa đựng sức biểu
cảm, rung động mạnh mẽ nhất Với Aragông, nhà thơ tự nhận mình được Tái sinh từ tình yêu Enxa Một con người đời thực, một người vợ, người bạn tuyệt vời, Enxa đã trở thành hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ để nhà thơ thể hiện
những suy tư, tình cảm trước cuộc đời Nếu không có người phụ nữ, Puskin
cũng không thể có được Tôi yêu em và trở thành nhà thơ tình bậc nhất
Văn học nghệ thuật đã tạo ra những hình tượng nhân vật nữ tuyệt đẹp, hay nói cách khác, chính vẻ đẹp huyền diệu tỏa ra từ hình thức, từ tâm hồn người phụ nữ đã thu hút các nhà văn, nhà thơ khám phá và lý giải Do đó mảng đề tài văn học về phụ nữ bao giờ cũng khiến độc giả quan tâm sâu sắc
Trang 211.4.2 Nhõn vật nữ trong văn học Việt Nam
Như đó núi ở phần trờn, hỡnh tượng người phụ nữ là một trong những
đề tài lớn cú sức hấp dẫn của văn học thế giới Trong văn học Việt Nam, qua từng thời kỳ, hỡnh tượng người phụ nữ cũng chứa đựng rất nhiều vẻ đẹp
*Trong văn học dõn gian (chủ yếu trong truyện cổ tớch và trong ca
dao) Truyện cổ tớch là những giấc mơ đẹp của người xưa về xó hội cụng bằng, con người được sống trong no ấm, hạnh phỳc Cỏc tỏc giả dõn gian đó thể hiện những giấc mơ đú qua hai tuyến nhõn vật rừ ràng đại diện cho cỏi Thiện và cỏi Ác Ở cổ tớch, tiờu chớ về cỏi đẹp của nhõn vật nằm ở chớnh nghĩa của họ Cú chớnh nghĩa thỡ họ sẽ gặp được người tốt giỳp đỡ, nhận được những phộp màu kỳ diệu, cũn phi nghĩa thỡ phải nhận sự trừng phạt thớch đỏng Bởi thế nhõn vật nữ trong cổ tớch cũng cú sự phõn tuyến rừ ràng theo tiờu chớ “tuyệt đối”, tuyệt đối tốt hoặc tuyệt đối xấu, khụng cú nhõn vật nào phức tạp, bớ ẩn Nhõn vật nữ đại diện cho lý tưởng tốt đẹp của nhân đân thường có số phận bi thảm, tiêu biểu cho những con người “thấp cổ bộ họng”
Đú là những kẻ mồ cụi, khụng nơi nương tựa, bị tước đoạt mọi quyền lợi, cú khi phải chết đi sống lại nhiều lần Nhõn vật nữ đại diện cho cỏi thiện, cho lý tưởng và khỏt vọng về tự do về hạnh phỳc và cụng bằng xó hội bao giờ cũng
là người cú những phẩm chất như biết thương người, biết làm trũn bổn phận, biết thực hiện lời hứa, tuõn theo những chuẩn mực đạo đức truyền thống của nhõn dõn Họ thường là những người cú lũng nhõn hậu, bao dung Cụ Út lấy
Sọ Dừa, Tiờn Dung lấy Chử Đồng Tử đú chớnh là sự thể hiện lũng tốt, lũng thương người, là sự cụng bằng theo quan điểm của người xưa Cỏc nhõn vật
nữ ấy thường được cỏc tỏc giả dõn gian nõng niu trõn trọng Họ cú thể gặp rất nhiều sự đe dọa, bất chắc xong cuối cựng đều vượt qua và chiến thắng tấm
mỗi lần hồi sinh lại duyờn dỏng hơn xưa (Tấm Cỏm), cụ Út chui ra từ bụng cỏ
Trang 22vẫn hồn nhiên tươi tắn (Sọ Dừa), người vợ của anh học trò nghèo khi trút bỏ lốt cóc là một cô gái như tiên giáng trần (Lấy vợ cóc)
Nhìn chung các nhân vật nữ trong cổ tích chỉ có tính chất , chức năng
để minh họa cho lí tưởng chính nghĩa và thể hiện khát vọng công bằng trong
xã hội, họ chưa có nội tâm mà thường chỉ được chú ý tới ngoại hình và hành động
Còn trong ca dao, người phụ nữ thường được miêu tả với những vẻ đẹp trẻ trung tràn đầy sức sống, với những tâm hồn hết sức phong phú, những tâm trạng, những niềm riêng mang dấu ấn xã hội rất rõ nét Xã hội phong kiến với quan niệm trọng nam khinh nữ đã khiến số phận rất nhiều người phụ nữ gặp bất hạnh, đắng cay Họ phải sống phụ thuộc và không tự quyết định được số phận của mình:
"Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai"
Người phụ nữ đi vào ca dao cũng hiện lên với vẻ đẹp truyền thống theo quan niệm của người xưa Vẻ đẹp ý nhị kín đáo:
"Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen"
Đặc biệt vẻ đẹp tâm hồn rất được đề cao trong tình yêu họ thiết tha và trong hôn nhân họ vị tha , chung thủy:
"Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người."
