Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại một số khu tái định cư tập trung ở Sơn La Ngô Văn Giới Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận án Tiến sĩ ngành: Mô
Trang 1Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại một số khu tái định
cư tập trung ở Sơn La
Ngô Văn Giới
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận án Tiến sĩ ngành: Môi trường đất và nước; Mã số: 62 85 02 05
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Xuân Cự, PGS.TS Lương Thị Hồng Vân
Năm bảo vệ: 2013
Abstract: Xây dựng bộ chỉ thị lượng hóa tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp ở
các khu TĐC ở Sơn La Áp dụng bộ chỉ thị để đánh giá tính bền vững trong việc sử dụng đất nông nghiệp một số khu TĐC tập trung ở Sơn La Đề xuất các giải pháp để tăng tính bền vững sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu Góp phần xây dựng các cơ sở khoa học cho việc xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nói riêng và
cho môi trường nói chung ở nước ta
Keywords: Đất nông nghiệp; Bộ chỉ thị; Sơn La; Phát triển bền vững
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay công tác di dân tái định cư (TĐC) là khá phổ biến để phục vụ cho các
dự án phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là các công trình thủy điện Thực tế cho thấy nhiều khu TĐC đã không đáp ứng được các nhu cầu của người dân, đời sống của cộng đồng không ổn định Việc thiết lập nhiều khu TĐC tất yếu sẽ gây sức ép tới môi trường sống của cộng đồng, đặc biệt là môi trường đất Sơn La là một tỉnh miền núi, nơi tập trung đa số đồng bào dân tộc thiểu số, hiện tại có số lượng người phải di dân TĐC trong là rất lớn Vấn đề nổi cộm và phổ biến nhất là sử dụng tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất nói riêng [37] Quá trình thoái hóa đất diễn ra nhanh chóng do sức ép và vấn đề sử dụng không hợp lý Việc đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp cho một số khu TĐC ở Sơn La để chỉ ra được những tồn tại trong khai thác và sử dụng đất, những yếu tố đang làm suy thoái tài nguyên đất và gây mất ổn định cho cuộc sống của cộng đồng TĐC ở Sơn La Từ đó tìm ra những yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định đến sự PTBV nói chung và vấn đề sử dụng đất nói riêng, đặc biệt là ở những vùng đất dốc ở nước ta
Nghiên cứu định lượng sự bền vững của môi trường đất trong sử dụng nông nghiệp là rất cần thiết Trên thế giới chỉ thị đánh giá đất đã được các tổ chức FAO, USDA, NRCS, WB, UNEP, UNDP và một số tác giả quan tâm từ rất sớm Các kết quả nghiên cứu đã rất có ý nghĩa trong việc quản lý và sử dụng đất, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ mới đề cập đến những vấn đề chung trong đánh giá đất áp dụng cho tất cả các loại đất và các quốc gia và mới chỉ dừng lại ở việc lựa chọn ra các chỉ thị đánh giá chất lượng đất hay đánh giá hệ thống canh tác bền vững Hơn thế nữa, một hệ thống canh tác bền vững phải dựa trên cơ sở một hệ thống
sử dụng đất dốc bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu và phát triển các chỉ thị đánh giá đất được xem là có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trang 2Phát triển bền vững (PTBV) là vấn đề đang được thế giới quan tâm Đặc biệt là từ sau Hội nghị Môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro (Rio 92) Ở Việt Nam, vấn đề PTBV cũng đã được quan tâm từ những năm 1980 Tuy nhiên, các chỉ thị này mới dừng lại ở các mục tiêu và tiêu chí chung để tiến tới bền vững ở quy mô quốc gia Các chỉ thị này không lượng hoá chi tiết mức bền vững cho từng cộng đồng hoặc địa phương cụ thể được
