1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)

141 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị ban chấp hành trung ương khoá VIII cũng đã khẳng định:“Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại, bồi dưỡng học s

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,

HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở

thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi

của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt

Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng

cao.Việc này đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc, toàn

diện Hội nghị ban chấp hành trung ương khoá VIII cũng đã khẳng định:“Đổi mới

phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp

giáo dục hiện đại, bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn

đề.”và nhấn mạnh một lần nữa: “ Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục

lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp

dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp dạy học hiện đại vào quá trình học ”

Luật giáo dục, điều 28.2,đã ghi“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy

tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào

thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”

Trong những năm gần đây quan niệm của thầy và việc học của trò đã theo

hướng nhằm phát huy tích cực, tự lực của học sinh.Thầy giáo chủ thể của quá trình dạy

đóng vai trò chủ đạo, thể hiện ở chỗ người thầy xác định mục tiêu, nội dung dạy học,

thiết kế và tổ chức hoạt động, dự kiến tình huống có thể xảy ra, dự kiến phương hướng

và cách giải quyết tương ứng và là trọng tài khoa học trước học sinh Học sinh, chủ thể

nhận thức, chủ thể của hoạt động học phải đưa ra được vấn đề, suy đoán giải pháp thực

hiện và thực hiện tìm ra kết quả bằng hành động của mình dưới sự chỉ dẫn của thầy

Ngày nay trong xã hội bùng nổ thông tin, kiến thức học sinh học trong trường không thể học

hết kiến thức mới mà nhân loại tạo ra Chính vì vậy, hướng dẫn học sinh tự học

không những phát huy khả năng tích cực tự lực của học sinh trong học tập, giúp học

Formatted: Level 1, Indent: Left: 0", Hanging: 0.17"

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt

Formatted: Indent: First line: 0"

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Justified

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Condensed by 0.3 pt

Trang 2

không những phát huy khả năng tích cực tự lực của học sinh trong học tập, giúp học

sinh nắm kiến thức một cách bền vững hơn mà còn tạo điều kiện cho học sinh có khả

năng học tập suốt đời Học sinh có khả năng tự học thì sẽ tự biết tìm kiếm thông tin,

vận dụng kiến thức đã có vào trong hoàn cảnh sống mới của xã hội

Chương “Động học chất điểm ”là chương có nhiều kiến thức mới xây dựng dựa

trên kiến thức vật lí học sinh đã được học trước đó: Chuyển động cơ học, chuyển động

đều, chuyển động không đều, chuyển động cong, vận tốc, tính tương đối của chuyển

động và kiến thức toán: Phương pháp vẽ đồ thị, lập phương trình bậc nhất, phương

trình bậc 2 Vì vậy, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tự học trên lớp cũng như ở

nhà.Từ những có cơ sở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Hướng dẫn học sinh tự học

trong dạy học chương “ Động học chất điểm ” Vật lí 10 nâng cao

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “

Động học chất điểm ” nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và bồi dưỡng năng lực hoạt

động sáng tạo của học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học

- Điều tra khảo sát thực trạng việc học sinh tự học ở trung học phổ thông

- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí lớp 10 nói chung chương “Động học

chất điểm ”nói riêng

- Soạn thảo tài liệu hướng dẫn học sinh tự học và kế hoạch hướng dẫn học sinh

tự học chương “ Động học chất điểm ” vật lí 10 nâng cao

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá việc học sinh tự học để nâng cao chất

lượng dạạy và học

4 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động tổ chức hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học vật lí phổ thông

b Phạm vi nghiên cứu

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5" Formatted: Condensed by 0.3 pt

Trang 3

Xây dựng tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương

“ Động học chất điểm ”vật lí 10 nâng cao, với học sinh ở các trường THPT thuộc

thành phố Bắc Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu chủ chương chính sách của Đảng và nhà nước trong

công tài giáo dục và đào tạo

- Nghiên cứu tài liệu về hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học

-Nghiên cứu nộidung chương trình vật lí10 THPT,đặc biệt phầnĐộng học chất điểm

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực trạng của giáo viên và học sinh về việc hướng dẫn học sinh tự

học của giáo viên và việc việc tự học của học sinh trong quá trình dạy học chương “

Động học chất điểm ” thông qua dự giờ, kiểm tra giáo án, kiểm tra vở bài tập của học

sinh, việc học ở nhà

- Thực nghiệm sư phạm

5.3 Phương pháp thống kê toán học

6 Giả thuyết khoa học

Nếu soạn thảo được tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học bám sát nội

dung kiến thức vật lí và mục tiêu dạy học, đồng thời sử dụng một cách hợp lý các hình

thức tổ chức hướng dẫn học sinh tự học sẽ làm cho học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức

một cách hệ thống, sâu sắc và bền vững góp phần nâng cao hiệu quả dạy học

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hướng dẫn hoạt động tự học của

học sinh trong dạy học vật lí ở trường phổ thông

Chương 2 Soạn thảo tài liệu và tổ chức hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học

chương “ Động học chất điểm ” vật lí 10 nâng cao

Chương 3.Thực nghiệm sư phạm

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.3 pt

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Justified, Level 2, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.3 pt

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1 Quan niệm hiện đại về dạy học

1.1.1 Nhiệm vụ của quá trình dạy học

Dạy học là một hoạt động đặc trưng của loài người nhằm truyền lại cho thế hệ

sau những kinh nghệm mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng thành “vốn liếng”

kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học Hoạt động dạy học bao

gồm hai hoạt động liên quan với nhau và tác động qua lại với nhau: Hoạt động dạy của

giáo viên và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này có cùng mục đích cuối

cùng là làm cho học sinh lĩính hội được nội dung học, đồng thời phát triển nhân cách,

năng lực của mình Quá trình dạy học xảy ra rất phức tạp và đa dạng trong đó sự phối

hợp giữa giáo viên và học sinh có ý nghĩa quyết định

Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức tâm lý tích cực có liên quan đến

nhu cầu hứng thú của học sinh Dạy học không những chỉ chú ý phát triển động cơ

học tập của học sinh ngay trong quá trình dạy học mà còn phải đi trước sự phát

triển Nhiệm vụ của quá trình dạy học không chỉ giới hạn ở sự hình thành các kiến

thức, kĩ năng, kĩ xảo mà phải phát triển được trí tuệ, hình thành và phát triển được

nhân cách toàn diện của học sinh Sự phát triển trí tuệ vừa là điều kiện đảm bảo cho

học sinh nắm vững kiến thức, vừa đảm bảo cho học sinh có khả năng tiếp thu,

nghiên cứu, tìm tòi, giải quyết nhiệm vụ học tập, đáp ứng những đòi hỏi đa dạng

của hoạt động thực tiễn sau này

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, sự học tập của học sinh sẽ tạo thuận lợi và

có hiệu quả hơn nhờ sự trao đổi và sự tranh luận với bạn qua vùng phát triển gần nhất Bởi vậy

học tập của học sinh cần được tổ chức theo các hình thức làm việc khác nhau: Cá nhân, theo

nhóm và giữa các nhóm. 4

Formatted: Level 1

Formatted: Font: 5 pt Formatted: Justified, Level 2, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Justified, Level 3, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Expanded by 0.2 pt

Trang 5

1.1 2 Bản chất của học và chức năng của dạy trong hệ tương tác dạy học

a Bản chất của sự học

Không thể quan niệm sự học của học sinh chỉ là sự in vào đầu óc của họ những

kiến thức xem như những cái có sẵn đã được diễn đạt bằng ngôn ngữ và tồn tại độc lập

với học sinh

Tâm lý học và lí luận dạy học hiện đại khẳng định: Con đường có hiệu quả nhất

để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo là phải

đưa học sinh vào được chủ thể hoạt động nhận thức: “ Nắm vững kiến thức, thực sự

lĩnh hội chúng, cái đó học sinh phải tự làm lấy, bằng trí tuệ của bản thân”

Theo quan điểm tâm lý học tu duy, sự học là sự phát triển về chất của cấu trúc

hành động Cùng một biểu hiện hành vi bề ngoài giống nhau nhưng chất lượng, hiệu

quả của sự học vẫn có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phát triển cấu trúc hành động

của chủ thể Ở đây, hành vi được xem như biểu hiện ra bề mặt của kết quả hành động,

còn cách thức để đạt tới kết quả đó được xem như cấu trúc bên trong của hành động

Theo quan niệm hiện đại, sự học phải là một quá trình hình thành phát triển các dạng

thức và hành động xác định của người học, đó là thích ứng của chủ thể với tình huống học

tập thchs đáng thông qua sự đồng hoá và sự điều tiết, nhờ đó người học phát triển năng lực,

thể chất, tinh thần và nhân cách

Như vậy, sự học nói chung là sự thích ứng của người học với những tình huống

thích đáng làm nảy sinh và phát triển ở người học những hoạt động xác định, phát triển

ở người học năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách cá nhân Nói riêng, sự học có

chất lượng một tri thức khoa học mới nào đó phải là sự thích ứng của người học với

những tình huống học tập thích đáng Chính quá trình thích ứng này là hoạt động của

người học xây nên tri thức mới với tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình

huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức

thực tiễn và nhân cách của người học Nhưng học sinh chưa đủ điều kiện để tự lực giải

quyết vấn đề trong các tình huống và thông qua đó tìm được các quy tắc, quy luật logic

mà chỉ đúc rút được kinh nghiệm thông qua hành động học tập hàng ngày dưới sự giúp

