1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyễn, Đình Tuân Phê bình văn học của Trương Chính (1916 - 2004) sau cách mạng tháng 8 - 194

101 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những công trình mang tính chất nghiên cứu, phê bình, Trương Chính còn cho xuất bản nhiều văn bản dịch văn học Trung Quốc, như Nửa đêm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Ô

Trang 1

2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Bùi Trương Chính (1916 – 2004) ngoài bút danh chính Trương

Chính, còn có các bút danh Nhất Văn, Nhất Chi Mai là nhà giáo, nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX Hoạt động nghiên cứu phê bình của ông được bắt đầu rất sớm, từ trước Cách mạng tháng Tám Những bài viết phê bình văn học có tính chất tranh luận của ông, tuy không đăng ở

báo nào, nhưng sau tập hợp lại trong cuốn Dưới mắt tôi (1939).Ngoài ra, ông còn cho in cuốn nghiên cứu Những bông hoa dại (1941) Sau Cách mạng

tháng Tám -1945, Trương Chính cùng với các đồng nghiệp của mình đã cho

ra nhiều công trình phê bình, khảo cứu, như cùng Lê Thước, Hoàng Ngọc

Phách, Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn và Đỗ Đức Hiểu soạn Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam ( 3 tập - 1957); trong đó, ông được phụ trách

phần Văn học dân gian ( cùng với Huỳnh Lý ), phần văn học chữ Hán từ thế

kỉ X ( cùng với Lê Thước ); riêng cá nhân ông phụ trách mảng Văn thơ Nôm của Nguyễn Trãi, nhóm Tao đàn (tập 1), phần Tiểu thuyết 1930 -1945 và phần Kịch 1930 -1945 (tập 3) Ông cũng là đồng tác giả cuốn Giáo trình văn học Trung Quốc (in năm 1961 và 1987) Bên cạnh những công trình mang tính

chất nghiên cứu, phê bình, Trương Chính còn cho xuất bản nhiều văn bản

dịch văn học Trung Quốc, như Nửa đêm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Ông Giáo Chi của Diệp Thánh Đào (cùng dịch với Đức Siêu )…Với

những công trình nghiên cứu của mình, Trương Chính là người có nhiều đóng góp cho chuyên ngành nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX

1.2 Với một hoạt động văn học trải dài và những công trình phê bình

văn học lớn như vậy, nhưng đến nay còn ít bài viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu về ông một cách kỹ lưỡng Trong giới hạn luận văn này, chúng tôi muốn

Trang 2

ít Trong quá trình tìm hiểu, người viết mới thấy một số bài viết sau đây về sự nghiệp phê bình của Trương Chính

Những bài viết nghiên cứu về những công trình của Trương Chính

trước Cách mạng tháng Tám, có bài của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại (1943, tập 3), của Văn Ngoạn ở phần lời tựa cuốn Dưới mắt tôi, của Trần Thị Việt Trung trong Lịch sử phê bình Văn học Việt Nam (Giai đoạn

từ đầu thế kỉ XX1945) (2002), của Tôn Thảo Miên “Trương Chính (1916 2004)” trong Lí luận, phê bình Văn học Việt nam từ đầu thế kỉ XX - 1945

tưởng của mình mà tìm ra giải pháp, phát huy được tính sáng tạo” Cũng

trong bài viết này, Nguyễn Thạch Giang còn viết: “Vấn đề nào anh cũng chú

ý việc chuẩn bị thu thập, giám định tài liệu thận trọng”

Trang 3

4

Qua bài viết, Nguyễn Thạch Giang đã đề cao Trương Chính trên nhiều khía cạnh như: tri thức khoa học, phương pháp nghiên cứu, hành văn, ngôn ngữ

Bài của Nguyễn Hải Hà “Một cây bút sắc sảo” sau khi đọc Tuyển tập Trương Chính đăng trên Tạp chí Văn học số 11(1998) Đánh giá tổng quát sau

khi khảo sát những công trình nghiên cứu của Trương Chính về các tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam cả thời trung đại và hiện đại, Nguyễn Hải Hà viết: “Tầm bao quát của ông rất rộng và ông có nhiều đóng góp vào việc tìm hiểu văn học cổ điển và văn học đương đại Việt Nam”, hoặc: “Ông đã bỏ nhiều công sức làm sáng tỏ tinh thần yêu nước sâu sắc, tính dân tộc đậm đà của văn học Việt Nam suốt quá trình hình thành và phát triển” [16 –tr.83]

Cũng trong bài viết này, Nguyễn Hải Hà cho rằng, so với những bài viết phê bình trước cách mạng tháng Tám, Trương Chính đã có sự thay đổi về chất, ông đã có sự uốn nắn trong các bài viết của mình Hay nói cách khác, theo Nguyễn Hải Hà, những công trình của Trương Chính giúp chúng ta dễ dàng đến với Cách mạng và nền văn học mới

Ngoài ra, trong bài viết của mình, Nguyễn Hải Hà cũng khẳng định Trương Chính là người có nhiều công sức và nhiều đóng góp quan trọng vào việc giải thích các hiện tượng văn học lớn, phức tạp của dân tộc như thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, vai trò của Lê Quý Đôn, thế giới quan và sáng tác của Nguyễn Du, cái ngông của Nguyễn Công Trứ…

Còn với văn học hiện đại, theo Nguyễn Hải Hà, vai trò của Trương Chính là ông góp phần vào cuộc đối thoại xung quanh một số hiện tượng văn học mà đến nay vẫn chưa thể coi là kết luận cuối cùng, như đánh giá về vai

trò của nhóm Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân…

Tìm hiểu về văn phong của Trương Chính, Nguyễn Hải Hà nhận thấy Trương Chính bao giờ cũng cố gắng nắm bắt cốt cách của đối tượng ông nghiên cứu, ông luôn chú ý tới câu văn khi hạ bút Tuy thông thạo nhiểu thứ

Trang 4

5

tiếng, nhưng câu văn của ông giản dị, trong sáng, ít dùng câu phức hợp chồng chất Văn của ông mang tính khảo cứu là chính, nhưng vẫn có sức hấp dẫn bởi Trương Chính rất có ý thức về nhạc điệu của câu văn

Bên cạnh việc đánh giá cao những đóng góp của Trương Chính, trong bài viết của mình, Nguyễn Hải Hà còn cho biết một vài điểm cần xem thêm, cần trao đổi về một vài vấn đề Chẳng hạn như việc cắt nghĩa “khối mâu thuẫn lớn” Nguyễn Công Trứ, về lời phê bình của Hoài Thanh, về sự phân chia ra “phê bình tình cảm” và “phê bình lí trí”…

Tóm lại, những công trình nghiên cứu, tìm hiểu về Trương Chính đến nay còn ít, chưa thật sự đầy đủ, công phu Ở đấy, chúng ta chỉ thấy những lời đánh giá mang tính tổng quát về phương pháp, khả năng nghiên cứu, phê bình của Trương Chính Theo hướng của những người đi trước, trong giới hạn luận văn này, người viết cố gắng làm rõ thêm về những công trình nghiên cứu, phê bình văn học của Trương Chính từ sau Cách mạng tháng Tám

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ là phải giải quyết những vấn đề cơ bản trong cốt lõi quan điểm, tư tưởng, phương pháp phê bình văn học của Trương Chính sau Cách mạng tháng Tám

Luận văn hướng đến một cái nhìn tương đối toàn diện và đúng đắn về những đóng góp cũng như vị trí đích thực của Trương Chính đối với hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu, tìm hiểu những tác phẩm nghiên cứu, phê bình của Trương Chính sau Cách mạng tháng Tám, cụ thể:

+ Hương hoa đất nước (1979) ( Tập Tiểu luận - phê bình), NXB Văn học

(308 trang)

+ Tuyển tập Trương Chính ( 1997, tập 1 ), NXB Văn học, H, (474 trang)

+ Tuyển tập Trương Chính (1997, tập 2), NXB Văn học, H, ( 522 trang)

Trang 5

6

5 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào đối tượng cụ thể và nội dung vấn đề đặt ra, tác giả luận văn chủ động sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp văn học sử

Dùng phương pháp văn học sử trong việc nghiên cứu sự nghiệp phê bình của Trương Chính là một yêu cầu tất yếu, bởi lịch sử văn học không bao giờ tách rời dòng chảy của lịch sử Văn sử bất phân là như vậy Hơn nữa có đứng trên lập trường lịch sử mới có nhìn đầy đủ, không phiến diện một chiều khi đánh giá những đóng góp của Trương Chính đối với nền văn học nước nhà nói chung và chuyên ngành nghiên cứu, phê bình văn học nói riêng

5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Nếu phương pháp văn học sử cho ta cái nhìn khách quan, toàn vẹn thì phương pháp phân tích - tổng hợp lại cho ta cái nhìn chi tiết, cụ thể trong việc xem xét những vấn đề riêng biệt Trong quá trình nghiên cứu về Trương Chính, chúng tôi xem việc tìm hiểu cụ thể, tỉ mỉ từng bài viết của Trương Chính để từ đó khái quát thành những luận điểm cơ bản trong các công trình của Trương Chính

5.3 Phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại

Phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại để thấy được phong cách, sự độc đáo, mới mẻ của Trương Chính trong quá trình nghiên cứu, phê bình khi

so sánh với các nhà nghiên cứu văn học khác Bởi trong dòng chảy văn học, mảng nghiên cứu, phê bình với sự hiện diện của nhiều nhà nghiên cứu với những phong cách, những quan điểm, ý kiến khác nhau, nên việc sử dụng phương pháp này là yêu cầu mang tính tất yếu

6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn

Công trình này là lần đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, công phu về những giá trị trong sự nghiệp phê bình, nghiên cứu văn học của Trương Chính sau Cách mạng tháng Tám thông qua việc khảo sát, phân tích

Trang 6

7 Cấu trúc của luận văn: Luận văn được cấu trúc làm 3 chương

Chương 1: Trương Chính phê bình tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

Chương 2: Trương Chính phê bình tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại

Chương 3: Phong cách phê bình văn học của Trương Chính

Trang 7

8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TRƯƠNG CHÍNH PHÊ BÌNH TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