Trang 23Nói tóm lại, trong ca dao, quan niệm về người phụ nữ đã có màu sắc tâm trạng riêng của từng cá nhân, song có thể nói, những tâm trạng ấy vẫn còn mang tính cộng đồng truyền thống, gắn chặt với nền văn hóa dân gian
Trong văn học trung đại: nhân vật nữ vừa mang vẻ đẹp cổ điển, vừa rất
gần gũi với cuộc sống đời thường, họ là những con người bị xã hội cũ chà đạp, vùi dập "Hồng nhan bạc phận" được xem là quan niệm chủ đạo của tác giả thời kì này khi thể hiện hình tượng người phụ nữ Vũ Nương hiền thảo, đảm đang, chung thủy thì bị ngờ oan, phải lấy cái chết để minh oan mà khi
chết rồi trong lòng vẫn mang nặng nỗi oan uổng đó (Chuyện người con gái Nam Xương) Người cung nữ xinh đẹp tài hoa, khát khao hạnh phúc thì bị nhà
vua bỏ rơi, sống cô đơn mòm mỏi nơi cung cấm, chôn vùi tuổi thanh xuân
trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc) Người chinh phụ chỉ có một
khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với người chồng thân yêu xong lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li” đằng đẵng đợi chờ không biết
có ngày gặp lại, Kiều xinh đẹp là thế mà lại bị dập vùi "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần" chịu cảnh đầy đọa cả về thể xác lẫn tinh thần Nhiều nhân
vật nữ trong giai đoạn này đã thể hiện sự phản khỏng, sự tố cáo hội cũ, thể hiện những suy nghĩ, những quan điểm khác hẳn với quan điểm của xã hội phong kiến Người cung nữ thấy hạnh phúc giản dị của những cặp vợ chồng nghèo hơn hẳn ân sủng “tựa mạn thuyền rồng” Người chinh phụ thấy lí tưởng
ra đi của người chồng, mong làm cho “thê ấm tử vinh” thật là vô nghĩa không thể quan trọng bằng hạnh phúc được sum họp bên nhau Hồ Xuân Hương dám bày tỏ nỗi lòng khát khao yêu, khát khao hạnh phúc, thể hiện một cái tôi giàu sức sống, đầy bản lãnh, mạnh mẽ, thị tài
Như vậy có thể thấy, thời kỳ này các nhà văn đặc biệt chú ý tới nội tâm nhân vật với “nguyên tắc tỏ lòng”, để cho nhân vật tự bộc bạch trực tiếp về những nỗi đau khổ, những nỗi niềm riêng tư, những ước mơ khát vọng của
Trang 24họ Cảm giác mất mát hạnh phúc và nỗi khát khao hạnh phúc là hai tâm trạng, hai nỗi niềm thường gặp nhất ở hình tượng người phụ nữ Việt Nam thời kỳ này
*Trong dòng văn học lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945, hình tượng người phụ nữ được đề cập đến trong đa số các tác phẩm của các nhà văn Tự lực văn đoàn Họ có một quan điểm nghệ thuật làm nền tảng cho việc xây
dựng nhân vật: "Đó là con người cá nhân và xung đột với gia đình truyền thống, với khát vọng tìm lối thoát trong tình yêu, thế giới nội tâm, thậm chí muốn thoát ly khỏi mọi quan hệ xã hội để thỏa mãn tự do bản năng" [28; tr.57]
Tiêu biểu là các nhân vật: Hiền trong Trống mái, Loan trong Đoạn tuyệt, Tuyết trong Đời mưa gió Đặc biệt các nhà văn Tự lực văn đoàn đã mở đầu
cách miêu tả thế giới nội tâm con người sâu sắc và tinh tế
*Trong văn học 1945 - 1975: Với sự đổi thay của hoàn cảnh xã hội,
trong văn học, người phụ nữ không còn là những nhân vật chịu nhiều bất hạnh vì bị xã hội cũ vùi dập, không còn là những nhân vật nổi loạn đòi bình đẳng, các nhân vật nữ đều được xây dựng thành những hình ảnh chung như hình ảnh những “O du kích nhỏ gương cao súng”, những “người mẹ cầm súng”, những “người con gái Việt Nam” Họ một mặt là những cô gái, những người vợ, người mẹ rất đỗi bình thường trong cuộc sống hàng ngày, dịu dàng, nhân hậu, yêu thương chồng con hết mực; song mặt khác trong chiến đấu lại
là những chiến sĩ dũng cảm Đó là cô Mẫn (Mẫn và tôi- Phan Tứ), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi), Chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức)
* Nhân vật nữ trong văn học Việt Nam từ 1975 đến nay :