đỡ của giáo viên

Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5", Line spacing: Multiple 1.45 li

Formatted: Indent: First line: 0.5", Line spacing: Multiple 1.45 li

Trang 6

b Bản chất của sự dạy

Theo AM Machinski thì dạy học phải làm cho người học phát triển được trí tuệ,

động cơ học tập và hứng thú nhận thức Do vậy, sự dạy là sự tổ chức, hình thành và

phát triển nhân cách Dạy học phải luôn tạo ra sự “ mất cân bằng” về mặt tâm lý, tạo ra

xung đột xã hội, nhận thức trong bản thân học sinh, nhằm thiết lập sự “cân bằng” mới

trong quá trình học tập

Theo GS TS Phạm Hữu Tòng: Nếu học là hành động xây dựng kiến thức cho bản

thân mình và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động chiếm lĩnh tri thức

và hành động vận dụng kiến thức Do đó, trong dạy học, giáo viên phải tổ chức các tình

huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh để qua đó học sinh chiếm lĩnh được tri thức,

đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình Về mặt nhận thức luận, dạy học

có vai trò điều khiển, tổ chức nhận thức tri thức khoa học cụ thể của học sinh theo một tiến

trình nhận thức khoa học: Đề xuất vấn đề, suy đoán giải pháp, khảo sát lý thuyết và thực

nghiệm, kiểm tra vận dụng kết quả . 4

c Hệ tương tác dạy học

Trong hệ tương tác dạy học, mỗi hành động của người học được diễn đạt ra theo

các pha: “ Định hướng - chấp hành- kiểm tra”, trong đó cơ sở định hướng có vai trò

quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của hành động Giáo viên có vai trò quan trọng

trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở khái quát hành động của học sinh Đó là cơ

sở định hướng bao gồm những nội dung cơ bản nhất cần thiết cho sự thực hiện thành

công hành động của chủ thể

Như vậy, muốn đạt được chất lượng hiệu quả cao trong sự vận hành của hệ

tương tác dạy học bao gồm người dạy ( giáo viên), người học ( học sinh ) và tư liệu

hoạt động dạy học (môi trường) thì giáo viên cần tổ chức, kiểm tra, định hướng hành

động của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chiếm lĩnh, xây dựng

tri thức cho mình và dó đó đồng thời năng lực trí tuệ và nhân cách toàn diện của họ

từng bước phát triển

Có thể mô tả sự tương tác giữa dạy và học trong hệ dạy học bằng sơ đồ mô hình:

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 7

Hình 1.1 Hệ tương tác dạy học

Hành động của giáo viên với tư liệu hoạt động dạy học là sự tổ chức tư liệu và

qua đó cung cấp tư liệu và tạo tình huống cho hoạt động học của học sinh

Tác động trực tiếp của giáo viên tới học sinh là sự định hướng của giáo viên đối

với hành động của học sinh với tư liệu, là sự định hướng của giáo viên với sự tương tác

trao đổi giữa học sinh với nhau và qua đó đồng thời còn định hướng cả sự cung cấp

những thông tin liên hệ ngược từ phía học sinh cho giáo viên Đó là những thông tin

cần thiết cho sự tổ chức và định hướng của giáo viên đối với hành động của học sinh

Hành động của học sinh với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học

sinh với tình huống học tập, đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho

bản thân mình và sự tương tác đó của học sinh với tư liệu đem lại cho giáo viên những

thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên với học sinh

Tương tác trực tiếp giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên là sự

trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân học sinh tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía giáo

viên và tập thể học sinh trong quá trình chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. 4

Tổ chức

Formatted: Font: Italic Formatted: Font: 3 pt, Italic

Trang 8

1 2 Bản chất hoạt động nhận thức vật lí

1.2.1 Con đường nhận thức vật lí

Cũng như các môn khoa học khác, con đường nhận thức vật lí là “ Từ trục quan

sinh động đến tư duy trìu tượng, rồi từ tư duy trìu tượng về thực tiễn” - như V.I Lên

nin đã chỉ rõ Điều này đã được các nhà vật lý nổi tiếng thể hiện qua chu trình nhận

thức ( chu trình của V.G Razumopxki hay chu trình của Anhxtanh) Có thể diễn tả các

chu trình đó như sau:

Từ việc khái quát các sự kiện xuất phát, đi đến xây dựng mô hình trìu tượng giả

định

( có tính chất như giả thuyết); từ mô hình dẫn đến việc rút ra các hệ quả lý thuyết (

bằng logic hay toán học); kiểm tra bằng thực nghiệm những hệ quả đó Nếu những kết

quả thực nghiệm phù hợp thì mô hình giả thuyết được xác nhận là đúng đắn và trở

thành chân lý, ngược lại phải xem lại lý thuyết, chỉnh lý hoặc thay đổi ( tức là đưa ra

mô hình mới) và lặp lại chu trình. 4

1.2.2 Bản chất hoạt động nhận thức vật lí ở trường phổ thông

Hoạt động nhận thức vật lý của học sinh phổ thông có những điểm rất khác biệt

với nhận thức của nhà khoa học Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà

trước đây loài người chưa biết tới, còn học sinh lại tìm cho bản thân mình cái mà loài

người đã khám phá, tích luỹ, cái mà giáo viên đã biết; Về thời gian, nhà khoa học có

nhiều thời gian, thậm chí cả cuộc đời mình để khám phá ra một định luật, xây dựng

một thuyết nào đó, còn học sinh chỉ có thời gian ngắn; Về phương tiện, học sinh chỉ có

những dụng cụ thí nghiệm đơn giản Với sự khác nhau đó ta không hy vọng làm cho

học sinh nhờ áp dụng phương pháp khoa học, chỉ mong các em làm quen với cách suy

nghĩ, tư duy khoa học, tạo ra những yếu tố ban đầu hoạt động sáng tạo

Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo không phải bẩm sinh mà được hình

thành và phát triển trong quá trình hoạt động của chủ thể Bởi vậy, muốn hình thành

năng lực phải chuẩn bị cho học sinh những điều kiện cần thiết để họ thực hiện thành

công hoạt động đó Những điều kiện đó là:

Formatted: Level 3 Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: English (United States), Not Expanded by / Condensed by Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: Not Expanded by / Condensed by Formatted: Not Expanded by / Condensed by Formatted: Level 3

Trang 9

a) Đảm bảo cho học sinh có điều kiện tâm lý thuận lợi để tự lực hoạt động:

- Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú tìm tòi cái mới, ta thường gọi

là xây dựng tình huống có vấn đề

- Tạo môi trường sư phạm thuận lợi

b) Tạo điều kiện để học sinh giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao:

- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp

- Rèn luyện cho học sinh thực hiện một số thao tác cơ bản gồm thao tác chân tay

và thao tác tư duy

- Cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức vật lí được sử dụng phổ biến

Để đảm bảo những điều kiện này thì phương pháp dạy học là một trong những

thành tố đóng vai trò quyết định Trong những năm gần đây ngành giáo dục nước ta

chú trọng nhiều tới các phương pháp dạy học “ Lấy người học làm trung tâm”

( phương pháp dạy học tích cực)  4

1.3 Tính tích cực của học sinh trong học tập

Hoạt động học là hoạt động đặc trưng của loài người, nhằm truyền lại cho thế hệ

sau những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, biến chúng thành vốn

liếng, kinh nghiệm và phẩm chất, năng lực của cá nhân người học Theo quan điểm

hiện đại “ Dạy học bằng hoạt động, thông qua hoạt động của học sinh để học sinh tự

lực, tích cực chiếm lĩnh kiến thức” Muốn vậy, trong dạy học giáo viên phải tạo được ở

học sinh động cơ, hứng thú đi tìm cái mới, kích thích học sinh hăng hái, tự giác hoạt

động, tức là phải phát huy được tính tích cực của học sinh trong học tập  16

1.3.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập vật lí

Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về

nhiều mặt trong học tập (L.V.Rebrova, 1975) Học tập là một trường hợp riêng của

nhận thức “ Một nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ

đạo của giáo viên (P.N.Erđơnive, 1974) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất là

nói tới tích cực nhận thức, mà tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức

của học sinh đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá

Formatted: Not Expanded by / Condensed by Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: English (United States), Condensed by 0.3 pt

Formatted: Level 2

Formatted: Level 3

Trang 10

trình nắm vững kiến thức

Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạt

động của bản thân Học sinh sẽ hiểu và ghi nhớ những gì trải qua hoạt động nhận thức

tích cực của mình, trong đó các em phải có những cố gắng trí tuệ, đó là chưa nói tới

một trình độ nhất định, thì sự học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học

cũng phải tìm ra kiến thức mới cho nhân loại. 16

1.3.2 Các biểu hiện của tính tích cực học tập

Có những trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở hoạt động cơ bắp nhưng

quan trọng là sự biểu hiện ở hoạt động trí tuệ: hai hình thức biểu hiện này thường đi

liền với nhau Theo G.I.Sukina (1979) có thể nêu nững dấu hiệu của tính tích cực hoạt

động trí tuệ như sau:

- Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời

của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra

- Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận

ra vấn đề mới

- Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới mẻ lấy từ

những nguồn thông tin khác nhau, vượt ra ngoài phạm vi bài học

Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy – còn có những biểu

hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn như : thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc

nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra

lời giải cho một bài tập Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể học

sinh, bộc lộ rõ ở các lớp học sinh bé, kín đáo ở học sinh lớp trên G.I.sukina còn phân

biệt những dấu hiệu tích cực học tập về mặt ý chí:

- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học

- Kiên chì làm xong bài tập

- Không nản trước những tình huống khó khăn

- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ cố làm cho xong hoặc

vội vàng gấp vở chờ được lệnh ra chơi

Formatted: Level 2

Trang 11

Theo PGS TSKH Thái Duy Tuyên, để giúp giáo viên phát hiện được học sinh

có tích cực hay không, cần dựa vào một số dấu hiệu sau đây:

- Các em có chú ý học tập hay không?

- Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học không?

( thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép )

- Có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?

- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?

- Có hiểu bài không?Có thể trình bày nội dung bài họctheo ngôn ngữ riêng không?

- Có vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn không?

- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?

- Tốc độ học tập có nhanh không?

- Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học?

- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?

- Có sáng tạo trong học tập không?  16

1.3.3 Các cấp độ của tính tích cực học tập

Có thể phân biệt ở ba cấp độ khác nhau từ thấp lên cao:

a Bắt chước: Học sinh tích cực bắt chước hoạt động của giáo viên của bạn bè

Trong hoạt động bắt chước cũng phải có sự gắng sức của thần kinh và cơ bắp

b Tìm tòi: Học sinh tìm cách độc lập giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những

cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lý nhất

c.Sáng tạo:Học sinh nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc cấu tạo những bài tập mới,

hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới để chứng minh bài học Dĩ nhiên mức độ sáng

tạo của học sinh là có hạn nhưng đó chính là mầm mống để sáng tạo về sau. 16

1.3.4 Mức độ tích cực của học sinh

Về mức độ tích cực của học sinh có thể dựa vào một số dấu hiệu sau:

- Có tự giác học tập không hay bị bắt buộc bởi những động tác bên ngoài? ( gia

đình, bạn bè, xã hội )

Formatted: Level 3

Formatted: Condensed by 0.3 pt

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Level 3

Formatted: Justified, Line spacing: 1.5 lines Formatted: English (United States) Formatted: Tab stops: 0", Left + Not at 0.38"

Trang 12

- Thực hiện nhiệm vụ của thầy theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?

- Tích cực nhất thời hay thường xuyên, liên tục?

- Tích cực ngày càng tăng dần hay giảm dần?

- Có kiên trì vượt khó hay không?  16

1 3.5 Nguyên nhân của tính tích cực trong nhận thức

Tính tích cực nhận thức của học sinh tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng

nó là hậu quả của nhiều nguyên nhân: có những nguyên nhân phát sinh lúc học tập, có

những nguyên nhân hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách

Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc vào các nhân tố sau đây: Hứng thú,

nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khoẻ, môi trường

Những nhân tố trên đây, có những nhân tố có thể hình thành ngay, nhưng có

những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của rất

nhiều tác động

Như vậy, việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một kế

hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trường và xã hội

1 3.6 Biện pháp của tính tích cựu trong nhận thức

1 3.5 Nguyên nhân của tính tích cực trong nhận thức

Phát huy tính tích cực nhận thức không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại, các

nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aritstot đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn

của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh và đã nói lên nhiều biện pháp

phát huy tính tích cực nhận thức

J.A.Komenxki – nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỉ 17 đã đưa ra những biện pháp dạy

học bắt học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng

J.J.Ruxô cũng cho rằng phải hướng học sinh tính tích cực tự giác giành kiến thức

bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo

A Distecvec thì cho rằng người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân

lí, người giáo viên giỏi là người dạy cho họ tìm ra chân lí

Formatted: Line spacing: Multiple 1.52 li

Formatted: Level 3, Line spacing: Multiple 1.52 li

Formatted: Line spacing: Multiple 1.52 li

Formatted: English (United States) Formatted: Level 3, Line spacing: Multiple 1.52 li

Formatted: Line spacing: Multiple 1.52 li

Trang 13

K.D Usinxki nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đièu khiển, dẫn dắt học sinh

của thầy giáo

Trong thế kỉ 20, các nhà giáo đều kiếm tìm con đường tích cực hoá hoạt động dạy

học Chúng ta thường kể đến tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng như B.P.Êxipôp, M.A

Danilôp, M.N Xeatkin, I.F Kharlamôp, L.I Xamôva (Liên Xô), Okon (Ba Lan), Skinner

(Mĩ) Ở Việt Nam, các nhà lí luận dạy học cũng đã viết nhiều về tích cực

nhận thức, tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ trương quan trọng của ngành giáo

dục nước ta

Các biện pháp nâng cao tính tích cực nhận thức của học sinh trong giờ lên lớp

được phản ánh tóm tắt như sau:

- Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

- Nội dung dạy học phải mới, nhưng cái mới đây không phải quá xa lạ với học

sinh, cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi

với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày, thoả mãn nhu cầu nhận thức của các em

- Phải dùng phương pháp dạy học đa dạng: Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, đàm

thoại, thuyết trình làm việc độc lập và phối hợp chúng với nhau

- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau

Những vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ

- Sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt ở các lớp nhỏ Dụng cụ trực quan có

tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú của học sinh

- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể, tham

quan, làm việc trong phòng thí nghiệm

- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, vào các

tình huống mới

- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên với học sinh, động

viên, khen thưởng của thầy cô và bạn bè khi có thành tích tốt

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: No widow/orphan control

Formatted: Condensed by 0.4 pt

Formatted: Level 2, No widow/orphan control

Trang 14

Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề

đặc biệt được quan tâm Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học Khả năng

này cần rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Lí thuyết dạy học theo cơ chế “ chuyển vào trong ” thế giới nội tâm của người học

kho tàng tri thức, tri thức trở thành tài sản riêng của người học là lý thuyết có ý nghĩa

sâu sắc để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Muốn tri thức tự nhiên và xã hội

trở thành tài sản riêng của người học thì người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, khơi

gợi của người dạy họ phải thực sự có tự do nội tâm ( hoạt động nhận thức rất tích cực,

khả năng liên tưởng, tưởng tượng và được phát triển cá tính ) và niềm đam mê cao cả

( động cơ học tập )

Vì vậy, quá trình dạy học phải bao hàm dạy tự học Cho nên việc dạy học trước hết rèn

luyện năng lực tự học sách giáo khoa cho học sinh để từ đó giúp học sinh biết phương pháp

tự học, tự học suốt đời trong xã hội học tập là một yêu cầu cực kỳ quan trọng và có tính tất

yếu Dạy học sinh có phương pháp tự học với hạt nhân của động cơ học tập mạnh mẽ, sâu

sắc là con đường cơ bản giúp các em giải quyết tốt nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của mục

tiêu đào tạo Việc dạy tự học đương nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một cách dạy học

mà người học là chủ thể, tự họ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá

thành nhu cầu của chính bản thân họ

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tự học:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, GS Viện sĩ Nguyễn Cảnh

Toàn - một tấm gương lớn về tự học cho rằng: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ

bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình

cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó

của nhân loại, biến lĩnh vực đó trở thành sở hữu của mình”  24

Còn theo cố GS Nguyễn Văn Đạo ( Đại học Quốc gia Hà Nội ) đã có

một vài

Formatted: No widow/orphan control

Trang 15

suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “ Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người Số

thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng

1

4 của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động

sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò quan trọng

Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người

có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này

Tự học là con đường tao ra tri thức bền vững cho mối con người trong quá trình

học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt

động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn,

của định hướng ứng dụng Kiến thức tự học bao giời cũng vững chắc, bền lâu, thiết

thực và nhiều sáng tạo Tự học xét cho kỹ là một vấn đề then chốt của Giáo dục và Đào

tạo, đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội và chính trị sâu sắc

Đề cao tự học trong suốt bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới là một cách nhìn

vừa thực tế, vừa có ý nghĩa chiến lược

Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thì điều đương

nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng

các nhân Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy

đồng thời giúp học sinh có lòng ham học Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào

năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người

1.4 2 Vai trò của việc tự học của học sinh

Tự học có vai trò và có ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong giáo dục nhà

trường mà nó còn có ý nghĩa cả trong cuộc sống Trong nhà trường, bản chất của sự

học là tự học Do đó mà kết quả học tập của học sinh tỷ lệ thuận với năng lực tự học

của họ Ngoài ra, tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động

độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt

Trang 16

- Nâng cao tính tích cực tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của

học sinh

- Rèn cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo được quy định trong chương trình của mỗi bộ

môn, phù hợp với mục đích của nhà trường

- Dạy cho học sinh biết cách áp dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận được vào

cuộc sống và lao động công ích

- Phát triển khả năng nhận thức của học sinh ( tính quan sát, tính ham hiểu biết,

khả năng tư duy lôgíc, tính tích cực sáng tạo)

- Luyện cho học sinh khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục

đích đặt ra

- Chuẩn bị cho học sinh để các em có thể tiếp tục tự học một cách có kết quả

- Tự học là biện pháp tối ưu làm tăng độ bến kiến thức ở mỗi học sinh

1.4.3 Nội dung hoạt động tự học

Theo tác giả Thái Duy Tuyên:“tự học là hoạt động chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng, kỹ

xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học”