1.Về các tác giả, tác phẩm

Những công trình nghiên cứu, phê bình về các tác giả, tác phẩm văn học trung đại được Trương Chính viết ở những mốc thời gian khác nhau.Ở đây, trong luận văn, chúng tôi không đi theo mốc thời gian ra đời của những công trình đó của Trương Chính, mà sắp xếp nội dung theo thứ tự như tác giả

sắp đặt trong Tuyển tập Trương Chính, tập 1, 2 Đây là những đối tượng và

phạm vi nghiên cứu chính của luận văn

Luận văn tập trung đi vào tìm hiểu những bài nghiên cứu, phê bình của Trương Chính về các tác giả, tác phẩm văn học trung đại sau: Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát

1.1 Về tác giả Nguyễn Phi Khanh (1355-1428)

Nguyễn Phi Khanh (lúc Trương Chính viết về ông, tác giả này vẫn chưa rõ năm sinh) là một nhân vật có vị trí lịch sử và văn học khá đặc biệt Tìm hiểu cuộc đời và văn nghiệp của ông, Trương Chính tập trung nghiên cứu

ở một số khía cạnh tiêu biểu sau:

Trước hết, Trương Chính khẳng định Nguyễn Phi Khanh là một danh sĩ đương thời, một người có tài nhưng cuộc đời nhiều lận đận, long đong Theo nhà nghiên cứu thì nhân cách Nguyễn Phi Khanh có ảnh hưởng sâu đậm đến nhân cách, con người Nguyễn Trãi Cụ thể, sau chiến thắng quân Minh xâm lược, Lê Lợi cho giết một số công thần của mình như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, bản thân Nguyễn Trãi cũng bị hiềm khích Nhận thức được tình cảnh của mình, Nguyễn Trãi muốn lui về ở ẩn, học theo cách xử thế của

Trang 8

9

ông ngoại là Trần Nguyên Đán và cha mình “lúc đời cần thì ra giúp, lúc đời

không cần thì ở ẩn”

Trương Chính cũng cho rằng Nguyễn Phi Khanh là người nổi tiếng thơ

văn Nguyễn Phi Khanh có tập Nhị Khê thi văn tập gồm 74 bài Khẳng định

tài năng của Nguyễn Phi Khanh, Trương Chính trích dẫn lời của Hồ Tông Thốc, một người cũng nổi tiếng về thơ văn cùng tuổi với Trần Nguyên Đán Người này giỏi thơ văn, chỉ trong một bữa tiệc, có thể làm xong 100 bài thơ liền mạch, tiếng dậy kinh sư, được người đời quý trọng Ở đây, Trương Chính viết: “Người như thế mà khen Nguyễn Phi Khanh có tài, quên tuổi tác xem nhau như bạn, đủ thấy Nguyễn Phi Khanh có một chỗ ngồi xứng đáng trên thi đàn hồi ấy” [4- tr.213]

Bên cạnh việc ca ngợi tài năng thơ văn của Nguyễn Phi Khanh, Trương Chính còn đặt ra vấn đề xác minh đúng năm sinh của ông Về vấn đề này, Trương Chính đã căn cứ vào chính lời của Nguyễn Phi Khanh trong một câu thơ để xác minh năm sinh của Nguyễn Phi Khanh:

“ Hoạn đồ tứ thập ngũ niên thân”

(Bốn mươi lăm tuổi đời mới bước chân lên con đường hoạn lộ)

Bài thơ có câu đó làm năm 1401 khi ra làm quan với nhà Hồ, vậy tính lui lại thì ông sinh năm Bính Thìn (1356), rất hợp với lời chú của Dương Bá Cung: năm Long Khánh nhị niên, ông 19 tuổi” [4 – tr.214]

Về vấn đề gia thế của Nguyễn Phi Khanh, các tài liệu lịch sử ít nói đến,

do thế Trương Chính cũng chỉ đưa ra một vài thông tin, bởi đây vẫn còn đang

là vấn đề bỏ ngỏ của lịch sử

Cùng với việc tìm hiểu, nghiên cứu về con người và tài năng thơ ca, Trương Chính còn tìm hiểu chuyện tình duyên của Nguyễn Phi Khanh với con gái quan tư đồ Trần Nguyên Đán Cuộc tình duyên không “môn đăng hộ đối” này chính là căn nguyên cản trở Nguyễn Phi Khanh - con người có tài

Trang 9

10

nhưng không được trọng dụng làm quan “Bọn ấy lấy vợ con nhà phú quý: là

kẻ dưới phạm người trên, bỏ không dùng” [4- tr.218]

Chính vì không được trọng dụng vì cuộc hôn nhân như thế, nên Nguyễn Phi Khanh trở về quê mở trường dạy học, nuôi con thơ, sống cuộc sống nghèo khổ, túng bấn

Về vấn đề lịch sử cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi có thực sự

là người ủng hộ nhà Trần hay không, qua phần nghiên cứu tập thơ Nhị Khê thi văn tập của Nguyễn Phi Khanh, Trương Chính cho rằng: “Hai cha con

Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi không gắn bó với nhà Trần” [4- tr.227]

Cứ liệu để Trương Chính khẳng định như vậy là: “Khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, chẳng những ông thờ ơ, không chút luyến tiếc, mà lại tìm thấy

ở đấy con đường thoát Cái “án” trước kia của ông tự nhiên được xoá” [4 – tr.228], và “ khi quân Minh sang chiếm nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị bắt ngay, không kể, còn Nguyễn Trãi thì không đứng về phía nhà Hồ, mà cũng không đứng về phía nhà Trần, không theo Trần Ngỗi, con thứ Nghệ Tông, cũng không theo Quý Khoáng, cháu nội Nghệ Tông; mà lần mò vào Lam Sơn,

hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi” [4- tr.228]

Tóm lại, nghiên cứu về cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Phi Khanh, Trương Chính đã bộc lộ một cái nhìn khách quan, từ đó cung cấp cho độc giả

có thêm thông tin lịch sử về tác giả này

1.2 Tác giả Nguyễn Trãi

Nghiên cứu, tìm hiểu Nguyễn Trãi, Trương Chính đã khu biệt thành hai mảng riêng với hai công trình cụ thể Đó là “Nguyễn Trãi một anh hùng, một nhà thơ”, và “Ức Trai thi tập, những vần thơ trĩu nặng suy tư”

1.2.1 Với bài “Nguyễn Trãi một anh hùng, một nhà thơ”

Trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam, Nguyễn Trãi (1380-1442) là một vị anh hùng dân tộc, một nhà thơ, nhà văn, danh nhân văn hoá, một người được xem là “văn võ song toàn”

Trang 10

và ông lấy văn chương phục vụ cho những chiến lược, chiến thuật đó Văn chương của ông có sức mạnh như mười vạn quân (Phan Huy Chú ) Ông không đánh thành; ông đánh vào lòng giặc, vào tư tưởng xâm lăng của giặc” [4 - tr 230]

Nhận xét về thứ vũ khí sở trường này của Nguyễn Trãi, Trương Chính viết: “Nguyễn Trãi viết cho tướng giặc mà cũng viết cho cả bọn nguỵ quyền, nguỵ quân; lời lẽ lúc nào cũng sắc sảo, thái độ lúc nào cũng quang minh; đối với kẻ ngoan cố thì đả kích không thương tiếc, đối với kẻ tranh thủ thì thuyết phục; đối với bọn cầm đầu thì vừa đả kích vừa thuyết phục; đối với kẻ làm tay sai thì đi sâu vào tình cảm, khêu gợi chút lòng thương nước, thương nòi còn sót lại ở chúng” [4 – tr.231]

Nhận xét về Quân trung từ mệnh tập, Trương Chính cũng viết: Tập Quân trung từ mệnh tập hay không phải ở chữ nghĩa văn chương, mà hay ở

nghĩa lý “ quang minh chính trực” Người viết không cố ý trau lời văn mà câu văn nào cũng sáng chói, cũng mạnh mẽ, có một tác dụng không thể lường được” [4 – tr.231]

Bên cạnh việc khẳng định thơ văn Nguyễn Trãi là thứ vũ khí đấu tranh lợi hại chống lại giặc ngoại xâm, Trương Chính còn cung cấp cho bạn đọc thấy trong thơ văn Nguyễn Trãi một giá trị nhân đạo cao cả mà trên hết thảy

là lòng cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ đau của người dân Trương Chính nhận thấy trong thơ văn Nguyễn Trãi luôn có sự giằng co giữa tư tưởng nhàn tản và tư tưởng nhập thế giúp đời

Trang 11

12

1.2.2 Với bài “Ức Trai thi tập, những vần thơ trĩu nặng suy tư"

Khi tìm hiểu tập thơ chữ Hán này của Nguyễn Trãi, Trương Chính đã phân tách tập thơ ra ở hai thời kỳ sáng tác: Trước và khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, thơ làm dưới triều Lê Mục đích của việc chia tách này là để có cái nhìn rạch ròi, chính xác về con người, tình cảm của Nguyễn Trãi ở hai thời điểm lịch sử khác nhau

1.2.2.1 Thơ trước và khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn

Theo Trương Chính, thơ của Nguyễn Trãi trước và khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn đã thể hiện một tâm trạng tương đối phức tạp Đó là thái độ đau xót của tác giả vì mười năm không được viếng phần mộ ông bà tổ tiên, nỗi đau của người phải xa quê hương quá lâu Đó là nỗi đau vì quê hương bị tàn phá, bà con cô bác bị giết hại Đối với Nguyễn Trãi điều này có phần nặng

nề hơn bởi hoàn cảnh đặc biệt Cha bị bắt từ lúc giặc mới sang, người thân thích không còn mấy ai Điều này, ông đã nói đi nói lại rất nhiều lần, đặc biệt trong bài “Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác, số 12” Nhận xét về bài thơ này, Trương Chính viết: “Ý trầm lắng, lời thơ nghẹn ngào Tình cảnh ông lúc này

có thể nói là đứt ruột đứt gan, nhưng ông nén lại mà nghĩ đến những mơ ước

cũ được sống thanh bạch, với những niềm vui giản dị, giờ đây chưa biết đến lúc nào mới thành hiện thực” [4 – tr.243]