Trong xu hướng tìm lại con người ở những đặc trưng bản thể và khát khao trần thế, các nhà văn thời kỳ đổi mới nhìn nhận người phụ nữ nghiêng
về những gì thuộc về thiên tính, thiên chức của họ Điều này thể hiện ở ngay
Trang 25những danh xưng Trước đây các nhân vật nữ trong văn học cách mạng thường được gọi bằng “chị”, bằng “cô” hoặc gọi tên một cách trân trọng Các nhà văn hôm nay gọi người phụ nữ bằng đủ thứ danh xưng nhằm nhấn mạnh đặc trưng giới tính: phái yếu, phái đẹp, đàn bà, nàng, váy, chân dài
Ngay ở tên tác phẩm các tác giả đã muốn lưu ý với độc giả rằng họ
đang viết về phụ nữ: Đàn bà xấu thì không có quà (Y Ban), Cái bướm tung tăng (Ma Văn Kháng), Ngày cuối cùng của dâm phụ (Trần Thị Trường)
Người ta bắt đầu nói về phụ nữ nhiều ở thiên chức làm vợ, làm mẹ, ở khao khát nhục thể
Văn học đổi mới không còn nhiều những phụ nữ sắt đá, kiên cường nữa
mà thay vào đó là những con người yếu đuối, nhẹ dạ cả tin, đa cảm, đa đoan Chính bằng sự dũng cảm thay đổi cách nhìn của mình, các nhà văn đổi mới đã tìm thấy ở phụ nữ một “công cụ” hữu hiệu để đổi mới đề tài
Trong văn học cách mạng, đề tài gia đình cũng không được quan tâm đúng mức bởi người ta phải dành “tất cả cho tiền tuyến” Chuyện gia đình nếu được nói đến cũng chủ yếu nhằm tạo một đòn bẩy nghệ thuật kiểu như “vui duyên mới không quên nhiệm vụ” Sau chiến tranh, người ta bắt đầu quay lại chăm chút cho cái tổ ấm của riêng mình Do vậy trong văn xuôi đổi mới, gia đình trở thành một đề tài lớn, một mảnh đất được cày xới kỹ lưỡng
Ngay từ thời kỳ đầu của đổi mới chúng ta đã thấy điều này qua Bên đường chiến tranh (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp) Càng
về sau đề tài này càng được khẳng định, nhất là trong thể loại truyện ngắn
Sự xuất hiện của không gian gia đình trong văn học đổi mới diễn ra đồng thời với sự trở lại thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ Người Việt Nam vẫn coi phụ nữ là người “tay hòm chìa khóa” để nói lên vai trò
Trang 26không thể thiếu của người phụ nữ trong gia đình Cho nên nói chuyện gia đình không gì hơn là nói người phụ nữ Nhà văn Ma Văn Kháng khi làm một
cuộc đột phá vào mảng đề tài gia đình bằng tiểu thuyết nổi tiếng Mùa lá rụng trong vườn, ông gần như giao phó hoàn toàn chủ đề cho các nhân vật nữ:
Phượng, Hoài, Vân, bà lang Chí, đặc biệt là Lý
Sự thành công về mặt đề tài của tiểu thuyết này gắn liền với thành công trên phương diện xây dựng một nhân vật nữ Lý Thông qua Lý, nhà văn đã khái quát được nhiều biến đổi của gia đình Việt Nam, cũng như mối quan hệ gia đình và xã hội trong giai đoạn đang ngấp nghé thời kinh tế thị trường: sự suy giảm đạo đức gia đình, sự phá vỡ mô hình gia đình truyền thống, mỗi con người, mỗi gia đình cần phải sống như thế nào và xã hội cần phải quan tâm trở lại như thế nào Phương án giải quyết chủ đề của tác giả cũng được triển khai qua sự đối lập tính cách giữa các nhân vật nữ này
Mặt khác, khi được trả về môi trường thích hợp với bản tính của mình thì như cá gặp nước, người phụ nữ được dịp phô bày hết mình Chính sự đa dạng, sinh động và mới mẻ của họ đã quay lại giúp nhà văn mổ xẻ đề tài một
cách kỹ lưỡng Đêm xóm Chùa của Đoàn Lê là đêm của người đàn bà ngoài
50 tuổi trằn trọc với ý nghĩ chia tay người chồng của mình sau 28 năm chung sống Chỉ trong một đêm ấy thôi, cái tình yêu ngót 40 năm tuổi tưởng không
có lý do gì để chia lìa đã chia lìa, cái gia đình đã ba thế hệ tưởng không tan vỡ nổi cũng phải tan vỡ, như chàng lực sĩ chiến thắng mọi gian khổ qua hai cuộc chiến tranh lại bỏ mạng vì vô ý xỉa răng bằng cái kim sắt gỉ
Đêm xóm Chùa là đêm của người đàn bà ngoài 50 tuổi nằm bên chồng
nhớ về người bạn trai thủa chơi đèn kéo quân, nhớ lại cảm giác sung sướng nhục thể khi cho cháu bú Mẫu phụ nữ truyền thống suốt ngày chỉ biết bếp