Có nhiều cách tự học khác nhau:

- Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như tự học của học sinh, sinh viên, thực tập

sinh, nghiên cứu sinh

- Tự học không có hướng dẫn của thầy ( liên quan đến những người đã trưởng

thành, những nhà khoa học )

- Tự học trong cuộc sống ( Các nhà văn, các nhà kinh tế, các nhà chính trị xã

hội ) Như vậy, hình thức và đối tượng tự học hết sức phong phú và đa dạng Đối với

mỗi con người trong suốt cuộc đời đều phải kinh qua các dạng tự học trên

Một là: Chuẩn bị cho hoạt động tự học:

a) Xác định nhu cầu và động cơ, kích thích hứng thú học tập

b) Xác định mục đích và nhiệm vụ dạy học

c) Xây dựng kế hoạch

Hai là: Tự lực nắm vững nội dung học vấn:

Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5" Formatted: Condensed by 0.2 pt

Trang 17

a) Lựa chọn tài liệu và hình thức tự học

b) Tiếp cận thông tin

c) Xử lý thông tin

d) Phổ biến thông tin

Ba là: Kiểm tra và đánh giá  31

1.4.4 Nội dung công việc học tập ở nhà về môn vật lí

Theo tác giả Nguyễn Đức Thâm: “dù bài giảng của giáo viên ở trên lớp

có đạt

hiệu quả cao, kích thích được tính tích cực và tính tự lực của học sinh thì vẫn phải coi

trọng sự tổ chức việc học tập ở nhà của học sinh về môn học của mình.”

Sở dĩ như thế trước là vì thời gian giảng bài và luyện tập trên lớp bao giờ

cũng có hạn, học sinh chưa thể nào kịp lĩnh hội sâu sắc kiến thức và vận dụng thành

thạo, linh hoạt kiến thức Mặt khác việc học tập ở nhà đòi hỏi học sinh, phải làm việc

một cách có ý thức, tích cực và ở mức độ cao hơn hẳn so với học tập ở lớp, và điều này

là hoàn toàn cần thiết trong việc xây dựng các kiến thức vững chắc về vật lý và rèn

uyện kỹ năng, kỹ xảo và vận dụng kiến thức của học sinh Giáo viên vật lý tổ chức

được tốt việc học ở nhà của học sinh về môn học của mình vừa phát huy được hiệu quả

của bài giảng trên lớp, đồng thời cũng là chuẩn bị cho học sinh, tiếp thu tốt các kiến

thức ở bài giảng mới Như thế khâu học tập ở nhà của học sinh rõ ràng là một khâu

quan trọng trong qúa trình học tập, có tác động lớn đến chất lượng kiến thức vật lý của

học sinh

Nội dung công việc học tập ở nhà của học sinh về môn vật lý cần bao gồm các

loại công việc theo trình tự sau:

1 Phục hồi các kiến thức vừa nghiên cứu tại lớp: đọc sách giáo khoa, làm lại thí

nghiệm cần thiết, bổ sung các cách ghi chép, hình vẽ, đồ thị

2 Giải bài tập, bắt đầu từ những bài tập có tính chất luyện tập đơn thuần rồi đến

những bài tập có tính sáng tạo, rèn luyện tư duy

3 Ôn tập kiến thức cần cho bài học sắp tới

Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5"

Trang 18

4 Ôn tập thường xuyên trong một năm

Việc tổ chức hoạt động tự học chỉ đạt được hiệu quả nếu thoả mãn các yêu cầu

- Công việc tự học ở nhà phải thích hợp với từng loại học sinh cá biệt, giỏi hoặc

kém Ngoài những bài làm chung cho toàn lớp phù hợp với học sinh trung bình cần

phải có thêm những bài phụ dành cho học sinh kém để giúp đỡ thêm điều kiện hoàn

thành các bài làm chung, đồng thời lại có những bài làm bổ sung cho học khá để phát

triển tài năng của học sinh

- Trong những trường hợp cần thiết có thể có những hướng dẫn để họ vượt qua

được những khó khăn sẽ gặp phải

- Nhất thiết phải kiểm tra thường xuyên việc thực hiện của học sinh  22

1.5 Năng lực tự học

1.5.1 Khái niệm năng lực tự học

Ta đã biết học có nghĩa là tự học, có hai cách học cơ bản

- Cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào dựa theo mô hình Pavlốp

- Cách học chủ động, tự bản thân mình tìm ra kiến thức theo mô hình

Skinner

Về cách tự học thì mỗi người một vẻ tuỳ theo tư chất, điều kiện và hoàn cảnh

cụ thể.Năng lực tự học luôn tiềm ẩn trong mỗi con người Vậy năng lực tự học chính là

nội lực phát triển của bản thân mỗi người học

Tiếp xúc với các nguồn kiến thức khác nhau, học sinh cần có kĩ năng hành

động tương ứng Khi học sinh biết cách tổ chức, thu thập, xử lý thông tin, tự kiểm tra,

tự điều chỉnh khi làm việc với các nguồn tri thức nghĩa là đã nắm được phương pháp để

tự học trên lớp và tự học Muốn thực hiện hoạt động học cần biết lựa chọn các hành

động học có mục đích phù hợp, đáp ứng mục đích chung, của hoạt động học, biết sắp

xếp trình tự các hành động một cách hợp lý, biết thực hiện các hành động học có kết

quả Người nào biết lựa chọn, sắp xếp thực hiện đúng qui trình để đạt tới mục đích hoạt

động thì người đó biết phương pháp học

Formatted: Level 2 Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5" Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 19

Theo Nguyễn Kì trong bất cứ con người Việt nam nào trừ những người bị

khuyết tật, tâm thần - đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quý

giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự giải quyết

vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là năng

lực sáng tạo

1.5 2 Vai trò của năng lực tự học

Năng lực tự học sáng tạo đã làm nên biết bao nhà quan sự, chính trị, khoa học

và văn hoá lỗi lạc của đất nước, của thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại

của dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới chính là tấm gương lớn của năng

lực tự học sáng tạo

Năng lực tự học có bốn vai trò chính sau:

+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ năng, kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận

thức trong tình huống học

+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhận thức

qua các tình huống học

+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lí thông

tin từ môi trường xung quanh mình

+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính

mình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với các bạn trong cộng đồng lớp học

dưới sự hướng dẫn của giáo viên – xã hội hoá lớp học

1 6 Tính tự lực học tập 33

1.6.1 Cở sở lý luận của tính tự lực học tập

1.6.1.1 Bản chất của tính tự lực

a) Khái niệm tính tự lực

Tính tự lực là một trong những phẩm chất trung tâm của nhân cách, thể hiện ở:

- Sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề, không a dua, không ỷ lại, nhờ cậy

người khác

Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5"

Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5" Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 20

- Sự tự làm lấy bắt đầu từ những việc đơn giản như tự uống, tự ăn, tự thu dọn đồ

chơi , nhưng tự lực làm hoàn chỉnh bắt đầu từ việc đặt mục đích, nhiệm vụ, tổ chức hoạt

động, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở sủ dụng tối đa các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của mình

với sự

lỗ lực tối đa về trí tuệ, tâm hồn thể lực và ý chí nhằm đạt mục đích đề ra và thoả mãn

yêu cầu xã hội

Nếu đặc trưng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực bản thân, thì đặc trưng

của tính tự lực lại là ở mối quan hệ với người khác: không dựa dẫm vào người khác,

hết sức tiết kiệm nhờ cậy

Formatted: English (United States)

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 21

b) Các loại tính tự lực

Nhìn chung có hai loại tính tự lực:Tính tự lực nhận thức; Tính tự lực hành động

Trong thực tế, nhiều người suy nghĩ rất chủ động, nghĩa là độc lập trong nhận thức, trong tư duy, nhưng trong hoạt động thực tiễn lại hay dựa dẫm, ỷ lại Trường hợp này thường hay rơi vào các tầng lớp trí thức

Ngược lại, người chiến sĩ, công nhân, nông dân lại rất chủ động, xông xáo trong

các hoạt động thực tiễn, nhưng trong học tập, nghiên cứu, nhiều trường hợp lại

tỏ ra rụt rè, e ngại

c) Về cấu trúc

Tính tự lực là một phẩm chất có tính chất tổng hợp, liên quan đến những phẩm chất và năng lực khác, như:

- Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Đây là một nhân tố rất quan trọng để tạo nên tính

chất tự lực, vì chỉ có thể tự lực hoạt động khi nhận thức được sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng và nắm chắc phương pháp hoạt động

- Niềm tin vào sự đúng đắn của công việc mình làm, vào năng lực bản thân

Niềm tin này tạo ra sự vững vàng, sự kiên định về tâm thế, không dao động trước những tác động bên ngoài

- Có tình cảm, hứng thú, yêu thích kết quả và quá trình tự hoạt động Những yếu

tố này kích thích tính tự giác của hoạt động mà không phải dùng sức mạnh của ý chí Thí dụ, đi hỏi vợ thì dù người rụt rè, dút dát đến đâu cũng là một hoạt động tự lực