Chúng ta đều hiểu rằng, Nguyễn Trãi - bậc anh hùng, trang nam nhi thời phong kiến phải có nghĩa vụ hành đạo Bài thơ là lời ngợi ca công lao của

Lê Lợi trong buổi đầu khởi nghĩa, nhưng trong sâu thẳm là nỗi đau, sự giằng

xé về tình cảm của con người nặng tình với quê hương như Nguyễn Trãi Nhận xét chung về thơ Nguyễn Trãi từ 1407 đến 1417 - 1418, Trương Chính viết: “Lời hơi buồn, thỉnh thoảng phảng phất vài ý tiêu cực, như cho cuộc đời là giấc mộng, mọi việc đều do trời định, thích được mâm rượu mà giải sầu, rồi ngả lưng nằm dưới luồng gió mát đánh một giấc ngủ trưa Nhưng nói chung, hào khí không hề giảm sút:

Trang 12

13

“Nhất sinh tập khí hồn như tạc,

Bắt vị ky sầu tổn cực hào”

( Lâm Cảng dạ bạc, số14)

( Thói quen vẫn nguyên vẹn như trước

Không vì mối sầu vương vấn mà giảm sút hào khí cũ) Ông vẫn tin mình sẽ có thể làm được cái gì đó, chỉ thương cho mình nghèo, vất vả mà thôi

“Thố thiệt đãn tổn không tín tín,

Nhất hàn như cổ diệc kham liên”

(Kỷ hữu, số 7)

( Tấc lưỡi hãy còn, tin hãy còn nói được,

Vẫn nghèo như cũ, cũng đáng thương) [4 – tr.251, 252]

1.2.2.2 Thơ làm dưới triều Lê

Tìm hiểu các bài thơ của Nguyễn Trãi làm dưới triều Lê là công việc không đơn giản vì thời kì này Nguyễn Trãi làm nhiều thơ hơn trước, mỗi bài thơ lại mang một phức cảm khác nhau

Đó là những bài ca ngợi công đức vị lãnh tụ nghĩa quân, ca ngợi cảnh thái bình, nền độc lập tự do của dân tộc, nói lên lòng mong mỏi của nhân dân xây dựng cuộc sống mới Ta có thể thấy điều này trong những bài như

Thượng nguyên hỗ giá chu trung tác, Quan duyệt thuỷ trận, Hạ quy Lam Sơn,

Để kiếm

Đó là những bài thể hiện tâm trạng oán thán vì bị nghi ngờ, bị bỏ ngục

một cách vô cớ, như bài Oan thán, số 47:

“Ngục trung độc bối không tao nhục, Kim khuyết hà do đạt thổn tiên”

(Bỗng dưng bị nhục, ngồi trong ngục viết vào mặt trái tờ giấy, Làm thế nào mà gửi được tờ kêu lên cửa khuyết)

Trang 13

14

Đó là khát vọng thực hiện lý tưởng nhân nghĩa- một lý tưởng mà ông theo đuổi suốt cuộc đời, là tư tưởng trung quân ái quốc, chưa bao giờ không nhớ đến ơn vua, không quên giúp nhà vua thi hành nhân nghĩa:

“Nguyện bả lan thang phân tứ hải, Tòng kim thảo tuyệt cựu ô dân”

(Đoán ngọ nhật, số 31) (Muốn đem nước cỏ lan chia khắp bốn biển

Để rót rửa cho sạch cái dơ bẩn cũ của dân)

“Lưỡng nhân hoa hôn đầu cánh bạch, Quyên ai hà dĩ đáp quân ân”

Bên cạnh những nhận xét về nội dung thơ văn như đã trình bày ở trên, Trương Chính còn nhận xét cả về nghệ thuật thơ ca “đi vào lòng người” của Nguyễn Trãi

Trang 14

15

Về hình thức, thơ Nguyễn Trãi rất ít kỹ xảo, không hào nhoáng bề ngoài, không gò bó, cầu kỳ, không tìm những cách đặt chữ, gieo vần hiểm hóc Lời thơ giản dị, kín đáo, trầm lắng mà hay:

“Tịch mịch u trai lý,

Chung tiêu thỉnh vũ thanh

Tiêu tao kinh khách chẩm,

Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi

Tiếng mưa rơi não nùng kinh động cả gối khách,

Từng giọt, từng giọt như đếm canh tàn

Xuyên qua khóm trúc mà gõ dồn dập vào cửa sổ,

Hoà lẫn với tiếng chuông chùa mà đi vào giấc mộng nhẹ nhàng Làm xong bài thơ vẫn không ngủ được,

Tiếng mưa đứt rồi lại nối cho đến sáng)

Thơ Nguyễn Trãi không trau chuốt, không gọt đẽo hình ảnh đẹp Ông không để lời hại ý Ông để cho ý đi thẳng vào tâm trí người đọc

Một trong những cái hay nữa trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là “ý tại ngôn ngoại” Ông ít dùng những điển cố, điển tích

Về nội dung, thơ chữ Hán nói riêng, toàn bộ thơ văn của Nguyễn Trãi nói chung đều gửi gắm ít nhiều tâm sự Từ tả cảnh, ông chuyển sang tả tình

Có khi tả cảnh lại đưa nhà thơ đến những ý nghĩ nhuộm màu triết lý, hoặc những ý nghĩ về nhiệm vụ:

Trang 15

16

“Ba tâm hạo diểu thương châu nguyệt,

Thụ ảnh sâm si tự phổ yên

Văng sự nan tầm thời dĩ quá,

Quốc âm vị báo lão kham liên…”

(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm, số 16)

(Đầy nước mênh mông, trăng soi xuống bến,

Bóng cây so le, khói lồng bên cửa sông

Việc xưa khó tìm, thời gian đã qua,

Ơn nước chưa đền, mà tuổi đã già, thật đáng thương)

Nhận xét trên đây của Trương Chính về nội dung và nghệ thuật thơ văn Nguyễn Trãi chưa chắc đã thật đầy đủ và chính xác, cần phải xem thêm, nhưng đã thể hiện sự nỗ lực của ông khi nghiên cứu về Nguyễn Trãi

Nói tóm lại, trong sự nghiệp của Nguyễn Trãi, thơ văn không phải là quan trọng nhất Trong thơ văn của ông, phần thơ văn chữ Hán không thể bằng thơ Quốc âm, nhưng xét trong lịch sử văn học dân tộc thì thơ chữ Hán của ông có một vị trí đặc biệt Việc nghiên cứu, tìm hiểu về thơ chữ Hán Nguyễn Trãi trên đây của Trương Chính, như đã đề cập cần phải xem thêm, nhưng như thế đã là một thành công, có tính chất như tạo ra chiếc chìa khoá cho chúng ta có thể mở cửa đi vào tìm hiểu nghệ thuật thơ ca của Nguyễn Trãi

1.3 Về tác giả Lê Quý Đôn (1726-1784)

1.3.1.Nghiên cứu, phê bình của Trương Chính về Lê Quý Đôn qua tác phẩm “Những đóng góp của Lê Quý Đôn cho một cuốn lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV”

Trong công trình, Trương Chính khẳng định Lê Quý Đôn là người có nhiều đóng góp cho việc xây dựng một cuốn sách “Lịch sử văn học”

Nói như vậy không có nghĩa là Lê Quý Đôn trực tiếp tham gia vào việc biên soạn một cuốn lịch sử văn học, nhưng qua những tài liệu sách báo Lê

Trang 16

17

Quý Đôn để lại, những người tiến hành biên soạn cuốn Lịch sử văn học Việt Nam có thể dựa vào đó để tiến hành công việc một cách thuận lợi hơn Nhận xét về những đóng góp của Lê Quý Đôn, Trương Chính viết: “Nhìn kỹ thì thấy có mặt ông gợi ý hoặc mới đặt phương hướng, có mặt ông đã đóng góp đầy đủ hơn bất cứ người nào trước ông” [4-tr.282], và “Trước khi nói đến tác phẩm, ông phác ra những nét đại cương về lịch sử khoa cử ở nước ta, tức là

chế độ giáo dục sản sinh ra người làm văn, làm thơ Đó là chương Thể lệ trong Kiến văn tiểu lục” [4 –tr.287]

Theo Trương Chính, Lê Quý Đôn là người đầu tiên cung cấp mục lục các sách cha ông ta sáng tác từ thời Lý Trần: “Đó là thiên “Nghệ văn chí”

trong bộ Đại Việt thông sử” [4 -tr.287]

Tiến thêm một bước nữa, Lê Quý Đôn đã soạn hai bộ tuyển tập Toàn Việt thị lục và Hoàng Việt hải văn Ông đã sưu tầm được rất nhiều bài thơ của

các tác giả bắt đầu từ thời nhà Lý Phần văn thơ này của các tác giả thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội, từ vua quan, thường dân, cho đến sư sãi, phụ nữ trong xã hội với đầy đủ các thể loại khác nhau Khi chọn những bài thơ vào trong tuyển tập, Lê Quý Đôn thường chú trọng đến nội dung, phẩm chất đạo đức của nhà thơ, chú trọng đến dư luận của số đông, không muốn lấy ý kiến chủ quan của riêng mình mà định đoạt Về mặt này, Trương Chính viết: “Lê Quý Đôn là người học rộng, có nhiều suy nghĩ về thơ văn nên tuyển tập của ông không những “đầy đủ” như lời khen của Phan Huy Chú mà đáng tin cậy” [4 – tr.289,290]

Những đóng góp của Lê Quý Đôn theo Trương Chính còn thể hiện ở việc ông ghi lại được nhiều nhận định về các giai đoạn văn học cũng như các tác giả ưu tú Trương Chính viết: “Những nhận định ấy ngày nay xem lại vẫn thấy đúng Nguyên nhân là vì ông xuất phát từ một số nguyên tắc lý luận mà ngày nay chúng ta vẫn tôn trọng” [4 –tr.291]

Trang 17

18

Kết thúc bài nghiên cứu về Lê Quý Đôn, Trương Chính có viết: “Mặc

dù vậy, xem những điều ông viết về văn học, ta thấy ông có một quan điểm đúng đắn, không bị hạn chế nhiều bởi tư tưởng nhà nho; cách làm việc của ông dựa vào những tác phẩm chính tay ông sưu tầm và xây dựng trên cơ sở lý

luận mà ông trình bày trong chương “Văn nghệ”, bộ Văn đài loại ngữ” [4 –

tr.297]