Trang 27núc với chồng vì con dần mất cũng có nghĩa không còn kiểu hạnh phúc gia đình lâu nay vẫn được đảm bảo bởi những người phụ nữ như thế
Văn học cách mạng không thể có phụ nữ ngoại tình vì đã là người nữ anh hùng không thể có hành vi phi đạo đức Ngược lại có các nhà văn hôm nay rất sính nói chuyện đàn bà ngoại tình, ngoại tình công khai, ngoại tình lén
lút, ngoại tình xác thịt hay ngoại tình bằng những giấc mơ (Người đàn bà và những giấc mơ - Y Ban) Lý do để ngoại tình cũng vô vàn, đó có thể là bởi
“cuộc sống đâu chỉ là ngày hai bữa no đủ Cuộc sống còn là hẹn hò nhớ nhung, nuối tiếc, còn là những éo le, âu sầu, ao ước và sự thỏa mãn những
cảm giác mới lạ nữa chứ” (Mùa lá rụng trong vườn)
Tính phổ biến của hành vi ngoại tình khiến cho người ta đặt câu hỏi đây
có còn là một hành vi đáng phê phán nữa không Ma Văn Kháng trong truyện
Ngẫu sự có vẻ tâm đắc với ý kiến của nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại: ngoại tình
chỉ chứng tỏ mặt năng động của tình yêu mà thôi
Có thể nói không quá, trên mức độ khái quát so với văn học cách mạng, ngoại tình trở thành một đặc điểm nổi bật về mặt tính cách xã hội của người phụ nữ trong văn xuôi thời kỳ đổi mới Đặc điểm này đã phản ánh chân thực
sự phá vỡ quan niệm truyền thống về hạnh phúc gia đình cũng như tổ chức gia đình của người Việt Nam trong một thời đoạn lịch sử mới
Khi nhìn nhận người phụ nữ ở những cái thuộc về thiên tính, các nhà văn hôm nay quan tâm vẻ đẹp cơ thể của người phụ nữ và những nhu cầu bản năng của họ Những “lạch đào nguyên”, những “tòa thiên nhiên” là vẻ đẹp tự nhiên mà tạo hóa ban cho người phụ nữ Đây cũng là một điểm khác biệt cơ bản của nhân vật nữ trong văn xuôi đổi mới và trong văn xuôi cách mạng Con người nói chung và người phụ nữ nói riêng trong văn học cách mạng đều
Trang 28rất đẹp nhưng đó là vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp toát ra từ những phẩm chất cao quí như lòng dũng cảm, sự hi sinh
Sự mô tả đặc trưng nữ tính về mặt cơ thể phải được hạn chế hết sức, một phần vì yếu tố tự nhiên không được quan tâm, phần vì nó gợi dục Đây là một đoạn mô tả vào loại chi tiết nhất về cơ thể người phụ nữ trong văn xuôi cách mạng: “Nắng sớm đẫm chiếu người Sứ ánh nắng chiếu vào đôi mắt chị,
tắm rợp mái tóc, phủ đầy đôi bờ vai tròn trịa của chị” (Hòn Đất - Anh Đức)
Dễ nhận thấy khi mô tả ngoại hình nhân vật nữ, nhà văn cách mạng thường chọn mô tả mái tóc Đây là bộ phận vừa thể hiện được vẻ đẹp nữ tính lại vừa “an toàn” Hơn nữa mái tóc dài đối với người phụ nữ Việt Nam truyền thống đã nhuốm vẻ đẹp tinh thần và có tính tượng trưng cao
Trong xã hội hôm nay, tóc tai không còn nhiều giá trị khu biệt về giới tính nữa Cho nên các nhà văn quan tâm hơn đến làn da, những đường cong
cơ thể Ví dụ: “Chị đẹp ở mỗi chi tiết, mỗi đường nét uốn lượn và phập phồng Hai bầu ngực chị nở bồng, tròn trịa, như buột ra khỏi cái vỏ nịt vú trắng hồng và nét soải dài mềm mại từ sườn chị dẫu còn thấp thoáng sau làn vải mỏng của chiếc quần trong đã lộ hình nét của đôi chân nuột nà và đầy
đặn” (Nợ đời - Ma Văn Kháng)
Với văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, sự thay đổi cái nhìn nghệ thuật
về người phụ nữ của nhà văn quả đã mở ra một chân trời mới không kém phần hấp dẫn mà trước đó chúng ta chưa được trông nhìn và thưởng thức
1.4.3 Nhân vật nữ và quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 291.4.3.1 Bảng thống kª nhân vật nữ trªn bèn tËp truyÖn ng¾n cña NguyÔn ThÞ Thu HuÖ
nhân vật
Nhân vật nữ
- Mùa thu vàng rực rỡ
- Hoàng hôn mầu cỏ úa
- Giai nhân
- Sơ ri đắng
- Xin hãy tin em
- Hoa nở trên trời
- Người đi tìm giấc mơ
- Tình yêu ơi, ở đâu?
Trang 30- Tình yêu ơi mi ở đâu?