Với những lý do trên đề tài ”Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông
nghiệp tại một số khu TĐC tập trung ở Sơn La” được thực hiện nhằm góp phần hạn chế các
tiêu cực, bảo vệ tài nguyên cho sự PTBV các vùng TĐC ở Sơn La nói riêng và trong cả nước
- Đề xuất các giải pháp để tăng tính bền vững sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đóng góp vào lý luận và thực tiễn xây dựng bộ chỉ thị đánh giá chất lượng đất ở nước ta nói chung và ở các vùng nông thôn miền núi nói riêng
- Lần đầu tiên xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp ở nước
ta và áp dụng để đánh giá cho các khu TĐC tại Sơn La
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở tỉnh Sơn La
Kết quả nghiên cứu tông hợp tài liệu cho thấy Sơn La có địa hình rất phức tạp, bị chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, đất canh tác thường nhỏ hẹp Sơn La nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có tính chất lục địa, chịu ảnh hưởng của địa hình Đất Sơn La được đánh giá ở mức khá tốt, tầng đất dày, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất khá, phù hợp với nhiều loại cây trồng Tiềm năng đất đai trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn khá lớn
Huyện Mường La đất gồm 3 nhóm chính là Đất Feralit, Đất phù sa sông suối và Đất dốc
tụ Hầu hết các loại đất trên địa bàn huyện có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành phần
cơ giới từ trung bình đến nặng Các chất dinh dưỡng trong đất có hàm lượng thấp Đa phần đất đai nằm trên độ dốc lớn, độ che phủ thấp nên nguy cơ rửa trôi, xói mòn rất lớn
Huyện Mai Sơn có 3 nhóm đất chính là nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất tích vôi, nhóm đất đỏ
vàng biến đổi do trồng lúa Phần lớn đất có độ dốc lớn, có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá Thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá, độ chua không cao, nghèo bazơ trao đổi…
Huyện Mộc Châu có 4 nhóm đất chính là nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất đen, nhóm đất đỏ
vàng biến đổi do trồng lúa, nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi Hầu hết các loại đất ở Mộc Châu có
độ dày tầng đất khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ mùn và các chất dinh dưỡng
từ trung bình đến khá, ít chua, nghèo bazơ trao đổi và các chất dễ tiêu Nhìn chung đất tại Mộc
Châu thuận lợi để hình thành vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, tập trung với cơ cấu đa dạng
1.2 Công tác di dân TĐC ở Việt Nam
Trong phần này tác giả trình bày tổng quan về Đặc điểm chung về TĐC ở Việt Nam trong những năm vừa qua và một số bài học kinh nghiệm về công tác di dân TĐC; Một số khái niệm thường gặp trong công tác TĐC đã được làm rõ; Đã thống kế các văn bản pháp luật và chính sách liên quan đến di dân TĐC của Việt Nam, kết quả tổng quan về công tác TĐC ở Việt Nam cho thấy: Vấn đề TĐC đã được Đảng và nhà nước rất quan tâm Mặc dù vậy, tại nhiều nơi cộng đồng TĐC còn gặp nhiều khó khăn Các chính sách về di dân TĐC đã được thay đồi theo từng thời kỳ và đã có sự điều chính cho phù hợp với từng giai đoạn của lịch sử
