Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của con người luôn thay đổi và phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường tự nhiên và xã hội.. Vì vậy, việc ng
Trang 1Trong Nghị quyết 25, Nghị quyết 04 của Bộ chính trị (khóa VI), nghị quyết trung ương II (khóa VIII), Đảng ta đã xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, giáo dục có vai trò quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Thực hiện các nghị quyết của Đảng, trong 10 năm qua, ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực đổi mới tư duy, coi “Chiến lược phát triển giáo dục là một bộ phận trong chiến lược phát triển con người và chiến lược con người đứng ở vị trí trung tâm của toàn bộ chiến lược kinh tế xã hội của đất nước” [95] Vì vậy, cần phải đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, đổi mới cách thức tổ chức, quản lý giáo dục, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, nhằm khai thác mọi nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục, nhằm đào tạo nguồn nhân
lực đạt chất lượng cao [95]
Trang 2Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của vấn đề này, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả [7], [9], [17], [22], [28], [30], [38], [44], [50], [57], [61], [67]… về các chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh Việt Nam Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy, chỉ số sinh học và năng lực trí tuệ của con người luôn thay đổi và phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, môi trường tự nhiên
và xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu các chỉ số sinh học, chức năng sinh lí, trí tuệ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trên nhiều đối tượng ở tất cả các địa bàn trong cả nước
Nam Sách là một huyện thuần nông của tỉnh Hải Dương, đang từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên nhu cầu về nguồn lao động có sức khoẻ tốt, có trí tuệ cao là rất cần thiết Những năm gần đây, công tác giáo dục ở Hải Dương nói chung và huyện Nam Sách nói riêng, đã và đang từng bước chuyển mình theo đà phát triển chung của đất nước Phần lớn các trường học được xây dựng khang trang với các trang thiết bị đầy đủ hơn phục vụ cho việc dạy và học của học sinh trong huyện Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu nào về các chỉ
số sinh học và trí tuệ của học sinh để có thể dựa vào đó định hướng phương pháp giảng dạy, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho học sinh trong huyện
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh trường THCS An Bình và trường THPT Nam Sách
II, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương”
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được thực trạng một số đặc điểm sinh học (chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI, tần số tim và huyết áp động mạch) của học sinh 12 - 18 tuổi
Trang 3- Nghiên cứu các chỉ số năng lực trí tuệ của học sinh 12 - 18 tuổi (chỉ số
IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc)
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu một số chỉ số sinh học (chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI, tần số tim, huyết áp động mạch của học sinh 12 -
18 tuổi
- Nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh 12 - 18 tuổi (chỉ số IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 12 - 18 tuổi của trường THCS An
Bình và THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số sinh học, tần số tim và huyết áp động mạch, năng lực trí tuệ của học sinh 12 - 18 tuổi của trường THCS
An Bình và THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
- Các chỉ số sinh học, tần số tim và huyết áp động mạch được xác định theo các phương pháp hiện hành
- Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent (loại dùng cho người bình thường từ 6 tuổi trở lên)
- Trí nhớ ngắn hạn được xác định bằng phương pháp Nechaiev
- Khả năng chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon
- Trạng thái cảm xúc được xác định bằng phương pháp CAH
6 Những đóng góp của đề tài
- Là người đầu tiên cho thấy thực chất về một số chỉ số sinh học, năng lực trí tuệ, khả năng chú ý, khả năng ghi nhớ, trạng thái cảm xúc của học sinh trường
Trang 4THCS An Bình và trường THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
- Các số liệu trong luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu và giảng dạy về đặc điểm phát triển của học sinh THCS và THPT nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, chăm sóc sức khỏe học sinh
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Một số chỉ số sinh học
1.1.1 Một số chỉ số sinh học
Chỉ số sinh học của con người được đánh giá dựa trên nhiều chỉ số khác nhau, nhưng chiều cao, cân nặng, vòng ngực là những chỉ số sinh học được lựa chọn sớm nhất Các chỉ số này được dùng để đánh giá sức khoẻ, tầm vóc, sự tăng trưởng, phát triển và khả năng học tập, lao động của con người, cũng như tốc độ tăng trưởng, đặc điểm di truyền của mỗi dân tộc và của từng người từ khi sinh ra đến khi chết [91] Từ ba chỉ số cơ bản trên có thể tính thêm một số chỉ số khác
biểu hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ số pignet, BMI
Theo tác giả Nguyễn Văn Hoài và cs [34], tầm vóc và thể lực là những khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể có liên quan chặt chẽ đến khả năng, sức lao động và thẩm mỹ của con người Chiều cao là đặc điểm được nhận xét sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học và để đánh giá thể lực, sức khỏe của mỗi cá thể và của cả cộng đồng, cũng như trong công tác tuyển dụng ở nhiều lĩnh vực, như tuyển dụng quân đội, thi hoa hậu, tuyển việc làm… Đến đầu thế kỉ XIX, cân nặng được coi là tiêu chuẩn thứ hai không thể thiếu được để đánh giá sức khỏe con người Và cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành một chỉ tiêu đánh giá thể lực quan trọng sau hai chỉ tiêu về chiều cao và cân nặng Do vậy, nó cũng là một chỉ số được nhiều người nghiên cứu [16], [38],
[41], [44], [55], [67], [69], [73], [88],
Trang 6Pignet là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng
và vòng ngực Chỉ số pignet đã được quốc tế thừa nhận từ lâu và được dùng
để đánh giá thể lực của một người Đây là một chỉ số đễ vận dụng, phổ cập
để phân loại sức khỏe cho nhiều đối tượng [104] nên đã được nhiều tác giả nghiên cứu [7], [10], [15], [26], [29], [39], [67] …