- Bẩy ngày trong đời
- Hoàng hôn màu cỏ úa
- Xin hãy tin em
Trang 31- Thời gian của mỗi người
- Người đi tìm giấc mơ
Họ là những con người bình thường trong xã hội nhưng hay gặp phải những cảnh đời trớ trêu, đau khổ, bế tắc trong cuộc sống Nguyễn Thị Thu Huệ đã
“tung” các nhân vật vào cuộc sống thực tế, với hiện tại, nếm đủ mùi từ ngọt ngào đến cay đắng, ê trề để cuối cùng rút ra kết luận mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc cho con người , trên mỗi trang viết, ẩn đằng sau câu chuyện là lòng cảm thông, thấu hiểu đối với mỗi mảnh đời, mỗi số phận
1.4.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 32Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm trung tâm của thi pháp học, phản ánh một cách sâu sắc và toàn diện bản chất nhân học của văn học ở một phương diện nào đó, thuật ngữ quan niệm nghệ thuật về con người có giá trị tương ứng với khái niệm “tính tư tưởng” trong tác phẩm văn học Nếu tư tưởng là linh hồn của tác phẩm thì quan niệm nghệ thuật về con người là cái giới hạn tối đa trong cách hiểu, cách cảm, cách nhìn và cách lý giải về con người của nhà văn được hóa thân thành các nguyên tắc, các phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật đó Quan niệm nghệ thuật về con người gắn liền với vốn sống, vốn văn hóa, tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn và ý thức hệ của cộng đồng xã hội Nói ngắn gọn thì quan niệm nghệ thuật về con người chính
là cách cắt nghĩa của văn học về con người thông qua các phương tiện nghệ thuật đặc thù Mỗi nhà văn đều có quan niệm nghệ thuật riêng và luôn chịu sự chi phối của các quan niệm đó
Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn của thời kỳ đổi mới Với sức trẻ, sự tài hoa cùng với nguồn tri thức được đào tạo bài bản, chị đã nhạy cảm kế thừa những thành tựu của thế hệ đi trước và cũng nhanh chóng tìm cho mình một hướng đi riêng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật - đặc biệt là những nhân vật nữ Với tâm niệm mỗi tác phẩm của mình sẽ “giống như một lời tâm sự, một sự đồng cảm trước muôn mặt của cuộc sống mà ai đã phải trải qua đều biết hết nhưng họ không có điều kiện nói ra”, Nguyễn Thị Thu Huệ luôn cố gắng đào sâu vào các ngõ ngách các phần khuất tối trong đời sống tâm hồn con người để nhận thức, khơi gợi cho người đọc cách hiểu con người
Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ là con người cá nhân được thể hiện trước hết ở việc cảm nhận và thể hiện con người phức tạp, nhiều mâu thuẫn Điều này xuất phát từ việc khám phá cuộc sống trong tính phức tạp, đa dạng của sự vận động, từ việc nhìn nhận con người hôm nay
Trang 33trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người xã hội, con người lịch sử, con người tự nhiên, con người tâm linh, con người với gia đình và con người với chính mình Con người cũng được soi chiếu ở nhiều bình diện và tầng bậc: ý thức và vô thức, cái cao đẹp và cái tầm thường, tư tưởng tình cảm và tự nhiên bản năng Vì vậy dễ nhận thấy trong các truyện ngắn, con người không còn là sự minh họa cho tiêu chí nào, không còn nhất quán, đơn giản mà đa chiều và phức tạp, nhiều mâu thuẫn Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhiều nhân vật nhận thấy sự phức tạp và bí ẩn của cuộc sống và con
người Ở Cõi mê, từ người bà đã trải qua mọi thăng trầm của cuộc sống đến
đứa cháu mới bước vào cuộc đời đều thấy cuộc đời và con người quá đỗi phức tạp và khó hiểu, nó “giống như một dòng sông khi gặp thác ghềnh, lại có lúc bình yên, lúc chảy xiết khi lặng lờ” Vì thế mà một người điên lại hồn nhiên vô tư đi yêu đương, còn người tỉnh táo thì lại xoay vào tranh giành
quyền lợi một cách quá quắt và ích kỷ Hay trong truyện Phù thủy, đứa con
luôn có cảm nhận: “Con người như những bóng ma mà không hiểu ngày hay đêm họ hiện nguyên hình”.Và nó luôn cảm thấy người lớn và cuộc sống thật khó hiểu bởi vì nó không làm sao lý giải được việc cha mẹ nó ban ngày thì sỉ
vả, xúc phạm nhau, ban đêm lại nằm bên nhau tình cảm như những chú mèo
Và nếu như trong văn học trước 1975, con người thường được gắn với
lý tưởng của thời đại, thì sau 1975 con người không còn mang tính lý tưởng của thời đại, không biểu hiện cho những phẩm chất giai cấp, dân tộc mà có rất nhiều những biểu hiện phức tạp của tư tưởng tình cảm, tính cách, có thể gọi