và sự phát triển của kinh tế xã hội
1.3 Quản lý chất lượng tài nguyên đất cho nền nông nghiệp bền vững
Trong phần này luận án đã làm rõ các khái niệm và các thuộc tính cơ bản của chất lượng đất; Các nghiên cứu về chất lượng đất và chỉ thị chất lượng đất; Các vấn đề về tính bền vững của nền nông nghiệp; Các vấn đề về quản lý tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp bền vững thông qua các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Trong đó, có các tác giả và tổ chức điển hình như: Ludwig 1995; FAO 1994, 1997; Nasir 1999; Hatem 1990; Jodha 1990; Dumanski 2000; B Mollison, Remy Mia Slay 1999; Benites, Tschirley 1997; Dumanski, Pieri 1997; Benites, Shaxson và Vieira 1997,
1.4 Chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam
Trong phần này tác giả đã làm rõ các khái niệm và chức năng của các chỉ thị trong nghiên cứu môi trường, đã tổng hợp các nghiên cứu xây dựng chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất trên thế giới và tại Việt nam; Các nghiên cứu về chỉ thị đánh giá suy thoái đất với năng suất cây trồng; Các Nghiên cứu xây dựng chỉ thị đánh giá chất lượng đất và tính bền vững sử dụng đất tại Việt Nam Các nghiên cứu này đã chỉ ra được các chỉ thị cần thiết để đánh giá đất và mối quan hệ của chúng với các chức năng của đất hay lý do lựa chọn
và cách xác định chúng Nhìn chung, các nghiên cứu về chỉ thị đánh giá đất của các tác giả trong và ngoài nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng
và hoàn thiện các chỉ thị đánh giá đất cho từng quốc gia và từng vùng riêng lẻ Tuy nhiên, các
bộ chỉ thị đưa ra chủ yếu là mang tính định hướng cho các nghiên cứu cụ thể áp dụng cho
Trang 4từng vùng Do vậy, cần thiết phải có các nghiên cứu xây dựng các bộ chỉ thị đánh giá chất lượng đất và chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp cho từng điều kiện cụ thể
1.5 Chất lượng đất và những yếu tố gây suy thoái đất ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Trong phần này tác giả đã trình bày khái quát về chất lượng đất vùng núi phía Bắc Việt Nam; Những yếu tố gây suy thoái đất ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới tập trung vào việc xây dựng bộ dữ liệu tối thiểu để đánh giá chất lượng đất chung và cho mỗi vùng cụ thể Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã từng bước xây dựng các tiêu chí, yêu cầu và các cách tiếp cận khác nhau để đánh giá tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp Tại Việt Nam, nghiên cứu chỉ thị đánh giá chất lượng đất và đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp hiện tại vẫn chưa được giải quyết một cách đầy đủ Các nghiên cứu thường tập trung vào đánh giá tính chất đất ở các vùng khác nhau và cho từng loại đất khác nhau Một số nghiên cứu đã bước đầu xây dựng và giới thiệu bộ chỉ thị đánh giá bền vững đất đồi núi nhưng mới dừng lại ở các tiêu chí đánh giá chưa có phương pháp và cách lượng hóa rõ ràng giống như các nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới Đây là một trong những lý do quan trọng để tác giả chọn đề tài nghiên cứu này, để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển các nghiên cứu về chỉ thị đánh giá chất lượng đất, đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp Với mục đích xây dựng được bộ chỉ thị có thể lượng hóa được tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại các khu TĐC ở Sơn La