Có thể nhận ra, Trương Chính đã đánh giá rất cao những đóng góp của

Lê Quý Đôn trong việc xây dựng một "cơ sở" cho việc viết cuốn Lịch sử văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XI đến thế kỷ XV

1.3.2 Nghiên cứu, phê bình của Trương Chính về Lê Quý Đôn qua tác phẩm Phủ biên tạp lục

Đúng như tên bài nghiên cứu mà Trương Chính đặt cho bài viết này về tác phẩm của Lê Quý Đôn là “một thiên tuỳ bút” Trong tác phẩm này, Trương Chính đã giới thiệu những công việc mà Lê Quý Đôn đã tiến hành để

có thiên tuỳ bút, như việc tham khảo các tư liệu ghi chép những chuyện xảy

ra, mắt thấy tai nghe, những đối tượng để ông ghi chép

Đánh giá về tác phẩm này cũng như về tài năng của Lê Quý Đôn, phần

cuối bài viết, Trương Chính viết: “Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn là

một thiên tuỳ bút được trình bày dưới dạng một cuốn địa phương chí Phong cách của tác giả không giống phong cách của những người viết địa phương chí khác Ông vừa là một quan văn, vừa là một nhà sử học, một nhà bác học, lại là một nhà văn… Những tài liệu ông cung cấp không khô khan Ngày nay trải qua 200 năm mọi sự vật đã đổi khác mà chúng ta xem vẫn lấy làm thú” [4 –tr.305]

1.4 Về tác giả Phan Huy Ích (1750-1822)

Trong phần đầu bài viết, Trương Chính đã cung cấp cho bạn đọc thấy cuộc đời và con người Phan Huy Ích Theo ông, Phan Huy Ích là một người

có tài năng, học rộng, có chí khí Đánh giá tổng quát về nhân vật này, Trương

Trang 18

19

Chính viết: “Trong đám nhân sĩ Bắc Hà theo Tây Sơn đến cùng, có công nhiều với Tây Sơn và với Tổ quốc, phải nói Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích

là nổi nhất” [4 –tr.306] và “ Phan Huy Ích là nhà nho hay chữ, giỏi từ chương

Về tư tưởng, ông không có gì xuất sắc, tính tình thuần thục, trước kia, thực lòng thờ Lê - Trịnh, sau này cũng thực lòng một dạ phục vụ Tây Sơn Về mưu lược, ông không sánh được với ông anh vợ là Ngô Thì Nhậm, nhưng cũng có công như ông này trong việc dàn xếp các việc giữa nước ta và triều Thanh, giữ vững nền độc lập mới giành được Về văn học, ông khác Ngô Thì Nhậm ở chỗ ông hay nôm” [4 –tr.328]

Phần chính của bài tìm hiểu về Phan Huy Ích, Trương Chính chủ yếu đi

vào tìm hiểu tác phẩm Dụ Am ngâm lục với quyển Tinh sà kỷ hành Quyển Tinh sà kỷ hành ghi lại đầy đủ cuộc hành trình của Phan Huy Ích hộ vệ vua

Quang Trung (giả) sang Yên Kinh dự lễ mừng thọ vua Càn Long của nhà Thanh Qua sự giới thiệu của Trương Chính, người đọc như thấy được trước mắt mình từng chi tiết của chuyến đi đó Trong bài nghiên cứu này, Trương Chính đóng vừa đóng vai của một người dẫn chuyện, hướng dẫn sự dõi theo của người đọc qua từng chi tiết, ông lại vừa đóng vai người trong cuộc để kể lại diễn biến từng chi tiết cụ thể

Cũng trong bài viết này, Trương Chính còn đề cập đến khả năng sáng

tác thơ Nôm của Phan Huy Ích Phan Huy Ích đã từng diễn Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn ra Quốc âm

Có thể nhận thấy, việc tìm hiểu về Phan Huy Ích của Trương Chính rất

ít, chủ yếu qua tác phẩm Dụ Am ngâm lục, đặc biệt là qua quyển Tinh sà kỷ hành, song qua đây bạn đọc đã phần nào hiểu thêm được về nhân vật lịch sử

này, đồng thời cũng thấy được khả năng am hiểu về lịch sử cũng như nhãn quan của nhà nghiên cứu Trương Chính

Trang 19

20

1.5 Về tác giả Nguyễn Du (1765-1820)

1.5.1 Trương Chính với bài “Một vài suy nghĩ về thân thế Nguyễn Du”

Trong bài tiểu luận “Một vài suy nghĩ về thân thế Nguyễn Du”, Trương Chính tập trung vào những khía cạnh sau:

1.5.1.1 Về gia thế Nguyễn Du

Trương Chính cho biết, việc nghiên cứu về thân thế Nguyễn Du đã có rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu Điều đó cho ta biết khá rõ về

Nguyễn Du, như các cuốn sách Truyện cụ Nguyễn Du của Lê Thước và Phan

Sỹ Bàng (1924), bài “Tựa Truyện Thuý Kiều” của Trần Trọng Kim (1926),

“Nguyễn Du văn hoạ phổ” của Đào Duy Anh (1943)… Song theo ông, các tác giả trên chỉ “khai thác đề tài của mình theo lập trường cũ", vậy nên "muốn nhìn nhà thơ dưới ánh sáng mới, hoặc muốn giải thích một số khía cạnh trong

sự nghiệp của nhà thơ, mà chỉ sử dụng những tài liệu kia thì khó lần ra đầu mối” [4 –tr.352]

Trương Chính cho rằng, việc nghiên cứu thân thế Nguyễn Du ngày nay không thể căn cứ vào cái “dòng dõi thế phiệt trâm anh”- một gia đình mà cả cha con, chú bác, anh em được vinh hiển dưới đời Lê - Trịnh” [4 –tr.353] ấy nữa, bởi “thành phần xuất thân đã là một sự hạn chế đối với nhà thơ rồi” [4 –tr.353] Nhìn nhận vấn đề này, ông chỉ rõ: “Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản, cha và anh Nguyễn Du, tuy là người ra vào cửa Khổng sân Trình và nhờ cửa Khổng sân Trình mà được vinh hiển, nhưng các ông không phải là những bậc danh nho” [4 –tr.353]

Cụ thể, với người Nguyễn Nghiễm, cha Nguyễn Du, Trương Chính thẳng thắn: “Nguyễn Nghiễm có tài thao lược, công lao của ông chủ yếu là dẹp giặc ở Thanh Hoá, Nghệ An, Sơn Tây, Hưng Hoá, Kinh Bắc” [4 –tr.353] Còn người anh của Nguyễn Du là Nguyễn Khản thì Trương Chính gay gắt hơn: “ Nguyễn Khản còn tồi tệ hơn cả bố” [4 –tr.354], dù có đỗ tiến sĩ nhưng

do được chúa yêu, hơn nữa lại ở ngay trong phủ với cha nên càng được thể

Trang 20

21 hơn Kết luận về vấn đề này, Trương Chính viết: “Có thể nói hai cha con Nguyễn Nghiễm, công với vua Lê chúa Trịnh thì to, và nợ máu với dân không phải nhỏ” [4 –tr.355]

Đánh giá về bản thân Nguyễn Du, theo Trương Chính, “ông là người ít hăng hái nhất” trong số những thành viên trong dòng họ Nguyễn Tiên Điền

và vùng đất Nghệ An đầy những tiến sĩ trong việc chống lại phong trào Tây Sơn Dẫn chứng cho việc này, Trương Chính đã trích dẫn bài “Độc lộc” trong gia phả Nguyễn Tiên Điền làm minh chứng Theo đánh giá của Trương

Chính, Nguyễn Du “không phải vì ông không khảng khái bằng, có điều ông thấy vận nhà Lê hết rồi” [4 –tr.357] Ngay trong bài “Vị Hoàng doanh” làm

trong thời gian 10 năm gió bụi, Nguyễn Du cũng thể hiện ý nghĩ đó của ông:

“ Cổ kim vị kiến thiên niên quốc”

( Xưa nay chưa thấy triều đại nào đứng vững nghìn năm)

Điều đó chứng tỏ Nguyễn Du “là một nhà nho thức thời” [4 –tr.357]

Nói tóm lại, trong việc nghiên cứu tìm hiểu về gia thế của Nguyễn Du, Trương Chính đã đi sâu vào tìm hiểu về bản thân con người Nguyễn Du chứ không coi trọng bản thể nguồn gốc nhà thơ sinh trưởng trong một gia đình như thế nào Có thể xem đây là một cách nhìn riêng của nhà nghiên cứu đối với đại thi hào dân tộc

1.5.1.2 Về đời riêng Nguyễn Du

Nhận định về đời riêng Nguyễn Du, Trương Chính lướt nhanh về việc ông là con vợ lẽ thứ ba, về việc Nguyễn Du mồ côi bất hạnh thế nào từ lúc sinh cho đến năm ông 19 tuổi

Điểm đầu tiên ta thấy Trương Chính nhắc đến Nguyễn Du với tư cách con người và đời sống riêng là ông khẳng định Nguyễn Du “ không bắt chước chơi bời” như ông anh của mình: “Ông ôm ấp mối đồng tình thành thực đối với những người đàn bà phải đem tài sắc mua vui cho kẻ giàu sang” [4 –

Trang 21

vọng tộc, “nhưng từ khi bước chân vào đời cho đến khi mất, có thể nói rất nghèo” [4 –tr.361] Sở dĩ ông nghèo như vậy là vì ông làm quan thanh liêm,

mặt khác lại nhiều vợ, đông con, lại thêm nữa là gặp nhiều năm mất mùa Mà điều này, theo Nguyễn Du, dân đói là tội của vua, của quan

Đánh giá về con người, tình cảm của Nguyễn Du, Trương Chính viết:

“Ông không chống lại chế độ phong kiến, nhưng ông nghĩ nhiều đến tình cảnh của dân Trong chế độ phong kiến, như thế đã là một điều đáng quý lắm rồi” [4 –tr.363]