đó là con người lưỡng phân ở họ vừa có sự “đan cài, chen lẫn giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỉ sứ, cao cả và tầm thường” [Nguyễn Văn Long - Văn học Việt Nam trong thời đại mới, tr 55]
Trong truyện ngắn Cầu thang con người được thể hiện ở nhiều phía tinh thần
và thể xác, đạo đức và tự nhiên Phải sau một thời gian, nhân vật Trần mới
Trang 34nhận ra rằng: “Thế mới hiểu sau những giờ mà người ta buộc phải tỏ ra công chức, họ dễ dàng tâm sự những điều thầm kín với nhau hơn Và lần đầu tiên, Trần thấy ông ta không phải là ông ấy trong vẻ trịnh trọng, đạo mạo và đứng đắn” Như vậy có thể thấy bản thân con người đã “không trùng khít với chính mình” Thậm chí có khi còn không hiểu hết về chính mình, không tự ý thức được hành động của mình Trong một bài phỏng vấn trên Tạp chí truyền hình (số 7/2003), Nguyễn Thị Thu Huệ từng nói rằng chị không tin có người nào tốt hoàn toàn và chị sợ những người tốt Điều này đã được minh chứng qua
những nhân vật của chị Như nhân vật Vang (Người đàn bà ám khói), qua
nhiều thăng trầm đã tự thừa nhận: “ Đàn bà mà Nó có lắm những cái nhu cầu ham muốn lặt vặt Mà tất cả những thứ đó, không thể nói với anh được” “Anh
biết đấy, đàn bà vừa vặt vãnh vừa yếu đuối” Hay như My (Thiếu phụ chưa chồng), những người vợ (Nước mắt đàn ông, Minu xinh đẹp) đã xé toạc vỏ
bọc che chắn bên ngoài, trần trụi những phần bản năng nhất của mình
Một biểu hiện nữa của con người phức tạp đó là con người cá nhân có tính cá thể Trong cuộc sống hôm nay, họ dám khẳng định mình, tin ở mình
Từ đó tiếng nói cá nhân có lúc đối thoại với tiếng nói cộng đồng, tiếng nói thế
hệ hôm nay đối thoại với những thế hệ đã qua Có những nhân vật sau bao trải nghiệm của bản thân đã đối thoại với kinh nghiệm cộng đồng: “Thế mới hay,
ai cũng nhem nhẻm nói rằng mọi thứ ở đời đều có giá của nó Hoặc gieo cây
gì thì ăn quả đấy, hay gieo gì gặt đấy Nhưng tôi, tôi có gieo gì đâu mà sao
đời tôi gặt toàn cỏ dại?” (Hậu thiên đường)
Bên cạnh sự phức tạp còn là sự bí ẩn của con người mà thực chất chính
sự phức tạp đã làm nên sự bí ẩn của con người.Con người đầy sự bí ẩn là con người có những hoạt động, việc làm, cách cảm, cách nghĩ không thể đoán biết được trước Ví dụ có nhân vật vừa nhỏ bé, đáng yêu trong vòng tay người tình
đã kịp tráo trở, chanh chua chỉ sau một hai đêm (Những đêm thắp sáng) Hay
Trang 35nhân vật trong Thành phố không mùa đông lại ngạc nhiên về chính bố mẹ của
mình: “Và từ ngày hiểu biết đến bây giờ, tôi đã thấy bố mẹ cãi nhau bao giờ đâu, lúc nào cũng anh cũng em Vậy mà bây giờ họ lẳng lặng chia tay nhau như thể mọi việc đã chuẩn bị từ lâu lắm rồi”
Quan niệm nghệ thuật về con người đầy bí ẩn còn được thể hiện ở việc các tác giả có hứng thú đi sâu khám phá, phân tích và biểu hiện chiều sâu tâm
lý của con người Con người ngoài phần ý thức còn có phần vô thức, ngoài bản chất xã hội còn có bản chất tự nhiên Là phụ nữ nên cũng giống các nhà văn nữ khác, Nguyễn Thị Thu Huệ có ưu thế để hiểu những điều suy tư, những giằng xé, dằn vặt, những chuyển biến nội tâm của giới mình Rất nhiều
truyện ngắn của chị đã được cấu tứ bởi dòng tâm trạng Trong Cát đợi, Biển
ấm, Mùa đông ấm áp, Hậu thiên đường, … các nhân vật luôn triền miên trong
dòng suy tư với mọi cảm giác tinh tế và sâu sắc Nhà phê bình Bùi Việt Thắng
đã từng nhận xét: nếu chỉ dừng ở việc “tả chân”, văn của Thu Huệ sẽ gây sự nhàm chán Nhưng may mắn là tác giả này đã “bứt lên được trên cái có thực đến tận cùng, để tìm tới cái gì đó cao hơn của con người đó là đời sống tâm hồn vốn rất không rõ ràng, mạch lạc, vốn bí ẩn khó giải thích bằng lý trí” [46]
Con người tự nhận thức là một trong những đóng góp mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học thời kỳ đổi mới Biểu hiện của loại con người này là nhân vật hay suy nghĩ, hay nhìn lại chính mình để phán xét, sám hối, có khi để hoàn thiện mình Quan niệm này đã chi phối đến nghệ thuật trần thuật của các tác giả, người trần thuật thường ở ngôi thứ nhất,
vị trí trần thuật thường là điểm nhìn của chính nhân vật, giọng điệu trần thuật