- Có nhu cầu, động cơ Nhu cầu và động cơ càng mạnh thì tính tự lực càng cao

- Tính kiên trì, nhẫn nại, không sờn lòng nản chí trước khó khăn

- Tính kế hoạch, năng lực tổ chức làm cho hoạt động tự lực đạt hiệu quả

Trang 22

- Thói quen tự lực, không trông chờ ỷ lại cũng là một phẩm chất cần được rèn

uyện từ nhỏ để trở thnàh một thói quen, một phản xạ tự nhiên của con người mà không

cần vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí

1.6.1.2 Vai trò của tính tự lực trong việc hình thành nhân cách

a) Tính tự lực có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Khi con người đã có một ít vốn sống, đã tích luỹ được những kiến thức, kỹ năng,

kỹ xảo nhất định, họ muốn tự hoạt động dưới những hình thức khác nhau để thoả mãn

nhu cầu cá nhân Trong quá trình này họ sẽ gặp nhiều khó khăn ttrong việc giải quyết

các vấn đề đặt ra để đạt đến mục đích Vì vậy , họ phải tiếp tục học hỏi, đúc rút kinh

nghiệm, suy nghĩ tìm tòi và nhờ vậy mà năng lực ngày càng hoàn thiện hơn Các

phẩm chất như tính kiên trì, vượt khó, không ngại gian khổ, khiêm tốn, giản dị, tự lực

tự cường được rèn luyện và phát triển

Để hoàn thành được công việc của mình, con người cần có thân thể khoẻ mạnh,

dẻo dai, vì vậy họ cũng quan tâm đến việc rèn luyện thể lực

Sự thành công trong quá trình tự lực hoạt động thường mang lại niềm vui, hạnh phúc

lớn lao và niềm tin vào bản thân, vào bạn bè, đồng chí

Vì vậy, hoạt động tự lực có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân

cách

Các nhà sư phạm tiền bối đều rất coi trọng các hoạt động tự lực J.A.Komensky

đã đưa ra luận điểm: “sự phát triển của mọi vật đều bắt nguồn từ bên trong” và rất coi

trọng tính tự lực Ông thường dùng hình ảnh quả trứng và con gà Khi được đặt ở một

nhiệt độ nhất định, quả trứng tự vận động nội tại để trở thành con gà, mà hoàn toàn

không cần một tác động nào từ bên ngoài

b) Tính tự lực có ảnh hưởng đến tính tích cực, sáng tạo

Tính tích cực và tính tự lực có liên quan mật thiết với nhau.Khi đã hoạt động

tự lực có nghĩa là không dựa dẫm vào người khác, mà phải phát triển năng lực chủ

quan, phải nỗ lực phát huy sức mạnh bản thân: trí tuệ, tâm hồn, ý chí thể lực để giải

quyết vấn đề Như vậy , giữa tính tích cực và tính tự lực có mối quan hệ chặt chẽ

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 23

Tính tự lực cũng có quan hệ chặt chẽ với tính sáng tạo.Để phát hiện ra một vấn

đề mới mà chưa ai biết, con người phải tiến hành một quá trình tư duy và tưởng tượng trên

cơ sở tái hiện những vấn đề đã biết Như vậy, về bản chất quá trình sáng tạo là một quá

trình làm việc độc lập lâu dàivà gian khổ của cá nhân, nó manh màu sắc cá nhân rõ nét

c) Tính tự lực và rèn luyện đạo đức tư cách

Khi con người tự lực hoạt động, dù hoạt động chân tay hay trí óc họ đều được

rèn luyện các phẩm chất như: tính chính xác, thận trọng, vì những phẩm chất này là cần

thiết để đảm bảo chất lượng công việc; quý trọng thành quả lao động, biết thương yêu

người lao động vì cảm nhận được nỗi vất vả của họ, biết đoàn kết gắn bó với tập thể vì

các sản phẩm lao động thường là do công sức của nhiều người; được trải nghiệm niềm

hạnh phúc của sự thành công và nếm mùi cay đắng khi thất bại

Tính tự lực làm cho con người được rèn luyện trong thực tiễn, sớm trưởng

thành, phát triển tốt cả trí tuệ, tâm hồn ý chí và sức khoẻ

d) Tính tự lực và cảm xúc

Trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây việc nghiên cứu trí tuệ, xúc cảm đang

nổi lên, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều người Hiện nay người ta đã chứng minh

được rằng trí thông minh, xúc cảm có vai trò ta lớn cho những thành tích xuất sắc, sự

thăng tiến nghề nghiệp trong cuộc đời mỗi con người Đặc biệt trong xã hội phát triển,

khi mà khoa học kỹ thuật, kèm theo đó là tự duy con người được đề cao, dễ dẫn đến

con người sống trong môi trường duy lý cực đoan, vô cảm, tàn lụi đi những cảm xúc

tích cực, thì trí thông minh xúc cảm hết sức cần thiết để đảm bảo cho sự cân bằng về trí

tuệ và cảm xúc trong mỗi con người, cho sự phát triển cá nhân và xã hội Trí thông

minh xúc cảm được nhận diện như là năng lực làm chủ, điều khiển , kiểm soát tình

cảm, xúc cảm của mình và của người khác để tách biệt các phạm trù này, để sử dụng

thông tin này, định hướng cách suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Cấu trúc của

trí thông minh xúc cảm bao gồm hai năng lực

Formatted: Condensed by 0.2 pt

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Trang 24

* Năng lực cá nhân : Tự biết mình (nhận biết xúc cảm của mình, đánh giá mình,

tự tin); Tự kiểm soát, quản lý mình ( kiểm soát xúc cảm, có lòng tin, tự ý thức, thích

ứng, động cơ thành đạt, sáng tạo)

* Năng lực xã hội : Nhận biết các quan hệ xã hội; Quản lý, điều khiển các mối quan hệ

xã hội; Qua quá trình tự lực hoạt động phong phú và đa dạng, tình cảm, xúc cảm lành mạnh

của con người được rèn luyện và phát triển Đó là một thế mạnh của hoạt động tự lực trong

việc hình thành nhân cách

1.6.1.3 Những biểu hiện của tính tự lực của học sinh THPT

Quá trình hình thành và phát triển tính tự lực của các em thay đổi theo lứa tuổi

và đến khoảng 18 tuổi thì định hình về cơ bản.Tính tự lực có ở mọi người, tuy nhiên

mức độ thể hiện tuỳ thuộc vào đặc điểm cá nhân, điều kiện sống và điều kiện giáo

dục.Tính tự lực của học sinh THPT biểu hiện ở

- Sự khao khát chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng

- Tự khẳng định mình trong các hoạt động tập thể, lao động, học tập, giao tiếp và

trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống

- Có kỹ năng tự đặt mục đích và nhiệm vụ hoạt động, biết lựa chọn các phương

tiện, vật liệu cho hoạt động, sơ bộ lập kế hoạch hoạt động, tự điều khiển bản thân, so

sánh kết quả với mục đích

- Khả năng di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổng hợp

chúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có, thể hiện

cách làm sáng tạo

- Sự nỗ lực của ý chí, khả năng biết vượt khó khăn để đạt mục đích

1.6.2 Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học

Để tính tự lực học tập trở thành hiện thực, một nhân tố rất quan trọng là

phải bồi dưỡng kĩ năng tự học cho các em.Sau đây chúng tôi sẽ trình bày vấn đề quan

trọng này

Có kế hoạch tự học tốt là một trong những điều kiện ban đầu quan trọng để thành

công trong học tập Sau đây sẽ trình bày những nguyên tắc xây dựng kế hoạch học tập

và trình tự của việc lập một kế hoạch học tập

Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5", Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5", Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Trang 25

1.6.2.1 Kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học là sự sắp xếp các nội dung học tập được tiến hành trong thời

gian hợp lý của mỗi cá nhân nhằm thực hiện tốt chương trình đào tạo Các nội dung

của kế hoạch tự học được cá nhân xác định trên cơ sở dựa vào kế hoạch dạy học chung

của nhà trường

Xác định nội dung tự học phải hướng tới bổ xung và hoàn thiện kiến thức, đào

sâu và mở rộng những hiểu biết, hoàn thành những nhiệm vụ học tập được giao của

mỗi cá nhân thực hiện

1.6.2.2 Nguyên tắc xây dựng kế hoạch tự học

a) Bảo đảm thời gian tự học cho từng môn học tương xứng với lượng thông tin

của môn học đó 32

Tth = a.T.k

Trong đó:

Tth: thời gian tự học tối thiểu cho môn học

T: số tiết trên lớp của môn học

a: Hệ số phụ thuộc điều kiện khách quan và chủ quan ( hứng thú với môn học,

sự cần thiết phải đầu tư thời gian, công sức 0 < a  1)

k: Tỉ lệ trong tự học và lên lớp của môn học

k = Tổng Tth / Tổng Tng

Tng: Thời gian nghe giảng

b) Đảm bảo xen kẽ luân phiên một cách hợp lý các dạng tự học, các môn học có

tính chất khác nhau

Trong quá trình tự học người học sẽ phải tiến hành lao động trí óc căng thẳng,

vỏ não bị hưng phấn ở những vùng nhất định Nếu chỉ dùng một kích thích ( học một

môn, một hình thức học ) thì vỏ não sẽ bị ức chế và điều này dẫn tới năng lực của

người học sẽ giảm sút Để khắc phục người học cần thay đổi luân phiên các dạng hoạt

động tự học, chẳng hạn có thể chuyển từ đọc sách, nghiên cứu lý thuyết sang làm bài

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5", Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Line spacing: Multiple 1.45 li, No widow/orphan control

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5"