1.5.1.3 Về thái độ chính trị của Nguyễn Du

Sẽ là thiếu sót nếu tìm hiểu về Nguyễn Du mà bỏ qua việc tìm hiểu thái

độ chính trị của nhà thơ Mở đầu phần bàn về thái độ chính trị của Nguyễn

Du, Trương Chính khẳng định ngay “đây là vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến mâu thuẫn” [4 –tr.363] Để phản bác lại ý kiến cho rằng con đường chính trị

mà Nguyễn Du đi là theo hai triều đại phản động và phản quốc (phò Lê Chiêu Thống, chống Tây Sơn, ra làm quan với triều Nguyễn ), Trương Chính chỉ ra:

“Nói như thế chỉ mới nhìn bề ngoài Tâm địa Nguyễn Du không tệ như vậy”

[4 –tr.364] Để kiểm chứng cho đánh giá của mình, nhà nghiên cứu đã đưa ra một số ví dụ cụ thể:

Đầu tiên, Trương Chính cho rằng Nguyễn Du không trung thành với nhà Lê, ông không cố chấp như vậy Điều đó được thể hiện qua việc Nguyễn

Du chê Phạm Tăng khuyên Hạng Vũ giết Lưu Bang trong bữa tiệc “Hồng môn”, dù lúc đó thế nước đã về tay Lưu Bang rồi

Trang 22

tự nguyện ra phục vụ cho triều đại này

1.5.2 Nghiên cứu, phê bình của Trương Chính qua bài “Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán”

Thông thường, mỗi bài thơ là một nỗi niềm tâm sự của chính tác giả, cho dù ở bất cứ thời nào, hơn nữa đây lại là những bài thơ viết bằng chữ Hán của một tác giả cách chúng ta hơn 200 năm Trong tập thơ chữ Hán, Nguyễn

Du đã ký thác rất nhiều tâm sự Mà tâm sự của Nguyễn Du, như Trương Chính khẳng định thì quả là một vấn đề phức tạp Để hiểu được tâm sự của Nguyễn Du qua phần thơ chữ Hán đòi hỏi người nghiên cứu, tìm hiểu phải có một năng lực phân tích công minh, khách quan

Ở đây, trước khi trình bày quan điểm, ý kiến của mình về tâm sự của Nguyễn Du, Trương Chính đã có dẫn ra những ý kiến lý giải của những nhà nghiên cứu trước đây và ông cho rằng những nhận định đó chưa thống nhất và đôi khi còn mâu thuẫn với nhau một cách sâu sắc

Nguyên nhân gây ra sự mâu thuẫn và không thống nhất đó là do các các nhân nhà nghiên cứu trước đây thường hay dựa vào gia phả để mà suy ra tâm

sự của Nguyễn Du Điều đó là chưa đúng Theo Trương Chính, gia phả thường ghi những điều tốt đẹp, điều hay hơn nhiều những điều dở, điều xấu Vậy nếu dựa vào đó mà nghiên cứu thì những kết luận đưa ra nhiều khi không thể chính xác được

Một vài ý kiến khác lại dựa vào tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du là

Truyện Kiều để tìm hiểu những tâm sự của nhà thơ Theo Trương Chính,

chính điều này cũng cần phải cân nhắc Lý do Trương Chính đưa ra ở đây là

Truyện Kiều là tác phẩm mà Nguyễn Du đã để nguyên nhân vật, cốt truyện,

Trang 23

24

triết lý như trong tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân

bên Trung Quốc Ở đây, nhà thơ chỉ thay đổi chút ít những chi tiết làm cho câu chuyện thêm gần gũi với người Việt Nam hơn

Theo Trương Chính, để xác định đúng những tâm sự của Nguyễn Du là phải nên căn cứ vào những bài thơ chữ Hán của nhà thơ Sở dĩ như vậy là vì tập thơ chữ Hán của ông là những tập nhật ký mà nhà thơ ghi trong một thời gian dài từ lúc 21 tuổi cho đến trước khi mất 5 năm Những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du không chỉ là những bài tức cảnh thuần tuý mà là những bài thơ bao hàm tâm sự của nhà thơ và thái độ đối với các triều đại một cách rõ ràng Bài tiểu luận “Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán”, Trương Chính cho thấy những tâm sự của Nguyễn Du với những nội dung như sau:

1.5.2.1 Điểm nổi bật trong những sáng tác của Nguyễn Du từ Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, cho đến thơ chữ Hán là nhà thơ rất gần gũi với những

người nghèo, yếu đuối bị áp bức, bị ô nhục trong xã hội cũ và có một cái nhìn hiện thực đối với xã hội, đối với giai cấp thống trị ở thời đại ông

Đây cũng chính là ý kiến của những nhà nghiên cứu trước đây, nhưng

họ không đưa ra được những bằng chứng cụ thể để giải thích tại sao Nguyễn

Du lại có niềm tâm sự đó Ở đó, họ chỉ dựa vào gia phả để đưa ra những nhận xét của mình

Trong công trình, Trương Chính đã căn cứ vào hoàn cảnh thực tế gia đình của Nguyễn Du để giải thích, lấy đó làm cơ sở cho những ý kiến của mình Theo sự phân tích của nhà nghiên cứu, người đọc thấy nổi lên điểm chính của gia cảnh Nguyễn Du Đó là một gia đình quý tộc phong kiến với chế độ đa thê Cha Nguyễn Du có 8 vợ, với 21 người con Mẹ Nguyễn Du là

vợ lẽ thứ ba Cùng với chế độ đa thê, gia đình Nguyễn Du còn là điển hình của chế độ tảo hôn Bà Trần Thị Tần, mẹ của Nguyễn Du lấy chồng từ khi mới 16 tuổi, và sau bà Trần Thị Tần còn bảy bà khác mà tuổi cũng xấp xỉ nhau

Trang 24

25

Trương Chính cho rằng, tuy gia phả không nói đến nhưng rõ ràng các

bà không phải xuất thân ca kỹ thì cũng có chút nhan sắc mà trở thành nàng hầu của quan tể tướng Nguyễn Nghiễm Hoàn cảnh gia đình như vậy đã ảnh

hưởng đến Nguyễn Du rất nhiều Ở đây, ông viết: “Thuở nhỏ, tác giả Truyện Kiều sống trong một hoàn cảnh như vậy Những chi tiết đó có thể giải thích

được phần nào lòng trắc ẩn của nhà thơ đối với phụ nữ nói chung, và đối ca

kỹ nói riêng Cái cảnh những người đàn bà sống trong xã hội cũ, vì có chút nhan sắc hay có giọng hát hay, rồi phải đem nhan sắc tài hoa làm trò chơi cho thiên hạ, mà sau này ra đời nhà thơ còn có nhiều dịp chứng kiến nữa, thì từ những ngày thơ ấu, ông đã chứng kiến trong gia đình mình, hơn nữa, chính những người thân của mình là nạn nhân! Cho nên, ta không lấy làm lạ trong tác phẩm của Nguyễn Du, khi nói về họ, ông có một thái độ trìu mến, xót thương, như trìu mến, xót thương những người ruột thịt”[4 –tr.376]

Trong quá trình tìm hiểu về khía cạnh này của Nguyễn Du, Trương Chính đã ghi nhận điểm tiến bộ của nhà thơ so với các nhà thơ đương thời, đó

là ông không có cái nhìn sai lệch của nhà nho phong kiến trọng nam khinh nữ Đối với người phụ nữ, Nguyễn Du có những lời lẽ biểu dương, trân trọng mà không có những lời miệt thị khinh bạc Đặc biệt, ông rất trân trọng, thán phục lòng trinh tiết của người phụ nữ

1.5.2.2 Điểm thứ hai trong nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du mà Trương Chính nhận thấy là Nguyễn Du có cuộc sống rất nghèo, mặc dù cả nhà ông từ cha con chú bác đều làm quan rất to

Căn cứ vào đâu mà Trương Chính đưa ra kết luận như vậy? Đầu tiên ta thấy là Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình có nhiều người từng làm quan

Bố làm đến chức tể tướng Anh trai cũng làm quan to trong triều Khi Nguyễn

Du còn nhỏ, gia đình ông rất sung túc, thịnh vượng Song khi Nguyễn Du lên

10 tuổi thì cha mất, gia thế bắt đầu sa sút Hơn nữa, Nguyễn Du lại là con của

vợ thứ nên việc thừa hưởng gia tài không được bao nhiêu Nguyễn Du đã từng

Trang 25

“ Hồng Lĩnh vô gia, huynh đệ tán”

Còn về quê nội Nguyễn Du, Trương Chính đã nêu lên một thực tế mà không gì phủ nhận được Nghi Xuân - một vùng đất cát pha cằn cỗi Làng Tiên Điền lại là một khu đất hoang ở gần biển, nước mặn không trồng được lúa, chỉ trồng được hoa màu Nhân dân sống chủ yếu bằng nghề phụ Viết về quê Nguyễn Du, Trương Chính viết: “Người lao động cật lực còn không kiếm

ra ăn, huống chi chỉ một nhà nho yếu đuối như Nguyễn Du” [4 –tr.381]

Những bài thơ của Nguyễn Du viết trong thời gian này, nhà thơ hay nói đến gia cảnh, bệnh tật ốm đau liên miên Khi nói về cảnh nghèo của Nguyễn

Du, Trương Chính như muốn gợi đến một Đỗ Phủ của văn học Trung Quốc:

“Ông chưa đến nỗi như Đỗ Phủ trời rét vác mai vào núi đào củ hoàng tinh ăn

đỡ đói, nhưng xem ra cũng chẳng phong lưu hơn mấy” [4 –tr.381]

Cảnh nghèo của Nguyễn Du cũng chẳng hơn là mấy khi nhà thơ ra làm quan cho nhà Nguyễn, bởi ông là một vị quan thanh liêm, như một cậu học trò nghèo Cái nghèo của Nguyễn Du còn một phần nữa là do nhà Nguyễn Du rất đông người

Qua những lời đánh giá của Trương Chính, người đọc chúng ta dễ ràng nhận ra cái gia cảnh nghèo của Nguyễn Du - một dấu ấn đậm nét trong thơ ca của ông