là giọng điệu của tâm hồn, của nội tâm và của những cảm xúc, những cung bậc tâm trạng Hơn nữa, quan niệm về con người nhận thức sẽ qui định cách xây dựng nhân vật, các tác giả thường hướng vào khai thác chiều sâu tâm hồn, tinh thần, tư tưởng của nhân vật Đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ,
Trang 36người đọc bắt gặp rất nhiều các nhân vật nhận thức về hành động, việc làm,
suy nghĩ của mình trong quá khứ Đó là Trúc (Biển ấm) tự hào về cuộc tình của mình trong quá khứ; người mẹ (Hậu thiên đường) nhận thức ra lỗi lầm của mình đối với con cái; Thủy (Hình bóng cuộc đời) nhận ra sự cầu toàn
trong quá khứ,…
Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Thu Huệ còn là con người với sự trải nghiệm nỗi đau Đó là nỗi đau của người phụ nữ thời hậu chiến và nỗi đau trong gia đình Đặc biệt trong đó chị “nghiêng viết về con người trong mối mâu thuẫn vừa cố kết dính với gia đình như một hang ổ cuối cùng, lại vừa bị nhiều ngoại lực giằng xé, lôi kéo, thành ra phân thân,
thành ra nhiều bi hài kich” [43] Ví dụ như nhân vật Lan (Một nửa cuộc đời), nhân vật Thủy (Hình bóng cuộc đời) Và hơn thế, không chỉ đồng cảm với nỗi đau, trong một số truyên ngắn như Hậu thiên đường, Phù thủy, Mùa đông ấm
áp, Người đi tìm giấc mơ,… chị còn thể hiện rõ tư tưởng không có gia đình
con người sẽ vô cùng cô đơn và bất hạnh, để mọi người biết trân trọng hơn giá trị của gia đình Từ những người phụ nữ trong gia đình người đọc sẽ nhận
ra chân dung của con người thời đại đầy sự phong phú và phức tạp, thời đại
mà con người khát khao yêu đương nhưng cũng đầy cô đơn trống rỗng, hy vọng mãnh liệt mà cũng thất vọng đến cùng cực
Tóm lại, từ những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học thời kỳ đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ đó tạo nên những dấu ấn riờng trong những nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ trong truyện ngắn của chị Nhân vật nữ trong truyện ngắn Thu Huệ là “Nhân vật đầy những vết dập xóa trên thân thể, trong tâm hồn ” (Băng Thanh) Họ phải nếm trải tất cả mùi vị trong cuộc sống bằng sự trải nghiệm với những nỗi đau xuất hiện trên những trang viết của Thu Huệ, họ là những người làm thuê, những người nghèo khổ, những cuộc đời tần tảo sớm hôm, thậm chí cả những cô gái điếm, những
Trang 37người điên, những kẻ tù tội, từ trẻ nhỏ cho đến người già, từ như những người bình thường đến những kẻ “bất thường” đều phải chịu như những nỗi đau đời thường, tưởng rất giản đơn nhưng thiết thực với mỗi con người Điều đặc biệt tác giả chú ý đến người phụ nữ với nỗi đau trong gia đình qua sự trải nghiệm nỗi đau tinh thần của họ
Cùng với các nhà văn nữ khác cùng thời, Nguyễn Thị Thu Huệ đó đóng góp vào cái mảng quan trọng, “một cái mảng khá bí ẩn đó là tâm hồn họ”, bên cạnh đó cũng bộc lộ quan niệm về con người rất nữ tính - đó là quan niệm về con người “nếm trải” những nỗi đau Điều đó đó tạo nên giá trị nhân đạo, nhân văn cho văn xuôi của các tác giả nữ nói chung và Nguyễn Thị Thu Huệ nói riêng
Trang 38CHƯƠNG 2
CÁC LOẠI HÌNH NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ
Như đã trình bày ở chương trước, qua các truyện ngắn của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ đã thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người So với truyện ngắn trước
1975 và truyện ngắn của các cây bút nữ cùng thời với chị, chúng tôi thấy quan niệm nghệ thuật về con người của chị không chỉ biểu hiện phong phú, đa dạng
mà còn tỏ ra áp sát với hiện thực đời sống, một hiện thực “như nó vốn có” Con người - nhân vật trong truyện ngắn của chị mang tính đa trị, lưỡng cực, là những con người không toàn vẹn Chính vì vậy những tiêu chí phân loại nhân vật theo truyền thống sẽ không đủ bao quát hết những biểu hiện của nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Căn cứ vào những đặc điểm nổi bật về nhân vật qua đặc điểm tính cách, số phận, chúng tôi tạm chia thế giới nhân vật nữ của chị thành ba kiểu loại sau: Nhân vật bi kịch, nhân vật kiếm tìm hạnh phúc, nhân vật tự vấn
2.1 Nhân vật bi kịch
Bi kịch là một loại hình thẩm mỹ có ý nghĩa triết lý sâu xa Từ điển tiếng Việt có lý giải: “Bi kịch có nội dung phản ánh cuộc xung đột gay gắt
giữa nhân vật chính diện với hiện thực, có kết cục bi thảm” [35; tr.82] Arixtôt
trong Nghệ thuật thi ca, khi so sánh bi kịch và hài kịch đã cho rằng: Bi kịch