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 huyện là Mường La, Mai Sơn và Mộc Châu tỉnh Sơn La
Cụ thể là, đất trồng chè (Camellia sinensis) tại 5 điểm TĐC điển hình thuộc khu TĐC Tân
Lập huyện Mộc Châu là: Bản Nà Tân (NT), Bản Nậm Tôm (TT), Bản Hoa II (BH), Bản Dọi
II (BD), Bản Pa Hía (PH); 5 điểm trên đất trồng mía (Saccharum officinarum) tại khu TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn là: Tiểu khu 7 (T7), Tiểu khu 13 (T13), Yên Sơn 1 (YS1), Yên Sơn 2 (YS2) và Tiến Sơn (TS); 3 điểm trên đất trồng ngô (Zea mays) thuộc khu TĐC Mường Bú, huyện Mường La là: Pú Nhuổng (PN), Huổi Hao (HH), Phiêng Bủng (PB); 01 điểm nghiên cứu trên đất rừng tự nhiên tại xã Mường Bú làm mẫu so sánh (ĐC) Tại mỗi điểm TĐC lấy 3 mẫu đất theo hình thức hỗn hợp, ở 3 vị trí là đỉnh đồi, sườn đồi và chân đồi, tương ứng với tổng số mẫu đất lấy là 42 mẫu Mẫu nông sản được lấy tại 9 điểm TĐC (3 điểm/khu) tương ứng với tổng số mẫu lấy là: 27 mẫu
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đặc biệt là vấn đề sử dụng đất ở các khu TĐC nghiên cứu Đánh giá chất lượng đất ở các mô hình canh tác điển hình tại các khu TĐC nghiên cứu
- Bố trí thiết lập các ô quan trắc đồng ruộng để đánh giá biến động chất lượng đất và năng suất cây trồng
- Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp và áp dụng đánh giá tại một số khu TĐC nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng tính bền vững cho môi trường đất ở các khu TĐC nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp như: Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp; Phương pháp nghiên cứu thực địa;Phương pháp bố trí các ô quan trắc đồng ruộng; Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm; Phương pháp xây dựng và kiến tạo chỉ thị (Xác định nguyên tắc lựa chọn chỉ thị, quy trình chung để xây
Trang 5dựng bộ chỉ thị, phương pháp kiến tạo và lượng hóa các chỉ thị gồm việc xác định trọng số, xác định giá giá trị đạt được thực tế của toàn hệ thống (Tổng điểm ASI) và xây dựng thang đánh giá và so sánh); Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng sử dụng và những yếu tố gây suy thoái đất nông nghiệp ở Sơn La
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Sơn La
Các kết quả nghiên cứu cho thấy hiện tại Sơn La đã khai thác và sử dụng vượt quá rất nhiều so với tiềm năng đất cho mục đích sản xuất nông (178,83%) Trong khi đó, đất thích hợp sử dụng cho mục đích lâm nghiệp mới khai thác và sử dụng được 58,66% diện tích Hiện tại, đất sản xuất nông nghiệp của Sơn La chiếm 30,09% tổng diện tích đất nông nghiệp Đáng chú ý là diện tích đất sử dụng trồng cây hàng năm chiếm 68,47% diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhưng chủ yếu là là ngô (61,68%), đây là một trong những nguy cơ gây xói mòn rửa trôi, suy thoái đất nông nghiệp tại Sơn La nếu không có kỹ thuật canh tác hợp lý Mặt khác, quá trình làm đất và sau thu hoạch là thời điểm rất dễ xảy ra xói mòn mạnh khi có mưa lớn
Mặc dù vậy, do đặc trưng về địa hình nên ngô vẫn là cây lương thực chủ đạo tại Sơn La 3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Mường La, Mai Sơn và Mộc Châu
3.1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại Mường La