Hiện nay tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đã công nhận chỉ số khối cơ thể (Body mass index = BMI) là chỉ số được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người, còn chỉ số pignet để đánh giá mức độ khỏe hay yếu
1.1.2 Một số nghiên cứu về chỉ số sinh học của học sinh
Ở Việt Nam, các chỉ số sinh học được nghiên cứu lần đầu tiên (1875) do Mondiere thực hiện trên trẻ em (theo [90]) Huard P và Bigot, 1932 (theo [91]) cho thấy nông dân Bắc Bộ có chiều cao trung bình là 1,60m Tác phẩm "Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật" là một trong số những tác phẩm đầu tiên của Đỗ Xuân Hợp (cộng tác với Huard) ra đời từ những năm 30 của thế kỉ XX , được xem là một công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam (theo [67])
Từ 1954 đến nay, đã có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của người Việt Nam Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” [88] được xuất bản Đó là một công trình nghiên cứu tương đối công phu, khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam và được coi là mốc đánh dấu trong lịch sử nghiên cứu Sinh học người Việt Nam [89] Sau đó, các chỉ số sinh học của người Việt Nam lại tiếp tục được thể hiện qua tập “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động" của tập thể tác giả do Võ Hưng chủ biên [40] Atlat đã cung cấp số liệu về
Trang 7hình thái người lao động Việt Nam ở cả ba miền đất nước và còn gợi mở một nhận xét về các qui luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người lao động Việt Nam [40]
Năm 1991, Đào Huy Khuê [44] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc độ tăng trưởng các thông số lớn nhất của nam thường ở lứa tuổi 14 - 16 và của nữ ở lứa tuổi 11 - 15
Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992) [15] đã nghiên cứu trên đối tượng học sinh
Hà Nội từ 6 - 17 tuổi, với 13 chỉ số sinh học Tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao của các em học sinh nam phát triển mạnh nhất lúc 13 - 15 tuổi và của học sinh nữ lúc 11 - 12 tuổi Đối với chỉ tiêu cân nặng, ở học sinh nam phát triển mạnh nhất lúc 15 tuổi và ở học sinh nữ lúc 13 tuổi Theo tác giả, quy luật phát triển các giai đoạn phù hợp với quy luật phát triển chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng
Tạ Thuý Lan, Đàm Phượng Sào [55] nghiên cứu sự phát triển thể lực của học sinh từ 6 - 14 tuổi ở Vân Canh, Hà Tây đã cho thấy, chiều cao của học sinh tăng dần từ 6 - 14 tuổi
Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [67] nghiên cứu trên học sinh Hà Nội
từ 6 - 17 tuổi đã cho thấy: chiều cao của học sinh nam tăng nhanh ở giai đoạn 11
- 15 tuổi, của học sinh nữ ở giai đoạn 10 - 13 tuổi Cân nặng ở học sinh nam tăng nhanh lúc 14 - 16 tuổi và ở học sinh nữ lúc 11 - 14 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng vọt lúc 13 - 16 tuổi, ở học sinh nữ tăng vọt lúc 12 - 14 tuổi Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả từ thập kỷ 80 trở về trước, thì kết quả các chỉ số sinh học của học sinh Hà Nội lớn hơn Các chỉ số
Trang 8chiều cao, cân nặng của học sinh lớn hơn so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỷ 80 trở về trước và so với học sinh Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu Điều này chứng tỏ, điều kiện sống đã ảnh hưởng tới
sự sinh trưởng và phát triển các chỉ số sinh học của học sinh
Nguyễn Thị Bích Ngọc (2008) [77], nghiên cứu trên học sinh dân tộc Sán Dìu từ 11 - 17 tuổi Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy, các chỉ số sinh học của học sinh dân tộc Sán Dìu tăng dần theo tuổi, tốc độ tăng không đều Các chỉ
số sinh học của học sinh dân tộc Sán Dìu thấp hơn so với học sinh dân tộc Kinh
ở thành thị và nông thôn
Các chỉ số sinh học của học sinh cũng được nhiều tác giả khác nghiên cứu như [6], [7], [11], [12], [13], [22], [29], [62], [74], [94] Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [7] nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình, cho thấy, tốc độ tăng các chỉ số sinh học của học sinh diễn ra không đều Chiều cao của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi và của học sinh nữ từ 11 - 13 tuổi Tốc độ tăng cân nặng của học sinh nam diễn ra nhanh ở giai đoạn 13 - 15 tuổi, học sinh nữ từ 11 - 13 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi, ở học sinh nữ từ 11 - 13 tuổi
Năm 2010, Hoàng Quý Tỉnh [86] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em người dân tộc Thái, Hmông, Dao ở tỉnh Yên Bái và các yếu
tố liên quan Khi so sánh các chỉ số sinh học của đối tượng nghiên cứu với người Kinh, tác giả cho thấy, các chỉ số sinh học của trẻ em các dân tộc nghiên cứu thể hiện tính quy luật phát triển cơ thể của người Việt Nam Tuy nhiên, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến chiều cao, cân nặng của trẻ em, điều này thể hiện ở chỗ tỉ
lệ suy dinh dưỡng thể còm, còi và nhẹ cân còn cao ở trẻ em các dân tộc nghiên cứu
Trang 9Gần đây, theo Trần Thị Minh Hạnh [26] nghiên cứu trên học sinh phổ thông
ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 - 2009 cho thấy, chiều cao của học sinh nam đã tăng 1,2 - 2,4 cm nhưng chiều cao của học sinh nữ lại không có sự thay đổi đáng kể So với học sinh ngoại thành, học sinh nội thành cao hơn 3 - 4 cm và nặng hơn 8,5 - 10 kg, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp hơn nhưng tỉ lệ thừa cân lại cao hơn gấp 2 - 5 lần
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả chúng ta có thể thấy, các chỉ số sinh học biến đổi theo lứa tuổi, mang đặc điểm giới tính và thay đổi theo từng miền, từng nhóm dân tộc khác nhau Các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam khá phong phú Các công trình đều xác định được các chỉ số sinh học biến đổi theo lứa tuổi, theo giới tính Trong quá trình phát triển của trẻ em có giai đoạn tăng trưởng nhảy vọt Mốc đánh dấu sự nhảy vọt tăng trưởng của của các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng nhanh nhất khoảng 13 - 15 tuổi ở nam và 10 - 12 tuổi ở nữ, cân nặng cũng tăng
nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi ở nữ Các chỉ số thể lực có sự
khác biệt giữa học sinh nông thôn và học sinh thành phố, cũng như các vùng khí hậu khác nhau và các nhóm dân tộc khác nhau
1.2 Tần số tim và huyết áp động mạch
Hệ tuần hoàn giữ chức năng chủ đạo là cung cấp ôxy và chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể Trong đó, hoạt động của hệ tuần hoàn được biểu hiện rõ thông qua những chỉ số cơ bản là tần số tim và huyết áp động mạch Việc nghiên cứu tần
số tim và huyết áp động mạch của trẻ em đã được nhiều tác giả thực hiện như