1.5.2.3.Vấn đề thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại phong kiến Một trong những việc khó nhất khi tìm hiểu về Nguyễn Du là tìm hiểu thái độ của nhà thơ đối với các triều đại phong kiến Cái khó ở đây là nhà thơ không trực tiếp thể hiện thái độ ấy, hay chính xác hơn là Nguyễn Du chưa

Trang 26

Trước hết là ý kiến của hai nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim và Đào

Duy Anh Hai ông cho rằng: “Nguyễn Du là dòng dõi quan nhà Lê thuỷ

chung hoài vọng nhà Lê, gặp lúc thời thế biến đổi thì bắt buộc phải theo nhà

Nguyễn nhưng vẫn ôm mối cô trung với nhà Lê” [ 7 -tr.25] Ở đây, hai ông đã cho rằng tác phẩm Truyện Kiều là tác phẩm mà nhà thơ gửi gắm tâm sự ấy

Còn đây là ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Bách Khoa Nguyễn Bách Khoa đã dựa trên ý kiến của hai nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh để rồi phê phán Nguyễn Du là con người ích kỷ, nhút nhát, chỉ thích an nhàn, con người sống tuỳ thời Nguyễn Bách Khoa viết: “Sao ông ( Nguyễn Du ) không theo những tấm gương khí tiết ấy lại khuất thân phục vụ triều đình? Tại sao? Vì lẽ gì? Ông đã mượn lẽ tuỳ thời để đạt cái lý tưởng an thường thủ phận Cả đẳng cấp ông cũng vậy” [7 – tr.25]

Bản thân Nguyễn Bách Khoa (trước đó nhà nghiên cứu này lấy bút danh là Trương Tửu) lại hết sức tìm mọi cách bênh vực, khen ngợi Nguyễn

Du Ông viết: “Nguyễn Du chẳng những không thù hằn gì với Tây Sơn mà lại hết sức ca tụng Tây Sơn, ca tụng Nguyễn Huệ” [7- tr.26]

Về thái độ này của Nguyễn Du, nhà phê bình Hoài Thanh viết: “Thái

độ của Nguyễn Du đối với các triều đại kế tiếp nhau thời bấy giờ không lấy gì làm rõ rệt lắm Bởi Nguyễn Du vốn là tôi nhà Lê và đã từng vì nhà Lê mà chống lại Tây Sơn, cuối cùng lại ra làm quan với nhà Nguyễn” [7 – tr.26]

Theo Hoài Thanh, Nguyễn Du quả có nhớ tiếc đến nhà Lê, và trong sự nhớ tiếc đó có một cái gì đó xót xa Song, Nguyễn Du như trước đã nói, ông

đã nhìn thấy rõ vận của nhà Lê hết, cho nên Nguyễn Du thật thà đi theo nhà

Trang 27

28

Nguyễn âu cũng là chuyện lẽ thường Nhưng có một điểm cũng cần phải để ý

là khi ra làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du vẫn có những nỗi niềm luyến tiếc nhà Lê Hoài Thanh nhận xét: “Khó có thể nói trong nỗi niềm tưởng nhớ

ở đây chỉ có tưởng nhớ nhà Lê Thế là nghĩa thế nào! Đi theo nhà Nguyễn nhưng lại nhớ tiếc nhà Lê và có khi dường như nhớ tiếc cả nhà Tây Sơn nữa” [7 – tr.26]

Trước những ý kiến trái chiều như trên của các nhà nghiên cứu như vậy, Trương Chính đã thận trọng tìm hiểu tâm trạng, thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại phong kiến qua nhiều chặng khác nhau

Thứ nhất là xem xét trong thời gian từ khi Tây Sơn ra Bắc Hà (1786) cho đến khi Tây Sơn thất thế Trong thời gian này, Nguyễn Du có tính đến việc phò Lê chống lại Tây Sơn, nhưng đó chỉ là ý định của Nguyễn Du chứ chưa bao giờ nhà thơ khởi sự Chứng minh cho điều này, Trương Chính đã đã dẫn câu thơ :

“Hán mạt nhất thời vô nghĩa sĩ, Chu sơ tam kỷ hữu ngoan dân”

(Cuối Hán tạm thời không còn nghĩa sĩ nữa,

Đầu Chu đã ba đời vẫn có những người không chịu theo )

Căn cứ vào đó mà Trương Chính đánh giá, thơ văn Nguyễn Du thời kỳ này không có sự lạc quan như ở giai đoạn trước mà thay vào đó, trong từng câu chữ đều có sự u sầu Nói như vậy không có nghĩa là khẳng định Nguyễn

Du không có ý định khởi sự, mà ở đây ông không tìm được người tâm đầu ý hợp mà thôi

Thứ hai là thời gian Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn Thời gian này dài tới 19 năm Thời gian khi làm quan cho nhà Nguyễn, ít nhiều thái

độ của nhà thơ có thay đổi Ta thấy nhà thơ vẫn nhớ đến nhà Lê, nhưng không còn nghĩ đến chuyện phục quốc, phục Lê nữa Theo Nguyễn Du, chuyện phục quốc đã trở thành chuyện muôn năm cũ

Trang 28

29

Ở mặt này, Trương Chính có những nhận xét tương đồng với Hoài Thanh khi ông cho rằng khi Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn nhưng vẫn nhớ nhà Lê, thậm chí cả nhà Tây Sơn nữa!

Để phản bác lại ý kiến của những nhà nghiên cứu trước đó cho rằng Nguyễn Du là con người tuỳ thời, thay lòng đổi dạ, Trương Chính lại có đánh giá khác Theo Trương Chính, sở dĩ Nguyễn Du có sự thay đổi trong thời gian này là do nhà thơ có cái nhìn khách quan hơn Nguyễn Du đã nhìn thấy vận nhà Lê đã hết, cho nên ông thật thà đi theo nhà Nguyễn cũng là lẽ thường tình

Xung quamh vấn đề thái độ “bất đắc chí” của Nguyễn Du có nhiều cách giải thích khác nhau, trong đó ý kiến cho rằng đó là tâm sự của người ôm mối cô trung, mình là con nhà cựu thần mà lại đi làm quan với nhà Nguyễn

Về vấn đề này, Trương Chính cho rằng, Nguyễn Du không có tâm sự ấy Cái nguyên nhân dẫn đến thái độ bất đắc chí như có người nói đã được Trương Chính lý giải bằng những lý lẽ cụ thể:

Thứ nhất là trong thời gian làm quan cho nhà Nguyễn, Nguyễn Du thường bị quan trên quở trách Thực tế điều này được ghi trong bài thơ

“Giang đầu tản bộ” - số 26 trong tập Nam trung tạp ngâm Trong tình cảnh

như vậy, Nguyễn Du đã nghĩ đến cái chết:

“ Quyên ai mạc hoá sinh hà bổ

Nhi nữ thành quần tử bất phương”

(Ơn trên chưa báo được mảy may sống có ích gì?

Trai gái hàng đàn chết cũng được )

Trên cơ sở những vần thơ như vậy, Trương Chính đánh giá: “Một người như Nguyễn Du, con cháu một vọng tộc nhà Lê, đã từng có chí phò Lê phục quốc, cuối cùng ra làm việc với nhà Nguyễn, dưới quyền những người hoặc có công với nhà Nguyễn hoặc vì nịnh hót mà làm quan to, thì dù được

Trang 29

30 cất nhắc làm cai bạ hay tham tri, cũng không tránh khỏi người này người kia xét nét, bắt nạt” [4 – tr.395]

Thái độ bất đắc chí ấy của Nguyễn Du theo Trương Chính là do nhà thơ

có con mắt nhìn rất hiện thực đối với giai cấp thống trị thời đó Sự thật cho chúng ta những trải nghiệm Sau một thời gian làm quan, Nguyễn Du đã chứng kiến bao chuyện xấu xa, bỉ ổi, thối nát trong bộ máy quan trường, như chuyện mua quan bán tước, làm sắc giả bán lấy tiền hoặc chuyện hiềm khích, hãm hại lẫn nhau… Với những điều mắt thấy tai nghe như vậy, Nguyễn Du cảm thấy triều đình thối nát đó không phải là nơi dành cho mình Một vị quan thanh liêm như ông, khi nhìn những cảnh trái tai gai mắt như vậy, hẳn không thể chịu được Song, xét phận mình không thể lấy trứng chọi đá nên đành phải gửi tâm sự u uất vào thơ văn Âu đó cũng là điều bình thường của những nhà nho như Nguyễn Du

Theo Trương Chính, đây là những tâm sự sâu sắc nhất của Nguyễn Du

về cuối đời, tâm sự của một người nhiều hoài bão, trung trinh với đất nước nhưng đành bất lực, khoanh tay đứng nhìn Tâm sự đó đã giày vò ông rất nhiều Nhà thơ từng nghĩ cuộc đời là giấc chiêm bao, bao nhiêu dự định toan tính chỉ thực hiện được trong giấc mơ Tất cả những điều đó càng khiến cho Nguyễn Du chỉ muốn trở thành con người muốn quay lưng lại với cuộc đời, muốn nghỉ ngơi an nhàn, hưởng cảnh trăng trong gió mát, muốn nghỉ trưa bên cửa sổ mà không nghĩ đến chân trời xa xôi

Có thể nói, qua việc nghiên cứu những bài thơ chữ Hán của Nguyễn

Du, Trương Chính đã phần nào phản ánh được những điều cơ bản trong tâm

sự của nhà thơ, thái độ của nhà thơ đối với các triều đại phong kiến Việt Nam Điểm nổi bật trong nghiên cứu của Trương Chính ở đây là ông đã lý giải một cách tường tận hoàn cảnh nào đã khiến Nguyễn Du có những tâm sự như vậy Đây thực sự là một đóng góp của Trương Chính trong việc nghiên cứu tìm hiểu về các tác giả văn học Việt Nam thời trung đại Bởi, qua bài nghiên cứu

Trang 30

31

của Trương Chính, bạn đọc hiểu được một cách đầy đủ về Nguyễn Du và giá trị thơ văn của ông, hiểu được lý do tại sao một con người tài hoa như Nguyễn