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Mường La là 142.205
ha Nhóm đất nông nghiệp chiếm 68,39% tổng diện tích đất tự nhiên và 96,59% diện tích đất đang sử dụng Trên diện tích đất nương rẫy chủ yếu được sử dụng để trồng ngô, sắn trên đất dốc Nhìn chung, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện đạt thấp, hệ số sử dụng đất toàn huyện bình quân đạt 1,4 lần Trong những năm gần đây đa số diện tích nương trên đất dốc đều chuyển sang trồng ngô, hình thức canh tác chủ yếu là quảng canh mà không có biện pháp bảo vệ bồi bổ đất dẫn đến tình trạng đất nhanh bị xói mòn, rửa trôi, làm suy giảm chất lượng đất
3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Mai Sơn
Huyện Mai Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 142.821 ha Diện tích đất đang khai thác
sử dụng vào các mục đích chiếm 67,31% diện tích tự nhiên trong đó: nhóm đất nông nghiệp chiếm 63,84% so diện tích tự nhiên Đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ cao nhất (90,23% với 32.128,98 ha) Đất trồng cây lâu năm chiếm 9,77% đất sản xuất nông nghiệp, điều này là chưa phù hợp với huyện miền núi như Mai Sơn có lợi thế về phát triển cây lâu năm Hiệu quả
sử dụng đất canh tác còn thấp, hệ số quay vòng sử dụng đất mới đạt 1,7 lần
3.1.2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Mộc châu
Mộc Châu với tổng diện tích đất tự nhiên là 202.513,0 ha chiếm 14,40% tổng diện tích đất
tự nhiên toàn tỉnh, diện tích tự nhiên của các xã, thị trấn không đồng đều Trong đó nhóm đất nông nghiệp chiếm 66,87% tổng diện tích đất tự nhiên và 95,22% diện tích đất đang sử dụng, gồm: Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 26,69% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ cao nhất 79,6%, đất trồng cây lâu năm chiếm 12,6%, các loại đất nông nghiệp còn lại chiếm 7,8% Hiện tại, huyện đang có chủ trương giảm dần diện tích sản xuất lương thực trên đất dốc, nhưng kết quả đạt được vẫn thấp Hiệu quả sử dụng đất của huyện đạt bình quân 1,4 lần và không đều giữa các vùng
3.1.3 Những yếu tố gây suy thoái đất nông nghiệp ở Sơn La
Kết quả nghiên cứu chỉ ra những yếu tố gây suy thoái đất nông nghiệp chủ yếu ở Sơn La là: Các yếu tố về điều kiện tự nhiên; Độ che phủ rừng; Các vấn đề kinh tế, xã hội; Sức ép từ nhiệm vụ di dân, TĐC
3.2 Thực trạng một số khu TĐC nghiên cứu
Trang 6Kết quả nghiên cứu và phân tích hiện trạng một số khu TĐC tại Sơn La cho thấy, với các khu TĐC có thời gian định cư lâu hơn người dân TĐC có cuộc sống ổn định hơn Các khu mới được TĐC từ công trình thủy điện Sơn La hiện tại cộng đồng còn gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt là diện tích đất sản xuất ít hơn nhiều lần, chất lượng đất cũng xấu hơn so với nơi ở
cũ, thiếu nước dùng cho sinh hoạt và canh tác Các chính sách hỗ trợ của nhà nước cho cộng đồng hiệu quả còn chưa cao, nhiều dự án đã thất bại gây mất lòng tin và bất ổn trong cộng đồng (khu TĐC Tân Lập) Việc sử dụng đất nông nghiệp trong những năm đầu TĐC thường mang tính tự phát nên hiệu quả sản xuất không cao, và đã gây suy thoái đất cục bộ tại một số điểm TĐC Tại một số khu TĐC việc sử quy hoạch sử dụng đất chưa được nghiên cứu kỹ đã gây ra những hậu quả nghiên trọng với tài nguyên đất nông nghiệp, gây lãng phí tiền của của nhân dân, làm chậm tiến trình phát triển bền vững và ổn định cho cộng đồng TĐC và ảnh hưởng tới tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp tại đây