Trần Thị Loan, Lê Nam Trà và cs [12], [52], [66], [67], [68], [88] Theo các tác
giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự giảm dần đó có liên quan đến hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim
Trang 10Khi nghiên cứu trên đối tượng trẻ em, nhiều tác giả đã nhận thấy, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kì Trong đó tần số tim giảm dần theo tuổi, còn huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi nhưng mức tăng, giảm không đồng đều ở các độ tuổi, có thời điểm tăng - giảm nhảy vọt Tần số tim có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể, khí hậu, bệnh lí cũng như khi khóc, xúc động, sợ hãi, làm việc gắng sức [65], [67], [68], [75], [97], [104]
Nghiêm Xuân Thăng [82] đã nghiên cứu mối tương quan giữa hoạt động
của hệ tim mạch và huyết áp với khí hậu ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh và đưa ra nhận xét, tần số tim và huyết áp động mạch ở bất kì lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Ngoài ra, tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động, trạng thái tâm lí
Một số tác giả còn nhận thấy, tần số tim và huyết áp động mạch có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ Con người ở các châu lục khác nhau có huyết áp động mạch khác nhau Huyết áp động mạch phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố di
truyền và chế độ dinh dưỡng [67], [88], [98]
Theo Phạm Thị Minh Đức [18], huyết áp tâm thu bình thường của người trưởng thành có trị số 90 - 110mmHg, nếu trên 140 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 90 mmHg là hạ huyết áp
Tần số tim và huyết áp động mạch còn được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác [51], [54], [63], [65], [66], [67], [97]
1.3 Năng lực trí tuệ
1.3.1 Những vấn đề chung
Trí tuệ là một hoạt động đặc biệt chỉ có ở con người, liên quan tới cả thể chất lẫn tinh thần Nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vực liên ngành, phức hợp Nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực của các nhà sinh lý học, tâm lý học, tâm thần
Trang 11học, các nhà điều khiển học, các nhà sinh học và toán học [17], [28], [39] Trí tuệ có nghĩa là sự hiểu biết, thông tuệ [76] Theo từ điển tiếng Việt [95], trí tuệ
là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định Khi đề cập đến chức năng của trí tuệ thì trí tuệ được hiểu là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân Con người phải học tập để bảo toàn cơ thể, để phát triển nhân cách, để khẳng định mình trong xã hội và để phát triển (theo [46], [76]); Khi xét đến khả năng tư duy, trí tuệ được coi là năng lực tư duy, con người giải quyết các nhiệm vụ mới thông qua năng lực tư duy [81], [93] Trí tuệ còn được hiểu là khả năng thích ứng tích cực của cá nhân Trí tuệ là tiền đề cho sự tương tác giữa con người với môi trường sống (theo [70]), [78], [79], [100], [102]) Ngoài ra, còn có nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để mô tả năng lực trí tuệ như: trí khôn,
trí lực, trí thông minh [20], [21], [101]…
Trí tuệ có thể là thuộc tính đơn nhân tố (theo [46], [76], [83]), trong trí
thông minh của con người có một nhân tố chung nào đó của cá nhân như: tính linh hoạt, sự mềm dẻo thần kinh Hay, trí tuệ gồm nhiều nhân tố hay thành phần khác nhau Bất kỳ một hoạt động trí tuệ nào cũng chứa đựng một loạt nhân
tố có tác động qua lại với nhau (theo [46])
Từ khi sinh ra cho đến 18 tuổi, trí tuệ phát triển nhanh chóng và tương đối hoàn thiện ở 18 tuổi Tốc độ, nhịp độ tăng trưởng ổn định hay suy giảm khả năng hoạt động trí tuệ của cá nhân theo lứa tuổi liên quan tới sự phát triển, trưởng thành, lão hoá của hệ thần kinh cũng như chế độ hoạt động của mỗi người Thời điểm và tốc độ lão hoá phụ thuộc nhiều vào chế độ hoạt động trí óc,
sự phát triển của hệ thần kinh [56], [47], [87] Ngoài ra, các nền văn hoá khác nhau cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ [70]
Để đánh giá trí tuệ, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu các phương pháp
Trang 12đánh giá khác nhau về trí tuệ [46] Một phương pháp được nhiều người quan tâm là sử dụng trắc nghiệm trí tuệ (Test trí tuệ) Trắc nghiệm là một thử nghiệm, mang tính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một khía cạnh nhất định của tính tích cực nên việc thực hiện nó liên quan tới sự hoàn thiện các chức năng nhất định, được đánh giá về mặt định lượng và định tính (theo [83],
[101]) Một trắc nghiệm tốt phải là một trắc nghiệm đã được chuẩn hóa và đảm
bảo những tiêu chuẩn sau [76]:
- Tính hiệu quả hay độ ứng nghiệm (Validity);
- Độ tin cậy hay tính trung thành (Fedelity);
- Độ phân biệt (Difference);
- Tính quy chuẩn (Standardize)
Nhờ có tính chuẩn hóa mà phương pháp trắc nghiệm ngày càng được sử dụng rộng rãi
Năm 1939, D.Wechsler cho rằng, sự phát triển trí tuệ diễn ra trong suốt đời người một cách không đồng đều Ông đề xuất phương pháp trắc nghiệm trí thông minh và được coi là phổ biến nhất bằng khái niệm tính IQ theo một công thức đặc trưng [102]
Một trong các loại test dùng để đo năng lực trí tuệ là trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn Raven (gọi tắt là test Raven) Test Raven được xây dựng trên cơ
sở thuyết tri giác hình thể của tâm lý học Gestal và thuyết tân phát sinh của Spearman (theo [31], [91]) Test Raven được chuẩn hóa hai lần vào những năm
1954 và 1956 và đã được UNESCO công nhận, chính thức đưa vào sử dụng để chẩn đoán trí tuệ con người từ những năm 1960 [99]
Những ưu điểm nổi bật của trắc nghiệm trí tuệ này là ngắn gọn, kỹ thuật tiến hành và xử lý không phức tạp, thiết bị đơn giản, nhanh cho kết quả sơ bộ về
Trang 13trí tuệ của một số lớn đối tượng trong thời gian ngắn Nhờ đó, các nhà nghiên cứu có thể kiểm tra độ chân thực của khái niệm lý luận cũng như tính đúng đắn của quá trình soạn thảo và chuẩn hóa trắc nghiệm, từ đó điều chỉnh theo mục tiêu
đã định [32], [93]
Tuy nhiên, trắc nghiệm test Raven cũng bộc lộ những hạn chế như: chỉ chú ý tới kết quả cuối cùng của bài tập mà ít quan tâm tới tiến trình thực hiện của nghiệm thể; Hệ thống bài tập trắc nghiệm chỉ hướng tới một yếu tố nhất định, bỏ qua nhiều yếu tố tâm lý; Các bài tập trắc nghiệm phần lớn đo lường tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tư duy, là những yếu tố dễ thay đổi và phát triển trong quá trình
dạy và học [93]…
Vì vậy, khi đánh giá trí tuệ của con người, cần phải phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: quan sát thực nghiệm.… Mặc dù vậy, với những ưu điểm nổi bật, phương pháp trắc nghiệm test Raven vẫn được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2], [30], [31],