Trang 26

tập, từ môn khoa học tự nhiên sang môn khoa học xã hội, từ môn đòi hỏi tư duy trìu

tượng cao sang môn đòi hỏi tư duy trìu tượng thấp

c) Đảm bảo xen kẽ, luân phiên hợp lý giữa tự học và nghỉ ngơi

Trong tự học,dưới ảnh hưởng của lao động trí óc, người học có biểu hiện của sự

mệt mỏi, có ảnh hưởng xấu đến việc học, như:Khả năng chú ý kém, trí nhớ giảm sút, tư

duy không chặt chẽ, mạch lạc Vì vậy, phải tôn trọng những gời nghỉ ngơi và thư giãn

Nghỉ ngơi hợp lý sẽ giúp trí óc sảng khoái, minh mẫn Nghỉ ngơi không có

nghĩa là không hoạt động mà là dạng hoạt động chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực

khác, chẳng hạn chuyển từ lao động trí óc sang lao động chân tay Người học cần coi

trọng và đảm bảo tốt việc ngủ, đây là hình thức nghỉ ngơi có giá trị nhất sau một ngày

làm việc căng thẳng

d) Đảm bảo tính mềm dẻo, tính thực tế của kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học cần được xây dựng mềm dẻo và thực tế Tính mềm dẻo và thực

tế cần dựa trên sự cần thiết của công việc trong những thời gian khác nhau:

- Ưu tiên công việc quan trọng ( không nên quá 5 việc trong một ngày) và bố trí

vào những khoảng thời gian thuận tiện nhất, ít biến động

- Có phương án thay đổi trình tự các công việc khi có tình huống đột xuất

- Có thời gian dự trữ cho mỗi kế hoạch

- Sắp xếp thời gian để đảm bảo thực hiện công việc của kế hoạch trước đó

1.6.2.3 Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học

Là kĩ năng bố trí, sắp xếp các công việc, phân phối thời gian cho từng công việc,

xác định phương pháp và các hình thức tổ chức thực hiện từng công việc và mức độ

hoàn thành của cá nhân

Thông tin cơ sở cho việc lập kế hoạch

Để lập kế hoạch tự học, trước hết cần kiểm tra xem việc quản lí thời gian của

bản thân đã tốt chưa, bằng các câu hỏi sau đây:

- Có chỉ ra được những mục đích cần đạt không?

- Có mục đích ngắn hạn (mục đích cần đạt được trong thời gian ngắn) không?

Formatted: Font: Not Bold

Trang 27

- Có học đều đặn theo thời khoá biểu từng ngày không?

- Có cố gắng làm những việc quan trọng nhất không?

- Có sắp đặt công việc cần giải quyết theo mức độ quan trọng không?

- Có học thêm được điều gì mới không?

- Có những giờ nghỉ cuối tuần không?

- Có đặt ra những giới hạn cuối cùng không?

- Có thu xếp giờ học phù hợp với giờ giải trí, hoạt động thể thao không?

- Có buộc phải thực hiện đúng giờ trong kế hoạch không?

- Có kiểm soát được giờ học của mình không?

- Có xác định được thời gian nào làm việc hiệu quả nhất không?

Nếu có nhiều câu trả lời không bạn nên xem xét lại kế hoạch học tập của mình

Các bước lập kế hoạch tự học:

- Liệt kê tất cả các công việc cần tiến hành, căn cứ vào:

+ Kế hoạch giảng dạy

+ Nhiệm vụ học tập được giao

+ Các công tác của lớp, đơn vị, cá nhân

- Xác định quỹ thời gian tự học

Chúng ta có 24 giờ trong một ngày và một tuần có tất cả 7x 24 = 168 giờ Thời

gian dành cho việc học trong một tuần có thể xác định như sau:

Ngủ (8 giờ x 7 ngày)

Ăn (3 giờ x 7 ngày)

Nghe giảng (5 giờ x 7 ngày)

Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted Table Formatted: Centered

Trang 28

168 - Tổng thời gian đã sử dụng

- Xác định khối lượng và yêu cầu cần đạt của mỗi công việc

Thí dụ, trong kế hoạch học tập một ngày, cần học 6 vấn đề Ở vấn đề thứ nhất, ngoài

phần lý thuyết phải học thuộc còn phải làm 4 bài tập Ở vấn đề thứ hai, cần bổ xung thêm

các dữ kiện và tài liệu giáo viên đã hướng dẫn

- Phân biệt thời gian cho từng công việc và khoảng thời gian thực hiện chúng

Thí dụ việc phân phối thời gian cho các hoạt động như sau:

19g00 Đọc lại bài giảng 20 phút

19g20 Làm bài tập 60 phút

20g20 Nghỉ tích cực 10 phút

20g30 Học vấn đề khác 45 phút

- Lập kế hoạch theo thời gian và công việc

Theo công việc

- Kiểm tra tính hợp lí của kế hoạch

+ Công việc thời gian có trùng không?

+ Khả năng thực hiện công việc có trùng không?

Trang 29

+ Lập kế hoạch nên làm từng tờ riêng biệt cho từng tuần

+ Dùng màu thích hợp cho khoảng thời gian cần chú ý

+ Sắp xếp thời gian làm việc hiệu quả nhất ( thời gian mà trí não, tinh thần

minh mẫn và sức khoẻ tốt nhất) đối với công việc phức tạp

Kế hoạch tự học phải có thời gian giải lao 10 phút giải lao sau 50 phút làm

việc Việc giải lao nghỉ tạm thời không chỉ giải phóng sự mệt mỏi căng thẳng mệt mỏi

của cơ thể mà còn tạo điều kiện cho trí não tiếp tục quan tâm đến vấn đề cần giải quyết,

bởi tiềm thức vẫn tiếp tục xem xét vấn đề đang giải quyết, bởi tiềm thức vẫn tiếp tục

xem xét vấn đề ngay khi bạn đang không làm việc

1.6.2.4 Thực hiện kế hoạch tự học

Xây dựng kế hoạch tự học nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, do vậy người

học cần kiên trì, quyết tâm với sự nỗ lực rất lớn để thực hiện đúng kế hoạch Muốn

- Tiết kiệm thời gian

- Tự kiểm tra, kết hợp với sự kiểm tra của giáo viên

- Bảo đảm các điều kiện tự học: Không gian học ( góc học tập, tài liệu, sức khoẻ )

1.7 Hướng dẫn học sinh tự học

1.7.1 Cở sở tâm lý học lứa tuổi học sinh THPT: Hoạt động học tập và sự

phát triển trí tuệ của học sinh trung học phổ thông 11

1.7.1.1 Đặc điểm học tập

rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác nhau cơ bản không phải ở

chỗ nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà là ở chỗ hoạt động học tập của thanh niên

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Indent: First line: 0.5"

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Level 2

Formatted: Level 3

Formatted: Font: Not Bold

Trang 30

đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều; đồng thời cũng đòi hỏi,

muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lý luận

Học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em càng ý

thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời Do vậy thái độ có ý thức của

các em đối với học tập ngày càng phát triển

Thái độ của thanh niên học sinh đối với các môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở

các em hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp

Cuối bậc trung học phổ thông các em xác định được cho mình một hứng thú ổn định

với môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này thường liên

quan với việc lựa chọn một nghề nhất định của học sinh Hơn nữa, hứng thú nhận thức

của thanh niên học sinh mang tính rộng rãi, sâu và bền vững hơn thiếu niên

Xây dựng kế hoạch tự học nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, do vậy người

trúc khác với tuổi trước Lúc này có ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn ( ý nghĩa thực

tiễn của môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu môn học của các em), động cơ

nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác

Nhưng thái độ học tập ở không ít em có nhược điểm là, một mặt các em rất tích

cực học một số môn mà em cho là quan trọng đối với nghề mình đã lựa chọn, mặt khác

các em lại sao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được điểm trung bình

Giáo viên cần làm cho các em học sinh đó hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo

dục phổ thông đối với mỗi giáo dục chuyên ngành

Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các qúa tình nhận

thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên học sinh trong hoạt động học tập

1.7.1 2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Ở thanh niên mới lớn, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình

nhận thức

- Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có hệ

thống và toàn vẹn hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu

thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Tuy vậy, quan sát của thanh

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: Not Bold

Trang 31

niên học sinh cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của giáo viên Giáo viên cần

quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng

kết luận khi chưa tích luỹ đầy đủ các sự kiện

- Ở tuổi thanh niên học sinh, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động

trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logíc trìu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt

( các em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ: tóm tắt ý chính, so sánh đối

chiếu ) Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ Các em biết tài liệu

nào cần nhớ từng câu từng chữ, cái gì cần hiểu mà không cần nhớ Nhưng cũng có em còn

ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có khi các em đánh giá thấp việc ôn tập tài liệu

- Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển; do sự phát triển

của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt

động tư duy của thanh niên học sinh có thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư

duy lý luận, tư duy trìu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen

biết đã được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ nhất quán hơn

Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện

cho học sinh lớn thực hiện các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ

bản của khái niệm trìu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và

trong xã hội Đó là cơ sơ để hình thành thế giới quan

Tuy vậy hiện nay số học sinh trung học phổ thông đạt tới mức độ tư duy đặc trưng

của lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng

lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Việc giúp các

em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên

Tóm lại , ở tuổi thanh niên mới lớn những đặc điểm chung của con người về mặt

trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng vẫn còn tiếp tục hoàn thiện