Du mà cuộc đời lại mang tâm trạng bi quan, chán nản như vậy

1.6 Về tác giả Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

Với tiểu luận “Tâm sự của Nguyễn Công Trứ", Trương Chính đã hướng ngòi bút của mình vào việc biện giải những mâu thuẫn trong tâm sự cũng như

hành động của Nguyễn Công Trứ

Tương đồng quan điểm với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác về Nguyễn Công Trứ, Trương Chính cũng cho rằng, từ trước đến nay, việc đánh giá về con người cũng như về thơ văn của Nguyễn Công Trứ chưa thật sự thoả đáng, đúng mức Nhìn chung, các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về thân thế Nguyễn Công Trứ thường đi sâu vào nội dung thơ văn và những việc làm

có ích của ông cho đất nước

Trở lại bài tiểu luận “Tâm sự của Nguyễn Công Trứ”, ta thấy Trương Chính đã hướng ngòi bút của mình vào việc biện giải những mâu thuẫn trong tâm sự và hành động của Nguyễn Công Trứ ở những điểm sau:

1.6.1 Nguyễn Công Trứ với việc khai khẩn đất hoang thành lập hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải

Căn cứ vào thực tế và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ, các tác giả Lê Trí Viễn – Phan Côn - Nguyễn Lộc và Trương Chính đều khẳng định công lao đầu tiên thuộc về Nguyễn Công Trứ, coi ông là người sáng lập ra hai huyện này Về điểm này, hiện nay khi chúng ta đến với hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải đều thấy có rất nhiều đền thờ mà nhân dân lập ra nhằm tưởng nhớ, ghi nhận công lao của ông Có thể coi đây là một căn cứ thực tiễn xác đáng

Không chỉ khẳng định công lao của Nguyễn Công Trứ trong việc thành lập hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải với nghĩa là những đơn vị hành chính, cũng trong bài viết này, Trương Chính còn chỉ ra một đóng góp nữa của Nguyễn Công Trứ, đó là việc dẹp giặc cướp, khẩn hoang mở đất cho dân Trương

Trang 31

32 Chính viết: “Tất nhiên, với con mắt của một viên tướng vừa đi dẹp loạn xong, ông còn thấy một khía cạnh khác là: những nơi rậm rạp quá, là những nơi giặc cướp thường nhóm họp, nay khai phá thì chẳng những trừ được giặc cỏ, mà

có thể cấp đất cho những dân cày lưu vong” [5 - tr.54]

Cũng trong tiểu luận này, Trương Chính còn đánh giá Nguyễn Công Trứ là một người làm kinh tế rất giỏi, có đầu óc tính toán khoa học Điều đó được thể hiện qua việc ông phân chia ranh giới địa phận giữa các làng xã một cách rất hợp lý

Trong quá trình tìm hiểu về Nguyễn Công Trứ, đặc biệt khi đề cập đến công lao của ông trong việc thành lập hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, không

phải nhà nghiên cứu nào cũng đánh giá đúng Có ý kiến cho rằng: “Việc khai

hoang hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải hiển nhiên không ai có thể cho là không vì lợi ích của trật tự phong kiến” Đáp lại lời nhận xét này, Trương Chính thẳng thắn chỉ rõ : "mới nghe tưởng đúng nhưng càng nghĩ càng thấy sai Thời phong kiến muốn đề ra chính sách gì có lợi cho dân, nhất định phải

có lợi cho trật tự phong kiến mới thi hành được” [5 – tr.60]

Ở đây, ta thấy Trương Chính đã đặt việc làm của Nguyễn Công Trứ trong bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến là quyền lợi của người dân phụ thuộc

và gắn chặt vào giai cấp phong kiến Theo Trương Chính, ý kiến trên đây mới chỉ thấy được một mặt là giai cấp phong kiến có thêm nguồn thu từ việc khai khẩn của Nguyễn Công Trứ mà chưa thấy được những quyền lợi của người dân từ chính việc đó

1.6.2 Điểm thứ hai trong tiểu luận, Trương Chính tìm hiểu về lý tưởng

và hành động của Nguyễn Công Trứ

Đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ, có thể nhận ra một đặc điểm nổi bật là ông nói nhiều đến chí nam nhi:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

Trang 32

33

Hoặc: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất

Không công danh thời nát với cỏ cây”

Nguyễn Công Trứ nói nhiều đến công danh, sự nghiệp của người quân

tử trong xã hội, nhưng một vấn đề phức tạp đặt ra ở đây là: tại sao ông lại làm quan cho triều đình phong kiến như nhà Nguyễn? Giữa một bên là lý tưởng, hoài bão lập công, lập danh của người quân tử và một bên là triều đình mục nát như vậy có điểm gì mâu thuẫn hay không? Ở đây, Trương Chính đã lý giải việc Nguyễn Công Trứ ra làm quan với nhà Nguyễn: Khi còn là một cậu học trò bạch diện thư sinh 23 tuổi, Nguyễn Công Trứ đã có bản điều trần mười sách lược dâng lên nhà vua Tuy việc làm của Nguyễn Công Trứ chưa được nhà vua để ý, sử dụng, nhưng qua việc này đã chứng tỏ Nguyễn Công Trứ rất

có trách nhiệm với nước, với đời, đã bộc lộ chí nam nhi, chí anh hùng của mình

Như chúng ta thấy, Nguyễn Công Trứ đã tự nhận thấy rằng: mang tiếng

ở trong trời đất thì người con trai phải để lại danh tiếng với núi sông Và Nguyễn Công Trứ tự nhận mình có khả năng để đóng góp, do vậy không thể

để phí phạm mà phải cống hiến cho đất nước Điều này Nguyễn Công Trứ học được từ trong tư tưởng Khổng Mạnh:

“ Nước nguy ta không đến, nước loạn ta không ở”

Sự thật là trong suốt cuộc đời, Nguyễn Công Trứ đã cố gắng làm theo những lời dạy của bậc thánh hiền Ông đã đem tài trí phục vụ đất nước, mà chỉ có làm quan thì mới hành đạo được Hơn nữa, thời điểm này triều đình nhà Nguyễn đang thịnh nên việc Nguyễn Công Trứ ra làm quan với triều Nguyễn là có thể hiểu được Ngay như Nguyễn Du cũng từng nói, không có triều đại nào đứng vững nghìn năm thì việc Nguyễn Công Trứ làm quan cho nhà Nguyễn âu cũng là chuyện đàng hoàng đâu phải lúng túng gì Ở đây chỉ

có một điểm là Nguyễn Công Trứ không biết được nhà Nguyễn là một vương triều được dựng lên là nhờ vào thế lực xâm lược của nước ngoài

Trang 33

Hoặc trước nhận xét rằng lý tưởng nam nhi của Nguyễn Công Trứ không khỏi nhuốm màu hình thức chủ nghĩa, huênh hoang, loè loẹt bên ngoài hơn là có thực chất bên trong của những người đứng trên lập trường mới khi

họ nhận xét về những bài sớ Nguyễn Công Trứ dâng lên nhà vua, Trương Chính cho đó là những đánh giá không chính xác, cho đó là nhìn phiến diện một chiều, chưa thấu đáo Ông viết: “Họ chỉ chú ý giọng phóng túng của ông trong các bài thơ, mà không chú ý đến những hành động cụ thể của ông” [5 – tr.60]

Hay nói về “hoạn hải ba đào” trong quãng thời gian làm quan của Nguyễn Công Trứ có một vấn đề đặt ra là Nguyễn Công Trứ một lòng vì dân

vì nước sao lại phải chịu cảnh “ba chìm bảy nổi”, điều ấy có phải vì nhà vua không muốn trọng ông hay vì ông quá khinh rẻ bạn đồng liêu mà nên nỗi Về điểm này, Trương Chính cho rằng Nguyễn Công Trứ bị “hoạn hải ba đào’ chỉ

là vì xã hội phong kiến thối nát mà chính ông là nạn nhân Nguyễn Công Trứ nhiều lần được cất nhắc, ban thưởng hậu hĩnh, nhưng cũng không ít lần bị giáng chức Theo Trương Chính, Nguyễn Công Trứ là một con người luôn lạc quan tin tưởng vào xã hội nhưng thực tế cuộc đời đã cướp đi cái lạc quan ấy của ông

Nói tóm lại, nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ, Trương Chính không lặp lại dấu chân của những nhà nghiên cứu đi trước, ông chủ yếu tìm hiểu tâm sự

để từ đó biện giải những gì được xem là mâu thuẫn trong con người Nguyễn Công Trứ Nói như vậy không có nghĩa là mọi nghiên cứu của Trương Chính đều khách quan Một phần vì mến mộ tài năng, nhân cách của Nguyễn Công

Trang 34

35

Trứ, một phần ông và Nguyễn Công Trứ cùng là đồng hương nên đôi chỗ ý kiến của ông còn nhuốm màu thiên vị Nhưng về cơ bản, những thông tin đúng đắn về Nguyễn Công Trứ ngày nay chúng ta có được một phần nhờ những đóng góp của Trương Chính

1.7 Về tác giả Cao Bá Quát (1808-1855)

Rất khác so với những bài viết tìm hiểu về các tác giả trung đại, trong khi tìm hiểu về Cao Bá Quát, Trương Chính đã chia tách thành nhiều vấn đề gắn với từng sự việc trong cuộc đời của Cao Bá Quát Trước tiên, Trương Chính khẳng định Cao Bá Quát là con người đầy tài năng, hoài bão nhưng không gặp thời

Điểm nổi bật hơn cả trong bài tìm hiểu về Cao Bá Quát là Trương Chính đi vào luận giải để làm rõ những giai thoại mà bấy lâu nay nhiều người nhìn nhận còn những điểm chưa thoả đáng Không phải giai thoại nào về danh nhân cũng bắt nguồn từ thực tế cho dù điều đó được minh chứng qua thơ văn Vậy, Trương Chính đã làm rõ về Cao Bá Quát ở những điểm nào?