[32], [37], [83] cho thấy, có thể sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán
khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em Việt Nam Tuy nhiên, phải tiến hành nghiên cứu cũng như cải tiến các trắc nghiệm đo trí tuệ cho phù hợp với trẻ em
Việt Nam [1], [81], [83]
1.3.2 Lược sử nghiên cứu về năng lực trí tuệ
Trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người Từ lâu nó đã trở thành vấn đề được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Người ta cho rằng, việc sử dụng các thí nghiệm trắc nghiệm về trí tuệ đã có từ năm 2200 trước công nguyên, khi người Trung Hoa
dùng chúng để tuyển chọn người có tài năng làm kẻ hầu [46], [83]
Người đầu tiên nghiên cứu về trí tuệ là F.J.Gall (theo [70]) Vào đầu thế
Trang 14kỷ XVII, ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của F.Galton (1893), Alled Binnet và Simon (1905), Petersalovey và John Mager
(theo [46], [84])
Ở Việt Nam, trước năm 1975, việc nghiên cứu trí tuệ còn rất mới mẻ Các test đo lường trí tuệ thường chỉ dùng trong ngành y tế để chẩn đoán bệnh [84] Từ cuối thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu về trí tuệ ngày
càng nhiều [27], [39], [49], [51], [67], [82],… Việc nghiên cứu trí tuệ được tiến
hành theo ba hướng chính: nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ; nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền với trí tuệ; nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển trí tuệ Về mối liên quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ đã có nhiều tác giả nghiên
cứu [39], [50], [57]…
Trần Trọng Thủy nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh quận Hoàn
Kiếm - Hà Nội bằng test Raven (1989) [82] Ông đã nghiên cứu chiều hướng,
cường độ, trình độ và chất lượng phát triển trí tuệ của học sinh bằng test Raven Ông còn đề cập tới mối liên quan giữa trí tuệ và thể lực của học sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém so với học sinh nước ngoài
Năm 1991, Ngô Công Hoàn [30] nghiên cứu và so sánh trí tuệ của học sinh chuyên toán và học sinh thường Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch về mức độ phát triển trí tuệ giữa hai nhóm đối tượng này Nguyễn Thạc, Lê
Văn Hồng [81] đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Hà Nội từ 10 - 14
tuổi Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hoá
Trang 15từ 11 tuổi trở đi, trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn của nữ
Tạ Thuý Lan - Võ Văn Toàn nghiên cứu khả năng trí tuệ của học sinh Quy Nhơn và học sinh Hà Nội (1993 - 1995) Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và có mối tương quan thuận với kết quả học tập Khả năng trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với học sinh
Hà Nội cùng tuổi [56], [58]
Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (1996) đã nghiên cứu đánh giá sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố và học sinh nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự khác biệt giữa học sinh nam và học sinh nữ, học sinh thành
phố có mức trí tuệ cao hơn học sinh nông thôn [50], [61]
Trần Thị Loan (2002) nghiên cứu trí tuệ của học sinh ở độ tuổi 6 đến 17
tuổi, mối liên quan gữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh phổ thông [67]
Kết quả cho thấy, điểm trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đồng đều, năng lực trí tuệ của học sinh nam và học sinh nữ không có sự khác biệt Quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không phụ thuộc vào giới tính Đồng thời giữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh có mối tương quan thuận nhưng không chặt chẽ [60], [67] Mai Văn Hưng (2003) đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường đại học phía Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa trí tuệ và các chỉ số thể lực Năng lực trí tuệ có mối tương quan thuận với khả năng tập trung chú ý [39]…
1.4 Trí nhớ
Hoạt động của não bộ con người cho phép ghi lại tất cả những gì tác động đến cơ thể Các dấu vết về các sự vật, hiện tượng đã được ghi lại không bao giờ biến mất, nó có thể được tái hiện nguyên vẹn trong những điều kiện, hoàn cảnh
Trang 16thích hợp Do vậy, khả năng ghi lại, tái hiện trong trí óc những điều đã biết, đã
trải qua gọi là trí nhớ [96]
Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tinh thần của con người và là một thành phần quan trọng của trí tuệ [48], [53] Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp cho nên có nhiều cách hiểu về trí nhớ Nhớ là sự tiếp nhận, giữ gìn và tái hiện những sự vật, hiện tượng mà con người
đã cảm giác, đã suy nghĩ, tưởng tượng ra Trí nhớ phản ánh những sự vật, những hiện tượng trước đây đã tác động vào cơ thể mà hiện tại không cần sự tác động
đó nữa Người ta coi trí nhớ là sự vân dụng một khái niệm đã biết trước và là kết
quả hoạt động của hệ thần kinh [48], [53]
Có tác giả cho rằng, trí nhớ là sự duy trì các thông tin tín hiệu khi đã ngừng tác động Các thông tin này có thể được sử dụng để tác động với các tín hiệu tiếp theo [72] Một số nhà khoa học khác lại cho rằng, trí nhớ là sự vận dụng những khái niệm đã biết trước, là kết quả của những thay đổi xảy ra trong
hệ thần kinh [42] Trí nhớ là một hiện tượng tâm - sinh lý quan trọng không thể
thiếu được trong đời sống con người Không có trí nhớ thì con người sẽ không
có quá khứ, không có tương lai mà chỉ có hiện tại tức thời Không có trí nhớ sẽ không có bản ngã và do đó không có nhân cách Nhờ có trí nhớ, con người đã
tích luỹ kinh nghiệm sống để vận dụng chúng vào đời sống [25]
Có ba quan điểm về cơ chế nhớ đã được nhiều người quan tâm Theo Anôkhin (theo [48]), trí nhớ là một hệ thống chức năng phức tạp Trí nhớ được thực hiện bằng sự phối hợp hoạt động của một loạt các vùng trên vỏ não, mỗi vùng giữ một nhiệm vụ chuyên biệt [24] Theo Pavlov (theo [48]), cơ sở sinh lý của trí nhớ là sự hình thành, lưu giữ và tái hiện lại những đường liên hệ thần kinh tạm thời Hyden - nghiên cứu về trí nhớ ở mức neuron - cho rằng, cơ sở của trí
Trang 17nhớ là sự thay đổi trong cấu trúc phân tử của axit ribonucleic (ARN) [48]
Để phân loại trí nhớ người ta có thể căn cứ vào các tiêu trí khác nhau [25], [92], [93] Dựa vào thời gian tồn tại của trí nhớ, người ta phân thành hai loại: trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn Dựa vào tính chất của trí nhớ, có thể phân chia trí nhớ thành nhiều loại như: trí nhớ cảm xúc, trí nhớ hình tượng, trí nhớ phản xạ… Các loại trí nhớ trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên một thể thống nhất trong kho tàng kí ức của con người