1.7 2 Hình thức hướng dẫn học sinh tự học

Khái niệm hoạt động tự học là rất rộng, nó có thể diễn ra với người học có giáo

Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Level 3, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Trang 32

viên trực tiếp giảng dạy hoặc có sự điều khiển gián tiếp của giáo viên thậm chí không

có giáo viên hướng dẫn

- Tự học có hướng dẫn

Là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới

sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

Có hai mức độ:

- Người học có sách giáo khoa và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn

nghĩa là vẫn có các quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò dưới dạng phản ánh thắc

mắc làm bài, chấm bài

- Người học có sách giáo khoa và có thầy giáp mặt một số tiết học, tuần học,

tháng học, bằng những hình thức thông tin trực tiếp Đây chính là nội dung nghiên

cứu của luận văn

- Tự học hoàn toàn ( học với sách, không có thầy bên cạnh )

Là hình thức tự học, tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng

thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Người học tự phải biết lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan

trọng trong các tài liệu đã học, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết,

biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết

cách làm việc trong thư viện

Nhưng sách cũng do một ông thầy nào đó viết ra Học với sách tức là học với ông

thầy là tác giả của sách Nhưng người học cũng cần phải động não mới biết rằng mình

đang đọc sách gì, sách nào cần phải đọc, nếu cần thì cần phải tìm loại sách đó ở đâu,

làm sao mà tìm được Tìm được sách rồi phải lựa chọn những chương nào, trang nào

trong đó để đọc Trong lúc đọc lại thấy cần phải đọc thêm một sách khác nữa Biết tìm

sách mà đọc, biết độc lập làm việc với sách chính là biết “ hỏi sách ” Cần phải biết học

cách “hỏi sách ”vì đó là điều kiện không thể thiếu để tự học hoàn toàn, tự học suốt đời

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Trang 33

Đây là một hoạt động đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trìcao mới

đạt được kết quả Do đó, tự học rất gắn bó với quá trình tự giáo dục để có được

những nét tính cách trên

Vì vậy, phải học một cách hệ thống với thầy, rồi với sách và ngày nay cách học

đó phải dẫn tới việc thông minh sáng tạo, học một biết mười vì khi nắm chắc các kiến

thức cơ bản, có hệ thống rồi nhờ năng lực tự học sẽ tìm được nhiều kiến thức mới

Nếu chia theo việc sử dụng các nguồn tài liệu thì cũng có hai hình thức tự học:

- Tự học theo quan điểm truyền thống: người học làm việc với sách, giấy bút,

Khi có vấn đề thắc mắc cần hỏi thì tìm các chuyên gia

- Tự học hiện đại: qua phương tiện truyền thông, ứng dụng công nghệ hiện đại:

đọc sách điện tử, tra cứu tài liệu trên các trang web, Internet

1.7 3 Hướng dẫn học sinh tự học

* Yêu cầu: Xây dựng một chương trình tự học có sự hướng của giáo viên bám sát

mục tiêu kiến thức của bộ giáo dục, đảm bảo thời gian, không xáo trộn chương trình

* Quy trình hướng dẫn học sinh tự học:

- Giáo viên nghiên cứu nội dung kiến thức khoa học của chương

- Xây dựng sơ đồ cấu trúc nội dung của chương, sơ đồ phát triển mạch kiến thức

của chương

- Xác định mục tiêu dạy học cả kiến thức, kỹ năng và cấp độ nhận thức

- Xây dựng kế hoạch và tài liệu hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và ở trên lớp

1 Kế hoạch

Đối với từng bài học cụ thể, chúng ta căn cứ vào mục tiêu kiến thức cần đạt được

của bài mà đề ra kế hoạch

Nội dung kiến thức Câu số Dự kiến thời gian học

sinh trả lời câu hỏi

Mục đích sử dụng câu hỏi đưa

ra trong học tập

Formatted: English (United States)

Formatted: Left, Level 2, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted Table

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Trang 34

Nội dung 1

Nội dung 2

Nội dung 3

2 Tài liệu hướng dẫn

Đây chính là các phiếu học tập và phiếu hướng dẫn học sinh tự học Trên phiếu

học tập đó là các câu hỏi định hướng học sinh hành động để tự tìm ra kiến thức của bài

học Các câu hỏi đưa ra sắp xếp theo nội dung kiến thức trong bảng kế hoạch lập ra,

đáp ứng được đúng mục tiêu đặt ra ở cột mục đích sử dụng

1.8 Thực tiễn về hoạt động tự học vật lí của học sinh và việc hướng dẫn học

sinh tự học của giáo viên ở một số trường trung học phổ thông

1.8.1 Mục đích của việc điều tra

Để có cơ sở thực tế cho việc thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu thực tế dạy và

học ở một số trường trung học phổ thông trong tỉnh Bắc Ninh Nhất là công việc giáo

viên hướng dẫn học sinh tự học trong quá trình xây dựng kiến thức mới và sau mỗi giờ

học Sơ bộ đề xuất nguyên nhân của những khó khăn, thiếu sót trên để làm cơ sở soạn

thảo tài liệu hướng dẫn học sinh tự học trên lớp cũng như ở nhà khi dạy học chương

“Động học chất điểm”

1.8.2 Phương pháp điều tra

Thông qua việc điều tra giáo viên, học sinh bằng cách dùng các phiếu điều tra ở

một số trường THPT Thuận Thành Số 1, THPT Thuận Thành Số 2, THPT Thuận

Thành Số 3, THPT Gia Bình Số 2, phỏng vấn trực tiếp, dự giờ, xem bài kiểm tra, vở

học bài ( vở ghi chép, vở bài tập) quan sát học sinh học tập trong giờ chúng tôi đã thu

được một số kết quả phục vụ việc nghiên cứu đề tài

1.8.3 Kết quả của việc điều tra

a Về tình hình dạy của giáo viên

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Level 2, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Level 3, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Font: Italic Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Level 3, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Level 3, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Trang 35

Phương pháp dạy học chủ yếu là thầy giảng trò nghe và ghi chép, giáo viên giảng

dạy theo từng bài, đúng theo phân phối chương trình do nhà trường duyệt sau khi đã

được tổ bộ môn phân phối lại dựa vào phân phối chương trình chuẩn của bộ giáo dục

ban hành cho phù hợp với điều kiện và tình hình chung của nhà trường và địa phương

Trong mỗi tiết học giáo viên cố gắng trình bày tất cả các kiến thức trong sách giáo

khoa, giảng giải cho học sinh hiểu sau đó nhấn mạnh công thức, chỉ ra những phần cần

ghi nhớ (học thuộc) theo hình thức thông báo, nhắc nhở Tuy nhiên, cũng có một số

giáo viên trong một số giờ dạy đã phát huy được tính tích cực của học sinh bằng cách

tổ chức hoạt động nhóm, cho học sinh thiết kế thí nghiệm, nêu các câu hỏi cho học sinh

trả lời và việc này được thể hiện rõ nét nhất trong những tiết dự giờ thao giảng Và có

một thực tế là không nhiều giáo viên thực hiện tốt việc cho học sinh tiếp cận tri thức

được học theo tiến trình khoa học xây dựng kiến thức mới, câu hỏi đưa ra chưa có sự

đầu tư, chỉ đòi hỏi học sinh sủ dụng tài liệu thông thường để trả lời, chưa có tác dụng

phát huy tính tích cực ở học sinh Các hình thức dạy học tích cực chưa được giáo viên

hiểu và vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo như tổ chức hoạt động nhóm, dạy học

dự án, dạy học theo chủ đề

Việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học diễn ra thường xuyên hơn trong mỗi tiết

học và khai thác có tính hiệu quả hơn về mặt tổ chức nhận thức cho học sinh so với

trước đây Nhìn chung các giờ đã có thí nghiệm để tiến hành, nhưng chủ yếu là làm thí

nghiệm biểu diễn của giáo viên, việc tổ chức cho các nhóm học sinh làm thí nghiệmm

chỉ diễn ra vào các giờ thực hành

Giáo viên thường cho học sinh vận dụng kiến thức vào các bài tập trìu tượng, rất

ít bài tập mang tính thực tế, đặc biệt là bài tập thi nghiệm không có Trong đó giáo viên

cố gắng cho học sinh làm quen các dạng bài tập để học sinh có thể làm được các bài

tập tương tự

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Justified, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt, Tab stops: 0.77", Left + Not at 0.38"

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Trang 36

Việc kiểm tra đánh giá chỉ xuất hiện từ phía giáo viên thông qua các bài trắc

nghiệm

, tự luận, kiểm tra miệng ( kiểm tra bài cũ), tức là mới chú trọng đến đánh giá kết quả

học tập, chưa chú ý đánh giá quá trình, mới chỉ có giáo viên đánh giá chưa có học sinh

tham gia tự đánh giá và đánh giá học sinh khác

Việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học tuy đã có những bước tiến lớn và

có những thành công nhất định như hầu hết các giáo viên đều có tổ chức dạy một số

tiết giáo án điện tử song việc làm này chưa thực sự khai thác được mặt tích cực, ưu