khác với hài kịch và nó có một kết thúc không vui Nhân vật bi kịch là con người ở trên mức bình thường về địa vị và tính cách, phải chịu một sự thay đổi vận mệnh Họ là những con người dám đấu tranh chống lại vận mệnh, định mệnh và họ chấp nhận nó Họ tìm thấy ý nghĩa trong sự khốn khổ của
Trang 39mình Khi bi kịch được nâng lên trên mức điển hình nó trở thành nghệ thuật Nhân vật văn học mang bi kịch là sự đại diện cho một tư tưởng của nhà văn trước xã hội, nó phải tiêu biểu đặc trưng cho một lớp người Lúc này nhân vật
bi kịch mới có một chỗ đứng, vị trí trong lòng độc giả
Ngoài ra, cũng có thể hiểu về khái niệm nhân vật bi kịch như sau: Nhân vật rơi vào bi kịch thông thường do họ bị xô đẩy vào hoàn cảnh khách quan
và chủ quan Nhân vật đứng trước sự lựa chọn hoặc sống thì phải chà đạp lên nguyên lý đạo đức hoặc giữ mình trong sạch thì phải chọn cái chết Theo Brecht: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không đơn giản là bản dập của những con người sống mà là những hình tượng khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” Hay nói như Nguyễn Minh Châu: “Bởi lẽ cuộc sống trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy oan khiên, oan khuất Cái thiện cả tin
và ngây thơ Cái ác sừng sững và lẫm liệt”
Trong thực tiễn văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945, cùng với các nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực phê phán, Nam Cao đã xây dựng được trong hàng loạt tiểu thuyết và truyện ngắn của ông những điển hình về nhân
vật bi kịch như: Chí Phèo (Chí Phèo), Thứ (Sống mòn), Hộ (Đời thừa), Điền (Trăng sáng)…Tuy nhiên trong suốt 30 năm văn học chiến tranh (1945 –
1975), kiểu nhân vật này đã bị bỏ quên hoặc nếu xuất hiện thì chủ yếu thể hiện bi kịch lạc quan Các nhân vật kiểu này có thể gặp nhiều đau khổ, bất hạnh tột cùng nhưng cuộc đời vẫn có sự vận động theo hướng từ bóng tối ra
ánh sáng (Ví dụ như nhân vật Mỵ - Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài; Đào – Mùa lạc của Nguyễn Khải; Tnú – Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành…) Phải
đến sau năm 1975, khi văn học phát triển trong bầu không khí cởi mở, dân chủ hơn, văn học có điều kiện đi sâu vào tất cả các phương diện của cuộc sống hiện thực, đặc biệt cuộc sống cá nhân của con người thì kiểu nhân vật bi kịch mới xuất hiện trở lại Nhân vật bi kịch trong văn học sau 1975, đặc biệt
Trang 40từ 1986 trở lại đây, có mặt trong sáng tác của rất nhiều nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,… Qua các sáng tác của các nhà văn, bi kịch con người đã được cảm nhận, phân tích, mổ xẻ một cách chân thực, sâu sắc hơn bao giờ hết
Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi nhận thấy sức hấp dẫn rộng rãi bạn đọc trong những câu chuyện của chị trước hết là tính chất “giàu chất đời” [46] Người đọc có cảm tưởng cuộc sống vừa dội vào những trang viết của Thu Huệ đã kịp lắng lại thành những nỗi niềm, những khát khao yêu đương, có cả những hi vọng và thất vọng, những cay đắng và ngọt bùi Thu Huệ diễn tả rất khéo những bi kịch trong cuộc sống đời thường
Đó là một cô gái chờ đợi người yêu dưới cơn mưa ở gốc cây dâu gia gầy với những day dứt hối lỗi và lo lắng, trong khi đó người yêu của cô lại đang yên
ấm với một cô gái khác trong ngôi nhà tràn ngập tiếng cười (Một chiều mưa)
Người con gái xem tình yêu, người yêu là tất cả cuộc sống bỗng chốc sụp đổ mọi niềm tin, cô phải hứng chịu nỗi đau của tình yêu đầu khi người con trai thiếu tôn trọng tình yêu và không chung thủy Đêm dịu dàng lại diễn tả nỗi đau của một người con gái vừa bước vào đời đã bị người yêu phụ bạc quá tinh
vi Anh ta đã mượn tay ông thủ trưởng dựng lên một màn kịch để đẩy cô vào tình huống vừa xấu hổ, nhục nhã, tổn thương vì bị xâm phạm; vừa đau đớn mặc cảm vì thấy có lỗi với người yêu Cuối cùng cô cũng nhận ra được bản chất thật của người yêu cô khi thấy anh ta đang sung sướng và hạnh phúc chúc tụng, cảm ơn ông thủ trưởng Lúc này cô mới nhận ra rằng: “Tôi cứ tưởng cái gì tôi cũng biết, nhưng có một cái mà tôi không hề biết là người ta
có nhiều cách thay đổi lòng dạ, nhiều kiểu bỏ người tình ngon lành lắm” Nhục nhã vì bị lão thủ trưởng già xâm phạm, đâu đớn trước việc bị người yêu phụ bạc, thất vọng trước sự thô bỉ, xảo quyệt của người yêu, cô gái đã nghĩ