Trong hoạt động học tập, khả năng ghi nhớ của cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập Không có khả năng ghi nhớ, học sinh không thể học tập một cách bình thường Trí nhớ là điều kiện tiền đề giúp học sinh học tập tốt
Trên thế giới, có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này L.X.Vưgotxki (1930), A.N.Leonchiev (1931) nghiên cứu về ghi nhớ gián tiếp; A.A.Smirnov (1943) nghiên cứu về vai trò của hoạt động đối với trí nhớ; P.M.Xêtrênov (1952)
nghiên cứu về cơ chế sinh lý của trí nhớ (theo [25])
Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về trí nhớ trên học sinh và sinh viên [48], [50], [67], [83] Người đầu tiên nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam là Phạm Minh Hạc Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh rằng cả hai thuỳ của não (thuỳ trán và thuỳ đỉnh) đều tham gia vào sự lưu trữ thông tin, nhưng thuỳ đỉnh có vai trò quan trọng hơn [24]
Tác giả Nghiêm Xuân Thăng (1993) đã cho thấy, khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu không khí [82]
Kết quả nghiên cứu trí nhớ của Trần Thị Loan (2002) trên đối tượng học sinh từ 6 - 17 tuổi ở quận Cầu Giấy, Hà Nội đã cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều và không có sự khác biệt về khả
Trang 18năng nhớ giữa học sinh nam và học sinh nữ [67]
Các nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng theo tuổi, ít hoặc không có sự khác biệt về trí nhớ theo giới tính
1.5 Khả năng chú ý
Tại một thời điểm nhất định nào đó luôn có muôn vàn sự vật, hiện tượng tác động tới con người, nhưng chúng ta chỉ có thể tiếp nhận và xử lí một số tác động nhất định và bỏ qua một số tác động khác Sự lựa chọn chỉ tập trung vào một số tác động nhất định là nhờ khả năng tập trung chú ý Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật, hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo các điều kiện thần kinh và tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có
hiệu quả [25]
Chú ý là trạng thái tâm sinh lý diễn ra trong suốt quá trình nhận thức Sự chú ý chia kích thích thành cái cần xử lý và cái không cần xử lí Nhờ có khả năng chú ý mà ta mới có thể lựa chọn được các kích thích ưu thế trong vô số tác
động lên cơ thể để đưa ra các câu trả lời thích hợp [35]
Mọi hoạt động có tổ chức của con người đều phải dựa trên khả năng lựa chọn thông tin Từ một số lượng lớn các tác nhân kích thích tác động lên cơ thể, con nguời chỉ chọn lọc tiếp nhận và xử lý các thông tin mạnh nhất hay quan trọng nhất đối với mình Muốn lựa chọn được chính xác, não bộ phải tập trung hoạt động vào các cấu trúc nhất định Đây chính là khả năng tập trung chú ý để
tạo ra các ổ hưng phấn tối ưu [48]
Cơ sở sinh lý của chú ý là phản xạ định hướng có lựa chọn Hoạt động thần kinh tuân theo năm nguyên tắc cơ bản, một trong số những nguyên tắc đó là nguyên tắc ưu thế [47], [70] Sự chú ý tồn tại trên cơ sở hoạt động của nguyên tắc này Khi chú ý ở cường độ cao (sự tập trung cao độ) sẽ xuất hiện ổ hưng phấn
Trang 19cực đại (gọi là điểm ưu thế), nó sẽ chiếm ưu thế và lấn át các hưng phấn yếu hơn Điểm ưu thế được hình thành dưới tác động của các hoocmon, các chất hoá học
và nhiều yếu tố khác Khi đã tồn tại một điểm ưu thế nào đó thì hiệu quả tác động của các kích thích tương ứng tăng lên rất nhiều, tạo ra được các phản ứng đặc trưng Nhờ hoạt động của não chỉ tập trung vào một ổ hưng phấn, nên con người mới có thể tập trung vào một mục đích xác định Đây chính là cơ sở của
sự chú ý, khi có sự chú ý cao độ thì hiệu quả công việc sẽ cao
Có hai loại chú ý là chú ý có chủ định và chú ý không chủ định Nguồn gốc phát sinh của hai loại chú ý này hoàn toàn khác nhau [33], [50], [76] Chú ý không chủ định (chú ý tự nhiên, chú ý bị động, chú ý không theo ý muốn), thường xuất hiện khi những sự kiện khách quan xung quanh ta có những thay đổi bất ngờ, không gây căng thẳng thần kinh vì nó không đòi hỏi sự nỗ lực nào của bản thân và phụ thuộc vào đặc điểm và tính chất của đối tượng, chịu ảnh hưởng của nhu cầu, hứng thú, tâm trạng, tình cảm, sức khoẻ của cá nhân Do vậy, chú ý không chủ định không bền vững, không phù hợp với hoạt động ý chí của con người và thường biểu hiện nhiều hơn ở trẻ em, phụ thuộc vào kích thích Kích thích càng hấp dẫn, càng mới lạ càng dễ tạo ra chú ý không chủ định Chú ý có chủ định (chú ý theo ý muốn, chú ý chủ động) là hoạt động có mục đích, tự giác,
có kế hoạch, có biện pháp, đòi hỏi sự nỗ lực nhất định về mặt ý chí của cá nhân nên mang tính chất tích cực và chủ động Chú ý có chủ định giúp con người khắc phục sự phân tán tư tưởng, tập trung vào hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra Vì vậy,
để đạt hiệu quả cao trong mọi công việc cần rèn luyện chú ý có chủ định một cách khoa học Tuy nhiên, khi duy trì chú ý có chủ định trong một thời gian dài
sẽ gây trạng thái mệt mỏi và căng thẳng Vì thế, trong hoạt động thực tiễn của con người luôn tồn tại cả hai loại chú ý [23] Sức tập trung chú ý, khối lượng chú
Trang 20ý, sự bền vững chú ý, sự phân phối chú ý và sự di chuyển chú ý là những thuộc
tính cơ bản của chú ý Sự tập trung của chú ý là khả năng chỉ chú ý đến một
phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động [36], [92], phạm vi các hoạt động chú ý càng hẹp thì sức chú ý càng tập trung Sự tập trung chú ý phụ thuộc vào độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì sự tập trung chú ý càng kém Ngoài ra, sự tập trung chú ý còn phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi cá nhân, sức hấp dẫn của đối
tượng, loại hình thần kinh [43] Sự phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc
chú ý đến nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định
Sự di chuyển chú ý là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng
khác theo yêu cầu của hoạt động [23]
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu độ tập trung chú ý đã được nhiều tác giả quan tâm thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau [33], [35], [45] Trần Thị Loan đã nghiên cứu trên học sinh phổ thông từ 6 - 17 tuổi quận Cầu Giấy, Hà Nội cho thấy, độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý tăng dần theo tuổi và
không có sự khác biệt theo giới tính [67] Mai Văn Hưng [39] khi nghiên cứu