3.3 Chất lƣợng đất tại các khu TĐC nghiên cứu
3.3.1 Chất lượng đất tại khu TĐC Mường Bú huyện Mường La
Phần lớn đất nông nghiệp tại Khu TĐC Mường Bú được bố trí tại những nơi có độ dốc
>250, phần đất có độ dốc thấp hơn được bố trí làm đất ở cho cộng đồng Kết quả nghiên cứu đánh giá tính chất đất tại khu TĐC Mường Bú huyện Mường La qua 3 năm nghiên cứu cho thấy lượng đất xói mòn tại khu TĐC Mường Bú tương đối lớn, hàm lượng các chất dinh dưỡng và chất hữu cơ trong đất tại đây dao động ở mức nghèo tới trung bình Mặt khác, những khu đất được chọn hầu hết là những vùng đất đã bị thoái hóa bạc mầu, khó canh tác hoặc canh tác cho năng suất không cao mà cộng đồng bản địa đã bỏ hoang Sau 3 năm canh tác chất lượng đất đã có dấu hiệu suy giảm rõ rệt đặc biệt là hàm lượng các chất dinh dưỡng
dễ tiêu và OM (giảm từ 40-60%) Hàm lượng các chất tổng số cũng có sự biến động, nhưng ở
mức thấp
3.3.2 Chất lượng đất tại khu TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn
Kết quả nghiên cứu tính chất đất tại khu TĐC Hát Lót huyện Mai Sơn cho thấy, lượng đất xói mòn thấp, hàm lượng các chất dinh dưỡng ở mức trung bình Có sự khác biệt lớn giữa các giá trị tại các điểm quan trắc khác nhau, đặc biệt là với các chất dinh dưỡng ở dạng dễ tiêu Sự biến động các chất dinh dưỡng tại khu TĐC Hát Lót sau 3 năm canh tác là chưa rõ rệt, hầu hết các thông số quan trắc đều cho thấy chất lượng đất vẫn được duy trì ở mức ban đầu mặc dù có
sự suy giảm nhưng ở mức thấp Đây là kết quả phản ánh phương thức canh tác tương đối hợp
lý của người dân tại đây
3.3.3 Chất lượng đất tại khu TĐC Tân Lập huyện Mộc Châu
Đất tại các khu TĐC Mộc Châu có hàm lượng các chất dinh dưỡng đều ở mức trung bình tới giầu, phản ứng đất ở mức chua nhẹ, đất giầu mùn, đây là một trong những lợi thế rất lớn trong phát triển nông nghiệp cho cộng đồng TĐC tại đây Ở hầu hết các thông số đã quan trắc
về các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu trong đất đều cho kết quả cao hơn khu TĐC Hát Lót
và Mường Bú Mặc dù vậy lượng đất mất do xói mòn tại Tân Lập vẫn ở mức đáng kể Mức độ biến động của hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tại khu TĐC Tân Lập không lớn, một
số chất dinh dưỡng có xu hướng biến đổi tích cực
3.3.4 Dư lượng hóa chất BVTV trong đất tại các khu TĐC nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 9 mẫu đất nghiên cứu có 3 mẫu phát hiện có dư lượng hóa chất BVTV là NTa và NTc tại Tân Lập và YS1b tại Hát Lót Các hóa chất đã phát hiện là Padan và Monitor Mặc dù vậy, nồng độ của chúng vẫn nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5941:1995)
3.3.5 Biến động chất lượng đất tại các khu TĐC nghiên cứu với mẫu đối chứng
Qua phân tích biến động của một số chất dinh dưỡng dễ tiêu, pHKCl, OM và CEC trong đất tại các khu TĐC so với mẫu đối chứng lấy tại rừng xã Mường Bú cho thấy: Mẫu đất đối chứng lấy tại rừng Mường Bú ít có sự biến động, và hầu hết là sự biến động theo chiều hướng tích cực; Mẫu đất lấy tại khu TĐC Mường Bú có sự biến động lớn nhất và sự biến đồng đều