1.7.1 Thứ nhất là giai thoại cho rằng Cao Bá Quát là người học giỏi, lỗi lạc, phi thường, sống kiêu ngạo

Về khía cạnh này có câu chuyện cho rằng chính Cao Bá Quát đã nói:

“Cả thiên hạ có bốn bồ chữ, một mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi, ông Bá Đạt

và bạn tôi, ông Siêu giữ một bồ Còn một bồ thì phân phát cho thiên hạ” Đúng là Cao Bá Quát là người học giỏi, xuất thân trong một cự tộc nổi tiếng của đất Kinh Bắc xưa Nhưng chúng ta cũng cần xem xét lại là ông dù có nói như vậy thì đối tượng mà ông hướng đến là ai? Có phải dưới con mắt Cao Bá Quát, thiên hạ đều tầm thường, kém chữ? Biện giải về việc này, Trương Chính viết: “Thật là kiêu Kiêu đến khinh bạc Nhưng nên chú ý ông kiêu là kiêu với hạng người tầm thường mà hay khoe chữ, chứ không phải dưới mắt ông không còn ai” [5 – tr.119] Ở đây, hoá ra ông kiêu ngạo, ông khinh bạc là

Trang 35

1.7.2 Thứ hai là giai thoại cho rằng ông là con người ngỗ ngược

Việc cho rằng Cao Bá Quát ngỗ ngược là căn cứ vào những bài thơ, câu đối mà Cao Bá Quát chửi hoặc đối lại vua chúa, quan lại Chẳng hạn như câu thơ ứng khẩu: “Giời nắng chang chang người trói người” mà ông đối lại câu của Minh Mệnh khi nhà vua đi chơi Hồ Tây: “Nước trong leo lẻo cá đớp cá” Hoặc bài thơ nôm chửi tên lý trưởng ăn bớt của dân khi thuê thợ đắp con voi phục ở cửa đình:

“ Khen ai khéo khéo đắp đôi voi

Đủ cả đầu đuôi đủ cả vòi

Chỉ có cái kia… sao chẳng đắp

Hay là lý trưởng bớt đi rồi?”

Lý giải về chuyện này, Trương Chính viết: “Đúng là ngỗ ngược, nhưng

mà ngỗ ngược với giai cấp thống trị, bọn áp bức bóc lột dân đen Còn như đối với triều đình nhà Nguyễn thì thực tế, ông Quát đã chống lại bằng hành động, chứ không phải chỉ bằng lời nói” [5 – tr.121]

Tóm lại, qua việc tìm hiểu về Cao Bá Quát, Trương Chính có một cái nhìn khách quan, đi vào những điều cụ thể để biện giải tường tận từng góc khuất trong con người Cao Bá Quát Có thể nói, nhờ những sự nghiên cứu của

Trang 36

2.1 Về quan điểm, tư tưởng

Trong quá trình nghiên cứu, phê bình, Trương Chính bao giờ cũng thể hiện rõ ràng, thẳng thắn chính kiến của mình Ông có một giọng điệu rất riêng trong nghiên cứu phê bình Đọc những trang viết của ông ở phần này, người

ta nhận thấy được sự chân thành, thái độ yêu ghét rõ ràng, mạch lạc, ít khi ta thấy sự mập mờ, chung chung trong những lời bình của ông Người đọc cũng nhận thấy ở ông có sự phân chia hai thái cực yêu ghét rõ ràng hơn ở những người khác, nhiều khi có phần thái quá

Chẳng hạn như khi nhận xét về việc cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi có thực sự ủng hộ nhà Trần hay không Đây đúng là vấn đề lịch

sử, lại cách chúng ta rất xa, nhưng nghiên cứu tập thơ Nhị Khê thi văn tập của

Nguyễn Phi Khanh, Trương Chính thẳng thắn cho rằng: “Hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi không gắn bó với nhà Trần” [4 –tr.227] Và: “Khi quân Minh sang chiếm nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị bắt ngay, không kể, còn Nguyễn Trãi thì không đứng về phía nhà Hồ, mà cũng không đứng về phía nhà Trần, không theo Trần Ngỗi, con thứ Nghệ Tông, cũng không theo Quý Khoáng, cháu nội Nghệ Tông; mà lần mò vào Lam Sơn, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi” [4 –tr.228]

Hoặc khi nghiên cứu về gia thế của Nguyễn Du Việc này đã có nhiều công trình của nhiều học giả, nhưng điểm chung dễ nhận thấy là những nhà nghiên cứu đó chủ yếu dựa vào gia phả, dựa vào dòng họ “thế phiệt trâm

Trang 37

38

anh”, vào tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du để đánh giá Trương Chính

thẳng thắn chỉ ra: “Không thể căn cứ vào cái “dòng dõi thế phiệt trâm anh”- một gia đình mà cả cha con, chú bác, anh em được vinh hiển dưới đời Lê - Trịnh”, bởi “thành phần xuất thân đã là một hạn chế đối với nhà thơ rồi” [4 –tr.353]

Có thể nhận ra, thái độ rõ ràng, thẳng thắn trong nghiên cứu, phê bình

là một đặc điểm nổi bật của Trương Chính Điều này thể hiện rất rõ qua những trang viết của ông về các tác gia văn học Việt Nam trung đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát như đã phân tích

ở trên

2.2 Về phương pháp phê bình

Có thể nói, phương pháp phê bình của Trương Chính rất đặc biệt Đó là Trương Chính trong khi nghiên cứu phê bình luôn tỏ ra thích tranh luận, lật lại vấn đề và sử dụng phương pháp so sánh để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu

Về điểm này ta có thể lấy một vài ví dụ chứng minh Chẳng hạn khi tìm hiểu về Nguyễn Du, có ý kiến cho rằng Nguyễn Du, con đường hoạn lộ đúng đắn nhất của ông là đi theo nhà Tây Sơn thì ông lại không đi mà lại đi theo hai triều đại phản động và phản quốc Đứng trước nhận định này, Trương Chính

cho rằng: “Nói như thế mới chỉ là nhìn bề ngoài, tâm địa Nguyễn Du không đến nỗi tệ như vậy”, và Trương Chính giải thích việc Nguyễn Du có làm quan

cho nhà Nguyễn, nhưng trong lòng vẫn nhớ nhà Lê, lại có ý phục quốc nhưng thấy không có ý nghĩa, lòng trung thành với nhà Lê không bền nên sau này ông có ra làm quan cho nhà Nguyễn cũng không bị cắn rứt

Hay khi nghiên cứu về vai trò của Nguyễn Công Trứ trong việc thành

lập hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải, có ý kiến cho rằng “việc khai hoang hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải hiển nhiên không ai có thể cho là không vì lợi ích của trật tự phong kiến” Đáp lại lời nhận xét đó, Trương Chính thẳng thắn chỉ

rõ: “Mới nghe tưởng đúng nhưng càng nghĩ càng thấy sai Thời phong kiến

Trang 38

Soi áo ta mỏng không”

Một điểm nữa trong phương pháp phê bình ở đây của Trương Chính là ông hay dùng phương pháp tiểu sử để nghiên cứu, phê bình về tác giả Đó là trước khi tìm hiểu những văn bản tác phẩm, hoặc khía cạnh nào đó trong văn nghiệp của tác giả đó, Trương Chính thường bao giờ cũng đi từ việc tìm hiểu

về tiểu sử xuất thân, hoàn cảnh gia đình, bối cảnh xã hội trước, thái độ của nhà văn đó như thế nào…

Ví dụ như, khi tìm hiểu Nguyễn Trãi, Trương Chính tìm hiểu về Nguyễn Phi Khanh, về ảnh hưởng của người cha đối với nhà văn như thế nào Hoặc trước khi tìm hiểu tâm sự của Nguyễn Du qua thơ văn chữ Hán, ông lại quan tâm đến thái độ chính trị, thái độ của nhà văn đối với các triều đại phong kiến

Và một điều đáng lưu ý nữa trong nghiên cứu, phê bình của Trương Chính là khi đánh giá quan điểm, tư tưởng của các tác gia, ông rất chú trọng đến việc khảo sát văn bản tác phẩm theo các chặng đường sáng tác cụ thể mà

Trang 39

40 không bị lệ thuộc vào gia cảnh, tiểu sử xuất thân Chính phương pháp tiếp cận tiến bộ này đã giúp ông có những kết luận thuyết phục

Về vấn đề quan điểm cũng như phương pháp nghiên cứu phê bình văn học của Trương Chính còn nhiều điểm cần xem thêm Trong giới hạn công trình của mình, người viết mạnh dạn đưa ra những nhìn nhận mang tính cá nhân, rất mong được sự đóng góp thêm của bạn đọc cùng quan tâm đến sự nghiệp phê bình của Trương Chính để có một công trình đánh giá mang tính tổng thể, đầy đủ hơn

Trang 40

41

CHƯƠNG 2: TRƯƠNG CHÍNH PHÊ BÌNH TÁC GIA,

TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.Về các tác giả, tác phẩm

Tìm hiểu những công trình nghiên cứu, phê bình của Trương Chính về các tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam, chúng tôi đi theo trình tự từ các tác giả văn học cách mạng trước và sau Cách mạng tháng 8-1945 rồi đến các tác giả của trào lưu văn học lãng mạn, và cuối cùng là các tác giả của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước cách mạng tháng 8-1945

1.1 Trương Chính với tác gia Hồ Chí Minh

Về tác gia Hồ Chí Minh, Trương Chính có bốn công trình: Hồ Chí Minh, một vị hiền triết hành động, Văn Bác Hồ, Cảm nghĩ đọc Truyện và Ký của Bác và Tình điệu trong Nhật ký trong tù Mỗi bài viết là những khám phá,

nhận xét, đánh giá của Trương Chính về Hồ Chí Minh

1.1.1 Trương Chính với bài "Hồ Chí Minh, một vị hiền triết hành động"

Hồ Chí Minh (1890 - 1969) là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, vị cha già kính yêu của nhân dân Việt Nam Ánh sáng toả

ra từ Người khiến cho ta dù đến nay có hàng nghìn công trình, bài viết của các tác giả trong và ngoài nước viết về Người đều thấy chưa thoả đáng Bài viết

"Hồ Chí Minh, một vị hiền triết hành động" là những cảm nhận, đánh giá từ góc nhìn của Trương Chính về Bác Hồ Góc nhìn ấy mang dấu ấn cá nhân của ông, nhưng cũng là cảm nhận, đánh giá của nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới nói chung

Ngày đăng: 05/11/2016, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w