khả năng chú ý của sinh viên một số trường đại học phía Bắc Việt Nam từ 18 -
25 tuổi đã cho thấy, độ tập trung chú ý tăng dần từ 18 - 19 tuổi sau đó giảm dần theo tuổi Khả năng tập trung chú ý của sinh viên nam cao hơn sinh viên nữ cùng
độ tuổi Tuy nhiên, mức độ giảm khả năng chú ý theo các lớp tuổi không có ý
nghĩa thống kê Lê Văn Hồng (theo [33]) khi nghiên cứu về khả năng chú ý của
học sinh THPT và THCS đã cho rằng, sự phát triển chú ý của học sinh diễn ra rất phức tạp, chú ý có chủ định dần dần được hình thành, khối lượng chú ý tăng rõ
rệt Nghiêm Xuân Thăng [82] nghiên cứu khả năng tập trung chú ý trong các điều kiện thời tiết khác nhau và chỉ ra rằng, khả năng chuyển tiếp chú ý của học
sinh năng khiếu nhanh hơn học sinh bình thường
Trang 211.6 Trạng thái cảm xúc
Theo từ điển tiếng Việt [96] , cảm xúc là những rung động trong lòng khi tiếp xúc với sự vật, hiện tượng nào đó Theo một số nhà khoa học, cảm xúc là thái độ chủ quan của con người (hay động vật) đối với các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh [19]
Cảm xúc là hoạt động phức tạp của não bộ, có nhiều quan điểm khác nhau
về hoạt động cảm xúc của con người Nguyên nhân xuất hiện cảm xúc là do sự thay đổi các chức năng sinh lí nhằm đảm bảo cho cơ thể có thể thích nghi một cách tốt nhất với môi trường luôn thay đổi [48] Mỗi hành vi nhằm thoả mãn một nhu cầu nhất định nào đó đều xảy ra đồng thời với những thay đổi nhất định về mặt cảm xúc [80] Ví dụ như nhu cầu về mặt sinh dưỡng, sinh dục, sinh sản, tự bảo vệ
Để giải quyết vấn đề bản chất của cảm xúc, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và tìm câu trả lời Theo Pavlôv, có hai yếu tố cơ bản liên quan tới
cảm xúc, đó là sự đòi hỏi của cơ thể và khả năng thoả mãn nhu cầu Bằng thực
nghiệm, Pavlôv đã chứng minh ảnh hưởng của hoạt động định hình (trong đó có
cả hoạt động cảm xúc) lên hoạt động của não bộ Sự tạo ra hay phá vỡ các định hình động lực sẽ cho ta cảm xúc dương tính hay cảm xúc âm tính (theo [5], [48]) Hodge (1935) lại cho rằng, cảm xúc chỉ xuất hiện vào thời điểm khi các trung tâm của não bộ không đưa ra được câu trả lời thích hợp hoặc còn do dự đối với một kích thích nào đó Cường độ biểu hiện của cảm xúc tỉ lệ nghịch với khả năng đưa ra câu trả lời đúng của não bộ Trên cơ sở đó, ông kết luận: “Cảm xúc
là sự tổng hợp không thành công của vỏ não” (theo [48])
Theo Hebb (1946) (theo[48]), cảm xúc sợ hãi xuất hiện trên cơ sở tồn tại nỗi lo lắng không đồng nhất dưới tác động của những xung động hướng tâm với
Trang 22sự tham gia của hệ limbic Anôkhin (1964) coi cảm xúc liên quan trực tiếp với
hệ thống chức năng trong hoạt động hành vi P.V.Ximônôv (1987) thì cho rằng, cảm xúc là thông tin về nhu cầu và khả năng thỏa mãn nhu cầu cấp thiết của người và động vật qua não bộ (theo [48], [50]) Học thuyết của P.V.Ximônov cho thấy mối quan hệ giữa cảm xúc với nhu cầu, đồng thời cũng cho thấy được vai trò của thông tin và điều kiện thỏa mãn nhu cầu đối với sự xuất hiện cảm xúc Đây là một lý thuyết hiện đại và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành
Việc phân chia các loại cảm xúc vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, bởi
lẽ các cảm xúc của người cũng như các biểu hiện của nó hết sức phong phú đa dạng Một số người cho rằng, nên chia cảm xúc thành: giận, buồn, sợ, khoái, yêu, ngạc nhiên, xấu hổ… Mặc dù vậy, đa số các nhà khoa học đều thống nhất rằng, tồn tại cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực [5] Những cảm xúc tích cực như tự hào, hy vọng, thư thái sẽ tạo ra cho chúng ta cảm giác hưng phấn, vui tươi, thoải mái Ngược lại, những cảm xúc tiêu cực như nóng giận, thất vọng sẽ khiến chúng ta rơi vào trạng thái kém vui, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng
tạo dựng các mối quan hệ thông thường [8]
Cảm xúc có vai trò to lớn trong đời sống của con người cả về mặt tâm lý lẫn sinh lý Cảm xúc thúc đẩy con người hoạt động, khắc phục những khó khăn trở ngại gặp phải trong quá trình hoạt động Nó là động lực thúc đẩy mạnh mẽ
và chi phối hoạt động nhận thức, kích thích sự tìm tòi và sáng tạo của con người [45], [43]
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về
cảm xúc Carrol Izard [5] đã nghiên cứu sâu về bản chất và cách biểu hiện trạng
thái cảm xúc của con người Ở Việt Nam, cảm xúc cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Phạm Minh Hạc [25] nghiên cứu về bản chất và cách biểu
Trang 23hiện của cảm xúc Tạ Thúy Lan [48], nghiên cứu cơ sở thần kinh của cảm xúc…
Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng quan tâm đến vấn đề này [8], [80],…
Trong đời sống hàng ngày và trong giáo dục, cảm xúc giữ vai trò rất quan trọng Nó vừa là điều kiện, vừa là nội dung, vừa là hiệu quả của hoạt động giáo dục Những tri thức nào gây ra được ở học sinh những cảm xúc dương tính mạnh
mẽ thì sẽ được các em lĩnh hội một cách nhanh chóng và vững chắc hơn so với những thông tin mà học sinh dửng dưng Sự thành công trong học tập làm xuất hiện ở học sinh một cảm xúc tích cực, khích lệ các em nỗ lực Sự thất bại, quở trách tạo cảm xúc khó chịu Chính vì vậy, Đặng Phương Kiệt [45] cho rằng, có những nghiên cứu về cảm xúc hướng về sự kết hợp trí tuệ với cảm xúc Như vậy, việc nghiên cứu cảm xúc giúp ích nhiều cho việc xây dựng chiến lược giáo dục phát triển các năng lực này ngay từ tuổi học đường
Trang 24CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh của hai trường THCS An Bình
và trường THPT Nam Sách II, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tất cả có 7 nhóm đối tượng với 7 độ tuổi khác nhau, từ 12 - 18 tuổi Đối tượng nghiên cứu ở trạng thái khỏe mạnh và không có các dị tật về thể hình và bệnh mãn tính
Bảng 2.1 - Phân bố đối tượng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
- Chiều cao được xác định ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót
chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm (chẩm, lưng, mông, gót) chạm vào thước đo Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt
và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân
Độ chính xác đến 1cm
Trang 25- Cân nặng được xác định bằng cân điện tử SECA của Nhật Bản Cân
được đặt trên nền nhà bằng phẳng, đo xa bữa ăn Khi đo, học sinh chỉ mặc quần
áo mỏng, không đi giày dép Cân vào buổi sáng khi chưa ăn Độ chính xác đến
100 gam
- Vòng ngực trung bình được xác định bằng thước dây không co giãn của
Trung Quốc, có vạch chia độ chính xác tới mm Vòng ngực đo ở tư thế thẳng
đứng, vòng thước quấn quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống sát dưới