Trang 7xẩy ra theo chiều hướng tiêu cực; Các mẫu đất lấy tại khu TĐC Hát Lót và Tân Lập đã có sự biến động, mặc dù không lớn Với mẫu đất tại khu TĐC Hát Lót có xu hướng biến động theo chiều hướng giảm giá trị các chất dinh dưỡng và hữu cơ trong đất Các mẫu đất tại khu TĐC Tân Lập có một số thông số có giá trị biến động giảm và một số biến động tăng Tại đây, các giá trị N, P, K dễ tiêu đều có sự biến động tăng
3.3.6.Chỉ thị sinh học cho chất lượng đất tại các khu TĐC
3.3.6.1 Năng suất cây trồng chỉ thị cho chất lượng đất tại các khu TĐC
a Khu TĐC Mường Bú, huyện Mường La
Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm năng suất ngô tại khu TĐC Mường Bú cho thấy, năng suất ngô trung bình của Mường Bú trong 3 năm canh tác là 1,22 tấn/ha/năm, so với năng suất bình quân của Mường La là thấp hơn khoảng 3 lần (Bình quân trong 5 năm của Mường La là 3,23 tấn/ha) Năng suất có sự biến động theo chiều hướng giảm mạnh sau 3 năm canh tác, trung bình mỗi năm giảm 0,27 tấn/ha Mức biến động giảm trung bình/năm là 17,57% so với trung bình năm 2008 Đây là dấu hiệu cho thấy chất lượng đất tại đây đang có xu hướng giảm dần
b Khu TĐC Hát Lót, huyện Mai Sơn
Kết quả khảo nghiệm đồng ruộng theo dõi năng suất mía tại các điểm TĐC ở khu TĐC Hát Lót cho thấy sau 3 năm canh tác năng suất mía trung bình tại khu TĐC Hát Lót đã tăng 3,84 tấn/ha/năm, tương ứng với mức tăng 6,99% so với năm 2008 Năng suất cao nhất là 66,30 tấn/ha, đạt được tại công thức TSc của bản Tiến Sơn vị trí chân đồi Năng suất thấp nhất
là 50,75 tấn/ha ở công thức YS1a vị trí đỉnh đồi bản Yên Sơn 1 Năng suất mía tại khu TĐC Hát Lót ở mức tương đương với năng suất trung bình của huyện (54,93 tấn/ha) trong 3 năm 2008-2010 Kết quả này đã phần nào thể hiện chất lượng đất tại khu TĐC Hát Lót khá ổn định
sau 3 năm canh tác
c Khu TĐC Tân Lập huyện Mộc Châu
Kết quả khảo nghiệm đồng ruộng theo dõi năng suất chè tại các điểm TĐC ở khu TĐC Tân Lập cho thấy năng suất chè trung bình tại khu TĐC Tân Lập sau 3 năm nghiên cứu đã biến động theo hướng tăng dần, với mức tăng trung bình là 0,29 tấn/ha/năm, tương ứng với 7,55% so với năm 2008 Mặc dù vậy, với năng suất trung bình 3 năm là 4,16 tấn/ha vẫn thấp hơn năng suất bình quân chung 3 năm của huyện Mộc Châu (6,27 tấn/ha) Kết quả này đã thể hiện chất lượng đất tại đây đang có xu hướng biến đổi tích cực
3.3.6.2 Thực vật hoang dại chỉ thị cho chất lượng đất tại các khu TĐC ở Sơn La
Trong thực tế nghiên cứu tại các khu TĐC, ngoài diện tích đất đang được cộng đồng sử dụng thì còn một phần không nhỏ diện tích đất hiện tại vẫn chưa được cộng đồng đưa vào khai thác và sử dụng hoặc đã khai thác sử dụng nhưng hiệu quả thấp nên đã bỏ hoang Để đánh giá chất lượng đất tại các khu vực này tác giả đã lựa chọn chỉ thị là thực vật hoang dại Kết quả xây dựng các chỉ sinh học thị đánh giá chất lượng đất bằng thực vật hoang dại cho thấy, đất tại khu TĐC Mường Bú có chất lượng xấu, ở hầu hết các diện tích đất phân cho cộng đồng TĐC đều có độ phì thấp và có nguy cơ thoái hóa mạnh, chỉ có một phần nhỏ diện tích đất có độ phì trung bình Đất tại các khu TĐC Hát Lót và Tân Lập được đánh giá tương đương về chất lượng thông qua các chỉ thị thực vật hoang dại Cụ thể, phần lớn diện tích đất tại 2 khu TĐC này có độ phì trung bình, ứng với mức thoái hóa nhẹ tới trung bình, còn lại một phần diện tích có độ phì thấp
3.4 Xây dựng bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại một số khu TĐC tập trung ở Sơn La