điểm của phương tiện dạy học hiện đại trong quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh,

một số giáo viên sử dụng máy tính chưa thành thạo, và còn nhiều hạn chế

Khi hỏi các thầy cô giáo về vấn đề tự học thì đa số các thầy cô quan niệm rằng:

việc tự học của học sinh là đọc sách giáo khoa cả bài cũ và bài mới (80%), xem thêm

tài liệu tham khảo (34,6%), học thuộc bài vừa học (42,3%) Vì vậy để hướng dẫn học

sinh tự học thì các thầy cô cho rằng: học thuộc lòng bài vừa học, làm đủ bài tập được

giao, đọc trước bài mới và đọc thêm các tài liệu sách bao liên qua, khai thác thông tin

trên Internet Để đánh giá khả năng tự học của học sinh thì các giáo viên cho rằng: Đặt

câu hỏi mở rộng liên quan đến bài học và kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập đã giao Để

thúc đẩy học sinh tự học thì các giáo viên cho rằng cần tăng cường cho học sinh thảo

luận (57,7%), cho đề kiểm tra có phần mở rộng , tăng cường cho bài tập và kiểm tra

thường xuyên Biện pháp tổ chức hoạt động tự học ở nhà cho học sinh chủ yếu là:

hướng dẫn học sinh tự tóm tắt kiến thức, cách giải bài tập, tổ chức học sinh thảo luận

các vấn đề tự đọc, tự nghiên cứu Biện pháp tổ chức hoạt động tự học trên lớp cho học

sinh thường là: thông báo kế hoạch bài học, thông báo đề cương ý nghĩa bài học nhưng

chủ yếu là tổ chức dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh,

dạy học theo nhóm Để học sinh tự học tốt thì các thầy cô cho rằng: cần đổi mới cách

Formatted: Left, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Trang 37

thi cử (84,6%), tạo điều kiện cho học sinh có điều kiện tự học ở nhà (57,7%), giáo viên

phải hướng dẫn học sinh cách học (42,3%)

b Về tình hình học của học sinh

- Đa số học sinh nhận thức được mục đích học tập là để có kiến thức, để thi đỗ đại

học tạo điều kiện để tìm được việc làm sau này Vì vậy học sinh đi học thêm rất nhiều,

dẫn đến thời gian tự học của học sinh ở nhà rất ít thường chỉ từ 2 đến 4 giờ mỗi ngày

- Về quan niệm của học sinh đối với công tác tự học trong quá trình học tập và rèn

luyện ở nhà trường: đa số các ý kiến cho rằng tự học là chỉ học thuộc bài vừa học, làm

các bài tập mà giáo viên yêu cầu, một số ít thì đọc trước bài mới ở nhà Tài liệu tự học

chủ yếu của các em là vở ghi bài giảng, sách giáo khoa, sách bài tập; rất ít học sinh

khai thác thông tin trên Internet, đọc sách báo , tài liệu liên quan đến bài học Về kiến

thức thu được từ việc tự học thì các em cho rằng nó tương đương với kiến thức thu được trên

lớp và ảnh hưởng đến 50% kết quả học tập Đa số học sinh cho rằng việc tự học là bình

thường, một số thích và rất thích tự học, số còn lại cho rằng tự học là bị bắt buộc

- Về điều kiên tự học của học sinh: đa số các em cho rằng bố mẹ tạo điều kiện tốt

cho các em học tập: về mặt thời gian học, sách vở tài liệu liên quan đầy đủ

- Về phương pháp tự học của học sinh: Đa số học sinh cho rằng cách tự học tốt

nhất là vừa đọc vừa viết, làm bài tập một số chọn đọc sách Khi đọc sách các em

thường gặp kó khăn mất nhiều thời gian và khó hiểu Hình thức tự học mà các em thích

nhất là học một mình hoặc học với bạn thân Khi gặp vấn đề khó khăn thì 70% học sinh

hỏi bạn bè, 30% thì hỏi thầy cô, 30% thì tự tìm cách giải quyết, số ít học sinh bỏ qua

Đánh giá tác động của giáo viên đối với việc tự học của học sinh thì đa số các em cho

rằng: Giáo viên chỉ giao các bài tập và kiểm tra thường xuyên các em, khi gặp các vấn

đề khó thì các em được các thầy cô trả lời cặn kẽ cho tới khi hiểu, nhìn chung các giáo

viên đã có hướng dẫn học sinh tự học Nhiều học sinh cho rằng còn lúng túng trong

việc xác định phương pháp tự học hiệu quả Trong khi đó , một số giáo viên chưa chú

Formatted: Justified, Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Trang 38

trọng nhiều đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học trong quá trình dạy học

như giới thiệu, cung cấp tài liệu tham khảo, hướng dẫn học sinh cách đọc tài liệu, cách

thu thập và xử lý thông tin

Có ý kiến cho rằng phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa tốt đã gây

ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn học của học sinh Theo đó phương pháp giảng

dạy của thầy chủ yếu là thuyết trình, ít dành thời gian tổ chức cho học sinh thảo luận

nên không tạo điều kiện để học sinh rèn luyện khả năng diễn đạt cũng như được thể

hiện hiểu biết của mình thông qua tự học, tự nghiên cứu

Khi hỏi về cách kiểm tra đánh giá hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng chưa khuyến

khích, thúc đẩy cũng như yêu cầu học sinh tự học nhiều

Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều học sinh chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của tự

học, chưa có quan niệm đúng đắn về trách nhiệm của bản thân mình với gia đình và xã

hội nên còn mải vui chơi, chơi game, điện tử, đua đòi nên thiếu thời gian và sức lực

dành cho việc tự học

Formatted: Left, Level 1, Indent: First line: 0", Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Font: 5 pt Formatted: Level 1, Indent: First line: 0", Line spacing: At least 24 pt

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở phân tích các quan điểm dạy học hiện đại và nghiên cứu các cơ sở lý

luận về tự học Trong chương này chúng tôi đặc biệt quan tâm đến một số luận điểm lí

luận như sau:

 Quan niệm hiện đại về dạy học

Đồng thời trong chương này chúng tôi cũng trình bày thực tiễn của hoạt động tự học

và hướng dẫn học sinh tự học ở một số trường trung học phổ thông trong tỉnh Bắc Ninh

Tất cả những cơ sơ lý luận và thực tiễn trên sẽ giúp chúng tôi vận dụng để nghiên

cứu:“ Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương “Động học chất điểm ” (SGK

vật lý 10 nâng cao) ” được trình bày ở chương sau

Formatted: Font: 4 pt Formatted: Left, Level 1, Indent: First line: 0", Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Line spacing: At least 24 pt

Formatted: Condensed by 0.4 pt

Trang 40

CHƯƠNG 2

SOẠN THẢO TÀI LIỆU VÀ TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC

SINH TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG

“ ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM ” VẬT LÍ 10 NÂNG CAO

2.1.Đặc điểm cấu trúc nội dung chương “Động học chất điểm” ở lớp 10 THPT

2.1.1.Vị trí chương “Động học chất điểm” trong chương trình vật lí phổ thông

Chương “Động học chất điểm” là chương đầu tiên nằm trong phần cơ

học của sách Vật lí 10 THPT nâng cao Những kiến thức về “ Động học chất điểm”

đã được đề cập sơ bộ ở chương trình Vật lí 8 THPT Ở lớp 10 các kiến thức về động

học chất điểm được mở rộng Chương “ Động học chất điểm” nghiên cứu chuyển

động của chất điểm, mà chưa xét đến nguyên nhân gây ra chuyển động đó, nghĩa là

chưa xét đến khối lượng của nó và các lực tác dụng lên nó Ở chương này người ta

khảo sát các dạng chuyển động của chất điểm, hoặc vật rắn chuyển động tịnh tiến

Đặc biệt chú ý đến: Chuyển động thẳng đều, chuyển động thẳng biến đổi đều và

chuyển động tròn đều

Việc có được các khái niệm về các đại lượng đặc trưng của chuyển động, cách

tìm quy luật chuyển động của một số loại chuyển động sẽ giúp học sinh chuẩn bị

lĩnh hội các tri thức sau đó trong phần Cơ học của Vật lí lớp 12

Formatted: Level 1, Right: -0.13"

Formatted: Font: 2 pt Formatted: Level 2, Indent: First line: 0.5" Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Condensed by 0.4 pt Formatted: Indent: First line: 0.5" Formatted: Expanded by 0.2 pt

Formatted: Level 3, Indent: First line: 0.5", Line spacing: single

Ngày đăng: 05/11/2016, 22:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Động học chất điểm”. - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Động học chất điểm” (Trang 41)
Bảng kế hoạch - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Bảng k ế hoạch (Trang 68)
6. Đồ thị thị - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
6. Đồ thị thị (Trang 82)
Bảng kế hoạch - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Bảng k ế hoạch (Trang 92)
Đồ thị tọa độ - thời gian của - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
th ị tọa độ - thời gian của (Trang 93)
Câu 2. Dựa trên (hình2.13) đồ thị vận tốc của chuyển động - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
u 2. Dựa trên (hình2.13) đồ thị vận tốc của chuyển động (Trang 94)
Bảng kết quả - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Bảng k ết quả (Trang 123)
Bảng 1: Thông kê điểm - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Bảng 1 Thông kê điểm (Trang 130)
Bảng 2: Xử lí kết quả để tính các tham số - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Bảng 2 Xử lí kết quả để tính các tham số (Trang 131)
Hình 1: Đồ thị đường phân bố tần suất - Hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học chương Động học chất điểm (SGK Vật lí 10 nâng cao)
Hình 1 Đồ thị đường phân bố tần suất (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w