xương bả vai, phía trước qua mũi ức, sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra
song song với mặt đất
- Chỉ số pignet được tính theo công thức:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)] (1)
Phân loại thể lực theo chỉ số pignet (theo[7]) được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
- Chỉ số BMI gọi là chỉ số khối cơ thể tính theo công thức:
BMI = Khối lượng cơ thể (kg) / [Chiều cao đứng (m)]2 (2)
Chỉ số BMI được đánh giá theo CDC dùng cho trẻ em từ 2 - 20 tuổi [106]
(hình 2.1 và 2.2)
Trang 26Hình 2.1 Biểu đồ BMI đối với nam từ 2 đến 20 tuổi [106]
Trang 27Hình 2.2 Biểu đồ BMI đối với nữ từ 2 đến 20 tuổi [106]
Trang 282.2.2 Tần số tim và huyết áp động mạch
- Tần số tim được xác định vào đầu buổi học, sau khi đối tượng đã nghỉ
ngơi ít nhất 15 phút và dùng ống nghe để đo Người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả ba lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 15 - 20 phút rồi đo lại
-Hhuyết áp động mạch được xác định bằng phương pháp Korotkov Dùng
huyết áp kế đồng hồ, đo ở tay trái, trong tư thế nằm thoải mái Người đo quấn bao cao su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt trống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Bơm áp lực tới 150 mmHg, sau đó xả áp lực huyết áp, khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên qua ống nghe thì xác định được huyết áp tâm thu Tiếp tục xả
áp lực kế đến khi không nghe thấy tiếng mạch đập thì xác định được huyết áp
tâm trương
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trí tuệ
Trí tuệ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm, sử dụng test
“Khuôn hình tiếp diễn” của Raven, bộ A, B, C, D, E (loại dùng cho người bình thường từ 6 tuổi trở lên) Toàn bộ test Raven gồm 60 khuôn hình vô nghĩa được chia thành 5 bộ A, B, C, D, E cấu trúc theo nguyên tắc tăng dần mức độ khó Mỗi bộ gồm 12 khuôn hình, được bắt đầu từ khuôn hình đơn giản (khuôn hình 1)
và kết thúc bằng khuôn hình phức tạp (khuôn hình 12) Từ bộ A đến bộ E cũng được cấu trúc theo mức độ khó tăng dần Từng bộ A, B, C, D, E có nội dung riêng Trong đó:
Bộ A - Thể hiện tính toàn vẹn, tính liên tục của cấu trúc
Bộ B - Thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình
Trang 29Bộ C - Thể hiện những thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc
Bộ D - Thể hiện sự thay đổi chỗ của các hình
Bộ E - Thể hiện sự phân giải hình thành các bộ phận cấu hình
Sau khi hướng dẫn cách thực hiện, mỗi đối tượng được phát một quyển test Raven và một phiếu trả lời để làm bài hoàn toàn độc lập Đối tượng thực hiện test theo trình độ vốn có của mình, không hạn chế thời gian Cứ mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm Chỉ có bài tâp nào có độ kỳ vọng cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ bị loại và phải làm lại Căn cứ vào điểm test Raven, chỉ số IQ được tính theo công thức sau :
Bảng 2.3 Thang phân loại chỉ số IQ
STT Chỉ số thông minh (IQ) Mức trí tuệ Phân loại
Trang 302.2.3 Phương pháp nghiên cứu về khả năng chú ý
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 2 chỉ số về khả năng chú ý là: độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý Thời điểm tiến hành là đầu buổi học
Khả năng chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon Phiếu trắc nghiệm Ochan Bourdon là một bảng chữ cái được sắp xếp theo quy tắc nhất định Nghiệm viên phát phiếu điều tra và phổ biến cách làm cho đối tượng Đối tượng rà soát và gạch dưới chân một loại chữ cái nhất định theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới trong 5 phút Cứ sau mỗi phút, nghiệm viên ra hiệu lệnh để đối tượng đánh dấu vào phiếu trắc nghệm Sau khi đối tượng làm xong, các phiếu điều tra sẽ được thu lại để xử lý kết quả
Thống kê các chữ học sinh gạch đúng, gạch sai, tổng số chữ gạch được và
bỏ sót trong 5 phút Căn cứ vào số lượng chữ gạch đó để đánh giá độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý của học sinh
Độ tập trung chú ý được thể hiện ở số chữ gạch đúng/phút
Độ chính xác chú ý được tính theo công thức:
S T
T A
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu về trí nhớ
Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác
Để nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác, nghiệm viên sử dụng một bảng số trên đó có viết 12 số, mỗi số có hai chữ số, ghi đậm rõ ràng Thứ tự các số không sắp xếp theo một qui luật nhất định, 6 số chẵn, 6 số lẻ được sắp xếp một cách ngẫu nhiên Không được dùng các chữ số chẵn chục và các số có hai chữ số giống nhau Mỗi đối tượng được phát một phiếu và bút để ghi kết quả trắc nghiệm của mình Nghiệm viên phổ biến cách làm cho đối tượng, sau đó cho đối
T: tổng số chữ gạch đúng/phút
S: Số chữ bỏ sót/phút
Trang 31tượng quan sát bảng số trong 30 giây để đối tượng cố gắng ghi nhớ và không được chép lại trong khi quan sát Hết 30 giây quan sát nghiệm viên cất bảng số, đối tượng có thời gian 30 giây để ghi lại các số đã nhớ được không cần theo thứ
tự Quá trình làm bài hoàn toàn độc lập
Trí nhớ ngắn hạn thính giác cũng được xác định bằng phương pháp Nechaiev, nhưng thay bằng việc cho đối tượng nhìn bảng thì nghiệm viên đọc chậm, đủ to, rõ ràng 12 số cho đối tượng nghe 3 lần, 12 số đọc khác với 12 số trong bảng số Sau đó yêu cầu đối tượng ghi lại những số đã nhớ được
Xác định số chữ số ghi đúng trong thời gian 30 giây của đối tượng, mỗi chữ số đúng tính 1 điểm
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu trạng thái cảm xúc
Trạng thái cảm xúc được nghiên cứu bằng phương pháp tự đánh giá CAH Phiếu trắc nghiệm gồm 30 câu hỏi đánh giá trạng thái cảm xúc về sức khoẻ, tính tích cực và tâm trạng, mối liên hệ giữa chúng
Nghiệm viên phát phiếu trắc nghiệm cho đối tượng Yêu cầu đối tượng đọc kỹ từng trạng thái cảm xúc trong bảng và tự đánh giá mức độ trạng thái cảm xúc của mình theo thang điểm từ 1 đến 9 bằng cách dùng bút khoanh tròn vào điểm số tương ứng Điểm số được tính theo tổng số điểm của các nhóm câu hỏi theo biểu hiện của các trạng thái cảm xúc:
- Nhóm C (thể hiện trạng thái cảm xúc về sức khoẻ) gồm các câu 1,2, 7, 8,
Trang 32Bảng 2.4 Tiêu chuẩn đánh giá về cảm xúc chung
+ Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng để
chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng
+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu
- Bước 2:
Tính toán các thông số theo các thuật toán thống kê xác suất dùng trong y, sinh học Để phân tích, đánh giá kết quả, việc tính toán số liệu được thực hiện trên máy vi tính, theo chương trình Microsof Excel