3.4.1 Nguyên tắc và phương pháp tiếp cận xây dựng bộ chỉ thị
3.4.1.1 Các phương pháp tiếp cận xây dựng bộ chỉ thị
Trang 83.4.1.2 Nguyên tắc xây dựng bộ chỉ thị
Bộ chỉ thị được xây dựng sẽ dựa trên nguyên tắc cơ bản là mỗi yếu tố chất lượng đất có thể chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố tác động khác nhau Tuy nhiên, tác động tổng hợp tạo nên xu hướng biến đổi sẽ được chi phối bởi một vài yếu tố chủ đạo Do vậy, nghiên cứu sẽ lựa chọn những yếu tố quan trọng, mang tính chất quyết định để đưa vào bộ chỉ thị Đồng thời, bộ chỉ thị cũng được xây dựng có ”tính mở”, tức là các chỉ thị đơn có thể được thay đổi, thêm, bớt tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng khu vực áp dụng
3.4.2 Đề xuất bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp
dụng đất nông nghiệp tại các khu TĐC nghiên cứu
Bộ chỉ thị chất lượng đất gồm bốn nhóm chính là: (1) nhóm chỉ thị cho tính chất vật lý đất trong đó gồm các chỉ thị đơn TPCG, mức xói mòn, độ dốc; (2) nhóm chỉ thị cho tính chất hóa học đất gồm các chỉ thị đơn pHKCl, N, P, K dễ tiêu, OM; (3) nhóm chỉ thị cho tính chất sinh học đất gồm các chỉ thị đơn cây trồng, năng suất cây trồng, đa dạng VSV đất; (4) nhóm chỉ thị cho sử dụng đất gồm các chỉ thị diện tích đất/người, hệ thống canh tác, sử dụng phân bón hoặc hóa chất BVTV
Việc đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp sẽ dựa trên việc xây dựng các chỉ thị đánh giá chất lượng đất trong nông nghiệp và sự biến động của chúng theo thời gian
Sử dụng đất được xem là bền vững khi các chỉ thị chất lượng đất có giá trị ổn định hoặc được cải thiện theo thời gian Ngược lại, khi các giá trị chỉ thị chất lượng đất bị giảm hệ thống sử dụng đất sẽ không bền vững Từ các kết quả phân tích này, kết hợp với quy trình phân tích, các tiêu chẩn và nguyên tắc, tác giả đề xuất bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp cho các khu TĐC tập trung ở Sơn La, với thông tin cơ bản về bộ chỉ thị được thể hiện tại bảng 3.17
Trang 9Bảng 3.17 Thông tin cơ bản bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại
các khu TĐC tập trung ở Sơn La (ASI)
PI1 Diện tích đất nông nghiệp được bố trí PI2 Mức tăng dân số
PI3 Độ dốc
Trạng thái
SI1 Biến động năng suất của cây trồng chủ
yếu trong các năm gần nhất SI2 Năng suất (NS) cây trồngSI3 Biến động lượng đất xói mòn SI4 Biến động hàm lượng NdtSI5 Biến động hàm lượng Pdt
SI6 Biến động hàm lượng Kdt
SI7 Biến động phản ứng của đất SI8 Biến động hàm lượng OM SI9 Thực vật hoang dại
SI10 Biến động TPCG
Đáp ứng
RI1 Hệ cây trồng RI2 Kỹ thuật canh tác RI3 Tham gia của cộng đồng RI4 Sử dụng phân hữu cơ và các sản phẩm
tương tự
3.4.2.2 Phân tích đánh giá và cho điểm các chỉ thị
Kết quả nghiên cứu đã chọn tổng trọng số cho tất cả các chỉ thị là 10, khi đó tổng trọng số cho nhóm áp lực là 1,9; nhóm hiện trạng là 5,6 và nhóm đáp ứng là 2,5 (tính theo công thức (2) ở mục 2.2.5) Giá trị của các chỉ thị đơn được đánh giá và tính điểm dựa trên các thông tin tại cột (5) bảng 3.18, với thang điểm từ 0-10 Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp tại các khu TĐC tập trung ở Sơn La gồm 3 nhóm, có 17 chỉ thị đơn Ký hiệu, tên gọi, ý nghĩa các chỉ thị và cách đánh giá, tính điểm được thể hiện tại bảng 3.18 Các giá trị trong ”()” tại cột (5) bảng 3.18 là điểm số ứng với các giá trị đạt được của các chỉ thị đơn