Số liệu được kiểm định “t-test” theo phương pháp Student-Fisher Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30, nên các số liệu được nhập đầy đủ sẽ được máy tính xử lý để tính: giá trị trung bình (X ), tỉ lệ %, độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan pearson (r)
- Tính giá trị trung bình theo công thức:
Trang 33X X
n
i i
n
i i i
n i
n
i i i
n i
n i
n
i i i
i i
Y Y
n X
X n
Y X
Y X n
r
1
2 1
2 1
2 1 2
(7)
Xi: Từng giá trị của đại lượng X
Yi: Từng giá trị của đại lượng Y
n : Số mẫu có trong công thức r: Hệ số tương quan giữa hai đại lượng X và Y
Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu khác nhau
được kiểm định bằng hàm “T – test” theo phương pháp Studen – Fisher
Với: X : Giá trị trung bình
Xi : Giá trị thứ i của đại lượng X n: Số cá thể ở mẫu nghiên cứu SD: Độ lệch chuẩn
Trang 34CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các chỉ số sinh học của học sinh
3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh
Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh trường THCS An Bình
và THPT Nam Sách II được thể hiện trong bảng 3.1 và hình 3.1, 3.2
Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh
Các số liệu trong bảng 3.1 cho thấy, từ 12-18 tuổi, chiều cao đứng của học sinh tăng dần theo tuổi Chiều cao đứng của học sinh nam tăng thêm 24,55 cm, mỗi năm tăng trung bình 4,09 cm Chiều cao đứng của học sinh nữ tăng thêm 16,44 cm, mỗi năm tăng trung bình 2,74 cm Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh diễn ra không đồng đều Chiều cao đứng của học sinh nam tăng nhanh trong giai đoạn từ 14 - 16 tuổi, của học sinh nữ từ 12 - 14 tuổi
Trang 35Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh
NamNữ
c
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh
Trang 36Trong đó, thời điểm tăng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh nam là 14
- 15 tuổi (tăng 6,58 cm), của học sinh nữ là 13 - 14 tuổi (tăng 5,92 cm) Như vậy, thời điểm tăng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh nữ đến sớm hơn so với của học sinh nam một năm Sau thời kì tăng nhảy vọt, tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh nam và nữ đều chậm lại
Ở cùng một độ tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh nữ cũng không giống nhau Từ 12 - 15 tuổi, chiều cao đứng của học sinh nữ có trị số lớn hơn của học sinh nam Còn từ 16 - 18 tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam lại lớn hơn của học sinh nữ (p < 0,05) Vì vậy, trên đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh từ 12 - 18 tuổi có điểm giao chéo nhau (15 tuổi) Điều này chứng
tỏ, ở 12 - 14 tuổi, học sinh nữ đang ở giai đoạn dậy thì nên chiều cao phát triển mạnh Đến 13 - 15 tuổi, học sinh nam mới bắt đầu bước sang tuổi dậy thì nên chiều cao đứng phát triển mạnh và bắt đầu cao hơn so với học sinh nữ
3.1.2 Cân nặng của học sinh
Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh từ 12 - 18 tuổi (bảng 3.2
và hình 3.3, hình 3.4) cho thấy, từ 12 - 18 tuổi, cân nặng của học sinh tăng liên tục Trong cùng một độ tuổi, cân nặng của học sinh nam và của học sinh nữ cũng có sự khác biệt Cân nặng của học sinh nam tăng thêm 19,23
kg, mỗi năm tăng trung bình 3,21 kg Cân nặng của học sinh nữ tăng thêm 13,57 kg, mỗi năm tăng trung bình 2,74 kg Như vậy, ở giai đoạn 12 - 18 tuổi, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nữ chậm hơn so với học sinh nam
Từ 12 -15 tuổi, cân nặng của học sinh nữ trị số lớn hơn của học sinh nam Còn từ 16 - 18 tuổi, cân nặng của học sinh nam lại có trị số cao hơn của học sinh nữ, mức chênh lệch ở giai đoạn này là đáng kể (p < 0,05)
Trang 37Bảng 3.2 Cân nặng của học sinh
Tuổi
Cân nặng (kg)
Namnữ
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn cân nặng của học sinh
Tốc độ tăng cân nặng của học sinh giữa các độ tuổi cũng không đồng đều Cân nặng tăng nhanh nhất ở giai đoạn 14 - 16 tuổi đối với học sinh nam và ở giai
Trang 38đoạn 13 - 15 tuổi đối với học sinh nữ Trong đó, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng của học sinh nam là 15 - 16 tuổi (tăng 5,98 kg) và của học sinh nữ là 14 -
15 tuổi (tăng 4,08 kg) Như vậy, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng của học sinh
nữ sớm hơn so với học sinh nam, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng diễn ra muộn hơn thời điểm tăng nhảy vọt chiều cao
NamNữ
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của học sinh
3.1.3 Vòng ngực trung bình của học sinh
Kết quả nghiên cứu vòng ngực trung bình của học sinh từ 12 - 18 tuổi được thể hiện trong bảng 3.3 và hình 3.5, hình 3.6
Các số liệu trong bảng 3.3 cho thấy, ở giai đoạn từ 12 - 18 tuổi, vòng ngực trung bình của học sinh tăng liên tục Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh lúc 13 - 16 tuổi, tăng nhảy vọt lúc 15 - 16 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 2,54 cm Ở nữ, vòng ngực trung bình tăng nhanh lúc 13 - 15 tuổi, tăng nhảy vọt lúc 14 - 15 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 2,15 cm
Trang 39Bảng 3.3 Vòng ngực trung bình của học sinh
Ở cùng một độ tuổi, vòng ngực trung bình của học sinh nam và học sinh
nữ cũng không giống nhau Từ 12 - 14 tuổi, vòng ngực trung bình của học sinh
nữ có trị số lớn hơn của học sinh nam, còn từ 15 - 18 tuổi, vòng ngực trung bình của học sinh nam lại lớn hơn của học sinh nữ Vì vậy, trên đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh từ 12 - 18 tuổi có điểm giao chéo tăng trưởng lúc
16 tuổi Điều này chứng tỏ, học sinh nữ đã bắt đầu bước sang tuổi dậy thì sớm hơn so với học sinh nam
Sự biến đổi vòng ngực trung bình của học sinh từ 12 - 18 tuổi có thể chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn tuổi dậy thì (từ 12 - 16 tuổi đối với nam và 12 -15 tuổi đối với nữ), vòng ngực trung bình của học sinh tăng nhanh Giai đoạn sau tuổi dậy thì (từ 17 -18 tuổi đối với nam và 16 -18 đối với nữ), tốc độ tăng vòng ngực của học sinh nam và nữ diễn ra chậm hơn Vì vậy, đồ thị biểu diễn tốc độ tăng vòng ngực của học sinh nam và học sinh nữ giao nhau lúc 16 tuổi
Trang 40Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh
NamNữ
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng vòng ngực trung bình của học sinh
3.1.4 Chỉ số pignet của học sinh
Kết quả nghiên cứu chỉ số pignet của học sinh từ 12 - 18 tuổi (bảng 3.4 và hình 3.7, hình 3.8) cho thấy, chỉ số pignet của học sinh trong giai đoạn 12 - 18